Có thể khẳng định LĐĐ năm 2013 vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa pháthuy được vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có đấtnông nghiệp bị thu hồi, chưa g
Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam hiện nay có trên 96 triệu dân và hơn 70% trong số đó sống bằng nghề nông nghiệp [106] Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, đảm bảo nguồn thu nhập và tạo ra sản phẩm hàng hoá thiết yếu cho toàn xã hội Đất là nơi làm nhà, là nơi con người tạo ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân mình Vì vậy, việc bảo vệ đất nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người dân cũng như Nhà nước Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tất yếu sẽ dẫn đến quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng một bộ phận diện tích đất nông nghiệp sang phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đô thị Để thực hiện quá trình chuyển hóa này, Nhà nước phải tiến hành thu hồi đất nông nghiệp của người dân Việc thu hồi đất không chỉ liên quan đến lợi ích thiết thực của người bị thu hồi đất mà còn đụng chạm đến lợi ích của nhà đầu tư, của xã hội và cả Nhà nước Đây là nhiệm vụ khó khăn và phức tạp vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của người nông dân và đồng thời cũng ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa theo chủ trương của Đảng và Nhà nước
Luật Đất đai năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung, khắc phục được nhiều điểm hạn chế của LĐĐ năm 2003 Tuy nhiên, sau một khoản thời gian thi hành thì LĐĐ năm 2013 cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định Việc thu hồi đất cũng phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp dẫn đến khiếu kiện kéo dài, phức tạp Báo cáo tại Phiên họp thứ 37 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết, năm 2019, tình hình khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai chiếm 67,7% các loại khiếu kiện
[107] Không phải lúc nào giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất cũng tìm được tiếng nói chung Những trường hợp bất đồng giữa các bên về việc thu hồi đất sẽ dẫn đến việc người bị thu hồi đất khiếu kiện là việc hiển nhiên Nhận thức sâu sắc về vấn đề này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách và pháp luật về thu hồi đất, trong đó quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, các mức bồi thường, tài sản và các chính sách hỗ trợ, tái định cư nhằm đảm bảo quyền lợi của người bị thu hồi đất, nhưng quá trình thực hiện vẫn nãy sinh nhiều vấn đề bất cập, hạn chế, thiếu sót, chưa đồng bộ Nhiều nội dung của pháp luật về thu hồi hồi đất nông nghiệp chưa phù hợp với thực tiễn như: Khung giá đất, cơ chế, thời điểm, diện tích thu hồi đất, tái định cư, giải quyết việc làm, hỗ trợ trong việc thu hồi đất, tiêu cực, tham nhũng len lỏi trong quá trình thu hồi đất của người sử dụng Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ “Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách về đất đai nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người sử dụng đất, lợi ích của nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng có hiệu quả nguồn đất đai cho sự phát triển; khắc phục tình trạng lãng phí và tham nhũng đất đai” [1, tr.109-110] Đặc biệt việc thu hồi đất được quy định trong Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 3 Điều 54 “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật” [20]
Trong thực tế có những dự án Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, nhà đầu tư chấp nhận bỏ ra các chi phí lớn hơn thậm chí là bồi thường rất hậu hĩnh, đặc biệt sử dụng chính sách hỗ trợ khác đó là: Bên cạnh chính sách hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ về đào tạo nghề còn có chính sách hỗ trợ khác do các địa phương vận động tốt được dự án đầu tư với chủ đầu tư bỏ ra các khoản chi phí ngoài lề thậm chí doanh nghiệp bỏ tiền túi của mình nhưng cảm thấy rất vui vẻ vì người dân nhanh chóng trả lại đất nông nghiệp để chủ đầu tư thực hiện dự án.
