Tiếp cận lối sống trên phương diện phương thức hoạt động và tổng thể những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của những cá nhân trong một hình thái kinh tế xã hội, Viện sĩ, tiến
Trang 1bộ giáo dục vμ đμo tạo bộ văn hoá, thể thao vμ du lịch
Trường đại học văn hoá hμ nội
Trần hồng hạnh
Xây dựng lối sống văn hoá
trong công nhân lao động ở thủ đô hμ nội
Trang 21.1.2 Những đặc tr−ng cơ bản của lối sống 16
1.2 Khái niệm giai cấp công nhân và giai cấp công nhân Việt Nam 26
1.2.2 Khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam 30
1.3 Một số đặc điểm của công nhân Thủ đô hiện nay 32
1.3.1 Công nhân Thủ đô là lực l−ợng tiên phong đi đầu trong sự
nghiệp CNH, HĐH
32
1.3.2 Những biến động về cơ cấu CNLĐ Hà Nội 33
1.4 Vai trò của việc xây dựng lối sống văn hoá trong công nhân
Thủ đô
38
1.4.1 Xây dựng lối sống văn hoá góp phần xây dựng giai cấp công
nhân Thủ đô ngày càng vững mạnh, xứng dáng là lực l−ợng đi đầu
trong sự nghiệp CNH, HĐH
38
1.4.2 Xây dựng lối sống CNLĐ góp phần vào xây dựng và phát
triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên địa bàn
Trang 32.4.3 Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, đáp ứng
nhu cầu về văn hoá của CNLĐ
86
Chương 3: Phương hướng vμ giải pháp nâng cao chất
lượng xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ Hμ Nội
88
3.1 Xu hướng vận động biến đổi của lối sống CNLĐ Thủ đô 88
3.2 Định hướng phát triển kinh tế- xã hội của Thủ đô Hà Nội đến
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của
việc xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ Hà Nội hiện nay
Trang 4Danh môc tμi liÖu tham kh¶o
phô lôc
Trang 5B¶ng quy −íc ch÷ viÕt t¾t
Trang 6mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Hiện nay Việt Nam đang trong giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu : “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đặc biệt, chúng ta đang ở chặng đường mở đầu quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng giữ vị trí quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp to lớn này
Công tác chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân về mọi mặt, trong đó có đời sống văn hoá tinh thần là một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản, có
ý nghĩa chiến lược và cấp bách Công tác này góp phần nâng cao chất lượng của lực lượng chủ lực, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá
đất nước và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong sự nghiệp
đổi mới của Đảng Một trong những nhiệm vụ trọng yếu, nền tảng của công tác này là xây dựng đội ngũ công nhân lao động (CNLĐ) có lý tưởng chính trị
và đạo đức tốt, có lối sống văn hoá, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, khoẻ về thể chất để họ vững vàng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm biến đổi mạnh
mẽ giai cấp công nhân nước ta về quyền lợi, việc làm, về cơ cấu, thành phần,
về phân hoá giàu nghèo, về nhu cầu hưởng thụ giá trị tinh thần
Những biểu hiện mặt trái của xu thế toàn cầu hoá và của nền kinh tế thị trường đã tạo ra những cơ hội cho những yếu tố tiêu cực phát triển, khiến cho nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị lung lay Giai cấp công nhân, đặc biệt là
đội ngũ công nhân lao động là đối tượng chịu nhiều tác động của cơ chế thị
Trang 7trường và trong thực tế đã có một bộ phận CNLĐ suy thoái đạo đức, mờ nhạt
lý tưởng, có lối sống buông thả, sa đoạ và thực dụng
Xây dựng lối sống văn hoá là một trong những định hướng quan trọng trong quá trình xây dựng con người văn hoá Lối sống bao chứa toàn bộ các mặt cơ bản của hoạt động sống của con người trong những điều kiện của một xã hội nhất định Nó bao gồm các mối quan hệ kinh tế, xã hội, tư tưởng, tâm
lý, đạo đức và rất nhiều mối quan hệ khác của con người Các giá trị, các
động cơ, hoạt động tinh thần và hoạt động nghệ thuật đều là cơ cấu bên trong của lối sống Lối sống được nhìn nhận qua biểu hiện lao động, trong giao tiếp, ứng xử, trong sinh hoạt gia đình, ăn, mặc, ở, đi lại, trong sinh hoạt văn hoá, sáng tạo và nhân cách,v.v
Con người có lối sống tốt sẽ tạo ra hệ điều chỉnh bên trong, phát huy tính tự giác, tự nguyện và khả năng thích ứng với những thay đổi tất yếu của xã hội Đây là yếu tố kích thích tính tích cực trong mỗi con người giúp họ giải quyết và ứng xử hài hoà các mối quan hệ, góp phần khắc phục sự mất cân đối giữa con người xã hội và con người tự nhiên trong quá trình phát triển dưới tác
động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và cơ chế thị trường hiện nay Việc xây dựng lối sống văn hoá gắn liền với mọi sinh hoạt văn hoá xã hội của từng địa phương, từng ngành nghề, từng gia đình và của mỗi người CNLĐ Vì vậy, xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ hiện nay là hết sức cần thiết, nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước Lối sống văn hoá chính là tiếp thu những giá trị văn hoá tốt đẹp của truyền thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của thời đại mà quá trình hội nhập mang đến Lối sống văn hoá với những chuẩn mực tích cực, lành mạnh cũng sẽ giúp CNLĐ tránh được những tác động tiêu cực dẫn đến các tệ nạn xã hội
Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước và là niềm
tự hào của cả dân tộc Nằm ở vị trí địa lý trung tâm khu vực đồng bằng Bắc
Trang 8Bộ, Hà Nội hội đủ những tiềm năng to lớn trong việc thu hút nguồn lực của cả nước và quốc tế cho quá trình hội nhập và phát triển Chiếm gần 20% trong tổng số dân số Thủ đô tính đến năm 2005 là 3.145.300 người, đội ngũ CNLĐ
Hà Nội giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá Thủ đô và đất nước
Xuất phát từ vị trí, vai trò của đội ngũ CNLĐ trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thực trạng lối sống của họ hiện nay, tác giả chọn vấn đề “Xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ ở Thủ đô Hà Nội hiện nay”
làm đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý văn hoá
Đồng thời Đảng ta luôn khẳng định vai trò tiên phong của giai cấp công nhân
và tập trung nâng cao nhận thức và hành động của họ mà một trong những trọng tâm của công tác đó là xây dựng đạo đức, tư tưởng, lối sống và nếp sống
Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lối sống của các tác giả trong và ngoài nước Tiêu biểu cho các công trình đó là:
- Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay- PGS.TS Lê Như Hoa-Viện Văn hoá, 1993
- Văn hoá và lối sống- Lê Thanh- NXB Thanh niên, 1998
- Kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc trong việc xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay- Võ Văn Thắng, Luận án Tiến sĩ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2005
Trang 9Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài
“Xây dựng lối sống văn hoá trong công nhân lao động ở Thủ đô Hà Nội hiện nay” Vì vậy, kế thừa những thành tựu của các nhà khoa học đi trước để tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu đề tài là một vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn hiện nay
