Bước sang thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập, để nâng cao hơn nữa vai trò của công tác quản lý di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ VĂN HÓA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thế Hùng
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thế Hùng Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được
ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Chu Đức Hải
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA Ở HUYỆN HẠ HÒA 16
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - văn hóa 16
1.1.1 Một số khái niệm 16
1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa 22
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử-văn hóa 27
1.2 Tổng quan về huyện Hạ Hòa 29
1.2.1 Khái quát về huyện Hạ Hòa 29
1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa huyện Hạ Hòa 32
1.2.3 Một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu của huyện Hạ Hòa 43
1.2.4 Giá trị của di tích lịch sử - văn hóa của huyện Hạ Hòa 50
1.2.5 Tình trạng bảo quản các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Hạ Hòa 53
Tiểu kết 57
Chương 2: CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HẠ HÒA 58
2.1 Cơ cấu, chức năng của hệ thống tổ chức quản lý di tích lịch sử -văn hóa huyện Hạ Hòa 58
2.1.1 Ủy ban nhân dân 58
2.1.2 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ 59
2.1.3 Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Hạ Hòa 61
2.2 Công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở huyện Hạ Hòa 63
2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện 63
Trang 42.2.2 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến về pháp luật bảo vệ di tích lịch sử -
văn hóa 64
2.2.3 Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 67
2.3 Nhận xét, đánh giá về công tác quản lý di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn huyện Hạ Hòa 78
2.3.1 Ưu điểm 78
2.3.2 Hạn chế 80
Tiểu kết 83
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA Ở HUYỆN HẠ HÒA 84
3.1 Định hướng quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 84
3.1.1 Mục tiêu và phương hướng chung giai đoạn 2012 – 2020 84
3.1.2 Nhiệm vụ giai đoạn 2012 -2020 87
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử - văn hóa huyện Hạ Hòa 87
3.2.1 Nhóm giải pháp về chính sách 87
3.2.2 Nhóm giải pháp tăng cường tổ chức và triển khai thực hiện công tác quản lý và bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử - văn hóa 92
3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường công tác quản lý của Nhà nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 101
3.3 Một số đề xuất với các cơ quan chức năng 106
3.3.1 Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 106
3.3.2 Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ 107
Tiểu kết 108
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 118
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CLB GĐVH
: Câu lạc bộ : Gia đình văn hóa HĐND : Hội đồng nhân dân MTTQ : Mặt trận Tổ quốc
TT&TT : Thông tin và Truyền thông
VH&TT : Văn hóa và Thông tin VH,TT&DL : Văn hóa, thể thao và du lịch
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Thống kê số lượng các di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn huyện
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Di tích theo một nghĩa cơ bản là những dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử
Vì vậy, di tích là một bộ phận cấu thành của kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, giúp con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ hiểu
rõ về cội nguồn dân tộc và truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước Di tích nói chung và di tích lịch sử văn hoá nói riêng là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại
Vì vậy, việc bảo tồn, gìn giữ di tích luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ vô cùng cấp thiết Ngay từ ngày đầu lập nước, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 “Ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác cổ Học viện” - Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
Trong suốt những năm tháng khốc liệt của chiến tranh, Đảng và Nhà nước vẫn luôn hết sức quan tâm và đánh giá đúng vai trò cũng như tầm quan trọng của công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá, tiếp tục đề ra những chính sách, biện pháp cụ thể thích ứng với từng thời kỳ của đất nước nhằm tăng cường hiệu lực của công tác quản lý Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa VII đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh
thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời
Trang 8là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.[5, tr.1] Văn hóa chính là yếu tố nội sinh của
phát triển Mà để phát triển văn hóa, thì việc quản lý, phát huy tác dụng tốt các di sản văn hóa là một nội dung quan trọng
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (tháng 7 năm 1977) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [6, tr 3]
Bước sang thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập, để nâng cao hơn nữa vai trò của công tác quản lý di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Di sản Văn hoá (2001) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa (2009), đánh dấu những mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về di sản văn hóa, phản ánh bước chuyển rõ rệt, tích cực về nhận thức và quyết tâm của toàn xã hội trên hành trình bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, đảm bảo phù hợp thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo nên tính khả thi cao của pháp luật trong đời sống
Trong Luật Di sản Văn hóa năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa: “Bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa là đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới”[52, tr 33]
