1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố rạch gía trong giai đoạn hiện nay

141 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

xứng với nhu cầu và thị hiếu của dân chúng, trên thị trường dịch vụ văn hóa cũng có những biểu hiện không lành mạnh, mục đích kinh tế trong hoạt động dịch vụ văn hóa đôi khi lấn át các m

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

**************

NguyÔn ThÞ Minh H¹nh

Qu¶n lý nhμ n−íc vÒ v¨n hãa

ë thμnh phè r¹ch gi¸ trong giai ®o¹n hiÖn nay

Chuyªn ngµnh: Qu¶n lý v¨n hãa

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5 

1 – Tính cấp thiết của đề tài 5 

2 Tình hình nghiên cứu 7 

2.1 Những tài liệu : Sách, giáo trình, luận văn viết về quản lý văn hóa 7 

2.2.Những tài liệu liên quan đến đề tài 9 

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11 

3.1 Mục đích nghiên cứu 11 

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11 

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 12 

4.1.Đối tượng nghiên cứu: 12 

4.2 Phạm vi nghiên cứu: 12 

5 Phương pháp nghiên cứu 12 

  Ch ương 1 15 

C Ơ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA, 15 

TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ 15 

1.1.Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về Văn hóa 15 

1.1.1.Nghiên cứu một số khái niệm 15 

1.1.1.1 Khái niệm quản lý 15 

1.1.2.2 Khái niệm quản lý Nhà nước 16 

1.1.1.3 Quản lý nhà nước về văn hóa 17 

1.1.2 Nội dung chủ yếu quản lý nhà nước về văn hóa 25 

1.1.3.Các nguyên tắc, phương pháp, cơ cấu tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa 28 

1.1.3.1.Các nguyên tắc quản lý văn hóa 28 

Trang 3

1.1.3.2 Các phương pháp quản lý văn hóa : 30 

1.1.3.3 Cơ cấu tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa 32 

1.2.Tổng quan về thành phố Rạch Giá 36 

1.2.1.Đặc điểm địa lý tự nhiên và lịch sử 36 

1.2.2.Về phát triển kinh tế- xã hội 39 

1.2.3 Về phát triển sự nghiệp văn hóa 41 

Ch ương 2 51 

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ N ƯỚC VÊ VĂN HÓA 51 

Ở THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỪ 2005 ĐẾN NAY 51 

2.1 Phòng văn hóa Thể thao và Du lịch thành phố Rạch Giá 51 

2.1.1 Chức năng, quyền hạn của Phòng VHTTDL 51 

2.1.2 Cơ chế quản lý 53 

2.2 Quản lý các hoạt động 56 

2.2.1.Quản lý di tích lịch sử văn hóa - lễ hội truyền thống 56 

2.2.2.Thực trạng quản lý các dịch vụ văn hóa 65 

2.2.2.1.Quản lý kinh doanh dịch vụ Karaoke 65 

2.2.2.2 Quản lý dịch vụ băng đĩa hình, đĩa nhạc 67 

2.2.2.3.Quản lý dịch vụ Internet 74 

2.2.3.Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở 78 

2.3.Nhận xét đánh giá 92 

2.3.1.Ưu điềm 92 

Tiểu kết ch ương 2 99 

Ch ương 3 104 

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ N ƯỚC 104 

Trang 4

VỀ VĂN HÓA Ở THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ 104 

3.1 Những quan điểm của Đảng về định hướng phát triển văn hóa nước ta trong thời kỳ mới 104 

3.2 Phương hướng, nhiệm vụ về phát triển và quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa ở thành phố Rạch Giá 108  

3.2.1 Phương hướng 109 

3.2.2 Nhiệm vụ 113 

3.3.Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa ở Rạch Giá 115  

3.3.1 Giải pháp chung 116 

3.4.Một số kiến nghị 125  

3.4.1.Với Đảng, Nhà nước 125 

3.4.2 Đối với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch 126 

3.4.3 Với Ủy ban nhân dân Thành phố 126 

Tiểu kết ch ương 3 127 

KẾT LUẬN 128 

128 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133 

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LSVH Lịch sử Văn hóa

VHTTDL Văn hóa Thể thao Du lịch

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 – Tính cấp thiết của đề tài

Sự nghiệp đổi mới của đất nước đang diễn ra trong bối cảnh hội nhập, giao lưu quốc tế về nhiều phương diện, mà cốt lõi của sự phát triển chính là giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và văn hoá xã hội Điều đó liên quan đến lĩnh vực quản lý văn hoá nói chung và quản lý văn hoá

ở cấp cơ sở nói riêng

Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, có định hướng đã và đang diễn ra trong hơn hai thập kỷ qua Hơn hai mươi năm đổi mới, chúng ta đạt được những thành tựu trên nhiều lĩnh vực, nhưng thành tựu đạt được trên lĩnh vực phát triển văn hoá xã hội còn chưa tương xứng, chưa vững chắc Đặc biệt hiện tượng suy thoái nghiêm trọng về phẩm chất, đạo đức, lối sống xảy ra ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và cả trong nhân dân Chính điều đó đã làm giảm sút lòng tin, uy tín và sức sáng tạo của nhân dân Văn hoá chưa thực sự là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trong đó có nguyên nhân nhận thức chưa đúng về vai trò của văn hoá đối với

sự phát triển kinh tế-xã hội, phát triển con người, đặc biệt là sự yếu kém trong lãnh đạo, quản lý văn hoá Nghị quyết của Đảng chỉ ra:

Trong lãnh đạo và quản lý có những biểu hiện buông lỏng, né tránh, hữu khuynh Trong hoạt động kinh tế chưa chú ý đến các yếu tố văn hoá, các yêu cầu phát triển văn hoá tương ứng Mức đầu tư ngân sách cho văn hoá còn thấp Chính sách đào tạo bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ làm công tác văn hoá còn nhiều bất hợp lý Những lệch

Trang 7

lạc và việc làm sai trái trong văn hoá- văn nghệ chưa được kịp thời phát hiện, việc xử lý bị buông trôi, hoặc có khi lại dùng những biện pháp hành chính không thích hợp… [8, tr.9]

Quản lý hoạt động văn hoá đang là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế văn hoá xã hội của nước ta hiện nay Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hoá bao giờ cũng thể hiện tập trung cuộc đấu tranh về chính trị tư tưởng và kinh tế Cho nên hoạt động văn hoá càng đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ, có hiệu quả của nhà nước

Rạch Giá là thành phố trực thuộc tỉnh Kiên Giang, mới được nâng cấp từ thị xã lên thành phố theo Nghị định số 97/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm

2005 của chính phủ Thành phố gồm 12 đơn vị hành chính sự nghiệp, là một trong những đô thị trọng điểm tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Rạch Giá là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Kiên Giang là nơi có cư dân đông đúc bao gồm nhiều dân tộc Kinh, Hoa, Khmer cùng sinh sống Đời sống kinh tế của cư dân nơi đây gắn với các loại nghề nghiệp khác nhau như: Công nhân làm việc trong các khu công nghiệp, thương nhân ở các khu thương mại, học sinh, sinh viên của các trường học, cư dân ở khu đô thị mới lấn biển Chính vì vậy mà phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của thành phố đòi hỏi phải có bước tiến mới Thời gian qua, công tác quản lý văn hoá dù có nhiều bước đột phá quan trọng, đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng

so với yêu cầu phát triển của thành phố, tỉnh vẫn còn bất cập, trong đó còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải khắc phục để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

Lĩnh vực hoạt động dịch vụ văn hóa ở Rạch Giá thời gian qua còn tồn tại một số vấn đề cần quan tâm như: nội dung thiếu hấp dẫn, hình thức manh mún, chắp vá, chưa hình thành các trung tâm, các tụ điểm văn hóa tương