Có thể khẳng định LĐĐ năm 2013 vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa phát huy được vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có đất nông nghiệp bị thu hồi, chưa giải quyết được bài toán đảm bảo sự hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất nông nghiệp bị thu hồi, chưa “hạ nhiệt” các khiếu kiện, vấn đề công khai, minh bạch, dân chủ chưa thực sự được phát huy, vẫn còn lạm quyền trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp và chưa phát huy hết tác dụng tích cực trong việc bảo đảm sử dụng nguồn lực đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Do vậy, việc nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội là việc làm hết sức cần thiết về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng Đồng thời, thông qua đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội nhằm hoàn thiện các quy định của LĐĐ về thu hồi đất cũng như nâng cao chất lượng đời sống của nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp. Với lý do đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” để làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật kinh tế.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Luận án nhằm làm rõ cơ sở lý luận pháp luật và thực tiễn về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; phân tích thực trạng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội nhằm phát hiện những tồn tại, bất cập; trên cơ sở đó,luận án đề xuất những định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi ở nước ta.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:
- Luận án làm rõ thực trạng nghiên cứu những công trình tiêu biểu ở trong nước, nước ngoài liên quan các nội dung của Luận án Từ đó xác định những nội dung Luận án sẽ kế thừa, những nội dung Luận án tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu để đạt được mục đích nghiên cứu.
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế
- xã hội bao gồm quan điểm, đường lối của Đảng về thu hồi đất; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và quyền tài sản của người sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất; khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa, cơ sở của việc nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; cơ cấu điều chỉnh của pháp luật và các yếu tố tác động đến việc nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; pháp luật của một số nước trên thế giới về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá nội dung của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và đánh giá thực trạng thi hành chế định pháp luật này ở Việt Nam.
- Đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam là đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án tiến sĩ luật học, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một số nội dung cụ thể sau:
- Về nội dung: Các trường hợp thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định về nội dung, thẩm quyền trình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; quy định về bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi Việt Nam.
- Về thời gian: Luận án giới hạn nghiên cứu pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2014 đặt trong mối liên hệ, so sánh với LĐĐ năm
2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến năm 2020.
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm luận án, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin trong việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của sự vật, hiện tượng; nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng đặt trong mối quan hệ tương tác với các sự vật, hiện tượng khác.
- Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp lập luận logic v.v được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của luận án.
- Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu v.v được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
- Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp khảo sát, phương pháp nghiên cứu tình huống.v.v được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu thực trạng pháp luật thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
- Phương pháp bình luận, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch v.v được sử dụng tại Chương 4 khi nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi ở ViệtNam.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về phương diện lý luận, luận án là công trình nghiên cứu lý luận có tính chuyên sâu về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong đó tập trung vào việc làm rõ những vấn đề về căn cứ để thu hồi đất nông nghiệp, trình tự, thủ tục thu hồi đất nông nghiệp; các hậu quả về kinh tế và pháp lý của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội.
Về phương diện thực tiễn, luận án là công trình đánh giá toàn diện đối với thực trạng pháp luật Việt Nam về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và thực tiễn thực hiện các quy định này cùng với những tác động của nó đối với nền kinh tế - xã hội Việt Nam Đồng thời, luận án cũng chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua.
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các Trường Đại học chuyên luật và không chuyên luật, hệ thống các trường chính trị, cho những người trực tiếp làm công tác thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội.
Những điểm mới của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay Luận án có những điểm mới sau đây:
Thứ nhất, hệ thống hóa, bổ sung, phát triển và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Thứ hai, làm rõ khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; tính tất yếu khách quan của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; hậu quả của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và trách nhiệm của nhà nước; ý nghĩa của việc Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; các yếu tố tác động đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; phân biệt được thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội với thu hồi đất nông nghiệp vì mục đích kinh doanh của nhà đầu tư.
Thứ ba, đánh giá thực trạng pháp luật về thu hồi đất đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng ở các địa phương.
