Chọn đề tài "Quản lý Nhà nước đối với di sản văn hoá trong thời kỳ hội nhập" làm đề tài luận văn tốt nghiệp chúng tôi muốn hướng tới mục tiêu đánh giá một cách khách quan về thực trạng
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ văn hóa, thể thao vμ du lịch
Trường đại học văn hóa hμ nội
………………
Trịnh Ngọc Chung
Quản lý Nhμ nước đối với di sản văn
hoá trong thời kỳ hội nhập
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số 60 31 73
Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa
người hướng dẫn khoa học: TS Đặng văn Bμi
Hμ Nội-2008
Trang 2Lời cảm ơn
ới tình cảm chân thμnh, tác giả luận văn xin chân trọng cảm ơn:
- TS Đặng Văn Bμi, người hướng dẫn khoa học
- Khoa Sau đại học – Trường Đại học văn hóa Hμ Nội; Các thầy giáo, cô giáo tham gia quản lý, giảng dậy trong suốt quá trình học tập;
- Cảm ơn lãnh đạo Bộ Văn hoá, Thể thao vμ Du lịch, Cục Di sản văn hóa, gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ, cung cấp tμi liệu, tư liệu vμ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoμn thμnh luận văn nμy
- Do điều kiện thời gian vμ trình độ có hạn nên kết quả nghiên cứu của luận văn còn có những hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận
được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy cô giáo vμ các bạn đồng nghiệp
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2008
Tác giả
Trịnh Ngọc Chung
V
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả trong luận
văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
NGƯỜI CAM ĐOAN
TRỊNH NGỌC CHUNG
Trang 4MụC LụC
mở đầu 15
Chương 1 Những vấn đề chung về quản lý nhμ nước đối với di sản văn hóa ở nước ta trong thời kỳ hội nhập 25
1.1 Khái niệm về văn hóa và di sản văn hóa 25
1.1.1 Khái niệm về văn hóa 25
1.1.2 Khái niệm về di sản 26
1.1.3 Cơ sở khoa học và pháp lý cho công tác quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập 27
1.1.4 Vai trò của di sản văn hóa trong sự phát triển của đất nước 35
1.2 Khái quát về quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá ở nước ta trước khi có luật di sản văn hóa 46
1.2.1 Quản lý Nhà nước đối với di sản văn hóa ở nước ta trước năm 2001 46
1.3 Yêu cầu về quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá ở nước ta trong thời kỳ hội nhập 55
Chương 2 Thực trạng quản lý nhμ nước đối với di sản văn hoá ở nước ta hiện nay 59
2.1 Cơ chế quản lý Nhà nước đối với di sản văn hoá 59
2.1.1 Cơ cấu tổ chức quản lý Nhà nước đối với di sản văn hoá 59
2.1.2 Hệ thống văn bản pháp quy về di sản văn hoá 62
2.2 thực trạng quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế 68
2.2.1 Thực trạng quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá vật thể 68
2.2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá phi vật thể 74
2.3 Công tác kiểm tra, giám sát 78
Trang 52.4 Nhận xét chung 79
2.4.1 Những kết quả đạt được 79
2.4.2 Những điểm yếu kém 83
2.5 Nguyên nhân và tồn tại 87
2.5.1 Nguyên nhân 87
2.5.2 Những mặt còn tồn tại 88
Chương 3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhμ nướcđối với di sản văn hoá ở nước ta trong thời kỳ hội nhập 91
3.1 Những quan điểm của Đảng và định hướng phát triển di sản văn hoá trong thời kỳ hội nhập 91
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với di sản văn hoá ở nước ta trong thời kỳ hội nhập 93
3.2.1 Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý Nhà nước đối với di sản văn hoá 93
3.2.2 Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực 100
3.2.3 Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy dưới luật 102
3.2.4 Phân cấp quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa 106
3.2.5 Quản lý di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch 118
3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 123
3.2.7 Xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hoá 125
Kết luận 131
Tμi liệu tham khảo 134
Trang 6mở đầu
1 tính cấp thiết của đề tμi
Di sản văn hoá và thiên nhiên là những tài sản có giá trị vật chất và tinh thần do con người, thiên nhiên tạo ra chứa đựng các giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học và thể hiện rõ nét bản sắc dân tộc
Di sản văn hoá tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể Di sản vật thể gồm di tích, di vật và môi trường cảnh quan xung quanh di tích đó Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò, vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chính vì vậy cần được bảo tồn và phát huy
Đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề đặt ra hiện nay là hội nhập nhưng phải chú trọng bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc Nếu không chúng sẽ mất
đi hoặc biến dạng theo thời gian
Nghiên cứu về vai trò của quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa trong thời gian qua cũng đã có nhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu đã
đề cập tới Nhưng nhìn chung các công trình, bài viết đó chỉ để cập tới quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa một cách chung chung hoặc đề cập tới quản lý một di tích, lễ hội cụ thể Thực tế cho thấy cần xem xétữ và nhận định cụ thể
Trang 7hơn đặc biệt là từ khi Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định " di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" Như vậy, việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh đã được Đảng và Nhà nước xác định là một nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn tới
Trong quá trình thực hiện Luật Di sản văn hoá và thực tiễn của công tác quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá đã nảy sinh một số vấn đề bất cập đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của luật và cơ chế quản lý của nhà nước đối với di sản văn hoá cho phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập hiện nay
Chọn đề tài "Quản lý Nhà nước đối với di sản văn hoá trong thời kỳ
hội nhập" làm đề tài luận văn tốt nghiệp chúng tôi muốn hướng tới mục tiêu
đánh giá một cách khách quan về thực trạng quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa và đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập
2 lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý di sản nói chung và mối quan
hệ giữa quản lý di sản và phát triển nói riêng Tuy nhiên, đa số các công trình này mới chỉ ở dạng các bài viết, hoặc chỉ tập trung vào một số nhóm vấn đề cụ thể Liên quan đến quản lý di sản, một số công trình đáng lưu ý như tác giả
Đặng Văn Bài “Bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình phát triển”[2, tr 11-14], Nguyễn Thế Hùng “Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng
và phát triển đất nước”[30, tr 27-31], Nguyễn Quốc Hùng “UNESCO và những giải pháp bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể”[29, tr 24-29], Bùi Hoài Sơn "Di sản giờ đây đã được xem là một ngành công nghiệp Tiếp cận dưới góc độ quản
lý lễ hội như một loại hình quản lý di sản sẽ dẫn chúng ta đến quan điểm "công
Trang 8nghệ quản lý và tổ chức lễ hội", theo đó, việc quản lý di sản được hiểu theo nghĩa rộng hơn nhiều Đó không chỉ hoàn toàn là công việc trực tiếp liên quan
đến di sản, mà chính là sự quản lý một xã hội thu nhỏ”[46, tr 35] Các tác giả khác cũng nhấn mạnh đến các khía cạnh khác nhau của việc quản lý di sản, từ những bất cập, khó khăn, đến cả những thuận lợi trong quá trình quản lý
Dù vậy, chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, tập trung về việc quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá trong thời kỳ hội nhập Chủ yếu các công trình, đề tài có liên quan chỉ mới đề cập tới quản lý nhà nước đối với
di sản văn hóa một cách khái lược hoặc đề cập tới quản lý di tích lịch sử văn hóa, quản lý về lễ hội, hay quản lý di tích ở một địa phương cụ thể
3 mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu cơ cấu tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa từ Trung ương đến địa phương từ đó đề xuất mô hình cơ cấu
