Riêng tại huyện Vụ Bản có quần thể di tích Phủ Dầy nổi tiếng với lễ hội Phủ Dầy được nghiên cứu rất nhiều nhưng ngoài Phủ Dầy, tại huyện Vụ Bản còn có một số lễ hội khác góp phần phong p
Trang 1Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI
********
Vũ quỳnh hương
Quản lý lễ hội truyền thống
ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số: 60310642
LUậN VĂN THạC Sĩ QUảN Lý VĂN HóA
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phan Văn Tỳ
Hà Nội, 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phan Văn Tú Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được
ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Quỳnh Hương
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN VỤ BẢN 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về lễ hội, quản lý lễ hội truyền thống 13
1.1.2 Nội dung quy chế trong quản lý lễ hội truyền thống huyện Vụ Bản 23
1.2 Tổng quan về lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản 34
1.2.1 Khái quát chung về huyện Vụ Bản 34
1.2.2 Tổng quan về lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản 38
Tiểu kết chương 1 49
Chương 2: THƯC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN VỤ BẢN 51
2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản 51
2.1.1 Tổ chức cơ cấu nhân sự trong quản lý lễ hội 51
2.1.2 Cơ chế quản lý lễ hội 54
2.2 Thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản 56
2.2.1 Xây dựng, chỉ đạo thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về lễ hội 56
2.2.2 Thực trạng công tác quản lý dịch vụ vệ sinh môi trường, an ninh trật tự tại lễ hội 66
2.3 Đánh giá công tác quản lý lễ hội tại huyện Vụ Bản trong thời gian qua 75
2.3.1 Những ưu điểm 75
2.3.2 Những hạn chế 80
2.3.3 Nguyên nhân tồn tại 83
Tiểu kết chương 2 85
Trang 4Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN VỤ BẢN 86
3.1 Xu hướng biến đổi lễ hội truyền thống và định hướng quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Vụ Bản trong giai đoạn hiện nay 86
3.1.1 Xu hướng biến đổi lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội đương đại 86
3.1.2 Định hướng quản lý lễ hội truyền thống huyện Vụ Bản trong giai đoạn hiện nay 89
3.2 Các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản 93
3.2.1 Hoàn thiện văn bản pháp quy và tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về lễ hội 93
3.2.2 Giải pháp về tổ chức quản lý và cơ cấu nhân sự 99
3.2.3 Giải pháp về công tác bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội 106
3.3 Một số kiến nghị với cơ quan chức năng cấp trên 112
3.3.1 Kiến nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 112
3.3.2 Kiến nghị với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định 113
3.3.3 Kiến nghị với Phòng Văn hóa huyện Vụ Bản 115
Tiểu kết chương 3 117
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 126
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tên đầy đủ
- VH-TT Văn hóa - Thông tin
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội truyền thống là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam từ xưa đến nay Lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa, là sản phẩm tinh thần được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử lâu đời Người Việt có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”
Lễ hội thể hiện truyền thống quý báu đó của dân tộc, tôn vinh những vị thần, danh tướng có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại như anh hùng chống giặc ngoại xâm, những người khai phá vùng đất mới, những vị tổ nghề nghiệp những nhân vật truyền thuyết chi phối đời sống trần gian, giúp con người sống hướng thiện Lễ hội là dịp con người được trở về với nguồn cội thiêng liêng Hoạt động này còn thể hiện sức mạnh cộng đồng, làng xã, quốc gia, dân tộc Lễ hội truyền thống cũng là nhu cầu sang tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mọi tầng lóp dân cư, là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí
Trải qua bao thăng trầm lịch sử cùng với tỉnh thần yêu nước, đấu tranh chống giặc ngoại xâm triền miên, chính những dấu ấn lịch sử hào hùng đó đã
để lại cho dân tộc biết bao di sản quý giá: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội dân gian truyền thống chính là một trong những di sản văn hóa phi vật thể quý báu của dân tộc, góp phần quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Trong xu thế toàn cầu hóa, cuộc sống hiện đại được tác động về mọi mặt, kể cả văn hóa diễn ra khắp toàn thế giới, một mặt giúp chúng ta được tiếp cận với các nền văn hóa mới, quảng bá hình ảnh đất nước và văn hóa dân
Trang 7tộc, mặt khác lại mang đến những nguy cơ mai một, biến tấu về văn hóa, nhất
là các giá trị văn hóa phi vật thể, trong đó có lễ hội truyền thống Bởi vậy việc tuyên truyền sâu rộng, trước mắt cũng như lâu dài về di tích lịch sử - văn hóa góp phần giữ gìn, kế thừa truyền thống của dân tộc là hết sức cần thiết
Nam Định là một tỉnh có địa hình, địa lý phong phú: gồm đồng bằng, sông, biển, núi đồi, gồm 9 huyện và một thành phố Ở khu vực nào cũng dầy đặc dấu ấn văn hóa truyền thống, các công trình kiến trúc lịch sử lâu đời: đình, đền, chùa, miếu, lăng, phủ Những công trình, di tích ấy là nơi bảo tồn lưu giữ những lễ hội, phong tục tập quán của dân tộc cũng như những tài sản văn hóa quý báu của địa phương, của quốc gia, của thế giới
Vụ Bản là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Nam Định, giàu truyền thống văn hóa, hiếu học và lịch sử cách mạng lâu đời Nơi đây cũng bảo tồn nhiều di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống quý báu Vụ Bản có 230 di tích, trong đó có 8 di tích được xếp hạng cấp quốc gia gồm phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát, lăng Mau (thuộc quần thể di tích Phủ Dầy, xã Kim Thái); đền thờ Trạng nguyên Lương Thế Vĩnh (làng Cao Phương, xã Liên Bảo); đền thờ Đào Quý Nương xã Quang Trung; đền thờ Mai Hồng xã Họp Hưng; đền Đông xã Thành Lợi Riêng quần thể di tích Phủ Dầy đang đề nghị nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt và đề nghị UNESCO công nhận
“nghi lễ chầu văn của người Việt là di sản văn hóa phỉ vật thể đại diện của nhân loại” Gắn với những công trình kiến trúc lịch sử này là những lễ hội truyền thống sôi động Trong đó đặc sắc và nổi tiếng cả nước là lễ hội Phủ Dầy gồm cả một quần thể di tích với chùa, lăng, phủ nguy nga và lễ hội kéo dài đến 10 ngày (từ mồng 1 đến mồng 10 tháng 3 Âm lịch) gắn với hình thức hầu đồng đặc biệt thu hút nhiều khách du lịch thập phương Cùng với hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các lễ hội truyền thống này đã gắn bó lâu đời với cuộc sống của người dân nơi đây
Trang 8Cùng với đời sống vật chất ngày được nâng cao, đời sống tinh thần với các nhu cầu sinh hoạt văn hóa của người Việt cũng ngày càng được quan tâm chú trọng Vì thế mà các lễ hội truyền thống trên khắp cả nước được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và thu được những kết quả tốt Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu về lễ hội truyền thống trên một huyện cũng chưa nhiều Riêng tại huyện Vụ Bản có quần thể di tích Phủ Dầy nổi tiếng với lễ hội Phủ Dầy được nghiên cứu rất nhiều nhưng ngoài Phủ Dầy, tại huyện Vụ Bản còn có một số
lễ hội khác góp phần phong phú cho đời sống văn hóa tinh thần của người dân địa phương nơi đây như lễ hội chợ Viềng mùa xuân, một hội chợ tâm linh truyền thống, một nét đẹp văn hóa lâu đời; hội làng thôn Quả Linh xã Thành Lợi Hơn nữa, trước thực trạng nhiều lễ hội truyền thống đang dần bị biến dạng, bị thương mại hóa làm ảnh hưởng không nhỏ tới nét đẹp nguyên thủy vốn có của lễ hội truyền thống, do đó đòi hỏi các nhà quản lý lễ hội phải có nhận thức đúng đắn và khoa học để khai thác, giữ gìn và phát huy có hiệu quả giá trị của các di sản này nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu thực tiễn