Trang 8

xứng với nhu cầu và thị hiếu của dân chúng, trên thị trường dịch vụ văn hóa cũng có những biểu hiện không lành mạnh, mục đích kinh tế trong hoạt động dịch vụ văn hóa đôi khi lấn át các mục tiêu khác, công tác quản lý cũng chồng chéo… Hoạt động quản lý Nhà nước về văn hóa bộc lộ hạn chế trên một số mặt như: các văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, chưa tạo lập được một hành lang pháp lý để vừa đảm bảo nguyên tắc định hướng, vừa tạo môi trường thông thoáng cho sự “bung ra” và cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động dịch vụ văn hóa trên địa bàn thành phố Tổ chức bộ máy quản lý

về văn hóa thông tin từ thành phố đến cơ sở cũng nhiều bất cập, chưa có sự phân công trách nhiệm rành mạch Cán bộ làm công tác văn hóa chưa được đào tạo một cách có bài bản, lại thiếu kinh nghiệm Chế độ chính sách đối với cán bộ làm công tác văn hóa chưa được quan tâm thoả đáng

Chính vì vậy việc phát huy vai trò của văn hoá đối với phát triển kinh

tế-xã hội và đổi mới nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về văn hoá ở thành phố Rạch Giá đang là vấn đề bức thiết Đây chính là lý do mà tôi chọn đề tài:

“Quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố Rạch Giá trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ - chuyên ngành Quản lý văn hoá

Những kết quả đạt được ở trong luận văn này sẽ góp phần nâng cao nhận thức

và năng lực trong hoạt động thực tiễn của bản thân

2 Tình hình nghiên cứu ĐỀ TÀI

Công tác quản lý Nhà nước về văn hoá đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm nay Nhìn từ góc độ quản lý có một số công trình tiêu biểu của các tác giả :

- Hoàng Sơn Cường, (1998), Tập bài giảng, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội,

- Phạm Xuân Nam (1996), Văn hoá và kinh doanh, Nxb KHXH, Hà Nội

- Phan Văn Tú, (1994), Cơ sở lý luận của quản lý văn hoá, Nxb Văn

Trang 9

hoá Thông tin, Hà Nội

- Trường Cán bộ quản lý thông tin (1999), Tập bài giảng bồi dưỡng

kiến thức quản lý ngành văn hoá thông tin

- Nguyễn Danh Ngà (1997), Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp công

ích ngành văn hoá thông tin trong nền kinh tế-thị trường ở Việt Nam, Nxb

Văn hoá Thông tin

- GS Hoàng Vinh, trong công trình “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn

xây dựng văn hoá ở nước ta hiện nay” Tác giả đã bàn đến thể chế văn hoá

với tư cách là công cụ cần thiết để quản lý trên lĩnh vực văn hoá

Những công trình nghiên cứu trên đây được xem là những tài liệu tham khảo chính cho nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý văn hóa, quản lý các hoạt động văn hóa Bước đầu đã làm rõ những vấn đề cơ bản về phương diện lý luận của công tác quản lý văn hoá như: Mối quan hệ giữa văn hoá và kinh tế,

về quản lý các hoạt động văn hoá, chính sách quản lý hoạt động văn hoá, nội dung quản lý hoạt động văn hoá, quản lý xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở

hiện nay

Các công trình nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn cao học viết về vấn đề quản lý hoạt động văn hoá của các tác giả sau:

- T hạc sĩ Tô Văn Thanh (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ

Chí Minh) với đề tài “Đổi mới hoạt động văn hoá thông tin ở quận ba Thành

phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá”” Với 209

trang tác giả đã tập trung nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động văn hóa ở Quận 3 thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu Những hoạt động

Trang 10

văn hóa thông tin ở Quận 3 đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới là những thông tin trong công trình nghiên cứu này

- Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hiền với đề tài “Quản lý nhà nước về văn hoá

trên địa bàn quận Đống Đa- Hà Nội trong thời kỳ đổi mới hiện nay”.” Với

112 trang, tác giả đã tập trung khảo sát, đánh giá về thực trạng quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn quận Đống Đa từ năm (2001-2005) và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý văn hoá trên địa bàn Quận trong thời gian tới

- Thạc sĩ Nguyễn Công Lý (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ

Chí Minh) với đề tài “Một số vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động văn

hoá trong tình hình hiện nay” Tác giả đã nghiên cứu sâu trường hợp quản lý văn hóa ở tỉnh Đồng Tháp để làm rõ những mục tiêu cơ bản của công trình đạt ra , Hà nội in ấn và phát hành.), , in ấn và phát hành, tỉnh Kiên Giang

Xi nghiệp in Hồ Văn Tẩu., Xi nghiệp in Hồ Văn Tẩu

- Ban tuyên giáo thị xã ủy (1992), Rạch Giá quê ta, Xi nghiệp in Hồ Văn Tẩu ,NXb Tp- HCM Thành phố Hồ Chí Minh

- Nghị quyết Về quy hoạch mở rộng và nâng cấp thành phố Rạch Giá đến năm

2020, (2005), ngày 16/7 của Ban thường vụ thành phố Rạch Giá

Khi tiếp cận với các công trình nghiên cứu khoa học và các đề tài luận văn trên, người viết nhận thấy rằng: Kết quả nghiên cứu của các công trình trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng và hoàn thiện thể chế quản lý trên lĩnh vực văn hoá ở nước ta hiện nay, trong đó có vấn đề quản lý nhà nước về văn hoá ở cấp cơ sở Nội dung mà các công trình trên đề cập đã

góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận và thực tiễn của quản lý nhà

Trang 11

nước trên lĩnh vực văn hoá nói chung Đặc biệt là một số lĩnh vực cụ thể Điều đáng quan tâm hơn là một số luận văn bước đầu đã nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về văn hoá cấp cơ sở ở một số địa phương như tỉnh Đồng Tháp, Quận Đống Đa, Quận ba (Tp Hồ Chí Minh) v.v.v Những công trình nghiên cứu trong khuôn khổ một luận văn với nội dung về quản lý nhà nước về văn hóa đã là những tài liệu tham khảo cho tác giả luận văn vận dụng vào nghiên cứu và giải quyết những mục tiêu cơ bản của đề tài

Những tài liệu viết về tỉnh Kiên Giang nói chung và các báo cáo tổng kết hàng năm của phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTTDL) thành phố Rạch Giá đã giúp nhiều cho tác giả trong việc kế thừa và giải quyết các nhiệm

vụ cụ thể của luận văn

Như vậy cho tới nay chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về văn hoá một cách toàn diện đầy đủ trong bối cảnh đất nước đang

hội nhập phát triển

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở khảo sát, đánh giá về thực trạng quản lý nhà nước về văn hoá ở Thành phố Rạch Giá hiện nay, luận văn trong hoạt động quản lý văn hóa đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản

lý văn hoá ở Thành phố Rạch Giá trong thời gian tới

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyêt của quản lý nhà nước về văn hóa P

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về một số lĩnh vực

văn hóa văn hóa ở địa bàn Thành phố Rạch Giá

Phạm vi nghiên cứu: Quản lý hoạt động văn hóa ở thành phố Rạch Giá

bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động văn hóa khác nhau và tác động trên quy mô rộng khắp các phường trên địa bàn Trong luận văn này tôi xin hạn chế nghiên

Trang 12

cứu ở một số lĩnh vực chủ yếu là:.về cơ chế tổ chức và chức quản lý văn hóa

từ cấp thành phố đến các xã, phường trọng điểm ở một số lĩnh vực như quản

lý hoạt động dịch vụ văn hóa, quản lý di tích và lễ hội truyền thống, xây dựng

đời sống văn hóa cơ sở trong giai đoạn hiện nay

Phạm vi về thời gian Thực trạng công tác quản lý văn hoá ở thành phố

Rạch Giá từ năm 2005 đến nay (Từ khi Rạch Giá có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nâng cấp lên thành phố trực thuộc tỉnh Kiên Giang.)