tổ chức bộ máy ở các cấp Luận văn góp phần đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá mà mục tiêu chung là: quy định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn trong công tác quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá ở mỗi cấp, giữa các Bộ, Ngành ở Trung ương, giữa các cấp chính quyền ở địa phương và các đơn vị thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao
và Du lịch; phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền về chất lượng hiệu quả của công việc quản lý nhà nước, phục vu tốt hơn nhu cầu và lợi ích của tổ chức, cá nhân trong xã hội Song song với việc hoàn thiện cơ chế quản lý, cần xác định rõ quyền hạn của các ngành, các cấp, các cơ quan nhằm tăng cường hiệu lực quản lý đối với di sản văn hoá và phát huy có hiệu quả nhng giá trị văn hoá trong thời kỳ hội nhập của nước ta
4 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa
Trang 9- Hoạt động quản lý Nhà nước của ngành văn hóa, thể thao và du lịch về
di sản văn hoá
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý vĩ mô (của ngành văn hoá, thể thao và du lịch) về di sản văn hoá trong thời kỳ hội nhập Vì vậy, các quản lý trung mô (cấp tỉnh) và vi mô (địa phương) nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của luận án
- Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hoá trong khoảng thời gian từ năm 2001 (năm ra đời Luật Di sản văn hoá) đến nay
- Nghiên cứu thêm tình hình quản lý di sản văn hóa từ năm 1945 đến trước những năm đổi mới để làm cơ sở so sánh giữa hai thời kỳ trước và sau đổi mới
5 Cơ sở lý luận vμ phương pháp nghiên cứu
- Chiến lược phát triển Văn hóa;
- Luật tổ chức Chính phủ;
- Luật Di sản văn hoá;
- Các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội; các Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; các Quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có liên quan
Trang 106 kết quả đóng góp của luận văn
- Đề xuất một mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với
di sản văn hóa ở các cấp nhằm tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước và hiệu quả của công tác chuyên môn
- Luận văn trình bày một cách khách quan về thực trạng quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá và mối quan hệ giữa di sản văn hoá trên cơ sở khoa học và thực tiễn tìm ra các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá trong thời kỳ hội nhập
- Xác định rõ trách nhiệm quản lý theo ngành kết hợp chặt chẽ với quản
lý theo lãnh thổ, giữa ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch với các ngành khác
- Xác định rõ trách nhiệm của cấp cơ sở trong việc bảo vệ di sản văn hoá trong phạm vi địa phương mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý Nhà nước đối với di sản
văn hoá ở nước ta trong thời kỳ hội nhập.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa ở
nước ta hiện nay
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối
với di sản văn hoá ở nước ta trong thời kỳ hội nhập
Trang 11Chương 1
Những vấn đề chung về quản lý nhμ nước đối với
di sản văn hóa ở nước ta trong thời kỳ hội nhập
1.1 Khái niệm về văn hóa vμ di sản văn hóa
1.1.1 Khái niệm về văn hóa
Từ văn hóa “Culture” (tiếng Anh) bắt nguồn từ chữ Latinh “Cultur” nghĩa gốc là trồng trọt, được hiểu theo hai nghĩa “cultsari” là trồng trọt ngoài
đồng và “Cultusanim” là “trồng trọt tinh thần” tức là giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người Ngôn ngữ Hán dùng chữ “văn hóa” là biểu hiện một cái nhìn Phương Đông Căn cứ vào những di tích chữ viết tìm được trong nghiên cứu khảo cổ học Trung Hoa cách đây hai mươi bảy nghìn năm, chữ này đã được ghi lại bằng chữ viết trên sách vở Trung Quốc “Văn” là cái đẹp, vẻ đẹp Nó biểu hiện thành một hệ thống ứng xử được xem là đẹp đẽ “Hóa” là biến hóa, cải biến làm nó thay đổi từ dạng thức này sang dạng thức khác
Theo các nhà nghiên cứu hiện nay có khoảng 400 định nghĩa khác nhau
về văn hóa Tùy theo góc độ tiếp cận mà mỗi nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh vào một khía cạnh nào đó Vì thế, nhà xã hội học người Pháp Mercier
đã ví thuật ngữ văn hóa như một “tòa nhà đa diện” phức tạp về sắc thái nghĩa
và thể hiện những cái nhìn nhiều chiều Nhưng trong khuôn khổ luận văn này tôi xin dẫn ra một số định nghĩa cụ thể về văn hóa và di sản văn hóa mang tính bao quát
“Văn hóa là một hệ thống diễn biến trong lịch sử và nằm trong quá trình phát triển xã hội, một hệ thống sản xuất ra những giá trị tinh thần, duy trì, phân phối và tiêu thụ những giá trị đó, một hệ thống nhằm đảm bảo sự đào tạo
ra những con người về mặt trí thức, tình cảm và đạo đức, thành những thành viên tích cực của xã hội đồng thời cũng đảm bảo cho những người này được
Trang 12thỏa mãn các nhu cầu tinh thần của họ, một sự đặc thù, có phân biệt diễn ra trong tất cả mọi giai đoạn phát triển của nhân loại và thích hợp với những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể”[53, tr 57]
“Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo, đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống
Những định nghĩa thường chỉ đề cập đến một nét nào đó của bản chất văn hóa Nhưng để tiếp cận gần hơn về hiện tượng tinh tế và phức tạp này,
Đảng cộng sản Việt Nam đã sắp xếp vào 3 loại định nghĩa sau:
+ Văn hóa theo nghĩa rộng bao gồm cả trình độ phát triển về vật chất và tinh thần + Văn hóa hiểu theo nội dung bao gồm cả khoa học, kỹ thuật, giáo dục, văn hóa nghệ thuật
+ Văn hóa đặt trong phạm vi lối sống, nếp sống, đạo đức xã hội, văn hóa nghệ thuật
1.1.2 Khái niệm về di sản
Khái niệm di sản, để trở thành một thuật ngữ khoa học được sử dụng phổ biến, có lịch sử phát triển khá lâu dài, bắt đầu được biết đến nhiều nhất qua cuộc cách mạng tư sản tại Pháp Có thể nói rằng, chính việc tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc và nhà thờ, sau đó tập hợp chúng thành các tài sản quốc gia trong thời gian cách mạng tư sản đã sản sinh ra khái niệm về di sản
Để tránh sự phá hoại của các tài sản này, Nhà nước đã cho tiến hành kiểm kê,
Trang 13mô tả, sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm bảo tồn và khôi phục di sản của quốc gia Như vậy, di sản lúc đó được mọi người hiểu là “ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản
quốc gia” [53, tr 8]
Khái niệm di sản được hiểu một nghĩa đơn giản nhất là tài sản của thế
hệ trước để lại cho thế hệ sau Hay “chỉ chung cho các tài sản văn hóa như văn học dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học… mà các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau” [21, tr 8 - 9]
Luật Di sản văn hóa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác
định di sản là “sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”[36, tr 12]
Khái niệm di sản là một khái niệm động, có nghĩa là nó thay đổi theo thời gian và không gian Giờ đây khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ nữa vì nó liên quan đến quá trình chọn lọc giá trị quá khứ, nhất là đối với các di sản của cộng đồng (như đối với trường hợp lễ hội) Rõ ràng
là, không phải bất kỳ đối tượng nào, quá khứ nào cũng có thể trở thành di sản Chính vì lẽ đó, tác giả luận án đề xuất một khái niệm làm việc cho luận án như sau: Di sản là giá trị được chắt lọc từ quá khứ lịch sử, ký ức, báu vật của cộng đồng
để đáp ứng cho nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện tại
1.1.3 Cơ sở khoa học và pháp lý cho công tác quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập
1.1.3.1 Cơ sở khoa học
Trong phần này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về các khái niệm quản
lý và quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa
hiểu theo nhiều cách diễn đạt khác nhau Theo nghĩa thông thường trong
Trang 14tiếng Việt thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo dõi Nếu hiểu theo cách hiểu của âm Hán Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trông nom, coi sóc Các nước phương Tây dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay Từ đó chuyển sang nghĩa là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt
Theo Các Mác thì: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [33, tr.29] Nhấn mạnh cho nội dung này
ông viết: “Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh
từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn
nhạc thì cần có nhạc trưởng”[34, tr.480]
F Angghen thì cho rằng “quản lý” là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số
đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người
Mỗi ngành khoa học khi nghiên cứu về quản lý từ một góc độ riêng và
đưa ra định nghĩa riêng về quản lý Theo Điều khiển học, khái niệm quản lý
được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để điều khiển,
chỉ đạo sự vận động (diễn biến) của nó theo những quy luật nhất định nhằm
đạt được những mục đích hay kế hoạch mà người quản lý đã đề ra từ trước
Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rõ bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ
đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn
và vai trò của quản lý càng tăng
Trang 15Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý được hiểu là hoạt động
nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định [24, tr.3]
Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn
là cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội
Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất
định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc
1.1.3.3 Quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa
Từ các khái niệm về quản lý chúng ta có thể khái quát: Quản lý di sản văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di sản văn hóa làm cho các giá trị của di sản được phát huy theo chiều hướng tích cực
Di sản văn hóa có một vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống xã hội,
đặc biệt là trong thời kỳ đất nước ta "mở cửa" và hội nhập quốc tế, chính vì
Trang 16vậy việc quản lý di sản văn hóa cần tiến hành theo nội dung quản lý được đề cập trong Luật Di sản văn hoá
1.1.3.4 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa
Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong quản lý xã hội, ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật
Việt Nam là một quốc gia văn hiến lâu đời, trong quá trình dựng nước và giữ nước, các thế hệ tiền bối đã để lại cho chúng ta kho tàng di sản văn hóa vô cùng quý giá Kho tàng di sản văn hóa đó được vật chất hóa, cô đọng lại ở các di tích lịch sử văn hóa với nhiều giá trị Việc giữ gìn các di sản văn hoá truyền lại cho muôn đời sau là một công việc cần thiết Để bảo vệ, gìn giữ di sản văn hóa không gì khác hơn là phải bảo vệ theo pháp luật Nhìn lại hệ thống pháp luật về lĩnh vực văn hoá nói chung
và di sản văn hoá nói riêng, chúng ta thấy Nhà nước Việt Nam đã xây dựng, ban hành từ rất sớm và ngày càng hoàn thiện hơn, cụ thể:
Ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, dù còn nhiều công việc phải làm nhưng Nhà nước Việt Nam đã quan tâm ngay đến việc gìn giữ và phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc, phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc và nâng cao dân trí Điều đó được thể hiện bằng việc sau khi đất nước dành đươc độc lập chưa đây ba tháng, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 65 - SL ngày 23/11/1945 Đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về quản lý di sản văn hóa Sắc lệnh gồm 6 điều trong đó nội dung chính ấn định nhiệm vụ của Đông phương Bác Cổ học viện Sắc lệnh đã nhấn mạnh đến việc bảo tồn cổ tích là việc làm cần thiết của nhà nước Việt Nam Sắc lệnh coi toàn bộ di tích lịch sử văn hóa là tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc phá hủy đình, chùa, đền, miếu và các di tích khác chưa được bảo tồn Cấm phá hủy bia ký, văn bằng
có ích cho lịch sử Sắc lệnh cũng quy định Nhà nước chi ngân sách cho
Trang 17việc bảo vệ, tu sửa di tích và công nhận các khoản trợ cấp cho học viện
Đông phương Bác cổ
Sau ngày hòa bình lập lại, đất nước còn gặp nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước vừa phải lãnh đạo nhân dân tiến hành hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nhưng việc ban hành những văn bản quy phạm pháp luật về quản lý di sản văn hoá vẫn được coi trọng Chính phủ và Thủ tướng đã ban hành nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn về từng lĩnh vực:
Ngày 28/6/1956, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông tư số 38 TT/TW về việc bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Trong đó đề cập
-đến việc nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trong các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và toàn dân Đình chỉ ngay những hoạt động kinh tế đang phương hại trực tiếp đến các di tích Tiến hành phân loại và cần có kế hoạch để tu bổ các di tích
Tiếp theo đó, ngày 03/7/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Thông tư số 954/TTg về việc bảo vệ di tích và danh lam thắng cảnh gửi tới các ủy ban hành chính, các khu tỉnh, thành trong cả nước
Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 519/ TTg quy định về thể lệ bảo tồn cổ tích Đây là văn bản pháp lý quan trọng của Chính phủ có giá trị thiết thực trong việc bảo vệ, gìn giữ các di sản văn hóa trong suốt hai thập kỷ chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta Nghị định là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công tác quản lý di sản văn hóa trong gần 30 năm (1957 - 1984) Nghị định gồm 7 mục với 32 điều trong đó đề cập đến công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở các góc độ như liệt hạng
di sản văn hóa, quy định những tiêu chuẩn của các công trình được liệt hạng là di tích lịch sử văn hóa; việc trùng tu, tôn tạo di tích; chế độ khen thưởng và kỷ luật đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo
vệ và phát huy tác dụng di sản văn hóa dân tộc
Trang 18Nghị định 519/TTg đã phát huy tác dụng mạnh mẽ trong đời sống xã hội, đặc biệt Nghị định có giá trị lớn trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy di sản văn hóa Việt Nam phục vụ tích cực cho sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo Tiếp sau Nghị định 519/TTg là các thông tư, nghị định về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa được Nhà nước ta ban hành
Ngày 01/6/1966, Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP về việc quản lý xuất khẩu văn hóa phẩm trong đó có quy định về bảo vệ cổ vật
Ngày 24/10/1966, Hội đồng Chính phủ ban hành Chỉ thị 188/TTg về việc bảo vệ và phát huy tác dụng của di tích lịch sử trong thời gian chống Mỹ cứu nước
Ngày 26/6/1969, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 59/TTg về việc bảo tồn di tích chống Mỹ cứu nước
Ngày 26/04/1973, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 88 - TTg về việc chấp hành chính sách đối với việc bảo vệ các chùa thờ phật và đối với tăng ni
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn khôi phục
và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Đảng
và Nhà nước luôn luôn đánh giá đúng vai trò và hết sức coi trọng công tác quản lý di sản văn hóa, tiếp tục đề ra những chính sách, biện pháp cụ thể thích ứng với thời kỳ mới của đất nước nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Ngày 31/3/1984, Hội đồng Nhà nước đã ban hành và công bố Pháp lệnh
14 LCT/ HĐNN về việc “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và
Trang 19danh lam thắng cảnh” Pháp lệnh gồm 5 chương và 27 điều: Trong lời
mở đầu Pháp lệnh khẳng định: “Di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh là tài sản có giá trị trong kho tàng văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam” và cần sử dụng những di tích ấy nhằm “Giáo dục truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân…làm giàu,
đẹp kho tàng văn hóa dân tộc và góp phần làm phong phú văn hóa thế
giới” [44, tr.1]
Pháp lệnh đã xác định rõ biện pháp quản lý nhà nước đối với các di sản văn hoá gồm 3 việc:
1 Kiểm kê, đăng ký, công nhận và xác định các loại hình di tích và danh thắng;
