BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI TỪ THỊ THANH BÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ CHO VẬN ĐỘNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
TỪ THỊ THANH BÌNH
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ CHO VẬN ĐỘNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Đinh Thị Vân Chi
Hà Nội 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Thị Vân Chi Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác đều được trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2013
Tác giả luận văn
Từ Thị Thanh Bình
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC……… …….1
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT……… 3
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA HÀ NỘI 13
1.1 Một số khái niệm có liên quan 13
1.1.1 Khái niệm hoạt động, giải trí và hoạt động giải trí 13
1.1.2 Khái niệm vận động viên 17
1.1.3 Khái niệm về thể dục thể thao giải trí 17
1.2 Giải trí là nhu cầu tất yếu của xã hội phát triển 19
1.3 Phân loại hoạt động giải trí 22
1.3.1 Phân loại theo tính chất hoạt động 23
1.3.2 Phân theo chủ thể tổ chức hoạt động 24
1.3.3 Phân loại theo địa điểm thực hiện hoạt động 26
1.3.4 Phân theo cấp độ thời gian rỗi 27
1.4 Vai trò của hoạt động giải trí 28
1.4.1 Vai trò của hoạt động giải trí đối với cuộc sống 29
1.4.2 Hoạt động giải trí đối với vận động viên 31
1.5 Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 28
1.5.1 Đôi nét về Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 32
1.5.2 Nhiệm vụ, vai trò của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 34
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA HÀ NỘI 36
2.1 Thực trạng tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 36
Trang 42.1.1 Một số đặc điểm chung về vận động viên của Trung tâm Huấn
luyện thể thao quốc gia Hà Nội 36
2.1.2 Thời gian hoạt động giải trí của vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 39
2.1.3 Các hình thức hoạt động giải trí của vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 40
2.1.4 Nhu cầu hoạt động giải trí của vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 44
2.2 Đánh giá những hoạt động giải trí dành cho vận động viên 50
2.2.1 Mặt tích cực 51
2.2.2 Mặt hạn chế 54
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ CHO VẬN ĐỘNG VIÊN TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA HÀ NỘI 59
3.1 Yếu tố tác động đến việc tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 59
3.1.1 Nguyên nhân chủ quan 59
3.1.2 Nguyên nhân khách quan 64
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 68
3.2.1 Giáo dục, nhận thức về hoạt động giải trí cho vận động viên 70
3.2.2 Đầu tư ngân sách tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội 74
3.2.3 Đa dạng hóa các loại hình giải trí; đổi mới nội dung, hình thức giải trí cho vận động viên 76
3.2.4 Xã hội hóa tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên 78
3.2.5 Quản lý tổ chức các hoạt động giải trí cho vận động viên 80
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 91
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Cơ cấu tuổi của vận động viên 34
Bảng 2.2 Giới tính của vận động viên theo lứa tuổi 35
Bảng 2.3 Tình trạng bản thân của vận động viên 35
Bảng 2.4 Trình độ học vấn của vận động viên 35
Bảng 2.5 Số lượng vận động viên các môn tham gia điều tra phỏng vấn 36
Bảng 2.6 Kết quả phỏng vấn thời gian dành cho hoạt động giải trí của vận động viên thuộc Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quốc gia Hà Nội 37
Bảng 2.7 Phân nhóm các môn thể thao 39
Bảng 2.8 Hình thức hoạt động giải trí của các vận động viên nhóm môn cá nhân 39
Bảng 2.9 Hình thức hoạt động giải trí của các vận động viên nhóm môn tập thể 40
Bảng 2.10 Nhu cầu giải trí của vận động viên vào ngày nghỉ 43
Bảng 2.11 Nhu cầu giải trí của vận động viên vào các ngày trong tuần 44
Biểu đồ 2.1: Thể loại nhạc vận động viên thường nghe 47
Biều đồ 2.2: Thể loại phim vận động viên thường xem 48
Bảng 3.3 Hoạt động giải trí vận động viên ưa thích nhưng không thể tham gia 58
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Bước vào thế kỷ XXI đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở rộng quan hệ quốc tế, công tác thể dục thể thao có những thuận lợi, cũng như đứng trước những thử thách mới trên chặng đường phát triển của mình Thành tích đạt được của thể thao Việt Nam trong những năm qua tại các đấu trường Olympics, Asiads, SEAGames, các giải vô địch thế giới, Châu Á, Đông Nam Á có sự đóng góp rất lớn của các đội tuyển tập huấn tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia
Hà Nội
Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Thể dục thể thao có chức năng tổ chức, thực hiện kế hoạch tập huấn các đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia các môn thể thao, đào tạo tài năng thể thao trẻ và tổ chức các hoạt động dịch vụ theo quy định của pháp luật
Hàng năm, Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội tiếp nhận
từ 30 đến 50 đội tuyển thể thao với khoảng 700 - 800 vận động viên, huấn luyện viên tập huấn Các vận động viên tập huấn tại Trung tâm luôn giữ vai trò nòng cốt của đoàn thể thao Việt Nam Trung tâm luôn hướng tới mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện cả về “đức, trí, thể, mĩ” nên các loại hình vui chơi, giải trí cũng được quan tâm: các ngày lễ có thi văn nghệ, nhảy khiêu vũ cổ điển, sáng tác bài hát, thơ, văn về Trung tâm… theo từng đội, từng môn huấn luyện
Giải trí là một hoạt động văn hóa quan trọng trong đời sống cộng đồng nói chung và cho vận động viên đang tập huấn tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội nói riêng nó góp phần cải thiện đời sống cho vận động viên, giúp nâng cao thành tích thi đấu của họ Việc tìm hiểu nhu cầu giải trí
Trang 8của vận động viên là một vấn đề cấp thiết cần được nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp, những hình thức tổ chức hoạt động một cách phù hợp
Cùng với việc tập luyện thể thao, học tập, nghiên cứu để nâng cao và
mở rộng vốn kiến thức, thì hoạt động giải trí là một nhu cầu tất yếu và cần thiết của vận động viên Nền kinh tế luôn tăng trưởng, đời sống vật chất cũng như tinh thần của vận động viên được cải thiện Các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí phát triển nhanh, chất lượng phục vụ nâng cao Vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội có điều kiện tham gia hoạt động giải trí nhiều và đa dạng hơn Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đó, công tác tổ chức hoạt động giải trí dành cho vận động viên của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội hiện nay còn gặp nhiều khó khăn Việc
tổ chức hoạt động giải trí còn mang tính kỳ dịp, chưa được thường xuyên liên tục Do đó công tác tổ chức hoạt động giải trí dành cho vận động viên sẽ góp phần quan trọng trong công tác giáo dục, định hướng, hình thành nhân cách là việc làm cần thiết hiện nay
Đặc biệt, đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vận động viên chuyên nghiệp, phải tuân thủ theo sự quản lý chặt chẽ về tập luyện, ăn uống, nghỉ ngơi một cách khoa học và nghiêm túc, do vậy có thể coi vận động viên của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội là đối tượng chuyên biệt của đề tài nghiên cứu này