Thứ tư, đưa ra định hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
Kết cấu của luận án
Ngoài lời cam đoan, danh mục các từ viết tắt, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được bố cục với 04 chương cụ thể như sau:
- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và các vấn đề liên quan đến luận án
- Chương 2 Những vấn đề lý luận pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
- Chương 3 Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
- Chương 4 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Thu hồi đất nói chung và thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai Hoạt động này được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thu hồi đất nông nghiệp đặt trong mối quan hệ tương quan giữa một bên là phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới là một xu hướng tất yếu với một bên là quyền lợi chính đáng của các chủ thể bị thu hồi đất, nhưng đồng thời phải đảm bảo sự ổn định bền vững của đất nông nghiệp Đồng thời việc thu hồi đất nông nghiệp cũng liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức đặc biệt là người nông dân trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp để canh tác Chủ thể sử dụng đất nông nghiệp xem đất nông nghiệp quan trọng như “sinh mạng” của mình trong suốt quá trình quản lý sử dụng để nuôi sống chính bản thân và gia đình. Trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp liên quan đến nhiều vấn đề như công tác quy hoạch, kế hoạch, kiểm kê, thực hiện công tác bồi thường, giải tỏa, hỗ trợ việc làm cho người nông bị mất đất, công tác đào tạo nghề để họ ổn định cuộc sống, công tác kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo đều được Đảng và nhà nước quan tâm, đảm bảo Trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp cũng nảy sinh nhiều vấn đề nóng bỏng như khiếu kiện, khiếu nại tập thể, tham nhũng ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về việc thu hồi đất Việc nghiên cứu các công trình khoa học liên quan đến việc thu hồi đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có liên quan mật thiết đến luận án, là cơ sở để nghiên cứu, đánh giá cả vấn đề lý luận và thực tiễn, những vấn đề còn để ngỏ, là những gợi mở, định hướng cho những vấn đề cần nghiên cứu tiếp theo mà luận án cần tập trung giải quyết Có thể khẳng định đây là những tài liệu tham khảo quan trọng có giá trị khoa học cho nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận án tiến sĩ.
Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng đã có một số công trình nghiên cứu nổi bật có liên quan đến một số khía cạnh khác nhau của luận án Các công trình nghiên cứu này có thể sắp xếp theo các nhóm nghiên cứu sau:
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội
- Cuốn sách: “Chuyên khảo Luật kinh tế” cuả tác giả Phạm Duy Nghĩa, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004, trong phần “Pháp luật tài sản” đã nêu, QSDĐ của tổ chức cá nhân là quyền tài sản tư cần được nhà nước tôn trọng và bảo hộ QSDĐ là khái niệm sở hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song QSDĐ lại thuộc về cá nhân hoặc tổ chức.
- Đề tài khoa học cấp bộ “Cơ sở pháp lý của quản lý NN đối với đất đai trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”, 2014 của Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam do tác giả Phạm Hữu Nghị làm chủ nhiệm Đề tài đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước đối với đất đai ở nước ta tại thời điểm LĐĐ năm 2013 có hiệu lực, phân tích những thiệt hại do thu hồi đất trên các phương diện kinh tế, phương diện xã hội và phương diện chính trị Đồng thời, chỉ ra những tồn tại, bất cập như giá đất bồi thường thấp so với giá thị trường, thời gian thực hiện thu hồi và bồi thường kéo dài, thu hồi đất nông nghiệp tràn lan là những lý do dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo có chiều hướng gia tăng về số vụ và tính phức tạp.
Bài viết “Về giá đất làm căn cứ tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” của tác giả Phạm Thu Thủy - Tạp chí Luật học, số 9/2012 Bài viết chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về giá đất làm căn cứ tính bồi thường, như: Giá đất tính bồi thường là giá đất theo mục đích sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng, đặc biệt là trong trường hợp thu hồi đất nông nghiệp để chuyển sang mục đích phi nông nghiệp; thực tiễn giá đất bồi thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường trong các giao dịch dân sự về đất đai Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định về giá đất làm căn cứ bồi thường như: Cần xem xét lại căn cứ và cơ chế áp dụng giá đất, đào tạo đội ngũ cán bộ định giá đất chuyên nghiệp
- Nghiên cứu về "Thị trường đất khu công nghiệp, thương mại tác động đến vấn đề nghèo đói ở Việt Nam" do Ngân hàng Châu Á (ADB) thực hiện năm 2005 đã chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của quy trình thu hồi đất phục vụ cho các mục đích thương mại, công nghiệp để đưa ra đề xuất nhằm tạo lập một thị trường đất khu công nghiệp,thương mại minh bạch, hiệu quả và góp phần xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu chưa có sự luận giải kiến nghị hoàn thiện về cơ chế chính sách thu hồi đất.
