1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích qua nghiên cứu trường hợp quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích cố đô huế, khu di tích lam kinh và di tích ATK định hóa

171 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 5,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là người được giao nhiệm vụ tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và trực tiếp theo dõi các quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trên cả nướ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

TRẦN ĐÌNH THÀNH

QUẢN LÝ QUY HOẠCH TU BỔ TÔN TẠO DI TÍCH QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP QUY HOẠCH TU BỔ TÔN TẠO DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ KHU DI TÍCH LAM KINH VÀ

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY HOẠCH TU BỔ, TÔN TẠO DI TÍCH 13

1.1 Một số khái niệm về quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 13

1.1.1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản văn hóa 13

1.1.2 Khái niệm về quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 15

1.1.3 Nguyên tắc quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 21

1.2 Quan điểm của các cơ quan quản lý nhà nước về định hướng quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 25

1.2.1 Quan điểm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về định hướng quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 25

1.2.2 Quan điểm của một số địa phương và các chuyên gia về định hướng quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 26

1.3 Vai trò của quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích trong bối cảnh chính trị, kinh tế-xã hội hiện nay 28

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUY HOẠCH TU BỔ, TÔN TẠO DI TÍCH Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA 31

2.1 Giới thiệu về di tích Cố đô Huế, Khu di tích lịch sử Lam Kinh và Khu di tích ATK Định Hóa 31

2.1.1 Giá trị lịch sử-văn hóa và thực trạng của di tích Cố đô Huế 31

2.1.2 Giá trị lịch sử - văn hóa và thực trạng của Khu di tích lịch sử Lam Kinh 34

2.1.3 Giá trị lịch sử-văn hóa và thực trạng của Khu di tích lịch sử ATK Định Hóa 37

2.2 Thực trạng hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Cố đô Huế, Khu di tích lịch sử Lam Kinh và Khu di tích lịch sử ATK Định Hóa 40

2.2.1 Tình hình triển khai Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 1996-2010 40

2.2.2 Tình hình triển khai Quy hoạch tổng thể về tu bổ, phục hồi và tôn tạo khu di tích lịch sử Lam Kinh 55

Trang 3

2.2.3 Tình hình triển khai Dự án phục hồi, bảo tồn, tôn tạo và phát huy cụm di tích ATK Định Hóa 62

2.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích trong thời gian vừa qua thông qua hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Cố đô Huế, Khu di tích Lam Kinh và Khu di tích ATK Định Hóa 69

2.3.1 Một số vấn đề về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa 69 2.3.2 Quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích với vấn đề phát triển du lịch 71 2.3.3 Quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích gắn với phát triển kinh tế-xã hội của địa phương 75

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUY HOẠCH TU BỔ, TÔN TẠO DI TÍCH TRONG THỜI GIAN TỚI 78 3.1 Tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước trong hoạt động quy hoạch tu

bổ, tôn tạo di tích 78

3.1.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quy hoạch tu bổ, tôn tạo

di tích 78 3.1.2 Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa trong lĩnh vực quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 85 3.1.3 Đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa 87

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quy hoạch và quản lý quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 92

3.2.1 Tăng cường sự phối hợp giữa các Bộ, ngành trong hoạt động quản

lý quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 92 3.2.2 Phân cấp quản lý hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 96 3.2.3 Hợp tác quốc tế trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 98 3.2.4 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích 101

KẾT LUẬN 104 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 4

DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Ủy ban nhân dân

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

VHTTDL: Văn hóa, thể thao và du lịch

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và quan tâm đến việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Ngay từ khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 23-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ban hành Sắc lệnh bảo vệ cổ tích Ngày nay, Chính phủ đã quyết định lấy

ngày 23-11 hàng năm là ngày Di sản Văn hóa Việt Nam

Như vậy, di tích, cổ tích, hay gọi đầy đủ là di sản văn hóa, cho dù ở hoàn cảnh lịch sử nào, giai đoạn cách mạng nào, luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm bảo vệ vì nó là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững, nhất là giai đoạn đất nước

ta đang trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển như hiện nay

Tính đến thời điểm hiện tại, nước ta đã có 7 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 43 di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, 3.186 di tích được xếp hạng di tích quốc gia, hơn 7.000 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh trên tổng số khoảng 6 vạn di tích được tổng kiểm kê Các di tích này là những di sản văn hóa quý báu của dân tộc, trong đó có nhiều di tích đang cần được bảo quản, tu bổ và phục hồi để phát huy giá trị

Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trong những năm qua đã được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã được triển khai qua nhiều giai đoạn, nhờ đó hàng nghìn di tích đã được đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi Nhiều di tích đã và đang trở thành những sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh, có sức hấp dẫn khách tham quan ở trong và ngoài nước, tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách Nhà nước, tạo thêm việc làm góp phần nâng cao đời sống của nhân dân địa phương; các di

Trang 6

tích tiêu biểu có thể kể đến trong số đó là di sản thế giới Vịnh Hạ Long, quần thể di tích Cố đô Huế, khu phố cổ Hội An, khu di tích Chăm Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, khu di tích ATK Tân Trào, ATK Định Hóa, khu

di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc, hay các di tích cấp quốc gia như khu di tích Cố đô Hoa Lư, địa đạo Củ Chi, thắng cảnh Hương Sơn, khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, núi Bà Đen, đền Bà chúa Xứ

Bên cạnh kinh phí đầu tư của Nhà nước, sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho việc tu bổ, tôn tạo di tích cũng ngày một tăng lên, do đó nhiều di tích và danh lam thắng cảnh được tu bổ, tôn tạo; nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống được phục hồi và tổ chức tại di tích, góp phần thúc đẩy phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích từng bước đi vào nề nếp và tuân thủ chặt chẽ hơn các quy định của pháp luật Việc thẩm định về chuyên môn đối với các

dự án đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích được làm khá chặt chẽ, góp phần nâng cao chất lượng tu bổ di tích

Về quy hoạch, trước đây mọi quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích đều áp dụng theo quy định pháp luật về xây dựng như Luật Xây dựng và Nghị định

số 08/2005/NĐ-CP của Chính phủ về quy hoạch xây dựng Tuy nhiên, các văn bản này chỉ quy định về xây dựng cơ bản như quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn mà chưa có những quy định đặc thù cho di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh Do đặc thù của hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cho nên khi

áp dụng những quy định trên, các cơ quan quản lý và các đơn vị tư vấn đã gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai lập và quản lý quy hoạch

tu bổ, tôn tạo di tích Cụ thể như việc triển khai công tác khảo sát làm rõ giá trị di tích trước khi lập đồ án quy hoạch; khảo sát, nghiên cứu trong quá trình

Trang 7

quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích; quy định cho việc nghiên cứu, sưu tầm tư liệu lịch sử; quy định về việc mời chuyên gia chuyên ngành, hay như việc tổ chức thăm dò, khai quật khảo cổ học…

Hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là một khoa học chuyên ngành, mang nhiều nét đặc thù, vì lẽ đó cần phải có quy định riêng cho hoạt động này, trong đó có hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

Là người được giao nhiệm vụ tham gia xây dựng các văn bản pháp luật

về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và trực tiếp theo dõi các quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trên cả nước, tôi có thời gian nghiên cứu nhiều

đồ án quy hoạch và tiếp xúc với nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện việc lập và triển khai quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trên cả nước, theo đó cũng có nhiều cơ hội trao đổi, thảo luận với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước để trang bị thêm kiến thức cho mình về việc quản lý hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Vì lẽ đó, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích qua nghiên cứu trường hợp Quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Cố đô Huế, Khu di tích Lam Kinh và di tích ATK Định Hóa” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay hầu như chưa có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Một số nhà nghiên cứu và nhà quản lý mới chỉ có những bài viết dừng lại ở việc nêu lên những hiện tượng và hạn chế của một

số quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cụ thể mà chưa có tính hệ thống, xuyên xuốt từ quá trình xây dựng văn bản pháp luật đến nghiên cứu, triển khai thực hiện quy hoạch và cuối cùng là quản lý, vận hành sau khi triển khai xong quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích… Tiêu biểu sau đây là một số bài viết đã được in thành sách, đăng tạp chí đã xuất bản như:

Trang 8

- Viện Nghiên cứu kiến trúc - Bảo tồn di sản kiến trúc cảnh quan Hà Nội

- Tài liệu hội thảo của Bộ Xây dựng - Vấn đề bản sắc dân tộc trong quy

hoạch và kiến trúc công trình

- Viện Nghiên cứu kiến trúc - Bàn về vấn đề dân tộc và hiện đại trong

kiến trúc Việt Nam

- Nguyễn Bá Đang - Sự phát triển các đô thị Việt Nam với vấn đề bảo

tồn các khu phố cổ

- Lê Đức Thắng - Quy hoạch các điểm du lịch với việc khai thác các di

sản kiến trúc văn hóa, lịch sử

Ngoài các tài liệu trên, tại một số hội nghị khoa học đánh giá về công tác bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích do Cục Di sản văn hóa tổ chức trong những năm gần đây với sự tham gia của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ban quản lý di tích 63 tỉnh, thành phố trên cả nước Nhiều cán bộ quản lý trong ngành di sản văn hóa đã có một số bài phát biểu về thực trạng triển khai các quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích và kiến nghị một số vấn đề xoay quanh việc đề nghị Nhà nước sớm ban hành các quy định chức năng hành nghề cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tư vấn quy hoạch di tích; hoàn thiện bộ máy quản lý quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích ở địa phương Một số hội thảo khoa học do Viện Bảo tồn di tích (trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch) tổ chức vào cuối những năm 2011, năm 2012 với nội dung “Nâng

cao hiệu quản công tu bổ, tôn tạo di tích” cũng đã ghi nhận ý kiến của nhiều

nhà khoa học đầu ngành về di sản văn hóa, xây dựng thuộc Hội đồng Khoa học về bảo tồn di tích của Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch và các kiến trúc

sư, kỹ sư xây dựng, các giảng viên đến từ các trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Xây dựng Hà Nội, Đại học Văn hóa Hà Nội, Viện Nghiên cứu văn hóa Tại các cuộc hội thảo trên, các nhà khoa học và quản lý đã có nhiều

ý kiến thống nhất hoặc trái chiều về kết quả hoạt động tu bổ di tích thời gian qua, nhất là công tác quy hoạch tôn tạo di tích chưa đạt được yêu cầu mong

Trang 9

muốn do nhiều công trình đề xuất xây dựng mới trong quy hoạch lấn át di tích gốc; đội ngũ tư vấn quy hoạch di tích chưa hành nghề do chưa được đào tạo bồi dưỡng kiến thức về di sản văn hóa; chưa có những trường lớp đào tạo các nhà bảo tồn chuyên nghiệp để nâng cao chất lượng tư vấn

Ý kiến thì nhiều, song hầu như các hội nghị, hội thảo trên mới chỉ dừng lại ở một số kết luận nhỏ lẻ, không mang tính hệ thống nhằm kiến nghị lên cơ quan nhà nước cao hơn là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Xây dựng

để xem xét bổ sung các văn bản pháp luật còn thiếu hoặc cần chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp tình hình khách quan Vì vậy, đến nay hầu như chưa có bất

kỳ tổ chức, cá nhân nào nghiên cứu và đánh giá một cách tổng hợp thật cụ thể, đầy đủ về việc quản lý quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa trong quá

trình đô thị hoá, hiện đại hóa ở nước ta là một vấn đề lớn Bảo tồn di sản văn hóa

và phát triển kinh tế-xã hội thời gian qua đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, gây bức xúc trong dư luận xã hội Nội dung quản lý quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi

di tích liên quan và ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực và các hoạt động văn hoá khác nhau Vì vậy, đối tượng nghiên cứu cơ bản của luận văn cần giải quyết là nghiên cứu, đánh giá công tác quản lý hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích thông qua một số di tích và quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích tiêu biểu của Việt Nam Để giải quyết tốt mục tiêu này, cần phải đi sâu nghiên cứu các vấn đề sau:

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích như khái niệm, nguyên tắc, những nội dung và phương pháp quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

- Đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quản lý nhà nước về di sản văn hóa qua một số đề án quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích những năm gần đây, tìm nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế

Trang 10

- Thông qua việc nghiên cứu về thực trạng quản lý quy hoạch bảo quản,

tu bổ, phục hồi di tích thời gian qua để thấy được bức tranh toàn cảnh của hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di sản văn hóa trong hoạt động quy hoạch xây dựng nói chung và quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích nói riêng trong thời gian tới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu chính của luận văn tập trung

vào ba quy hoạch lớn đã và đang được triển khai thực hiện trong thời gian vừa

qua, đó là Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế 2010), Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu di tích Lam Kinh

(1996-và Dự án phục hồi, bảo tồn, tôn tạo (1996-và phát huy cụm di tích ATK Định Hóa

thuộc Chiến khu Việt Bắc tỉnh Thái Nguyên

Lý do tôi lựa chọn ba địa điểm di tích này là vì, đây là ba di tích tiêu

biểu đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai thực hiện quy hoạch với mục đích bảo tồn và phát huy lâu dài các giá trị vốn có của ba khu di tích quan trọng của đất nước và của Thế giới

Cố đô Huế là khu di tích tiêu biểu thuộc loại hình di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật đã được tổ chức UNESCO ghi vào danh mục di sản văn hóa Thế giới; di tích này chứa đựng trong mình nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật mang dấu ấn lịch sử thời Nguyễn, được xây dựng theo bố cục kiến trúc

đô thị và cung đình, có sự kết hợp hài hòa giữa công trình kiến trúc với cảnh quan thiên nhiên đặc sắc

Khu di tích lịch sử Lam Kinh đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng

di tích quốc gia đặc biệt Đây là di tích tiêu biểu cho loại hình di tích lịch văn hóa và khảo cổ với nhiều điểm di tích khảo cổ gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của triều đại nhà Lê

Trang 11

sử-Cụm di tích ATK Định Hóa là một trong sáu khu di tích quan trọng thuộc Khu di tích chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta Khu di tích phân bổ trên địa bàn rộng, với nhiều điểm di tích chứa đựng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước mà qua thời gian, các công trình kiến trúc đã bị phá hủy hoàn toàn, thực trạng trước thời điểm nghiên cứu hiện trạng chỉ còn là các địa điểm lịch sử được xác định bằng trí nhớ của các nhân chứng lịch sử

Ngoài ra luận văn còn đề cập đến một số hoạt động quy hoạch và triển khai quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích tiêu biểu khác đã thực hiện trong thời gian gần đây liên quan đến loại hình di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh để làm tư liệu so sánh, đối chiếu

4 Cơ sở lí luận, phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lí luận

- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam

- Một số quan điểm lý luận, chính sách trong nước và quốc tế về bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa, quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu điều tra xã hội học, khảo sát thực tế

và phỏng vấn chuyên gia và các nhà chuyên môn cùng với phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu để nghiên cứu và trình bày các vấn đề của bản luận văn

5 Ý nghĩa

5.1 Ý nghĩa khoa học

- Luận văn xây góp phần dựng được một cái nhìn tổng quát về công tác

quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích tại ba khu di tích lớn và tiêu biểu của Việt Nam và Thế giới

Trang 12

- Rút ra được những nguyên tắc cơ bản, có hệ thống về công tác quy hoạch tu bổ, tôn tạodi tích nói chung và quản lý hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích nói riêng

- Những kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, lưu

trữ, giảng dạy ở cấp độ đại học và các cuộc hội thảo

- Áp dụng vào thực tiễn nhằm một mặt giúp các cán bộ quản lý văn hóa

ở địa phương có thêm những kinh nghiệm trong việc theo dõi và thực hiện công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở địa phương, mặt khác sẽ nâng cao tính cạnh tranh giữa các tổ chức, cá nhân trong hoạt động lập quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quy hoạch tu bổ, tôn tạo

di tích

Chương 2: Thực trạng hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích ở nước ta trong thời gian qua

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quy hoạch tu

bổ, tôn tạo di tích trong thời gian tới

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ QUY HOẠCH TU BỔ, TÔN TẠO DI TÍCH

1.1 Một số khái niệm về quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

1.1.1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di sản văn hóa

Từ trước năm 2001, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch văn hóa trên toàn lãnh thổ Việt Nam chỉ chịu sự quản lý của một văn bản pháp lý quan trọng, đó là Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử-văn hóa,

sử-danh lam thắng cảnh (ban hành năm 1984) Đây là văn bản pháp lý quan

trọng duy nhất do Chủ tịch nước ký quyết định ban hành, tuy nhiên hiệu lực thi hành chưa cao do văn bản ban hành ở cấp độ dưới Luật; các quy định của Pháp lệnh mới chỉ dừng ở loại hình sản văn hóa vật thể gồm di tích và bảo tàng, mà chưa có các quy định về loại hình di sản văn hóa phi vật thể