3 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò của việc xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ hiện nay, đề tài đi sâu khảo sát đánh giá thực trạng tổ chức xây dựng lối sống trong CNLĐ Thủ đô Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác tổ chức xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ Thủ đô trong thời gian tới
Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở một số đơn vị hành chính sự nghiệp
và sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hà Nội
Trang 10Tham khảo số liệu của các đơn vị thông qua các nguồn tài liệu như sách, báo, hội thảo khoa học, các văn bản pháp lý và các nguồn từ các cơ quan quản lý
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng giai cấp công nhân
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, kết hợp phương pháp điền dã thực tế, điều tra xã hội học để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
5.3 Hướng tiếp cận:
- Chủ thể trực tiếp là CNLĐ ở Thủ đô Hà Nội
- Chủ thể quản lý là lãnh đạo các đơn vị hành chính sự nghiệp và sản xuất kinh doanh
- Các tổ chức đoàn thể, đặc biệt là tổ chức công đoàn các cấp
6 ý nghĩa của đề tài:
6.1 ý nghĩa khoa học:
Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề
tổ chức xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ Thủ đô, đồng thời đề xuất một
số giải pháp để nâng cao chất lượng hiệu quả của việc tổ chức xây dựng lối sống trong CNLĐ ở Thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 116.2 ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và quản lý văn hoá trong CNLĐ hiện nay
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ
Chương 2: Thực trạng xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ Hà Nội
Trang 12Chương 1
Một số vấn đề lý luận chung
về xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ
1.1.Khái niệm lối sống và lối sống văn hoá
1.1.1 Khái niệm lối sống
Lối sống là một khái niệm rộng với phạm vi biểu hiện nằm trong toàn
bộ các quan hệ của con người
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.ăngghen viết: “Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ”[4, tr.30] Như vậy, Mác đã khẳng định: Con người muốn sống được trước hết phải có sản xuất; Phương thức sản xuất là một hình thức hoạt động của con người, thông qua hoạt động đó mà con người biểu hiện bản thân mình; Phương thức sản xuất là một phương thức sinh sống nhất định của con người, là mặt cơ bản của lối sống
Tuy chịu sự quyết định của phương thức sản xuất nhưng lối sống không phải là sản phẩm thụ động của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và những
điều kiện sống khác, bởi những lẽ sau đây:
- Những hình thái kinh tế- xã hội khác nhau sẽ có lối sống khác nhau Trong những hình thái kinh tế- xã hội có giai cấp, lối sống mang tính giai cấp
- Phạm vi của lối sống rộng hơn phương thức sản xuất Ngoài những hoạt động vật chất, con người còn có các hoạt động chính trị, xã hội, nghệ thuật
Trang 13- Phạm vi lối sống tương ứng với phạm vi của hình thái kinh tế xã hội, mặc dù vậy, không thể đồng nhất hai khái niệm đó Hình thái kinh tế- xã hội gắn liền với hoạt động sản xuất vật chất của con người, đó là một tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người Ngược lại lối sống phản ánh hoạt động của chủ thể, bao gồm nhận thức, tình cảm, thái độ, động cơ trong mọi hoạt
động của bản thân con người
Trên những bình diện khác với những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau đã hình thành nên những lý thuyết khác nhau về lối sống Những lý thuyết ấy có thể quy về ba khuynh hướng sau:
Khuynh hướng thứ nhất xem lối sống là một phương thức hoạt động:
Riêng khái niệm “hoạt động” cũng có tác giả hiểu theo nghĩa rộng nhất, tức là bao hàm cả sinh hoạt thường nhật
I.V.Be-xtu-gi-ep cho rằng: “Lối sống được kiến giải như là một phương thức hoạt động sống của con người, thì điều hợp lý là lấy các lĩnh vực hoạt
động sống quan trọng nhất làm nền tảng cho cơ cấu của lối sống, các lĩnh vực
đó ta đều biết là: lao động, sinh hoạt, hoạt động chính trị- xã hội và văn hoá- xã hội” [22, tr.19]
Theo E.W.Sorokhova, “lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt động sống tiêu biểu xuất hiện trong những quan hệ kinh tế- xã hội nhất định của các dân tộc”
Tiến sĩ triết học V.I.Tônxtưkhơ cho rằng, “lối sống là những hình thức
cố định, điển hình của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người, những hình thức ấy nói lên các đặc điểm về sự giao tế, hành vi và nếp nghĩ của
họ trong các lĩnh vực lao động, hoạt động xã hội- chính trị, sinh hoạt và giải trí”[52, tr.18-19]
Trang 14Những định nghĩa loại này có ưu điểm khắc hoạ được lao động sáng tạo như là hạt nhân trong hoạt động sống của con người Tuy nhiên, đối với cả những định nghĩa mở rộng nhất thì khái niệm “hoạt động” cũng chưa phản
ánh hết được đặc điểm của phạm trù lối sống
Khuynh hướng thứ hai định nghĩa lối sống dựa vào các nền tảng hình thành lối sống: Đó là các điều kiện vật chất và tinh thần trong sự tồn tại
của con người
Max Weber cho rằng, “lối sống thể hiện vị trí của các nhóm xã hội Khái niệm lối sống được mô tả như kiểu sống của một nhóm xã hội Nhóm xã hội là thực tế hình thành trên động cơ tâm lý danh dự, hình thành trên cơ sở giữa chúng với lĩnh vực tiêu thụ những mặt hàng và những mặt hàng đó là tiêu chí cơ bản của nhóm xã hội khác nhau”[1]
Còn V.Z.ZuveZenco xem lối sống như một cấu trúc bao gồm các yếu tố cơ bản: Lao động, những điều kiện của nó, việc tổ chức và mối quan hệ của những người lao động đối với lao động; Đời sống hàng ngày, những điều kiện của đời sống hàng ngày, những hình thức sử dụng thời gian nhàn rỗi của con người; Những điều kiện hoạt động chính trị- xã hội của con người và sự tham gia thực tế của lao động quản lý những công việc xã hội của con người
Theo hướng này, Z.Dunốp khẳng định “lối sống trước hết là những điều kiện trong đó con người tự tái sản xuất về mặt sinh học cũng như về mặt xã hội Đó là toàn bộ những hình thức hành vi hàng ngày, ổn định và điển hình của con người”[52, tr.19]
Những định nghĩa thuộc loại này thiên về mức sống, cho thấy lối sống chịu sự quy định của điều kiện vật chất, mà nó chính là nền tảng thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người và xã hội Theo khuynh hướng này, phạm trù lối sống dường như trùng lặp với phạm trù chất lượng sống
Trang 15Khuynh hướng thứ ba định nghĩa lối sống theo cách sàng lọc từ hai khuynh hướng trên: Cố gắng kết hợp những mặt ưu điểm và khắc phục những
nhược điểm của cả hai khuynh hướng nêu trên
Tiếp cận lối sống trên phương diện phương thức hoạt động và tổng thể những quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của những cá nhân trong một hình thái kinh tế xã hội, Viện sĩ, tiến sĩ Rút- kê- vích cho rằng: “Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế- xã hội nhất định”[29, tr.45]
G.Glezerman cho rằng: “Lối sống là tổng hoà những nét cơ bản, nói lên những đặc điểm của các hoạt động sống của xã hội, các cá nhân trong một hình thái kinh tế- xã hội nhất định”[52, tr.18]
