Đây là tuyển tập những bài viết của các nhà nghiên cứu văn hoá về lễ hội truyền thống tại tỉnh Phú Thọ trong đó có lễ hội Đền Hùng.. Ngoài việc tiếp thu những nét cơ bản của các công trì
Trang 1Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o Bé v¨n hãa, thÓ thao vμ du lÞch
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN Hãa hμ néi
LUËN V¡N TH¹C Sü QU¶N Lý V¡N HãA
ng−êi h−íng dÉn khoa häc: pgs.ts §Æng v¨n bμi
HÀ NỘI - 2012
Trang 2MỤC LỤC Trang
1.1.1 Khái niệm về văn hóa và di sản văn hóa 12
1.1.2 Khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể 14
1.1.3 Khái niệm về lễ hội (lễ, hội) 14
1.1.4 Các loại hình lễ hội 17
1.1.5 Khái niệm về quản lý và quản lý lễ hội 17
1.2 Tổng quan về Lễ hội Đền Hùng và vai trò của Lễ hội Đền
Hùng trong đời sống tinh thần của dân tộc
19
1.2.1 Khái quát về Đền Hùng 19
1.2.2 Khái quát về Lễ hội Đền Hùng 21
1.3.Vai trò Lễ hội Đền Hùng trong đời sống tinh thần của dân tộc 26
1.3.1 Vai trò của lễ hội nói chung 26
1.3.2 Vai trò của Lễ hội Đền Hùng trong đời sống tinh thần của
dân tộc
27
Chương 2: THỰC TRẠNG CễNG TÁC QUẢN Lí LỄ HỘI ĐỀN HÙNG 30
2.1 Bộ máy, cơ cấu tổ chức nhân sự quản lý Lễ hội Đền Hùng 30
2.2 Công tác quản lý nhà nước về Lễ hội Đền Hùng 31
2.2.1 Chỉ đạo thực hiện các văn bản nhà nước về Lễ hội Đền Hùng 31
2.2.2 Công tác phối kết hợp giữa các ngành, các cấp 33
Trang 32.2.3 Cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ 34
2.2.4 Công tác quảng bá, tuyên truyền về giá trị Lễ hội Đền Hùng 36
2.2.5 Hiện tượng quan phương hóa, nhà nước hóa Lễ hội Đền Hùng 39
2.2.6 Công tác quản lý các nguồn thu tại Khu di tích lịch sử
3.2.1 Hoàn thiện, bổ sung các quy chế, các quy định của nhà
nước, của Khu di tích trong hoạt động quản lý lễ hội
56
3.2.2 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực 59
3.2.3 Tăng cường sự phối hợp liên ngành và sắp xếp phân bổ
cán bộ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ trong đội quản
lý Lễ hội Đền Hùng
62
3.2.4 Tăng cường công tác quảng bá, tuyên truyền 64
3.2.5 Nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng phụ trợ 70
3.2.6 Đa dạng hoá các phương thức tổ chức hoạt động hội 71
3.2.7 Đa dạng, nâng cao chất lượng dịch vụ - du lịch 79
3.2.8 Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm
trong lễ hội
Trang 4DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
BCHTW : Ban chấp hành trung ương
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, chúng ta đang đứng trước cơ hội và thách thức trong thời kỳ hội nhập kinh tế, phát triển đất nước Vị trí, vai trò của văn hóa càng được khẳng định tầm quan trọng với tư cách là mục tiêu, động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội Trong đó phải nhấn mạnh tới ý nghĩa đặc biệt của bản sắc dân tộc và tính đa dạng văn hóa
Trong các thành phần tạo nên sự đa dạng của văn hóa chính là lễ hội truyền thống Việt Nam Nhìn vào lễ hội, hình ảnh đặc trưng về văn hóa, kinh
tế, chính trị, xã hội của một làng, xã, vùng, quốc gia được thể hiện rất rõ nét
Cụ thể là lễ hội Lễ hội là yếu tố quan trọng để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, cấu kết cộng đồng; là hoạt động để mọi người dân tỏ lòng thành kính tri
ân công đức với những người đã có công với dân, với làng, với nước Lễ hội là không gian cộng cảm, giao cảm giữa cộng đồng cư dân với thần linh tôn kính của họ; giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau thông qua các nghi lễ, nghi thức thiêng liêng, thành kính và những hoạt động văn hóa thể thao mang tính giải trí Hơn nữa, lễ hội còn là nơi mọi người muốn thỉnh cầu những ước vọng tốt đẹp cho một năm mới đang tới Với những ý nghĩa quan trọng của lễ hội đã nêu trên, vấn đề đặt ra là quản lý tổ chức như thế nào để phát huy hết vai trò, mục đích, ý nghĩa theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước Thực
tế trong những năm gần đây nhiều lễ hội đang được đua nhau tổ chức, thậm chí còn tổ chức hoành tráng, gây lãng phí tiền bạc của nhà nước và nhân dân,
có khi chỉ vì sự hãnh diện của làng, xã, tỉnh Cùng với đó là sự thương mại hóa trong lễ hội, các tập tục mê tín dị đoan như bói toán, xóc quẻ, các trò chơi lừa bịp, cờ bạc, nạn ăn xin, cướp giật, móc túi
Lễ hội Đền Hùng là một lễ hội lớn của cả nước Càng quan trọng hơn khi Lễ hội Đền Hùng được Nhà nước công nhận là di tích quốc gia đặc biệt
Trang 6(2009) Tín ngưỡng tâm linh thờ tổ tiên của người Việt Nam đã có từ ngàn đời nay Kế tiếp truyền thống đó, mọi người dân trên cả nước cùng nhau trẩy hội
về Đền Hùng mỗi dịp xuân về thắp nén tâm nhang tưởng nhớ tri ân công đức
tổ tiên
Vì vậy, vấn đề quản lý và tổ chức lễ hội Đền Hùng một cách khoa học
để phát huy hết giá trị thiêng liêng của nơi được coi là cội nguồn của dân tộc
đang được đặt ra là vấn đề mang tính cấp thiết hiện nay Nhận thức được tầm
quan trong của công tác quản lý Lễ hội Đền Hùng, tôi đã chọn đề tài: “Quản
lý lễ hội Đền Hùng tỉnh Phú Thọ” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên
ngành Quản lý văn hóa của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Lễ hội Đền Hùng là một lễ hội lớn, lễ hội của cả dân tộc Việt Nam Là nơi hội tụ những nét văn hoá tâm linh, tín ngưỡng, phong tục, thể hiện tình cảm, ghi nhớ công ơn của các Vua Hùng cùng với tinh thần truyền thống đoàn kết của cộng đồng dân tộc Việt Nam
Từ trước tới nay, Đền Hùng luôn là tâm điểm thu hút các nhà nghiên cứu văn hóa, các nhà bình luận, sáng tác văn học, nghệ thuật trên phạm vi cả nước Sau đây chúng tôi xin được khái quát tình hình nghiên cứu của các tác giả đi trước như sau:
- Lễ hội truyền thống vùng Đất Tổ của Hội văn nghệ dân gian Phú Thọ
Đây là tuyển tập những bài viết của các nhà nghiên cứu văn hoá về lễ hội truyền thống tại tỉnh Phú Thọ (trong đó có lễ hội Đền Hùng) Nội dung cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả sơ qua quá trình hoạt động của phần lễ, phần hội và những thông tin ngắn liên quan
Khu di tích lịch sử và rừng quốc gia Đền Hùng của Phạm Bá Khiêm -
Phó Giám đốc Sở Văn Hoá, Thể Thao và Du Lịch Công trình nghiên cứu này chỉ giới thiệu tổng quát về Di tích và rừng Quốc gia là chính Nội dung cũng có
Trang 7đề cập đến Lễ hội Đền Hùng nhưng chỉ dừng lại ở một giới hạn nhất định trong mô tả Chưa đưa ra được những đánh giá chi tiết của Lễ Hội trong công tác tổ chức, quản lý Đặc biệt là những hạn chế trong Lễ hội Đền Hùng hiện nay
- Đền Hùng và Lễ hội Đền Hùng xưa, của Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết
Hạnh - Phó giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng Đây là công trình rất ý nghĩa cho tác giả sau này khi triển khai luận văn vì cung cấp cho tác giả ý nghĩa, nguồn gốc của Lễ hội Đền Hùng Và đây cũng chính là một phần để tác giả đi đến triển khai đề tài của mình
- Triết lý Đền Hùng và tín niệm về Quốc Tổ, của Tiến sĩ Nguyễn Thị
Tuyết Hạnh - Phó giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng Công trình đẩy cao
ý nghĩa thiêng liêng trong việc thờ cúng Tổ Tiên của người Việt Nam, trong
đó đẩy lên mức cao nhất chính là tín ngường thờ các Vua Hùng đã có truyền thống từ lâu đời