Xuất phát từ những lý do trên tác giả luận văn chọn đề tài: “Quản lý lễ
hội truyền thống ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp
cao học ngành Quản lý Văn hóa của mình
2 Tình hình nghiên cứu
2.1 Những cuốn sách đã xuất bản
- Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tòng (1993), “Lễ hội truyền thống trong
đời sống xã hội hiện đại “, Nxb Khoa học Xã hội
- “Lễ hội Việt Nam trong phát triển du lịch” (2004), của tác giả Dương
Văn Sáu trường Đại học Văn hóa Hà Nội
- “Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam” (2000), Nguyễn Chí Bền
(chủ biên)
Trang 9- “60 lễ hội truyền thống Việt Nam” của tác giả Thạch Phương và Lê
Trung Vũ
- “Lễ hội cổ truyền của người Việt ở Bắc Bộ” do Lê Trung Vũ (chủ biên)
Những cuốn sách này cho chúng ta cái nhìn tổng quát về lễ hội cổtruyền Việt Nam gắn với văn hóa vùng miền
- Cao Đức Hải (chủ biên) (2010), “Giáo trình quản lý lễ hội và sự kiện”,
Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
- “Quản lý lễ hội truyền thống của Người Vỉệt” (2009) của tác giả Bùi
Hoài Sơn, Nxb Văn hóa Dân tộc
- “Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian” (2005) của tác giả Hoàng
Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc
- “Quản lý lễ hội dân gian cổ truyền - Thực trạng, giải pháp” của tác giả Thu Linh và Phan Văn Tú,
Những cuốn sách này đều có phạm vi nghiên cứu rộng về các lễ hội truyền thống diễn ra trên cả nước nên cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về quản
lý lễ hội truyền thống hiện nay và những giải pháp phù hợp cho quản lý thực trạng chung của các lễ hội
2.2 Những công trình nghiên cứu về lễ hội và quản lý lễ hội tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
- Hồ Đức Thọ (2004), Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh và dì sản văn
hóa lễ hội Phủ Dầy, Nxb Văn hóa Thông tin
- Bùi Văn Tam (2003), Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh, Nxb
Văn hóa Dân tộc
- Báo cáo tổng kết đề tài khoa học: “Lễ hội và các giải pháp quản lỷ lễ
hội trên địa bản tỉnh Nam Định” do UBND tỉnh Nam Định và Sở Văn hóa
Thông tin phối hợp thực hiện năm 2007
Trang 10Các công trình này chủ yếu đi vào chuyên sâu nghiên cứu về tín ngưỡng đạo Mẫu tại lễ hội Phủ Dầy, cho ta cái nhìn sâu sắc rõ nét về hình thức nghi lễ, những diễn biến xuyên suốt lễ hội này Và đề tài “Lễ hội và các giải pháp quản lý lễ hội trên đỉa bản tỉnh Nam Định” đã tập hợp bao quát chung về các lễ hội trên địa bàn cả tỉnh Nam Định
Tuy nhiên, qua tìm hiểu của tác giả iuận văn thì chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý lễ hội trên địa bàn của huyện Vụ Bản Vì vậy, trong quá trình viết luận văn của mình, tác giả luận văn sẽ kế thừa các kết quả
nghiên cứu của các tác giả đi trước để nghiên cứu đề tài “Quản lý lễ hội
truyền thống tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng của việc quản lý lễ hội trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong vòng 5 năm trở lại đây, luận văn sẽ tìm hiểu những mặt hạn chế và ưu điểm từ thực trạng hiện tại, qua
đó đề xuất một số giải pháp, đóng góp xây dựng nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về lễ hội và quản lý lễ hội truyền thống
- Tìm hiểu khái quát về lịch sử huyện Vụ Bản và lễ hội truyền thống của huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống của huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định 5 năm trở lại đây
- Đề xuất một sổ giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong thời gian tới
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghỉên cửu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng lễ hội và việc quản lý lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý, tổ chức bộ máy, các giải pháp, định hướng bảo tồn và phát huy có hiệu quả những giá trị của lễ hội truyền thống ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
4.3 Thời gian nghiên cứu
Giai doạn từ năm 2009 đến năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: quản lý văn hóa, lịch sử, bảo tồn di tích, xã hội học
- Phương pháp điền dã dân tộc học: quan sát tham dự, phỏng vấn sâu
- Phương pháp tổng hợp tài liệu phân tích, so sánh
6 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu về thực trạng và các giải pháp đề xuất mà luận văn đưa ra là một trong những cơ sở khoa học giúp các cấp lãnh đạo của UBND huyện, phòng Văn hóa và Thông tin huyện Vụ Bản có giải pháp phù họp trong việc đổỉ mới công tác quản lý lễ hội tại địa phương
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo về công tác quản lý lễ hội cho các cán bộ quản lý văn hóa cơ sở ở các huyện lân cận và các độc giả có nhu cầu tìm hiểu về công tác quản lý lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Trang 127 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luân văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống và tổng quan
về lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý lễ hội truyền thống ở huyện
Vụ Bản
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Vụ Bản
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN VỤ BẢN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về lễ hội, quản lý lễ hội truyền thống
1.1.1.1 Khái niệm lễ hội
Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán - Việt là lễ và hội
Theo cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì, lễ là “cách bày tỏ kính ý hoặc đồ vật để bày tỏ kính ý” [2, tr.385]
Thiều Chửu trong cuốn Tự điển Hán Việt của mình cũng định nghĩa tương tự, ông còn giải thích rõ thêm rằng lễ là “theo cái khuôn mẫu của người
đã qua mà định ra các phép tắc, từ quan hôn, tang tế cho đến đi đứng, nói
năng đều có cái phép nhất định” [40, tr.322]
Đoàn Văn Chúc trong cuốn Văn hóa học (1997) cũng cho rằng lễ là sự
bày tỏ kính ý trong từng hoàn cảnh cụ thể, chẳng hạn:
Lễ thành hoàng là cuộc bày tỏ kính ý cầu mong phúc lành và dự phòng bất trắc cho cộng đồng làng xã; Lễ gia tiên là các ngày giỗ, bày tỏ kính ý tưởng nhớ người quá cố trong gia đình hay gia tộc nói chung; Lễ chuyển đoạn (vào làng, khao vọng) là cuộc bày tỏ kính ý vui mừng đối với sự chuyển đoạn tuổi cũng là chuyển vai trò xã hội của cá nhân; Lễ cưới là cuộc bày tỏ kính ý vui mừng đối với sự kiện hôn phối của đôi trai gái đến tuổi trưởng thành; Lễ tang là cuộc bày
tỏ kính ý buồn bã đối với sự qua đời của một cá nhân thành viên nhóm; Lễ hạ dòng thể hiện cuộc bày tỏ kính ý dự phòng bất trắc đối với việc vào mùa sản xuất, đồng thời kích thích ý chí người sản
Trang 14xuất; Lễ kỳ an là cuộc bày tỏ kính ý cầu an khang và khử trừ sự xấu (ma quỷ) khi bước vào mùa dịch bệnh (mùa hè)… [39, tr.124-130].
Hội có nghĩa là “cuộc vui được tổ chức chung cho đông đảo người tham
dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt” [73.]
Như vậy, lễ hội là một từ ghép, về mặt này, hai từ lễ hội gần tương đương với hai từ trong tiếng Anh, tiếng Pháp là Ceremony (lễ) và Festival (hội) Trên thực tế, không phải tất cả các tác giả lúc nào cũng có sự rạch ròi vì sao lại dùng từ lễ hội mà không dùng từ hội hè, hay hội lễ Tác giả Lê Văn Kỳ thì cho rằng dùng từ hội lễ như thế mới nhấn mạnh được ý nghĩa tích cực của các cuộc vui chơi, sinh hoạt tập thể và mới hạn chế các tiêu cực lạc hậu mà sự thực hành lễ gây ra, ông viết:
Đành vẫn biết là lễ mở đầu, là tiếng nói tâm linh đầy thành kính, nhưng chỉ tự thân nó thì làm sao thay được cả cuộc sống đời thường
mà cả cộng đồng đang vật lộn, đang hướng tới? Nếu như không có những trò chơi, những động tác tập dượt nghề nghiệp, những cuộc
đọ sức, đua tài của người tứ xứ trên một diễn trường nhất định thì chưa thể nói đó là một hội lễ theo đúng nghĩa của nó [52.]