Hình thức tập luyện (lao động) của các vận động viên phải tập trong điều kiện khắc nghiệt, nhất là thời điểm vận động viên chuẩn bị tham gia thi đấu ở các Đại hội thể thao lớn mang tầm khu vực, châu lục và thế giới Do vậy, vận động viên phải bỏ nhiều mồ hôi, công sức, có khi cả xương máu để đạt được thành tích cao nhất, mang vinh quang về cho Tổ quốc
Do vậy, vấn đề giải trí cho vận động viên trong quá trình tập luyện, hay thời điểm trước - trong - sau thời gian thi đấu tại các Đại hội thể thao lớn là
Trang 9vấn đề rất quan trọng (Ở đây không chỉ giải trí về thể chất mà còn giải trí về tinh thần là làm giảm áp lực thành tích đối với vận động viên), cần nhiều nhà chuyên môn các nhà quản lý về lĩnh vực thể dục thể thao cũng như các lĩnh vực khác tìm hiểu đánh giá và có các nghiên cứu sâu về vấn đề này
Từ những phân tích thực tiễn trên, vấn đề giải trí cho vận động viên là vấn đề rất cần thiết và quan trọng cần phải nghiên cứu sâu ở nhiều góc độ và
nhiều khía cạnh Vì vậy, tác giả mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tổ
chức hoạt động giải trí cho vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội” với mong muốn đưa ra được những giải pháp tổ chức
hoạt động giải trí thật hiệu quả đối với vận động viên của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội, góp phần nâng cao thành tích của vận động viên trên đấu trường quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu
Giải trí là một trong những yếu tố góp phần hình thành nhân cách của vận động viên Nghiên cứu tổ chức hoạt động giải trí cho thanh niên nói chung đã được các nhà nghiên cứu đề tài này dưới nhiều góc độ khác nhau
Cuốn sách Nhu cầu giải trí của thanh niên của TS Đinh Thị Vân Chi giúp chúng ta hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của hoạt động giải trí trong đời
sống xã hội, đồng thời giúp chúng ta có một cách nhìn tổng quan về giải trí của thanh niên hiện nay
Một số luận văn thạc sỹ Văn hóa học như: Thời gian rỗi và hoạt động
văn hóa của thanh niên Hà Nội hiện nay của Phan Thanh Tá cho ta thấy cần
tổ chức những hoạt động văn hóa của thanh niên Hà Nội trong những thời
gian rỗi; hay cuốn Văn hóa lối sống thanh niên thời mở cửa của Lưu Khương
Hoa cũng phân tích rất sâu lối sống phóng khoáng của thanh niên trong thời
kỳ mở cửa của nước ta hiện nay; cuốn sách Nhà văn hóa thanh niên thành
phố Hồ Chí Minh với việc giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên cho
Trang 10thanh niên trong tình hình hiện nay của Lê Trí Thành cũng được tác giả nói
đến tính cấp thiết của việc giáo dục lý tưởng cộng sản trong thời kỳ mở cửa
này; hoặc Tổ chức hoạt đông vui chơi giải trí giành cho thiếu niên tại các
công viên văn hóa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Công
Hoan; Tổ chức hoạt động giải trí cho thanh niên thành phố Đà Nẵng của Hồ Văn Đắc; Công tác tổ chức hoạt động giải trí dành cho thanh thiếu nhi thành
phố Bắc Giang giai đoạn hiện nay của Doãn Hồng Hà cũng nói lên cần phải
tổ chức hoạt động giải trí cho thiếu niên, thanh niên trên các địa bàn thành
phố lớn Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh; cụ thể Những giải pháp tổ chức
hoạt động thiếu niên ở địa bàn dân cư của Đào Ngọc Dung; và một số công
trình như: Nghiên cứu cứu phát triển hoạt động vui chơi giải trí ở thủ đô Hà
Nội thực trạng và giải pháp, NGH-205/04; Một số suy nghĩ về việc tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí cho sinh viên trong thời gian rỗi, M-458/97; Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động vui chơi giải trí của sinh viên trên địa bàn Hà Nội, TH-522/05, có đề cập một số nội dung, biện pháp về việc tổ
chức các hoạt động nhằm tập hợp giáo dục thanh niên Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về vấn
đề tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là đi sâu nghiên cứu thực trạng các hoạt động giải trí của vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội Phân tích đánh giá những kết quả và hạn chế của thực trạng đó Từ đó đề xuất các giải pháp tổ chức giải trí phù hợp và hiệu quả đối với vận động viên của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo vận động viên cũng như nâng cao thành tích của vận động viên trên đấu trường quốc tế
Trang 114 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các tổ chức hoạt động giải trí của vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
- Về địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Viện Khoa học Thể dục thể thao
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu: phương pháp luận Mác -
Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng: phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn (trực tiếp, gián tiếp), khảo sát điền dã, tổng hợp, thống kê so sánh, phương pháp nghiên cứu văn hóa học và Quản lý văn hóa
Trang 126 Đóng góp của luận văn
- Là công trình khoa học tiên phong nghiên cứu về vận động viên, trong
đó phân tích và đánh giá thực trạng về tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
- Tìm nguyên nhân dẫn tới những hạn chế của tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
- Nói lên tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên đang tập huấn tại các Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
- Đưa ra những quan điểm để xây dựng và tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên và đề xuất một số giải pháp cho việc tổ chức hoạt động giải trí tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
- Làm tài liệu tham khảo cho các học viên kế cận, các nhà quản lý của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội… có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về lĩnh vực đề tài nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng hoạt động giải trí của vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp hoạt động giải trí cho vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA HÀ NỘI
1.1 Một số khái niệm có liên quan
1.1.1 Khái niệm hoạt động, giải trí và hoạt động giải trí
1.1.1.1. Về giải trí
Nói về giải trí, nhiều từ điển đều giải thích với hàm ý, đó là sự thoải mái, vui vẻ Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) thì khái niệm giải trí là: “Làm cho trí óc thảnh thơi, tâm hồn thanh thản bằng một hoạt động gây được hứng thú” [35, tr.65] Trong đời sống hàng ngày chúng ta thường hay nói “vui chơi giải trí”, hiểu như là một thuật ngữ kép, có hàm ý vui chơi để nhằm mục đích giải trí
Theo Trương Hồng Đàm, thuộc tính cơ bản của khái niệm giải trí là thuộc
về yếu tố tinh thần, làm tiêu tan phiền muộn, nảy sinh khoái cảm [15, tr.175]
Nói đến giải trí chúng ta không thể không đề cập đến các phương thức giải trí, bởi nó sẽ làm chúng ta hiểu rõ hơn khái niệm giải trí Theo Dương Nghiệp Chí và cộng sự, giải trí có 3 phương thức [9, tr.38]
Một là, giải trí gắn liền với vui chơi thư giãn Phương thức này thường bao gồm giải trí thân thể, giải trí thực dụng, giải trí văn hóa, giải trí xã hội
Hai là, giải trí liên quan tới văn hóa Giải trí này thường gắn liền với các sản phẩm văn hóa giải trí như chiêu đãi, đón tiếp, xem ca nhạc, kịch xiếc, điện ảnh, tivi
Ba là, giải trí hiện thực thông thường Đó là giải trí có tính phổ cập, chủ yếu bao gồm du lịch giải trí, văn hóa giải trí, xổ số, đặt cược, thể dục thể thao giải trí
Trang 141.1.1.2. Về hoạt động
