1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện gia lâm, thành phố hà nội

205 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 9,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, hơn bao giờ hết, công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của huyện Gia Lâm trong giai đoạn hiện nay cần được tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt độn

Trang 1

Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO

TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI

LUậN VĂN THạC Sĩ QUảN Lý VĂN HóA

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Toàn Thắng

Hà Nội, 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Toàn Thắng Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN GIA LÂM 13

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 13

1.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm 13

1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa 20

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 25

1.1.4 Vai trò của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa với sự phát triển kinh tế văn hóa - xã hội trong thời kỳ giao lưu hội nhập quốc tế 26

1.2 Tổng quan về di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm 29

1.2.1 Tổng quan về huyện Gia Lâm 29

1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm 41

Tiểu kết 56

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 57

2.1 Cơ cấu, chức năng của hệ thống tổ chức nhân sự quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm 57

2.2.1 Tổ chức, bộ máy quản lý 57

2.2.2 Cơ cấu nhân sự và cơ chế quản lý 66

2.2 Các nội dung của công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Gia Lâm 67

2.2.1 Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 67

2.2.2 Công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về pháp luật bảo vệ di tích lịch sử văn hóa 68

2.2.3 Công tác tổ chức thực hiện nghiệp vụ nhằm phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 71

2.2.4 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về quản lý di tích lịch sử văn hóa 85

Trang 4

2.2.5 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại tố cáo việc

chấp hành pháp luật về di tích lịch sử văn hóa 86

2.3 Nhận xét, đánh giá về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Gia Lâm 87

2.3.1 Thành tựu 87

2.3.2 Hạn chế 88

2.3.3 Những vấn đề đang được đặt ra trong hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Gia Lâm 90

Tiểu kết 97

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN GIA LÂM 99

3.1 Phương hướng và nhiệm vụ 99

3.2.1 Phương hướng 99

3.2.2 Nhiệm vụ 101

3.2 Hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm 102

3.2.1 Nhóm giải pháp về chính sách 102

3.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ 109 3.2.3 Nhóm giải pháp về công tác quản lý của Nhà nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 116

3.3 Khuyến nghị 120

3.3.1 Khuyến nghị đối với UBND huyện Gia Lâm 119

3.2.2.Khuyến nghị đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội 120

3.3.2 Khuyến nghị với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 121

Tiểu kết 122

KẾT LUẬN 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

PHỤ LỤC 129

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

CNQSDĐ Chứng nhận quyền sử dụng đất DTLSVH Di tích lịch sử văn hóa

VH&TT Văn hóa và Thông tin VHTT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô giá của đất nước, là những dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, những địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình đó, thuộc địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Đó là những di sản văn hóa hóa vật thể mà cha ông ta đã để lại, phản ánh những biến cố, những sự kiện lịch sử, văn hóa hay nhân vật qua các thời kỳ lịch sử Đây là nguồn sử liệu quý giá để các thế hệ mai sau tìm hiểu, nghiên cứu về các thời kỳ lịch sử đã đi qua, từ đó giáo dục thế hệ trẻ truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc

Trên quan điểm kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa của cha ông và sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn, tôn tạo

hệ thống di tích lịch sử văn hóa Hàng loạt các di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, tu bổ, tôn tạo; rất nhiều cổ vật, di vật trong đó được bảo vệ Quy hoạch tổng thể kiến trúc các di tích được khoanh vùng, bảo vệ là những thành tựu mà chung ta đã đạt được

Để tiếp tục gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa một cách bền vững, chúng ta cần tăng cường vai trò công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại các địa phương thông qua các nghiên cứu, khảo sát, đánh giá, nắm bắt được thực trạng công tác quản lý cũng như giá trị hệ thống di tích lịch sử văn hóa một cách toàn diện Trên cơ sở đó, chủ động điều chỉnh, hoàn thiện bộ máy quản lý, định hướng và xây dựng các kế hoạch, giải pháp cho công tác quản lý, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa nói chung, giữa bảo tồn và phát triển nói riêng

Trang 7

Gia Lâm là huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội, quê hương của hai trong bốn vị thánh “Tứ Bất Tử “của Việt Nam: Phù Đổng Thiên Vương và Chử Đồng Tử Gia Lâm còn là mảnh đất gắn liền với tên tuổi của Nguyên Phi