Nhìn chung các công trình, sáng tác mới chỉ tập chung vào liệt kê và giới thiệu tổng thể, khái quát những nét cơ bản nhất về Lễ hội truyền thống tại vùng Đất Tổ, về Khu Di Tích Lịch Sử Đền Hùng và thời đại Hùng Vương nói chung Ngoài việc tiếp thu những nét cơ bản của các công trình nghiên cứu kể trên, tác giả cũng sẽ dựa trên một số công trình nghiên cứu rất giá trị chuyên sâu về Quản lý Lễ hội cổ truyền Việt Nam làm cơ sở cho việc hình thành các phương thức tổ chức, quản lý Lễ hội trong giai đoạn hiện nay như:
- Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt của Bùi Hoài Sơn - Viện
Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam Tác giả đã đưa ra những luận điểm về công tác quản lý lễ hội hiệu quả nhất trên phạm vi lễ hội của người Kinh vùng châu thổ Bắc Bộ Về cơ bản tác giả cũng nhấn mạnh trong việc có thể áp dụng những phương pháp này cho các lễ hội truyền thống của các dân tộc ở các vùng miền khác Vì xét tổng thể các lễ hội này đều có những nét tương đồng cơ bản trên phương diện những luận điểm mà tác giả đã nêu
- Quản lý di tích lịch sử văn hóa của ThS Nguyễn Thị Kim Loan (chủ
Trang 8biên) và T.S Nguyễn Trường Tân Tác giả đưa ra một cách nhìn toàn diện và
hệ thống các vấn đề liên quan đến quản lý di sản văn hóa dân tộc như hệ thống
di sản văn hóa Việt Nam; vai trò của di sản văn hóa trong đời sống xa hội hiện nay; nội dung chính của quản lý nhà nước về di sản văn hóa dân tộc và những
kỹ năng, nghiệp vụ cơ bản của cán bộ quản lý di sản
- Quản lý lễ hội cổ truyền hiện nay của Phạm Thị Thanh Quy Tác giả
đưa ra những khái quát cơ bản nhất về lễ hội cổ truyền hiện nay thông qua những ví dụ lễ hội tiêu biểu vùng đồng bằng Bắc Bộ Từ đó tác giả đưa ra những đề xuất, những giải pháp khắc phục, bảo tồn những giá trị văn hóa bản
địa, tiếp thu những nét mới cho phù hợp với việc xã hội hóa lễ hội
- Quản lý lễ hội cổ truyền: thực trạng và giải pháp của Nguyễn Thu
Linh - Phan Văn Tú Các tác giả đã đưa ra một cách bao quát về tình hình hoạt
động của các lễ hội thời điểm hiện tại Từ đó có những nghiên cứu, đánh giá
về những hạn chế, tồn tại ở các lễ hội cổ truyền và cùng với biện pháp khắc phục, phương pháp quản lý có hiệu quả đối với các lễ hội đó vừa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc
- Lễ hội - truyền thống và hiện đại của Thu Linh và Đặng Văn Lung
Tập sách này tập trung nghiên cứu về vấn đề phân tích làm rõ bản chất hội giữa truyền thống và hiện đại Trên cơ sở đó đưa ra cách thức tổ chức hội hiệu quả và phù hợp nhất
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những giá trị ý nghĩa của Lễ hội Đền Hùng trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của cộng đồng người Việt Nam
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý Lễ hội Đền Hùng
- Đề xuất những giải pháp khoa học mang tính khả thi cao trong công
Trang 9tác quản lý Lễ hội Đền Hùng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu khái quát về tổng quan Khu di tích lịch sử Đền Hùng Nêu bật lên giá trị văn hoá tín ngưỡng tâm linh thờ cúng Tổ tiên của cộng đồng người Việt nói chung và thờ cúng Vua Hùng nói riêng, được thể hiện đậm nét trong Lễ hội Đền Hùng (10/3 âm lịch hàng năm)
- Trình bày những vấn đề cơ bản trong công tác quản lý Lễ hội cổ truyền nói chung và quản lý Lễ hội Đền Hùng nói riêng
- Phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chức Lễ hội Đền Hùng trong giai đoạn hiện nay
- Đưa ra những đề xuất, giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Lễ hội Đền Hùng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý Lễ hội Đền Hùng tỉnh Phú Thọ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Di tích lịch sử Đền Hùng Ngoài ra tác giả cũng
mở rộng phạm vi trong toàn bộ quần thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt trì và các làng xã vùng ven để đánh giá, phân tích số liệu khách quan
Trang 10trình nghiên cứu, đánh giá Vận dụng các quan điểm của Mác - Lênin về văn hoá Bám sát quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phương thức tổ chức và quản lý lễ hội trong tình hình mới Tác giả tiếp cận từ góc độ văn hóa học để xác định lễ hội như một thành tố văn hóa phi vật thể và tính phức tạp của vấn đề quản lý lễ hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như:
- Phương pháp so sánh (thống kê, khảo sát tư liệu, điều tra xã hội học) Phương pháp này giúp tác giả tìm ra được sự tương đồng và khác biệt giữa cách thức quản lý Lễ Hội Đền Hùng với các Lễ Hội khác (đặc biệt là những lễ hội lớn mang tầm Quốc gia) Đưa ra những đánh giá khách quan, chính xác hơn về giá trị văn hoá tâm linh thờ cúng Hùng Vương tại khu vực
Lễ Hội
Hơn nữa, đây cũng là phương pháp giúp tác giả có cái nhìn sâu trong việc tổ chức Lễ hội Đền Hùng qua các thời kỳ trong lịch sử gắn với những biến cố về chính trị, xã hội Trên cơ sở đó đưa ra những quy luật, bản chất tất yếu của khuynh hướng biến đổi trong hoạt động Lễ hội Đền Hùng giai đoạn hiện nay
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc
Trang 11Đưa ra hệ thống - cấu trúc các bộ phận cấu thành nên Lễ hội, các ban, ngành, cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động tổ chức Lễ Hội Từ đó thấy được tầm quan trọng của sự gắn kết chặt chẽ tạo nên thành công trong quản lý
Phương pháp cũng nhằm đưa ra vai trò, giá trị của Lễ hội Đền Hùng trong di sản văn hoá lễ hội cổ truyền của Việt Nam
- Phương pháp xã hội học (phỏng vấn, bảng hỏi)
Cung cấp cho luận văn những thông tin, con số chính xác hơn, khách quan hơn về nguồn khách hành hương, nhu cầu thị hiếu, nhận định đánh giá của đồng bào trong công tác tổ chức Lễ Hội
Phỏng vấn còn đưa ra những đóng góp sâu sắc của những nhà quản lý văn hoá, nhà sử học, các vị cao niên trong làng, xã về kinh nghiệm tổ chức, nhận định về xu thế phát triển xã hội tác động đến Lễ hội
Từ những dữ kiện trên tác giả sẽ nghiên cứu biện pháp quản lý, đề xuất phù hợp nhằm đáp ứng được mục đích nhu cầu của Đồng bào khi dâng nén tâm hương lên ban thờ Tổ Tiên
6 Bố cục luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm các chương sau:
Trang 12Ch−¬ng 3 : Mét sè gi¶i ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ qu¶n lý LÔ héi
§Òn Hïng
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI ĐỀN HÙNG
1.1 Cơ sở lý luận chung
1.1.1 Khái niệm về văn hóa và di sản văn hóa
Khái niệm văn hóa
Các nhà nghiên cứu văn hóa đã đưa ra rất nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về văn hóa, tùy thuộc vào góc nhìn, quan điểm tiếp cận và mục
đích sử dụng Nhìn nhận lại một chặng đường nghiên cứu chúng ta thấy rằng ở Việt Nam từ Văn hóa xuất hiện muộn, vào khoảng đầu thế kỷ XX Tuy nhiên trước đó từ “Văn Hiến” cũng tương ứng từ văn hóa được dùng trong bài “Bình Ngô đại cáo” do Nguyễn Trãi viết năm 1428 “Văn hiến” trong đó “văn” là tốt
đẹp, “hiến” là phép nước; hoặc “văn hóa” trong đó “văn” là tốt đẹp, “hóa” là biến cải dù không hoàn toàn tương ứng nhưng về cơ bản đều có ý nghĩa tương
đồng, phù hợp
Căn cứ vào rất nhiều những quan điểm khác nhau, chúng ta có thể đưa ra một vài cách nhìn tiêu biểu phù hợp với góc tiếp cận nghiên cứu của học viên Theo quan điểm của Hồ Chí Minh:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [53, tr.20] Theo PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực
Trang 14tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [53, tr.21-22]
PGS Phan Ngọc cho rằng:
“Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá
nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu
lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác.” [53, tr.21]