Theo từ điển tiếng Việt có nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động Thứ nhất là: Làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội: hoạt động nghệ thuật hoạt động quân sự Thứ hai: Vận động, cử chỉ, không chịu ngồi im, yên chỗ: một con người thích hoạt động Thứ ba: Vận động, vận hành để thực hiện chức năng nào hoặc gây tác động nào đó: Máy móc hoạt động bình thường theo dõi hoạt động của cơn bão
Theo sinh lí: Hoạt động là sự tiêu hao năng lượng, thần kinh và cơ bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình
Theo tâm lý học duy vật biện chứng: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực thiết lập mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan Nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới cả về phía con người
có quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội
Nó là bước chuyển từ những hoạt động nghĩa vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện Nó đồng thời là những hoạt động không mang tính vụ lợi nhằm mục đích giải tỏa sự căng thẳng tinh thần để đạt tới sự thư giãn, thanh thản trong tâm hồn và cao hơn, đó là sự rung cảm về thẩm mĩ (Theo tác giả Đoàn Văn Chúc)
Theo cuốn Nhu cầu giải trí của thanh niên của tác giả Đinh Thị Vân Chi, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003: “Giải trí là hoạt động trong thời
gian rỗi, nhằm giải tỏa căng thẳng trí não, tạo hứng thú cho con người và là
Trang 15điều kiện phát triển con người một cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ” [7, tr.98]
Như vậy có thể hiểu khái niệm về giải trí là một hoạt động trong thời
gian rỗi nhằm giải tỏa những căng thẳng do lao động mang lại, bù đắp nhứng thiếu hụt về tinh thần, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện về thể lực, trí lực và tình cảm nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống hàng ngày càng cao của xã hội
Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày chúng ta thường hay nói là “vui chơi giải trí”, hiểu như một thuật ngữ kép, có hàm ý vui chơi để nhằm mục đích giải trí
Trong từ điển Hán Việt, nhà văn hóa học Đào Duy Anh giải thích “giải
trí là làm việc rỗi, làm cho trí não được khoan khoái” [1, tr.236]
Trong xã hội công nghiệp phương Tây, từ “giải trí” thường được gắn với các hoạt động trong thời gian rỗi, có thể cắt nghĩa các từ Leisure (tiếng Anh), Loisir (tiếng Pháp) lúc đầu có nghĩa là thời gian rảnh rỗi, sau dần chuyển nghĩa thành hoạt động trong thời gian rỗi (gọi tắt là hoạt động rỗi), tức
là sự giải trí hay hoạt động giải trí
Ở đây, khái niệm thời gian rỗi có thể hiểu là “khoảng thời gian mà
trong đó con người không bị thúc bách bởi các nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất cứ nghĩa vụ khách quan nào Nó được dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người” [1, tr.78]
Giải trí là một hoạt động không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của con người Giải trí không những giúp cho con người sảng khoái tinh thần, tăng cường sức khỏe mà quan trọng hơn là nó còn tác động tới quá trình hình thành nhân cách Hoạt động giải trí có liên quan đến quá trình trao đổi chất,
Trang 16làm cho cơ bắp cũng như hệ thần kinh phát triển cân bằng Giải trí giúp cho mọi người mở rộng giao tiếp với nhau và thế giới tự nhiên, phát triển các cảm xúc, thẩm mỹ Do đó giải trí giúp cho con người có khả năng phát triển về nhận thức xã hội, phát triển về trí tuệ và thể lực
Giải trí là nhu cầu của con người vì nó đáp ứng những đòi hỏi bức thiết
từ phía cá nhân Nhu cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí Khi xuất hiện nhu cầu giải trí, con người bị thôi thúc hành động để thỏa mãn nhu cầu
đó Nhu cầu giải trí thuộc các bậc cao của thang nhu cầu con người do không gắn liền với sự tồn tại sinh học mà là sự vươn cao, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tự hoàn thiện và tự khẳng định mình Nhu cầu giải trí cũng là một
bộ phận quan trọng cấu thành các nhu cầu tinh thần
Tóm lại, giải trí ngày nay đã trở thành một hoạt động xã hội đích thực, hơn thế nó còn trở thành một hướng đi đầy triển vọng trong hoạt động kinh tế của đất nước Chính vì vậy, đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chú trọng
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X [44, tr.53], có đoạn viết: “Phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân trong đời sống văn hóa Đa dạng hóa các hình thức hoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Phát huy tiềm năng, khuyến khích sáng tạo văn học, nghệ thuật tạo ra những sản phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, chú trọng công trình văn hóa lớn, tiêu biểu Nâng cao hiệu quả hoạt cộng của hệ thống nhà văn hóa, bảo tàng, nhà truyền thống, thư viện, phòng đọc, điểm bưu điện – văn hóa xã, khu vui chơi, giải trí ”
“Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thông tin, thể dục thể thao ngày càng
mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của nhân dân Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” từng
Trang 17bước đi vào chiều sâu” (Trích báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng) [43, tr.134]
Điều đáng nói ở đây là, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh và khẳng định việc phát triển, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí là vấn đề quan trọng, được đưa vào Nghị quyết Đảng và sau đó sẽ trở thành các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước
1.1.2 Khái niệm vận động viên
Trong từ điển Tiếng Anh, vận động viên gồm các thuật ngữ: Gymnastics, Athlete, Sportsman, Sportswoman
Trên cơ sở tính chất đặc điểm và yêu cầu của hoạt động thể thao và một
số tư liệu khác, PGS.TS Phạm Ngọc Viễn đưa ra khái niệm vận động viên
như sau: “Vận động viên là những người tham gia tập luyện và thi đấu một
môn thể thao nào đó một cách có hệ thống và chuyên nghiệp Trong quá trình tác nghiệp, vận động viên luôn phấn đấu đạt tới những đỉnh cao của thành tích, vượt qua những giới hạn năng lực thể chất, tâm lý của chính bản thân mình” [45, tr.146]
Một trong những nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta khi nghiên cứu bản chất các hiện tượng tâm lý vận động viên là xác định vị trí của nó trong hệ thống các hiện tượng của thế giới
Để đạt thành tích trong thi đấu, tâm lý vận động viên cũng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng bài thi, môn thi nên tâm lý vận động viên cũng tạm thời được chia theo tính chất, đặc điểm và yêu cầu của môn thể thao
1.1.3 Khái niệm về thể dục thể thao TDTT giải trí
Luật thể dục, thể thao được công bố vào năm 2006 đã coi thể thao giải trí (cũng là TDTT giải trí) như là một bộ phận cấu thành của TDTT quần chúng (chương II) và đã xác định ở điều 18 là:
Trang 18- Nhà nước tạo điều kiện phát triển các môn thể thao giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của xã hội
- Cơ quan quản lý nhà nước về thể dục, thể thao có trách nhiệm hướng dẫn hoạt động thể thao giải trí
Đồng thời ở điều 11 của Luật cũng đã xác định: “Nhà nước có chính sách đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân phát triển thể dục, thể thao quần chúng, tạo cơ hội cho mọi người không phân biệt lứa tuổi, giới tính, sức khỏe, tình trạng khuyết tật được thực hiện quyền hoạt động thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, vui chơi, giải trí” [28, tr.5]
Vậy, TDTT giải trí là gì?