Tuy nhiên các nhà nghiên cứu văn hoá vẫn chưa nhất quán trong cách sắp xếp cụm từ “ Lễ hội” hay “Hội lễ” Tác giả Bùi Thiết (1993) cho rằng “khi phần hội phong phú hơn thì gọi là “Hội lễ”, khi phần lễ lấn át thì gọi là “Lễ hội” [53, tr.7] Còn GS Ngô Đức Thịnh thì chỉ ra một cách cụ thể hơn rằng:
Lễ hội là một hiện tượng tổng thể, không phải là thực thể chia đôi (phần lễ và phần hội) một cách tách biệt như một số học giả đã quan niệm mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một
Trang 15vị thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hoá, phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội Cho nên trong lễ hội, phần lễ là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội
là phần phát sinh tích hợp” [70, tr.37]
Như vậy từ “Hội” bản thân nó đã gắn bó hữu cơ với từ “Lễ” (không có
lễ thì không có hội) Trong ngôn ngữ thường ngày người ta thường dùng từ
“Hội” để gọi chung cho lễ hội đó và đó chỉ là một hình thức tu từ mà thôi, lấy cái bộ phận để chỉ cái toàn thể, lấy hội để chỉ lễ hội Về cơ bản, khái niệm “Lễ hội” đã đi vào đời sống văn hoá ở nước ta và thường được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật hay các văn bản quản lý hành chính nhà nước, v.v
Lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo Khi con người chưa đủ khả năng chế ngự và làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình, vẫn bị chi phối và bất lực trước những bất công và bất trắc, trước những ngẫu nhiên và may rủi Vì vậy họ đặt niềm tin vào thần linh của trời đất, của sông núi Vì thế ở các làng xã xưa thường xây miếu thờ thiên thần, thổ thần, thuỷ thần, sơn thần Lễ hội cổ truyền đã phản ánh hiện tượng đó Tôn giáo tín ngưỡng có ảnh hưởng đáng kể đối với lễ hội Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo tín ngưỡng để thần linh hoá những gì của trần tục
Trong cuốn Lễ hội cổ truyền Việt Nam của Viện Văn hoá Dân gian (nay
là Viện Nghiên cứu Văn hoá) xuất bản năm 1992, tác giả Lê Trung Vũ cũng
có chung quan điểm và thống nhất với định nghĩa lễ hội như trong Từ điển
bách khoa Việt Nam Tác giả Đoàn Văn Chúc trong cuốn Văn hóa học xuất
bản năm 1997 thì cho rằng:
Trang 16Lễ (cuộc lễ) là sự bày tỏ kính ý đối với một sự kiện xã hội, hay tự nhiên, tư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại, được thực hiện theo nghi điển rộng lớn, mức độ rộng lớn, tuỳ thuộc cấp nhóm xã hội có nhiệm vụ cử hành, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện tự nhiên xã hội, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng
dự lễ [39, tr.38]
Như thế, lễ hội được coi như một cấu trúc bao gồm hai phần chức năng
là lễ và hội Trong cuốn Folklore một số thuật ngữ đương đại, các tác giả Ngô
Đức Thịnh và Frank Proscha đưa ra định nghĩa:
Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ biểu thị thế giới quan của một nền văn hoá hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống [69 tr.136]
Đây có lẽ là một định nghĩa khá đầy đủ về những lễ hội kỷ niệm đã trở thành truyền thống Liên quan đến thuật ngữ “lễ hội truyền thống” còn có “lễ hội cổ truyền” đôi khi được sử dụng để nói về cùng một đối tượng Trong sách báo hay các công trình văn hoá ở Việt Nam, từ “Truyền thống” và từ
“Cổ truyền” cũng được coi là tương đương với từ Tradition của tiếng La tinh, Anh, Pháp, Đức Cổ truyền hay truyền thống đều là từ Hán - Việt
Trong cuốn Hán Việt Từ điển bách khoa của Đào Duy Anh cắt nghĩa truyền thống
Thống gồm có nghĩa là mối tỏ, dường mối, đầu gốc; còn truyền là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa “Đời
nọ truyền xuống đời kia” [2, tr.390]
Trang 17Khái niệm “Lễ hội truyền thống” cũng thường được hiểu là bộ phận những giá trị tốt đẹp, tích cực trong lễ hội cổ truyền đã được các thế hệ nối tiếp tái tạo và khẳng định xứng đáng được bảo tồn và phát huy trong đời sống văn hoá hiện đại Ta thường thấy xuất hiện những cụm từ “nghề truyền thống”, “bài hát truyền thống”, “ngọn lửa truyền thống”, “ngày hội truyền thống”… ở đây hàm nghĩa “lễ hội truyền thống” thực ra phù hợp hơn với khái niệm “truyền thống lễ hội” một khái niệm dùng để chỉ những giá trị tương đối
ổn định được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng qua không gian và thời gian được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục tập quán, nghi lễ, luật tục và dư luận
Lễ hội truyền thống còn được hiểu như là một thành tố quan trọng cấu thành hình thái văn hoá lịch sử tương ứng với những mô hình xã hội được tổ chức khác nhau “lễ hội truyền thống” có nghĩa là lễ hội của các xã hội truyền thống
Trong khoa học xã hội phương Tây, xã hội truyền thống được hiểu là những tập hợp người được tổ chức bởi các đơn vị cộng đồng, dựa trên ưu thế của tính chất cộng đồng, tính chất truyền thống cũng được gọi là “Cộng đồng
ký ức”, để phân biệt với “Cộng đồng khế ước”, là những tập hợp người được
tổ chức thành các tập đoàn dựa trên ưu thế của tính chất duy lý Như vậy, có thể hiểu rằng xã hội truyền thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh
bộ lạc, các xã hội truyền thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc, các xã hội tiền công nghiệp tồn tại trước khi hình thành những cộng đồng dân tộc quốc gia Theo cách hiểu này thì “lễ hội truyền thống” đồng nhất với
“lễ hội cổ truyền”, “lễ hội dân gian” là lễ hội trong đời sống văn hoá tinh thần của các xã hội truyền thống, những hình thái văn hoá xã hội xuất hiện trước hình thái văn hoá xã hội hiện đại
Trang 18Tựu chung lại có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo
và lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái
văn hoá lịch sử, được truyền lại trong các nông nghiệp với tư cách như một
phong tục tập quán
Có thể có nhiều cách hiểu và định nghĩa về lễ hội truyền thống khác
nhau, tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận, nhưng nhìn chung các học giả, các nhà
nghiên cứu đều đã chỉ ra cấu trúc hai mặt trong một chỉnh thể của lễ hội
truyền thống, đó là một hệ thống hành vi nghi thức biểu đạt thế ứng xử của
cộng đồng hướng tới một đối tượng thần linh nhất định và tổ hợp của những
hoạt động văn hoá nghệ thuật nhằm phụ trợ và minh họa cho các hành vi nghi
lễ Tuy nhiên khi tiếp cận lễ hội truyền thống theo hướng của quản lý văn hoá
sẽ bao trùm lên tất cả các yếu tố, các sự kiện của lễ hội đang diễn ra trong đời
sống đương đại gồm cả truyền thống dân gian và tái sáng tạo mang tính bác
học Mặt khác, lĩnh vực quản lý văn hoá sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc bảo
tồn, phát huy, khai thác và phát triển những vốn liếng truyền thống cũng như
sự tái sáng tạo các giá trị tạo nên các sự kiện của lễ hội phục vụ và đáp ứng
nhu cầu tinh thần của nhân dân trong đời sống văn hoá đương đại
1.1.1.3 Khái niệm quản lý
Về nội dung, thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách diễn
đạt khác nhau Theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt thuật ngữ “Quản
lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo
dõi Các nước phương Tây dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là
bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay Từ đó chuyển sang nghĩa
là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt
Theo Các Mác thì: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản
chất xã hội của quá trình lao động” [29, tr.29] Nhấn mạnh cho nội dung này
tác giả viết:
Trang 19Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo
để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [29, tr.480]