Khái niệm về di sản văn hóa
Theo Điều 1 Luật di sản văn hóa của Việt Nam nêu rõ định nghĩa về di sản văn hóa như sau:
“Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [21, tr.7-8]
Theo cách tiếp cận giá trị văn hóa này thì di sản văn hóa bao gồm hầu hết các giá trị văn hóa do con người tạo nên trong quá trình tương tác với tự nhiên trong quá khứ Đó là phần kết tinh lại sau một loạt các hoạt động sáng tạo của con người từ đời này đến đời khác Di sản văn hóa là những giá trị văn hóa bền vững vì nó phải được thẩm định khắt khe bằng sự thừa nhận của cả cộng đồng người trong thời gian lịch sử lâu dài Di sản văn hóa là một bộ phận rất quan trọng của nền văn hóa dân tộc, là nền tảng để bảo tồn bản sắc riêng
biệt cũng như tạo sự đa dạng trong nền văn hóa nhân loại đầy màu sắc
Di sản văn hóa là sự tổng hòa của các tập hợp những cặp phạm trù vừa thống nhất, vừa tương phản nhau giữa truyền thống - hiện đại; kế thừa và phát
Trang 15triển; dân tộc và quốc tế Những cặp phạm trù trên luôn vận động song hành, tồn tại và phát triển
1.1.2 Khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể
Theo luật mới sửa đổi bổ sung năm 2009:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng
đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [21, tr.8]
Theo Điều 4, Luật di sản văn hóa thì di sản văn hóa phi vật thể:
“ bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, tri thức về y dược học
cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân
tộc và những tri thức dân gian khác” [21, tr.9]
Việt Nam là một quốc gia có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú Đó là sự đa dạng về thể loại, phong phú về hình thức thể hiện, về trữ lượng tác phẩm, đặc sắc về tư tưởng và nghệ thuật Tinh hoa đó đã
được vun đắp, kết tinh qua nhiều thế hệ Cho đến nay vẫn đang tiếp tục được bảo tồn và phát huy sức mạnh lan tỏa của các di sản văn hóa phi vật thể này
1.1.3 Khái niệm về lễ hội (lễ, hội)
Trong Từ điển Tiếng Việt, có rất nhiều khái niệm về lễ hội Các khái niệm này có thể được khái quát trên nhiều phương diện khác nhau, cách nhìn khác nhau, vùng miền khác nhau Theo Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm
2002 thì đó là cuộc vui tổ chức chung, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn
Trang 16hóa truyền thống của dân tộc Ví dụ: Lễ hội Đền Gióng, Lễ hội Hai Bà Trưng, Hội đón Xuân mới…Lễ Hội được chia ra làm 2 phần: Phần Lễ và Phần Hội Trong lễ hội thì gianh giới giữa lễ và hội chỉ là tương đối Trên thực tế thì nhiều khi trong phần Lễ lại bao hàm cả phần Hội Ví dụ: Lễ hội Tùng Dí ở Phú Thọ; hay Hội Phết - Hiền Quan cũng ở Phú Thọ… Do đó trong trò diễn ta không thể khẳng định một cách chắc chắn rằng trò diễn là lễ hay là hội mà chỉ
có thể nói là, hai yếu tố đấy giao thoa, đan xen nhau
Để có cách nhìn cụ thể trong quá trình phân tích các yếu tố trên, chúng
ta có thể quan niệm về Lễ và Hội như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt, thì “Lễ” là chỉ những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó Ví dụ Lễ Quốc khánh, lễ thành hôn Lễ còn có nghĩa là vái, lạy để tỏ lòng thành kính theo phong tục cũ Lễ còn được hiểu là khuôn phép, là phép bày ra nhằm tỏ ý kính trọng, lịch sự
Các nhà nghiên cứu cũng có nhiều khái niệm về Lễ Lễ là phần đầu tiên khi tiến hành Lễ hội Lễ là cốt lõi, nghiêm trang và là phần quan trọng nhất của một lễ hội Phần này được chuẩn bị rất cẩn thận, tỉ mỉ và chính xác Tham
dự lễ chỉ có một số người có vai vế, vị trí nhất định Phần lễ trong một lễ hội mang tính chất thiêng liêng và thường là bất biến, là những nghi thức thờ thần thánh Không gian và thời gian của các nghi lễ được quy định chặt chẽ
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, lễ là hệ thống các hành vi,
động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản
ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện
Như chúng ta biết, trong phần lễ bao giờ cũng phải có tế Tế bao gồm những nghi thức theo quy định như y phục, phẩm phục, hia hài, mũ mãng cho
đến việc tế thần được tổ chức như thế nào Thường người thực hành tế là
Trang 17những cụ cao niên có uy tín trong làng và được chính dân làng chọn ra, trong
đó có một người được chọn làm chủ tế Khi thực hiện tế lễ thường có các nghi thức sau: Đọc văn tế, dâng hương, dâng rượu trắng, dâng lễ vật Lễ vật thường
là những sản vật của địa phương như xôi, oản, bánh chưng, hoa quả Ngoài ra một số địa phương còn có lễ vật độc đáo, liên quan đến nhân vật được thờ
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2002: “Hội là cuộc vui chung cho đông
đảo người tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt” [54, tr.459]
Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát
từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng
họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung của mọi thế hệ
Theo Lễ hội “truyền thống và hiện đại” của tác giả Thu Linh - Đặng
Văn Lung:
“Hội là bộ phận rất quan trọng của văn hóa truyền thống, nó bảo
lưu gìn giữ những nét riêng, phong tục tập quán, các yếu tố dân chủ và xã hội chủ nghĩa của văn hóa quá khứ Hội còn là điểm tựa cho mỗi cá nhân nói riêng cả cộng đồng nói chung chống xâm lăng của văn hóa ngoại lai Giở lại những trang sử thời đại chống Bắc thuộc sự tồn tại bền bỉ của các ngày hội công xã nông thôn người Việt với các tập tục, nếp sinh hoạt riêng của mình đã trở thành cái lá chắn để chống lại sự đồng hóa từ bên ngoài, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Đồng thời khi có yếu tố văn hóa nào
đó của một nền văn hóa khác ra nhập vào hội tức là nó đã được hội với tư cách một bộ lạc tinh vi chọn lựa và dân tộc hóa Tham gia vào hội có nghĩa là các yếu tố này đã thật sự có một đời sống thật chất trong tâm hồn cộng đồng dân tộc” [23, tr.71]
Trang 181.1.4 Các loại hình lễ hội
Theo như các nhà nghiên cứu văn hóa, hiện có nhiều loại hình lễ hội khác nhau Sự đa dạng đó hòa quyện với bản sắc văn hóa của 54 tộc người
đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên bản sắc cốt lõi của các lễ hội vẫn dựa trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp thuần túy TS Nguyễn Quang
Lê phân loại lễ hội theo không gian mở hội, tức các loại hình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng đặc trưng cho văn hóa cổ truyền ở các làng xã vùng đồng bằng và trung du là hợp lý hơn cả Theo cách phân loại này thì có 3 loại hình
cơ bản sau: Lễ hội đền (miếu, điện, phủ) tôn thờ các vị thần thánh dân gian
bao gồm: các vị Nhiên thần và các vị Nhân thần, trong đó kể cả các vị Mẫu
thần; lễ hội chùa tôn thờ Đức Phật và các vị thần thánh dân gian đã tu hành
đắc đạo; và lễ hội đình làng tôn thờ các vị thần thành hoàng làng Giáo sư
Đinh Gia Khánh phân lễ hội thành 2 loại: Loại hội lễ vốn có nguồn gốc tôn giáo (xuất hiện khi xã hội đã phân chia giai cấp và tôn giáo ra đời) và loại lễ hội vốn không có nguồn gốc tôn giáo (có từ lâu đời như lễ hội phồn thực, lễ hội nông nghiệp) Trong quá trình tiếp cận nghiên cứu phù hợp với lễ hội Đền Hùng tôi chọn cách phân loại của TS Nguyễn Quang Lê
1.1.5 Khái niệm về quản lý và quản lý lễ hội
Quản lý là một quá trình đi từ chỗ nắm được, nắm đúng cái hiện có - thấy
được, thấy đúng cái cần có - biết tìm mọi biện pháp khả thi và tối ưu để đưa từ cái hiện có thành cái cần có