Trang 9Chính vì vậy, Đảng ta đã xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội” [2, tr.2] và hết sức tập trung vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, trong đó không thể không nhắc đến các di tích lịch sử-văn hóa
1.2 Huyện Hạ Hòa nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Phú Thọ, gồm 32 xã, 1 thị trấn nằm ở hai bên bờ sông Thao, phía Đông Bắc giáp huyện Đoan Hùng trên một đoạn dài 32,15 km; phía Nam giáp huyện Cẩm Khê (19,369 km), phía Đông Nam giáp huyện Thanh Ba (19,618 km); phía Tây Nam giáp huyện Yên Lập (16,475km); phía Tây Bắc giáp hai huyện Trấn Yên, Yên Bình (tỉnh Yên Bái - 37,511 km) Huyện có diện tích 339,34 km2; thị trấn huyện lỵ Hạ Hòa cách thành phố Việt Trì 70 km
Địa hình Hạ Hòa thuộc dạng lòng chảo, thoải dần theo hướng Đông Nam, được tạo nên bởi các triền núi cao như các núi Ông (218m), núi Văn (387m), núi Tiên Phong (125,5m), núi Kìm (513m), núi Trưa (221,9m), nằm
ở địa phận 10 xã, có sườn thoải dần về phía sông Thao và các núi Gò Ngang (272m - Yên Kỳ), núi Buộm (Hương Xạ), núi Sơn Nhiễu (152m - Đại Phạm), núi Thanh Hương (Phụ Khánh) sườn thoải dần về tả ngạn sông Thao Chính dạng địa hình trên đã tạo ra các vùng sinh thái khác nhau (vùng đất bãi trong
đê sông Thao, vùng đồi đất thấp, vùng đồi cao và đất núi) có nhiều hứa hẹn và điều kiện để địa phương phát triển toàn diện lâm, nông, ngư nghiệp
Huyện Hạ Hòa hiện đang bảo tồn và phát huy giá trị 59 di tích (trong đó: 20 di tích đã được xếp hạng (7 di tích được xếp hạng di tích cấp quốc gia,
13 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh) Cùng với Di tích Quốc gia thờ Quốc Mẫu Âu Cơ, Hạ Hòa có một hệ thống di tích được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa, tiêu biểu như: Đền Nguyễn (xã Vụ Cầu), đền Chu Hưng (xã
Ấm Hạ); đình Trắng (xã Hậu Bổng), đền Thượng (xã Đan Thượng); đình Phú
Trang 10Yên (xã Bằng Giã); Đình Đông đền Nghè (xã Văn Lang), đền Đức Thánh Bà (thị trấn Hạ Hòa) Hệ thống di tích này tạo nên nét đặc trưng cho bản sắc văn hóa của huyện nói riêng được hình thành trong suốt tiến trình phát triển của đất nước
1.3 Trải qua những biến động của thiên nhiên và thời cuộc: sự tàn phá của chiến tranh; sự tác động của môi trường tự nhiên; sự phát triển của kinh tế
- xã hội, số lượng dân cư đông, sự gia tăng khai thác di tích và danh thắng để phục vụ các hoạt động tham quan, du lịch nhưng thiếu sự định hướng, quy hoạch của cơ quan quản lý nhà nước; các di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn huyện đã có nhiều thay đổi cả về mặt tích cực và tiêu cực Thực trạng các di tích hiện nay cần phải có sự quan tâm sâu sát của chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn để các di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn huyện thực sự phát triển, thực sự là điểm đến văn hóa của nhân dân trong huyện nói riêng và khách tham quan từ mọi miền Tổ quốc
Là một cán bộ công tác trong ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch; là một người con của quê hương; Với mong muốn tìm hiểu khảo sát, phân tích
và đánh giá chính xác về thực trạng công tác quản lý di tích trên địa bàn huyện Hạ Hòa, từ đó đề xuất một số giải pháp trước mắt cũng như lâu dài góp phần nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý nhà nước, để ngày càng phát huy giá trị của hệ thống di tích lịch sử-văn hóa góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn huyện Hạ Hòa, học viên chọn vấn đề “Quản lý di tích
lịch sử văn hoá ở huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp Cao học chuyên ngành Quản lý Văn hoá khóa 2012-2014
2 Tình hình nghiên cứu
Ngoài Di tích lịch sử Đền Hùng và Đền Mẫu Âu Cơ, các di tích trên địa bàn huyện Hạ Hòa nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung hiện nay chưa được
Trang 11nhiều người biết đến, chưa có nhiều các công trình nghiên cứu về di tích lịch
sử trên địa bàn huyện Hạ Hòa Chưa có công trình nào nghiên cứu kỹ lưỡng
về di tích và vấn đề quản lý di tích trên địa bàn huyện Các công trình nghiên cứu được đề cập hiện nay chỉ là một số luận văn, bài viết trên báo, tạp chí giới thiệu đôi nét về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:
- Sách: “Hạ Hòa tiềm năng và cơ hội đầu tư”, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, do Ban Thường vụ Huyện ủy huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ chỉ đạo nội dung, đã đề cập một cách tổng quan về huyện Hạ Hòa với các nội dung: Truyền thống lịch sử, văn hóa, vùng đất cách mạng và cả tiềm năng, cơ hội đầu tư trên địa bàn huyện Trong đó, có một số nội dung đề cập đến các di tích nổi bật của huyện: Đền Mẫu Âu Cơ, Vùng Căn cứ địa Chiến khu 10, Chiến khu cách mạng Hiền Lương như những trọng điểm của quá trình phát triển kinh tế-xã hội (du lịch) của huyện Tuy nhiên, cuốn sách không tập trung vào di tích nên những nội dung này chỉ mang tính giới thiệu, chưa có sự phân tích hiện trạng cũng như chưa đề cập đến công tác quản lý di tích của huyện
- Luận văn cao học chuyên ngành Văn hóa học của học viên Bùi Hồng Hạnh “Giá trị văn hoá, nghệ thuật của Đền Mẫu Âu Cơ (xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ) năm 2012 Luận văn đã đề cập chi tiết đến Đền Mẫu Âu Cơ với toàn bộ những giá trị văn hóa, nghệ thuật của mình, đề ra một
số giải pháp cho việc phát huy những giá trị này của di tích Tuy nhiên, Luận văn mới chỉ đề cập đến một di tích trong tổng thể gần 60 di tích trên địa bàn huyện Hạ Hòa, hơn nữa lại không đề cập đến công tác quản lý cho hệ thống các di tích này
- Luận văn cao học chuyên ngành Quản lý văn hóa với đề tài: “Quản
lý lễ hội truyền thống ở Phú Thọ” năm 2012 của học viên Bùi Thị Quỳnh
Trang 12Nga Luận văn đã đề cập một cách cụ thể các lễ hội cũng như công tác quản lý lễ hội truyền thống trên toàn tỉnh Phú Thọ nói chung, trong đó có nhắc đến một phần về huyện Hạ Hòa Công tác quản lý lễ hội cũng là một nội dung trong việc quản lý các di tích lịch sử-văn hóa nhưng không thể là toàn bộ Vì vậy, Luận văn có giá trị tham khảo chứ chưa đề cập đến nội