Ỷ Lan, Ngọc Hân Công chúa, Cao Bá Quát và biết bao vị anh hùng mà công tích của họ đã viết lên trang sử hào hùng của dân tộc Trải qua những năm tháng của lịch sử, mảnh đất Gia Lâm còn lưu giữ một hệ thống di tích đồ sộ in đậm dấu ấn lịch sử văn hóa của cha ông.Tính đến năm 2014, toàn huyện có

315 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 151 di tích đã được xếp hạng và gắn biển di tích cách mạng kháng chiến, 16 di tích đang lập hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền xếp hạng và gắn biển Đặc biệt, năm 2014, Khu di tích đền Phù Đổng được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt Một số di tích tiêu biểu như: Khu di tích đền Phù Đổng, đền Bà Tấm, chùa Nành… là những dấu ấn in đậm nét lịch sử văn hóa của vùng đất Gia Lâm giàu truyền thống

Trong thời gian qua, công tác quản lý di tích tại huyện Gia Lâm đã được các cấp và các ngành quan tâm và đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc: Nhiều di tích xuống cấp, nguồn kinh phí Nhà nước còn hạn hẹp, chế độ cho người trông coi trực tiếp tại di tích chưa có quy định của thành phố; tình trạng tự ý tu bổ, làm biến dạng di tích đã và đang xảy ra tại một số nơi trong huyện Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; việc hưởng ứng tham gia bảo vệ, phát huy giá trị di tích trên địa bàn huyện của người dân còn hạn chế Vì vậy, hơn bao giờ hết, công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của huyện Gia Lâm trong giai đoạn hiện nay cần được tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân; nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách trong, ngoài nước, tạo nền móng vững bền góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Trang 8

Xác định và hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý di sản văn hoá dân tộc nói chung và công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa nói

riêng, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý di tích lịch sử văn hoá ở huyện Gia

Lâm, thành phố Hà Nội” làm Luận văn tốt nghiệp Cao học, chuyên ngành

Quản lý văn hoá, khóa 2013-2015

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, các đề tài nghiên cứu về huyện Gia Lâm và các di tích lịch sử văn hoá huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội đã được một số tác giả, nhà nghiên cứu quan tâm, giới thiệu Những nghiên cứu của họ đã được xuất bản thành sách Những tập hợp bước đầu đã có những cuốn sách như:

- Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm (2010), Di tích lịch sử văn hóa, cách

mạng kháng chiến huyện Gia Lâm, Hà Nội Chào mừng kỷ niệm 1000 năm

Thăng Long Hà Nội, sách được xuất bản nhằm giới thiệu tới du khách bốn phương toàn cảnh về di tích lịch sử văn hóa, cách mạng kháng chiến của huyện Gia Lâm với trên 200 di tích lịch sử văn hóa, cách mạng kháng chiến Các di tích thuộc nhiều loại hình khác nhau, được giới thiệu khá kĩ qua các nội dung cơ bản: lịch sử ra đời và quá trình tồn tại; sự kiện, nhân vật lịch sử; giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ Nội dung cuốn sách còn đề cập đến việc bảo tồn và phát huy các di tích hiện nay

- Lưu Minh Trị (chủ biên) (2013), Hà Nội truyền thống và Di sản, Nhà

xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội

Trong cuốn sách này, từ trang 27 đến trang 112, tác giả đã giới thiệu các truyền thống lịch sử văn hóa và các di sản văn hóa tiêu biểu của huyện Gia Lâm trong đó đã giới thiệu truyền thống văn hóa và 25 di tích lịch sử văn hóa, cách mạng kháng chiến tiêu biểu của huyện Gia Lâm

- Ban Quản lý di tích và danh thắng Hà Nội, (2000), Nguyễn Doãn Tuân

(chủ biên), Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

Trang 9

- Đào Thị Diến (2005), “Câu chuyện bảo vệ di tích lịch sử ở Hà Nội

năm 1950-1951”, Xưa & Nay, (237), tr 23-25

Giới thiệu di tích lịch sử ở Hà Nội, việc bảo vệ di tích ở Hà Nội trước giải phóng, thực trạng di tích hiện nay, từ đó đặt vấn đề chúng ta phải làm gì

để giữ gìn di sản cha ông ta để lại

Ngoài những tư liệu/tài liệu đã nêu trên, còn có một số công trình nghiên cứu viết về di tích văn hóa huyện Gia Lâm như:

Năm 2000, học viên Nguyễn Sỹ Toản nghiên cứu và viết luận văn Thạc

sỹ với đề tài “Tìm hiểu làng gốm Bát Tràng” Tác giả đi sâu nghiên cứu

những giá trị văn hóa đặc trưng của làng gốm Bát Tràng, công tác bảo tồn và phát huy giá trị của làng gốm

Năm 2004, học viên Chu Điền nghiên cứu và viết luận văn Thạc sỹ với đề

tài “Quần thể di tích làng Kiêu Kỵ một số giá trị văn hóa nghệ thuật” Luận văn

tập trung nghiên cứu sự ra đời của quần thể di tích, giá trị kiến trúc và điêu khắc của quần thể di tích, đồng thời đề ra những giải pháp quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của quần thể di tích làng Kiêu Kỵ, xã Kiêu Kỵ huyện Gia Lâm

Năm 2007, học viên Trần Thị Kim Hoa, nghiên cứu và viết luận văn

thạc sỹ chuyên ngành văn hóa học với đề tài “Giá trị văn hóa nghệ thuật đình

Xuân Dục, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” Tác giả tập

trung nghiên cứu giá trị vật thể và phi vật thể của di tích từ đó đưa ra phương

án bảo tồn và phát huy giá trị vật thể và phi vật thể của di tích

Năm 2012, học viên Trịnh Văn Quyết nghiên cứu và viết đề tài “Quản

lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội”

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Gia Lâm đồng thời đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện

Trang 10

Ngoài ra còn có sách, bài viết khác về lịch sử, văn hoá, danh nhân, lễ hội, di sản văn hóa… huyện Gia Lâm đã được xuất bản và đăng tải trên các báo, tạp chí khoa học

Từ tập hợp và phân tích trên đây, có thể khẳng định cho tới nay chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Trong quá trình triển khai đề tài: “Quản lý di tích lịch sử văn hoá ở

huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”, tác giả Luận văn sẽ tiếp thu, kế thừa

kết quả của các tác giả đi trước, vận dụng vào nội dung của công trình nghiên cứu, đặc biệt là phần đánh giá về giá trị của các di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trong giai đoạn hiện nay, luận văn đi sâu khảo sát phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như một số hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm từ năm 2010 đến nay

Thông qua nghiên cứu, phân tích, Luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp

cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

- Trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác quản lý di sản văn hoá nói chung và quản lý di tích lịch sử văn hóa nói riêng

- Tìm hiểu khái quát lịch sử hình thành, phát triển và hệ thống di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm

Trang 11

- Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch

sử văn hóa của huyện Gia Lâm từ năm 2010 đến nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa của huyện Gia Lâm trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn đi sâu khảo sát, nghiên cứu về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm

2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: từ năm 2010 đến nay

- Phạm vi không gian: Luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu tình hình quản lý di tích lịch sử văn hóa của huyện Gia Lâm, có thể mở rộng ra các vùng phụ cận, cụ thể như huyện Đông Anh, Sóc Sơn để so sánh và vận dụng kinh nghiệm thực tiến vào địa bàn huyện Gia Lâm

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng; Chủ nghĩa duy vật lịch sử; Các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin; Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý di sản văn hóa dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: quản lý văn hoá, lịch sử, bảo tàng học, xã hội học;

- Phương pháp quan sát, tham dự

- Phương pháp logic và lịch sử

Trang 12

- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp;

- Phương pháp điều tra xã hội học: khảo sát, điền dã; phỏng vấn, bảng hỏi

6 Đóng góp khoa học của luận văn

- Tổng hợp một số vấn đề lý luận về công tác quản lý nhà nước về văn hóa

- Bước đầu đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Gia Lâm

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Gia Lâm trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu về thực trạng cũng như các nhóm giải pháp mà Luận văn đưa ra là một trong những cơ sở khoa học giúp các cấp lãnh đạo của UBND, phòng Văn hóa và Thông tin huyện có giải pháp phù hợp trong việc đổi mới công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện Gia Lâm

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho các huyện có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng xem xét, vận dụng vào quá trình đổi mới công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa của địa phương mình

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được triển khai trong 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa và tổng

quan về di tích lịch sử văn hóa ở huyện Gia Lâm

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện

Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Chương 3: Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả

công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Gia Lâm

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN GIA LÂM 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa

1.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa

Theo Điều 1, Công ước Di sản thế giới thì di sản văn hóa là:

Di tích kiến trúc (monuments): các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội hoạ kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học