Quản lý là sự điều tiết cao, mang tính xã hội Quản lý là một hoạt động
có định hướng giữa chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý, điều tiết các hoạt động trong xã hội phải tự giác tuân thủ đúng theo những đường hướng
mà Đảng và Nhà nước đã vạch ra Vậy nên quản lý là cả một quá trình diễn ra lâu dài chứ không phải là một hành động tức thời, chớp nhoáng
Quản lý tốt đỏi hỏi người quản lý phải nắm vững chủ trương, đường lối,
Trang 19chính sách của Đảng và nhà nước đã đề ra
Về cơ bản có hai ngạch quản lý khác nhau đó là quản lý trong tự nhiên và quản lý trong xã hội Trong phạm vi đề tài này chúng ta chỉ nghiên cứu phạm
vi quản lý trong xã hội - quản lý hoạt động văn hóa - quản lý lễ hội
Quản lý lễ hội gồm quản lý nhà nước và các hình thức quản lý khác đối với các hoạt động lễ hội
Theo như Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn:
“Quản lý di sản nói chung, lễ hội nói riêng là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa
phương nói riêng, cả nước nói chung.” [46, tr.198]
Để quản lý tốt lễ hội còn cần có sự hỗ trợ đắc lực của các mặt quản lý khác như quản lý vệ sinh môi trường, quản lý đất đai nơi diễn ra lễ hội…
Quản lý đất đai nơi diễn ra lễ hội chính là không gian, phạm vi diễn ra lễ hội được Nhà nước cho phép Đối với từng loại hình lễ hội cho phép phạm vi
tổ chức khác nhau: phạm vi làng; phạm vi vùng; liên làng, lên vùng…
Quản lý công tác vệ sinh môi trường là việc quản lý nguồn nước, quản lý rác thải… trước lễ hội, trong suốt quá trình diễn ra lễ hội và sau khi lễ hội kết thúc Yếu tố môi trường sạch sẽ góp phần rất quan trọng trong ấn tượng của
du khách khi đến với lễ hội, được đánh giá rất cao của Ban tổ chức khi điều hành quản lý lễ hội
Quản lý an ninh trật tự tại lễ hội chính là phòng tránh, loại trừ những hoạt
động tiêu cực, các tệ nạn xã hội, các trò chơi lừa đảo dưới nhiều hình thức
Trang 20khác nhau… làm ảnh hưởng đến nét đẹp trong văn hóa hội hè
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành trong công tác quản lý sẽ tạo hiệu quả cao trong công tác tổ chức lễ hội thành công, hiệu quả
1.2 Tổng quan về Lễ hội Đền Hùng và vai trò của Lễ hội Đền Hùng
trong đời sống tinh thần của dân tộc
1.2.1 Khái quát về Đền Hùng
- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Khu di tích lịch sử Đền Hùng nằm trong vùng đất thấp phía Tây Bắc thành phố Việt Trì Tổng diện tích tự nhiên khoảng trên 1.000 ha (theo Quyết
định 48/2004/QĐTTg ngày 30 tháng 3 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ) thuộc phần đất trong địa giới hành chính của 7 xã: Hy Cương, Chu Hóa, Tiên Kiên, Thanh Đình, Phù Ninh, Kim Đức và Vân Phú
Khu di tích Đền Hùng được chia thành 2 vùng: Vùng trung tâm và vùng
điều chỉnh xây dựng Rừng quốc gia Đền Hùng được bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích là 538ha, chủ yếu thuộc 2 xã Hy Cương, thành phố Việt Trì và Phù Ninh thuộc huyện Phù Ninh Vùng đệm có diện tích hơn 500ha trong phạm vi
7 xã nói trên
Khu vực Đền Hùng nằm trong vùng địa chất đổi nâng lên và uốn nếp với
3 kiểu khác nhau: địa mạo đồi gò (đá mẹ chủ yếu là đá Gnail), địa mạo đồi gò phù sa cổ và bậc thềm thung lũng lũy tích
Chính vì cấu tạo của địa hình như trên nên địa thế ở khu vực này về cơ bản là sườn dốc thoải Hầu hết các gò đồi khu vực Đền Hùng đều thấp (chiếm 70-80% diện tích), trừ núi Nghĩa Lĩnh (cao 175m) và núi Vặn (cao 171m) Độ cao giảm từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Khí hậu khu vực Đền Hùng mang đậm đặc tính chung của nền vùng nhiệt
đới ẩm gió mùa Có hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng bắt
Trang 21đầu từ tháng 4 đến tháng 10, thường có mùa mưa chiếm 70-80% lượng mưa cả năm Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường ít mưa và gió lạnh Nhiệt độ trung bình năm là 23,10C
Vì là hệ thống đồi thoải nên ao hồ ở khu vực Đền Hùng khá phong phú:
hồ Gò Cong, hồ Lạc Long Quân, hồ Khuôn Muồi, đập Nhà Chìa, hồ Hóc Trai Khu vực này được bao bọc bởi hai con sông lớn chảy hai bên đó là Sông Lô và sông Hồng (sông Thao)
Đền Hùng nằm trong khu vực Rừng quốc gia Đền Hùng, hệ thống thảm thực vật ở đây cũng rất phong phú và đa dạng gồm 458 loài thảo mộc, 328 chi,
131 họ, 5 nhành thực vật Có các loại cây quý như đa, nụ, chò Đặc biệt có những cây thiên tuế khoảng 700 năm tuổi Động vật ở đây có những loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ như chim bói cá lớn, tê tê, tắc kè, rắn ráo, rắn hổ mang, rắn cạp nong
- Đền Hùng trong quần thể Khu di tích
Đền Hùng là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt của Quốc gia - nằm trong quần thể Khu di tích bao gồm:
+ Khu vực núi Hùng (núi Cả): Là nơi thờ tự Thần núi, các Vua Hùng và
vợ con tướng lĩnh, gồm: đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, Lăng Hùng Vương, Cột đá thề và đền Giếng; chùa Thiên Quang
+ Khu vực đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ được xây dựng trên núi Vặn, có tên chữ là ốc Sơn; cách đền Hùng khoảng 2,5km
+ Khu vực đền thờ Tổ Phụ Lạc Long Quân được xây dựng trên đồi Sim; cách đền Hùng khoảng 2 km
+ Khu vực bảo tàng Hùng Vương xây dựng trên đồi Công Quán; nằm ngay tại khu vực cổng Đền Hùng
Đền Hùng nằm trên núi Hùng (núi Nghĩa Lĩnh), một trong 3 ngọn Tổ sơn
Trang 22hay còn gọi là “Tam sơn cấm địa” đó chính là Núi Trọc, Núi Vặn và Núi Hùng
- Lịch sử hình thành (Tín ngưỡng thờ Tổ tiên, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương)
Trên đất nước Việt Nam hầu như gia đình nào cũng có bàn thờ Tổ Bàn thờ đó luôn được đặt ở một nơi thiêng liêng nhất trong nhà Mở rộng hơn nữa
là tổ tiên của một chi họ (nhà thờ họ) và thành hoàng của một làng được thờ tại các đình làng, đền miếu Cao hơn cả là nơi thờ tổ tiên chung của cả một cộng đồng dân tộc
Xuất phát từ một nền văn hóa nông nghiệp bản địa, người dân Việt có một lối sống trọng tình nghĩa, giàu lòng nhân ái, vị tha; luôn biết ơn những người đi trước, gần gũi hơn cả đó là công lao sinh thành và giáo dưỡng của
ông bà, cha mẹ Xa hơn nữa đó là sự hi sinh của các thế hệ cha anh đã phải trả giá bằng máu và nước mắt cho hòa bình, độc lập Trên cơ sở đó, trong tâm khảm của người Việt luôn có hai chữ “cội nguồn”
“Con người có Tổ, có tông Như cây có cội, như sông có nguồn”
Đó chính là mỗi khi vui cũng như khi buồn, mỗi khi cầu mong và ước vọng con người lại hướng về Tổ tiên để được giúp đỡ, che chở Cũng từ những việc này mà con cháu thế hệ sau tiếp bước thế hệ trước luôn nhắc nhở nhau phải sống sao cho tốt đẹp và lấy những tấm gương cha ông để học tập và noi theo Một ý nghĩa khác nữa là những ngày lễ, giỗ là những ngày đại gia đình, dòng họ được gặp mặt, chia sẻ, được thể hiện tấm lòng thơm thảo với Tổ tiên, anh em họ mạc Đây chính là sự cố kết họ tộc, cố kết xóm làng mà trải theo năm tháng sự kết dính ấy càng bền chặt, sắc son hơn và được khẳng định qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc Vậy nên tín ngưỡng thờ tổ tiên là một bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
PGS - TS Đặng Văn Bài cho rằng:
Trang 23“Tín ngưỡng thờ tổ tiên do con người “sáng tạo” ra là nhằm thực