dung mà đề tài “Quản lý di tích lịch sử văn hoá ở huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú
Thọ” hướng tới
Các bài báo, bài nghiên cứu, giới thiệu di tích, quảng bá du lịch chủ yếu tập trung nghiên cứu, khai thác về các giá trị kiến trúc, giá trị nghệ thuật, giá trị di vật, cổ vật trong di tích, hoặc khảo tả chi tiết lễ hội Các bài viết này cũng đề cập đến một phần thực trạng của các di tích, giá trị lịch sử, văn hóa,
lễ hội của di tích , đồng thời đưa ra một số đề xuất bước đầu để khắc phục những tồn tại đã và đang đặt ra nhưng lại không xuất phát từ góc độ quản lý nhà nước về di tích
Chính vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Quản lý di tích lịch sử văn
hoá ở huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ” với mong muốn xác định giá trị của di
tích, thực trạng quản lý di tích trên địa bàn huyện Hạ Hòa, để từ đó đưa ra những giải pháp có tính cấp thiết cũng như lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ, phát huy giá trị di tích trong thực tiễn, góp phần vào việc giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của công tác quản lý
Di tích lịch sử - văn hóa trong giai đoạn hiện nay, luận văn đi sâu khảo sát phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như một số hạn chế trong công tác quản lý Di tích lịch sử - văn hóa huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ từ
Trang 13năm 2001 đến nay
Từ đó, Luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý Di tích lịch sử - văn hóa huyện Hạ Hòa trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác quản lý di sản văn hoá nói chung và quản lý Di tích lịch sử - văn hóa nói riêng
- Tìm hiểu khái quát lịch sử hình thành, phát triển và hệ thống hóa các
Di tích lịch sử - văn hóa của huyện Hạ Hòa
- Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý Di tích lịch
sử - văn hóa của huyện Hạ Hòa từ năm 2001 đến nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
Di tích lịch sử - văn hóa của huyện Hạ Hòa trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Công tác quản lý Di tích lịch sử - văn hóa huyện Hạ Hòa từ năm 2001 đến nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: từ năm 2001 đến nay
- Phạm vi không gian: Luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu tình hình quản lý Di tích lịch sử - văn hóa của huyện Hạ Hòa
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng;
chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin, các quan
điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý Di sản văn hóa dân tộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: quản lý văn hoá, lịch sử, bảo tàng học, xã hội học;
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp;
- Phương pháp khảo sát điền dã: Phân tích tài liệu do tác giả thực hiện
thông qua việc đến trực tiếp một số cơ sở Di tích lịch sử - văn hóa để điều tra
thực trạng công tác quản lý của các cấp xã, huyện; Phỏng vấn sâu đối với các
chuyên gia thuộc lĩnh vực Di sản văn hóa và quản lý Di sản văn hóa
6 Đóng góp của luận văn
- Bước đầu đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử - văn
hóa trên địa bàn huyện Hạ Hòa
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di
tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Hạ Hòa trong thời gian tới
- Kết quả nghiên cứu về thực trạng cũng như các nhóm giải pháp mà
Luận văn đưa ra là một trong những cơ sở khoa học giúp các cấp lãnh đạo của
Ủy ban nhân dân, Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Hạ Hòa có giải pháp phù
hợp trong việc đổi mới công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa tại huyện
- Đồng thời, đây cũng có thể là tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho các
huyện lân cận có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng xem xét, vận dụng vào
quá trình đổi mới công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa của địa phương mình
Trang 157 Bố cục Luận văn
Đề tài nghiên cứu “Quản lý di tích lịch sử văn hoá ở huyện Hạ Hoà,
tỉnh Phú Thọ” ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích và tổng quan về di tích lịch
sử - văn hóa ở huyện Hạ Hòa
Chương 2: Công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn
huyện Hạ Hòa
Chương 3: Định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di
tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Hạ Hòa
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ TỔNG QUAN
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA Ở HUYỆN HẠ HÒA
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - văn hóa
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa
Di sản văn hóa quy định tại Luật Di sản văn hóa bao gồm Di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong đó:
* Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác
* Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1.1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử-văn hóa
* Di tích lịch sử-văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Trong đó, Di tích lịch sử-văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau:
Trang 17- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương;
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [52, tr 50]
Trong Di tích lịch sử-văn hóa, có thể bao gồm những yếu tố hợp thành như di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia…
* Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
* Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên
* Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
* Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giống như bản gốc về hình dáng, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí và những đặc điểm khác
* Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội [52, tr 36]