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau như sau:

+ phương pháp lôgích và lịch sử

+ phương pháp phân tích và tổng hợp

+ phương pháp quan sát

+ phương pháp t

hống kê và phương pháp so 6 Đóng góp của luận văn

- Bước đầu luận văn hệ thống hóa và khái quát hóa những vấn đề lý luận chung về quản lý, quản lý hoạt động văn hóa

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý văn hóa ở Thành phố Rạch Giá

Giang.7 Kết cấu của luận văn

Trang 13

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của Quản lý Nhà nước về văn hóa và tổng quan

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA,

TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

1.1.Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về Văn hóa

1.1.1.Nghiên cứu một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là hoạt động có mục đích của chủ thể tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhất định thông qua các nguyên tắc, các hình thức, các phương pháp quản lý phù hợp

Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định trên những quy luật khách quan Do tính chất xã hội của lao động, con người mà quản lý tồn tại trong mọi xã hội ở bất kỳ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào Lao động của con người luôn luôn là lao động có quan hệ giao tiếp với người khác, tập thể khác trong quá trình lao động Vì vậy, cần có sự quản lý

để duy trì tính tổ chức, sự phân cộng lao động, các mối quan hệ giữa những người trong một tổ chức xã hội và giữa các tổ chức xã hội trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá trình xã hội, nhằm đạt mục tiêu nhất định

Quản lý là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên hay xã hội Đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên hay kỹ thuật…Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ, của con người và được

Trang 15

thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt Mục đích, nội dung và phương pháp quản lý xã hội tuỳ thuộc vào chế độ chính trị xã hội

1.1.2.2 Khái niệm quản lý Nhà nước

Quản lý Nhà nước là sự tác động, tổ chức, điều chỉnh mang tính quyền lực Nhà nước, thông qua hoạt động của bộ máy Nhà nước, bằng phương tiện, công cụ, cách thức tác động của Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội theo đường lối, quan điểm của Đảng cầm quyền

Quản lý Nhà nước được hiểu theo cả nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng: quản lý Nhà nước là hoạt động tổ chức điều hành của bộ máy Nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp, và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý Nhà nước ở nước ta được đặt trong cơ chế “ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản

lý và nhân dân lao động làm chủ” Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước chủ yếu

là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý Nhà nước Các cơ quan Nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tổ chức hành chính Nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình

Quản lý Nhà nước có các đặc điểm cơ bản :

- Quản lý Nhà nước luôn luôn mang tính quyền lực Nhà nước, tính tổ chức chặt chẽ Đặc điểm pháp lý của quan hệ quản lý là sự không bình đẳng giữa các bên trong quan hệ quản lý, chính vì vậy trong quản lý Nhà nước mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý luôn luôn mang tính đơn phương một chiều, bắt buộc thực hiện và khi cần các chủ thể quản lý có thể áp dụng các biện

Trang 16

pháp cưỡng chế thi hành Mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý phải được chấp hành nghiêm túc, triệt để, xác định rõ trách nhiệm pháp lý và xử lý nghiêm minh nếu thực hiện không nghiêm túc

- Quản lý Nhà nước là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và kế hoạch để thực hiện mục tiêu Đặc điểm này đòi hỏi các cơ quan Nhà nước phải xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình nhằm đạt các mục tiêu đã xác định trên cơ sở chiến lược, kế hoạch của cấp trên và đường lối, chính sách của Đảng

- Quản lý Nhà nước là hoạt động dựa trên những quy định chặt chẽ của pháp luật, đồng thời là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực tiễn điều hành, quản lý Trên cơ sở những quy định của pháp luật, mục tiêu, định hướng, kế hoạch của cấp trên và đường lối, chính sách của Đảng

- Trên cơ sở những quy định của pháp luật và mục tiêu, định hướng, kế hoạch

đã được xác định cơ quan quản lý các cấp phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình trong quản lý, điều hành, nhằm động viên được mọi tiềm năng của các nguồn lực nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện có hiệu lực, hiệu quả chức năng nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật, đúng thẩm quyền đã được phân công, phân cấp, bảo đảm nguyên tắc tập trung, dân chủ, trách nhiệm quản lý theo ngành và lãnh thổ

- Quản lý Nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ trong hoạt động thể hiện tinh thần tôn trọng nhân dân, biết lắng nghe tiếp thu ý kiến của nhân dân

1.1.1.3 Quản lý nhà nước về văn hóa

Trang 17

Trong đời sống của xã hội đương đại, từ văn hoá được sử dụng trong rất nhiều ngữ cảnh khác nhau, nó tự nhiên trở thành đa nghĩa Đã có rất nhiều định nghĩa về văn hoá nhưng cho đến nay mọi định nghĩa về văn hoá kể cả những định nghĩa uyên bác và thông tuệ nhất cũng đều chưa làm thoả mãn người đọc Bởi thế, những định nghĩa văn hoá hiện đang được sử dụng trên thực tế cũng vẫn chỉ là những định nghĩa có tính chất quy ước nhằm đi tới một khái niệm thoả thuận để tiện sử dụng, do vậy định nghĩa văn hoá vẫn cần phải được tiếp tục nghiên cứu Nhưng có một số điểm chung mà mọi người đều thừa nhận: văn hoá là phương thức tồn tại đặc hữu của loài người, khác nhau về cơ bản với tổ chức đời sống các quần thể sinh vật trên trái đất Nó là cái do con người học được mà có, chứ không phải là cái bẩm sinh do di truyền sinh học

Thuật ngữ “văn hoá” theo tiếng Latinh có nghĩa là cày cấy, vun trồng và gắn với hoạt động nông nghiệp cổ xưa Nội dung của khái niệm văn hoá theo thời gian dần được mở rộng, phát triển thành ý nghĩa vun trồng, vun đắp hoạt động tinh thần của con người

Để giải thích khái niệm văn hoá, các nhà văn hoá học phương Tây ngày nay thường chia ra 2 trường hợp:

- Văn hoá viết hoa, số ít (Culture) được chỉ định là một số thuộc tính chỉ có ở loài người Nó là cái dùng để phân biệt giữa loài người và loài vật Đó là khả năng tư duy, học hỏi, thích ứng và sáng tạo ra những quan niệm, biểu tượng giá trị, làm cơ sở cho hệ thống ứng xử, để loài người có thể tồn tại và phát triển

- Văn hoá không viết hoa, số nhiều (Cultures) chỉ những nền văn hoá khác nhau, tức là những lối sống của các thể cộng đồng người, biểu hiện trong những quan niệm về giá trị, trong hệ thống các hành vi ứng xử, mà các cộng

Trang 18

đồng người ấy đã học hỏi được và sáng tạo ra trong hoạt động sống của họ

Đó còn là những truyền thống của cộng đồng, hình thành nên trong các điều kiện xã hội- lịch sử nhất định

Văn hoá không phải là một thực thể tồn tại tự nó, tồn tại bên ngoài đời sống con người và xã hội, văn hoá là hoạt động của con người, chứa đựng các tri thức và kinh nghiệm nhằm tôn vinh, phát triển con người và làm cho xã hội

có tính người Con người từ khi mới sinh đã phải tiếp nhận ảnh hưởng của môi trường tồn tại (thế giới vật chất, tinh thần, thể chế Nhà nước, pháp luật, tín ngưỡng tôn giáo…) Tất cả tạo thành môi trường văn hoá đã chuẩn bị sẵn