hiện việc thiết lập mối quan hệ mật thiết giữa những người đang sống và những người đã mất trong cùng một cộng đồng Thông qua tín ngưỡng thờ tổ tiên, những người đã mất tiếp tục “tồn tại” trong ký ức của những người còn sống và được linh thiêng hóa qua các nghi thức tín ngưỡng do những người đang sống thực hành thường xuyên hoặc định kỳ trong đời sống của họ Và cũng bằng phương thức đó, quá khứ được hòa quyện với hiện tại và
cùng con người bước vào tương lai.” [1, tr.5]
Từ việc thờ tổ tiên trong gia đình tới việc thờ tổ tiên tại nhà thờ họ, chúng
ta thấy tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là đỉnh cao của sự thăng hoa, sự bừng nở đó
Trong tâm linh và tình cảm của những người dân đất Việt đều tin rằng: cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ là khởi nguồn của dân tộc và các vua Hùng
là những người có công dựng nước Đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, để ghi nhớ công ơn cộng đồng Việt đã tôn vinh Hùng Vương là Ông Tổ của mình để đời đời thờ phụng Từ thờ cúng tổ tiên của từng gia đình đến thờ cúng Ông Tổ chung của cả dân tộc là nét đẹp văn hóa tín ngưỡng, biểu hiện
đạo lý, lòng biết ơn sâu sắc của người Việt đối với các bậc tiền nhân đã có công dựng nước
- Không gian văn hóa của lễ hội gắn với cộng đồng các làng gốc - khởi nguồn đầu tiên của lễ hội
Trong suốt thời kỳ nghìn năm bắc thuộc, việc thờ cúng và tế lễ đều do người dân sở tại đảm nhiệm Trước đây việc này do người dân các xã Hy Cương, Tiên Kiên, Vy Cương, Triệu Phú là các làng cổ xung quanh khu vực
Đền Hùng lập đình làng để thờ cúng Hùng Vương Các làng đều có chung các
kỳ cầu vào mồng 9 tháng giêng và mồng 9, 10, 11 tháng 3 âm lịch
Trang 24Theo bản tục lệ của làng Cổ Tích, xã Hy Cương đã viết:
“ Chiều ngày mùng 9/3 âm lịch, rước kiệu từ đình Cả (đình Cổ Tích) dưới làng lên đền Thượng, làm lễ “mở cửa đền”, xong rước sắc từ đền Thượng về đình làng Cả làm lễ cáo tế Ngày 10/3 âm lịch, làm lễ chính tại đình Cả, tế thần bằng cỗ tế tam sinh (dê đực,
bò đực, lợn đực) Ngày 11 tháng 3 âm lịch, làm lễ tế tạ ở đình Cả, xong rước sắc lên đền Thượng làm lễ “đóng cửa đền” ”.[19, tr.20] Thời đại Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV), dân tộc ta bước vào giai đoạn độc lập tự chủ và phục hưng đất nước, trong đó có sự phục hưng về văn hóa Qua kết quả của các cuộc khai quật khảo cổ trên núi Hùng đã tìm thấy các phế tích kiến trúc có niên đại thế kỷ XII - XIV cho thấy đã có sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ Thần, thờ Thánh và thờ Phật tại Đền Hùng trong thời gian này Thời Lý - Trần, cư dân làng Cả và làng Trẹo - lúc đó hai làng là một, có công trông nom, hương hỏa thờ cúng tại Đền Hùng Thế kỷ XIII, khi giặc Minh sang xâm lược đã đốt phá khu vực Đền Hùng và tàn sát cư dân làng Cả Sau cuộc kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi, cư dân làng Trẹo trở về xây dựng lại đền Trung, cư dân làng Cả bị tàn sát còn sót lại cụ Hoàng Kinh Đái
đã kết nghĩa với ông Đào Đình Xô và ông Triệu Kim Ngũ di chuyển vào chỗ ở hiện nay, cư dân ngày càng phát triển đông đúc lập ra làng Cổ Tích Làng Cổ Tích lập đền Thượng và xây dựng chùa
Sau này, đến thời Lê, làng Trẹo đông lên, tách ra thành hai làng Vi và Trẹo, làng Vi làm thêm đền Hạ Hai làng tuy tách ra, nhưng hàng năm vẫn tổ chức tế lễ chung ở đình Cả và tổ chức Lễ hội rước chúa gái (còn được gọi là
Lễ hội Làng He) Đây là Lễ hội đặc sắc với nhiều hình thức nghi lễ cổ điển tả sinh hoạt văn hóa, xã hội thời Hùng Vương
Một dấu mốc rất quan trọng đó là việc chọn ngày giỗ Tổ hàng năm được
ấn định là mồng 10 tháng 3 âm lịch Căn cứ vào văn bia tại đền Thượng thì
Trang 25việc ấn định này bắt đầu chính thức từ năm 1917 Trước đây, tế lễ vào Xuân, Thu nhị kỳ (theo mùa vụ sản xuất) và việc giỗ Tổ được tổ chức vào ngày 11
tháng 3 âm lịch (gọi là ngày húy nhật của vua Hùng)
Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Lễ hội đền Hùng vẫn luôn có sự góp mặt các hoạt động tham gia của làng xã xung quanh khu vực đền Hùng Ngoài nghi thức dâng hương chính vào ngày sáng 10/3 âm lịch, Ban tổ chức luôn sắp xếp trước ngày đó cho các xã rước kiệu từ đình làng lên Đền Hùng Có những năm còn tổ chức các hoạt động biểu diễn trò dân gian như “Bách nghệ khôi hài” và “Rước chúa Gái” của các xã Hy Cương, Chu Hóa; “Rước lúa thần” và
“trò Trám” của Tứ Xã tại khu vực sân Trung tâm lễ hội
- Các hoạt động tạo nên lễ hội Đền Hùng
Về cơ bản lượng khách đến Đền Hùng bắt đầu tăng dần từ Tết Nguyên
Đán đến hết rằm tháng 3 âm lịch Các hoạt động chuẩn bị cho ngày khai hội cũng đã dần hình thành và sẵn sàng cho đồng bào cả nước về Giỗ Tổ Hùng Vương Công tác của Ban tổ chức cũng đã được lên kế hoạch cụ thể chi tiết cho việc đảm bảo thực hiện tốt chủ chương, mục đích mà Đảng và nhà nước
đã giao phó Từ 2005, Nhà nước ta quyết định tổ chức Quốc lễ cho những năm chẵn Tức là Lễ Hội Đền Hùng sẽ được tổ chức theo cấp Nhà nước, còn các năm lẻ sẽ do trực tiếp Tỉnh Phú Thọ chủ trì tổ chức Vì vậy, các hoạt động trong lễ hội cũng có phần đa dạng hơn trong từng thời điểm Thêm vào đó lượng khách đến đền Hùng những năm đây cũng tăng lên đáng kể ảnh hưởng phần nào đến các hoạt động trong lễ hội
Mục đích, ý nghĩa, vai trò của Lễ hội Đền Hùng qua các thời kỳ đều mang những yếu tố cơ bản như: Phát huy và duy trì lễ hội cổ truyền của dân tộc; nêu cao tinh thần gắn kết cộng đồng dân tộc Việt Nam Tưởng nhớ đến tổ tiên, tưởng nhớ anh linh Vua Hùng Là cơ hội để các tỉnh, đơn vị thể hiện những tinh hoa văn hóa đặc sắc của mình…Và hơn cả đó là nơi để nhân dân
Trang 26đực thỏa mãnh nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần sau một năm vất vả với cuộc sống đời thường
Lễ hội Đền Hùng thường diễn ra trong 5 hoặc 6 ngày trước 10/3 âm lịch tùy thuộc vào từng năm Không gian tổ chức trong phạm vi Đền Hùng và các vùng phụ cận (các xã; trung tâm thành phố Việt Trì) Lấy ví dụ thực tế năm Nhâm Thìn 2012 vừa qua Các hoạt động phục vụ bắt đầu được tổ chức từ ngày 25/3 tức 4/3 âm lịch Tại Thành phố Việt Trì diễn ra các chương trình như Khai mạc triển lãm cây cảnh nghệ thuật tại sân Bảo tàng Hùng Vương;
Đêm thơ nhạc về cội nguồn tại Nhà văn hóa lao động tỉnh; Hát xoan cổ tại xã Kim Đức; Hội thảo khoa học “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương – Hội tụ văn hóa tâm linh và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc” tại Trung tâm hội nghị tỉnh; Khai mạc triển lãm ảnh nghệ thuật quốc tế VN11 và trưng bày ấn phẩm văn học nghệ thuật “Các kinh đô Văn Lang xưa và nay”; Triển lãm nghệ thuật thư pháp tại Bảo tàng Hùng Vương; Trưng bày hiện vật và triển lãm một số hình
ảnh về hát Xoan tại Bảo tàng Hùng Vương; Triển lãm sách báo tại Thư viện tỉnh; Biểu diễn của đoàn nghệ thuật tỉnh Điện Biên tại công viên Văn Lang; Khai mạc giải bóng chuyền các đội mạnh toàn quốc cúp Hùng Vương tại nhà thi đấu TDTT tỉnh; Khai mạc hội chợ Hùng Vương tại sân vận động TP Việt Trì; Biểu diễn của đoàn nghệ thuật chèo Phú Thọ tại Công viên Văn Lang; Biểu diễn đoàn kịch nói Phú Thọ tại Công viên Văn Lang; Biểu diễn của đoàn nghệ thuật thành phố Hải Phòng tại Công viên Văn Lang; Chung kết Hội diễn hát Xoan và dân ca Phú Thọ của ngành GD và ĐT thành phố Việt Trì tại Nhà văn hóa lao động tỉnh; Hội thi bơi trải trên sông Lô; Bắn pháo hoa tầm thấp; Biểu diễn của đoàn nghệ thuật tỉnh Nghệ An tại Công viên Văn Lang Tại Khu
di tích lịch sử Đền Hùng diễn ra các hoạt động chính như: Triển lãm ảnh các