Nhóm công trình xây dựng (groups of buildings): các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà, do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học

Các di chỉ (sites): các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học [47, tr.1]

Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 29 tháng 9 năm 2001 cũng nêu rõ “Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [32, tr.1]

Di sản văn hóa ở đây được hiểu là Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

Trang 14

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch

sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [33, tr.1]

Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [32, tr.2]

1.1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa

Đại từ điển tiếng Việt giải thích: Di tích là các dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu Theo nghĩa di tích văn hóa thị nó là di sản văn hóa bất động [49, tr.553]

Theo Từ điển Hán-Việt thì “Di” nghĩa là sót lại, rơi lại, để lại; “Tích” nghĩa là tàn tích, dấu vết Do đó di tích là tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ [1, tr.589, 617] Di tích là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu giữ lại [1, tr.553]

Các nước trên thế giới đều đặt chung cho di tích là dấu tích, vết tích còn lại Trong tiếng Anh viết là “Vestige”; tiếng Pháp cũng viết “Vestige”; tiếng Nga viết “Pomiatnik”; tiếng Trung Quốc viết “Cổ tích”, do đó mỗi quốc gia đã đưa ra những khái niệm, qui định về di tích lịch sử văn hóa của dân tộc mình Trong điều I của Hiến chương Vernice (Italia) đã quy định rằng: “Di tích lịch sử văn hóa bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử”

Gọi là di tích lịch sử văn hóa là vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân), là kết quả của hoạt động sáng tạo lịch sử, văn hóa của con người Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Trang 15

Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều khái niệm quy định về di tích lịch sử văn hóa nhưng theo Từ điển Bách khoa Việt Nam cho biết: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành khảo cổ học, sử học Di tích là di sản văn hóa lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [29, T1, tr.667]

Pháp lệnh số 14 - LCT/HĐNN của Hội đồng Nhà nước, nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng DTLSVH và danh lam thắng cảnh quy định rõ: “Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [28, tr.2]

Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2001, tại điều 4 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [32, tr.2]

Tại khoản 1, điều 28 của Luật Di sản văn hóa quy định: Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

1 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương;

2.Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;

3 Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;

4 Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật” [33, tr.3]

Trang 16

Như vậy, đã có nhiều khái niệm về di tích lịch sử văn hóa nhưng các khái niệm đều chỉ ra rằng: di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển hình của lịch

sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại

1.1.1.3 Khái niệm quản lý

Thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách diễn đạt khác nhau Theo nghĩa thông thường, trong tiếng Việt thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, theo dõi; Nếu hiểu theo nghĩa Hán

- Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trông nom, coi sóc Ở phương Tây người ta dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bàn tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay, tức là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt

Các Mác cho rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [12, T2, tr.29]; giải thích cho nội dung này, Các Mác viết:

Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [11, T23, tr.480] Theo F.Ăngghen cho rằng: Quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người

Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý ở một góc độ riêng nào đó thì chúng đều có những định nghĩa riêng về quản lý Khái niệm quản lý trong

Trang 17

Điều khiển học được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình

để điều khiển, chỉ đạo sự vận động (diễn biến) của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt được những mục đích hay kế hoạch mà người quản lý đã

đề ra từ trước

Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rõ bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp Đối với xã hội có trình độ càng cao, do đó yêu cầu quản lý ngày càng lớn và vai trò của quản lý ngày một tăng lên

Theo ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định [26, tr.3]

Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:

Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau

Khách thể quản lý chịu sự tác động hay điều chỉnh của chủ thể quản lý,

đó là hành vi của con người hoặc quá trình xã hội

Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định

do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các

Trang 18

động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản

lý ra đời chính là hướng đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc

1.1.1.4 Khái niệm quản lý văn hóa

Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn

bộ hoạt động văn hóa của Quốc gia bằng quyền lực của Nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách, nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc

Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính chất đặc thù, gắn với công tác

tư tưởng, quyền lực nhà nước Quản lý nhà nước về văn hóa thuộc chức trách của các đơn vị Nhà nước (Chính phủ, UBND, Bộ, Sở, Phòng) thông qua hệ thống về pháp luật, thể chế, chính sách của Nhà nước… bất kỳ hoạt động văn hóa nào cũng cần có sự quản lý của Nhà nước Nhà nước đảm bảo một phần quan trọng trực tiếp quản lý công trình văn hóa và những cơ sở trực tiếp phục

vụ nhu cầu văn hóa của nhân dân

Hoạt động quản lý văn hóa chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: con người, chính trị, pháp luật, thông tin, kinh tế, khoa học kỹ thuật mà còn chịu tác động của các yếu tố mang tính đặc thù Quản lý văn hóa không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng lại có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế -

xã hội Về phương diện kinh tế thì văn hóa luôn là nhịp cầu dẫn đường cho hoạt động kinh tế, tạo cơ sở cho kinh tế phát triển