để con người tồn tại và phát triển

Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu mácxít: Văn hoá là một lĩnh vực của đời sống xã hội thể hiện trình độ phát triển, năng lực, bản chất của con người mà cốt lõi là lao động, sáng tạo và tư duy trong việc cải tạo, chinh phục tự nhiên, cải tạo xây dựng xã hội, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người theo hướng vươn tới những cái đúng, cái tốt, cái đẹp Những lực lượng bản chất người đó phải được đối tượng hoá, khái quát hoá, chuẩn mực hoá thành toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần dưới dạng quá trình và dưới dạng trạng thái mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử

Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định, cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, nền văn hoá Việt Nam đã hình thành và phát triển Bằng lao động sáng tạo và ý chí bền bỉ, kiên cường, nhân dân ta đã xây dựng nên một nền văn hoá kết tinh sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc dân tộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Văn hoá Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước Nhờ nền tảng

và sức mạnh văn hoá mà nhiều thời kỳ bị đô hộ, dân tộc ta vẫn cố giữ vững và

Trang 19

phát huy bản sắc của mình, chẳng những không bị đồng hoá mà còn quật cường đứng dậy, giành độc lập, lấy sức ta giải phóng cho ta

Trong lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988- 1997) Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá Ông cho rằng:

“ Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của cá nhân

và cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định, đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [34, tr 11]

Theo quan niệm của UNESCO: Văn hoá là những gì đặc sắc, tiêu biểu nhất của cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận như là những cái có giá trị nhất

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về văn hoá:

“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Văn hoá là toàn bộ những phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [ 25, tr 431]

Nói văn hoá là nói tới con người, nói tới việc phát hiện những năng lực, bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội Do đó, khái niệm văn hoá chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản Cơ sở của mọi hoạt động văn hoá là khát vọng hướng tới cái chân, thiện, mỹ Có thể coi đó là

ba trụ cột vĩnh hằng của văn hoá

Trang 20

Như vậy, văn hoá là một khái niệm rất rộng liên quan đến toàn bộ hoạt động sống của cá nhân và cộng đồng, bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hoá là kết quả của lao động, sáng tạo của con người nhằm tạo ra một “ thiên nhiên thứ hai”, thiên nhiên này mang tính nhân văn sâu sắc góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội loài người Văn hoá là sự phát huy các năng lực bản chất của con người, là sự thể hiện đầy đủ chất con người, nên văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội hay cách ứng xử, giao tiếp của con người Bản chất cốt lõi của văn hoá là sự sáng tạo của con người nhằm vươn tới các giá trị nhân văn và đem đến hạnh phúc cho con người

Và hoạt động văn hoá được hiểu là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ và khả năng sáng tạo ra chân, thiện, mỹ trong cuộc sống Với ý nghĩa đó, văn hoá còn bao gồm các hoạt động về giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật, đạo đức, lối sống…

Trên thực tế, người ta chia văn hoá thành văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần Sự phân chia này cũng là cần thiết để có cái nhìn toàn diện hơn đối với các sản phẩm văn hoá Nếu văn hoá vật chất là các giá trị văn hoá hướng tới việc đáp ứng nhu cầu vật chất thì văn hoá tinh thần là các giá trị hướng tới việc đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người Tuy nhiên, việc phân chia này

có ý nghĩa tương đối bởi vì sự sáng tạo tinh thần của con người thường có mặt

ở tất cả các giá trị vật chất và sản phẩm vật chất do con người sáng tạo ra bao giờ cũng để lại những dấu ấn tinh thần của chủ thể sáng tạo ra nó

Ngoài ra, giới nghiên cứu và quản lý văn hoá gần đây còn phân loại văn hoá thành văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể Văn hoá vật thể là các sản phẩm hiện tượng văn hoá có giá trị văn hoá, lịch sử, khoa học tồn tại ở dạng

Trang 21

vật thể hữu hình như các công trình kiến trúc, các di tích lịch sử văn hoá, các khu khảo cổ học…Văn hoá phi vật thể là các sản phẩm văn hoá tồn tại dưới dạng phi vật thể gồm các quan niệm về giá trị và chuẩn mực thể hiện trong ngôn ngữ, trong các biểu tượng văn hoá, trong lối sống, phong tục, tập quán,

tín ngưỡng tôn giáo, trong các sinh hoạt văn hoá dân gian…

*Quản lý Nhà nước về văn hóa

Văn hóa là bộ phận hữu cơ trong toàn bộ hoạt động của một chế độ xã hội Trong chế độ xã hội có tổ chức, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường bộ phận hoạt động này ngày càng cần được quản lý và định hướng phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Chính vì vậy bất kỳ hoạt động văn hóa nào cũng cần có sự quản lý của nhà nước, phải xác định rõ đối tượng thuộc phạm vi văn hóa mà nhà nước cần phải quản lý Đó là đời sống văn hóa và hoạt động văn hóa Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc quản lý các công trình văn hóa và những cơ sở trực tiếp phục vụ nhu cầu văn hóa của nhân dân Nhà nước là người đại diện cho nhân dân đảm bảo các quyền có trong hiến pháp của công dân về văn hóa, điều tiết sự hài hòa của cơ cấu văn hóa, lợi ích văn hóa của các nhóm xã hội, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa của xã hội

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác quản lý văn hoá Tư tưởng chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc được thể hiện

cụ thể từ trong bản “Đề cương văn hoá Việt Nam” (1943) của Đảng cộng sản Đông Dương Đảng ta coi văn hoá là một trong ba mặt trận quan trọng mà Đảng phải nắm lấy (kinh tế, chính trị, văn hoá) Và ba phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng trở thành kim chỉ nam cho việc xây dựng nền văn hoá mới Vai trò quan trọng của văn hoá trong sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc được chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong bài phát biểu của Người tại Hội

Trang 22

nghị văn hoá toàn quốc lần thứ I (1946) với câu nói nổi tiếng mà đến nay đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình hoạt động của ngành văn hoá thể thao và du lịch : “Văn hoá soi đường cho quốc dân đi”

Trong Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII Đảng ta đã xác định những quan điểm chỉ đạo có tính chất chiến lược nhằm xây dựng nền văn hoá Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh

tế quốc tế, coi phát triển văn hoá như một động lực quan trọng của quá trình phát triển và đổi mới, một đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước

Văn hóa thuộc về nhân dân, mọi người dân đều có quyền hưởng thụ văn hóa và có nghĩa vụ đóng góp bảo vệ nền văn hóa dân tộc Trong việc quản lý văn hóa, ngoài hình thức nhà nước ra, cần thực hiện các hình thức tự quản của nhân dân trong việc bảo vệ và phát triển văn hóa, đảm bảo được tính

đa dạng của văn hóa và đáp ứng được nhu cầu văn hóa của nhân dân Khuyến khích các khuynh hướng lành mạnh trong văn hóa phát triển, tạo được thế chủ đạo cho những khuynh hướng theo đường lối của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Cần xây dựng một cơ chế quản lý văn hóa trên nguyên tắc chặt chẽ nhưng lại rộng rãi, không gò bó, đảm bảo quyền tự do, dân chủ cho nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ văn hóa

Hiện nay trong cơ chế thị trường quản lý văn hóa là vấn đề cần được nghiên cứu chu đáo, không cầu toàn cũng không thể tùy tiện Bởi lẽ quản lý Nhà nước về văn hóa là thể hiện quyền lực của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa Quyền lực đó bao gồm: định hướng hoạt động văn hóa, xây dựng hành lang pháp lý, quản lý các tổ chức, điều hành các thiết chế, các tổ chức văn hóa hoạt động theo chương trình, kế hoạch quốc gia, xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa, tổ chức thanh kiểm tra, đầu tư tài chính cho văn hóa