F Ăngghen thì cho rằng quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người
Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rằng bản chất của quản lý
và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Quản lý
là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn
và vai trò của quản lý càng tăng
Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý được hiểu “là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định” [47, tr.3]
Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn
là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
Trang 20Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội
Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản lý ra đời chính là nhằm đến mục tiêu hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc
1.1.1.4 Khái niệm quản lý lễ hội truyền thống
Quản lý nhà nước đối với các hoạt động lễ hội và sự kiện là việc sử dụng các công cụ quản lý như chính sách, luật pháp, bộ máy và các nguồn lực khác, để kiểm soát hay can thiệp vào các hoạt động lễ hội và sự kiện, nhằm duy trì hệ thống chính sách và luật pháp hiện hành có liên quan do nhà nước ban hành
Quản lý lễ hội là một lĩnh vực quản lý cụ thể trong ngành Văn hóa Theo tác giả Bùi Hoài Sơn thì:
Quản lý lễ hội là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản, quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, của cả nước nói chung [65, tr.15]
Trang 21Quản lý lễ hội còn được coi như một loại công việc, một công nghệ hay một phương pháp Bao gồm một quá trình gồm 4 giai doạn: xác lập và
tổ chức dự án lễ hội, lập kế hoạch tổ chức lễ hội, tổ chức dàn dưng lễ hội, kết thúc lễ hội
Quản lý nhà nước đối với hoạt động của lễ hội truyền thống là làm cho
lễ hội được vận hành theo đúng qui luật của văn hóa, nội dung của tế lễ phải phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nội dung của phần hội phải phù hợp và mang lại lợi ích sinh hoạt cho cộng đồng hiện tại
Dưới góc độ quản lý, việc bảo tồn lễ hội truyền thống là làm thế nào để lễ hội và những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội tồn tại và phát huy tác dụng trong đời sống đương đại Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc này ở Việt Nam đứng trước nhiều thách thức, đòi hỏi các nhà quản lý phải xác định rõ nguyên nhân và giải pháp phù hợp để lễ hội truyền thống được bảo tồn và phát triển
Cơ sở pháp lý của việc thực thi công tác quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống là dựa trên hệ thống các chính sách và pháp luật hiện hành của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, cụ thể và trực tiếp gồm:
- Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
- Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về hoạt
động Tôn giáo - Tín ngưỡng
- Quy chế tổ chức lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001/
QĐ-BVHTTDL ngày 23/8/2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch
- Nghị định số 154/2004/NĐ-CP ngày 9/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về nghi thức Nhà nước trong việc tổ chức lễ hội - mít tinh, lễ kỷ niệm, trao tặng và đón nhận các danh hiệu
Trang 22- Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội
ngày 25/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 308/2008/QĐ-TTg
- Các quy định cụ thể của chính quyền địa phương nơi diễn ra lễ hội Luật pháp và văn bản mang tính pháp quy nêu trên đã thể hiện rõ mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội truyền thống là duy trì và thực hiện nghiêm minh những điều khoản đã được ghi trong luật và các văn bản pháp quy - nghị định - chế tài, các văn bản liên quan Cụ thể mục tiêu và nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội truyền thống là gìn giữ và phát huy những giá trị của di sản lễ hội, khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” Đảm bảo quyền tự do sinh hoạt văn hoá tôn giáo - tín ngưỡng, an ninh trật tự công cộng và an toàn của người dân tham gia lễ hội Nghiêm cấm, chống sự lạm dụng tín ngưỡng vào các mục đích vụ lợi Tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của du khách, đảm bảo tính minh bạch thu - chi trong lễ hội, bảo vệ môi trường sống, phát triển hoạt động lễ hội với đa mục tiêu về hiệu quả văn hoá - kinh tế - xã hội
Theo quy định hiện hành, ngành VH,TT&DL chịu trách nhiệm cấp phép, kiểm tra, giám sát hoạt động lễ hội (đã được cụ thể hoá trong Quy chế
tổ chức lễ hội do Thủ tướng Chính phủ ban hành) Đồng thời phối hợp cùng các cơ quan chức năng như Công an, Quản lý thị trường, Môi trường, Giao thông, Y tế… xử lý sai phạm trong hoạt động lễ hội Trên thực tế, hoạt động
lễ hội có tác động tới các mặt của đời sống xã hội ở khu vực, địa điểm tổ chức Do vậy, việc chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung thuộc chính quyền sở tại, nhưng được phân chia trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị chức năng thuộc cơ quan nhà nước có liên quan Do đó, công tác kiểm tra, giám sát
Trang 23và xử lý vi phạm tuỳ từng vụ việc, hiện tượng mà có những cơ quan chức năng chịu trách nhiệm giải quyết
1.1.2 Nội dung quy chế trong quản lý lễ hội truyền thống huyện Vụ Bản
1.1.2.1 Nội dung quản lý lễ hội
* Quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội truyền thống
Trong thực tế, không có môi trường nào lưu giữ và chuyển giao những giá trị văn hoá của cộng đồng dân tộc sinh động hơn, đầy đủ hơn lễ hội Trong môi trường lễ hội, các cảm xúc thẩm mỹ và các giá trị sáng tạo được tiếp nối liên tục, những tín hiệu văn hoá được tái sinh theo chu kỳ, sự nhắc lại, sự lựa chọn, bổ sung và sáng tạo luôn tiếp diễn và để lại dấu ấn trong các chu kỳ ấy một cách bất tận Các thế hệ cứ thế nối tiếp nhau và sống trong những không gian lịch sử dường như không có điểm bắt đầu Trong lễ hội, những rung cảm của con người được hòa quyện với quá khứ, trở về với cội nguồn tổ tiên, không gian, thời gian như hoà nhập làm một
Lễ hội truyền thống không chỉ là một di sản quá khứ để lại mà còn là một nguồn tài nguyên, một tài sản vô giá, là vốn liếng của nhiều lĩnh vực văn hóa - xã hội và kinh tế của thời hiện đại Trong bối cảnh xây dựng, phát triển đất nước và giao lưu hội nhập với thế giới hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản lễ hội - di sản văn hóa đã và đang đặt trách nhiệm rất nặng nề lên vai những người làm công tác quản lý văn hóa, quản lý lễ hội
* Quản lý kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống
Quản lý nhà nước về kinh tế trong hoạt động lễ hội truyền thống là nói đến việc hạch toán ngân sách thu chi các hoạt động của lễ hội
Trên thực tế tổ chức lễ hội nhằm mục đích tuyên truyền giáo đục chủ nghĩa yêu nước, quảng bá hình ảnh thương hiệu và các sự kiện hoạt động
Trang 24mang tính kinh doanh, dịch vụ Việc quản lý nhà nước được thực hiện bởi cơ quan thuế vụ và bằng cách áp dụng định mức thuế theo luật pháp và quy định khác của địa phương Những lễ hội truyền thống do Nhà nước chủ trương và đầu tư thì việc quản lý thu - chi sẽ do cơ quan tài chính đủ thẩm quyền của các cấp tổ chức lễ hội chịu trách nhiệm Đối với những lễ hội truyền thống do cộng đồng đóng góp kinh phí và tham gia quản lý thu - chi (phương thức xã hội hoá) thì việc quản lý nhà nước chủ yếu là cùng với các
cơ quan hữu quan và đại diện cộng đồng mở hội bàn bạc phương thức tổ chức và xây dựng quy chế quản lý thu - chi tài chính cho riêng lễ hội đó và cùng vái các bên liên quan, cán bộ quản lý văn hoá có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và xử lý sai phạm các vấn đề có liên quan đến kinh tế tài chính của lễ hội