ở góc độ khác, M.N.Rút- kê- vích còn khẳng định, lối sống chịu sự quyết định của phương thức sản xuất; khái niệm “lối sống” và khái niệm
“phương thức sản xuất” liên hệ chặt chẽ với nhau Ông viết: “Lối sống là một trong những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nó liên quan chặt chẽ với một khái niệm có ý nghĩa mấu chốt đối với nó là phương thức sản xuất của cải vật chất”[29, tr.12]
Có thể xem lối sống là mối liên hệ chặt chẽ giữa các hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội Lối sống được quy định bởi quan hệ tiền đề con người đối với tự nhiên, trình độ trang bị kỹ thuật và năng suất lao động của họ, bởi tính chất quan hệ sản xuất, bởi chế độ kinh tế xã hội
Trên cơ sở tiếp cận quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về lối sống, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nghiên cứu sâu hơn và đưa ra những quan niệm về lối sống
Trang 16Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng: “Lối sống là phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các dân tộc, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế- xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hoá”[25, tr.514] ở đây
đã quan niệm lối sống theo nghĩa rất rộng
Giáo sư Thanh Lê quan niệm: “Lối sống là một hệ thống những nét căn bản nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái xã hội- kinh tế nhất
định”[27, tr.24] Quan niệm này xét lối sống gắn liền với hoạt động của con người và một hình thái kinh tế xã hội
GS.TS Nguyễn Văn Huyên cho rằng: “Lối sống là toàn bộ các mô hình, cách thức và phong thái sống của con người thể hiện trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người, giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và mục đích sống”[24, tr.29]
Đây là quan niệm đặt lối sống ở góc độ xem xét tổng hoà các mặt cơ bản, khắc hoạ những đặc điểm cá nhân, tập thể, giai cấp và cộng đồng
Nhìn chung, các tác giả đều cho rằng, lối sống bao gồm tất cả các lĩnh vực hoạt động sống cơ bản của con người, từ lao động, sinh hoạt, hoạt động xã hội- chính trị và giải trí Như vậy, khái niệm lối sống là một khái niệm có tính
đồng bộ, tổng hợp và có liên quan tới mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Trên cơ sở những dẫn luận đã phân tích, có thể đi đến định nghĩa về lối
sống như sau: Lối sống là mối liên hệ chặt chẽ các mặt cơ bản của toàn bộ
hoạt động sống của con người, của cộng đồng x∙ hội trong những điều kiện của một hình thái kinh tế- x∙ hội nhất định và là sự phản ánh các mặt khác
Trang 17nhau của hình thái kinh tế- x∙ hội vào đời sống của con người, của cộng
đồng người Trong đó, tính chất của kinh tế và lao động x∙ hội đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành lối sống
Như vậy, lối sống như một nguồn suối chảy trôi không ngừng nghỉ, từ một ngọn nguồn giữa khe lan toả khắp chốn và thấm đẫm cả trong không gian
và thời gian Đó chính là một hình thức biểu hiện của văn hoá Trong bản chất của lối sống thường có sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, cái đặc thù
và cái phổ biến Vì thế, lối sống có các khía cạnh văn minh nhân loại và truyền thống dân tộc, có các giá trị vĩnh cửu và giá trị phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của từng thời kỳ nhất định; có các khía cạnh tiến bộ và cả những khía cạnh tiêu cực Có thể nói, lối sống bộc lộ bản chất nhân cách của con người trong một điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhất định Con người phản
ánh qua lối sống phần nào diện mạo văn hoá thời đại thông qua năng lực trí tuệ, quan hệ ứng xử và khả năng đồng hoá thẩm mỹ hiện thực của mình trong nhiều phương diện khác nhau Lối sống hiểu một cách chung nhất là tổng thể các mối quan hệ xã hội của con người với những hình thức đặc trưng tiêu biểu cho mỗi dân tộc, quốc gia, vùng địa lý, nhóm xã hội trong những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá cụ thể
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của lối sống
Lối sống là sự tổng hoà các hoạt động sống của con người gắn với những đặc điểm chủ yếu của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế- xã hội nhất định Có thể phân loại lối sống theo ba cấp độ: lối sống của dân tộc (quốc gia), lối sống của giai cấp (nhóm xã hội), lối sống của cá nhân”[37, tr.37]
Lối sống có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, nói đến lối sống là nói đến tổng hoà các hoạt động sống ổn định của con người gắn liền với dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội và các cá nhân
Trang 18Thứ tư, tổng hoà các khuôn mẫu ứng xử, các thể chế xã hội được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định, đó chính là nội dung và phạm vi của lối sống
Thứ năm, lối sống nói chung mang tính văn hoá, bởi vì trong các hành
động xã hội, các quan hệ xã hội, thể chế xã hội, các khuôn mẫu ứng xử trong lối sống đều mang ý nghĩa văn hoá, hướng tới cái đúng, cái tốt và cái
đẹp
1.1.3 Cấu trúc của lối sống
Lối sống được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau Chính vì vậy, khi tìm hiểu về vấn đề này chúng ta không chỉ làm sáng tỏ khái niệm lối sống mà còn cần làm rõ một số khái niệm liên quan đến lối sống và quan hệ của chúng
1.1.3.1 Mức sống:
Là khái niệm để chỉ mức đạt được về các điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người, xã hội mà những chỉ tiêu chủ yếu của nó là mức thu nhập và tiêu dùng thực tế của con người, là mức độ phong phú về của cải vật chất và dịch vụ
Xem xét lối sống ở hai mặt chất và lượng của nó, VS.TS.Rút-kê-vích cho rằng: “Nếu như mặt chất của lối sống phản ánh tính chất của chế độ xã hội- kinh tế thì mặt lượng của lối sống được xác định bởi mức độ phụ thuộc của nhu cầu vào sự phát triển của lực lượng sản xuất ấy và mặt lượng này được thể hiện ở mức độ phúc lợi của nhân dân Mức độ phúc lợi này thường được gọi là mức sống”[29, tr.29] Và ông lại nhấn mạnh: “Nói một cách giản đơn, không thể hiểu được lối sống của con người nếu không biết họ sản xuất và tiêu
Trang 19dùng như thế nào, với số lượng bao nhiêu, họ sống dở, chết dở hay được ăn uống theo các mức ăn hợp lý, họ sống trong những căn nhà rách nát hay trong các phòng có đủ tiện nghi, họ có đủ quần áo mặc hay không, được học ở trường phổ thông trong bao nhiêu năm, có phương tiện đi lại không và phương tiện đó như thế nào ”[29, tr.33]
Còn Viện sĩ E.I.Kapustin trong bài viết “Lối sống xã hội chủ nghĩa với tư cách là phạm trù xã hội- kinh tế” đã nêu: “Mức sống cho ta một ý niệm ít nhiều đầy đủ về thu nhập thực tế và tiêu dùng các của cải vật chất và các dịch
vụ của nhân dân và của từng người Khái niệm mức sống cũng chỉ ra trình độ thoả mãn các nhu cầu của nhân dân Cơ sở để xác định sự thoả mãn này là sự tiêu dùng thực phẩm cần thiết, tiêu dùng hợp lý về quần áo, giầy dép, đồ dùng gia đình, văn hoá phẩm Tóm lại, mức sống nói lên trình độ vật chất và văn hoá mà con người được hưởng ”[34, tr.3]