Không ít tác giả cho rằng TDTT không chỉ để phát triển thể chất, nâng cao sức khỏe thể chất mà còn để phát triển sức khỏe tinh thần, thỏa mãn đời sống tinh thần của con người
Bùi Xuân Mỹ và Phạm Minh Thảo [32, tr.243] thì cho rằng thể thao thường là một bộ phận giải trí của con người ở thế kỷ XX Đối với một số người, đó là một cách phát triển cá nhân hay thư giãn, đối với một số người khác lại là một phương tiện thành đạt Và phong trào tham gia trực tiếp hoạt động thể thao cũng phát triển với tình hình gia tăng thì giờ rảnh rỗi Theo hai tác giả này, người ta đến với thể thao rất đa dạng tùy theo sự say mê ham thích của từng người
Theo Trương Minh Lâm (2000), công hội triển khai hoạt động văn thể
dễ nghe, dễ nhìn, có tính quần chúng, làm cho công chức trong hoạt động có tinh thần phấn khởi, điều tiết sinh hoạt, thân tâm mạnh khỏe, tinh thần thăng hoa, thể lực được nghỉ ngơi
Theo Dương Nghiệp Chí và cộng sự [9, tr.174], TDTT giải trí là loại hình hoạt động TDTT có ý thức, có lợi cho sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của con người, được tiến hành trong thời gian tự do, ngoài giờ làm việc
Trang 19TDTT giải trí còn là hoạt động TDTT tự giác, vừa sức, trong vùng năng lượng
ưa khí (đủ ôxy, không bị nợ ôxy) TDTT giải trí không chỉ bao hàm các phương tiện hoạt động thể lực mà còn bao hàm các phương tiện hoạt động trí tuệ, thư giãn, thưởng thức thi đấu biểu diễn, cổ vũ thi đấu biểu diễn, trong đó
có sử dụng các phương tiện công nghệ cao
1.2 Giải trí là nhu cầu tất yếu của xã hội phát triển
Giải trí trong xã hội loài người đặt ra yêu cầu mới đối với TDTT, tạo ra
cơ sở vững chắc cho sự thay đổi về chức năng và kết cấu TDTT, làm cho nhu cầu phát triển TDTT trở thành xu thế tất yếu
Các nhà tư tưởng từ trước đến nay rất thích nghiên cứu về hiện tượng
“giải trí” Các nhà triết học Hy Lạp cổ cho rằng: giải trí không phải là thời gian mà chúng ta có thể lựa chọn làm cái gì đó, mà là thực hiện một nhân tố
cơ bản của lý tưởng văn hoá tri thức dẫn tới sự lựa chọn hành vi phù hợp với đạo đức, và những điều đó sẽ đem lại niềm vui và hạnh phúc Triết học cổ đại phương Đông cũng coi giải trí như cái đích để vươn tới một cuộc sống lý tưởng Tuy nhiên, sự lý giải về giải trí lúc đó không bao gồm các hành vi liên quan đến TDTT “Giải trí” xuất hiện sau nền văn minh Cơ đốc giáo Cơ đốc giáo có quy định ngày chủ nhật (ngày chúa nhật) tách riêng ngày nghỉ và ngày làm việc Chỉ trong ngày này, mọi người mới ngừng lao động để nghỉ ngơi và
lễ Chúa Vì vậy, người ta bắt đầu phân tách cuộc sống ngày thường với hoạt động nghỉ ngơi Ngày chủ nhật vì thế được quy định là ngày nghỉ theo luật pháp trên phạm vi toàn thế giới cho đến nay Điều đáng chú ý là sau cuộc cải cách tôn giáo, trong “luận lý” của tôn giáo, nghỉ ngơi nhàn rỗi đồng nghĩa với
“thời gian lãng phí”, đó là từ có nghĩa xấu Trong “pháp quy Giơnevơ” có quy định rõ về việc cấm tổng cộng 200 trò vui chơi giải trí Thời xa xưa, tôn giáo của Mỹ và của nhiều quốc gia phát triển hiện nay đều quy định 40 mức phạt
Trang 20đối với những người chạy, nhảy, cưỡi ngựa, khiêu vũ trong ngày chủ nhật Ở nước Anh, tôn giáo cũng coi hành vi khiêu vũ, săn bắn, đánh cờ… là phạm tội nghiêm trọng [11, tr.325]
Thời kỳ Phục Hưng thế kỷ 16 được coi như thời đại hoàng kim của giải trí Người La Mã, Hy Lạp cổ cũng đã có cuộc sống sung sương, nhưng cũng chỉ hạn chế trong tầng lớp quý tộc Những nhà nghệ thuật trong thời kỳ đó cũng chỉ được ví ngang với tầng lớp lao động thể lực Họ phải làm việc trong điều kiện rất gian khổ và thù lao cho những tác phẩm của mình rất ít ỏi [11, tr.326]
Thời đại công nghiệp từ thế kỷ 18, ý thức chung của xã hội là lấy công việc đặt lên hàng đầu, giải trí chỉ để dành cho người có tiền Trào lưu “sùng bái kinh tế” xuất hiện sau nền văn minh công nghiệp cận đại càng nhấn mạnh vai trò của lao động Họ tận dụng mọi nguồn lực, thậm chí cả giờ nghỉ ngơi
để tìm lợi nhận Vì vậy, giải trí hầu như không có vai trò [11, tr.326]
Sự tách biệt giữa lao động và giải trí có yếu tố tôn giáo nhưng nó lại làm thay đổi phương thức lao động Trong thời đại công nghiệp, nhà tư bản đã triệt để lợi dụng sức lao động của người công nhân để làm ra lợi nhuận Đối với phần lớn mọi người, “giải trí” trên thực tế chỉ là khái niệm [15, tr.85]
Từ sau thế chiến thứ 2, kinh tế của các nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là từ thập kỷ 20 - 60 Với sự xuất hiện của máy tính điện tử, cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ 3 đã xuất hiện Từ năm
1952 - 1970, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của nền công nghiệp Đức
và Nhật đặt từ 7,5% đến 14,1% Cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu giải trí của con người cũng ngày một gia tăng Các dịch vụ giải trí (địa điểm giải trí, cơ
sở hạ tầng giải trí…) cũng tăng lên Trong thời đại hậu công nghiệp như ngày nay, giải trí là vấn đề được cả xã hội quan tâm [9, tr.132]
Giữa thế kỷ 20 trở lại đây, đời sống kinh tế của nhiều quốc gia được cải thiện đáng kể Thời gian mọi người lao động và làm việc nhà ngày một giảm
Trang 21đi Sự phát triển của xã hội đặt ra vấn đề: không thể gia tăng số người thất nghiệp, chỉ có thể rút ngắn thời gian làm việc của người lao động, tăng thời gian nghỉ Ở các nước phát triển, sự khác biệt về đầu tư cho nhân lực và sức lao động hình thành sự khác biệt về phúc lợi kinh tế, từ đó tạo ra sự phân hoá
về hành vi nghỉ ngơi Tức là, xuất hiện những tầng lớp coi nghỉ ngơi là trung tâm của cuộc sống và những người coi công việc là chính
Cuối thế kỷ 20, ngày càng có nhiều quốc gia phải đối mặt với sự lựa chọn mới là: hoặc là tiếp tục duy trì thời gian làm việc hiện tại để gia tăng tỉ lệ người thất nghiệp, hoặc là không ngừng rút ngắn thời gian làm việc để mọi người có nhiều thời gian tự do hơn, đồng tời giảm người thất nghiệp Điều dễ nhận thấy là con đường phát triển bền vững của nhân loại chính là gia tăng thời gian nghỉ ngơi cho con người Vì vậy, vẫn đề nghỉ ngơi đã trở thành điểm nóng thu hút sự quan tâm của rất nhiều người, và sẽ trở thành một đặc trưng của thời đại
Thành quả của cách mạng thông tin đã làm cho tỉ lệ thời gian làm việc với cuộc đời ngày càng nhỏ đi, còn thời gian dành cho nghỉ ngơi, giải trí hưởng thụ ngày càng nhiều lên Vì vậy, giải trí nghỉ ngơi ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng trong cuộc sống Quan niệm về nghỉ ngơi cũng có sự thay đổi Con người có thể ngồi ở nhà làm việc mà không phải đi ra ngoài Thông qua Internet họ có thể mua bán, ký kết hợp đồng, vui chơi giải trí… Có người giải trí khi làm việc, có người làm việc khi giải trí…
Giải trí đã trở thành một hiện tượng xã hội quan trọng Các kỳ nghỉ càng nhiều, người đi nghỉ hè, du lịch, nghỉ cuối tuần, đi ra nước ngoài… ngày một đông Tốc độ phát triển các hoạt động TDTT giải trí phát triển mạnh mẽ
Số người tham gia các hoạt động TDTT tăng lên Ở các nước phát triển người
ta coi việc giải trí như mục tiêu theo đuổi của cuộc sống và cũng thông qua
Trang 22các hoạt động giải trí để đánh giá chất lượng cuộc sống Các khu thể thao, khu vui chơi giải trí mang tính công cộng, lợi nhuận, phi lợi nhuận… phát triển ở khắp nơi Theo Giáo sư Je-phôn-đa, Viện nghiên cứu phát triển con người ở đại học Florida của Mỹ chỉ ra rằng: “Giải trí đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ và hiệu quả công việc” Ở nhiều nơi trên thế giới, ngày nghỉ của con người đang tăng lên Các vẫn đề nghỉ ngơi và giải trí đã trở thành một vẫn đề văn hoá xuyên quốc gia Và mỗi nền văn hoá trong từng quốc gia đều rất coi trọng văn hoá giải trí và đặt nó trong chiến lược phát triển của mình [9, tr.134].