di tích thờ Hùng Vương tại Bảo tàng Khu DTLS Đền Hùng; Thành phố Việt Trì tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng; Trưng bày, giới thiệu các loài phong lan tại Nhà trưng bày phong lan; Đánh trống đồng, đâm đuống,
Trang 27múa sư tử tại Công quán; Khai mạc Hội trại văn hóa; Liên hoan hát Xoan và dân ca Phú Thọ tại Trung tâm lễ hội; Lễ giỗ Quốc tổ Lạc Long Quân; Lễ dâng hương Tổ mẫu Âu Cơ; Hội trại văn hóa tại Trung tâm lễ hội; Liên hoan hát Xoan và dân ca tại Trung tâm lễ hội; Thi đấu các giải thể thao quàn chúng tại Trung tâm lễ hội; Khai mạc hội thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh giầy; Dâng bánh chưng, bánh giầy các đền; Chiếu phim màn ảnh rộng (khu vực dền Lạc Long Quân); Rước kiệu của các xã Hy Cương; Chu Hóa; Hùng Lô; Kim Đức; Tiên Kiên; phường Vân Phú; Dâng hương Giỗ Tổ vào sáng 10/3 âm lịch;
1.3 Vai trò Lễ hội Đền Hùng trong đời sống tinh thần của dân tộc
1.3.1 Vai trò của lễ hội nói chung
Lễ hội là một hình thái trình diễn của “sân khấu hóa” về các nội dung, hình thức đa dạng khác nhau Tựu chung thì các hình thức đều phản ánh lên việc tôn vinh những giá trị thiêng liêng cùng với thỏa mãn những nhu cầu văn hóa tinh thần của con người góp phần thắt chặt mối quan hệ cộng đồng trong xã hội
Phần lễ và phần hội luôn gắn bó mật thiết với nhau tạo một thể thống nhất trong hoạt động Hai yếu tố trên đều hướng con người đến chữ “nhân” trong xã hội Tại đây, con người như được thư thái lòng mình, gạn bỏ những bon chen tầm thường trong cuộc sống để đến với nhau không phân chia đẳng cấp, thứ bậc… Và đây chính là sự cố kết sức mạnh của dân tộc trường tồn cùng thời gian
Lễ hội cổ truyền có vai trò phản ánh, bảo lưu và truyền bá những giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là thể hiện lòng thành kính đến Tổ tiên, cha
ông ta xưa đã có công lập nên bờ cõi và bảo vệ đất nước Có thể kể đến như lễ hội Gióng, lễ hội đền Trần, Hội Hai Bà Trưng…
Ngoài ra, lễ hội còn thực hiện chức năng thỏa mãn nhu cầu đời sống
Trang 28tinh thần, tâm linh, những khát khao, ước vọng mà con người chưa làm được
Ví dụ như các lễ hội cầu mùa của các tộc người thiểu số, các làng ven biển… Chính việc thông qua lễ hội này mà củng cố thêm con người lòng tin trong cuộc sống, nâng lên lòng tin vào Đảng và Nhà nước, tạo sự yên tâm trong công tác Con người tin vào cái thiện, thuyết nhân quả, yêu thương nhau hơn trong cuộc sống
Lễ hội truyền thống thực hiện vai trò hưởng thụ và giải trí Đó chính là những lễ vật mà khi họ được hưởng mà vẫn gọi là “lộc” sau khi hạ lễ Hay chính bản thân mỗi người là một nhân vật được “hóa thân” trong một trò chơi, trò diễn hoặc chỉ là sự “hòa nhập” tạo nên một lễ hội tổng thể Chính con người là nơi tiếp nhận hưởng thụ những giá trị văn hóa và cũng chính họ là người sáng tạo vận dụng linh hoạt, sáng tạo, khoa học nền văn hóa đó cho phù hợp với thời cuộc
1.3.2 Vai trò của Lễ hội Đền Hùng trong đời sống tinh thần của dân tộc
“Uống nuớc nhớ nguồn” từ lâu đã ăn sâu vào trong tâm thức người dân Việt Nam và phong tục thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc ta
Là con cháu Lạc Hồng chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đều biết đến câu ca:
“Dù ai đi ngựợc về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mùng 10 tháng 3 Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”
Câu ca ấy vang lên trong sâu thẳm tâm hồn, đưa đàn cháu con trở về thực hành đạo hiếu với tổ tiên mẹ cha Cứ thế hàng năm, vào ngày giỗ tổ
Trang 29mùng 10 tháng 3 muôn triệu người con dù ở đâu cũng đều tụ hội nơi cõi linh thiêng này để thắp một nén hương thơm, tỏ tấm lòng thành kính, tri ân công
Với giá trị linh thiêng là ngày Giỗ linh thiêng của cả dân tộc Việt, Lễ hội Đền Hùng thể hiện sức mạnh gắn kết dân tộc Việt nam mà chúng ta vẫn thân thương gọi hai chữ “đồng bào” Giá trị đó như một “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình lịch sử dân tộc Việt nam với các truyền thống tốt đẹp như
“thương người như thể thương thân” hay “ lá lành đùm lá rách”… Sức mạnh dân tộc đã được minh chứng qua thời gian trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Vào thời kỳ Bắc thuộc khi đất nước bị nhà Hán xâm lược, Hai Bà Trưng khi dựng cờ khởi nghĩa đã đến đây tế các Vua Hùng và thề nguyền rằng:
“Một xin rửa sạch quốc thù Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng”
Trải qua suốt thời kỳ như Lý, Trần, Lê, Nguyễn thì lễ hội Đền Hùng vẫn phát huy tốt những giá trị văn hóa tốt đẹp từ ngàn đời nay Đến thời đại Hồ
Trang 30Chí Minh khi Người về thăm Đền Hùng cũng đã nói “Các vua Hùng đã có
công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” Ngày nay phát
huy lòng tự hào dân tộc, toàn Đảng, toàn dân vào ngày Giỗ Tổ cũng tổ chức dâng hương làm lễ báo công với các vua Hùng, các bậc tiền nhân, xin nguyện
cố gắng xây dựng và bảo vệ giang sơn gấm vóc mà Ông Cha ta đã để lại
Trang 31Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN Lí LỄ HỘI ĐỀN HÙNG 2.1 Bộ máy, cơ cấu tổ chức nhân sự quản lý Lễ hội Đền Hùng
Trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Khu di tích lịch sử Đền Hùng hiện nay hiện có:
Ban giám đốc (01 giám đốc và 03 phó giám đốc)
07 Phòng, ban
01 Trung tâm
Tổng số cán bộ công nhân viên chức, người lao động là 338 người ( tính đến T8/2012) Trong đó biên chế hưởng ngân sách nhà nước là 85 người Số còn lại là nhân viên hợp đồng
Sơ đồ bộ máy quản lý Khu di tích lịch sử Đền Hùng:
Chức năng, nhiệm vụ của Ban lãnh đạo và các Phòng:
o Giám đốc: quản lý chung, quản lý trực tiếp Ban quản lý dự án đầu tư và xây dựng; Trung tâm dịch vụ - du lịch
Trang 32o Phó Giám đốc thường trực: thường trực ban lãnh đạo; quản lý trực tiếp Phòng Quản lý rừng, Phòng Tổ chức hành chính
o Phó Giám đốc 1: phụ trách trực tiếp Phòng Quản lý di tích bảo tàng
o Phó Giám đốc 2: phụ trách, quản lý trực tiếp Phòng Quản lý - dịch vụ -
o Phòng Kế hoạch tài vụ: trực tiếp quản lý tài chính của khu di tích
o Ban Quản lý dự án: trực tiếp quản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng trên
địa bàn khu di tích
2.2 Công tác quản lý nhà nước về Lễ hội Đền Hùng
2.2.1 Chỉ đạo thực hiện các văn bản nhà nước về Lễ hội Đền Hùng
Văn hóa tín ngưỡng hay văn hóa tâm linh là một vấn đề nhạy cảm và rất trừu tượng Đôi khi những nét văn hóa mà chúng ta cho là mê tín hoặc không khoa học lại có một sức mạnh lan tỏa rất sâu sắc trong tinh thần mỗi con người Vì vậy, khi đưa ra những văn bản chỉ đạo các bộ, ban, ngành cũng gặp phải sự không logic cho một vấn đề nào đó và vấn đề đó cũng tùy thuộc vào mức độ lớn hay nhỏ Đơn cử như trong Nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa, Điều 10 về việc duy
Trang 33trì và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống quy định:
“ Nghiêm cấm các hành vi sau đây trong tổ chức và hoạt động
lễ hội: Đánh bạc dưới mọi hình thức;Đốt vàng mã;Những hành vi
vi phạm pháp luật khác [28, tr.7]
Cùng với đó là Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6/2006 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa thông tin cũng đã quy định rất chi tiết về khung hình phạt như:
“ Điều 40 Vi phạm các quy định về sản xuất, đốt hàng mã
1 Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi đốt hàng mã tại nơi tổ chức lễ hội, di tích lịch sử, văn hóa
2 Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất trái phép hàng mã; tuyên truyền mê tín