Mức sống phụ thuộc vào những điều kiện trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển của lối sống Mức sống chỉ là điều kiện và kết quả của hoạt
động sống chứ chưa phải là bản thân hoạt động sống của con người Chính vì thế, không phải hễ mức sống biến đổi thì lối sống biến đổi, bởi mức sống không phải là điều kiện duy nhất của lối sống
Mức sống có liên quan chặt chẽ với lối sống nhưng không thể đồng nhất với lối sống Lối sống phản ánh vai trò chủ thể của con người, tức là mang tính chủ động, tích cực, còn mức sống mang tính thụ động Lối sống bao gồm cả
đặc trưng chất và lượng của hoạt động sống còn mức sống chỉ phản ánh khía cạnh tiêu dùng Tuy nhiên trong khuôn khổ của một lối sống, không thể xem mức sống như là cái gì đó ở bên ngoài lối sống mà nó là cơ sở vật chất của lối sống
Mức sống có tính biến động và thay đổi trong thời gian ngắn, còn lối sống biến đổi chậm, lâu dài hơn Thực tế cho thấy, trong sản xuất nếu công
Trang 20cụ sản xuất kém thì năng suất thấp, mức sống thấp Công nghệ phát triển, kỹ thuật cao thì tất yếu năng suất cao, mức sống cao Mức sống cao sẽ tạo điều kiện phát triển tài năng, tổ chức tốt cuộc sống gia đình, đóng góp nhiều cho xã hội Điều đó chứng tỏ mức sống là một trong những điều kiện cần thiết và quan trọng để hình thành lối sống Nhưng không phải mức sống được nâng cao thì lối sống cũng được nâng cao, có nhiều trường hợp có mức sống ngang nhau nhưng lại có lối sống khác nhau Có những người mức sống rất cao nhưng lối sống đáng khinh và rất đáng phê phán, đó là những hành vi đê tiện, ích kỷ, chỉ biết mình, không biết đến ai khác Trái lại, có những người điều kiện sống thiếu thốn, khó khăn, vất vả lắm mới có được miếng cơm manh áo nhưng nhân phẩm của họ đáng trân trọng Chính vì vậy, nếu đồng nhất mức sống với lối sống sẽ dẫn đến quan niệm sai lầm là tuyệt đối hoá nhu cầu vật chất, đề cao xã hội tiêu dùng, thực dụng, xem thường đời sống tinh thần, xem thường yếu tố chính trị trong đời sống xã hội
Có thể nói, mức sống là thuật ngữ kinh tế- xã hội dùng để đánh giá các nhu cầu vật chất và tinh thần đã được thoả mãn
1.1.3.2 Chất lượng sống
Là khái niệm để nói lên mức độ tự do xã hội của con người và toàn bộ những giá trị vật chất, tinh thần của con người, phản ánh mức thoả mãn những nhu cầu có tính phức tạp hơn, không trực tiếp được đo bằng số lượng
Theo nhà nghiên cứu lối sống người Mỹ, William Bell, chất lượng sống
được đặc trưng bởi: Sự an toàn thể chất cá nhân đối với bạo lực, bệnh tật và các trường hợp rủi ro;
Sự sung túc về kinh tế và tính đa dạng của hàng tiêu dùng, đặc biệt là về thực phẩm;
Công bằng trong khuôn khổ pháp luật;
An ninh quốc gia đối với kẻ thù bên ngoài và bên trong;
Trang 21Bảo hiểm lúc già yếu và ốm đau;
Hạnh phúc tinh thần của cá nhân bao gồm khả năng tự thể hiện, các quan hệ phong phú trong gia đình và bè bạn;
Sự tham gia của đời sống cá nhân vào đời sống xã hội, tham gia quản lý, khả năng quyết định tương lai của mình trong khuôn khổ đời sống kinh tế- xã hội hiện đại;
Bình đẳng về giáo dục, nhà ở và nghỉ ngơi;
Chất lượng đời sống văn hoá;
Chất lượng môi trường kỹ thuật;
Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm
Như vậy, chất lượng sống phản ánh các chỉ tiêu có nội dung phong phú của lao động và giải trí, các điều kiện lao động và sinh hoạt, chất lượng ăn, mặc, ở, đi lại, các hoạt động hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo văn hoá, tính chất yên ổn của xã hội Hơn nữa, chất lượng sống phản ánh những giá trị hiện thân của thế giới nội tâm con người trong hoạt động sống
Thực tế chất lượng sống vừa gắn chặt chẽ với số lượng, vừa gắn liền với bản chất của một chế độ Lối sống mà chúng ta đã và đang xây dựng là phối hợp hài hoà giữa mức sống và chất lượng sống, giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, hai yếu tố này luôn thống nhất và có mối quan hệ biện chứng với nhau
1.1.3.3 Lẽ sống và nếp sống
- Lẽ sống: Là sự lựa chọn chủ quan của con người về lối sống, là mặt ý
thức của lối sống Nói cách khác nó là sự phản ánh khách quan của lối sống vào đầu óc con người Nó là sự kẳng định về một lối sống, là mặt tự giác của lối sống ấy Nó đề cập tới mục đích, ý nghĩa, lý tưởng cuộc sống, là ý chí khát vọng của con người
Lẽ sống biểu hiện trình độ, tâm lý, lý tưởng sống của con người trong
sự lựa chọn, bảo vệ và phát triển một lối sống nhất định Với tư cách là một
Trang 22phạm trù triết học, lẽ sống gắn với một thế giới quan nhất định; Trên bình diện
đạo đức- tâm lý, lẽ sống biểu hiện tập trung thái độ ứng xử của cá nhân với cộng đồng Một lẽ sống tốt đẹp thông thường gắn với các giá trị nhân đạo của cuộc sống, biết khoan dung và vị tha, có trách nhiệm đạo đức với cộng đồng
và cộng đồng luôn luôn làm hoàn thiện cá nhân Lẽ sống gắn các quá trình hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo các giá trị văn hoá mới, vì thế nó là một giá trị tinh thần
Chính vì lẽ sống gắn liền với hệ tư tưởng, thế giới quan, niềm tin vào cuộc sống nên lẽ sống dẫn đường cho lối sống, xác định nguyên tắc của lối sống Lẽ sống là nội dung cơ bản của lối sống, xác định mặt chất của lối sống, bản lĩnh sống Đó chính là linh hồn của lối sống, là sự tổng hợp, hoà quyện của cả lý trí và tình cảm, của kiến thức về các quy tắc đạo đức, các lý tưởng, khát vọng và niềm tin được hình thành bởi chế độ giáo dục, những điều kiện
và các hoạt động sống thể hiện trong mọi lĩnh vực lao động, giao tiếp, gia đình
và nhân cách Lẽ sống biểu hiện ra ở quan điểm sống, mục đích sống, động cơ, thái độ lựa chọn các hoạt động và các mối quan hệ trong cuộc sống
- Nếp sống: Là khái niệm chỉ biểu hiện hàng ngày được lặp đi lặp lại
thành nếp, thành thói quen trong tư duy và trong hành động của con người
Đối với nhiều nhóm xã hội, nếp sống đã trở thành tập quán lao động, giao tiếp, sinh hoạt và định hướng nhân cách
Nếp sống là sự biểu hiện cụ thể của lối sống, như A.F Buchenco đã nói
“nếp sống không phải là một phần mà là một trong những hình thức biểu hiện của lối sống”
Nếp sống biểu hiện thành phong tục có ý nghĩa xã hội mạnh mẽ và rộng rãi hơn Mỗi vùng văn hoá, mỗi tầng lớp và giai cấp xã hội, mỗi dân tộc đều
có kiểu phong tục quy định các hành vi ứng xử của cá nhân Việc chấp nhận hay vi phạm phong tục gây ra một ý nghĩa tuân thủ hay vi phạm nếp sống của
Trang 23cộng đồng về mặt tinh thần Chấp nhận hay vi phạm phong tục này gây ra một
sự cổ vũ hay phản ứng mạnh mẽ của cư dân trong cộng đồng
Theo Mạc Văn Trang: “Lối sống năng động hơn, còn nếp sống là mặt
ổn định của lối sống, là những đặc điểm biểu hiện của lối sống đã được hình thành nền nếp, thói quen của cá nhân, của gia đình, của xã hội Lối sống được nảy sinh, hình thành và phát triển, và đến một mức độ củng cố, định hình mới thành nếp sống, nếp sống và lối sống không tách rời nhau” Và phong tục
được xã hội gìn giữ, củng cố bằng dư luận, mỗi thành viên của cộng đồng phải chấp hành một cách tự nguyện như một sự thôi thúc của lương tâm, như một nghĩa vụ đạo đức và có khi như là một niềm hạnh phúc của cuộc sống
Các nếp sống đều gắn với các lợi ích xã hội Nó tạo ra sự ổn định xã hội