- Các bài viết tại Hội thảo Kinh nghiệm Quản lý đất đai Hàn Quốc do Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) tổ chức tại Hà Nội ngày 16/12/2011 như: Bài viết Quá trình đổi mới chính sách đất đai Hàn Quốc của TS Soo Choi, Bài viết Hệ thống định giá và hệ thống bồi thường Hàn Quốc của Ủy ban Định giá Hàn Quốc, Bài viết Mô hình phát triển đất đai của Hàn Quốc của Park Hyun Young Đây là những bài viết cung cấp các thông tin về thu hồi đất, bồi thường và tái định cư ở các nước trong khu vực như Singapore, Trung quốc, Thái Lan, Hàn Quốc Những thông tin này sẽ có giá trị hữu ích để Việt Nam tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
- Bài viết Đầu tư bất động sản ở Trung Quốc - Xem xét lại pháp luật và phân tích sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài của Jieming Zhu, From land use right to land development right: Institutional change in China’s urban development, Urban Studies, Vol 41, No 7, 1249 - 1267, June 2004 Trong bài viết này tác giả phân tích về chính sách sở hữu đất đai và vấn đề đầu tư bất động sản ở Trung quốc Sở hữu đất đai tư nhân đã bị bãi bỏ ở Trung Quốc Theo Điều 10 của Hiến pháp 1982 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đất đô thị thuộc về nhà nước, đất nông thôn thuộc sở hữu của các tập thể Do tập thể nông thôn chịu sự quản lý hành chính của chính quyền trung ương và địa phương nên có thể hiểu rằng tất cả quyền sở hữu đất đều do nhà nước chỉ huy Theo Điều 13 của Quy chế tạm thời năm 1990, việc mua bán trực tiếp quyền sử dụng đất thường có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận thương lượng và đấu giá công khai hoặc đấu giá Quyền sử dụng đất có thể tự động được nhà đầu tư nước ngoài mua lại trong trường hợp liên doanh hoặc liên doanh hợp tác xã, nơi mà phía Trung Quốc cung cấp đất đai như một khoản đóng góp đầu tư Nếu điều này xảy ra, bất kể bên Trung Quốc có sở hữu đất tại thời điểm đó hoặc có được đất bằng cách cho thuê gián tiếp từ bên thứ ba, thì liên doanh không còn phải trả bất kỳ khoản phí sử dụng đất nào cho Chính phủ Tức là, bên nước ngoài được sử dụng đất do người Trung Quốc đóng góp.
Về việc mua lại đất bằng phương thức thành lập liên doanh hoặc liên doanh hợp tác, vấn đề nổi bật nhất hiện nay là việc sử dụng đất công cộng và việc phi nông nghiệp chiếm đất nông nghiệp diễn ra tràn lan Trong hoàn cảnh như vậy, cả phía Trung Quốc lẫn nước ngoài đều không trả bất cứ khoản tiền nào cho việc sử dụng đất Do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hưởng các ưu đãi so với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là thuế, nhiều quỹ đầu tư bất động sản và các liên doanh hợp tác xã được tạo ra hoàn toàn vì mục đích đầu cơ bất hợp pháp, trục lợi và trốn thuế Một lượng lớn đất bị bỏ hoang nhưng bị độc quyền bởi một số doanh nghiệp chiếm giữ mà không có kế hoạch phát triển "cụ thể" Cuối cùng, giá đất tăng cao bất hợp lý trên thị trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài trung thực tuân thủ các quy định về đất đai, muốn phát triển bất động sản hợp pháp.