1.3 Phân loại hoạt động giải trí
Phân loại giải trí, theo Trương Hồng Đàm [15, tr.254], giải trí có thể phân làm hai loại lớn: giải trí thưởng thức và giải trí thao tác Giải trí thưởng thức có thể bao gồm thưởng thức bằng mắt, thưởng thức bằng tai và thưởng thức tổng hợp Giải trí thao tác tùy theo mức độ tham gia hoạt động của cơ thể
mà có thể phân thành hai loại: giải trí tùy cảm và giải trí hậu cảm Giải trí tùy cảm đó là sự cảm nhận sự khoan khoái ngay trong quá trình phát huy thể năng, nỗ lực ý chí của mình Còn giải trí hậu cảm, đó là sự cảm nhận khoan khoái khi phát huy cao độ thể năng và nỗ lực ý chí trong quá trình hoạt động
và mang lại thành công
Cũng theo Trương Hồng Đàm, giải trí liên quan đến thể dục, thể thao, chủ yếu là giải trí thao tác, giải trí thưởng thức đại bộ phận thuộc về người ngoài cuộc hoạt động TDTT, giải trí hậu cảm chủ yếu nói về phạm vi TDTT thi đấu; chỉ có giải trí tùy cảm và TDTT giải trí là rất gần gũi (sơ đồ 1.1)
Trang 23Sơ đồ 1.1: Phân loại giải trí (theo Trương Hồng Đàm [15, tr.254])
1.3.1 Phân loại theo tính chất hoạt động
Dựa vào tính chất của hoạt động giải trí, chúng ta có thể chia ra làm hai loại Những hoạt động giải trí có sự vận động, được diễn ra ở ngoài môi trường thiên nhiên được xếp vào nhóm các “hoạt động giải trí động” Ngược lại là các “hoạt động giải trí tĩnh”, bao gồm các hoạt động tại chỗ hoặc diễn ra trong phòng, không (hoặc ít) có sự vận động Tuy nhiên, sự phân chia nói trên cũng chỉ mang tính tương đối
- Những hoạt động giải trí “động”:
Trong các loại hình hoạt động giải trí thì hoạt động trong trạng thái động lại cho con người có nhiều cảm giác thú vị, thích phưu lưu và chứng tỏ được khả năng qua nhiều lĩnh vực khác nhau Các hoạt động giải trí mang ở trạng thái động như: du lịch dã ngoại, tham gia các câu lạc bộ sở thích, tham quan, cắm trại …
- Những hoạt động giải trí “tĩnh”:
Giải trí
Giải trí thao tác
Giải trí thưởng thức
Chuyển đổi
cơ chế
Giải trí bằng tai
Giải trí tùy cảm
Giải trí hậu cảm
Giải trí tổng hợp
Thể dục thể thao giải trí
Giải trí bằng mắt
Trang 24Bên cạnh loại hình giải trí thì những loại hình giải trí tĩnh cũng không kém phần hấp dẫn, nó mang lại cho người tham gia sự linh hoạt về trí não, những ý tưởng có thể xuất phát từ hoạt động này Các hoạt động giải trí ở dạng tĩnh như: phát minh, sang chế theo cảm hứng, sáng tạo nghệ thuật, xem phim, hoạt động tín ngưỡng…
- Hoạt động giải trí tổng hợp:
Có thể diễn ra đây một số loại hình giải trí mang tính tổng hợp tiêu biểu như: du lịch, picnic, cắm trại, tham quan… Tiêu biểu cho dạng hoạt động giải trí này có thể kể đến hoạt động du lịch, đây là dạng giải trí kết hợp nhiều đặc điểm, tính chất khác nhau Trong hoạt động du lịch có thể kết hợp hội họa, sân khấu, âm nhạc, bảo tàng, đọc sách báo… Bởi trong hoạt động du lịch nổi bật là nhu cầu tìm hiểu, khám phá và thưởng thức về văn hóa nói chung Ngày nay những hoạt động này được tập trung gọi là hoạt động du lịch lữ hành theo
xu hướng chung của xã hội hiện đại
Du lịch không đơn thuần là một ngành kinh tế mà nó còn là một ngành dịch vụ giải trí Đối với các nước mới phát triển, giải trí và du lịch trở thành một nhu cầu thiết yếu đối với người dân, nó cũng cần thiết như ăn, mặc ở Theo một số thống kê thì số thời gian dành cho du lịch và giải trí chiếm tới 2/3 quỹ thời gian rỗi trung bình của mỗi người Điều này cho thấy chúng ta phải phấn đấu rất nhiều mới bù đắp được phần nào nhu cầu này
1.3.2 Phân theo chủ thể tổ chức hoạt động
Chủ thể tổ chức các hoạt động giải trí là một chỉ báo quan trọng để đánh giá sự đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu giải trí của vận động viên Các chủ thể chính tổ chức hoạt động giải trí bao gồm:
- Các đơn vị tư nhân:
Các đơn vị tư nhân tổ chức các hoạt động giải trí nhằm mục đích quảng
bá, sản phẩm thương hiệu của mình để người tham gia giải trí biết được
Trang 25những sản phẩm của họ Các đơn vị tư nhân chủ yếu tập trung vào những lĩnh vực giải trí như: các chương trình ca nhạc, các trò chơi có thưởng với quy mô lớn hoành tráng, các hình thức này cũng thu hút được sự quan tâm chú ý của vận động viên và họ tham gia tích cực vào loại hình giải trí do các đơn vị tư nhân tổ chức
- Gia đình:
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đời sống các gia đình được cải thiện, các hoạt động giải trí do gia đình tự tổ chức ngày càng trở nên phổ biến Với nhiều gia đình, đây là sinh hoạt văn hóa cần thiết, giúp các thành viên trong gia đình có điều kiện gần gũi, chia sẻ và hiểu nhau hơn Các hoạt động giải trí do gia đình tổ chức thường là những buổi đi xem phim,
dã ngoại cuối tuần, du lịch…
- Các tổ chức hội, đoàn thể:
Các tổ chức hội, đoàn thể bao gồm: Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp thanh niên, Chi bộ… Đặc biệt là Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp thanh niên, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức hoạt động giải trí hiện nay Các hoạt động được đổi mới theo phương thức sang tạo để thích ứng với xu thế hiện nay nhằm mang lại những kiến thức bổ ích cho người tham gia Các hoạt động do các hội, đoàn thể tổ chức phải dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng với mục đích giáo dục, góp phần xây dựng con người toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và tình cảm, đánh thức khát vọng vươn tới tự do, công bằng, dân chủ và khát vọng vươn tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp
- Các tập thể lao động (cơ quan, xí nghiệp, công ty…):
Các hoạt động giải trí này thường tổ chức vào các dịp lễ, tết, ngày nghỉ Hoạt động này có thể làm phong phú thêm đời sống tinh thần của cán bộ nhân viên, vừa mang tính giáo dục, hoặc có thể tuyên dương, động viên khen
Trang 26thưởng cho một nhóm người có thành tích xuất sắc Các hoạt động giải trí do tập thể tổ chức thường là du lịch, dã ngoại, thi biểu diễn ca nhạc…
- Bản thân chủ thể giải trí:
Nhu cầu giải trí của chủ thể giải trí là khá lớn, trong khi đó có thể tập thể lao động chưa đáp ứng kịp thời, vì vậy chủ thể giải trí cũng rất thường xuyên tổ chức tự giải trí theo nhóm Những hoạt động này thường được tiến hành bởi nhóm bạn bè than quen, một nhóm sở thích, và thường đó là các hoạt động picnic, dã ngoại, hát karaoke, xem phim…
1.3.3 Phân loại theo địa điểm thực hiện hoạt động
- Hoạt động giải trí trong thiết chế văn hóa:
Cần phải khẳng định rằng tổ chức hoạt động giải trí là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, là chức năng của thiết chế văn hóa So với các hoạt động ngoài thiết chế văn hóa, hoạt động giải trí trong thiết chế văn hóa được đáp ứng một cách tích cực hơn và có nhiều mặt ưu việt, đảm bảo các hoạt động văn hóa được tổ chức lành mạnh, có quản lý, có định hướng cao hơn so với giải trí ngoài thiết chế văn hóa Một số hình thức có thể kể ra như mô hình nhà văn hóa, trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, các khu giải trí là những nơi chuyên trách về tổ chức các hoạt động giải trí trong thiết chế văn hóa, không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí tinh thần mà còn tạo ra không gian đa chiều cho sự giao tiếp, trau dồi học tập lẫn nhau, giúp cho họ có lối sống ứng