Trang 23

Quản lý Nhà nước về văn hóa nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Quản lý Nhà nước về văn hóa là quá trình tác động có mục tiêu của các

cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa đối với các hoạt động văn hóa trong xã hội nhằm thực hiện những nhiệm vụ nhất định Bản chất của quản lý văn hóa

là sự khẳng định quyền lực của Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa nhằm khơi dậy, hướng dẫn và tổ chức các hoạt động văn hóa Quản lý văn hóa là sự lãnh đạo, điều hành những cơ sở hoạt động văn hóa được xã hội phân công trong hệ thống Nhà nước hoặc trong các doanh nghiệp hoạt động văn hóa Quản lý văn hóa cũng là việc lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra các thiết chế văn hóa của cả phạm vi lợi nhuận và phi lợi nhuận, cũng là sự liên kết các nhiệm vụ chiến lược và nhiệm vụ trước mắt, tạo

ra sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị để đạt hiệu quả cao về văn hóa Công tác quản lý văn hóa của Nhà nước được thực hiện thông qua các chế định pháp luật Vì thế, quản lý văn hóa là một đòi hỏi khách quan nhằm đảm bảo tính mục tiêu, tính hướng dẫn và chỉ đạo của hệ thống chính trị nhằm xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa theo định hướng chính trị nhất định Mục tiêu của quản lý Nhà nước về văn hóa là tạo ra các điều kiện trong không gian hoạt động văn hóa có tính tổ chức, tính kinh tế, tính pháp lý, tính

xã hội, tính giao tiếp và tính công nghệ cho sự xuất hiện và phát triển của văn hóa; thông qua việc giảm thiểu và giải quyết khó khăn về vật chất và tài chính tạo điều kiện cho các ngành văn hóa nghệ thuật dồn sức cho sáng tạo văn hóa Đồng thời quản lý văn hóa nhằm hướng tới xây dựng con người và môi trường văn hóa tinh thần lành mạnh tạo động lực cho phát triển kinh tế- xã hội

Trang 24

Quản lý Nhà nước về văn hoá phải chú trọng đến khía cạnh kinh tế trong văn hoá và văn hoá trong kinh tế Cần phân biệt rõ chức năng quản lý Nhà nước về văn hoá của các cơ quan quản lý với các hoạt động của các doanh nghiệp trên lĩnh vực văn hoá Nhà nước phải tạo lập hành lang pháp lý thông thoáng, vừa đảm bảo định hướng chính trị đúng đắn để các chủ thể phát huy hết vai trò sáng tạo, tích cực đóng góp vào việc phát triển văn hoá dân tộc trong đó có các thành phần kinh tế khác tham gia

Căn cứ vào các đạo luật và các văn bản pháp quy đã ban hành, có 12 lĩnh vực hoạt động văn hoá cần được quản lý như sau:

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực báo chí, xuất bản, Internet, quảng cáo

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực điện ảnh

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực thư viện, bảo tồn, bảo tàng

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hoá thông tin cơ sở

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hoá các dân tộc thiểu số

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực quyền tác giả, nhuận bút

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực xuất nhập khẩu văn hoá phẩm

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực tổ chức bộ máy quản lý văn hoá

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực đào tạo

+ Các hoạt động thuộc lĩnh vực thanh tra

Đối với ngành văn hoá thông tin ở nước ta hiện nay, hoạt động quản lý

văn hoá được tiến hành căn cứ vào các mảng cơ bản như: các lĩnh vực thuộc

tổ chức bộ máy quản lý văn hoá, quản lý Nhà nước về văn học nghệ thuật, về văn hoá thông tin, về văn hoá xã hội, di sản văn hoá, xuất nhập khẩu văn hoá,

Trang 25

công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý công tác đào tạo (sự phân chia này chỉ

mang tính tương đối)

1.1.2 Nội dung chủ yếu quản lý nhà nước về văn hóa

Quản lý văn hoá là quản lý toàn bộ nền văn hoá từ vĩ mô tới vi mô Quản lý đảm bảo cơ bản trên bình diện tổng thể các chuẩn mực pháp lý và đạo lý, xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật và thiết chế văn hoá, tạo môi trường lành mạnh trong quá trình sáng tạo, lưu giữ, bảo quản, dịch vụ, truyền

bá, tiếp nhận và thưởng thức, đánh giá các quá trình văn hoá

Nội dung quản lý nhà nước về văn hoá ở nước ta tập trung vào các vấn

Chính sách cho văn hóa không thể thay thế luật pháp trong quản lý Quản

lý theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại kỷ cương trong tình hình văn hóa - xã hội hiện đang có nhiều bất cập như ở nước ta hiện nay Mở của hội nhập quốc tế cùng với ứng dụng rộng rãi thành tựu của công nghệ thông tin đang là cơ hội cho sự phát triển đất nước nhưng nó cũng đồng thời

là mối đe dọa đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

+ Ban hành và thực thi hệ thống các chính sách về văn hóa

Chính sách văn hóa là sự thể chế hóa các quan điểm của Nhà nước, giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động văn hóa, tác động lên các cộng đồng văn hóa, cộng đồng dân cư nhằm thực hiện các mục tiêu, phương

Trang 26

hướng phát triển văn hóa, giữ vững và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại

Như vây chủ thể của chính sách văn hóa là Nhà nước, đối tượng của chính sách văn hóa là ba nhóm cộng đồng:

- Cộng đồng văn hóa: các văn nghệ sỹ, nghệ nhân, nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà hoạt động văn hóa, nhà sáng tác nghệ thuật, người làm phim, nhà xuất bản

- Cộng đồng công chúng: công dân, tập thể, công chúng thực hiện và công chúng tiềm năng

- Cộng đồng chính trị: các cơ quan Đảng, cơ quan chính quyền ở Trung ương và địa phương

Chính sách văn hóa cần tới sự tăng cường hợp tác với các cơ quan công quyền ở mọi cấp, đặc biệt là cơ quan địa phương Các tổ chức tư nhân và xã hội vạch kế hoạch hành động để thực hiện các chương trình, dự án văn hóa tạo điều kiện phát huy sáng kiến, khát vọng, nhu cầu văn hóa của đông đảo quần chúng, chú trọng tới những người nghèo, chống tệ nạn xã hội

Ở cấp độ thực thi chính sách, nhà quản lý cần quan tâm đến loại mục tiêu định lượng, có thể tổng khái quát những mục tiêu định lượng mà trong chính sách văn hóa thường đề cập với những mức độ khác nhau

+ Đầu tư tài chính cho văn hóa

Đầu tư tài chính cho văn hóa là đầu tư cho phát triển cho nên chúng ta cần lưu ý một số vấn đề sau:

Ở tất cả các nước, bất luận giàu hay nghèo, có chế độ khác nhau thì các chính sách về văn hóa đều có một hình thức thể chế hóa với những ảnh hưởng

cụ thể trong việc cấp ngân sách cho văn hóa Duy chỉ có sự khác nhau giữa

Trang 27

các nước ở chỗ: phương thức đầu tư cho văn hóa, đối tượng văn hóa được đầu tư,cơ cấu tỷ lệ đầu tư cho văn hóa Những lựa chọn đó có thích hợp, tối ưu hay không, tất cả đều trực tiếp liên quan đến tốc độ, hiệu quả của việc thực hiện mục tiêu đã định về phát triển văn hóa

với quan niệm “ Nhà nước đầu tư cho Bộ, ngành mang tên văn hóa” Người ta nói đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho xây dựng con người cho nên trong quan niệm “ nhà nước đầu tư ngân sách cho văn hóa” có nghĩa là đầu tư cho tất cả mọi lĩnh vực trong các Bộ, ngành, hiệp hội có hoạt động văn hóa

Nguồn đầu tư kinh phí cho văn hóa được triển khai theo hướng: tạo nguồn đầu tư từ phía Nhà nước, từ các tổ chức kinh tế xã hội và tư nhân Đồng thời, văn hóa cũng là lĩnh vực làm ra lợi nhuận- nguồn đầu tư cho văn hóa bằng chính bản thân văn hóa