Phải đến năm 2001, khi Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua Luật

di sản văn hóa thì nhiều vấn đề quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm

cả di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể mới thực sự được quy định thành điều luật cụ thể và có hiệu lực thực thi cao trên cả nước

Điều 1 Luật di sản văn hóa năm 2001 lần đầu tiên đã quy định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền

từ thế hệ này qua thế hệ khác ở Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [31, tr 156] Với quy định này, Nhà nước ta đã thừa nhận di sản văn hóa do cha ông ta để lại trên đất nước ta bao gồm hai loại hình là di sản văn hóa phi vật thể “Phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, tư tưởng, nếp sống, lối

sống tốt đẹp ” [31, tr 157] và di sản văn hóa vật thể “Các công trình tín ngưỡng, tôn giáo, công trình kiến trúc nghệ thuật ” [27, tr 157] Điều 1 của

Trang 14

Luật di sản văn hóa năm 2001 cũng quy định: “Các sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đều phải được bảo

vệ và phát huy giá trị theo Luật di sản văn hóa” Từ quy định này, mà từ đây mọi tổ chức, cá nhân là công dân Việt Nam, công dân nước ngoài sống trên lãnh thổ Việt Nam đều phải thực hiện trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa

Khoản 3 Điều 4 Luật di sản văn hóa năm 2001 lần đầu tiên định nghĩa

về di tích lịch sử-văn hóa như sau: “Di tích lịch sử-văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa

điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [31, tr 157] Định nghĩa này

cho thấy, di tích lịch sử-văn hóa chính là các sản phẩm vật chất có giá trị lịch

sử, văn hóa, khoa học Khoản 11, khoản 12 và khoản 13 Điều 4 Luật di sản văn hóa năm 2001 [31, tr 159] cũng đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh Cả ba định nghĩa về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích đều quy định về hoạt động phòng ngừa, hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng di tích; tu sửa, gia cố di tích và phục dựng di tích

Từ trước khi Luật di sản văn hóa ra đời năm 2001 và Luật Xây dựng có hiệu lực thi hành năm 2003, một trong những kinh nghiệm của quốc tế và trong nước để thực hiện công tác phòng ngừa, tu sửa, gia cố di tích nhằm hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng, xuống cấp để bảo tồn lâu dài di tích, đó là việc triển khai công tác lập quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích được xác định là một trong những việc đầu tiên cần phải làm trước khi bắt tay vào tiến hành bảo quản, tu bổ chi tiết từng yếu tố của di tích thông qua các dự án thành phần về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Song phải mãi đến những năm gần đây, công tác quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

Trang 15

mới có được những quy định pháp luật cụ thể Tuy chậm, nhưng đây cũng thể hiện được bước tiến vượt bậc trong công tác xây dựng và triển khai các kế hoạch lâu dài về bảo tồn và phát huy giá trị di tích của đất nước ta

1.1.2 Khái niệm về quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

Kể từ khi Luật di sản văn hóa có hiệu lực năm 2001 đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ra đời và có hiệu lực năm

2009, trong tất cả các văn bản pháp luật của Nhà nước ta đều không có bất kỳ những quy định pháp luật chính thức nào quy định về việc quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Vì vậy, việc quản lý hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố của cả nước trong thời gian trước đây cơ bản đều dựa theo các quy định pháp luật về xây dựng Trong khi đó, các văn bản pháp luật quy định về xây dựng trong thời gian này có liên quan đến quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích có thể điểm tên ở đây, gồm có:

- Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 25 tháng 12 năm 2003 [28]

- Luật quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 ngày 17 tháng 6 năm

Điều 16, Điều 17 và Điều 18 Luật xây dựng quy định quy hoạch xây dựng vùng [28, tr 20, 21, 22] với các nội dung như sau:

- Xác định hệ thống các đô thị, các điểm dân cư để phục vụ công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch, các khu vực bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên và các khu chức năng khác;

Trang 16

- Bố trí hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, không gian và các biện pháp bảo vệ môi trường;

- Định hướng phát triển các công trình chuyên ngành;

- Xác định đất dự trữ để phục vụ cho nhu cầu phát triển; sử dụng đất có hiệu quả

Điều 19, Điều 20 Luật xây dựng quy định nội dung quy hoạch chung xây dựng đô thị [28, tr 22, 23], bao gồm:

- Xác định tính chất của đô thị, quy mô dân số đô thị, định hướng phát triển không gian đô thị và các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội cho từng giai đoạn năm năm, mười năm và dự báo hướng phát triển của đô thị cho giai đoạn hai mươi năm;

- Đối với quy hoạch chung xây dựng cải tạo đô thị, ngoài các nội dung quy định tại điểm a khoản 2 Điều này còn phải xác định những khu vực phải

giải tỏa, những khu vực được giữ lại để chỉnh trang, những khu vực phải được

bảo vệ và những yêu cầu cụ thể khác theo đặc điểm của từng đô thị

- Quy hoạch chung xây dựng đô thị phải bảo đảm xác định tổng mặt bằng sử dụng đất của đô thị theo quy mô dân số của từng giai đoạn quy hoạch; phân khu chức năng đô thị; mật độ dân số, hệ số sử dụng đất và các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật khác của từng khu chức năng và của đô thị; bố trí tổng thể các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, xác định chỉ giới xây dựng, chỉ giới đường đỏ của các tuyến đường giao thông chính đô thị, xác định cốt xây dựng khống chế của từng khu vực và toàn đô thị

Điều 28, Điều 29 Luật Xây dựng quy định nội dung quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn [28, tr 28, 29] như sau:

- Dự báo quy mô tăng dân số điểm dân cư nông thôn theo từng giai đoạn;

Trang 17

- Tổ chức không gian các cơ sở sản xuất, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống trong điểm dân cư nông thôn;

- Định hướng phát triển các điểm dân cư;

- Xác định các khu chức năng, hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật,

hạ tầng xã hội, hướng phát triển cho từng điểm dân cư, thiết kế mẫu nhà ở phù hợp với điều kiện tự nhiên, phong tục, tập quán cho từng vùng để hướng dẫn nhân dân xây dựng;

- Quy hoạch chi tiết xây dựng khu trung tâm xã phải xác định vị trí, diện tích xây dựng của các công trình: Trụ sở làm việc của các cơ quan, tổ chức, các công trình giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao, thương mại, dịch vụ và các công trình khác;

- Đối với những điểm dân cư nông thôn đang tồn tại ổn định lâu dài, khi thực hiện quy hoạch xây dựng thì phải thiết kế cải tạo, chỉnh trang các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội;

Với các nội dung quy định về quy hoạch nêu trên, chúng ta có thể thấy việc quy hoạch xây dựng quy định trong văn bản pháp luật cao nhất là Luật Xây dựng hoàn toàn chưa có các quy định về quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Quy hoạch xây dựng chỉ quy định chung về việc tổ chức không gian đô thị và điểm dân cư nông thôn; quy định về hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; đề xuất tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường; quy hoạch xây dựng vùng chỉ quy định về việc tổ chức hệ thống điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong một khu vực địa giới đảm bảo phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của từng thời kỳ; quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị cũng chỉ quy định việc tổ chức không gian đô thị, các công trình hạ tầng kỹ

Trang 18

thuật, hạ tầng xã hội đô thị phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển ngành của từng vùng và của quốc gia từng thời kỳ; và cuối cùng quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn chỉ quy định việc tổ chức không gian, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của một điểm dân cư nông thôn cụ thể

Điểm qua như vậy, chúng ta có thể thấy các loại quy hoạch về xây dựng đều không có bất kỳ một nội dung nào nói về tu bổ, tôn tạo di tích, duy nhất tại khoản 3 Điều 13 của Luật Xây dựng là có nói đến việc bảo vệ di sản văn hóa, đó là: “Bảo vệ di sản văn hóa, bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc” [28, tr 18], song đây chỉ là nội dung quy định về yêu cầu chung khi lập quy hoạch về xây dựng, sau đó không có bất cứ quy định riêng nào làm căn cứ pháp lý để hướng dẫn tổ chức lập, cũng như quản lý các quy hoạch chuyên ngành về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

Quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích là hoạt động cấp thiết Từ nhiều năm trước đây, chúng ta đã triển khai được khá nhiều quy hoạch về di tích như Quy hoạch bảo tồn tổng thể Khu di tích Yên Tử và Khu di tích Bãi cọc Bạch Đằng, tỉnh Quảng Ninh (được UBND tỉnh Quảng Ninh lập và phê duyệt năm 1994); Quy hoạch tu bổ, tôn tạo Khu di tích Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (được UBND tỉnh Kiên Giang lập và phê duyệt năm 1997); Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích Chiến khu Việt Bắc (ATK) trên địa bàn sáu tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Giang, được Bộ VHTTDL chủ trì lập và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2001; Quy hoạch tổng thể bảo tồn Khu di tích lịch sử Lam Kinh, tỉnh Thanh Hóa (được Bộ VHTTDL lập và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2004) Tuy nhiên, tất cả các quy hoạch trên đều được lập và triển khai theo các quy định của pháp luật về xây dựng, mà cụ thể là thực hiện theo các quy định của

Trang 19

ba loại quy hoạch là quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung xây dựng đô thị và quy hoạch điểm dân cư nông thôn như đã nêu trên

Việc vận dụng các quy định về quy hoạch xây dựng theo quy định của Luật Xây dựng và Nghị định số 08 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng đối với hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là rất khó khăn và kém hiệu quả trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Vì, các văn bản pháp luật về quy hoạch xây dựng đều không có những quy định mang tính đặc thù

về bảo vệ và phát huy giá trị di tích; nhiều vấn đề về di tích cần phải được nghiên cứu sâu sắc, cần có sưu tầm tư liệu, lấy ý kiến nhân chứng lịch sử có khảo sát, khai quật khảo cổ, có tổ chức hội nghị, hội thảo để làm rõ các vấn đề

về lịch sử-văn hóa thẩm định, thẩm tra chuyên ngành về bảo tồn, bảo tàng đều không có quy định hướng dẫn thực hiện; không có quy định thẩm quyền, giới hạn, quy định tổ chức, cá nhân đủ điều kiện hành nghề mới được tham gia lập, triển khai thực hiện quy hoạch, dẫn đến tình trạng phần lớn các tổ chức, cá nhân lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích thiếu hiểu biết

về di tích, hiểu biết về giá trị của di tích, không có kinh nghiệm hoặc rất ít kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di tích nhưng vẫn tham gia lập quy hoạch Đó là những vấn đề bất cập trong các quy định pháp luật

về xây dựng mà chúng ta mắc phải khi thực hiện các hoạt động quy hoạch tu

bổ, tôn tạo di tích trong thời gian vừa qua

Phải đến năm 2009, khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành, thì lần đầu tiên

có một điều khoản quy định riêng cho hoạt động quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, đó là khoản 15 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa Nội dung Điều này quy định như sau [31, tr 206]:

- Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải lập thành quy hoạch trình

cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

Trang 20

- Công bố công khai quy hoạch tại địa phương nơi có di tích;

- Tổ chức, cá nhân chủ trì lập quy hoạch phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề đối với tổ chức và chứng chỉ hành nghề đối với cá nhân;

- Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

Chính từ quy định này, mà lần đầu tiên các tổ chức, các nhân hoạt động trong lĩnh vực tư vấn xây dựng khi tham gia hoạt động quy hoạch bảo quản,

tu bổ, tôn tạo di tích đều phải có giấy phép hành nghề và chứng chỉ hành nghề; đều phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định đồ án quy hoạch di tích quốc gia và di tích quốc giai đặc biệt; trình Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định đối với di tích cấp tỉnh trước khi chủ đầu tư phê duyệt quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi

di tích Việc quy định như trên đã giúp cho cơ quan quản lý nhà nước từ địa phương đến trung ương có khung pháp lý để xem xét thẩm định và điều chỉnh các nội dung về bảo vệ và phát huy giá trị di tích trong các đồ án quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích sát với thực trạng bảo vệ và khai thác di tích Tuy nhiên, việc thẩm định này mới chỉ giúp cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở khâu cuối cùng của công đoạn lập đồ án quy hoạch bảo quản, tu

bổ, phục hồi di tích, các hoạt động trước đó như khảo sát, nghiên cứu về di tích; quản lý chất lượng, trình độ lập quy hoạch di tích vẫn còn bị bỏ ngỏ do chưa có khung pháp luật quy định cụ thể để thực hiện

Phải đến ngày 18 tháng 9 năm 2012 khi Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành Nghị định số 70/2012/NĐ-CP quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi

di tích (sau đây gọi tắt là Nghị định số 70), thì lần đầu tiên mới có một định nghĩa cụ thể về “Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích”

Trang 21

Điều 2 Nghị định số 70 định nghĩa như sau: “Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là việc xác định phạm vi và biện pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi các yếu tố gốc của di tích trong một khu vực xác định, định hướng tổ chức không gian các hạng mục công trình xây dựng mới, hệ thống công trình hạ tầng

kỹ thuật và tạo lập môi trường cảnh quan thích hợp trong khu vực di tích” [31,

tr 294] Nghị định số 70 của Chính phủ là văn bản pháp lý đầu tiên đánh dấu dấu mốc quan trọng cho hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích của nước ta

1.1.3 Nguyên tắc quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

Khái niệm

Điều 2 Nghị định số 70 đã định nghĩa: “Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là việc xác định phạm vi và biện pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi các yếu tố gốc của di tích trong một khu vực xác định, định hướng tổ chức không gian các hạng mục công trình xây dựng mới, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và tạo lập môi trường cảnh quan thích hợp trong khu vực di tích” [31, tr 294] Như vậy, định nghĩa về quy hoạch di tích trong Nghị định

số 70 đã chỉ rõ, nhiệm vụ quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trước hết là phải xác định được phạm vi thực hiện quy hoạch; tiếp theo đó là việc xác định các biện pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi các yếu tố gốc cấu thành di tích; đề xuất định hướng tổ chức không gian cho các hạng mục công trình dự kiến xây mới; đề xuất các phương án tạo lập môi trường cảnh quan thích hợp trong khu vực di tích Toàn bộ các nội dung bao hàm trong định nghĩa nêu trên cơ bản đã đáp ứng được khá đầy đủ các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ bảo

vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa thuộc loại hình di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh được quy định trong Luật di sản văn hóa Đó là nhiệm

vụ bảo tồn nguyên vẹn các yếu tố gốc thể hiện đặc trưng tiêu biểu của di tích; bảo vệ được không gian, môi trường cảnh quan-sinh thái, không gian văn hóa

Trang 22

vốn có của di tích; tạo lập được cơ sở vật chất phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích nhưng vẫn đảm bảo hài hòa với di tích

Điều 6 Nghị định số 70 còn phân chia quy hoạch di tích thành hai loại

để sát với thực tế công tác quản lý lập, triển khai quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích, cụ thể:

- Loại thứ nhất, quy định về quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi hệ

thống di tích, Điều 6 của Nghị định 70 định nghĩa như sau: “Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi hệ thống di tích là quy hoạch toàn bộ di tích trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bao gồm di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh và đối tượng đã được kiểm kê di tích” [31, tr 298]

- Loại thứ hai, quy định về quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục

hồi di tích, Điều 6 của Nghị định 70 định nghĩa như sau: “Quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là quy hoạch đối với một di tích quốc gia đặc biệt hoặc cụm di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh tạo thành một quần thể phân bố trong cùng một khu vực địa lý, có mối quan hệ mật thiết về lịch sử, văn hóa, khoa học” [31, tr 299]

Việc phân chia và định nghĩa hai loại quy hoạch di tích nêu trên đã cụ thể hóa thực tế hoạt động quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích trong thời gian qua Loại thứ nhất (quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi hệ thống di tích) là quy hoạch dành cho các cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa trên địa bàn một tỉnh, thành phố trược thuộc Trung ương Loại này góp phần giúp cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa trên địa bàn một tỉnh nắm bắt được tổng thể trên địa phương mình hiện tại có bao nhiêu di tích cấp tỉnh, bao nhiêu di tích cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt; trong toàn bộ hệ thống di tích mà địa phương mình đang quản lý có bao nhiêu loại hình di tích, mỗi loại hình có bao nhiêu di tích; hiện trạng công tác khoanh vùng bảo vệ