Một số định nghĩa về các công tác của quá trình bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng di tích lịch sử-văn hóa:
Trang 18* Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, thu thập, nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ
* Bảo quản di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ là
hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
* Tu bổ di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm
tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh
* Phục hồi di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh đó
* Kiểm kê di sản văn hóa là hoạt động nhận diện, xác định giá trị và lập danh mục di sản văn hóa
* Yếu tố gốc cấu thành di tích là yếu tố có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ thể hiện đặc trưng của di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh
* Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng.[52, tr 37]
1.1.1.3 Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động C.Mác đã viết: Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu có sự chỉ đạo, điều hoà giữa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng
Trang 19một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [22, tr.23] Bản thân khái niệm quản
lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng
có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức
xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lí càng trở nên rõ rệt
Nói chung, Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có
nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ
phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Quản lý ra đời chính là nhằm
đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc Với ý nghĩa thông
thường, phổ biến thì “quản lý” có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một
cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Do đó, quản lý
là một quá trình tác động giữa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý, thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hoá hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Quản lý bao giờ cũng có tính mục đích, tính
tổ chức và hướng tới tính hiệu quả
1.1.1.4 Khái niệm quản lý di tích lịch sử - văn hóa
Quản lý văn hoá là một thuật ngữ mới Trong khoa học, người ta có thể tiếp cận với văn hóa hoặc riêng rẽ hoặc tổng hợp trên ba bình diện: Văn hóa với tính cách một nền văn hóa; Văn hóa với tính cách những cái/thuộc tính văn hóa; Văn hóa với tính cách những hoạt động văn hóa Ở đây, chúng ta chỉ
tập trung nghiên cứu về khái niệm quản lý hoạt động văn hóa
Trang 20Hoạt động văn hóa là những quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, nhằm giao lưu những tư tưởng, ý nghĩa và những tác phẩm văn hóa của con người sinh ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng sống của con người trong xã hội Quản lý nhà nước về văn hóa là
sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù vì:
Thứ nhất, hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo; các sản phẩm
văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho
đời sống con người Về phương diện này, hoạt động đó đòi hỏi có “một
khoảng trời tự do nhất định”, giúp cho sức tưởng tượng của chủ thể có “đất sống” để sáng tác
Thứ hai, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây
“hiệu ứng” (tốt hoặc xấu) trong xã hội
Thứ ba, hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, một nguồn lực trực
tiếp cho sự phát triển kinh tế-xã hội
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, xét cho cùng cũng là một phần của công tác quản lý di sản văn hóa nói chung và quản lý di tích lịch sử-
văn hóa nói riêng Theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt, thuật ngữ “quản
lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo
dõi Cụ thể, “quản lý” có hai nghĩa là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của một
số đơn vị, một cơ quan; Trông coi, giữ gìn và theo dõi những hoạt động cụ thể Trường hợp quản lý Di tích lịch sử-văn hóa có thể hiểu là tổ chức, điều khiển hoạt động của cơ quan quản lý di tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo
Trang 21quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể Trong lĩnh vực Di tích lịch sử-văn hóa, cơ quan quản lý di tích có trách nhiệm trông coi, giữ gìn; tổ chức các hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích; tổ chức bảo vệ di tích với mục tiêu chống xuống cấp cho di tích, để di tích tồn tại lâu dài; tổ chức lập hồ sơ, xếp hạng xác định giá trị và cơ sở pháp lý bảo vệ di tích…
Phát huy giá trị di sản văn hóa gồm các hoạt động: Tham quan tại di tích; Quảng bá di tích trên các phương tiện truyền thông đại chúng; Xuất bản các ấn phẩm giới thiệu di tích; Đưa di tích đến với du lịch Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động nhằm khai thác những giá trị của di sản để phục
vụ và đáp ứng nhu cầu của xã hội, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc
Phát huy, theo Từ điển Tiếng Việt nghĩa là làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn Phát huy cũng có thể hiểu là tập trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các mặt giá trị của di sản văn hóa [81, tr 9]
Quản lý di sản văn hóa là một quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hóa trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư, chủ nhân của các di sản văn hóa đó [52, tr 25] Quản lý Di tích lịch sử-văn hóa là một hoạt động nằm trong công tác quản
lý di sản văn hóa Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý di sản văn hóa không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể mà quan trọng hơn
là người làm công tác quản lý phải biết cách “đánh thức” những giá trị văn hóa
phi vật thể để có tác động tích cực đến đời sống cộng đồng
Quản lý Di tích lịch sử-văn hóa cũng chính là sự định hướng, tạo điều