từ trong chiều sâu tự giác của các quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Vậy, nếp sống gồm những cách thức, những quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất (săn bắn, trồng trọt ), trong sing hoạt (ăn, mặc, ở, ), trong tổ chức
đời sống xã hội (lễ nghi, phong tục, đạo đức, pháp luật, ), đó là những nghi
lễ, phong tục xã hội làm cho lối sống ổn định hơn
Bản chất xã hội của nếp sống được đặc trưng bởi tính dân tộc, tính giai cấp và tính thời đại của nó Nếp sống tuy là mặt ổn định của lối sống nhưng
nó cũng thay đổi theo những điều kiện xã hội nhất định Quy luật hình thành nếp sống mới cũng liên quan đến quy luật hình thành lối sống và nó luôn luôn tạo ra sự ổn định tương đối cho lối sống Xây dựng lối sống mới, cần thiết phải xây dựng một nếp sống theo những định chuẩn xã hội định hướng những mặt ổn định lâu dài của lối sống mới
1.1.3.4 Phong cách sống
Là thuật ngữ tâm lý- xã hội dùng để chỉ thái độ, hành vi ứng xử và định hướng giá trị trong đời sống hàng ngày của cá nhân và các nhóm xã hội
Trang 24Phong cách sống chính là hình thức biểu hiện của lối sống trong sinh hoạt, trong các hoạt động xã hội của cá nhân, của các nhóm xã hội Phong cách sống chỉ rõ thái độ và cách thức sống, cách thức lao động, cách thức quản lý sản xuất và xã hội, nó gắn với một kiểu hành động nhất định GS.TS
Đỗ Huy cho rằng: “phong cách sống chỉ rõ thái độ và cách thức sống, cách thức lao động, cách thức quản lý sản xuất và quản lý đô thị”
Trong mỗi lối sống có các mặt khách quan và chủ quan, phong cách sống chỉ rõ tính chất chủ quan của việc thực hiện các hoạt động sống Phong cách sống còn nhằm đánh giá hành vi, lối suy nghĩ và các định hướng giá trị của con người Phong cách sống không phụ thuộc hoàn toàn vào mức sống hay chất lượng sống
1.1.3.5 Phương thức sống
Là khái niệm rất gần với lối sống Phương thức dùng để chỉ cái vốn có
để phân biệt với trạng thái phải có
Phương thức sống xác định nền tảng kinh tế- xã hội- tinh thần của lối sống Phương thức sống bao chứa những chỉ tiêu về : tính chất của tư liệu sản xuất, giá trị của nền văn hoá, bản chất tinh thần của chế độ xã hội, điều kiện
an sinh xã hội, chất lượng dân số, cơ cấu nhân khẩu, nghề nghiệp đối với các hoạt động sống khác
Phương thức sống được hiểu gần như là chế độ sống
1.1.3.6 Lối sống cá nhân và lối sống xã hội
Là mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng của lối sống
- Lối sống cá nhân là sự khẳng định giá trị cá nhân trong cộng đồng Nó vừa phản ánh lối sống của xã hội, vừa khẳng định nét riêng của từng con người cụ thể
Trang 2524 - Lối sống xã hội là sự khẳng định giá trị cơ bản của cộng đồng trong hoạt động thực tiễn xã hội Nó vừa phản ánh khuynh hướng sống của xã hội, vừa phản ánh chất lượng của xã hội Lối sống của xã hội phụ thuộc vào cơ sở kinh tế, chính trị, văn hoá của xã hội gắn liền với sự biến đổi của các hình thái kinh tế- xã hội và đặc điểm giai cấp, dân tộc, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp
Có thể nói một cách chung nhất, lối sống là toàn bộ hoạt động sinh sống của con người trên mọi phương diện: giao tiếp, hành vi, nếp nghĩ trong tất cả các lĩnh vực: lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, gia đình, nhân cách,
Lối sống được thể hiện ở lẽ sống với tính chất là mặt ý thức, ở nếp sống với tính chất là thói quen và là mặt có tính bản năng , ở cách sống như một sự
ẩn hiện cụ thể của từng cá nhân;
Lối sống có liên hệ mật thiết với mức sống với tư cách là điều kiện vật chất đầu tiên, là yếu tố tác động trực tiếp, sâu xa nhằm phản ánh trình độ và tính chất sinh hoạt vật chất của con người
1.1.4 Lối sống văn hoá
Như trên chúng ta đã xem xét, lối sống được hiểu là một dạng tổng hoà của các hoạt động sống của con người trong những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định Trong đời sống của bất cứ xã hội nào cũng có những hoạt động rộng lớn, thường xuyên thể hiện trong các hoạt động kinh tế, văn hoá, giáo dục, tư pháp, tôn giáo, và những mặt hoạt động ăn sâu vào các sinh hoạt, các quan hệ giao tiếp ứng xử trong gia đình, trong xã hội Tất cả hình thành nên lối sống, lối sống không chỉ là một phương diện giá trị đạo đức trong xã hội, lối sống cũng không chỉ là những quy tắc, quy định như là luật pháp với những đòi hỏi gò bó, áp đặt mà nó còn biểu hiện cả phương diện khoa học, thẩm mỹ của xã hội, là biểu hiện tổng hoà cái chân, thiện, mỹ, là một giá trị
có chất lượng cao hơn hẳn bất cứ một giá trị đạo đức cụ thể, giá trị khoa học
cụ thể, một giá trị thẩm mỹ cụ thể nào đó Đó chính là biểu hiện của văn hoá
Trang 26Hầu hết các nhà nghiên cứu nước ta đều cho rằng, lối sống truyền thống
của người Việt được kết tinh từ các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc: yêu
nước, đoàn kết, nhân ái, khoan dung, cần cù, hiếu học, thông minh, sáng tạo, nhẹ nhàng, tế nhị, kín đáo, linh hoạt, dễ thích nghi, các giá trị văn hoá
truyền thống này đã góp phần tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam
Tuy nhiên, qua quá trình giao lưu, tiếp biến, hội nhập, các đặc điểm này
được kế thừa và phát huy ở những mức độ khác nhau Có những đặc trưng của lối sống trước đây là phù hợp, tích cực nhưng giờ đây bộc lộ những điểm hạn chế, không phù hợp với thời đại, với xã hội mới
Ví dụ, kinh nghiệm chủ nghĩa dẫn đến yếu kém tư duy lý luận; cần cù, chịu khó dẫn đến kém tư duy kỹ thuật, chậm đổi mới; nặng tính cộng đồng dẫn đến hạ thấp vai trò cá nhân, cào bằng, cục bộ địa phương; lối sống nặng tình dẫn đến thiếu tinh thần pháp luật, tuỳ tiện, không tôn trọng quy luật khách quan; đề cao yếu tố tinh thần dẫn đến xem nhẹ yếu tố vật chất, duy ý chí
Trước những biểu hiện nêu trên rất cần những định hướng phát triển lối sống một cách tự giác Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa những định hướng cho lối sống, nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH
đất nước Đó là con người có niềm tin vững chắc và quyết tâm cao thực hiện nhiệm vụ lịch sử trọng đại là CNH, HĐH đất nước, đậm đà bản sắc dân tộc, có tinh thần yêu nước, yêu độc lập tự do, có bản lĩnh, nhân văn, nhân đạo, nhân ái trong quan hệ giữa con người với con người, con người khoa học, phát triển cao về trí tuệ, con người công nghệ được đào tạo có tay nghề cao, có thể lực cường tráng, có kiến thức, kỹ năng rèn luyện sức khoẻ, con người- công dân
có ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, hiểu biết và tự giác chấp hành pháp luật, con người có cá tính và bản sắc riêng
Trang 27quyết Bộ Chính trị về “Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện
nay” đã xác định: “Những giá trị văn hoá truyền thống vững bền của dân tộc
Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý thương người như thể thương thân, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao
động Đó là nền tảng tinh thần to lớn để nhân dân ta xây dựng một xã hội phát triển, tiến bộ, công bằng, nhân ái” Vì thế, có thể nói, lối sống văn hoá là cả một quá trình luôn luôn điều chỉnh, xây dựng và bồi đắp bằng những giá trị văn hoá