Quan điểm bao cấp toàn bộ cho văn hóa cũng như quan điểm “thả nổi” văn hóa cho thị trường đều có hại cho sự nghiệp văn hóa

Đầu tư cho văn hóa với tư cách là một hoạt động đầu tư cho sản xuất cũng cần tính đến hiệu quả của đầu tư Cấp ngân sách cho văn hóa cũng kèm theo những quy tắc như bất kỳ loại hoạt động tài chính nào khác Yêu cầu đặt

ra là phải đạt tới mục tiêu quốc gia đề ra

+Kiểm tra giám sát các hoạt động văn hóa thông tin

Cùng với việc tăng cường kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với các hoạt động văn hoá, là những nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước đối với văn hoá Đổi mới cơ chế, kiểm tra, giám sát hoạt động văn hoá và các dịch vụ văn hoá theo 3 hướng: hoàn thiện và bổ sung các văn bản pháp quy, kiện toàn đội ngũ cán bộ, tổ chức và sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước

Trang 28

cũng như các cơ quan sản xuất và cung ứng dịch vụ văn hoá, xác định vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước

Phương châm chỉ đạo đối với việc đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của các ngành văn hóa thông tin là phòng ngừa, ngăn chặn hơn là việc để sự việc xảy ra rồi mới xử lý

1.1.3.Các nguyên tắc, phương pháp, cơ cấu tổ chức hệ thống bộ máy quản

lý nhà nước về văn hóa

1.1.3.1.Các nguyên tắc quản lý văn hóa

- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ:

Nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động nhà nước trước hết phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước quản lý, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, thực hiện phương châm: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Đảng lãnh đạo là đề ra đường lối chính sách, chiến lược, xác định các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ và các giải pháp lớn để định hướng cho

sự phát triển của nền văn hóa thông qua các Nghị quyết của Đảng, thông qua công tác tư tưởng và công tác tổ chức của Đảng Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, thể chế hóa các quan điểm của Đảng thông qua hệ thống Hiến pháp, pháp luật, thông qua thể chế, thiết chế hoạt động quản lý Mặt khác phải phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị xã hội, các hội sáng tạo, các cộng đồng dân cư trong việc thực hiện các nhiệm vụ văn hóa

- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, chỉ

đạo mọi hoạt động của bộ máy nhà nước Yêu cầu của nguyên tắc này là: Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân, vì dân, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa Nhà nước phải nắm quyền thống nhất quản lý những vấn đề cơ bản đồng thời giao quyền và trách nhiệm cho địa phương Tập trung và dân chủ là một thể thống nhất không đối lập nhau, không hạn

Trang 29

chế nhau (tập trung trên tinh thần dân chủ) Thường xuyên khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, tự do vô chính phủ, phân tán, cục bộ, tùy tiện trong quản lý Các tổ chức xã hội mạng tính tự quản theo hình thức dân chủ trực tiếp, hoạt động theo khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Các tổ chức này là đại diện bảo vệ quyền lợi của nhân dân, của các nhóm xã hội khác nhau Các đoàn thể hoạt động tự quản, độc lập nhưng không đối lập với nhà nước, không mang tính quyền lực và không hành chính hóa các đoàn thể này

- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo địa phương và vùng

lãnh thổ: Nhà nước là một thể thống nhất, bộ máy nhà nước tổ chức hoạt

động theo các cấp hành chính nhà nước và thực hiện theo quy định: cấp dưới phục tùng cấp trên; địa phương phải phục tùng Trung ương Các đơn vị văn hóa ở địa phương vừa chịu sự quản lý của ngành, vừa phải chịu sự quản lý về lãnh thổ của địa phương Hệ thống hành chính được chia làm 4 cấp: Trung ương (Quốc hội, Chính phủ); tỉnh thành phố; quận huyện; xã, phường Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý theo ngành, theo lãnh thổ gắn bó với nhau, có trách nhiệm chung trong việc thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi của từng bên và hai bên theo luật định

- Nguyên tắc phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về văn hóa và

chức năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực văn hóa

Công tác quản lý nhà nước về văn hóa tập trung vào những nội dung chủ yếu như xác định chiến lược đầu tư cơ sở hạ tầng và khu vực trọng yếu của nền văn hóa, xây dựng hệ thống thiết chế và thể chế để hoạt động văn hóa Thể chế văn hóa là hệ thống luật pháp và các văn bản dưới luật Thiết chế là bộ máy tổ chức và nhân sự, cơ sở vật chất kỹ thuật để phát triển sự nghiệp văn hóa Các doanh nghiệp, hoạt động văn hóa theo cơ chế thị trường

và theo nguyên tắc quản lý kinh tế thị trường, phải chú ý tới tính đặc thù của

Trang 30

lĩnh vực văn hóa để điều tiết cụ thể, tránh đồng nhất quản lý kinh tế với quản

lý văn hóa

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: đòi hỏi mọi tổ chức, mọi cơ quan

quản lý và mọi cá nhân hoạt động trên lĩnh vực văn hóa phải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước để thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ và quyền lợi của mình

- Nguyên tắc công khai: nguyên tắc này đòi hỏi các tổ chức hoạt động

quản lý của nhà nước phải công khai cho nhân dân biết về chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý và các chế độ chính sách đối với nhân dân Các cơ quan giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải chú ý đến dư luận xã hội để kịp thời điều chỉnh các quyết định về quản lý cho phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội

1.1.3.2 Các phương pháp quản lý văn hóa :

Vì vậy phương pháp quản lý cũng sinh động và đa dạng, trong quá trình quản lý cần phải căn cứ vào mục tiêu để lựa chọn phương pháp và điều chỉnh phối hợp các phương pháp khác nhau để dạt hiệu quả cao

quy định dứt khoát mang tính quyền lực bắt buộc của nhà nước lên khách thể Trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu trong các tình huống Đặc điểm cơ bản của phương pháp hành chính trong quản lý văn hóa là tính nguyên tắc và tính quyền lực Nó đòi hỏi đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời Tính

Trang 31

quyền lực đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải sử dụng đúng và đày đủ quyền lực của mình trong các tác động hành chính gắn với thẩm quyền của mình Thực chất của phương pháp này là sử dụng quyền lực quản lý nhà nước để tạo ra

sự phục tùng của cá nhân và các tổ chức Vai trò của hành chính là tạo ra các kỷ cương của nhà nước và cộng đồng, trong quản lý văn hóa thì văn bản quản lý phải chính xác, khoa học, gắn với thẩm quyền của các cấp quy định

vực văn hóa đều tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật cạnh tranh, quy luật quản lý giá trị, quy luật cung cầu Tác động thông qua lợi ích kinh tế là tạo ra động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận

Để thực hiện mở rộng, áp dụng các phương pháp kinh tế vào quản lý van hóa, nhà nước càn phải hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ thị trường, phải phân cấp quản lý theo hướng

mở rộng quyền hạn cho cấp dưới, sử dụng phương pháp kinh tế trong quản lý văn hóa đòi hỏi cán bộ quản lý phải có năng lực trình độ nhiều mặt: kiến thức văn hóa, kinh tế, pháp luật cũng như đạo đức nghề nghiệp

- Phương pháp giáo dục: là cách thức tác động bằng tình cảm, nhận

thức của con người nằm nâng cao tính tự giác và tính tích cực của công dân trong thực hiện nhiệm vụ chung Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng quy luật tâm lý Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục làm cho con người nhận thức được phải trái, đúng sai từ đó nâng cao tính tích cực công dân của họ

Để thực hiện chức năng quản lý văn hóa, các chủ thể phải vận dụng tổng hợp các phương pháp và căn cứ vào điều kiện cụ thể để nhấn mạnh phương pháp này hay phương pháp khác