Trang 22kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các Di tích lịch sử-văn hóa, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Các Di tích lịch sử-văn hóa cần được tôn trọng và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước như đặc thù của nước ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời bảo tồn được các giá trị của của bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa
Dưới các triều đại phong kiến, ý thức giữ gìn, bảo quản, kiểm kê và tu
bổ di tích đã được cả chính quyền trung ương và toàn xã hội chú ý Trong các
bộ sử ký, các sách địa chí đều có các ghi chép về di tích như: đình, đền, chùa, quán, miếu, thành quách và các nhân vật lịch sử Bộ Luật Hồng Đức ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông có điều khoản ghi việc trừng phạt những người lấy cắp, phá huỷ tượng Phật và chuông đồng cổ Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, người Pháp đã tiến hành điều tra, nghiên cứu về các di tích kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ học trên đất nước ta nhưng việc ban hành các văn bản pháp lý để quản lý và điều hành các hoạt động có tính chất bảo vệ di tích thì hầu như chưa được quan tâm đến
Từ sau năm 1945 (khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa được thành lập) và nhất là sau năm 1954 (đất nước vừa trải qua 9 năm trường kỳ kháng chiến, tạm chia làm hai miền Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục đấu tranh thực hiện nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc),
Trang 23hoạt động bảo tồn di tích ở nước ta bắt đầu tiếp cận với khoa học bảo tồn hiện đại của thế giới Và cũng từ đây, các văn bản pháp lý từng bước được xây dựng, để làm cơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặc biệt là công tác quản
lý các Di tích lịch sử-văn hóa
Một số văn bản pháp lý quan trọng cần nhắc đến trong công tác này là:
* Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 về việc thành lập Đông Phương Bác Cổ Học viện và Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam
Ngay sau khi Cách mạng Tháng 8 thành công, trong lúc phải đối phó với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn hết sức quan tâm tới việc bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc Nhà nước ta chủ trương đặt toàn bộ các di tích dưới sự bảo hộ của pháp luật Chủ trương đó được thể hiện rất rõ ràng, cụ thể trong Sắc lệnh số 65/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 về việc thành lập Đông Phương Bác Cổ học viện và bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam do
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Nội dung Sắc lệnh nêu rõ: “Cấm phá huỷ đình,
chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ được bảo tồn” Đây là một sự khẳng định quan điểm và nhận thức
đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng và Nhà nước nói chung đối với vai trò và ý nghĩa quan trọng của các di tích trong công cuộc kiến thiết đất nước Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ (19-12-1946) đã không cho phép chúng ta mở rộng hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ
di tích của đất nước trong giai đoạn này
Khẳng định việc bảo tồn cổ tích “là công việc rất quan trọng và rất cần thiết cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam” (khái niệm “cổ tích” trong Sắc lệnh ngày nay được coi là di sản văn hóa, gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể); Đông Phương Bác cổ Học viện có nhiệm vụ bảo tồn cổ
Trang 24tích trong toàn cõi Việt Nam, thay thế cho Pháp quốc Viễn Đông Bác cổ Học viện bị bãi bỏ; Giữ nguyên các luật lệ về bảo tồn cổ tích đã có trước
đây; “Cấm phá hủy những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác,
những cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá hủy những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn
giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn”; “Chính phủ
công nhận nguyên tắc những khoản trợ cấp hàng năm của toàn quốc, của mỗi
kỳ hay mỗi tỉnh cho Đông Phương Bác cổ Học viện Khi dự thảo ngân sách cho toàn quốc, cho từng kỳ hay từng tỉnh; ông Bộ trưởng Bộ Tài chính, ông
Ủy viên Tài chính mỗi kỳ, mỗi tỉnh phải dự tính khoản trợ cấp cho Đông Phương Bác cổ Học viện”
* Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá năm 2009
Những nội dung cơ bản của Luật đã bám sát và đáp ứng được nhu cầu cấp thiết trong cơ chế điều hành đất nước ta trong giai đoạn hiện nay: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; toàn dân sống, học tập và làm việc theo pháp luật
Luật Di sản văn hóa đã tạo ra cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt động cần thiết trong quá trình bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với di sản văn hóa, chỉ rõ những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi vi phạm di tích; quy định trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo tồn di sản văn hóa Những quy định của Luật Di sản văn hóa được xây dựng theo hướng mở, sát với thực tiễn nhằm tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và môi trường
Trang 25thuận lợi cho việc đầu tư phát triển kinh tế của đất nước nói chung và thúc đẩy phát triển du lịch nói riêng, đồng thời góp phần mở rộng giao lưu văn hóa, hội nhập cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình đưa Luật Di sản văn hóa áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực, cũng nảy sinh một số hạn chế như: chưa xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, dẫn đến tình trạng thương mại hoá di tích; Một số di tích có xu hướng bị biến dạng bởi những hoạt động thương mại Những hoạt động này tưởng như đóng góp vào ngân sách của địa phương nhưng thực chất là đang phá huỷ di tích, làm mất đi những giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học và kiến trúc thẩm mỹ của di tích Vì vậy, năm 2009 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 Trong đó, về di tích lịch sử văn hóa có bổ sung những điều luật nhằm hoàn thiện hơn thủ tục xếp hạng di tích, khoanh vùng bảo vệ di tích, làm rõ hơn yêu cầu bảo vệ, thẩm quyền xử lý của các cấp chính quyền đối với các khu vực bảo vệ, làm rõ hơn nguyên tắc ứng xử trong công tác bảo vệ di sản văn hóa
* Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa
Nghị định này quy định chi tiết việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh; việc quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; tổ chức và hoạt động của bảo tàng; việc khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân phát hiện
và giao nộp di vật, cổ vật, bảo tàng quốc gia Tại khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa và Điều 28 Luật di sản văn hóa,
di tích đã phân loại như sau: 1/ Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân); 2/ Di tích kiến trúc nghệ thuật; 3/ Di tích khảo cổ; 4/ Danh lam thắng cảnh
Trang 26* Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch về việc Quy định nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng
di tích - văn hóa và danh lam thắng cảnh
Thông tư hướng dẫn về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt Với đối tượng lập hồ sơ khoa học là Công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên thuộc danh mục kiểm kê
di tích của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định tại khoản 14 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa có đủ tiêu chí quy định tại Điều 28 Luật di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản
9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa
* Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/09/2012 của Chính phủ Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh ;
Nghị định nhằm hướng dẫn cụ thể hóa Luật Di sản văn hóa năm 2001
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 và các vấn đề về quy hoạch bảo tồn và khôi phục di tích lịch sử Nghị định quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
* Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 Quy định chi
tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
Thông tư này quy định về điều kiện năng lực và điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích,
dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu
bổ, phục hồi di tích, thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
và thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; nội dung hồ sơ thiết kế tu bổ di
Trang 27tích, thẩm quyền thẩm định hồ sơ thiết kế tu bổ di tích; thi công tu bổ di tích
* Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 hướng dẫn
xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích
Thông tư này hướng dẫn việc xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế-kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên
Những cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực di sản văn hóa nói chung, phát huy di tích lịch sử-văn hóa nói riêng đã tạo nhiều thuận lợi cho các nhà quản lý di tích
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử-văn hóa
Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Pháp luật ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong quản lý xã hội, bất kỳ một lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật và quản lý di sản văn hóa không nằm ngoài quy định đó Công tác quản
lý di sản văn hóa luôn luôn là một nhiệm vụ không hề đơn giản và nhiều khi phải có những chế tài cụ thể để thực hiện
Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009; các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa được quy định tại Điều 54 và Điều 55 của Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, cụ thể như sau:
Điều 54:
Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa, gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính
Trang 28sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa
- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa
- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa [52, tr 73-74]
Điều 55: Cơ quan quản lý nhà nước về Di sản văn hóa, gồm:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Trang 29- Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [52, tr 74]
Với sự phân cấp quản lý như vậy, ở từng địa phương cụ thể, tùy vào thực tiễn của từng di tích mà cơ quan quản lý các cấp có sự phân cấp, phân công nhiệm vụ một cách cụ thể rõ ràng, tránh sự chồng chéo, đan xen về nhiệm vụ giữa các cơ quan
1.2 Tổng quan về huyện Hạ Hòa
1.2.1 Khái quát về huyện Hạ Hòa
1.2.1.1 Lịch sử hình thành
Huyện Hạ Hòa thời cổ có tên là Hạ Hoa Trong thời kỳ các vua Hùng dựng nước, huyện nằm ở trung tâm quốc gia Văn Lang Khi nhà nước phong kiến phương Bắc đô hộ, Hạ Hòa thuộc quận Giao Chỉ; thời Lý nằm trong châu Chân Đăng, thời Trần thuộc lộ Thao Giang Dưới thời Lê, huyện thuộc phủ Thao Giang, tỉnh Sơn Tây Đến năm Thiệu Trị thứ 5 (1841), triều Nguyễn, huyện đổi là Hạ Hòa, phủ đổi là Lâm Thao Năm Tự Đức thứ 18 (1865), nhà vua cho đắp huyện thành tại địa phận hai xã Minh Hạc và Ấm Thượng, chu vi đo được 60 trượng (240m), với hai cổng thành Đến cuối thế
kỷ thứ XIX, Hạ Hòa sáp nhập thêm 2 tổng Yên Kỳ và Vĩnh Chân thuộc huyện Thanh Ba Lúc này, huyện gồm 10 tổng Một thời gian sau, tổng Văn Chiếu chuyển sang Yên Bái, Hạ Hòa chỉ còn lại 9 tổng với khoảng 59-60 làng xã
Ngày 20-8 và 9-9-1891, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách huyện Hạ Hòa khỏi phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây để cùng một số huyện và châu khác thuộc Lào Cai và Hưng Hóa (Tuyên Quang) lập thành Tiểu khu quân sự Yên Bái thuộc Đạo quan binh thứ ba theo hình thức quân quản Ngày 9-12-1892, Toàn quyền Đông Dương ra tiếp Nghị quyết chuyển Hạ Hòa sang
Trang 30Đạo quan binh thứ 4 Đến ngày 5-6-1893, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định tách Hạ Hòa ra khỏi chế độ quân quản, nhập lại phủ (Phủ Lâm Thao lúc này đã thuộc tỉnh Hưng Hóa)