- Bài viết của tác giả Anthonygar-onYeh: Phát triển kinh tế và mất đất nông nghiệp ở đồng bằng sông Châu Giang, Trung Quốc Economic Development and
Agricultural Land Loss in the Pearl River Delta, China, 2014 Trong bài viết này tác giả phân tích mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế, phát triển đô thị với vấn đề mất đất nông nghiệp của người nông dân ở đồng bằng sông Châu Giang Tác giả khẳng định vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp là do sự phát triển đô thị, đặc biệt là các công trình xây dựng khổng lồ do sự đầu cơ đất đai Phát triển đô thị ở đồng bằng sông Châu Giang cũng liên quan đến các yếu tố kinh tế khác như: Công nghiệp hóa nông thôn, giao thông vận tải, thiếu hệ thống quản lý đất đai và giám sát Vì vậy, tác giả cho rằng cần khẩn trương phát triển một chiến lược phát triển đất đai bền vững để bảo vệ đất nông nghiệp màu mỡ khỏi những thiệt hại không cần thiết, đặc biệt là do đầu cơ đất đai.
- Bài Nghiên cứu về Luật thu hồi đất ở Indonesia, tác giả Bagus S.D.Nur
Buwono, Bastaman Enrico Bagus và Bài Nghiên cứu về thu hồi đất ở Indonesia, tác giả Hanafiah Ponggawa & Partners năm 2012 Nội dung của 2 bài báo đề cập đến các vấn đề sau (Hanafiah and Partners, Global Business Guide Company, 2012; Bagus and Bastaman Enrico Bagus Law Office, Indonesia, 2012): (1) Chính phủ Indonesia đã ban hành Luật Thu hồi đất đai cho phát triển các mục đích công (Luật Thu hồi đất đai - Luật số 02) ngày 14/1/2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Luật nêu rõ Chính phủ cần đảm bảo quỹ đất và nguồn tài chính để tạo quỹ đất cho các mục đích công; đồng thời Chính phủ hoặc các doanh nghiệp Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm tạo quỹ đất này Các mục đích công được quy định trong Luật bao gồm đường bộ có thu phí, đường hầm; đường tàu hỏa, ga và các hạ tầng cho tàu hỏa; đê,đập, hồ chứa, hệ thống thoát nước, tưới tiêu và các hạ tầng về nước khác; cảng, sân bay; Nguồn kinh phí cho thu hồi đất cũng được quy định chủ yếu là từ ngân sáchNhà nước và không có quy định cụ thể về sự tham gia của khu vực tư nhân Theo quy định của Luật này thì quy trình thu hồi đất sẽ kéo dài không quá 2 năm (583 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được quyết định thu hồi đất từ Chính phủ) và bao gồm 4 bước, bắt đầu từ lập kế hoạch, chuẩn bị, triển khai tới thông báo kết quả Ngoài ra, thủ tục và yêu cầu về tiến hành đàm phán, thỏa thuận giữa các bên có liên quan cũng được quy định cụ thể Các khiếu nại liên quan đến thu hồi đất sẽ được giải quyết ở các cấp, từ Tòa hành chính tới Tòa tối cao với thời gian xử lý khoản 4 tháng Các khiếu kiện liên quan đến bồi thường sẽ được thụ lý ở các cấp từ Tòa án địa phương đến Tòa phúc thẩm, thời gian xử lý khoản 4 tháng Quy trình thu hồi đất sẽ do Cơ quan Đất đai quốc gia chủ trì, bao gồm các bước sau: (i) kiểm kê và xác định mục đích sử dụng, tình trạng sở hữu, (ii) định giá để bồi thường, (iii) xác định mức bồi thường, (iv) phân chia khoản bồi thường Nội dung định giá bao gồm giá trị thửa đất, diện tích phía trên và dưới mặt đất của thửa đất, công trình, cây cối trên đất hoặc các thiệt hại khác có thể định giá Kết quả định giá bởi tổ chức định giá sẽ được sử dụng làm cơ sở cho việc đàm phán với chủ sở hữu và các bên khác có liên quan về giá trị và hình thức bồi thường Bồi thường có thể thực hiện bằng các hình thức tiền mặt, đất, sở hữu cổ phần và các hình thức khác do các bên thỏa thuận.