Trang 32

1.1.3.3 Cơ cấu tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa

Tổ chức bộ máy quản lý văn hóa là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối quan hệ phụ thuộc nhau, được bố trí thành từng cấp, từng khâu, thực hiện chức năng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã xác định

Cơ cấu tổ chức của ngành văn hóa được tổ chức theo các đơn vị hành chính

và thực hiện theo quy trình đi từ Trung ương đến địa phương theo sơ đồ sau:

Trang 33

CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Theo đó, Bộ VHTTDL là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật Riêng về lĩnh vực quảng cáo, Bộ VHTTDL thống nhất quản lý nhà nước về quảng cáo như việc cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép đặt chi nhánh của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo nước ngoài Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động quảng cáo trên các phương tiện (trừ báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm)

Về cơ cấu tổ chức, ngoài văn phòng, thanh tra và những vụ chuyên môn trực thuộc, Bộ VHTTDL còn gồm 7 Cục (Di sản văn hoá, Nghệ thuật biểu diễn, Điện ảnh, Bản quyền tác giả, Văn hoá cơ sở, Hợp tác quốc tế, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm); 2 Tổng cục (Thể dục thể thao và Du lịch) và một số Ban, Viện, Trung tâm khác

Để giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước Bộ VHTTDL

có 8 Vụ chức năng và 10 Cục, Vụ chuyên môn Ngoài ra còn các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ (trường học, viện nghiên cứu, nhà hát, thư viện, bảo tàng, triển lãm, báo, nhà văn hoá, trung tâm hướng dẫn nghiệp vụ ) và một

số doanh nghiệp văn hoá

Sở VHTTDL là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể thao du lịch

và quảng cáo ở địa phương, các dịch vụ công cộng thuộc lĩnh vực quản lý của

Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của ủy ban

Trang 34

nhân dân cấp Tỉnh và theo quy định của pháp luật Sở VHTTDL chịu sự chỉ đạo, quản lý tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ của Bộ VHTTDL Nhiệm vụ và quyền hạn của Sở VHTTDL là trình UBND tỉnh các

dự thảo quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm;

đề án, dự án, chương trình phát triển văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước, phân cấp quản lý và xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch ở địa phương Trình dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể tiêu chuẩn chức danh đối với Trưởng, Phó các

tổ chức, đơn vị trực thuộc Sở VHTTDL; Trưởng, Phó phòng VHTTDL thuộc UBND cấp huyện, thị sau khi phối hợp và thống nhất với Sở Thông tin và truyền thông Trình UBND cấp tỉnh dự thảo quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch UBND cấp tỉnh về văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và gia đình; trình dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, giữ thể các đơn

vị trực thuộc Sở VHTTDL và các Hội đồng chuyên ngành về văn hóa, gia đình thể dục thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, chính sách, quy hoạch,

kế hoạch, đề án, dự án chương trình sau khi được phê duyệt, thông tin tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về lĩnh vực thuộc phạm vị quản lý của Sở VHTTDL

Phòng VHTTDL là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh có chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp huyện, thị, thành phố về quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch trên địa bàn huyện, thị, thành phố Có nhiệm vụ trình Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị, thành phố ban hành quyết định, chỉ thị,

kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm, đề án, chương trình phát triển văn hóa,

Trang 35

gia đình, thể dục thể thao và du lịch, chương trình, biện pháp tổ chức cải cách hành chính, xã hội hóa hoạt động văn hóa trong lĩnh vực quản lý nhà nước được giao

Tuy nhiên, mối liên kết giữa các đơn vị trên cần có một quan hệ khác chi phối từ cơ quan chính quyền địa phương Luật tổ chức Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân tại Điều 54 đã quy định mối quan hệ “Song trùng lãnh đạo” của các cơ quan này: “ Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế của UBND cấp mình, đồng thời chịu

sự chỉ đạo về nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn cấp trên” Vì vậy có mô hình sau:

Chính phủ

UBND Tỉnh, Thành phố

UBND Huyện,

UBND Xã, Phường

1.2.Tổng quan về thành phố Rạch Giá

Bộ VHTT-DL

Sở VHTT-DL

Phòng VH -TT Huyện,thị

Ban VHTT xã,phường

Trang 36

1.2.1.Đặc điểm địa lý tự nhiên và lịch sử

R ch Giá là trung tâm chính tr , kinh t , v n hóa, xã h i c a t nh Kiên

giáp các huy n Tân Hi p, Châu Thành, phía Tây giáp v nh Thái Lan, phía

Thành và An Biên

Vị trí địa lý của thành phố Rạch Giá có tiềm năng lớn cho phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang, là cửa ngõ hướng ra biển Tây của tỉnh cũng như của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển, đảo và giao lưu với các nước trong khu vực và quốc tế với các ngành mũi nhọn như du lịch, thương mại, dịch vụ công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản…

Đơn vị hành chính: Rạch Giá có 11 phường và 1 Đơn vị hành chính

được chia thành 11 phường và 1 xã Phường , phường Vĩnh Thanh, phường Vĩnh Lạc, phường Vĩnh Bảo, phường Vĩnh Lợi, , phường An Hòa, phường

An Bình, phường Rạch Sỏi, phường Vĩnh Thông, phường Vĩnh Hiệp Xã Phi Thông Có 62 khu phố và 6 ấp, 1.171 tổ nhân dân tự quản So với năm 1999

về đơn vị hành chính đều tăng, cụ thể như sau: Phường tăng 4 đơn vị Khu phố, ấp tăng 19 đơn vị Tổ nhân dân tự quản tăng 264 tổ Dân số nông thôn chiếm 7%, dân số thành thị chiếm 93% Mật độ 2.045 người /km2 có 49.551

hộ, với 222.384 khẩu, gồm 3 dân tộc chính là: người Kinh chiếm 87,65%, Khmer chiếm 6,98%, Hoa chiếm 5.285, còn lại là các dân tộc khác

Tài nguyên đất: Với tổng diện tích đất tự nhiên là: 103,74km2, trong

đó: Nhóm đất nông nghiệp 55.697,49 ha chiếm 90,71% đất tự nhiên (riêng đất lúa 32.011,93 ha chiếm 61,49% đất nông nghiệp); nhóm đất phi nông nghiệp

Trang 37

24.238,38 ha, chiếm 8,39% diện tích tự nhiên Nhìn chung Rạch Giá phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Tài nguyên nước: Nguồn nước khá dồi dào, nhưng đến mùa mưa (từ

tháng 5 đến tháng 10) phần lớn nước mặt của thành phố đều bị nhiễm phèn mặn, do vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá Hệ thống kênh rạch chủ yếu để tiêu nước

về mùa lũ và giao thông đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô

Tài nguyên biển: Thành phố Rạch Giá có bờ biển dài 7km, biển lùi,

nước đục, giao thông thủy, bộ và hàng không rất thuận tiện, có cơ sở hạ tầng tốt, có cửa sông, nhiều kênh rạch đổ nước ra biển, tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cung cấp cho các loài hải sản cư trú và sinh sản Ngoài ra thành phố đã và đang thực hiện dự án đánh bắt xa bờ tại vùng biển Đông Nam bộ

+ Lịch sử thành phố Rạch Giá

Năm 1899, Pháp lập tỉnh Rạch Giá, gồm có 10 tổng.Về tên gọi Rạch Giá

có hai ý kiến giải thích: một ý kiến cho rằng tên gọi này do đọc chệnh từ tiếng Khmer Kra Muonsar (sáp trắng ) mà ra.Ý kiến khác thì cho rằng từ Rạch Giá có từ thời Gia Long vì vào thời ấy ở đây có rất nhiều cây giá mọc bên bờ rạch