Theo chúng tôi, lối sống CNLĐ là một tổng thể, một hệ thống đặc điểm chủ yếu phản ánh những điều kiện sống, hoạt động và quan hệ thực tiễn của
họ Nó có vai trò điều tiết hành vi của mỗi người CNLĐ trong giao tiếp ứng
xử và quan hệ cá nhân cũng như định hướng giá trị xã hội
Vì vậy, việc nghiên cứu lối sống và xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ Hà Nội có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng giá trị cho đội ngũ CNLĐ, thúc đẩy xã hội phát triển
1.2 Khái niệm giai cấp công nhân và giai cấp công nhân Việt Nam
1.2.1 Khái niệm giai cấp công nhân
Khi bàn về khái niệm giai cấp công nhân, các nhà khoa học từ những cách tiếp cận khác nhau dẫn đến những quan niệm khác nhau thậm chí trái ngược nhau Có thể quy về các hướng sau đây:
Hướng thứ nhất: Trong thời đại ngày nay, thời đại công nghệ thông
Trang 28tin, do sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học- công nghệ , do sự
điều chỉnh “có hiệu quả” của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt trên lĩnh vực xã hội, giai cấp công nhân không còn nữa, hoặc đã trở thành giai cấp trung lưu, hoặc
đã tan biến vào tầng lớp trí thức
Hướng thứ hai: Giai cấp công nhân không những không biến mất mà
còn được bổ sung thêm vào trong thành phần của mình đội ngũ trí thức Trong xã hội hiện đại, trí thức không còn là một tầng lớp xã hội độc lập mà chỉ là một bộ phận của giai cấp công nhân
Hướng thứ ba: Giai cấp công nhân vẫn tồn tại và phát triển cùng với sự
phát triển của xã hội, nhưng được bổ sung những phẩm chất mới Giai cấp công nhân đang trong quá trình “trí thức hoá”
Để có một cái nhìn khách quan và khoa học, để tiến tới một sự nhận thức thống nhất về khái niệm giai cấp công nhân, tất yếu phải trở về với thế giới quan, phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin
C.Mác và Ph.ăngghen đã sử dụng nhiều từ đồng nghĩa để biểu đạt khái niệm giai cấp công nhân như: giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, giai cấp vô sản công nghiệp, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân công xưởng, nhà máy, giai cấp công nhân đại cơ khí Tất cả những diễn đạt nêu trên về khái niệm giai cấp công nhân đều được đưa vào hai tiêu chí để phân định giai cấp công nhân với các giai tầng xã hội khác:
Thứ nhất, về phương thức sản xuất: giai cấp công nhân là những người
lao động trực tiếp hoặc gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá, quốc tế hoá cao
Đây là tiêu chí cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ hay người thợ trong công trường thủ công
Đối với C.Mác và Ph.ăngghen, giai cấp công nhân là tập đoàn người,
Trang 29bao gồm những người công nhân công xưởng, là sản phẩm của nền đại công nghiệp và phát triển cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất: Trong xã hội tư bản chủ
nghĩa, giai cấp công nhân- giai cấp những người làm thuê không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư
Chính vì điều này mà giai cấp công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản và hai ông dự báo rằng, nếu giai cấp tư sản mà lớn lên thì
“công nhân buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu mọi may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”
Nhìn chung, căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân nêu trên, có thể coi những người lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp là công nhân Còn những người làm công ăn lương phục
vụ trong các ngành thương mại, y tế, giáo dục, văn hoá (gián tiếp sản xuất ra sản phẩm tiêu thụ) là những người lao động nói chung, họ là đối tượng được tổ chức công đoàn thu hút, kết nạp là đoàn viên nhưng vẫn không phải là công nhân Có thể gọi chung là đội ngũ công nhân viên chức lao động
Sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền Địa vị kinh tế- xã hội của họ đã thay đổi hoàn toàn, từ những nô lệ làm thuê, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp thống trị về chính trị lãnh đạo toàn xã hội cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, đại biểu cho toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất cơ bản đã được công hữu hoá
Hiện nay, trên con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
Trang 30giai cấp công nhân có đặc trưng chủ yếu theo tiêu chí thứ nhất Còn với tiêu chí thứ hai, nếu xét toàn bộ giai cấp thì giai cấp công nhân đã là người làm chủ, nhưng trong điều kiện tồn tại nhiều thành phần kinh tế như hiện nay thì còn có một bộ phận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở khu vực này có một tỷ lệ không lớn công nhân có cổ phần, cổ phiếu, song thực tế đó cũng không làm thay đổi một sự thật là toàn bộ tư liệu sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất vẫn nằm trong tay những chủ sở hữu tư nhân, và giai cấp công nhân vẫn phải bán sức lao động chân tay và lao động trí
óc, họ vẫn là những người làm công ăn lương và vẫn bị những chủ sở hữu tư nhân bóc lột về giá trị thặng dư
Những quan điểm của C.Mác và Ph.ăngghen về hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cơ sở phương pháp luận để chúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại Hơn nữa, thế giới đã bước vào nền văn minh tin học, văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức, công nghệ cao, đồng thời khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người, nhân tố sáng tạo ra và trực tiếp vận hành khoa học công nghệ hiện đại Do đó,
định nghĩa về giai cấp công nhân thì nhất thiết trong nội hàm của nó phải thể hiện những đặc trưng cơ bản sau:
- Là một tập đoàn xã hội ổn định gắn liền với sản xuất công nghiệp hiện đại
- Địa vị kinh tế, chính trị- xã hội được khẳng định trong xã hội hiện đại
- Đặc điểm, vai trò đối với xu thế phát triển xã hội trong thời đại ngày nay
Từ nhận thức trên, chúng ta có thể định nghĩa: Giai cấp công nhân là
một tập đoàn người ổn định, hình thành và phát triển gắn liền với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa, quốc tế hoá ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất
Trang 31ra của cải vật chất và cải tạo các mối quan hệ xã hội, đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất trong thời hiện đại Trong các nước tư bản chủ nghĩa, do không có hoặc cơ bản không có những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, họ phải bán sức lao động làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư Trong các nước xã hội chủ nghĩa, họ cùng với nhân dân lao động làm chủ các tư liệu sản xuất chủ yếu, cùng nhau hợp tác lao động sáng tạo và là giai cấp lãnh đạo xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
1.2.2 Khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam
Từ khái niệm về giai cấp công nhân hiện đại, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra những khái niệm khác nhau về giai cấp công nhân Việt Nam