2 Quy định chế độ bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh và tổ chức thực hiện các chế độ đó;
3 Thanh tra việc thi hành những quy định của pháp luật về việc bảo vệ,
sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh.” [44, tr.3]
Pháp lệnh cũng quy định rõ chức năng của các cơ quan trong việc quản
lý di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh theo đó “Hội đồng Bộ trưởng thực hiện việc quản lý nhà nước đối với các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trong cả nước Ủy ban nhõn dõn các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước đối với các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trong quy
định của Hội đồng Bộ trưởng Bộ Văn hoá và các cơ quan văn hoá thuộc hệ thống bộ này tại các địa phương là những cơ quan giúp Hội đồng Bộ trưởng và
ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn
hóa và danh lam thắng cảnh” [44, tr 3- 4]
Pháp lệnh số 14 - LCT/HĐNN ra đời trên cơ sở kế thừa tinh thần của Nghị định 519/TTg đã tập trung thống nhất quản lý, sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên phạm vi cả nước, đưa công tác kiểm kê,
Trang 20lập hồ sơ xếp hạng đi vào nề nếp Quy định về cổ vật, xuất nhập khẩu cổ vật, việc tu bổ, tôn tạo và hoạt động bảo vệ di tích cũng đã rõ ràng, chặt chẽ hơn Pháp lệnh ra đời có ý nghĩa to lớn, là một bước tiến về mặt pháp lý với mục
đích làm cho công tác quản lý di sản văn hoá dân tộc hoàn thiện hơn
Cùng với việc ra đời Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN, các nghị định, thông tư do Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Văn hóa -Thông tin ban hành để hướng dẫn thực thi Pháp lệnh:
Ngày 31/12/1985, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định số 288-HĐBT, quy định về việc thi hành Pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh”
Ngày 22/7/1986, Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin ra Thông tư số 206 - VHTT, về việc hướng dẫn thi hành Pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh”
Cao hơn là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992, điều 34 đã xác định: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn - bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh
lam thắng cảnh” [23, tr.11]
Có thể khẳng định các văn bản pháp lý trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa được Nhà nước Việt Nam ban hành trong giai đoạn này là cơ sở để các ngành, các địa phương thực hiện công tác quản lý các di sản văn hóa góp phần vào việc gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc
1.1.3.5 Nội dung quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa
Điều 54 Chương V mục 1 Luật Di sản văn hóa quy định nội dung quản
lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm:
Trang 21- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa;
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;
- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
- Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [36, tr 5-6]
Trong quá trình triển khai đề tài chúng tối lấy nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa quy định trong Luật Di sản văn hóa làm căn cứ thao tác cho luận văn
1.1.4 Vai trò của di sản văn hóa trong sự phát triển của đất nước
Một lẽ thường tình là sự tồn vong và phát triển của mỗi dân tộc không thể tách rời khỏi việc dân tộc đó có giữ gìn và phát huy được các truyền thống văn hóa của mình hay không, đặc biệt là trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay Bởi vì truyền thống là tất cả những giá trị tinh thần, giá trị vật chất được kết tinh trong quá trình sống, lao động và sáng tạo của con người từ thế hệ này sang thế hệ khác; các giá trị đó ngày càng được hoàn thiện, phong phú và phát triển ở trình độ cao hơn trong đấu tranh sinh tồn, đấu tranh xã hội và đấu tranh với tự nhiên
Trang 221.1.4.1 Di sản văn hóa trong phát triển văn hóa x∙ hội và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Truyền thống cũng là một khái niệm rộng, có thể hiểu từ vi mô đến vĩ mô, nhưng tựu trung lại, theo cách hiểu và cách nói thông thường, là những giá trị tiêu biểu của dân tộc Những truyền thống ấy tồn tại như một thực thể với thời gian và không gian Di sản văn hóa của dân tộc là “nhân chứng” của mỗi thời đại và của toàn bộ lịch sử dân tộc Có được các di sản văn hóa là sản phẩm hoạt động sáng tạo của con người và việc gìn giữ được các di sản văn hóa truyền thụ sự hiểu biết về di sản văn hóa cũng chính là hoạt động của con người Từ đó dần dần hình thành hoạt động bảo vệ và phát huy những giá trị của di sản văn hóa Như vậy, có thể nói ngành di sản văn hóa đang gìn giữ những giá trị “gốc” về lịch sử hình thành, phát triển của dân tộc Nhưng cũng phải nói rõ hơn, những giá trị “gốc” ấy bao gồm cả hai mặt: Thứ nhất, đó là những chứng nhân lịch sử, đảm bảo yếu tố chân thực, yếu tố khách quan Thứ hai, đó là những hằng số để tạo nên truyền thống - bản sắc của mỗi nền văn hóa Mặt khác, chúng ta đều biết rằng, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, ngoài những yếu tố chung, còn cả yếu tố đặc thù là hoạt động “tự
nó và cho nó” Điều này có nghĩa là mọi hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa đều bắt nguồn từ “di sản” và nhằm phục vụ cho chính các di sản ấy Khái niệm di sản ở đây bao hàm các di sản ở dạng bất động sản (như
di tích lịch sử, văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích danh lam thắng cảnh) và những di tích là động sản (như các hiện vật gắn với di tích, các tài liệu hiện vật bảo tàng), cùng toàn bộ các di sản văn hóa phi vật thể…ở mọi góc độ khác nhau, các phạm vi khác nhau và các điều kiện khác nhau Như vậy, thực chất của hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa là hoạt
động giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc
Trong những năm gần đây, do sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, do sự phát triển kinh tế thế giới, nhờ đường lối đổi mới của Đảng và
Trang 23Nhà nước, chúng ta có điều kiện tiếp cận, giao lưu với các nền văn hóa và văn minh khác của khu vực và trên thế giới, từ đó chúng ta càng ý thức cụ thể rằng: Sự phát triển ở mỗi quốc gia dân tộc không thể thành công và không thể bền vững nếu chỉ đơn thuần là sự phát triển kinh tế Văn hóa chính là yếu tố nội sinh, yếu tố bền vững vì nó gắn liền với mỗi cá thể, mỗi cộng đồng một cách hữu hình hoặc vô hình Đó cũng chính là lời giải thích tại sao ở các nước phát triển, các nước văn minh đều là những quốc gia có hệ thống bảo tàng, di tích rất phong phú, đa dạng và hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở các quốc gia ấy lại rất được quan tâm và coi trọng Cho nên sẽ là sai lầm, sẽ là “siêu hình”, khi chúng ta nói nhiều đến truyền thống và giáo dục truyền thống mà lại không coi trọng thích đáng hoặc thiếu sự đầu tư cần thiết
và phù hợp cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cùng các hoạt động khác có nguồn gốc từ đó mà ra, như lễ hội hay các hoạt động văn hóa dân gian khác Một nền văn hóa có “bản sắc” là một nền văn hóa kết hợp nhuần nhuyễn được hai yếu tố truyền thống của dân tộc và tiên tiến của thời
đại Nền văn hóa ấy chỉ có được khi chúng ta biết coi trọng quá khứ, coi trọng những truyền thống dân tộc và biết tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hóa và văn minh của nhân loại
Ngày nay di sản văn hóa Việt Nam đã thực sự khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội Hình ảnh đặc sắc của những ngôi chùa, ngôi đình, làn điệu những bài hát dân ca sâu lắng, trữ tình, sự cuốn hút của những lễ hội, những địa danh mang hồn non nước như: Rừng Việt Bắc, Phố cổ Hội An, kinh thành Huế…ngày càng trở nên gần gũi với công chúng trong nước và quốc tế Điều đó chứng tỏ di sản văn hóa Việt Nam có sức lan tỏa mãnh liệt và sức sống lâu bền Song di sản văn hóa cũng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn, ảnh hưởng đến sự mất còn Trong khi đất nước ta
đang mở cửa và hội nhập toàn diện với thế giới thì việc nhận thức đúng đắn