Thời Pháp thuộc, Rạch Giá là hải cảng tấp nập, tàu buồm qua lại buôn bán với các nước trong khu vực Nhà cửa san sát ở hai bờ rạch Mãi đến năm 1879, vùng Rạch Giá còn trong vùng thám hiểm của Pháp, bản đồ chưa được xác định rõ ràng Việc cai trị ở thôn quê xa tỉnh lỵ chưa thành nền nếp Ngày 05-06-1871, Pháp tách vùng Cà Mau ra khỏi Rạch Giá Ngày 27-12-1892, Pháp tái lập hạt Rạch Giá

Trang 38

Ngày 18-12-1929, tòan quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thị

xã Rạch Giá, trên cơ sở cải biến khu đô thị Rạch Giá, trụ sở tại làng Vĩnh Thanh Vân dưới quyền một viên Thị trưởng và một hội đồng Thị xã

Ngày 16-01-1930, Pháp chia địa bàn thị xã Rạch Giá thành 5 khu vực

để đánh thuế Ngày 30-04-1934, Pháp nâng cấp thị xã lên thành phố và chia thành 3 khu phố.Sau năm 1956, thành phố Rạch Giá bị giải thể Ngày 20-11-1970, chính quyền Sài Gòn tái lập thị xã Rạch Giá, là tỉnh lỵ của Kiên Giang, trên cơ sở hai xã Vĩnh Thanh Vân và An Hòa của quận Kiên Thành, cách Hà Tiên 91 km, Sài Gòn 248km Dân số Rạch Giá năm 1965 là 306.401 người Ngày 07-06-1971, thị xã Rạch Giá có 6 khu phố là: Vĩnh Thanh Vân,Vĩnh Thanh,Vĩnh Lạc,Vĩnh Hiệp, An Hòa, Phó Cơ Điều

Sau 30-04-1975, thị xã Rạch Giá vẫn giữ vai trò là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Kiên Giang có 4 phường là: Vĩnh Thanh, Vĩnh Thanh Vân,Vĩnh lạc,

An Lạc và 6 xã là: Vĩnh Thông,Vĩnh Trung,Vĩnh Hiệp,Vĩnh Quang, An Hòa, Phi Thông Ngày 25-04-1988, thành lập thêm phường Rạch Sỏi trên

cơ sở thị trấn Rạch Sỏi của huyện Châu Thành; thị xã Rạch Giá có 7 phường là: Vĩnh Hiệp, Nguyễn Trung Trực,Vĩnh Thanh,Vĩnh Thanh Vân,Vĩnh lạc, An Hòa, Rạch sỏi và xã Phi Thông

Quá trình đổi mới của đất nước, cùng với việc chia tách và sát nhập các tỉnh, thành trên toàn quốc Ở Rạch Giá, các phường, xã cũng có sự thay đổi gianh giới địa lý hành chính để dễ quản lý và nhằm phát triển đồng đều giữa các phường, xã trong địa bàn thành phố

Đến cuối năm 2004, thị xã Rạch Giá có 11 phường là: Vĩnh Thanh Vân,Vĩnh Thanh,Vĩnh Quang,Vĩnh Hiệp,Vĩnh Bảo,Vĩnh Lạc, An Hịa, An Bình, Rạch Sỏi,Vĩnh Lợi,Vĩnh Lợi,Vĩnh Thông và xã Phi Thông Ngày

Trang 39

26-07-2005, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 97/2005/NĐ-CP, nâng cấp thị xã Rạch Giá lên thành phố Rạch Giá, thuộc tỉnh Kiên Giang Cửa ngõ vào thành phố Rạch Giá là một công trình kiến trúc đẹp, mang đậm nét văn hóa cổ truyền Việt Nam với 3 cửa ra vào được xây kiên cố, gọi là cổng Tam Quan Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, cổng Tam Quan vẫn là niềm tự hào của người dân trong tỉnh và luôn mở rộng đón chào khách từ mọi miền Tổ quốc đến thăm

Với một vị trí tự nhiên và lịch sử đặc biệt như vậy, Rạch Giá có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội

1.2.2.Về phát triển kinh tế- xã hội

Cùng xu thế phát triển chung của đất nước, nền kinh tế Rạch Giá cũng bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng bộ Thị xã (nay là Thành phố) lần thứ VI, VII, VIII, đến Đại hội lần thứ IX (2006) đều khẳng định cơ cấu kinh tế chung của Rạch Giá là: Du lịch, Dịch vụ, nông, Lâm, Ngư, Công nghiệp và xây dựng, trong đó du lịch- dịch vụ

và nghề đánh bắt thủy hải sản là 3 ngành kinh tế trọng yếu, quyết định

sự phát triển toàn diện của Thành phố du lịch bên bờ biển Tây

Việc cụ thể hóa chủ trương, biện pháp kích cầu của Chính phủ vào lĩnh vực thế mạnh của thành phố là thương mại- dịch vụ đạt kết quả khả quan Do tình hình vốn ngân sách có hạn, thành phố đề xuất với tỉnh cơ chế và chính sách nhằm kêu gọi đầu tư, các doanh nghiệp cổ phần và tư nhân đã mạnh dạn đầu tư xây dựng nhiều công trình quan trọng như: Xây lại chợ Rạch Sỏi, khai thác diện tích đất từ các nhà kho cũ không còn sử dụng đưa vào xây dựng mới chợ Vĩnh Bảo, chợ Bắc Sơn, khai thác các quỹ đất công xây dựng các công viên khu vực lấn biển, chuẩn bị hồ sơ tranh thủ nguồn vốn ODA phát triển lâu dài bền vững cho thành phố về cải tạo ô nhiễm môi trường, chỉnh trang lại

Trang 40

nhà ở ven sông, phòng chống lại sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao Phối hợp với các ngành chức năng xét hỗ trợ lãi suất và bảo lãnh tín dụng theo chủ trương của Chính phủ cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn gần 3.000 tỷ đồng; cấp phép đăng ký gần 2.000 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất với vốn đăng ký trên 800 tỷ đồng Những kết quả đó cùng với vốn đầu tư cho phát triển của nguồn vốn nhà nước trên địa bàn, đã góp phần làm cho các chỉ tiêu kinh tế quan trọng của thành phố tăng cao hơn trước: Tỷ trọng các ngành thương mại-dịch vụ đạt hơn 65%, tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP hơn 14%,thu ngân sách 257 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người 25,7 triệu đồng trên/năm

Thành phố đã vận động đóng góp quỹ vì người nghèo, nhà đồng đội, nhà cho các gia đình chính sách, thương binh,liệt sĩ, gia đình có công với nước,vận động đóng góp hỗ trợ giúp đỡ các đối tượng nghèo, người già không nơi nương tựa trong các dịp lễ tết, giải quyết việc làm, hỗ trợ dạy nghề…trị giá hàng chục tỷ đồng Qua đó đã góp phần làm giảm hộ nghèo của thành phố

từ 2,4% (năm 2008) còn 1,58%

Về thu ngân sách được Tỉnh giao, Thành phố đã hoàn thành vượt kế hoạch Kết quả là tổng thu ngân sách nhà nước ước tính đạt 112,21% so với

kế hoạch Thành phố giao, tăng 21,62% so thực hiện năm 2008 Riêng số thu

từ thuế, phí, lệ phí ước tính thu được đạt 112,4% so kế hoạch tỉnh giao, tăng 22,61% so thực hiện năm 2008

Về chi ngân sách, cơ bản Thành phố đã đảm bảo nguồn cho thực hiện các nhiệm vụ, các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng theo phân cấp quản lý, kể cả nhu cầu thường xuyên, đột xuất theo dự toán phân bổ, thiết thực, hiệu quả

Trong 5 năm gần đây, giá trị dịch vụ, thương mại và công nghiệp của

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w