Trang 23

các di tích đó ra sao, giải pháp sắp tới là gì; có bao nhiêu di tích đang được bảo tồn tốt, bao nhiêu di tích đang xuống cấp tùy từng mức độ và bao nhiêu di tích cần phải tiến hành bảo quản, tu bổ, phục hồi cấp thiết; các vấn đề về khảo sát, khai quật khảo cổ liên quan đến hệ thống di tích trên địa bàn quản lý; tình hình quản lý bảo vệ và phát huy hệ thống di tích trên địa bàn Từ các số liệu

cơ bản nêu trên, cơ quan quản lý di sản văn hóa địa phương mới có tầm nhìn mang tính chiến lược, tổng thể về toàn bộ hệ thống di tích thuộc địa bàn do mình quản lý; từ đó mới có đủ cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp mang tính lâu dài bảo vệ và phát huy toàn bộ hệ thống di tích trên địa bàn do mình quản lý khi chưa có những nguồn lực đầu tư lớn

Đối với loại quy hoạch thứ hai (quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích) Loại quy hoạch này chỉ rành riêng cho đối tượng là di tích quốc gia đặc biệt hoặc cụm di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh tạo thành một quần thể phân bố trong cùng một khu vực địa lý, có mối quan hệ mật thiết về lịch sử, văn hóa, khoa học Đây là quy hoạch mang tính xây dựng, đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính cụ thể để triển khai thực hiện trong giai đoạn 5 năm, 10 năm

Những nguyên tắc

Điều 3 Nghị định số 70 đã quy định khá đầy đủ và cụ thể một số nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, cụ thể như sau [31, tr 296]:

- Tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng, di sản văn hóa, các Điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các quy định pháp luật khác có liên quan

- Phù hợp với mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh và quy hoạch phát triển các ngành trong phạm vi khu vực quy

Trang 24

hoạch đã được phê duyệt nhằm đảm bảo đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, thống nhất và hài hòa về hình thái không gian, kiến trúc khu vực, đảm bảo môi trường cảnh quan bền vững, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển trong khu vực

- Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải được lập, phê duyệt với định hướng lâu dài từ 10 năm đến 20 năm để làm cơ sở cho các hoạt động đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi, khai thác, phát huy giá trị di tích Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải phân thành định kỳ 5 năm kể từ năm

2010 để đánh giá lại, xem xét điều chỉnh (nếu cần thiết) nhằm phù hợp với thực tiễn bảo vệ di tích, với quy hoạch xây dựng và các quy hoạch chuyên ngành khác đã được phê duyệt còn hiệu lực hoặc đã thực hiện

- Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải xuất phát từ nhiệm

vụ giữ gìn tối đa các yếu tố gốc của di tích để phát huy giá trị Đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp về không gian kiến trúc, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, môi trường cảnh quan trong khu vực quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế-kỹ thuật

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích Các văn bản pháp luật về xây dựng đã quy định: “Việc đầu tư xây dựng các công trình phải tuân thủ quy hoạch đã được phê duyệt” Quy định này là bắt buộc để đảm bảo sự đồng bộ về dây chuyền sử dụng, sự phù hợp về không gian, kết nối hạ tầng, kinh tế-kỹ thuật khi xây dựng bất cứ công trình nào trong khu vực quy hoạch Nhiệm vụ giữ gìn tối đa các yếu tố gốc của di tích luôn là yêu cầu bắt buộc cao nhất khi có sự can thiệp vào di tích, bất kể đó là quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích hay quy hoạch xây dựng Quy hoạch nhằm mang tính định hướng, quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích cũng vậy, định hướng ở đây đối với loại quy hoạch này chính là đáp ứng các nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ và phát huy lâu dài giá trị di tích.

Trang 25

1.2 Quan điểm của các cơ quan quản lý nhà nước về định hướng quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

1.2.1 Quan điểm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về định hướng quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

Ngày 24 tháng 7 năm 2001, Bộ Văn hóa-Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 Trong nội dung Quy hoạch này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ rõ quan điểm của cơ quan quản lý nhà nước cao nhất về di sản văn hóa đối với quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích, cụ thể

Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích là nhằm đặt cơ sở pháp lý và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các ngành và địa phương

Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, thực hiện xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích Huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, nâng cao nhận thức và sự tham gia đóng góp của toàn xã hội trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di tích

Nâng cao nhận thức, phát huy các giá trị của di tích trong việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa và truyền thống văn hiến của dân tộc cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ; giới thiệu bản sắc và tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam với các nước, là cơ sở quan trọng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết Trung ương 5 đã đề ra

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về di tích và danh lam thắng cảnh theo hướng mở rộng quá trình xã hội hóa, thu hút sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào việc bảo vệ và phát huy di tích, gắn với quản lý nhà nước bằng pháp luật

Trang 26

Đến nay, các quan điểm trên vẫn còn nguyên giá trị, các cơ quan quản

lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương về di sản văn hóa và xây dựng vẫn đang áp dụng trong hoạt động lập, thẩm định, phê duyệt và triển khai quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

1.2.2 Quan điểm của một số địa phương và các chuyên gia về định hướng quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

Như chúng ta đã biết, Nghị định số 70 là văn bản pháp lý đầu tiên và cao nhất quy định nhiều nội dung về quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Để đảm bảo tính thực thi và hiệu lực thi hành Nghị định số 70, trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân 63 tỉnh, thành phố trên cả nước góp ý cho dự thảo Nghị định; đã tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, tài chính, văn hóa; đã gửi dự thảo Nghị định lên trang thông tin điện tử của Bộ để mọi tổ chức, cá nhân là người Việt Nam, người nước ngoài có điều kiện nghiên cứu, góp ý hoàn thiện Nghị định Chính vì vậy, toàn bộ nội dung Nghị định số 70 cũng chính là tập hợp những quan điểm, ý kiến của các địa phương và các chuyên gia trên cả nước về công tác quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

Có thể nhận thấy một số quan điểm chính được thể hiện trong nội dung Nghị định số 70 như sau

Yêu cầu về trình tự thực hiện: Chủ đầu tư phải tiến hành xin chủ trương

và các công việc phục vụ lập quy hoạch di tích Phải tổ chức thực hiện điều tra, khảo sát, đánh giá sơ bộ về các vấn đề kinh tế-xã hội; bảo vệ và phát huy giá trị di tích; đầu tư xây dựng và các vấn đề liên quan; thu thập bản đồ đo đạc địa hình khu vực, bản đồ quy hoạch xây dựng và quy hoạch chuyên ngành khác đã được phê duyệt còn hiệu lực liên quan tới khu vực lập quy hoạch di tích Tổ chức thực hiện điều tra, khảo sát, lập hồ sơ (bản vẽ, thuyết minh)

Trang 27

đánh giá về giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ của di tích, di vật, di sản văn hóa phi vật thể thuộc phạm vi quy hoạch Tổ chức lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân có liên quan để hoàn thiện nhiệm vụ lập quy hoạch di tích Lập, thẩm định và phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch di tích Tổ chức điều tra, khảo sát chi tiết, khai quật khảo cổ, thu thập tài liệu liên quan đến nội dung quy hoạch di tích Lập đồ án quy hoạch di tích Lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân có liên quan về đồ án quy hoạch di tích Thẩm định và phê duyệt đồ án quy hoạch di tích Công bố công khai quy hoạch di tích đã được phê duyệt tại địa phương nơi có di tích

Yêu cầu về nội dung quy hoạch: Nội dung của Quy hoạch phải phân tích,

đánh giá được hiện trạng di tích và đất đai thuộc di tích; phải khảo sát, nghiên cứu làm rõ được đặc điểm, giá trị di tích, vai trò của di tích trong mối quan hệ vùng Xác định được tình trạng kỹ thuật, quản lý, sử dụng và phát huy giá trị

di tích Phân tích, đánh giá môi trường tự nhiên và xã hội; các yếu tố kinh tế -

xã hội; hiện trạng về sử dụng đất; hiện trạng về cơ sở hạ tầng kỹ thuật của khu vực quy hoạch; xác định đặc trưng và giá trị tiêu biểu của di tích; xác định ranh giới các khu vực bảo vệ di tích; xác định khu vực cảnh quan thiên nhiên, khu vực hạn chế xây dựng, khu vực xây dựng mới

Yêu cầu về thủ tục pháp lý: Nghị định đã quy định, chính quyền địa

phương nơi có di tích cần có văn bản gửi Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đề nghị lập quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích đang xuống cấp của địa phương mình; trên cơ sở ý kiến của chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét cân đối nhu cầu cấp thiết để có văn bản gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép lập quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích; sau khi xem xét,