Ngày 5-5-1903, tỉnh lỵ tỉnh Hưng Hóa chuyển về làng Phú Thọ (tổng Yên Phú-Sơn Vi) và từ đó mang tên là tỉnh Phú Thọ
Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cấp tổng ở Hạ Hòa không còn tồn tại Trong những năm 1946-1947, một số liên xã được hình thành từ 9 tổng ban đầu (Số lượng liên xã lúc này đã lên đến 21 liên xã gồm: Tân Trào, Phú Ích, Phú Thịnh, Quang Trung, Thiệu Cơ, Trần Phú, Tô Hiệu, Minh Lương, Minh Đức, Chí Thiện, Liên Phương, Tứ Hiệp, Kết Đoàn, Âu Cơ, Động Lâm, Bảo Toàn, Nhật Tân, Hạnh Phúc, Lê Lợi, Văn Tiến và Thắng Lợi) Sau đó, các liên xã này lại được chia nhỏ tiếp, lên đến con số 34 liên xã
Theo Nghị quyết số 504-NQ/TVQH ngày 26-01-1968 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, huyện Hạ Hòa nằm trong tỉnh mới là Vĩnh Phú Ngày 5-7-1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 178-CP về giải thể huyện Hạ Hòa, theo đó đưa 10 xã Hiền Lương, Quân Khê, Lâm Lợi, Xuân Áng, Chuế Lưu, Vô Tranh, Bằng Giã, Động Lâm, Văn Lang, Minh Côi vào huyện Sông Thao và 24 xã còn lại nhập vào huyện Sông Lô
Ngày 22-12-1980, tại Quyết định số 377/CP, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định chia Sông Lô thành hai huyện Đoan Hùng và Thanh Hòa Theo Quyết định này, xã Minh Lương trước thuộc Hạ Hòa chuyển sang thuộc huyện Đoan Hùng, còn 23 xã khác vẫn thuộc địa phận của Thanh Hòa
Ngày 7-10-1995, Chính phủ ra Nghị quyết số 63/CP tái lập huyện Hạ Hòa Theo Nghị định, 10 xã trước đây đưa sang huyện Sông Thao và 23 xã
Trang 31nằm trong huyện Thanh Hòa trở lại huyện Hạ Hòa Từ ngày 01-01-1996, Hạ Hòa chính thức trở lại đơn vị hành chính cấp huyện với 33 xã
Năm 1997, thị trấn Hạ Hòa được thành lập trên cơ sở xã Ấm Thượng
có diện tích 10,02 km2 (1.002, 85ha), dân số 7.496 người
1.2.1.2 Truyền thống lịch sử, văn hóa
Hạ Hòa thuộc vùng đất cửa ngõ Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, nơi có nhiều danh thắng và các di tích lịch sử, văn hóa gắn với những truyền thuyết thời dựng nước Ngay từ cách đây hàng ngàn năm, trên khu vực Hạ Hòa ngày nay, con người đã tập trung cư trú, sinh sống, biết tạo ra các phương tiện sinh hoạt thô sơ hàng ngày Tuy chưa biết trồng trọt và chăn nuôi, nhưng con người nơi đây đã biết dùng lửa nấu chín thức ăn, sưởi ấm và xua đuổi thú rừng, biết săn bắt và hái lượm Thời kỳ này trong lịch sử gọi là nền văn hóa chế tác đá cuội hoặc nền văn hóa Sơn Vi Trên đất Hạ Hòa ngày nay còn lưu giữ lại nhiều dấu tích của nền văn hóa Sơn Vi ở Động Lâm, Ấm Thượng, Lang Sơn, Mai Tùng, Vĩnh Chân
Cùng với thời gian, người dân Hạ Hòa cùng phát triển với lịch sử đất nước, đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước từ ngày xưa tới nay Người dân Hạ Hòa được ghi nhận là “dân tục thuần hậu, biết lễ phép văn tự” [8, tr 42], có nhiều người tài giỏi đóng góp công sức cho đất nước như Hàn Thuyên, Nguyễn Văn Đạt…
Nơi đây còn có nhiều phong tục, hội lễ trên khắp địa bàn huyện: Hội tế thần tại xã Đan Hà, Đan Thượng; hội mở cửa rừng tại đền Thượng vào tối mồng 6 tháng Giêng, hội thi vật ở Mai Tùng, Đan Thượng; hội thi cướp cờ ở Văn Lang; hội thi nấu chè ở Chu Hưng (Ấm Hạ)… Đặc biệt là hội Đền Mẫu
Âu Cơ với đầy đủ những nét đặc sắc của văn hóa dân gian
Bên cạnh đó, tại Hạ Hòa còn lưu giữ một kho tàng tục ngữ, phương ngôn và văn nghệ dân gian của nhân dân hết sức phong phú Các phường chèo
Trang 32Minh Côi, Xuân Áng, Mai Tùng, Vĩnh Chân khá nổi tiếng tạo nên một vùng văn hóa địa phương đặc sắc
Bên cạnh sự quản lý về nhà nước, còn có sự quản lý bằng hương ước giúp cho sự quản lý con người, quản lý xã hội được chặt chẽ với nội dung toàn diện bao gồm mọi mặt của đời sống (kinh tế, bảo vệ môi trường, ngôi thứ, hương ẩm, an ninh, hôn nhân)
Người dân Hạ Hòa còn có truyền thống hào hùng chống giặc ngoại xâm trong suốt tiến trình lịch sử Từ thời nữ tướng Trưng Trắc phất cờ khởi nghĩa,
Hạ Hòa đã có đóng góp lớn với những vị tướng anh dũng: Lê Ả Lan, Lê Anh Tuấn (Văn Lang), Hải Long (Mai Tùng) Hiện nay, tại đất Văn Lang còn lưu giữ lại nhiều di tích, đền thờ hai vị anh hùng này như một sự tưởng nhớ công
xả thân vì độc lập dân tộc Sau này, trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước
và giữ nước của dân tộc, nhân dân Hạ Hòa đều có những đóng góp đáng kể, đặc biệt trong cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm gian khổ chống thực dân Pháp, Hạ Hòa đã nổi tiếng với những đóng góp to lớn của các chiến sỹ từ căn
cứ Vần-Hiền Lương
Với tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú, với truyền thống lịch sử
và văn hóa đậm nét, chính quyền huyện Hạ Hòa đã có các chủ trương, kế hoạch phát triển du lịch sinh thái kết hợp du lịch tâm linh, hướng đến chương trình du lịch về cội nguồn của ba tỉnh Phú Thọ - Lào Cai - Yên Bái, đưa Hạ Hòa ngày càng phát triển cùng với sự phát triển chung của toàn tỉnh, toàn quốc
1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa huyện Hạ Hòa
1.2.2.1 Số lượng di tích lịch sử - văn hóa
Theo thống kê hiện nay, số lượng di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn huyện Hạ Hòa gồm có 59 di tích, trong đó có 7 di tích cấp quốc gia, 13 di tích cấp tỉnh và 39 di tích chưa được xếp hạng Cụ thể như sau:
Trang 33Bảng 1.1: Thống kê số lượng các di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn
huyện Hạ Hòa
STT Stt Xã, thị trấn
Di tích cấp quốc gia
Di tích cấp tỉnh
Năm được xếp hạng
Di tích chưa được xếp hạng
Trang 34STT Stt Xã, thị trấn
Di tích cấp quốc gia
Di tích cấp tỉnh
Năm được xếp hạng
Di tích chưa được xếp hạng
Trang 35STT Stt Xã, thị trấn
Di tích cấp quốc gia
Di tích cấp tỉnh
Năm được xếp hạng
Di tích chưa được xếp hạng
Trang 36STT Stt Xã, thị trấn
Di tích cấp quốc gia
Di tích cấp tỉnh
Năm được xếp hạng
Di tích chưa được xếp hạng