Trang 24vấn đề bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước là rất quan trọng [13, tr 4]
Những năm qua công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã nhận được sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà nước và trở thành tình cảm, trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam yêu nước Ngay sau khi đất nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65 - SL ngày 23/11/1945 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam Từ đó đến nay Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, Nghị định, Chỉ thị về công tác bảo
vệ di sản văn hóa Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ quan trọng về xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó
có nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này là: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể
Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha
ông để lại” [50, tr 16]
Trong hơn nửa thế kỷ qua, dân tộc ta đã xây dựng được những giá trị mới trong quan hệ giữa con người với con người Ngoài tình đồng bào còn có tình đồng chí, tình quân dân, cán bộ với nhân dân với đặc trưng tiêu biểu: đi dân nhớ, ở dân thương Nếu không có những tình cảm đó thì làm sao phát huy
được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc trong hai cuộc kháng chiến thần thánh Không có những tình cảm đó thì làm sao con người có thể tìm thấy sự bình yên
và ấm áp giữa khói lửa chiến tranh ác liệt
Những tác phẩm văn học nghệ thuật chứa chan chủ nghĩa yêu nước, sâu
đậm trữ tình và tràn đầy khí phách quật cường của dân tộc trong hai cuộc
Trang 25kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ không những đã phản ánh một cách hùng hồn và chân thật một thời kỳ lịch sử đáng ghi nhớ, mà còn là một động lực tinh thần quan trọng thôi thức các thế hệ mai sau vươn lên hoàn thành những nhiệm vụ trọng đại mới trong thời kỳ lịch sử mới Trước những biến
động và thay đổi quá nhanh trong vài thập kỷ gần đây những giá trị đó đang
có nguy cơ bị lãng quên Chúng ta chưa coi đó là những di sản, nhưng phải coi
đó là những giá trị văn hóa lớn của thời đại cần được bảo vệ và phát huy
1.1.4.2 Di sản văn hóa trong phát triển kinh tế
Quá trình toàn cầu hóa về kinh tế và quốc tế hóa về văn hóa đặt ra vấn đề phải xác định rõ vị trí của văn hóa trong tất cả các lĩnh vực hoạt
động kinh tế Bài học thực tiễn nhiều thập kỷ qua trên phạm vi toàn thế giới
đã khẳng định: nếu chỉ chú ý thuần túy đến tăng trưởng kinh tế mà bỏ qua môi trường văn hóa sẽ dẫn đến tình trạng phát triển khập khiễng, mất cân
đối cả về kinh tế lẫn văn hóa, làm cho các chuẩn mực văn hóa, đạo đức, lối sống bị suy thoái nghiêm trọng Vì thế việc coi trọng văn hóa và gắn văn hóa với phát triển là một xu thế tất yếu bảo đảm sự phát triển bền vững cho mọi quốc gia dân tộc Đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã xác
định rõ: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là bộ phận hữu cơ của toàn bộ sự nghiệp cách mạng và xây dựng xã hội mới, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực phát triển kinh tế - xã hội
Thế hệ chúng ta có vinh dự và trách nhiệm phải bảo vệ giá trị di sản văn hóa bởi vì đó là tài sản quý giá cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận di sản văn hóa của nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Chúng ta không chỉ bảo vệ mà còn phải chuyển giao di sản văn hóa cho các thế hệ mai sau Bước sang thế kỷ
21 cộng đồng quốc tế hơn bao giờ hết đề cao và tôn trọng tính đa dạng của văn hóa đồng thời tích cực đấu tranh chống lại khuynh hướng đồng nhất,
đồng hóa về văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề trọng đại, quyết
Trang 26định sự tồn vong của mỗi quốc gia Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa, chúng ta không chỉ quan tâm tới bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia về một lãnh thổ và chính trị mà còn phải bằng mọi phương cách bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc mình, đồng thời tôn trọng bản sắc văn hóa của các quốc gia, dân tộc khác
Để đảm bảo cho sự phát triển đất nước trên mọi phương diện trong thời
kỳ hội nhập chúng ta cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giao lưu, hội nhập văn hóa với bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc thì sẽ góp phần mở đường cho sự phát triển và hội nhập thành công với thế giới mà không bị hòa tan Mặt khác cũng cần lưu ý tới nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa dân tộc, đa dạng mà thống nhất, ngoài nét văn hóa chung của quốc gia được hun đúc nên từ tinh hoa văn hóa của 54 dân tộc anh em, thì mỗi dân tộc, mỗi vùng, miền đất nước với điều kiện địa lý, khí hậu cũng như hoàn cảnh lịch sử khác nhau đã và đang có sự đóng góp riêng của mình tạo nên sự phong phú của nền văn hóa Việt Nam
Từ những phân tích trên chúng ta có thể khẳng định di sản văn hóa là một loại tài sản đặc biệt của quốc gia Nó không chỉ có giá trị tinh thần lớn lao
mà còn là nguồn lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế-xã hội bền vững Bởi vậy, di sản văn hóa rất cần được bảo tồn và phát huy bằng sức mạnh và trách nhiệm của từng người dân, của cộng đồng, của cấp ủy Đảng, chính quyền cơ quan, đoàn thể, của các cơ quan thực thi pháp luật; bằng các hoạt
động quản lý và nghiệp vụ, bằng cơ chế chính sách tương ứng
Di sản văn hóa Việt Nam là kết tinh trí tuệ, tình cảm ngàn đời của các thế hệ cha anh Trải qua biết bao biến cố của lịch sử, dù đã bị mất mát, hủy hoại nhưng ngày nay chúng ta vẫn còn gìn giữ được một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng Chính nhờ kho tàng di sản văn hóa ấy, chúng ta và các thế hệ mai sau có được bệ đỡ vững chắc về truyền thống lịch
sử, bề dày văn hóa của mảnh đất Việt Nam hào hùng để vững bước đi vào
Trang 27tương lai Di sản văn hóa Việt Nam phản ánh tinh thần, truyền thống, tình cảm, trách nhiệm, tài năng, bản lĩnh ứng xử của con người Việt Nam trước mọi biến cố của thiên nhiên và lịch sử
Đất nước chúng ta đã trải qua những đêm dài nô thuộc, nhưng cha
ông ta đã thể hiện bản lĩnh kiên cường, đấu tranh, giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc Văn hóa Việt Nam và di sản văn hóa Việt Nam chính là biểu hiện của bản lĩnh kiên cường, được tôi luyện qua các thời kỳ lịch sử Lịch
sử dân tộc đã có nhiều minh chứng về bản lĩnh văn hóa Việt Nam, không chỉ thể hiện ở phương diện bảo vệ và phát huy những di sản văn hóa đặc sắc của cha ông mà còn ở khả năng chọn lọc, tiếp thu những tinh hoa của thế giới để làm phát huy thêm vốn văn hóa của dân tộc ta Đó chính là khả năng tiếp nhận văn hóa của người Việt Nam Nếu chúng ta muốn thực sự hòa nhập vào xu thế toàn cầu hóa mà không bị hào tan thì nhất thiết phải phát huy truyền thống và sức mạnh nội lực của Văn hóa Việt Nam, đồng thời phải biết tiếp thu có chọn lọc tri thức của nhân loại, kết hợp với sức mạnh của thời đại [38, tr 40 - 41]
Di sản văn hóa đang đứng trước những thử thách khốc liệt của cơ chế kinh tế thị trường Những giá trị bền vững của di sản văn hóa chỉ thực sự hấp dẫn và trở thành những sản phẩm văn hóa độc đáo, có ý nghĩa, trở thành tiềm năng du lịch bền vững, nếu chúng ta biết phát huy những giá trị đích thực, những thế mạnh mà không bị lôi cuốn vào xu thế thương mại hóa tầm thường;
đồng thời cần có cách tiếp cận mới về công tác bảo tồn, vừa tập trung vào diện mạo tổng thể của văn hóa kể cả vật thể và phi vật thể, vừa bảo tồn cảnh quan môi trường trên nền tảng một quy hoạch phát triển chung của toàn xã hội Đó mới là biện pháp bảo đảm sự tồn tại cho chính di sản văn hóa, đó cũng là giải pháp hiễu hiệu để bảo vệ di sản văn hóa trước những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Trang 28Đất nước ta còn nghèo, điều kiện sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân tuy đã được cải thiện so với trước đây, nhưng bình quân thu nhập vẫn thuộc vào loại thấp trên thế giới Trong tình hình đó, phải tập trung phát triển kinh