1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội
- Bài viết của Nguyễn Đức Biền, Thực trạng, những vướng mắc trong quá trình nhà nước thu hồi đất để giao, cho thuê và tự thỏa thuận để có đất thực hiện dự án, tháng 7/2011, tại Hội thảo Tài chính: Đất đai, giá đất và cơ chế, chính sách trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách TM&MT thuộc
Bộ TN&MT tổ chức Trong bài viết này tác giả chỉ ra những tồn tại, vướng mắc, bất cập trong quá trình thu hồi đất để cho thuê hoặc thực hiện dự án Đồng thời qua đó kiến nghị các giải pháp để khắc phục thực trạng này.
Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án và những nội dung mà luận án sẽ kế thừa, phát triển
đề tài luận án và những nội dung mà luận án sẽ kế thừa, phát triển
1.2.1 Đánh giá kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận án
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội Các công trình đã nghiên cứu về chế độ sở hữu đất đai, quy hoạch, quản lý quy hoạch; quan điểm, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai; việc giải quyết hài hòa lợi ích của nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi cũng được đặt ra trong quá trình nghiên cứu Một số công trình khẳng định QSDĐ là quyền tài sản, do vậy việc nhà nước thu hồi đất phải đảm bảo quyền của NSDĐ nhưng chưa được quy định trong Hiến pháp năm 1992 Các công trình này có liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của luận án Kết quả nghiên cứu của các công trình này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu sâu hơn những nội dung mà luận án thực hiện
Thứ hai, các công trình nghiên cứu lý luận pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội Các công trình đã xây dựng được các khái niệm thu hồi đất, khái niệm trưng dụng, trưng mua, trưng thu đất; khái niệm bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, hỗ trợ khi khi nhà nước thu hồi đất; phân biệt giữa thu hồi đất với trưng dụng, trưng thu và trưng mua đất; các yếu tố chi phối khi nhà nước thu hồi đất, khung giá đất làm căn cứ để bồi thường, dẫn chứng bằng các ví dụ cụ thể để chứng minh; cơ chế đánh giá việc thu hồi đất Các khái niệm trên được các tác giả chủ yếu xây dựng, phân tích, so sánh trên cơ sở phân tích, tiếp cận LĐĐ năm 2003, BLDS năm 2005 Tuy nhiên, hiện nay LĐĐ năm 2013 đã được ban hành và có hiệu lực,
BLDS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 nên cần tiếp cận và xây dựng các khái niệm này trên cơ sở nghiên cứu LĐĐ năm 2013, BLDS năm 2015
Thứ ba, các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội Các công trình đã phân tích đánh giá những bất cập trong các quy định của pháp luật về thu hồi đất cũng như tổng kết thực tiễn, trong đó nêu lên những tồn tại, bất cập trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp như nông dân mất đất, mất tư liệu sản xuất, tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội Chính sách về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất hiện nay chưa thực sự thỏa đáng, giá đất thấp so với giá thị trường, chưa bù đắp được những thiệt hại mà người có đất nông nghiệp bị thu hồi phải gánh chịu Tuy nhiên, trên thực tế những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá trình nhà nước thu hồi đất còn đa dạng, phức tạp hơn nhiều Vì vậy, chúng cần được nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn để sát với thực tế cuộc sống Đây là những vấn đề mà nghiên cứu sinh mong muốn hướng đến trong quá trình nghiên cứu.
Thứ tư, các công trình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội Ở phạm vi và mức độ khác nhau, nhiều công trình đã đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp Phần lớn các kiến nghị được đề xuất trên cơ sở phân tích những hạn chế trong các quy định của LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ năm 2003 Theo đó, một số kiến nghị đã được tiếp thu và ghi nhận trong LĐĐ năm 2013 Tuy nhiên, LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành LĐĐ năm 2013 đã được ban hành song thực tế số lượng các tranh chấp, khiếu nại liên quan đến việc nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội vẫn còn rất nóng bỏng và số lượng khiếu nại vẫn không giảm Điều này tiềm ẩn nguy cơ để các thế lực xấu lợi dụng gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Do đó, vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất những giải pháp hoàn thiện là rất cần thiết.