xử văn hóa với người thân, với xã hội và thiên nhiên môi trường
- Hoạt động giải trí ngoài thiết chế văn hóa:
Hoạt động giải trí ngoài thiết chế văn hóa có nghĩa là các hoạt động ngoài khu vực quản lý của ngành văn hóa, hay nói cách khác đó là những điểm giải trí do các cơ sở, các doanh nghiệp tổ chức quản lý “Giống như khu vực giải trí nhà nước, khu vực giải trí tư nhân cũng ra đời từ đòi hỏi khách
Trang 27quan, nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội” [6, tr.85] Điều này đương nhiên do đặc điểm của nền kinh tế mở Lĩnh vực giải trí cũng được đáp ứng với những hình thức và nội dung phong phú
Một số ví dụ về loại hình giải trí ngoài thiết chế như các trung tâm biểu diễn nghệ thuật lớn với sự có mặt của các ban nhạc, ca sỹ trong và ngoài nước cùng các chương trình ca nhạc, thời trang, các hoạt động thể dục thể thao, hoạt động giải trí tại các vũ trường, quán karaoke, hội quán thanh niên, các quán cà phê với quy mô kiểu cách khác nhau
1.3.4 Phân theo cấp độ thời gian rỗi
Kể từ giữa thế kỷ XX, giới khoa học ở các nước phương Tây nói nhiều
về văn minh thời gian rỗi, coi đó là kỷ nguyên phát triển mới của thời đại
Thời gian rỗi được quan niệm là các hoạt động mang lại ý nghĩa cho đời sống con người Đời sống càng phát triển, con người càng có nhiều thời gian rỗi, và
ngược lại
- Giải trí cấp ngày:
Giải trí cấp ngày được diễn ra trong thời gian rỗi cấp ngày, nghĩa là khoảng thời gian còn lại sau khi đã trừ đi các hao phí thời gian cho việc lao động (hoặc học tập), việc gia đình việc riêng (vệ sinh thân thể, chăm sóc sắc đẹp) ăn uống, ngủ nghỉ Những hoạt động giải trí thanh thiếu nhi thường tham gia trong thời gian rỗi cấp ngày như: xem ti vi, nghe nhạc, đọc sách, báo, truyện, chơi các môn thể thao…
Trang 28tuần làm việc mới Nếu giải trí cấp ngày thường là những hoạt động giải trí quen thuộc, lặp đi lặp lại, do đó dễ gây nhàm chán, hoạt động giải trí cấp tuần tạo ra sự mới mẻ, hưng phấn thực sự cho não để đủ sức đón nhận một kỳ làm việc dài ngày tiếp theo Đó chính là chức năng giải trí cấp tuần
- Giải trí cấp năm:
Giải trí cấp năm diễn ra trong thời gian rỗi cấp năm Đó là khoảng thời gian nghỉ ngơi dài ngày sau một thời gian làm việc Để thay đổi không khí, thoát cảnh khung cảnh nhàn chán mà họ đã sống suốt năm Khung cảnh cũ mòn ấy đã đến lúc gây ức chế thần kinh, thậm chí còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe vì môi trường vệ sinh, tiếng ồn… Con người cần một khoảng thời gian nhất định để khôi phục sức khỏe, lặp lại sự cân bằng về thể chất và tinh thần, kiếm tìm cảm xúc chuẩn bị bước vào năm lao động mới Thời gian rỗi cấp năm đôi khi cũng là thời gian “buộc phải nghỉ” đối với những người quá say
mê làm việc, tách họ khỏi công việc vì lợi ích của chính họ Do đó, hầu hết người lao động đều có thời gian rỗi cấp năm thể hiện qua kỳ nghỉ hàng năm Những hoạt động giải trí vận động viên thường tham gia trong thời gian rỗi cấp năm như: đi thăm quan, du lịch cùng gia đình, về quê thăm người thân…
1.4 Vai trò của hoạt động giải trí
Các hoạt động giải trí chính là sự tái tạo lại năng lượng con người, thoả mãn tất yếu nhu cầu về mặt thể chất và tinh thần của con người Theo sự phát triển của xã hội và nâng cao của đời sống, nhu cầu giải trí của nhân dân về thời gian, phương thức và chất lượng sẽ càng lớn Trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, giao lưu văn hoá nhất là trong thời kỳ Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu đó lại càng trở nên bức xúc Xét chung trong
xã hội, hoạt động trên không chỉ nhằm giáo dục nhiều mặt, mà còn gắn càng nhiều với dịch vụ, du lịch, kinh doanh quảng cáo
Trang 291.4.1 Vai trò của hoạt động giải trí đối với cuộc sống
Theo nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước cho thấy: đời sống của con người càng phát triển thì nhu cầu về giải trí của con người cũng ngày càng cao Giải trí giúp con người có tinh thần thoái mái, tái tạo lại nguồn năng lượng đã mất do các hoạt động công việc thường nhật Tuy nhiên, ở mỗi lứa tuổi có nhu cầu giải trí và hình thức giải trí khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xin trích dẫn nhu cầu giải trí đối với đối tượng thanh thiếu nhi
Đáp ứng nhu cầu giải trí là một biện pháp để giúp thanh thiếu nhi phát triển toàn diện Nhu cầu giải trí khi được đáp ứng sẽ có tác dụng to lớn đối với thanh thiếu nhi:
Giải trí giúp thanh thiếu nhi hình thành và hoàn thiện nhân cách thông qua việc rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp, một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng giải trí là một cách để khám phá “cái tôi”, là thành tố trung tâm trong sự phát triển “cái tôi” Giải trí có thể giúp chúng ta nhận diện mọi cá nhân thông qua những hoạt động đòi hỏi nhiều nỗ lực, niềm say mê…, những thứ được coi là liên quan đến công việc sau này Ví dụ, Shaw, một nhà nghiên cứu xã hội học của Mỹ đã chỉ ra rằng các hoạt động thể dục thể thao tác động tích cực đến sự thể hiện (nhất là nữ) Các hoạt động xã hội thì ảnh hưởng tích cực tới sự tự hoàn thiện, tuy không nhiều (nhất là nam), tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật sẽ giúp cho thanh niên phát huy tối đa sự sáng tạo của mình… Thậm chí vào năm 1993, ông đã nghiên cứu sinh viên một trường Đại học Mỹ và đã nhận thấy, mối quan hệ chặt chẽ giữa 3 yếu tố: quá trình học tập, sự tự khẳng định nghề nghiệp, thói quen giải trí
Đối với lứa tuổi đang hình thành nhân cách như thanh niên, giải trí là một điều kiện để họ rèn luyện sự tự tin, học cách hoạt động tập thể, xử lý các tình huống và quyết định Đó chính là môi trường để họ xã hội hóa bản thân,
Trang 30thể nghiệm quá trình lớn lên và trường thành, là nơi học hỏi cách tự điều khiển thế giới riêng của mình chứ không đơn thuần lấp đầy thời gian rỗi và buồn tẻ
Giải trí làm tăng hứng thú làm việc và hiệu quả công việc: một số công trình nghiên cứu của các nhà xã hội học Mỹ đã chứng minh tác động tích cực của giải trí đối với sự hài lòng về công việc
Giải trí là tăng chất lượng cuộc sống tinh thần và sự hài lòng đối với cuộc sống: các nhà nghiên cứu về giải trí đã chỉ ra rằng con người sẽ thấy hài lòng hơn, yêu đời hơn, cảm nhận về cuộc sống thú vị hơn khi được tham gia các hoạt động giải trí theo ý thích