tế, phải giáo dục cho người dân ý thức vươn lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Việc làm đó là rất cần thiết Tuy vậy, biện chứng của cuộc sống thường không
đơn giản Không phải hễ cứ giàu lên là có hạnh phúc và cũng không phải cứ tập trung cho kinh tế thì kinh tế sẽ phát triển Đảng ta đã nhiều lần khẳng
định: văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực và là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội Cuộc sống đang chứng minh sự đúng đắn của tư tưởng đó
Trong điều kiện sinh hoạt vật chất còn nhiều thiếu thốn như hiện nay, dân tộc ta đang làm chủ một kho tàng của cải vô giá Đó là những di sản văn hóa của cha ông từ mấy ngàn năm để lại và những giá trị văn hóa mới được hình thành từ sau Cách mạng thánh Tám Biết bảo vệ và phát huy, khai thác các di sản và các giá trị văn hóa đó, chắc chắn chúng ta sẽ vượt qua những thách thức, những nguy cơ đang đe dọa sự nghiệp đổi mới của Đảng
Di sản văn hóa có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại, với tư cách là nguồn nhân lực quan trọng tạo nên sức mạnh đóng góp trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Muốn làm được điều đó trước hết chúng ta cần xác định những nhiệm
vụ trọng tâm trong những năm tới đó là:
Trong xã hội hiện đại, mỗi quốc gia đều phải giải quyết nhiệm vụ tăng cường khả năng cạnh tranh và phát triển kinh tế trên cơ sở huy động tối đa các nguồn lực của đất nước, trong đó có nguồn lực được hình thành từ lĩnh vực hoạt động văn hóa Nhiệm vụ ấy càng đặt ra một cách trực tiếp, thường nhật,
đòi hỏi phải được giải quyết thấu đáo trong suốt quá trình tiến hành công cuộc
đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Bởi vì, ngày nay,
từ nhận thức ngày càng đầy đủ về những lý thuyết phát triển và từ kiểm nghiệm của thực tiễn, người ta ngày càng thống nhất xác định văn hóa là yếu
Trang 29tố đồng hành, chỉ dẫn chất lượng sống của con người trong các quan hệ với thực tại Theo đó, văn hóa không đứng ngoài phát triển, văn hóa là nhân tố nội sinh của phát triển Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng ta chỉ rõ: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Ngày nay các nguồn lực của sự phát triển thường được tính đến bao gồm: vốn, tài nguyên, khoa học kỹ thuật, con người cùng các quan hệ xã hội
Do vậy nhận thức văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy, là nhân
tố nội sinh của sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng có nghĩa khẳng định văn hóa là một nguồn lực quan trọng, nguồn lực phi vật thể của sự phát triển kinh
tế - xã hội Đây thật sự là một bổ sung và cụ thể hóa nhận thức về các nguồn lực của sự phát triển Di sản văn hóa là tài sản văn hóa của các thế hệ trước để lại “là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”, vì vậy, di sản văn hóa giữ vai trò trở thành nguồn lực phi vật thể đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Cũng do đó, việc nghiên cứu nhằm góp phần làm sáng rõ hơn nhận thức này không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có
ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Trong những năm gần đây, trên thế giới cũng như ở nước ta, khoa học phát triển và những lý thuyết về sự phát triển càng ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của di sản văn hóa đối với việc xây dựng các chiến lược hướng tới xã hội tương lai Cùng với việc khẳng định vị trí quan trọng của mình, nhận thức mới về sự phát triển cũng ngày càng đổi mới, hoàn thiện Ngày nay các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế chỉ được coi là điều kiện “cần”, mà chưa phải “đủ” của phát triển Bên cạnh các chỉ tiêu phát triển kinh tế, các chỉ tiêu về tuổi thọ bình quân, trình độ học vấn chung, tỉ lệ người có việc làm, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội…luôn được đánh giá là những chỉ tiêu quan trọng trong việc xác định chỉ tiêu tăng trưởng của các quốc gia Điều đó cũng có
Trang 30nghĩa, phát triển, theo nhận thức mới, là phát triển kinh tế phải gắn liền và
được đo bằng hiệu quả xã hội là phát triển kinh tế - xã hội
Di sản văn hóa là nguồn lực phi vật thể của sự phát triển kinh tế - xã hội bởi trước hết, đặc trưng, cốt lõi của di sản văn hóa là giá trị văn hóa
Mà, giá trị văn hóa của các di sản ấy là cái vô hình, phi vật thể, nó chỉ phát huy tác dụng khi được tiềm nhập vào con người, để định hướng và chi phối các hoạt động sáng tạo của con người, trở thành nguồn lực của phát triển kinh tế - xã hội Nói cách khác, giá trị văn hóa với tư cách là một nguồn lực phát triển, chính là nguồn lực con người Nguồn lực này là cái không dễ
định lượng được như định lượng các nguồn lực khác của sự phát triển kinh
tế Do đó nguồn lực di sản văn hóa là nguồn lực không thể thay thế đối với
sự phát triển kinh tế xã hội
Bản sắc dân tộc Việt Nam có “cốt lõi” là di sản văn hóa “bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng sử, tính giản dị trong lối sống…Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”
đã và đang thể hiện ngày càng rõ hơn vai trò là một nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập
Tuy vậy, di sản văn hóa sở dĩ là nguồn lực phi vật thể của sự phát triển kinh tế - xã hội còn bởi, cùng với giá trị văn hóa, di sản văn hóa còn hàm chứa giá trị kinh tế Thông qua tác động của con người, với quá trình công nghệ của mình, giá trị kinh tế của văn hóa, vốn tiềm ẩn trong các di sản, được xuất lộ và phát huy tác dụng Chẳng hạn, với các di tích lịch sử văn hóa, nhờ được bảo tồn, tôn tạo trong một quy hoạch tổng thể, gắn kết
Trang 31giữa di sản văn hóa và du lịch mà trở thành hàng hóa, thậm chí, là hàng hóa có giá trị kinh tế đặc biệt Nguồn lợi kinh tế thu được hàng năm qua hoạt động văn hóa - du lịch tại các di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới như Cố Đô Huế, Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An… đạt mức hàng trăm tỉ đồng, là những ví dụ tiêu biểu Tương tự như thế, các làn điệu dân
ca, khi được vật thể hóa nhờ các băng hình, đĩa nhạc; các bí quyết nghề nghiệp và bàn tay khéo léo của người thợ thủ công Việt Nam được thể hiện và phát huy trong việc sản xuất các mặt hàng thủ công - mỹ nghệ phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu…sẽ trở thành hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao [14, tr 67 - 69]
Từ nhận thức di sản văn hóa là nguồn lực đặc biệt tác động vào sự phát triển kinh tế - xã hội, trong những năm qua, đặc biệt là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hết sức quan tâm tới sự nghiệp gìn giữ và phát huy di sản văn hóa dân tộc, nhờ đó, đã đạt được nhiều kết quả tích cực Chúng ta có thể khẳng
định rằng văn hóa Việt Nam là khuôn diện, là sự thể hiện sinh động sức sống của dân tộc Việt Nam, nguồn lực quan trọng đưa tới sự phát triển bền vững của đất nước Nguồn lực này luôn tiềm ẩn trong văn hóa truyền thống, tức di sản văn hóa dân tộc Do vậy, di sản văn hóa dân tộc, là cái gốc, là chất nuôi dưỡng sự phát triển của đất nước, là chất keo gắn kết cộng đồng các dân tộc Việt Nam Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, đưa di sản văn hóa dân tộc thực sự trở thành nguồn lực phát kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Di sản văn hóa có vai trò to lớn đối với sự phát triển lành mạnh và bền vững của cuộc sống đương đại Bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa là nền tảng, là nguồn động lực cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người và của cả cộng đồng
Trang 321.2 Khái quát về quản lý nhμ nước đối với di sản văn hoá ở nước ta trước khi có luật di sản văn hóa
1.2.1 Quản lý Nhà nước đối với di sản văn hóa ở nước ta trước năm 2001s
Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của toàn dân, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách nước ngoài và để tạo nền móng vững bền góp phần "xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá thế giới" luôn luôn là một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, để chủ chương đó được hiện thực hoá một cách hữu hiệu trong cuộc sống đòi hỏi tất yếu là phải có sự đóng góp về nhân lực, trí lực cũng như vật lực (tiền của) của mọi công dân, của mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp [42, tr 57 - 63] Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá dân tộc trong bối cảnh cả nước
đang ra sức thực hiện chủ trương lớn: công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bối cảnh giao lưu, hội nhập đã, đang trở nên vấn đề bức xúc
1.2.1.1 Những văn bản quốc tế về bảo tồn di sản văn hóa
Trước hết về nhận thức, chúng ta đều hiểu di sản văn hoá là tài sản,
đồng thời là một nguồn nội lực cực kỳ quan trọng của mọi quốc gia, mọi dân tộc Bởi vậy, việc bảo vệ di sản, phát huy giá trị của di sản văn hoá để góp phần xây dựng, bảo vệ đất nước, xây dựng nền văn hoá mới không còn là nhiệm vụ riêng có của quốc gia, mà được thể hiện ở hệ thống các văn bản pháp lý được áp dụng cho hầu như tất cả các thành viên của Liên hiệp quốc,
đặc biệt là những nước thành viên của uỷ ban Văn hoá Giáo dục (UNESCO) của Liên hiệp quốc Đó là Hiến chương Athens (1931) về trùng tu di tích lịch
sử, Hiến chương Venice (1964) về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ, Công
ước bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới (1972), Hiến chương Bura (1979, sửa đổi 1999), Hoa viên lịch sử, Hiến chương Washington (1984) về
Trang 33bảo vệ thành phố và khu vực đô thị lịch sử, Hiến chương (1990) về bảo vệ và quản lý di sản khảo cổ học, nguyên tắc chỉ đạo việc giáo dục và đào tạo về bảo
vệ di tích, cùng công trình và di chỉ (1993), Văn kiện Nara (1994) về tính xác thực, Hiến chương về việc bảo vệ và quản lý di sản văn hoá dưới nước (1990), nguyên tắc lập hồ sơ di tích, cụm kiến trúc và di chỉ (1996), công ước quốc tế
về du lịch và văn hoá (1999), Hiến chương về di sản xây cất bản xứ (1999), nguyên tắc bảo tồn các kiến trúc lịch sử bằng gỗ.…
Những văn bản nói trên, đặc biệt là hiến chương Venice “khuyến khích tiếp nhận và áp dụng các công ước và khuyến nghị quốc tế về việc bảo vệ, bảo tồn và phát huy các di sản kiến trúc gồm các di tích, các cụm công trình và các di chỉ” Nhờ đó, ngày nay nhân loại được thừa hưởng, được chiêm ngưỡng nhiều công trình kỳ vĩ, nhiều hiện vật quý hiếm chứa đựng đầy ắp những thông tin nguyên gốc về nhiều mặt
1.2.1.2 Những văn bản của Đảng và Nhà nước ta về bảo tồn di sản văn hóa
Việt Nam, gia nhập Liên hiệp quốc, gia nhập UNESCO tuy muộn, nhưng cũng là một những nước rất có ý thức đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hoá Do vậy, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, “xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc làm rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam” nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 ấn định nhiệm vụ cho Đông phương Bác cổ Học viện (Vietnam Orintal Institute) nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam điều
4 của Sắc lệnh này nêu rõ: “Cấm phá huỷ những đình, chùa, đền, miếu, hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá huỷ những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính chất tôn giáo hay không nhưng có ích cho lịch sử mà chưa
được bảo tồn” [50, tr 334 - 346]
Trang 34Kết thúc sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp (1954), Chính phủ ban hành Nghị định số 519 - TTg ngày 29/10/1957 về việc bảo tồn di tích, di vật lịch sử và danh lam thắng cảnh Điều 1 của Nghị định nói trên xác định:
“Tất cả những bất động sản và động sản có một giá trị lịch sử hay nghệ thuật
kể cả bất động sản và động sản còn nằm ở dưới đất hay dưới nước và những danh lam thắng cảnh (danh thắng) ở trên lãnh thổ nước Việt Nam, bất cứ là thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, một đơn vị hành chính, một cơ quan, một
đoàn thể, hoặc một tư nhân từ nay đều đặt dưới chế độ bảo vệ của Nhà nước quy định trong Nghị định này”
Năm 1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký nghị định 519/TTg về tu bổ
và tôn tạo di tích lịch sử văn hóa
Ngày 04 tháng 4 năm 1984, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh
đã ký quyết định công bố Pháp lệnh số 14 - LCT/HđNN7 “Bảo vệ và sử dụng
di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh”
Ngày 13 tháng 12 năm 1985 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 288/HđBT quy định việc thi hành pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
Ngày 04 tháng 4 năm 1984 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ký ban hành Pháp lệnh số 14-LC/HĐNN về “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh”
Ngày 27 tháng 7 năm 1986 Hội đồng Bộ trưởng ban hành thông tư số 206/VH – TT hướng dẫn thi hành pháp lệnh
Cao hơn là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992, điều 34 đã xác định: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn - bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh Nghiêm cấm các hành động xâm
Trang 35phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh
lam thắng cảnh” [16, tr.11]
Trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập, để nâng cao hơn nữa vai trò của công tác quản lý di sản, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 đã ban hành và thông qua Luật Di sản văn hóa Với việc ra đời Luật Di sản văn hóa, lần đầu tiên ở nước ta có một văn bản luật cao nhất tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý di sản văn hóa trong cả nước Luật Di sản văn hóa gồm 7 chương với 74 điều trong đó quy
định rõ nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hoá, phân định trách nhiệm của các cấp đối với việc quản lý di sản văn hoá gồm: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hoá; Bộ Văn hoá -Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hoá; Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hoá theo sự phân công của Chính phủ; Ủy ban nhõn dõn các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý di sản văn hoá ở địa phương theo
phân cấp của Chính phủ” [36, tr.37]
Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, tư duy
đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình dân chủ hóa và xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Luật điều chỉnh những vấn đề hoàn toàn mới và hoàn thiện nâng cao những vấn đề đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trước
đây cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế
Những nội dung được cụ thể hóa qua các quy định của Luật Di sản văn hóa đã tạo động lực giúp cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc có những bước phát triển mới theo hướng: bảo tồn và tôn vinh những di sản văn hóa tiêu biểu nhất; tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là các chủ sở hữu di sản văn hóa đóng góp
Trang 36cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di tích; phát huy di sản văn hóa phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm góp phần thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân, chủ văn minh Đồng thời phải biết vận hành theo đúng cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa để được tạo nguồn thu đáng kể từ các hoạt động dịch vụ, văn hóa tại di tích, tái đầu tư cho công tác bảo quản, tu bổ phục hồi di tích Để thực thi Luật Di sản văn hoá, Chính phủ, Bộ Văn hoá - Thông tin cũng ban hành một số văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành:
Ngày 11/11/2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Di sản Văn hoá
Ngày 24/7/2001, Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin ra Quyết định số 1709/2001/QĐ-BVHTT phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh đến năm 2010
Ngày 18/2/2002, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 05/2002/CT-TTg về việc tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đào bới, trục vớt trái phép di chỉ khảo cổ học
Ngày 06/02/2003, Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh
Như vậy, Nhà nước ta đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật
để tạo hành lang pháp lý cho việc bảo vệ và phát huy giá trị Di sản văn hoá Những văn bản đó là hoàn toàn phù hợp với nội dung các Công ước Quốc tế và
Trang 37nghệ thuật, 95 danh lam thắng cảnh Nếu so với gần 400 di tích người Pháp liệt hạng, chúng ta đã có bước tiến đáng trân trọng Đặc biệt trong giai đoạn này chúng ta đã được UNESCO công nhận 01 di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ Long được công nhận hai lần (1994, 2000) và 03 di sản văn hóa thế giới đó là Quần thể di tích kiến trúc Cố đô Huế (1993), Khu phố cổ Hội An (1999) và Khu di tích Chăm Mỹ Sơn (1999), ngoài ra chúng ta cũng tiến hành lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
là di sản thiên nhiên thế giới và di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu nhân loại đó là Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên [48, tr.5 - 6]
1.2.1.3.2 Về đầu tư ngân sách cho bảo tồn di sản văn hóa
Ngân sách Nhà nước chi cho việc bảo tồn di tích ngày càng cao Trong các năm 1990 - 1993, Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch), từ nguồn vốn sự nghiệp, đã đầu tư 26 tỷ đồng cho di tích Riêng chi cho Chương trình mục tiêu chống xuống cấp di tích, từ năm 1994 đến năm
2000, Nhà nước đã cấp 178 tỷ đồng Nhiều di tích sau khi được đầu tư, đã thu
được nguồn tài chính khá, ví dụ: Vịnh Hạ Long, thu 20 tỷ/năm; Huế thu 20 tỷ/năm; Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội thu 1,2 tỷ/năm…[10, tr 19]
1.2.1.3.3 Về bảo tàng
Đã xây dựng được 113 bảo tàng từ Trung ương tới các địa phương Bao gồm: bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng tỉnh, thành phố Trong đó có những bảo tàng được liệt vào loại hiện đại, có nhiều sưu tập hiện vật có giá trị và phong phú so với các nước trong khu vực như: Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Địa chất, Bảo tàng thành phố Hải Phòng, Bảo tàng Lịch sử tại thành phố Hồ Chí Minh …
Trang 38Hệ thống các bảo tàng ở nước ta đang bảo quản gần 3 triệu hiện vật Trong đó có nhiều sưu tập hiện vật quý hiếm về địa chất học và về lịch sử, chiến tranh cách mạng Hoạt động của các bảo tàng ngày càng có chiều sâu, năng động, sáng tạo góp phần rất quan trọng vào việc bồi dưỡng kiến thức lịch
sử, giáo dục truyền thống, tăng cường công tác đối ngoại
1.2.1.3.4 Về đào đạo nguồn nhân lực
Đã xây dựng được các cơ sở đào tạo nhân lực có trình độ từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, trên đại học cung cấp cho các nhu cầu thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cụ thể ở các di tích, cũng như ở các bảo tàng Hiện nay cả nước có gần 2000 cán bộ được đào tạo , làm việc tại các bảo tàng, các
di tích, nhiều người trong số họ đã bảo vệ thành công luận án thạc sĩ, tiến sĩ một số ít được Nhà nước phong hàm giáo sư, phó giáo sư Việc sử dụng thành thạo phương tiện tin học (vi tính), ngoại ngữ thông dụng không còn là việc khó đối với các bảo tàng quốc gia
1.2.1.3.5 Về hoạt động hợp tác quốc tế
Trước đây hoạt động hợp tác quốc tế của ngành Bảo tồn Bảo tàng Việt Nam chủ yếu hướng vào các nước xã hội chủ nghĩa để tranh thủ viện trợ đào tạo nhân lực, kinh nghiệm bảo tồn di tích, xây dựng, quản lý, tổ chức các hoạt
động ở các bảo tàng, di tích và cũng đã giành được những kết quả khả quan Nhiều cán bộ hiện làm việc tại Cục Di sản văn hóa, tại các bảo tàng ở Trung
ương, ở một số địa phương đã từng được đào tạo đại học, trên đại học ở các nước Liên Xô, Trung Quốc, Đức, Bungari, Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumani, Hungari Ngày nay hoạt động này vừa giữ được quan hệ truyền thống, vừa phát triển, mở rộng, xây dựng và duy trì các mối quan hệ song phương với các
tổ chức chính phủ và phi chính phủ của Nhật Bản, Hoa Kỳ, CHLB Đức, Pháp,
ấn Độ, Thuỵ Điển, úc, Anh, Italia, Đan Mạch…luân phiên tham gia các cuộc hội thảo, huấn luyện thường kỳ của Trung tâm Khảo cổ và mỹ thuật trực thuộc
tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước khu vực Đông Nam á (SPAFA)
Trang 39Những năm gần đây, các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ của một số nước đã viện trợ, giúp đỡ ngành Bảo tồn Bảo tàng Việt Nam tu bổ di tích và chỉnh lý trưng bày ở các bảo tàng Ví dụ UNESCO vận
động quốc tế tham gia giúp đỡ Việt Nam bảo tồn di tích Huế 800.000 USD, Cộng hoà Liên bang Đức tài trợ cho việc tu bổ chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) 150.000 USD, American Express tài trợ cho khu Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) 70.000 USD, Quỹ SIDA, Thuỵ Điển giúp chỉnh lý, nâng cao hoạt
động của Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam 600.000 USD, Pháp giúp Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Nhật Bản giúp Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trang thiết bị nghe nhìn…[10, tr.7 – 21]
1.2.1.4 Những hạn chế, yếu kém
Mặc dù chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Nhưng công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa còn bộc lộ quá nhiều khiếm khuyết, bất cập, tiêu cực…xin nêu một vài minh chứng: Trong giai đoạn này Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc nhưng việc vi phạm di tích, trộm cắp cổ vật, mua bán trái phép cổ vật … vẫn diễn ra hàng ngày như xây dựng nhà vệ sinh quanh Hồ Gươm, nhà hàng cá mập, khách sạn
Hà Nội vàng và di tích 48 Hàng Ngang bị xâm phạm cảnh quan cũng như tổng thể công trình; Hay nàng Tô Thị ở Lạng Sơn bị nung thành vôi… Thật khó có thể liệt kê hết các hành động xâm hại di tích lịch sử - văn hoá của quốc gia
đang xảy ra hàng ngay
Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước luôn luôn
đặt di tích, cảnh quan di tích trước tình trạng mất còn Nhà máy xi măng Chinh Phong (Hải Phòng) đã chôn vùi một di tích khảo cổ đáng giá… Chúng
ta đều biết nhưng “lực bất tòng tâm” bởi dù có được ưu tiên cũng không làm nổi vì quỹ thời gian, vì nhân lực để tổ chức thực hiện
Trang 40Các bảo tàng, nhất là các bảo tàng ở các cơ quan Trung ương, tuy đã có nhiều cố gắng trong công tác nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trung bày nhưng xem ra vẫn còn hạn chế Công tác sưu tập hiện vật có ở các bảo tàng chưa
được đầu tư và quan tâm đúng mức nên hiện vật chưa thật sự phong phú để
đáp ứng cho nghiên cứu và thu hút khách tham quan
Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho các cơ quan bảo tồn di tích, cho các bảo tàng chưa được coi trọng Chúng ta có hai trường đó là Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và Trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đào tạo nguồn nhân lực cho ngành di sản văn hóa nhưng thực tế thì hai trường nói trên vừa thiếu cơ sở vật chất vừa thiếu xưởng trường, vừa thiếu tài liệu học tập, giáo trình thì chậm đổi mới…tất cả những cái đó đã dẫn tới hệ quả nhân lực
được đào tạo ra chất lượng không cao
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa không được phân cấp rõ ràng từ Trung ương tới các địa phương dẫn đến tình trạng không phát huy được tối đa nguồn nhân lực hiện có để phục vụ cho công tác chuyên môn Điều đó thể hiện ở các nội dung như sau:
Cục Di sản văn hóa là cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ, phát huy giá trị của di sản văn hóa, nhưng vừa thiếu cán bộ, lại vừa chậm được đào tạo nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn nên chưa đáp ứng 100% đòi hỏi của công việc, chưa có những cán bộ, chuyên gia chuyên ngành để thẩm định các
dự án, các quy hoạch bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa, các báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư bảo tồn, tôn tạo di tích, các phương án thiết kế
kỹ thuật trùng tu di tích, các đề cương trưng bày ở các bảo tàng quốc gia, cũng như các bảo tàng các tỉnh, thành phố Việc nghiên cứu để trình Bộ trưởng ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước đối với di sản còn chậm… Cục Di sản văn hóa có chức năng quản lý cả di sản văn hóa vật thể lẫn
di sản văn hóa phi vật thể nhưng việc cấp phép, tổ chức các lễ hội tại các di