Theo Phó giáo sư Cao Văn Lượng: “Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là một tập đoàn những người lao động có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm việc gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp Do lao động và quản lý một nền công nghiệp hiện đại, then chốt của nền kinh tế quốc dân và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội Việt Nam” [30, tr.43-44]
Giáo sư Văn Tạo định nghĩa: “Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là tập đoàn những người có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm việc gắn với sản xuất, kinh doanh và dịch vụ công nghiệp Do nắm giữ những cơ sở vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong một xã hội nên giai cấp công nhân có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội hiện đại Việt Nam”
Trang 32Viện Công nhân Công đoàn cho rằng: “Giai cấp công nhân Việt Nam là tập đoàn những người có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm việc gắn với sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp Do nắm giữ những cơ sở vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội hiện đại Việt Nam”[50, tr.272-273]
Với những định nghĩa nêu trên, có thể chỉ ra rằng, khái niệm về giai cấp công nhân Việt Nam cần có những nội dung chủ yếu sau:
- Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là tập đoàn những người lao
- Giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ là lực lượng sản xuất chủ yếu
mà còn là lực lượng lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Từ sự phân tích đó, có thể đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân Việt
Nam như sau: Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn người, mà lao
động gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp hiện đại với nguồn thu nhập chủ yếu bằng làm công ăn lương; là lực lượng đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong quá trình xây dựng một nền kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức hiện đại vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 33Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khoá X: “ Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”
1.3 Một số đặc điểm của công nhân Thủ đô hiện nay
Sau hơn 20 năm đổi mới, lực lượng công nhân Hà Nội có nhiều biến
động về cơ cấu, tăng nhanh về số lượng và tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng Đội ngũ công nhân Hà Nội đang là lực lượng sản xuất lớn nhất của Thủ
đô Sáng tạo, nhiệt tình công việc, ham học hỏi, nhạy cảm và có ý thức với sự nghiệp chung là những ưu điểm nổi bật Bộ phận công nhân trẻ thích ứng khá nhanh với kinh tế thị trường, năng động, sáng tạo Số đông công nhân là nòng cốt trong các phong trào thi đua, có những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, giải pháp công nghệ mang lại hiệu quả cao, đóng góp to lớn cho doanh nghiệp và cho xã hội
1.3.1 Công nhân Thủ đô là lực lượng tiên phong, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong thời kỳ đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân Hà Nội đã phát huy
vai trò tiên phong của mình trên tất cả các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, đi đầu
trong các phong trào thi đua lao động xây dựng và phát triển Thủ đô CNLĐ Thủ đô đã phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của giai cấp công nhân cả nước, trung thành với sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo, gương mẫu đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH Thủ đô Mặc dù đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn, hàng triệu công nhân Thủ đô đã kiên trì, dũng cảm, sáng tạo tham gia vào phát triển các ngành kinh tế công nghiệp và dịch vụ, tạo nên sự thay đổi diện mạo của Thủ đô ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Hàng loạt các
Trang 34đô thị mới được xây dựng, hàng loạt các con đường mới được nâng cấp và mở mang, hàng loạt các ngành sản xuất và dịch vụ được phát triển góp phần tạo nên sự tăng trưởng liên tục trong nhiều năm của kinh tế Thủ đô, trong đó có sự
đóng góp không nhỏ của đội ngũ CNLĐ Thủ đô CNLĐ Thủ đô cùng với nông dân và tầng lớp trí thức đã góp phần to lớn vào việc xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Sự tham gia tích cực của CNLĐ Thủ đô vào các phong trào thi đua yêu nước, thi đua xây dựng Thủ đô xanh, sạch, đẹp, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, phong trào xây dựng văn hoá doanh nghiệp và văn hoá công sở đã tạo nên một
động lực tinh thần to lớn, vừa góp phần vào giáo dục ý thức chính trị, đạo đức xã hội, xây dựng lối sống lành mạnh trong CNLĐ, vừa góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội Thủ đô phát triển
Như vậy, truyền thống yêu nước, yêu Thủ đô, tích cực gương mẫu đi
đầu trong lao động sáng tạo vì Thủ đô văn minh, thanh lịch và hiện đại là đặc
điểm nổi bật của giai cấp công nhân lao động Thủ đô hiện nay Đứng trước những biến động của tình hình thế giới, chúng ta cần giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp này để xây dựng lối sống văn hoá trong CNLĐ Thủ đô, vượt qua những thách thức đang đặt ra hiện nay
1.3.2 Những biến động về cơ cấu CNLĐ Hà Nội
Thủ đô Hà Nội là nơi diễn ra nhộn nhịp các hoạt động thương mại, giao lưu kinh tế và có nhiều điều kiện hình thành và phát triển đa dạng các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH Các doanh nghiệp hoạt động có tính chất thương mại dịch vụ ở Hà Nội hầu hết tham gia trong các lĩnh vực buôn bán máy móc thiết bị, vật liệu xây dựng, làm đại lý tiêu thụ cho các đơn vị sản xuất trong nước và các hãng nước ngoài, hoặc bán lẻ các loại hàng hoá vật
Trang 35Trong các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân có lực lượng công nhân chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực dịch vụ- thương mại, chiếm khoảng 70,2%, còn lại 29,8% làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Những biến động về cơ cấu thể hiện rất rõ từ hai nguyên nhân chính: Thứ nhất, sự chuyển đổi các thành phần kinh tế và ngành nghề;
Thứ hai, những tác động của quá trình đô thị hoá và sự phân hoá trong
số lượng công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh Hiện nay,
có một số lượng lớn doanh nghiệp nhà nước Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội và doanh nghiệp nhà nước do Thành phố quản lý (trong đó hơn 50% là các công ty TNHH NN một thành viên và công ty cổ phần có vốn nhà nước);
có 292 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gồm doanh nghiệp 100% vốn
đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh); 17.284 doanh nghiệp ngoài quốc doanh (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần có vốn nhà nước dưới 50%, công ty cổ phần, công ty hợp danh)
Thực hiện Nghị định 41/2002/NĐ- CP về giải quyết chính sách đối
Trang 36với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, từ năm 2005 đến nay, Thành phố đã giải quyết chính sách đối với lao động dôi dư cho 170 doanh nghiệp với số lao động dôi dư là 14.950 người, cụ thể:
Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các đơn vị kinh tế: hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các loại hình doanh nghiệp này đã trải qua một quá trình thăng trầm và phát triển mạnh từ năm