Tham gia thường xuyên các hoạt động giải trí không chỉ là sự đảm bảo tốt nhất cho sức khỏe mà còn làm ta thêm yêu đời, ít bị tổn thương, giảm bệnh tật… Chính giải trí là một trong những nhân tố giữ ổn định, thậm chí nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của con người Về điều này, Hội nghị nghiên cứu giải trí năm 1995 (The 1995 Leisure Research Symposium) đã công bố kết quả cuộc nghiên cứu dài hạn của các nhà khoa học Canada, rằng sự thay đổi các hình thức giải trí có quan hệ chặt chẽ tới chất lượng cuộc sống tinh thần Những người đều đặn hoặc bắt đầu tham gia các hoạt động giải trí đều
có cuộc sống thoải mái và hạnh phúc hơn những người không, hoặc đã ngừng tham gia các hoạt động này Theo một số nhà nghiên cứu, giải trí có đóng góp đáng kể làm nên chất lượng cuộc sống con người, là một thành tố không thể thiếu của cộng đồng Thậm chí giải trí còn là một quyền không thể tách khỏi con người và là giá trị có ấn tượng nhất về sự tự do Ngay cả những người khuyết tật nếu tham gia các hoạt động giải trí cũng thấy yêu đời hơn những người không tham gia Họ “để quên” mặc cảm và hòa đồng hơn với mọi người, thậm chí quên rằng minh là người khuyết tật khi tham gia vào các hoạt động giải trí
Trang 311.4.2 Hoạt động giải trí đối với vận động viên
Đối với những người bình thường hoạt động thể thao là một hình thức giải trí, nhưng đối với những vận động viên thì hoạt động tập luyện thể thao không phải là hoạt động giải trí mà là công việc mà công sức, sức lực các vận động viên phải bỏ ra gấp nhiều lần so với người bình thường Do vậy, nhu cầu về giải trí của vận động viên rất cao và nó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tái tạo lại nguồn năng lượng đã phải sản sinh trong quá trình tập luyện
Chương trình tập luyện của các vận động viên đỉnh cao rất nặng nề, vận động viên ở một số môn thể thao phải tập luyện 3 buổi/ ngày (sáng, chiều, tối), trong khi đó mọi hoạt động sinh hoạt của vận động viên ngoài thời gian tập luyện đều có sự giám sát rất chặt chẽ từ các huấn luyện viên, các nhà quản
lý Do vậy quãng thời gian để vận động viên giải trí rất hạn hẹp, hay nói đúng hơn là quãng thời gian nghỉ ngơi của vận động viên được coi là quãng thời gian giải trí sau những giờ tập luyện vất vả căng thẳng
Bất kể môn thể thao có đặc điểm như thế nào thì mục đích chính của việc huấn luyện là tăng khả năng luyện tập của vận động viên Khả năng luyện tập càng cao thì cơ thể càng dễ thích nghi với sự tăng không ngừng của yêu cầu huấn luyện thể chất và tâm lý Trong suốt giai đoạn này thì việc tập trung vào việc phát triển khả năng thể chất là rất quan trọng Đối với những vận động viên trẻ có triển vọng thì việc huấn luyện khá là giống nhau đối với mọi môn thể thao Còn đối với những vận động viên xuất sắc thì việc huấn luyện này còn tuỳ thuộc vào nhu cầu riêng biệt của từng môn thể thao cũng như các đặc điểm cá nhân của các vận động viên Do vậy, cần có chế độ giải trí thích hợp cho các vận động viên
Trong suốt quá trình rèn luyện, vận động viên phản ứng với rất nhiều
Trang 32tác nhân kích thích Một vài tác nhân này có thể dự tính một cách chắc chắn hơn những tác nhân khác Các yêu cầu về sinh lý học, cơ sinh học, tâm lý học,
xã hội học và phương pháp học được đúc kết qua quá trình huấn luyện Mặc
dù khi biên soạn chương trình huấn luyện, các huấn luyện viên không phải lúc nào cũng ở vị trí của vận động viên để đánh giá đúng những chương trình của mình Vì thế, các bài tập có thể sẽ quá tải, gây nên những ảnh hưởng không tốt đối với vận động viên, do vậy cần xen kẽ những hình thức giải trí phù hợp
để các bài tập có hiệu quả nhất đối với vận động viên
1.5 Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
1.5.1 Đôi nét về Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội, tiền thân là Trường Huấn luyện Kỹ Thuật Thể dục Thể thao Trung ương được thành lập ngày 19/11/1959 Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, gắn liền với các giai đoạn lịch sử dân tộc qua các thời kỳ xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chống Mỹ cứu nước, khắc phục hậu quả chiến tranh, hội nhập và phát triển, được sự quan tâm, đầu tư hiệu quả của Đảng, Nhà nước và ngành thể dục thể thao, đến nay đã trở thành một Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội hiện đại ở khu vực Đông Nam Á Về cơ sở vật chất, từ ngày mới thành lập, Trung tâm mới có 01 khu với diện tích khoảng 9ha nằm trên địa bàn xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội Đến nay Trung tâm đã có
03 khu hoạt động có hiệu quả đó là:
- Khu A: Nằm trên khu đất cũ và nay đã mở rộng thành 15ha, là khu tập huấn cho các môn: Bắn súng, Điền kinh, Judo, Taekwondo, Cầu Mây, các môn bóng
- Khu B: Có diện tích 02 ha nằm trên địa bàn xã Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội, là khu tập huấn cho các môn: Thể dục, Vật, Cử tạ, các môn võ
Trang 33- Khu D: Có diện tích 02 ha nằm trên địa bàn thị trấn Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Đây là khu dành cho các đội tuyển dã ngoại và nghỉ ngơi
Hệ thống cơ sở vật chất của Trung tâm bao gồm: sân bãi, nhà tập, bể bơi, các phòng tập bổ trợ, các trang thiết bị tập luyện đạt tiêu chuẩn cao, có thể đáp ứng yêu cầu tập luyện và thi đấu cho các đội tuyển thể thao Quốc gia Đặc biệt, tại khu A có Trường bắn đạt tiêu chuẩn quốc tế có thể tổ chức tốt các cuộc thi đấu trong nước và quốc tế
Là địa điểm tin cậy và tin tưởng về công tác quản lý, huấn luyện và đạo tạo của các đội tuyển và tuyển trẻ Quốc Gia, hàng năm Trung tâm tiếp nhận
từ 35 - 50 đội thể thao với khoảng 700 - 800 vận động viên, huấn luyện viên, chuyên gia nước ngoài tập huấn
Với bề dày truyền thống hơn 50 năm, các thế hệ cán bộ, công nhân viên chức, huấn luyện viên, vận động viên tại Trung tâm đã nỗ lực hết mình đóng góp cho sự phát triển thể thao thành tích cao của đất nước Trong thành công chung của thể thao Việt Nam tại các đấu trường Olympic, Asiad, Sea games, các giải vô địch thế giới, Châu Á, Đông Nam Á có sự đóng góp chính và chủ yếu của các đội tuyển tập huấn tại Trung tâm Chính vì vậy, Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng rất nhiều phần thưởng cao quí như: Huân chương lao động hạng Nhất, Nhì, Ba và Huân chương Độc lập hạng Nhì, Ba
Trung tâm sẽ luôn giữ gìn và phát huy truyền thông tốt đẹp đã được hình thành xuyên suốt quá trình hơn 50 năm thành lập và phát triển để xứng đáng là bệ phóng tin cậy cho các đội tuyển Quốc gia trên con đường chinh phục đỉnh cao thành tích tại các đấu trường Olympic, Thế giới, Châu Á, Đông Nam Á giành vinh quang về cho Tổ quốc
Trang 34Tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội là nơi huấn luyện những vận động viên chuyên nghiệp, sống và rèn luyện để đi đến đỉnh cao vinh quang cũng phải đánh đổi bằng nhiều mất mát
Giấc mơ của các vận động viên là đạt được thành tích cao nhất tại các đấu trường quốc tế Khi triệu tập vào Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia
Hà Nội là bắt đầu cuộc sống chỉ dành cho luyện tập, thi đấu và chinh phục các đỉnh cao thì cuộc sống của các vận động viên thay đổi khá nhiều