dị đoan để tiêu thụ hàng mã
3 .” [27, tr.37]
Trên thực tế, theo như Luật thuế tiêu thụ đặc biệt của Quốc Hội khóa XII, kỳ họp thứ 4, số 27/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 được sửa đổi
bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
“ Điều 2 Đối tượng chịu thuế i, Bài lá;k, Vàng mã, hàng mã; ” [24, tr.1]
Vậy mô hình chung là vàng mã được chấp nhận sản xuất và tiêu thụ trên thị trường
Ví dụ thêm về việc không thống nhất về trong việc chỉ đạo thực hiện công tác quản lý Lễ hội Đền Hùng Đó là việc nghiêm cấm dùng loa phóng thanh to gây ô nhiễm môi trường trong lễ hội đã được quy định rõ ràng cụ thể, nhưng khi triển khai thì vẫn có cửa hàng hoặc điểm vui chơi vẫn được phép
Trang 34của lãnh đạo phát loa phóng thanh công xuất lớn ngang nhiên làm ảnh hưởng
đến cạnh tranh của các cửa hàng Điều này gây nên sự không thống nhất trong việc thực hiện nhiệm vụ của các ngành chức năng, tạo sự mất tin tưởng vào công bằng pháp luật của người dân
2.2.2 Công tác phối kết hợp giữa các ngành, các cấp
Trong các yếu tố dẫn tới sự thành công của việc tổ chức Lễ hội đền Hùng thì yếu tố trên là một trong những yếu tố hết sức quan trọng Đòi hỏi sự
nỗ lực không mệt mỏi của các cán bộ chuyên trách khi thực hiện nhiệm vụ Trong thực tế mức độ cũng như trách nhiệm của mỗi ban ngành chưa thật sự tốt khi diễn ra lễ hội Dựa trên cơ sở phân tích về yếu tố con người ở phần trước, lực lượng này còn mỏng, trình độ năng lực chưa đồng đều hay nói cách khác trình độ năng lực còn hạn chế, sự phối kết hợp không chặt chẽ nên tất yếu một số ngành, cấp chưa hoàn thành được trách nhiệm của mình Mặc dù trước khi lễ hội diễn ra UBND tỉnh đã lên kế hoạch rất chi tiết họp và giao nhiệm vụ tới tất cả các sở, ban, ngành về công tác tổ chức Giỗ tổ Hùng Vương
- Lễ hội Đền Hùng Đối với những năm chẵn như năm 2005 hay năm 2010, Lễ hội được tổ chức cấp quốc gia, ủy ban nhân dân tỉnh Phú thọ đã phối hợp với các Bộ, ngành trung ương như Bộ Văn hóa thể thao và du lịch, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ giao thông vận tải, Đài truyền hình Việt nam
để cùng tổ chức lễ hội này Các vấn đề như chi phí xây dựng, tu sửa, chỉnh trang cơ sở hạ tầng, tiếp đón đại biểu, trật tự giao thông, đô thị, an ninh, y tế
được đặt ra và thực hiện trong vòng một năm
Từ khi có chủ trương thành lập Đội liên ngành (bao gồm cán bộ phòng
an ninh, phòng thuế, trung tâm vệ sinh an toàn thực phẩm, xã Hy Cương, phòng bảo vệ, phòng quản lý dịch vụ ), những năm gần đây phục vụ hoạt
động của Ban tổ chức thì công việc của các phòng ban chuyên môn khác có phần xao nhãng, thay vào đó là làm những công việc khác (làm kinh tế) phó
Trang 35mặc cho đội liên ngành Cần phải nói rõ hơn là đội liên ngành gồm 2 đội: mỗi
đội có 11 đồng chí; trong đó 1 đồng chí đội trưởng, 2 đồng chí đội phó Mỗi
đồng chí được đề cử từ các đơn vị chuyên trách khác nhau như công an, kiểm lâm, quân sự, quản lý thị trường, đội thuế, công an xã Mà với một lễ hội
đông và phức tạp như vậy, số lượng cán bộ liên ngành thì có hạn, tuần tra, kiểm soát không phải lúc nào cũng thường xuyên cho nên vẫn còn tình trạng lộn xộn xảy ra ở một vài nơi Hơn thế nữa, đội công tác liên ngành không phải
ai cũng nắm rõ tình hình địa phương và những hoạt động phức tạp diễn ra trong lễ hội Vì vậy, sự phối hợp giữa đội liên ngành và các cán bộ địa phương trong địa bàn Khu di tích là rất quan trọng Một điểm nữa đó là tinh thần trách nhiệm và mức độ phối hợp giữa các đơn vị được cử lên làm nhiệm vụ trong những ngày hội cũng là điều đáng nói Theo tâm lý thì các đơn vị đó nghĩ đây chỉ là tăng cường, hỗ trợ được thế nào thì hay thế ấy, nên trong công việc lại vẫn dồn lên vai của cán bộ, công nhân viên Khu di tích với số lượng người hữu hạn mà việc thì nhiều lên
2.2.3 Cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ
Trong những năm gần đây, việc đầu tư tu bổ, tôn tạo các di tích đã làm rất tốt Các khuôn viên trước cửa đền, chùa; đường lên được mở rộng hơn, an toàn hơn, tạo không gian rộng rãi cho du khách hành lễ Các hàng rào B40 ngăn đất, cây xô cũng được làm chắc chắn Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng khu vực xung quanh núi Hùng và đền Lạc Long Quân, Âu Cơ vẫn còn rất ngổn ngang
Đây cũng chính là một phần do nguyên nhân sâu xa của việc nhà nước hóa Chờ đợi vào ngân sách nhà nước mà vẫn chưa huy động được sức dân, huy
động nguồn vốn từ các tổ chức, đơn vị Hiện tại các khu vực vẫn còn ngổn ngang như: Đường nối dài Trung tâm lễ hội; Khu vực hồ dạo kéo dài Mai An Tiêm, khu vườn hoa cây cảnh trước của đền Giếng
Bên cạnh đó, các hàng quán trong khu vực dịch vụ vẫn còn chưa đủ nhằm phục vụ trong các ngày hội cao điểm Điều này dẫn đến việc các quán
Trang 36cắm tạm thời gây mất mỹ quan và môi trường sinh thái Hệ thống điện nước còn những khu vực chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân và du khách về
dự lễ hội Tình trạng mất điện ở một số khu vực dịch vụ vẫn diễn ra thường xuyên Đặc biệt là là các nơi vệ sinh công cộng còn ít, nhỏ chưa thật sạch sẽ trong khi số lượng du khách rất đông Thay vào đó là các “bạt che” vệ sinh tạm bợ do dân mở ra gây mất mỹ quan và không đảm bảo sạch sẽ Khu vực dành cho y tế cũng rất khiêm tốn Chưa có một quầy chuyên bán thuốc tây nào
được mở trong lễ hội Đây là vấn đề rất quan trọng cần phải được bổ sung ngay Trong khi đó chỉ có một đội cấp cứu tại lán dựng tạm ở khu vực gần nhà hàng Cổ Tích
Trong công tác hoạt động dịch vụ:
Theo công văn số 153/KH-UBND ra ngày 17 tháng 1 năm 2012 về công tác chuẩn bị:
“ 5 Quy hoạch, sắp xếp bố trí các địa điểm bán hàng lưu niệm
và các hoạt động dịch vụ, bố trí thêm lực lượng hướng dẫn đồng bào về dự lễ hội ”[7, tr.2]
Chúng ta đã biết, chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng trong việc hấp dẫn và thu hút khách hàng Với đặc thù lễ hội diễn ra tập trung lượng khách
đông nên vấn đề chất lượng chưa được quan tâm đúng mức Dịch vụ được kể
đến ở đây bao gồm: hàng quán giải khát, ăn uống, nhà nghỉ, các quầy bán hàng lưu niệm, dịch vụ sắm lễ, đồ uống, dịch vụ trông giữ phương tiện giao thông, dịch vụ vui chơi giải trí, hướng dẫn du lịch, quay phim chụp ảnh Bên cạnh đó yếu tố chất lượng còn liên quan đến thái độ phục vụ, trình độ nghề nghiệp, chuyên môn Hiện nay, lực lượng hướng dẫn tại Khu di tích lịch sử
Đền Hùng có 13 người (bao gồm phòng Du lịch thuộc Trung tâm Dịch vụ -
Du lịch và phòng Bảo tàng - di tích) So với lượng khách đến Đền Hùng vào mùa xuân và Lễ hội thì lược lượng này còn rất mỏng Trình độ chuyên môn
Trang 37của lớp trẻ còn hạn chế, địa bàn hoạt động rộng nên cũng ảnh hưởng đến công việc hướng dẫn do cán bộ hướng dẫn là nữ chiếm số đông
Trong ăn uống vẫn chưa có những đặc sản đặc trưng cho món ăn miền trung du đất Tổ Cách chế biến, trang trí còn đơn giản, tính thẩm mỹ chưa cao Nhà nghỉ cho du khách vào những ngày hội còn rất thiếu, trang thiết bị chưa
đầy đủ tiện nghi Ngoài khu nghỉ Mai An Tiêm do Trung tâm Dịch vụ - Du lịch quản lý, còn có thêm được một số nhà nghỉ nhỏ khác như An Bình, Lang Hằng, Thủy Tiên Về cơ bản đều là dân tự mở và kinh doanh nên số lượng và chất lượng phòng còn hạn chế, giá cả của những nhà nghỉ này lại rất cao Trong những ngày lễ hội giá phòng có thể tăng gấp 3 đến 4 lần (từ 200.000