Bộ VHTTDL có văn bản đồng ý để UBND cấp tỉnh triển khai lập quy hoạch

di tích địa phương; trên cơ sở ý kiến của Bộ VHTTDL, UBND cấp tỉnh giao

Sở VHTTDL, hoặc Sở Xây dựng, UBND cấp huyện làm chủ đầu tư thuê đơn

vị tư vấn khảo sát, nghiên cứu lập quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích theo quy

Trang 28

định của Luật Xây dựng và trình Bộ VHTTDL thẩm định đồ án quy hoạch tu

bổ, tôn tạo di tích quốc gia và quốc gia đặc biệt sau khi lập xong đồ án quy hoạch theo quy định tại khoản 15 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa và quy định của Luật Xây dựng

Sau gần một năm Nghị định số 70 có hiệu lực, tính đến thời điểm này hầu như không có những ý kiến phản hồi của các cơ quan quản lý xây dựng, tài chính, của cơ quan quản lý di sản văn hóa và các đơn vị tư vấn về những bất cập trong việc thực hiện Nghị định số 70 Điều này cho thấy những nội dung quy định trong Nghị định số 70 về cơ bản đã phản ánh được thực trạng xuống cấp của di tích, phù hợp thực tế hoạt động quản lý bảo tồn, tu bổ, tôn tạo di tích ở các địa phương, đảm bảo yêu cầu bảo tồn di tích theo quan điểm của các nhà khoa học và đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân

Và vì vậy, Nghị định số 70 được coi là một thành công quan trọng của ngành VHTTDL nói chung và ngành di sản văn hóa nói riêng trong hoạt động quản

lý quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích

1.3 Vai trò của quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích trong bối cảnh chính trị, kinh tế-xã hội hiện nay

Quản lý nhà nước về quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích đối với nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của đất nước đã được xác định từ nhiều năm trước đây và trong giai đoạn hiện nay vẫn còn nguyên giá trị Thông qua nội dung các quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phê duyệt trong thời gian vừa qua như Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo Khu di tích Pác Bó năm

2008 (tỉnh Cao Bằng), Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích Côn Sơn-Kiếp Bạc năm 2011 (tỉnh Hải Dương), Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều năm 2012 (tỉnh Quảng Ninh) chúng ta có thể nhận thấy công tác quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích đang có một vai trò quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ta hiện nay, vấn đề này được thể hiện trên các khía cạnh

Trang 29

- Giữ gìn nguyên vẹn và đầy đủ các di tích đã và đang được xếp hạng, không để xuống cấp, tổn thất hoặc bị huỷ hoại

- Góp phần giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa và truyền thống văn hiến của dân tộc cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ;

- Giới thiệu bản sắc và tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam với các nước, là cơ sở quan trọng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết Trung ương 5 đã đề ra

- Các di tích được tu bổ, tôn tạo một cách hoàn chỉnh với tư cách là một sản phẩm du lịch có giá trị phục vụ chiến lược phát triển ngành du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội

- Mở rộng quá trình xã hội hóa, thu hút sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào việc bảo vệ và phát huy di tích, gắn với quản lý nhà nước bằng pháp luật

Cho đến thời điểm hiện nay, hàng trăm di tích lịch sử cách mạng quan trọng của đất nước đã được đầu tư tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị sau khi được quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Cụ thể như, trong giai đoạn từ năm

2006 đến năm 2010, 70% di tích lịch sử cách mạng đã được hỗ trợ kinh phí chống xuống cấp, tu bổ, tôn tạo, như khu di tích ATK tỉnh Thái Nguyên, khu

di tích ATK tỉnh Bắc Kạn, ATK tỉnh Tuyên Quang, khu di tích Pắc Bó tỉnh Cao Bằng, căn cứ Nước Oa tỉnh Quảng Nam, Trung ương Cục Miền Nam Hàng loạt di tích khác đã được hỗ trợ kinh phí như di tích chiến thắng Đông Khê và Khu di tích Pắc Bó, tỉnh Cao Bằng; các di tích tỉnh Thái Nguyên như

di tích địa điểm thành lập Đội cứu quốc quân II, di tích Xưởng quân giới Bazooka, di tích Đại đội thanh niên xung phong; một số di tích tỉnh Quảng Trị như di tích Khu cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, di tích Cầu treo Bến Tắt; di tích địa đạo Thuận Lợi và địa đạo An Thái, tỉnh Tây Ninh; di tích chiến thắng Đắc Tô-Tân Cảnh, tỉnh Kom Tum…

Trang 30

Công tác bảo tồn các di tích lịch sử cách mạng thời gian qua đã ngăn chặn hiệu quả nguy cơ xuống cấp, hư hại với hệ thống di tích này và sự mai một của văn hóa phi vật thể, góp phần quan trọng vào việc giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng cho các thế hệ người Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội địa phương Đồng thời nâng cao được nhận thức của toàn dân, của các cấp, các ngành và huy động được sức mạnh của toàn xã hội tham gia vào hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc

Tiểu kết

Trong Chương này, chúng tôi đã làm rõ một số vấn đề lý luận chung về quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, quan điểm, lý luận về vấn đề trên đã trải qua một quá trình hoàn thiện Những cơ sở lý luận này sẽ là cơ sở nền tảng cho phân tích của tác giả ở những phần nội dung tiếp theo của luận văn

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUY HOẠCH TU BỔ, TÔN TẠO

DI TÍCH Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 Giới thiệu về di tích Cố đô Huế, Khu di tích lịch sử Lam Kinh

và Khu di tích ATK Định Hóa

2.1.1 Giá trị lịch sử-văn hóa và thực trạng của di tích Cố đô Huế

Quần thể Cố đô Huế gồm hệ thống các di tích liên quan đến triều Nguyễn ở tỉnh Thừa Thiên Huế Hệ thống di tích này bao gồm Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành Huế, các lăng tẩm, đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, Văn Miếu, Võ Miếu, chùa Thiên Mụ, Hải Vân Quan và hàng chục điểm di tích khác

Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Quần thể Cố đô Huế là nơi duy nhất còn giữ được khá nguyên vẹn một quần thể kiến trúc tiêu biểu cho một thời kỳ lịch sử trong dòng lịch sử của dân tộc là triều Nguyễn Trong gần 400 năm (1558 - 1945), Huế đã từng là thủ phủ của 09 đời chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong, bắt đầu từ lộ Thuận Hoá được thiết lập dưới thời Vương triều Trần, năm 1366, là kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến kinh quốc của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam Suốt mấy thế

kỷ qua, bao nhiêu tinh hoa của cả nước được chắt lọc hội tụ về đây hun đúc

nên nét văn hoá xứ Huế đậm đà bản sắc

Nằm giữa lòng thành phố Huế, bên bờ Bắc của sông Hương chảy xuyên qua từ Tây sang Đông, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền nhà Nguyễn vẫn sừng sững trước bao biến động của lịch sử và thách thức của thời gian Quần thể di tích kinh thành Huế gồm ba

Trang 32

toà thành lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hoà nhuần nhuyễn giữa phong cách kiến trúc phương Đông và phương Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu

tố sẵn có tự nhiên nhưng được sử dụng hài hòa đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của kinh thành Huế, đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh, cồn Hến,

Khởi công xây dựng năm 1805, kinh thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520ha, có

10 cửa chính Kinh thành Huế là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết

âm dương ngũ hành của Dịch học Trung Hoa cùng những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương Tây kiểu Vauban Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng kinh thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, di dân, dời

mộ, đắp thành kéo dài từ thời điểm tiến hành khảo sát năm 1803 (triều vua Gia Long) đến khi hoàn chỉnh vào năm 1832 (triều vua Minh Mạng)

Di tích Cố đô Huế là một tổng thể gồm các hạng mục công trình Kinh thành; Hoàng thành và Tử Cấm thành và hệ thống các lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định, Dục Đức, các lăng chúa Nguyễn, cung An Định, Văn Miếu - Võ Miếu, Hổ Quyền - Voi Ré, đàn Nam Giao, Trai cung, bến thuyền cung đình, trấn Bình Đài, trấn Hải Thành, điện Hòn Chén, nhà bà Từ Cung, lăng Vạn Vạn, Hải Vân quan,

Quần thể Di tích Cố đô Huế là tài sản vô giá của quốc gia và cùng với Nhã nhạc Cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá của

Trang 33

nhân loại Bảo tồn toàn vẹn Di sản văn hoá Cố đô Huế là bảo tồn tài sản văn hoá của dân tộc, đồng thời góp phần gìn giữ và làm phong phú thêm kho tàng văn hoá nhân loại