Đối với các vận động viên của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia
Hà Nội sẽ luôn phải gánh chịu một áp lực nặng nề đó là thành tích, mà thành tích ở đây không chỉ là thành tích của vận động viên đó mà là thành tích của 1 quốc gia trên bảng xếp hạng thế giới
1.5.2 Nhiệm vụ, vai trò của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia
Hà Nội
Mọi hoạt động của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội đều nhằm phát huy tối đa hiệu quả hoạt động công tác huấn luyện thể thao của Trung tâm, đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung của ngành Thể dục thể thao nước nhà Các nhiệm vụ cơ bản của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội:
- Quản lý các hoạt động tuyển chọn, đào tạo và huấn luyện vận động viên
- Huấn luyện thể thao, đào tạo những con người có thể tham gia tranh tài thi đấu và đạt thành tích cao tại các đấu trường Olympics, Asians, SEA Games, các giải vô địch thế giới, châu Á, Đông Nam Á
- Phối kết hợp với các hoạt động chung của ngành, tổ chức các hoạt động thể thao, đặc biệt là với các hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm định hướng phát triển hiệu quả công tác huấn luyện thể thao của Trung tâm
Trang 35Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở lý luận và các tài liệu trong và ngoài nước, đề tài đã nêu được những khái niệm cơ bản về hoạt động giải trí và vai trò của giải trí đối với vận động viên Xã hội càng phát triển thì nhu cầu tất yếu của con người là giải trí, trong đó vai trò của hoạt động giải trí không chỉ có tác động tốt tới đời sống người bình thường mà còn tác động rất tích cực đối với vận động viên Hoạt động giải trí có nhiều hình thức, được phân loại theo: tính chất hoạt động, chủ thể tổ chức hoạt động, địa điểm thực hiện hoạt động, cấp độ thời gian rỗi
Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội là nơi đào tạo, huấn luyện những vận động viên xuất sắc để tranh tài tại các đại hội thể thao lớn ở khu vực, châu lục và thế giới
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN THỂ THAO QUỐC GIA HÀ NỘI
Hiện nay, Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội đang là nơi tập huấn, huấn luyện cho gần 50 đội tuyển thuộc của gần 30 môn thể thao Tuy nhiên, các đội tuyển liên lục có kế hoạch đi thi đấu cũng như đi tập huấn
Do vậy để khảo sát và đánh giá được thực trạng hoạt động giải trí của các đội tuyển là vấn đề rất khó khăn
2.1 Thực trạng tổ chức hoạt động giải trí cho vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
2.1.1 Một số đặc điểm chung về vận động viên của Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
Để đánh giá được đúng thực trạng những hoạt động giải trí của vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội, chúng tôi đã khảo sát tổng số vận động viên được điều tra về lứa tuối, giới tính, tình trạng bản thân, trình độ học vấn… Kết quả được trình bày tại các bảng 2.1, 2.2, 2.3, 2.4 và 2.5
Bảng 2.1 Cơ cấu tuổi của vận động viên (N = 384)
* Nguồn: Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội (2011-2012)
Trang 37Bảng 2.2 Giới tính của vận động viên theo lứa tuổi (N = 384)
* Nguồn: Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội (2011-2012)
Bảng 2.3 Tình trạng bản thân của vận động viên (N = 384)
Trang 38Bảng 2.5 Số lượng vận động viên các môn tham gia điều tra phỏng vấn
Trang 392.1.2 Thời gian hoạt động giải trí của vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
Như đã phân tích ở trên (1.3.2) đối với những người bình thường hoạt động thể thao là một hình thức giải trí, nhưng đối với những vận động viên thì hoạt động tập luyện thể thao không phải là hoạt động giải trí là lao động là công việc Do vậy, hình thức và nội dung giải trí của các vận động viên có những đặc trưng khác biệt, nhưng đích đến cuối cùng vẫn là sự thoải mái về tinh thần, khỏe mạnh về thể chất
Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã phỏng vấn các vận động viên về các hình thức giải trí của họ Do đặc điểm chuyên môn, các vận động viên phải tập luyện với khối lượng và cường độ lớn, phải tập trung cao độ và mất rất nhiều sức lực Nên chúng tôi phân loại các hình thức giải trí cho vận động viên theo thời gian trong ngày và trong thời kỳ thi đấu, có 2 loại:
Loại thứ nhất: hình thức giải trí ngoài thời gian tập luyện
Loại thứ hai: hình thức giải trí trong thời gian tập luyện
Chúng tôi phỏng vấn 52 chuyên gia, cán bộ quản lý, huấn luyện viên, vận động viên để biết thời gian mà các vận động viên hay giải trí, kết quả được trình bày tại bảng 2.6
Bảng 2.6 Kết quả phỏng vấn thời gian dành cho hoạt động giải trí của vận động viên thuộc Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
N = 52
Ý kiến trả
1 Giải trí ngoài thời gian tập luyện 52 100
2 Giải trí trong thời gian tập luyện 45 86.5
* Nguồn: Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội (2011-2012)
Trang 40Qua bảng 2.6 cho thấy, thời gian các vận động viên lựa chọn giải trí nhiều nhất chính là ngoài thời gian tập luyện với 100% ý kiến trả lời Có 86.5% số ý kiến trả lời có giải trí trong thời gian tập luyện Nhiều người sẽ thắc mắc, trong đó có tác giả đặt ra câu hỏi tại sao trong thời gian tập vẫn cho vận động viên giải trí? Giải trí trong thời gian tập có ảnh hưởng đến chất lượng buổi tập, ảnh hưởng đến sự tập trung của vận động viên Tác giả đã đặt các câu hỏi tới các nhà chuyên môn, các chuyên gia… Và kết quả được các nhà chuyên môn giải thích như sau: Trong thời gian tập luyện của vận động viên là sử dụng các bài tập, mà các bài tập được lặp đi lặp lại nhiều lần, có thời gian nghỉ và quãng nghỉ nhất định, do vậy có thể xen kẽ một số hoạt động giải trí vào thời gian nghỉ và quãng nghỉ này Tuy nhiên, lúc này hình thức giải trí rất đơn giản, đó là thầy trò trao đổi các ý kiến về những bài tập, nghe 1 bản nhạc, hoặc có thể vận động viên hát… để giúp cho vận động viên
có trạng thái tốt nhất thực hiện các bài tập tiếp theo
Qua những giải thích trên cho thấy các vận động viên rất cần giải trí không chỉ ngoài thời gian tập luyện mà ngay cả trong thời gian tập cũng rất cần thiết, tuy nhiên chỉ với thời gian rất ngắn và áp dụng các hình thức giải trí cũng rất đơn giản nhưng lại có những tác dụng rất hiệu quả đối với các vận động viên
2.1.3 Các hình thức hoạt động giải trí của vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội
Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội là nơi tập trung nhiều vận động viên của nhiều bộ môn cũng như của các tỉnh thành khác trên toàn quốc Mỗi bộ môn, mỗi đội tuyển có chương trình tập luyện riêng, thời gian tập luyện khác nhau, các bài tập cũng khác nhau
Do vậy, để tìm hiểu về hình thức giải trí của các vận động viên, tác giả
đã phải tìm hiểu và phỏng vấn các chuyên gia các nhà chuyên môn để phân