đến 250.000 đồng/1 phòng lên tới 800.000 đến 1.000.000 đồng/1 phòng) Mặc dù đã có sự chỉ đạo trước đó từ phòng Du lịch thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ nhưng các nhà nghỉ của dân vẫn làm trái quy
định Điều này ảnh hưởng rất lớn đến ngành du lịch của tỉnh nói chung và du lịch Đền Hùng nói riêng
2.2.4 Công tác quảng bá, tuyên truyền về giá trị Lễ hội Đền Hùng
Theo yêu cầu của Chủ tịch tỉnh về việc quảng bá, tuyên truyền Lễ hội
Đền Hùng - Giỗ tổ Hùng Vương được giao cho các ban ngành bộ phận chức năng như: Cán bộ đang làm nhiệm vụ trực tiếp tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, đặc biệt giao cho Phòng Bảo Tàng và Trung tâm dịch vụ - du lịch có nhiệm vụ hướng dẫn tuyên truyền về di tích lịch sử Đền Hùng và thời đại Hùng Vương Theo chủ trương của Giám đốc Khu thì mỗi đồng chí cán bộ
đang làm việc trong khu di tích phải là một người hướng dẫn viên nhiệt tình khi đồng bào có yêu cầu thắc mắc cần hỏi Tuy nhiên trong thời gian diễn ra
lễ hội vì khối lượng công việc quá nhiều nên việc sắp xếp cán bộ đi hướng dẫn quả là rất khó Đây chính là việc cần phải để tâm đến từ khâu tuyển chọn và tăng cường lực lượng cùng với việc phân bổ công việc sao cho phù hợp Đối
Trang 38với mọi người vào dịp này hầu như chỉ tập chung vào mục đính kinh tế Tại Trung tâm bắt đầu từ mùng 1/3 là các hướng dẫn viên đã được phân đi làm công việc khác như bán vé xe điện, tăng cường bán hàng tại các quầy Vì vậy công tác hướng dẫn tuyên truyền tới du khách giảm đi rõ rệt Bên Phòng bảo tàng thì hầu như các đồng chí được phân bổ đi làm công tác quản lý di tích và các hoạt động diễn ra trong hội như rước kiệu, lễ dâng hương, các cuộc thi và giao lưu văn hóa nên công tác tuyên truyền, giới thiệu chưa được sâu rộng Đã vậy tại các khu vực như Ngã năm đền Giếng, Trung tâm lễ hội có hai màn hình lớn cũng có chức năng trình chiếu những hình ảnh, cung cấp những thông tin về lịch sử khu di tích và thời đại Hùng Vương nhưng có một hạn chế rất lớn là âm thanh rất khó nghe do các âm thanh khác quá lớn pha tạp Điều này cũng làm cho du khách rất bức xúc và đặc biệt hơn nữa là không có không gian ngồi để xem và nghe hết được toàn bộ video giới thiệu này Hiện nay tại các điểm quan trọng tập chung đông người vẫn chưa có được một tấm bản đồ lớn về đường đi lối lại, các khu vực diễn ra các hoạt động lễ hội cho du khách hành hương nên
đây cũng là một hạn chế lớn Khi du khách muốn mua một cuốn sách giới thiệu
về Đền Hùng tại một gian hàng làm kỷ niệm thì có rất nhiều loại sách của nhiều tác giả khác nhau làm cho du khách rất phân vân Và tất nhiên trong mỗi quyển sách ít nhiều cũng có những thông tin lệch nhau
Nhiều du khách khi kết thúc hành trình thăm Đền Hùng muốn mua một món quà đặc trưng vùng Đất Tổ thì đều phân tâm không biết đâu chính là đặc sản vùng Đất Tổ? Các sản phẩm hầu như rất giống nhau ở tất cả các lễ hội Duy nhất có món quà rất ý nghĩa trong chuyến đi này mà theo tác giả quan sát tâm lý du khách đến đây đó là biểu tượng mô hình trống đồng thu nhỏ Tuy nhiên, không phải ai cung có thể mua được món quà này vì giá thành của sản phẩm quá đắt so vói mức chi tiêu bình quân của mỗi người Ví dụ: Trống F12 bằng đồng giá 1.300.000 đồng, F13 giá 1.450.000 đồng ; F15 là 4.500.000
đồng (giá trên chưa bao gồm thuế VAT) Theo như tác giả quan sát vào thời
Trang 39điểm 9h00 ngày 7 tháng 3 âm lịch tại gian hàng “Điểm đón và hướng dẫn khách hành hương” của Trung tâm dịch vụ du lịch đền Hùng giữa khu vực Ngã năm đền Giếng thì quan sát khoảng 100 người vào gian hàng thì có đến 80% trong số đó hỏi và quan sát mặt hàng trống đồng này nhưng kết quả lại là hầu như ai cũng kêu đắt và quyết định lựa chọn cho mình một thứ đồ khác cho
dù không thích lắm và câu trả lời “ mua cho có quà mà thôi!” Đây cũng là một dấu hỏi cần lời giải đáp trong công tác quảng bá, hấp dẫn du khách khi về thăm viếng Đền Hùng
Nhằm cung cấp thông tin cho du khách trên mạng điện tử, Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã xây dựng và đưa vào hoạt động website Đền Hùng (http:www.denhung.org.vn) Tuy nhiên hiệu quả của website này mang lại chưa cao do thông tin trên trang còn nghèo nàn, không được cập nhật tin tức thường xuyên, có thời gian ngừng trệ hoạt động, trong khi công nghệ thông tin
đang phát triển từng ngày, từng giờ
Những năm vừa qua, được sự quan tâm của Ban lãnh đạo Khu di tích phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông Phú Thọ trong việc duy trì và cập nhật thông tin lên website Đền Hùng đạt được một số kết quả Nhưng nhìn chung hiệu quả của website mang lại vẫn chưa cao do vẫn còn thụ động trong việc cập nhật, cách tiếp cận với đồng bào cả nước và quốc tế trên trang chưa chuyên nghiệp Du khách muốn tìm những hình ảnh, cụ thể hơn, cần được cung cấp những thông tin chi tiết hơn và những hướng gợi mở cho việc đầu tư, công đức, xây dựng thì vẫn còn hạn chế Mặc dù Trung tâm dịch vụ du lịch cũng đã thường xuyên cung cấp những thông tin, hình ảnh về những sản phẩm dịch vụ, du lịch cho khách hàng nhưng vẫn là con số ít ỏi và không đáng kể so với tầm cỡ là một Khu di tích quốc gia đặc biệt
Đối với báo (báo giấy và báo điện tử), đài phát thanh - truyền hình khi
đưa tin giới thiệu về Đền Hùng cũng còn hạn chế, chủ yếu là đài phát thanh - truyền hình địa phương Với thời lượng phát thanh - truyền hình trên báo đài
Trang 40trung ương ít dẫn tới lượng thông tin về Khu di tích lịch sử Đền Hùng đến với
đồng bảo cả nước, kiều bào ở nước ngoài, khách quốc tế còn khiêm tốn
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được UBND tỉnh giao nhiệm vụ rất rõ ràng trong việc quảng bá, tuyên truyền trước, trong và sau lễ hội cho nhân dân Ví dụ trong yêu cầu nhiệm vụ năm 2012: “Chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn tuyên truyền đậm nét bằng hình ảnh, băng zôn trên địa bàn thành phố Việt Trì
và các huyện, thị trong tỉnh nhằm quảng bá hình ảnh hát Xoan, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2012; chủ trì, tổ chức các hoạt
động tuyên truyền cổ động trực quan trên đường Hùng Vương và đường Trần Phú - thành phố Việt Trì” Tuy nhiên, đối với thành phố Việt Trì thì cơ bản là tốt nhưng tại các địa phương, huyện, thị trong tỉnh công tác này vẫn còn hạn chế Có thể lý do về kinh phí nhưng tại sao chúng ta không huy động sức dân tại mỗi địa phương, huy động công tác tổ chức, đơn vị tạo ra cho họ những quyền lợi như được quảng bá hình ảnh, có một cơ chế chính sách ưu đãi rất nhiều cách để có thể phát huy nguồn lực tại chỗ Vậy đây cũng là hạn chế trong công tác quảng bá, tuyên truyền
2.2.5 Hiện tượng quan phương hóa, nhà nước hóa Lễ hội Đền Hùng
Như chúng ta đều biết lễ hội nào cũng có lịch sử của nó Và chính tính lịch sử đó tạo ra bản sắc riêng và mang truyền thống văn hóa bản địa của vùng
đó Vừa qua hồ sơ “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đang được đệ trình lên UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Một trong những tiêu chí quan trọng nhất để UNESCO công nhận một di sản văn hóa là yếu tố di sản đó phải thuộc quyền sở hữu của cộng đồng, được cộng đồng thực hành và bảo tồn Nhưng điều lo ngại ở đây chính là tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng hiện đã và đang bị “nhà nước hóa” rất nhiều Các nghi lễ Đền Hùng đã bị nhà nước hóa bằng các nghi thức có tính hiện đại,