1991 Tuy nhiên, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ với nguồn vốn bình quân khoảng 5 tỷ đồng/ doanh nghiệp,
số lao động bình quân 30- 35 người/doanh nghiệp Trong khi đó, vốn bình quân ở một doanh nghiệp nhà nước là hơn 100 tỷ đồng, ở doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài là 140 tỷ đồng; Số lao động ở doanh nghiệp nhà nước là 395 người/doanh nghiệp, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là 250 người/doanh nghiệp Đặc biệt, một bộ phận CNLĐ làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vốn của nhà nước đã có cổ phần của công ty Đóng góp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có chuyển biến thường xuyên và theo chiều hướng ngày càng tích cực Thực hiện Quyết định số 479/QĐ- TTg phê duyệt
Kế hoạch sắp xếp, đổi mới công ty nhà nước trực thuộc Uỷ ban nhân dân
Trang 37những yếu tố mới về cơ cấu giới tính trong mỗi ngành ở các lĩnh vực lao động
Cơ cấu giới tính CNLĐ trong doanh nghiệp NQD phân theo ngành nghề:
Vận tải Thương mại dịch vụ Thương mại hàng hoá Dệt may- da giầy
Nguồn:LĐLĐ Thành phố Hà Nội (2006), Báo cáo kết quả điều tra về CNLĐ
Trang 381.3.2.2 Những biến động về cơ cấu CNLĐ do những tác động của quá trình đô thị hoá và sự phân hoá trong thu nhập, mức sống
Hà Nội đang phải đối mặt với vấn đề lao động dịch chuyển từ nông thôn
ra thành thị, gia tăng những phức tạp về an ninh, chính trị, nhu cầu việc làm và biểu hiện tất yếu trong quan hệ cung- cầu trên thị trường lao động Bên cạnh việc tăng nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực tạm thời trong quá trình
đô thị hoá, tình trạng nhập cư ồ ạt đã làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, quy mô và cơ cấu đội ngũ CNLĐ
Quá trình đô thị hoá làm cho đất nông nghiệp bị thu hẹp, số lao động trong các ngành nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng Dẫn đến số lao động nông nghiệp dôi dư năm 2000 khoảng 7000 người thì dự tính đến năm 2008 khoảng hơn 20.000 người Đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, nhu cầu lao động nội thành tăng lên cùng với quá trình đô thị hoá Năm 2005, Hà Nội có khoảng 65% dân cư sống ở thành thị, diễn biến tất yếu là lao động thành thị sẽ tăng nhanh và lao động nông thôn sẽ tiếp tục giảm
Sự hấp dẫn, cuốn hút trong quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
ở Thủ đô đã thúc đẩy làn sóng di dân, lao động tự do từ các vùng nông thôn, các tỉnh lân cận về Hà Nội sinh sống và tìm việc làm Số lao động ngoại tỉnh nhập cư vào Hà Nội đông nhất vào khoảng những tháng sau Tết nguyên đán (mùa nông nhàn), số lao động này có trình độ đào tạo thấp, không có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Tập trung ở mọi độ tuổi: trong độ tuổi lao động, trên
độ tuổi lao động còn sức khoẻ và trẻ em chưa đến tuổi lao động Người lao
động ngoại tỉnh ở khắp mọi nơi và tìm mọi công việc: thợ nề, thợ mộc, xích lô, xe ôm, giúp việc gia đình và phần lớn là lao động phổ thông đơn giản, cần
có sức khoẻ: bốc xếp, vận chuyển hàng hoá, vật liệu xây dựng thường là những công việc không ổn định Ngoại thành Hà Nội cũng là nơi thu hút lao
động ngoại tỉnh đến cư trú và lao động theo thời vụ (chủ yếu là ở lĩnh vực sản
Trang 39xuất và dịch vụ nông nghiệp), nhất là ở các huyện tiếp giáp với các quận nội thành (huyện Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm) Bên cạnh đó còn có nguồn bổ sung lực lượng lao động ngoại tỉnh nhập cư, gây áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm ở Thủ đô, đó là một số lượng lớn sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp sau khi tốt nghiệp ở lại Hà Nội tìm việc làm
Nhìn chung, cơ cấu công nhân lao động Hà Nội đã có những thay đổi quan trọng trong những năm qua:
Doanh nghiệp nhà nước đang được tổ chức, sắp xếp lại, hầu hết các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá, giao, bán, khoán kinh doanh nên CNLĐ trong các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm, trong khi đó, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, số lượng CNLĐ ở các khu vực này cũng tăng mạnh
Một số ngành công nghiệp then chốt trước đây (cơ khí, luyện kim, chế tạo máy ) hiện đang gặp khó khăn về công nghệ và thị trường tiêu thụ, do đó
đội ngũ CNLĐ trong các ngành đó tiếp tục giảm Một số ngành kinh tế mũi nhọn mới có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (tin học, điện tử, bưu chính viễn thông, dịch vụ ) phát triển mạnh, kéo theo số CNLĐ tăng nhanh
CNLĐ nhập cư trên địa bàn Hà Nội diễn ra hết sức phức tạp và đa dạng Tập trung ở những lao động phổ thông, giản đơn và công việc không ổn định
1.4 Vai trò của việc xây dựng lối sống văn hoá trong công nhân Thủ đô
1.4.1 Xây dựng lối sống văn hoá góp phần xây dựng giai cấp công nhân Thủ đô ngày càng vững mạnh, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Công nhân lao động là đối tượng cần được quan tâm, chăm lo về mặt
Trang 40đời sống văn hoá tinh thần bên cạnh đời sống kinh tế vật chất, bởi chính họ là lực lượng đông đảo và có vai trò to lớn đưa sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đi tới thành công
Trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu quốc tế, giai cấp công nhân, lao động Thủ đô đang đứng trước những yêu cầu cần phải nâng cao hơn nữa
về trình độ, năng lực để đáp ứng nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp đổi mới
đất nước Điều đó đòi hỏi họ cần được bồi dưỡng không chỉ về mặt thể lực, trí tuệ mà cả lý tưởng chính trị xã hội, đời sống tâm hồn, tình cảm Đây là một yêu cầu và nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lâu dài và cấp bách Bởi lẽ công cuộc xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa và đấu tranh chống các thế lực thù
địch đòi hỏi phải nâng cao tính chiến đấu, hiệu quả giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống cho đội ngũ tiên phong và chủ lực này
Xây dựng lối sống trong CNLĐ Thủ đô, trước hết là xây dựng lý tưởng, xây dựng lẽ sống lành mạnh, giáo dục tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, giáo dục đạo đức xã hội và phẩm chất tốt đẹp của giai cấp công nhân Thủ
đô, giáo dục truyền thống tốt đẹp của giai cấp công nhân Thủ đô trong hai cuộc kháng chiến, trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước
đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay Vì vậy, xây dựng lối sống văn hoá là cơ sở để xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Thủ đô, góp phần thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khoá X về xây
dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Giai cấp công nhân Thủ đô lớn mạnh không ngừng sẽ là động lực thúc
đẩy sự nghiệp CNH, HĐH Thủ đô và đất nước, góp phần vào thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế- xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
1.4.2 Xây dựng lối sống CNLĐ góp phần vào xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
Thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế- xã hội của cả