Như vậy, các công trình khoa học nói trên chủ yếu đi sau vào việc nghiên cứu, phân tích các quy phạm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, về sự bất cập của giá đất Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu nghiên cứu LĐĐ năm
2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, chưa phân tích các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội; trong đó có thu hồi đất nông nghiệp chính là một trong những cơ sở pháp lý trực tiếp làm phát sinh thẩm quyền của cơ quan nhà nước, sự hạn chế của việc áp dụng phương pháp định giá đất, các thủ tục hành chính khi tiến hành thu hồi đất nông nghiệp; chưa đi sâu vào vấn đề “cốt lõi” đó là bản chất của việc thu hồi QSDĐ, sự chia sẽ lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người có đất nông nghiệp bị thu hồi, các yếu tố tác động đến quá trình thu hồi đất nông nghiệp trên cơ sở tiếp cận từ việc đánh giá thực tế bị thiệt hại của NSDĐ, lợi ích được thụ hưởng trên phạm vi rộng, không giới hạn ở từng địa phương riêng lẻ,…
1.2.2 Những nội dung mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình đã nghiên cứu luận án cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
Thứ nhất, về mặt lý luận cần tập trung nghiên cứu: Khái niệm pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; làm rõ tiêu chí phát triển kinh tế - xã hội; luận giải cơ sở lý luận về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; Phân biệt thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội với thu hồi đất vì mục đích kinh doanh của nhà đầu tư.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta như: Các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nguyên tắc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ là những cơ sở pháp lý rất quan trọng chi phối, đảm bảo tính đúng đắn, khả thi, khách quan trong quá trình thu hồi đất, qua đó phát hiện những tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành tác động đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như người có đất nông nghiệp bị thu hồi Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở một số địa phương.
Thứ ba, nghiên cứu hạn chế, bất cập của việc áp dụng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; hiệu quả sau khi thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội; giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế -xã hội.
Thứ tư, trên cơ sở định hướng chính sách đất đai của Đảng và kết của nghiên cứu, luận án sẽ đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội. Đặt vấn đề nghiên cứu trong bảng tổng kết thực tiễn thi hành LĐĐ và hướng tới sửa đổi LĐĐ năm 2013 về tích tụ, tập trung đất đai, thực hiện Luật Đầu tư năm 2020 và Luật Đấu thầu Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa, tiếp tục phát triển các kết quả nghiên cứu về thu hồi đất nông nghiệp dưới góc độ lý luận và thực tiễn cũng như đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam là vấn đề cấp thiết và chưa trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã thực hiện trước đây.
Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu
Luận án được triển khai với những câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Về khía cạnh lý luận:
Thứ nhất, thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội là gì? Đặc điểm của thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội?
Thứ hai, các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội? Tính tất yếu của việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế xã hội và hậu quả của nó? Yếu tố nào tác động đến việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội? Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước được thể hiện như thế nào thông qua chính sách hỗ trợ liên quan đến việc ổn định đời sống, sản xuất, việc làm…. với tư cách là người đại diện sở hữu đất đai
- Về khía cạnh pháp luật thực định: Nội dung và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội có vướng mắc bất cập gì cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp?
- Về đề xuất, kiến nghị: Với những hạn chế bất cập nêu trên thì cần có những định hướng, giải pháp nào để sửa đổi, bổ sung góp phần hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội hiện nay?
Từ các câu hỏi nghiên cứu trên, luận án đặt ra các giả thuyết nghiên cứu sau:
- Về khía cạnh lý luận:
+ Giả thuyết nghiên cứu: Sự tác động của chế độ nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đất đai đối với việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế
- xã hội chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.
+ Giả thuyết nghiên cứu: Tính tất yếu khách quan phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với lĩnh vực này chưa được luận giải một cách rõ ràng, đầy đủ và các đề tài trong nước chưa phản ánh một cách có hệ thống, chưa đánh giá được các yếu tố tác động đến việc nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội.