Trang 37Như vậy, ta có thể thấy được sự dày đặc về mật độ các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn huyện Hạ Hòa Trên tổng số 32 xã và 1 thị trấn của huyện, hiện nay chỉ có 3 xã là không có di tích lịch sử-văn hóa Với sự trải rộng về địa bàn và sự dày đặc về mật độ các di tích lịch sử-văn hóa như vậy, việc quản lý, phát huy giá trị các di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn huyện cũng gặp nhiều khó khăn
1.2.2.2 Phân loại di tích lịch sử - văn hóa
Theo Luật Di sản Văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì: để trở thành di tích lịch sử-văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương;
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia, của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật [52, tr 50]
dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009; Điều 11 đã
cụ thể hóa việc phân loại di tích theo các loại hình sau:
1 Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân);
2 Di tích kiến trúc nghệ thuật;
3 Di tích khảo cổ;
Trang 384 Danh lam thắng cảnh
Đối chiếu với các tiêu chí đã được nêu ra trong Luật Di sản văn hóa, cũng như theo hướng dẫn tại Điều 11, Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 06/11/2010 của Chính phủ, trong 59 di tích của huyện Hạ Hòa chủ yếu thuộc
về 02 loại hình di tích: di tích lịch sử và di tích kiến trúc nghệ thuật dưới các hình thức: đình, chùa, đền và các di tích cách mạng kháng chiến
Theo thống kê của phòng Văn hóa-Thông tin huyện Hạ Hòa, từng loại hình có thể phân chia thành các loại di tích cụ thể như sau
Bảng 1.2: Số lượng các loại hình di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn huyện
Nguồn: Phòng Văn hóa-Thông tin huyện cung cấp năm 2013
Đình: là một công trình kiến trúc cổ truyền ở làng quê Việt Nam, là nơi
thờ Thành hoàng và cũng là nơi hội họp của người dân
08 ngôi đình trên địa bàn huyện Hạ Hòa gồm có: Đình Phú Vĩnh (xã Bằng Giã), Đình Phú Yên (xã Bằng Giã), Đình Trắng (xã Hậu Bổng), Đình Đức Ông (xã Hiền Lương), Đình Phương Trà (xã Liên Phương), Đình Ánh (xã Lệnh Khanh), Đình Đông (xã Văn Lang), Đình Vô Tranh (xã Vô Tranh)
và Đình Đông (xã Vĩnh Chân)
Các ngôi đình này đều thờ các vị thần có công với dân tộc: Đình Phú
Trang 39Vĩnh thờ Cao Sơn đại vương (một vị thần hộ quốc thời Hùng Vương), Đình Trắng thờ Khâu Sơn đại vương (một vị thần tương truyền là có công phò vua Quang Trung đánh đuổi quân Thanh xâm lược vào cuối thế kỷ XVIII… Các ngôi đình trên địa bàn huyện đều được xếp vào loại hình di tích kiến trúc nghệ
thuật có giá trị văn hóa
Đền: là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thần
hoặc một danh nhân quá cố Nhiều đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công
ơn của một anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương mà được dựng lên theo truyền thuyết dân gian
08 ngôi đền trên địa bàn huyện bao gồm: Đền Chu Hưng (xã Ấm Hạ), Đền Đức Thánh Bà (Thị trấn Hạ Hòa), Đền Thượng (xã Đan Thượng), Đền Mẫu Âu Cơ (xã Hiền Lương), Đền Nghè, Đền Nam Sang (xã Văn Lang), Đền Nguyễn (xã Vụ Cầu), Đền Nghè (xã Yên Luật) Trong đó, nổi bật nhất là Đền Mẫu Âu Cơ, một di tích lịch sử văn hóa lâu đời, di sản quý báu của cả nước
có ý nghĩa giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống văn hóa cho lớp lớp con cháu muôn đời
Các ngôi đền chủ yếu thờ những vị thần có công với dân tộc, với đất nước như Côn Nhạc đại vương, Khâu Sơn đại vương… thể hiện nét tín ngưỡng văn hóa truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam Những ngôi đền này hiện còn lưu giữ được những nét đẹp về mặt kiến trúc nghệ thuật, đồng thời cũng là nơi giáo dục truyền thống lịch sử một cách cụ thể, sinh động nhất cho các thế hệ trẻ sau này
Chùa: là công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng, là nơi tiêu
(hay ni nếu là chùa nữ) sinh hoạt, tu hành, và thuyết giảng đạo Phật Tại nơi này, mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm
Trang 40viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ tôn giáo Từ xưa đến nay, đối với người dân Việt Nam, Chùa luôn là nơi gửi gắm niềm vui tinh thần, tạo
sự an lành trong tâm hồn mỗi người dân Chính vì vậy, số lượng chùa trên cả nước Việt Nam là rất lớn Việt Nam ta hiện có 14.775 ngôi chùa, chiếm 36% tổng số di tích Việt Nam Ở huyện Hạ Hòa, trên tổng số 59 di tích đã có tới 35 ngôi chùa với những giá trị về tín ngưỡng tôn giáo, kiến trúc nghệ thuật đặc trưng vùng miền Một số ngôi chùa nổi bật như Chùa Phúc Sơn (xã Lang Sơn) với kiến trúc kết cấu từ thời Nguyễn, vững chắc, thoáng đãng, hệ thống tượng phong phú, nhiều pho có giá trị nghệ thuật cao; là nơi thu hút rất đông tín đồ Phật tử và trở thành trung tâm tôn giáo tín ngưỡng trong vùng Chùa Linh Phúc (xã Hiền Lương) cũng vậy, vừa là trung tâm tôn giáo tín ngưỡng, vừa là một di tích lịch sử với sự kiện Lễ ra mắt Đội du kích Chiến khu Âu Cơ (một trong những lực lượng vũ trang đầu tiên của tỉnh Phú Thọ) Chùa Linh Phúc
cũng được xếp vào loại hình di tích nghệ thuật…
Các di tích lịch sử cách mạng:
Trên địa bàn huyện Hạ Hòa còn có những di tích lịch sử cách mạng, có
ý nghĩa quan trọng, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của cả nước Những
di tích này đã từng là căn cứ quan trọng của cách mạng và kháng chiến Trong cuộc trường kỳ kháng chiến gian khổ chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp, ngày 19/10/1946, Đảng và Chính phủ đã quyết định thành lập Chiến khu 10 nhằm trực tiếp chỉ đạo và xây dựng lực lượng vũ trang, phá tan âm mưu của giặc Pháp ở miền Tây Bắc Chiến khu 10 gồm 6 tỉnh: Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên Và thực tế, sự độc lập tác chiến của từng địa phương trong chiến khu đã góp phần vào thắng lợi của cuộc trường kỳ kháng chiến Ngày nay, các di tích cách mạng về Chiến khu
10, lưu giữ những sự kiện diễn ra trên địa bàn huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ vẫn được lưu giữ tại các xã Yên Kỳ, Hà Lương, Ấm Hạ, Đại Phạm, Gia Điền