Tổ chức quản lý hoạt động văn hoá nói chung, hoạt động lễ hội trong
cơ chế thị trường, từ xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế hạch toán kinh tế độc lập, cùng vái quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là sản xuất kinh doanh dịch vụ hàng hoá để tồn tại và phát triển, chúng ta phải đổi mới cơ ché quản lý trong mọi lĩnh vực Kinh phí tổ chức lễ hội truyền thống thời gian trước được lấy từ sản phẩm của ruộng đình, ruộng chèm (của công) ngày nay không còn Kinh phí để tổ chức mở hội phải dựa vào sự đóng góp của người dân trong cộng đồng hoặc phải tạo ra các nguồn thu ngân sách, tích luỹ kinh phí để mở hội cho những năm sau Tất nhiên, phát triển nền kinh
tế theo cơ chế thị trường luôn có mặt tích cực và tiêu cực vấn đề đặt ra làm thế nào để phát huy tính tích cực, hạn chế ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực là sự đòi hỏi về tư chất và năng lực của công tác quản lý Một thực tế hiện nay nếu không tạo ra được các nguồn thu trong lễ hội thì sẽ hạn chế nguồn lực cho việc tổ chức hội
Trang 25* Quản lý các hoạt động dịch vụ, môi trường và trật tự công cộng
Quản lý nhà nước đối với hoạt động dịch vụ, môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, trật tự giao thông và trật tự nơi công cộng, phòng chống cháy
nổ, chống tệ nạn xã hội và các hành vi quá khích trong lễ hội là một trong những nội dung trọng yếu của công tác quản lý lễ hội Đây là nội dung rất phức tạp và triển khai thực hiện nó không phải là việc đơn giản
Có thể nói rằng đây là nội dung nhạy cảm nhất trong tổ chức bất kỳ lễ hội nào, đơn vị hoặc cơ quan chủ trì tổ chức lễ hội thường phối hợp công việc với các cơ quan chức năng khác như: Công an, Quản lý thị trường, Phòng chống cháy nổ, Y tế cộng đồng nhằm đạt được một kết quả tổt nhất Hoạt động phối hợp này của các cơ quan chức năng được thể hiện ở sự thống nhất trong xây dựng kế hoạch triển khai chỉ tiết khi tổ chức lễ hội với các tình huống được bàn bạc kỹ lưỡng giữa các bên liên quan Đồng thời đưa ra các phương án xử lý phù hợp trong điều kiện thực tế, đảm bảo hoàn thành nhiệm
vụ một cách tối ưu, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm
Để thực hiện tốt công tác quản lý trong lĩnh vực này, Ban Tổ chức lễ hội cần chú ý quan tâm các vấn đề sau:
Quy hoạch khu vực tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ dưới hình thức “chợ hội” theo các nguyên tắc:
- Dự tính vừa đủ về lượng trong thực tế của quy mô tổ chức và lượng khách dự hội
- Xây dựng các mẫu, tiêu chuẩn thẩm mỹ về hình thức lều quán
- Quy định nghiêm ngặt những tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ
- Thống nhất quy định và niêm yết giá cả của các loại dịch vụ
Trang 26- Khu vực tổ chức hoại động kinh doanh dịch vụ phải thuận tiện cho du khách, nhưng không được đưa vào khuôn viên di tích và các không gian liên quan đến trò diễn, trò chơi, thi đấu thể thao, văn nghệ
- Ngoài việc đề treo biển báo “cấm xả rác” phải có nơi xả rác thuận lợi
và các phương tiện đựng rác có hình thức dễ nhìn
- Phải có biện pháp mạnh mẽ hạn chế tình trạng “người ăn xin” phổ biến trong các lễ hội truyền thống hiện nay Thi hành xử phạt hành chính mang tính giáo dục và răn đe
- Phổ biến nội dung nội quy, quy chế của Ban Tổ chức lễ hội trên phương tiện thông tin cổ động trực quan như: biển bảng, panô, băng rôn
- Chủ động phân luồng, phân tuyến giao thông và các phương án chống
ùn tắc Chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện và lực lượng ứng cứu các trường họp khẩn cấp như cháy nổ xung đột, cướp giật, y tế
Xã hội hoá trong quản lý và tồ chức lễ hội truyền thống
Thời kỳ trong chiến tranh chống các thế lực chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc và phát triển nền kinh tế theo cơ chế bao cấp, các hoạt động văn hoá - nghệ thuật được tổ chức, chủ yếu do Nhà nước cấp kinh phí và quản
lý trong hầu hết các khâu của quá trình sản xuất sáng tạo, phân phối lưu thông, bảo quản và tiêu dùng văn hoá
Bước sang thời kỳ đổi mới, xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường hạch toán kinh tế độc lập theo định hướng XHCN Trong khi nhà nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản chính sách pháp iuật về văn hoá để phù hợp với tình hình thực tiễn, đồng thời sẵn có truyền thống dân chủ trong hoạt động văn hoá ở cộng đồng làng xã, trong bối cảnh sự tác động toàn diện của nền kinh tế thị trường
và xu hướng giao lưu hội nhập quốc tế, nhân dân ta đã tự “xã hội hoá” hầu hết
Trang 27từ các khâu: sản xuất sáng tạo đến phân phối lưu thông, bảo quản và tiêu dùng các sản phẩm văn hoá nhất là trong lĩnh vực phục dựng các giá trị văn hoá truyền thống như di tích, lễ hội dân gian đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt của đời sống tinh thần hàng ngày ở mỗi cộng đồng dân cư
Xã hội hóa là đỉnh cao của sự hiệp tác và phân công lao động xã hội, lao động quốc tế, là biến một số hoạt động mang tính cá nhân trở thành hoạt động mang tính xã hội, mà bản chất của nó là “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Cùng với ý nghĩa văn hoá là của dân, do dân và vì dân đi với chính sách dân bàn, dân làm, dân kiểm tra của nhà nước ta, các phong trào văn hoá - văn nghệ - thể thao đã phát triển sôi động hơn bao giờ hết Bởi đó là sự phát triển của các quan hệ lợi ích giữa văn hoá - kinh tế - xã hội theo quy luật vận động tất yếu và khách quan Xây dựng các chính sách sẽ tạo điều kiện và cơ hội thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá văn hoá Xã hội hoá đương nhiên trở thành cơ chế và phương thức vận hành của đời sống xã hội
Cơ chế của xã hội hoá hoạt động văn hoá nói chung, hoạt động lễ hội truyền thống nói riêng là sự huy động tham gia của các nguồn lực xã hội và các khâu của quá trình hoạt động dựa trên việc xác lập những quan hệ lợi ích nhiều chiều Xã hội hoá các hoạt động văn hoá đã làm gia tăng và phong phú
đa dạng hơn các sản phẩm văn hoá cả về số lượng và chất lượng, góp phần không nhỏ vào sự phát triển đời sống tinh thần và vật chất của cộng đồng cũng như toàn xã hội Xã hội hoá hoạt động lễ hội truyền thống là việc thiết lập và vận hành các quan hệ lợi ích giữa người mở hội, người dự hội với các
tổ chức kinh tế - xã hội khác nhằm bảo tồn và phát huy di sản vô giá này cho hôm nay và hậu thế mai sau
Quản lý nhà nước về xã hội hoá hoạt động lễ hội truyền thống hiện nay đòi hỏi phải có và đổi mới cơ chế quản lý thích hợp Công cụ quản lý dựa trên
cơ sở chính sách pháp luật của Nhà nước Các Văn bản, Nghị định, Quy chế,
Trang 28Chế tài của Chính phủ; các nội quy, quy định của địa phương và phẩm chất, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng quản lý trong việc tổ chức vận hành thanh tra, kiểm tra, giám sát, linh hoạt, nhạy cảm cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp trong các điều kiện hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, của từng lễ hội truyền thống
1.1.2.2 Quy chế
Lễ hội ở Việt Nam đã tồn tại từ lâu đời như một nhu cầu tất yếu không thể thiếu trong mỗi người dân Về cơ bản trước cách mạng tháng 8/1945 lễ hội là một phong tục cứ “đến hẹn lại lên”
Ngay sau khi glành được chính quyền từ thực dân Pháp, với tầm nhìn chiến lược Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh về bảo tồn di sản văn hoá lịch sử, trong đó có di tích lễ hội Nhưng trong thực tế, cuộc chiến tranh ác liệt kéo dài tới 30 năm tàn phá, cũng như những quan niệm và hành động “phản phong”