- Về khía cạnh pháp luật thực định:
+ Giả thuyết nghiên cứu: Các quy định LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan Nhiều quy định trong đó đã bộc lộ những hạn chế, bất cập khi áp dụng trong thực tiễn.
- Về đề xuất, kiến nghị:
+ Giả thuyết nghiên cứu: Hiện nay, LĐĐ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đang có hiệu lực và được áp dụng trong thực tế Tuy nhiên, vẫn chưa khắc phục được những hạn chế của LĐĐ năm 2003 và yêu cầu thực tiễn đặt ra, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội cần phải được phân tích, đánh giá và kiến nghị phương hướng, giải pháp phù hợp để hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả thực thi ở Việt Nam.
Luận án được thực hiện dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đất đai, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, trong đó có bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ đất đai nói chung và pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội nói riêng.
Lý thuyết về sự công khai, minh bạch: Theo tác giả dưới góc độ pháp lý thì công khai, minh bạch được hiểu là: Mọi hoạt động của nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân có thể tiếp cận được các quyết định của nhà nước một cách dễ dàng Trong hoạt động thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội thì công khai minh bạch phải được đặt lên hàng đầu để người dân, xã hội biết để thực thi, để theo dõi, giám sát để đảm bảo lợi ích chính đáng cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi từ khâu lập quy hoạch, KHSDĐ nông nghiệp; trình tự thủ tục, thẩm quyền thu hồi; phương án bồi thường, hỗ trợ phải được công khai và lấy ý kiến của người có đất bị thu hồi Có như vậy mới hạn chế được tham nhũng, lãng phí trong quản lý sử dụng đất nói chung và thu hồi đất nông nghiệp nói riêng đồng thời bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có đất bị thu hồi.
Lý thuyết về sự công bằng: Theo tác giả, dưới góc độ pháp luật thì công bằng được hiểu là trong những điều kiện, hoàn cảnh như nhau thì các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật có các quyền và nghĩa vụ như nhau Trong thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội, QSDĐ nông nghiệp đã được trao cho người sử dụng đất và được pháp luật bảo hộ thì khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp họ phải được bồi thường theo giá thị trường để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, bên cạnh đó họ còn được hỗ trợ để ổn định đời sống Lý thuyết về sự công bằng được sử dụng để luận giải về trách nhiệm của Nhà nước trong việc thu hồi đất phải theo đúng quy hoạch, KHSDĐ, đúng trình tự, thủ tục luật định và bồi thường ngang giá cho người sử dụng đất.
1 Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta là đề tài nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước ở những cấp độ khác nhau Các công trình đã phân tích, xây dựng được một số khái niệm trong lĩnh vực thu hồi đất như: Khái niệm thu hồi đất, khái niệm bồi thường, khái niệm hỗ trợ, khái niệm tái định cư, các yếu tố chi phối việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, khung giá đất làm căn cứ để bồi thường…
2 Các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thu hồi đất, đất nông nghiệp dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đất đai, bản chất ưu việt của chế độ; phân tích sự chi phối của quan điểm của Đảng, quá trình hội nhập quốc tế, chênh lệch địa tô, cơ chế quản lý kinh tế trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội.
3 Các công trình nghiên cứu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội như: Khái niệm thu hồi đất, khái niệm bồi thường, hỗ trợ, khái niệm tái định cư, khái niệm học nghề Đồng thời các tác giả cũng phân tích những tồn tại bất cập, những “góc khuất” trong quá trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Những vấn đề nảy sinh hậu thu hồi đất mà nhà nước và toàn xã hội phải chung tay giải quyết như: Thất nghiệp, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường và nghèo đói Các công trình đã đề xuất một số kiến nghị trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp.
4 Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, cũng như tiếp thu, kế thừa những tư tưởng khoa học, những kết quả nghiên cứu của các công trình trước đó, luận án có nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu, lý giải một cách sâu sắc hơn, toàn diện hơn cả về lý luận và thực tiễn pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở các chương tiếp theo, những vấn đề mà các tác giả chưa nghiên cứu, tiếp cận hoặc nghiên cứu, tiếp cận chưa đầy đủ.