Huế là cố đô duy nhất ở Việt Nam còn bảo lưu được khá nguyên vẹn tổng thể kiến trúc nghệ thuật cung đình, với hệ thống thành quách, cung điện, miếu đường, đền đài, lăng tẩm, chùa quán, cầu cống Di sản văn hoá Huế là những kiệt tác nghệ thuật của nhân dân lao động trải qua bao thế hệ hun đúc tập thành, của những tài năng xuất chúng, những người thợ thủ công khéo tay nhất nước thời bấy giờ

Thành phố Huế là sự mẫu mực kết hợp hài hoà giữa các yếu tố con người, kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên, là điển hình của loại hình kiến trúc cảnh vật hoá, một loại hình kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc và giàu tính nhân văn Đặc điểm này đặt ra một yêu cầu rất nghiêm ngặt là vừa phải bảo vệ tổng thể di tích bao gồm bảo vệ các công trình kiến trúc gắn liền với bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ di sản văn hoá vật chất đi đôi với bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá tinh thần

Điểm đặc thù của Huế là tổng thể Di tích Cố đô tồn tại trong lòng đô thị mới, đang chung sống với thành phố trẻ đang phát triển đi lên hiện đại Chính

vì vậy phải "kết hợp chặt chẽ hài hoà trong việc cải tạo xây dựng đô thị và

việc bảo vệ trùng tu, tôn tạo khôi phục và làm sống lại Di sản kiến trúc, văn hoá, lịch sử của dân tộc và nhân loại, bảo vệ và cải thiện cảnh quan thiên nhiên, bảo đảm tỷ lệ và mật độ tầng cao hợp lý, giữ gìn kiểu nhà vườn và phong cách độc đáo của kiến trúc Cố đô” (trích Quyết định số 605/TTg ngày

20/12/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể thành phố Huế)

Bên cạnh kho tàng di sản văn hoá vật chất đồ sộ có giá trị và tầm vóc quốc tế, Huế còn là một tụ điểm về di sản văn hoá tinh thần phong phú, một

Trang 34

vùng văn hoá Phú Xuân đặc sắc với thương hiệu “Huế đẹp và thơ” nổi tiếng

Di sản văn hoá tinh thần ở Huế bao gồm văn hoá dân gian và văn hoá cung đình Văn hoá cung đình Huế với cội nguồn từ thuở lập quốc, trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê rồi lan toả hội tụ và kết hợp với truyền thống văn hoá vùng đất miền Trung và phía Nam của Tổ quốc vốn được manh nha từ thời các chúa Nguyễn, phát triển đến đỉnh cao và hoàn chỉnh dưới thời các vua Nguyễn, để ngày nay đã tạo nên những giá trị văn hoá phi vật thể và truyền khẩu được cả nhân loại thừa nhận

Trong quá khứ vàng son, Huế đã tạo cho mình một nền văn hoá phong phú và đặc sắc vừa kế thừa truyền thống văn hoá Thăng Long vừa tiếp thu những yếu tố mới của miền Trung, miền Nam và bên ngoài để tạo nên một

sắc thái riêng biệt của một vùng văn hóa, Văn hóa Phú Xuân - Huế Chính

vì lẽ đó, Quần thể di tích Cố đô Huế đã được UNESCO ghi vào Danh mục Di

sản Thế giới vào ngày 11/12/1993, và 10 năm sau, ngày 7 tháng 11 năm

2003, Âm nhạc Việt Nam - Nhã nhạc Cung đình Huế lại được UNESCO công

nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại và

năm 2008 Nhã nhạc Cung đình Huế đã được UNESCO công bố là 1 trong 90

Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại

Để khẳng định cho một quần thể di tích, với đặc thù về kiến trúc kết hợp hài hòa với không gian cảnh quan, Khu di tích Cố đô Huế được xếp hạng

là di tích lịch sử và kiến trúc - nghệ thuật quốc gia năm 1979 và được bổ sung vào các năm 1997, 2004, 2006

2.1.2 Giá trị lịch sử - văn hóa và thực trạng của Khu di tích lịch sử Lam Kinh

Khu di tích Lam Sơn - Lam Kinh nằm trong địa phận thị trấn Lam Sơn

và xã Xuân Lam (huyện Thọ Xuân), xã Kiên Thọ (huyện Ngọc Lặc) tỉnh Thanh Hóa Theo các bộ sử lớn của Việt Nam, thì Lam Kinh vốn là đất Lam Sơn - quê hương của anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi, nơi phát tích cuộc

Trang 35

khởi nghĩa Lam Sơn vĩ đại Chính vì vậy, Lam Sơn - Lam Kinh là vùng đất được sự quan tâm đặc biệt của các vua triều Lê

Khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra vào đầu năm 1418 và kết thúc vào cuối năm

1427, với nhiều chiến thắng oanh liệt trước đội quân xâm lược hùng hậu của nhà Minh, như Tốt Động - Chúc Động, Chi Lăng - Xương Giang và kết thúc binh lửa tại Hội thề Đông Quan Trải qua mười năm kháng chiến, xuất phát ban đầu từ rừng núi Lam Sơn, với tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, sự đồng lòng trên dưới và sự lãnh đạo tài tình của chủ t-ướng Lê Lợi và bộ tham mưu, khởi nghĩa Lam Sơn đã ca khúc khải hoàn đem lại nền độc lập cho quốc gia dân tộc

Ngày 15 tháng 4 năm 1428, Bình Định Vương Lê Lợi (Lê Thái Tổ) lên ngôi hoàng đế tại Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội), lập nên vương triều Hậu

Lê, mở ra thời kỳ phát triển mới cho quốc gia Đại Việt Với hào khí chiến thắng, với tinh thần tự hào dân tộc mạnh mẽ, Lê Thái Tổ và các vua nhà Lê đã nhanh chóng xây dựng đất Lam Sơn trở thành Lam Kinh với khu miếu điện

và Sơn lăng, mục đích là thờ tổ tiên, các vua và Hoàng Thái hậu sau khi mất được đưa về Lam Kinh an táng

Năm 1430, Lê Thái Tổ cho đổi Lam Sơn thành Lam Kinh (hay Tây Kinh), đây là mốc quan trọng mở đầu cho sự phát triển của trung tâm Lam Kinh trong quốc gia Đại Việt dưới triều Lê Năm 1433, sau khi vua Lê Thái

Tổ mất đưa về an táng ở Lam Kinh, các điện miếu cũng bắt đầu được xây dựng Lam Kinh đã trở thành nơi an táng các vua và hoàng hậu thời Lê Sơ Trên đất Lam Kinh có nhiều công trình xây dựng qua các triều đại khác nhau, tuy nhiên các công trình này phục vụ cho hai mục đích chính:

- Nơi ở của các vua nhà Lê gọi là Hành điện, để cách vài ba năm vua về quê cúng bái tổ tiên, nghỉ lại trong thời gian ngắn và nhà ở của các quan, cùng quân lính thường trực trông coi Lam Kinh

Trang 36

- Nơi thờ cúng tổ tiên, các vua, Hoàng Thái hậu, các vị trong hoàng tộc Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập ra nhà Mạc Năm

1531, Mạc Thái Tông (Đăng Doanh) đã sai Mạc Công Chính và binh lính tràn

về đốt trụi Lam Kinh, Lam Kinh hoàn toàn bị phá huỷ (trừ hệ thống lăng mộ, bia ký)

Vương triều Lê Trung Hưng sau khi đánh đuổi được triều Mạc, lập lại địa vị đã bắt tay khôi phục lại diện mạo kinh đô Lam Kinh xưa Cứ vài ba năm một lần, vua và các quan trong triều đình nhà Lê lại về Lam Kinh hành lễ

để tưởng nhớ công đức khai sáng cơ nghiệp của vua Lê Thái Tổ Từ thế kỷ

XV đến nửa đầu thế kỷ XVIII, khu Miếu Điện Lam Kinh luôn được tu sửa, trông coi Vào cuối thế kỷ XVIII, khu Lam Kinh trở thành vô chủ và bị phá huỷ nặng nề trong kháng chiến chống quân Thanh và nội chiến giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn

Lam Kinh thực chất là khu Miếu Điện, lăng mộ để thờ cúng Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và tổ tiên ông cùng một số vị vua và hai bà Hoàng Thái hậu Vì vậy, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng liên quan đến di tích là nghi thức cúng tế cung đình diễn ra trong miếu điện Lam Kinh do vua và triều đình nhà Lê tổ chức đến nay không còn Tuy nhiên, hàng năm, cứ đến ngày 21, 22 tháng 8 (âm lịch) hàng vạn nhân dân khắp mọi miền đất nước kéo về tụ hội để tưởng nhớ

vị anh hùng dân tộc Lê Lợi: Ngày 21 tháng 8 làm giỗ Trung Túc Vương Lê Lai, ngày 22 tháng 8 làm giỗ Lê Thái Tổ tại khu chính điện Lam Kinh