ấu trĩ một thời khiến phần lớn các di tích miếu, đền, đình, chùa đã bị huỷ hoại hoặc hư hại nặng nề, lễ hội và nhiều hoạt động văn hoá dân gian khác không
có điều kiện tổ chức
Sau năm 1975, tuy đã glành được độc lập dân tộc thống nhất trên toàn lãnh thổ, thế nhưng cả nước vẫn phải tập trung nỗ lực để hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa đồng thời đối mặt với 2 cuộc chiến tranh xâm lược mới: Tây Nam và biên giới phía Bắc Tình hình kinh tế trở lên nghiêm trọng do quan lieu bao cấp vẫn còn duy trì Trong bối cảnh ấy chẳng mấy ai quan tâm đến di sản lễ hội Tuy nhiên một số lễ hội liên quan trực tiếp đến công tác giáo dục truyền thống yêu nước hoặc danh thắng như: Phủ Dầy, chùa Hương … vẫn được tổ chức
Bước sang những năm 80, tình hình thay đổi nhanh chóng Do sự ổn định dần dần của cuộc sống nên người ta chú ý nhiều hơn đến hoạt động văn
Trang 29hoá Tháng 4/1984 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh” Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên tạo
cơ hội và điều kiện thuận lợi cho hàng loạt các di tích lịch sử văn hoá được trùng tu, sửa chữa
Khi đất ước đã thoát khỏi được cảnh nghèo đói, con người dần được ấm
no, dân chủ và được quan tâm hơn Những giá trị văn hoá được đề cao trong
cả nước và trên thế giới, các chính sách văn hoá có liên quan đến lễ hội dần được xác lập và hoàn thiện
Giữ gìn và phát triển lễ hội truyền thống là một nội dung quan trọng trong nhiệm vụ duy trì và phát huy văn hoá truyền thống của Nhà nước ta Để
lễ hội truyền thống được duy trì và phát triển theo định hướng, trong những năm qua Nhà nước ta đã ban hành các chính sách tạo điều kiện cho các lễ hội được tổ chức và được quản lý theo đúng chủ trương và định hướng Hệ thống các văn bản liên quan đến việc tổ chức và quản lý lễ hội do Nhà nước ta ban hành bao gồm:
Quy chế lễ hội của Bộ Văn hoá – Thông tin ( ban hành ngày 7/5/1994), kèm theo quyết định số 636/QĐ –QC ngày 21/5/1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin đã chỉ rõ mục đích của tổ chức của lễ hội nhằm:
Giáo dục truyền thống dân tộc về lịch sử văn hoá trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Tưởng nhớ công đức của các doanh nhân lịch sử văn hoá, những người có công với dân với nước Tìm hiểu các giá trị văn hoá thông qua các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc nghệ thuật, giữ gìn, phát huy vốn văn hoá truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc
Ngày 12/1/1998 Bộ Chính trị đã ban hành chỉ thị số 27 –CT/TW về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Trên tinh thần chỉ
Trang 30thị số 27 CT/TW Thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị số 14/CT ngày 28/3/1998 giao trách nhiệm cho các ngành, các cấp tổ chức triển khai có hiệu quả cuộc vận động “Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”
Về luật Di sản văn hoá năm 2001: Đối với lễ hội, tại điều 25 Luật Di
sản văn hoá quy định: “Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị của
lễ hội truyền thống; bài trừ các hủ tục chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hoá trong tổ chức và hoạt động lễ hội Việc tổ chức lễ hội phải theo quy định của pháp luật”
Luật Di sản văn hoá quy định việc bảo vệ các di sản văn hoá gồm Di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể - là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Luật ban hành nhằm bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hoá, đồng thời xác định quyền và nghĩa vụ của các cá nhân tổ chức đối với di sản văn hoá của Việt Nam Phạm vi điều chỉnh của Luật Di sản là di sản văn hoá vật thể và phi vật thể Trong đó những di sản văn hoá phi vật thể được xác định “ sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” và di sản văn hoá vật thể được điều chỉnh trong luật này được xác định “sản phẩm vật chất có giá trị líchử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”
Theo đó lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng là di sản văn hoá phi vật thể, Việc bảo vệ và tạo điều kiện để phát huy lễ hội truyền thống
Trang 31được quy định như sau: “Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị
văn hoá của các lễ hội truyền thống, bài trừ hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hoá trong tổ chức và hoạt động lễ hội Việc tổ chức lễ hội truyền thống phải theo quy định của pháp luật”
Trong Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang
và lễ hội có quy định khi tổ chức lễ hội các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về di sản văn hoá và Quy chế tổ chức lễ hội của
Bộ Văn hóa Thông tin Quy chế cũng quy định cụ thể những yêu cầu đối với
3 Không làm cản trở giao thông và các hoạt động công cộng
4 Không tổ chức hoặc tham gia đánh bạc dưới mọi hình thức
5 Giữ gìn sự yên tĩnh, hạn chế gây tiếng ồn vào ban đêm
Đồng thời quy định phải quản lý chặt chẽ, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm: “Chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải
có biện pháp quản lý chặt chẽ, ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm di tích, danh lam thắng cảnh; lừa đảo, trộm cắp của du khách; thương mại hoá và các hoạt động mê tín dị doan trong lễ hội theo phạm vi và thẩm quyền của mình khi tổ chức lê hội”
Quy chế tố chức lễ hội ban hành kèm theo Quyết định số 39/2001 của
Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin quy định cụ thể các mục tiêu của việc tổ
Trang 32chức lễ hội, các loại hình lễ hội được điều chỉnh, quy định cụ thể các loại lễ hội phải được cấp phép tổ chức và các loại không phải xin phép, quy định thủ tục xin phép tổ chức lễ hội, quy định trong việc tổ chức lễ hội như: Ban Tổ chức lễ hội, chính các hành vi bị cấm tại lễ hội quy chế tổ chức lễ hội là cơ
sở pháp lý để cho các cơ quan quản lý nhà nước về lễ hội thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, đảm bảo cho các lễ hội diễn ra theo đúng mục đích và nhu cầu của cộng đồng
Nghị định số 56/2006/NĐ-CP của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá - thông tin có quy định các mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm tại lễ hội như: Phạt từ 300.000 đồng đến 1000.000 đồng đối với việc sử dụng âm thanh quá mức độ ồn tối đa để tuyên truyền, quảng bá cá c loại trò chơi, dịch vụ ở lễ hội; phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2000.000 đồng trong trường hợp tổ chức lễ hội phải báo cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không báo cáo hoặc có báo cáo nhưng không được cơ quan có thẩm quyền đồng ý mà vẫn tổ chức; phạt tiền từ 5000.000 đồng đến 15 000.000 đồng đối với trường hợp tổ chức lễ hội theo quy định phải có giấy phép mà không có Ngoài ra Nghị định cũng quy định cụ thể các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm Như vậy, Nghị định là cơ sở để kiểm tra và xử lý vi phạm trong tổ chức và quản lý lễ hội
Trong Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 11/2006/NĐ-CP của Chính Phủ có quy định về việc tổ chức lễ hội như các lễ hội phải xin phép, các lễ hội không phải xin phép, hồ sơ xin cấp phép tổ chức lễ hội
Như vậy, vấn đề tổ chức và quản lý lễ hội được Nhà nước rất chú trọng Các cơ quan quản lý về văn hoá nói chung và quản lý về lễ hội truyền thống
Trang 33nói riêng đã có nhiều văn bản để thực hiện quản lý và tổ chức các lễ hội Từ việc quy định các điều kiện tổ chức, cấp phép, các hành vi bị cấm đến các quy định về xử phạt hành chính đều được quy định rõ tại các văn bản đã kể trên Tuy nhiên việc tổ chức và quản lý lễ hội còn có quá nhiều văn bản điều chỉnh, chẳng hạn như việc tổ chức và quản lý lễ hội đã có quy chế riêng của Bộ Văn hoá Thông tin nhưng vẫn có các văn bản khác quy định về tổ chức lễ hội như
đã nêu ở trên Điều này làm chức năng quản lý chồng chéo nhau, gây ảnh hưởng đến quản lý về lễ hội của các cơ quan cấp dưới Chẳng hạn như trong Quy chế tổ chức lễ hội có quy định các lễ hội phải có sự xin phép của UBND cấp tỉnh như: lễ hội được tổ chức lần đầu; lễ hội lần đầu được khôi phục sau nhiều năm gián doạn; lễ hội tổ chức định kỳ nhưng có thay đổi nội dung, thời gian, địa điểm so với truyền thống; lễ hội du nhập từ nước ngoài vào do người nước ngoài hoặc người Việt Nam tổ chức; những lễ hội không phải là lễ hội Phủ Dầy (Vụ Bản), lễ hội Chùa Hương (Hà Tây), lễ hội Xuân núi Bà Đen (Tây Ninh), lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam (An Giang); lễ hội tôn giáo vượt ra ngoài khuôn viên cơ sở thờ tự hoặc trong khuôn viên cơ sở thờ tự nhưng chưa đăng ký tổ chức hàng năm theo quy định của pháp luật Nhưng quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng lại không quy định những lễ hội không phải là lễ hội Phủ Dầy, lễ hội Chùa Hương, lễ hội Xuân núi Bà Đen… lễ hội tôn giáo vượt ra ngoài khuôn viên cơ sở thờ tự hoặc trong cơ sở thờ tự nhưng chưa đăng ký tổ chức thường xuyên theo quy định của pháp luật phải có sự xin phép của UBND cấp Tỉnh Sự khác biệt trong quy định của các văn bản điều chỉnh lễ hội dẫn đến hiện tượng không đồng
nhất trong tổ chức thực hiện ở cấp dưới
Như vậy, trên tinh thần định hướng của các cấp uỷ Đảng, Nhà nước, các văn bản quản lý của chính quyền đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản
lý lễ hội được thực hiện
Trang 341.2 Tổng quan về lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản
1.2.1 Khái quát chung về huyện Vụ Bản
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Nằm ở phía tây thành phố Nam Định, cách Hà Nội 100 km về phiá nam vùng có diện tích tự nhiên : 147.66 km2 gồm 17 xã và một thị trấn, dân số trên 130 nghìn người, với mật độ dân số trung bình là 875 người / km2
Vùng có mạng lưới giao thông vận tải thuận tiện, với tuyến đường sắt Bắc Nam, trục quốc lộ 10 - đường chiến lược ven biển của vùng Bắc Bộ chạy qua Huyện được chia làm 4 vùng : thấp trũng miền thượng, đường 12, miền trung và ven đường 10 và miền hạ Do đó trong thời gian tới sẽ có nhiều điều kiện để huyện có thể tham gia vào sự phân công, hợp tác, vào quá trình phát triển vùng của tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung
Huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định nằm ở phía Tây tỉnh Nam Định là một trong những cửa ngõ quan trọng của Thành phố Nam Định; nơi lưu đậm dấu ấn văn hoá đặc sắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Vùng đất Thiên Bản xưa, Vụ Bản ngày nay là nơi hội tụ và lan tỏa nhiều giá trị truyền thống đặc sắc của quê hương và dân tộc, đó là truyền thống yêu nước, khoa bảng, cách mạng
và văn hóa Từ địa danh non Côi, lễ hội Phủ Dầy, chợ Viềng đã sản sinh biết bao các thế hệ người con ưu tú làm rạng danh quê hương, đất nước, như Trạng nguyên Lương Thế Vinh, nhà cách mạng Nguyễn Phúc, Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Thuận, Nguyễn Cơ Thạch, Song Hào, nhà thơ Nguyễn Bính, nhạc
sỹ Văn Cao
Bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước, phát huy truyền thống anh hùng, Đảng bộ, quân và dân Vụ Bản luôn doàn kết, phấn đấu vượt mọi khó khăn, thách thức; tranh thủ thời cơ và vận hội, phát huy mọi nguồn lực, năng động, sáng tạo và glành được nhiều thành
Trang 35tựu quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
Trong nhiệm kỳ 2010-2015, mặc dù chịu ảnh hưởng bất lợi của suy thoái kinh tế; biến đổi khí hậu, thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhưng nhìn chung kinh tế của huyện tiếp tục phát triển, duy trì tăng trưởng khá, bình quân ước đạt 10,11% (giá 1994), cao hơn mức bình quân của thời kỳ 2005-2010 (9,06%) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch phù hợp với định hướng phát triển kinh tế nhiều thành phần Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 11%/năm Nông nghiệp phát triển ổn định; sản xuất nông nghiệp từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 2,92%/năm Tỷ trọng ngành trồng trọt trong cơ cấu nông nghiệp giảm dần từ 65% năm 2010 xuống còn 59% Giá trị thu được bình quân trên 1 ha canh tác đạt 86,75 triệu đồng/năm Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được quan tâm đầu tư, đang có bước phát triển mới Đưa vào hoạt động Khu công nghiệp Bảo Minh và 02 cụm công nghiệp ở các địa phương Ngành công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ chiếm 60,71%; ngành nông, lâm thủy sản giảm từ 49,23% năm 2010 xuống còn 39,29%; công nghiệp, xây dựng tăng từ 15,95% lên 26,54% Thu nhập bình quân đầu người đạt 24,2 triệu đồng, gấp 2,42 lần so với năm 2010 (theo giá hiện hành) Cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật được tập trung đầu tư nâng cấp có trọng tâm, trọng điểm Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm ước đạt 2.200 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách nhà nước 54%; vốn ngoài nhà nước 38,3%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1,6% Đặc biệt, vốn xây dựng cơ bản 3 năm cuối nhiệm kỳ tăng cao, cùng với cơ cấu đầu tư phù hợp đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng
1.2.1.2 Lịch sử hình thành vùng đất và con người huyện Vụ Bản
Vụ Bản là một huyện hình thành sớm trong tỉnh Nam Ðịnh, có lịch sử lâu đời và truyền thống cách mạng vẻ vang Thuở Hùng Vương dựng nước, là
Trang 36bộ Bình Chương (một trong 15 bộ của nước Văn Lang) Là miền đất cổ, huyện Vụ Bản giàu truyền thống lịch sử văn hóa, có nhiều danh nhân nổi tiếng như Trạng nguyên Lương Thế Vinh; nhà cách mạng Trần Huy Liệu; nhạc sĩ Văn Cao; nhà thơ Nguyễn Bính; ba anh em nhà văn, nhà thơ Vũ Cao,
Vũ Ngọc Bình và Vũ Tú Nam; nhà nông học Bùi Huy Ðáp Vụ Bản còn là miền quê của thi ca như nhà thơ Nguyễn Bính viết “Trong bụng mẹ đã từng
mê tiếng hát/Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ”; của hát chầu văn kết hợp múa được sử dụng nhiều trong hoạt động tín ngưỡng - đây là hình thức sinh hoạt tôn giáo mà múa, hát, nhạc đã tạo niềm phấn khích đưa con người hợp nhất với thần linh
Vụ Bản là miền đất cổ mà nhiều địa danh có từ thuở Vua Hùng dựng nước Mảnh đất này được hình thành bởi phù sa bồi đắp trong quá trình biển lùi thuộc kỷ Hôlôxen (từ 7.000 năm về trước) và phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi đắp Trải qua mấy nghìn năm biến thiên của đất nước, huyện Vụ Bản cũng nhiều lần thay đổi tên gọi và cương vực
Vụ Bản là mảnh đất văn vật của miền Sơn Nam có truyền thống hiếu học, thời nào cũng có người đỗ đạt cao, có danh vọng lớn Thời Trần, làng Cao Phương có hai người xuất thân từ khoa cử, ông Đinh Văn Lan giữ chức Hành khiển (Thượng thư), ông Đỗ Văn Biểu giữ chức Đô Ngự sử đài Làng
An Cự có gia đình ông Vũ Vĩnh Trinh và con trai Vũ Duy Thiện, hai cha con đều đậu tiến sĩ Ngoài ra, làng Cao Phương còn có Lương Thế Vinh đậu Trạng nguyên khoa Quý Mùi (năm 1463) và cháu ngoại của ông là Dương Xân đậu tiến sĩ năm 1535
Trạng nguyên Lương Thế Vinh là một nhà chính trị xuất sắc, đứng đầu viện hàn lâm đảm trách việc văn thư cho nhà vua, lo việc bang giao với nước ngoài, luận bàn việc nước Ông từng tham gia dạy học, đặc biệt cũng rất quan tâm đến phát triển kinh tế, mở mang đường sá,