Khu di tích Lam Kinh hiện nay có tổng diện tích là 200 ha Khu Điện - Miếu và các lăng mộ đều bố cục theo hướng Bắc - Nam, Phía sau có núi Dầu làm hậu chẩm Bên tả kinh thành là dãy núi Bạch Hổ và bên hữu là núi Thanh Long giống như hai cánh tay ngai khổng lồ che chắn hai bên Từ Lam Kinh, nhìn sang hướng Tây Nam, bên hữu ngạn sông Chu có Mục Sơn làm hữu tiền

Trang 37

án; hướng Đông Nam có núi Chủ làm tả tiền án Phía trước khu Trung tâm có dòng sông Chu, sông Ngọc làm minh đường, cũng đồng thời là điểm tụ thủy, hào thành bảo vệ Trong phạm vi 200 ha, di tích Lam Kinh bao gồm nhiều hạng mục công trình kiến trúc phục vụ chức năng tín ngưỡng, tri ân tổ tiên nhà Lê, là nơi an nghỉ các vua và Hoàng hậu nhà Hậu Lê, với hệ thống cảnh quan tạo ra sự hài hoà trong một không gian kiến trúc gắn bó mật thiết, hài hoà với thiên nhiên

Các công trình của di tích bao gồm: La Thành, cầu Bạch, sông Ngọc, Giếng cổ Lam Sơn, Ngọ Môn, sân Rồng, Tả Vu, Hữu Vu, Đông Trù, Tây Thất, Thềm Rồng, Chính Điện, Thái Miếu, các khu lăng mộ - bia ký của vua

và Hoàng hậu… cùng với hệ thống hồ Tây, hồ Như Áng, đập Nhà Lê, hệ thống kênh dẫn, núi Dầu và hệ thống rừng với nhiều loại gỗ quý có tuổi đời hàng trăm năm Các khu lăng mộ và nhà bia gồm có: Lăng mộ và nhà che bia vua Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông và bà Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao

Trong quá trình nghiên cứu gần một thế kỷ qua, khu trung tâm Lam Kinh đã được các nhà nghiên người cứu người Pháp và Việt Nam tiến hành khảo sát, khai quật khảo cổ học Đặc biệt từ năm 1996 đến nay, Lam Kinh được tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống Kết quả nghiên cứu đã từng bước khái quát đặc trưng di tích, di vật, trên cơ sở đó tìm hiểu niên đại, các bước diễn triển của trung tâm Lam Kinh

2.1.3 Giá trị lịch sử-văn hóa và thực trạng của Khu di tích lịch sử ATK Định Hóa

Chiến khu cách mạng Việt Bắc là một quần thể di tích quan trọng bậc nhất của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20 với những cụm di tích quan trọng như Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), Tân Trào, Chiêm Hóa, Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang),

Trang 38

Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn), Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên) Trong đó, cụm di tích ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) Có thể nói ATK Định Hóa - Thái Nguyên gắn liền với Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang hợp thành thủ đô đầu não kháng chiến của cả nước, một căn cứ địa vững chắc quyết định vận mệnh cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp của dân tộc ta

ATK Định Hóa tỉnh Thái Nguyên là nơi đặt bản doanh của Trung ương Đảng, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng Trong suốt thời kỳ kháng chiến, các cơ quan đầu não Trung ương Đảng, cơ quan của Bác, Bộ Tổng tư lệnh,

Bộ Quốc phòng luôn di chuyển, nhưng trung tâm ATK Định Hóa vẫn dựa vào khu vực Núi Hồng, huyện Định Hóa

ATK Định Hóa còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước Nơi đây đã diễn ra lễ thành lập Việt Nam giải phóng quân trên cơ sở hợp nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Việt Nam cứu quốc quân ngày 15 tháng 5 năm 1945 tại Định Biên Thượng (huyện Định Hóa) Các chủ trương, chính sách lớn của Chính phủ đã được ban hành và phát đi từ đây để thực hiện trong cả nước như chính sách cải cách ruộng đất, chính sách thuế ATK Định Hóa còn là nơi Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh ra nhiều quyết sách quan trọng liên quan đến vận mệnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của cả dân tộc Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng và Bộ chỉ huy chống lại cuộc tấn công lên Việt Bắc của Thực dân Pháp (tháng 10 năm 1947) diễn ra tại Điềm Mặc đã vạch ra phương hướng và hành động cụ thể cho quân, dân Việt Bắc cùng cả nước đánh bại chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh bằng hành động quân sự quy mô lớn của Thực dân Pháp nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến Việt Nam, sớm kết thúc

Trang 39

chiến tranh Chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947 mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bảo vệ thành công cơ quan đầu não kháng chiến của đất nước, tạo bước ngoặt quyết định đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc bước sang một bước ngoặt quyết định

Từ Định Hóa, chúng ta đã quyết định mở chiến dịch biên giới Thu Đông 1950 của Trung ương Đảng và thành lập Đảng ủy mặt trận cùng Bộ chỉ huy chiến dịch Biên giới (ngày 25 tháng 7 năm 1950) Với chiến thắng biên giới Thu Đông 1950, căn cứ địa Việt Bắc đã thoát khỏi tình trạng bị bao vây phong tỏa cả trong lẫn ngoài, quân đội ta giành được thế chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc bộ, tạo thế vững chắc cho toàn khu ATK

Từ ATK Định Hóa, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định nhiệm vụ và kế hoạch quân sự Đông Xuân 1953-1954 Thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử tại Tỉn Keo, Phú Đình, làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tới thắng lợi hoàn toàn

ATK Định Hóa là nơi nhiều đơn vị quân đội, cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể đã được ra đời Đây là nơi đóng đại bản doanh của Chính phủ kháng chiến, từ đây nhiều đơn vị, đoàn thể cơ quan nhà nước đã được thành lập, mà sự trưởng thành và phát triển của nó đóng vai trò quan trọng vào sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trước đây cũng như xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay

Các điểm thuộc Khu di tích Chiến khu Việt Bắc tỉnh Thái Nguyên còn gắn liền với cảnh quan thiên nhiên đẹp của núi rừng Việt Bắc, với cộng đồng các dân tộc Việt Bắc - một cộng đồng giàu bản sắc văn hóa, nơi đây còn chứa đựng một tiềm năng phát huy du lịch văn hóa, du lịch sinh thái

Trang 40

Hệ thống di tích cách mạng kháng chiến thuộc ATK Định Hóa với những giá trị và ý nghĩa lịch sử to lớn của mình là một địa chỉ đỏ quan trọng trong công tác giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau Thông qua hệ thống

di tích ATK Định Hóa, các thế hệ Việt Nam một lần nữa hiểu sâu sắc hơn về chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của các thế hệ cha ông trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, về nghệ thuật kháng chiến của Trung ương Đảng, của Bác Hồ kính yêu

2.2 Thực trạng hoạt động quy hoạch tu bổ, tôn tạo di tích Cố đô Huế, Khu di tích lịch sử Lam Kinh và Khu di tích lịch sử ATK Định Hóa

2.2.1 Tình hình triển khai Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 1996-2010

Ngày 12 tháng 2 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 105/TTg phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn 1996 - 2010 với các mục tiêu: Bảo tồn di sản văn hóa Cố đô Huế; phát huy mọi giá trị quý giá của di sản văn hóa cố đô Huế, bao gồm giá trị di sản văn hóa vật chất, giá trị di sản văn hóa tinh thần và giá trị di sản văn hóa môi trường cảnh quan đô thị và thiên nhiên trong việc giáo dục giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân; xác định ranh giới, phạm vi và đối tượng nghiên cứu bảo tồn và khai thác; lập quy hoạch bảo tồn, tôn tạo hệ thống các di tích Cố đô Huế trong Quy họach tổng thể thành phố Huế những năm trước mắt và lâu dài; xác định nội dung đầu tư từng giai đoạn tu bổ kết hợp với tôn tạo và phát huy giá trị di tích

cả về mặt văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và cảnh quan môi trường

Quy hoạch đã phân chia thành ba giai đoạn thực hiện cụ thể Giai đoạn

I (1996-2000) gồm các nhiệm vụ: Lập hồ sơ của tất cả những di tích hiện tồn

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w