Trang 37Không những thế, Vụ Bản còn là nơi sinh thành nhiều nhân vật nổi tiếng như nhà sử học Trần Huy Liệu, nhà thơ Nguyễn Bính, nhạc sĩ Văn Cao, Giáo sư nông học Bùi Huy Đáp - người có công mở ra hướng mới trong sản xuất nông nghiệp: trồng lúa chiêm xuân,
Người dân Vụ Bản hiếu học, cần cù lao động, kiên cường dũng cảm chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm, có tinh thần tự lực tự cường và ý thức cộng đồng sâu sắc, luôn kế thừa và phát huy truyền thống cha ông, làm rạng danh quê hương, đất nước
1.2.1.3 Văn hóa truyền thống
Ngày xưa huyện này có tên là Thiên Bản, nhưng đến thời nhà Nguyễn chuyển thành Vụ Bản Huyện có nhiều truyền thống văn hóa, có nhiều danh nhân nổi tiếng như trạng nguyên Lương Thế Vinh, nhà thơ Nguyễn Bính, nhà cách mạng Trần Huy Liệu, nhạc sỹ Văn Cao Huyện có nhiều lễ hội nổi tiếng như hội Phủ Giầy (vào tháng 3 âm lịch), chợ Viềng (mùng 8 tết Âm lịch) Vụ Bản có 18 đơn vị hành chính cấp xã gồm: thị trấn Gôi, xã Hiển Khánh, xã Minh Thuận, xã Tân Khánh, xã Hợp Hưng, xã Trung Thành, xã Quang Trung, xã Đại An, xã Kim Thái, xã Minh Tân, xã Tam Thanh, xã Liên Minh, xã Thành Lợi, xã Liên Bảo, xã Vĩnh Hào, xã Tân Thành, xã Cộng Hòa
và xã Cốc Thành
Phía Đông giáp thành phố Nam Định và giáp huyện Nam Trực (lấy sông Đào làm ranh giới tự nhiện), phía Tây giáp tỉnh Hà Nam, huyện Ý Yên, phía Nam giáp huyện Ý Yên, phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam và huyện Mỹ Lộc Huyện Lỵ của huyện Vụ Bản là thị trấn Gôi với 485,5ha diện tích Hiện nay, huyện Vụ Bản có 18 đơn vị hành chính tổng diện tích theo đơn vị hành chính là 14.766,23ha
Về đời sống tinh thần và tâm linh, ở Vụ Bản còn lưu giữ nhiều sinh hoạt tín ngưỡng nguyên sơ, đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Nhiều thôn, làng
Trang 38còn lưu tồn tục thờ các thế lực siêu nhiên có tác động đến đời sống con người Nhưng phần lớn cộng đồng cư dân ở đây thường thờ những người có công với nước, giúp dân mở mang hương ấp, dắt dẫn dân sản xuất, mở mang văn hóa; các vị thần bảo vệ dân trước thiên tai, địch họa, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc Ðó là tục thờ thần Bắc Nhạc, Ðông Hải, Tây Hải (là ba trong số 50 người con của Mẹ Âu Cơ theo Cha Lạc Long Quân xuống biển); thờ các thần trông coi mùa màng như Thần Nông, Hậu Tắc, Câu Mang, thần mây mưa, sấm sét Trong đó đặc sắc, tiêu biểu nhất là thờ Mẫu Llễu Hạnh,
trung tâm của đạo Tam phủ, Tứ phủ ở quần thể di tích LSVH Phủ Dầy
1.2.2 Tổng quan về lễ hội truyền thống tại huyện Vụ Bản
1.2.2.1 Số lượng và phân loại
Huyện Vụ Bản hiện có hơn 200 di tích, trong đó có nhiều di tích lịch
sử, văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh Mỗi di tích đều là không gian văn hóa của một lễ hội
Vụ Bản, mảnh đất sinh tụ và phát triển của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử đã hoá thân trở thành vùng đất Thiên Bản, là cái nôi sinh thành và nuôi dưỡng dân tộc Việt Nam Kết quả nghiên cứu, khảo sát lễ hội truyền thống cho thấy có khoảng 220 lễ hội truyền thống lớn nhỏ, trong đó có
92 lễ hội tiêu biểu và có thể phân chia thành các loại hình lễ hội như sau:
Lễ hội lịch sử như: Lễ hội làng An Nhân, xã Thành Lợi kỷ niệm tướng
quân Tạ Sùng Hy giúp vua Đinh đánh giặc, dạy dân đánh cá nên có lệ thi mâm lễ vật cá Lễ hội làng Quả Linh, xã Thành Lợi từ mùng 5 đến rằm tháng
3 âm lịch tổ chức vào các năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi là điểm nhấn trong các lễ hội làng ở Vụ Bản Lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ công lao của 18 ông tổ lập làng và kỷ niệm chiến thắng giặc Nguyên đời Trần Điểm đặc biệt của lễ hội là có gần hai chục trò chơi dân gian như đua thuyền chở lương, đánh cờ
Trang 39đèn trên sông, chơi tam cúc điếm, thi dệt vải trên mặt hồ, múa rồng mây, thi thả thơ… đều diễn ra trên nền hát trống quân, tạo không khí vui tươi, sôi động cho các cuộc tranh tài
Các thôn Phú Lão, Phú Vinh có phủ thờ Công chúa Quế Hoa, một nữ tướng thời Hai Bà Trưng Thôn Bịch có đền thờ Câu Mang Đại Vương thời Hùng Vương và đền thờ tướng quân Lê Khai thời Đinh Thôn Duyên Trường có đền, chùa, phủ, điện Tại điện thờ Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão còn lưu giữ bản phả kỷ về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn của đền Bảo Lộc, chép năm Tân Sửu (1901)… Hằng năm, vào những ngày hội thôn, ở các đình, chùa trên địa bàn xã đều thu hút đông đảo nhân dân địa phương tham gia
Lễ hội tín ngưỡng nông nghiệp như: Thôn Phú Cốc còn lưu truyền lệ
“trục quyên” (bắt đuổi cuốc) làm lễ tế thần đầu năm; lễ tịch điền đều cúng Thần Nông - Hậu Tắc bằng ba chân giò dựng đứng trên đặt một miếng thịt dài tượng trưng cho bộ gầu sòng tát nước Những thuần phong mỹ tục và các sinh hoạt văn hóa truyền thống ở xã Minh Thuận vẫn được bảo lưu qua các hương ước, các lệ làng, các tập tục trong việc tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội Hội làng Riềng thi nuôi lợn béo; hội làng Gôi, Kẻ Dầy thi nuôi gà to đẹp để chọn làm lễ vật tế thần
Lễ hội tín ngưỡng phồn thực - giao duyên như:Lễ hội làng Quả Linh,
xã Thành Lợi, lễ hội làng Thượng Linh, Bối La, Thái La, xã Cộng Hòa
Lễ hội văn nghệ giải trí như: Lễ kết rơm thành kiệu, cổng chào, tứ linh
ở lễ hội làng Xứng, xã Liên Bảo; thi làm cỗ, hát chèo, hát ca trù, đánh cờ người, chơi đu, múa rồng ở lễ hội đền Giáp Nhất, xã Quang Trung; múa gậy, thi sáo diều ở lễ hội đền, chùa Vĩnh Lại, xã Vĩnh Hào
Lễ hội thể thao, thi tài như: Hằng năm, cứ vào dịp mùa xuân và mùa
thu, khắp làng trên xóm dưới, các hội làng diễn ra tưng bừng, náo nhiệt với
Trang 40nhiều trò chơi dân gian độc đáo mang sắc thái riêng của vùng đất “Thiên Bản lục kỳ” xưa như: thi nấu cơm ở lễ hội làng Thượng Linh, Bối La, Thái La, xã Cộng Hòa; thi chọi gà, múa cờ ở lễ hội đền Vụ Nữ, xã Hợp Hưng… lễ hội Thái bình xướng ca diễn ra cũng khá đặc sắc với những trò chơi dân gian như thi đọc mục lục, thi thả thơ, thi hát trống quân, hát chầu văn, bơi chải, chơi cờ đèn, múa rồng, thi dệt vải
Câu trúc, đặc trung của lễ hội truyền thống huyện Vụ Bản
Lễ hội truyền thống ở Vụ Bản có cấu trúc và mang những đặc trưng cơ bản của lễ hội truyền thống của cư dân đồng bằng Bắc Bộ Lễ trong hội không đơn lẻ, nó là một hệ thống liên kết có trật tự cùng hỗ trợ cho nhau thường gồm: lễ rước nước, lễ mộc dục, lễ tế gia quan, lễ rước, lễ đại tế, lễ túc trực (dâng hương), lễ hèm (thể hiện các trò diễn) Thông qua hoạt động lễ hội thi mỗi lễ hội trong 5 loại hình mà chúng tồi vừa đề cập tỏi ở trên có tính chất, đặc điểm và nội dung khác nhau do có sự khác nhau về môi trường, đặc trưng vùng miền, dân tộc chủ thể, quy mô di tích, lịch sử hình thành di tích và lễ hội, v.v Song, các lễ hội đều có chung một kết cấu như sau:
Lễ rước nước: trước khi mở hội vào đám một ngày, cộng đồng làng cử
hành lễ lấy nước từ giữa dòng sông, giữa giếng làng về đình hoặc đền, nước thường đựng vào choé sứ hay bình sứ đã lau chùi sạch sẽ Nước được múc bằng gáo đồng và được lọc qua lớp vải để trên miệng bình, miệng choé rồi đưa lên kiệu rước về nơi thần linh án ngự
Lễ mộc dục: kiệu rước nước về, cộng đồng làng cử hành luôn lễ mộc
dục (tức là lễ tắm rửa tượng thánh thần), công việc này thường giao cho một
số người có uy tín do cộng đồng làng chọn và tín nhiệm Thắp hương dâng lễ rồi tiến hành công việc một cách nghiêm trang thận trọng, Tượng thần linh được tắm rửa hai lần, lần thứ nhất là nước ở kiệu rước về, lần thứ hai bằng nước ngũ vị hương hoặc hương trầm đã chuẩn bị từ trước Gọi là tắm rửa