Trình độ dân trí là yếu tố quan trọng tác động đến hoạt động quản lý văn hóa Khi người dân nhận thức đúng về đường lối phát triển văn hóa thì nhà quản lý văn hóa dễ dàng thực hiện tốt công việc của mình Việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật hay thực thi đúng hay sai cũng do con người tạo ra Như vậy nhận thức của con người là yếu tố tiên quyết cho

Trang 19

mọi công việc của đời sống nói chung và hoạt động quản lý nói riêng đặc biệt

là trong lĩnh vực quản lý, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa Các nhà quản lý văn hóa muốn làm tốt công tác không còn cách nào khác là phải biết đánh thức nhận thức của nhân dân trong cộng đồng để họ hiểu và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

1.1.1.5 Khái niệm quản lý di tích lịch sử văn hóa

Từ các khái niệm về quản lý, quản lý văn hóa, di tích lịch sử văn hóa có thể khái quát và đưa ra một khái niệm về quản lý di tích lịch sử văn hóa như sau: Quản lý di tích lịch sử văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành việc bảo vệ, giữ gìn, làm cho các giá trị của các di tích lịch sử văn hóa được phát huy theo chiều hướng tích cực

Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng cấu thành di sản văn hóa, Quản lý di tích lịch sử văn hóa là hoạt động nằm trong công tác quản lý

di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa đã dành nguyên một chương (V) để nói

tới nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa với 04 mục, 15 điều (Từ điều

54 đến điều 68)

Mục 1: Nêu rõ nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về

di tích gồm 3 điều (từ điều 54 đến điều 56) quy định những nội dung về công tác

quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, các Bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về di dản văn hóa, Hội đồng tư vấn chuyên môn về văn hóa

Mục 2: Nêu rõ các nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá

trị di sản văn hóa gồm 06 điều (từ điều 57 đến điều 62) với các nội dung Nhà

nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các hội về văn học và nghệ thuật, khoa học và công nghệ tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản

Trang 20

văn hoá; Khuyến khích việc xã hội hoá hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá Qu y định rõ vi ệc sử dụng các nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; Quyền thu phí và lệ phí

Mục 3: Hợp tác quốc tế về di sản văn hóa gồm 3 điều (từ điều 63 đến

điều 65) quy định các chính sách của Nhà nước trong việc hợp tác quốc tế,

khuyền khích tổ chức cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức,

cá nhân nước ngoài tham gia các hoạt động bảo vệ, phát huy các giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam và 6 nội dung hợp tác quốc tế về di sản

Mục 4: Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về di sản văn hóa gồm

03 điều (từ điều 66 đến điều 68) quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của thanh

tra chuyên ngành về di sản văn hóa, quyền và nghĩa vụ của thanh tra; Quyền khiếu nại, khởi kiện, tố cáo của tổ chức, cá nhân; Thẩm quyền thủ tục giải

quyết khiếu nại, tố cáo về di sản văn hóa

1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa

Pháp luật là công cụ, phương tiện của Nhà nước để điều chỉnh, quản lý các quan hệ xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật

Nhà nước Việt Nam là một quốc gia ngàn năm văn hiến Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước các thế hệ đi trước đã để lại cho chúng ta kho tàng di sản văn hóa vô cùng quý giá Kho tàng di sản văn hóa đó được vật chất hóa, cô đọng lại ở các di tích lịch sử với nhiều giá trị quan trọng Việc giữ gìn các di sản văn hóa truyền lại cho muôn đời sau là một việc làm cần thiết Để bảo

vệ, giữ gìn các di sản văn hóa ngay từ khi mới độc lập cho đến nay nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về văn hóa, di sản văn hóa cụ thể là:

Văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về quản lý di sản văn hóa được ra đời chỉ sau hơn 2 tháng khi đất nước giành độc lập đó là Sắc

Trang 21

lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh gồm 06 điều, trong đó nội dung chính là ấn định nhiệm vụ của Đông phương Bắc cổ học viện Sắc lệnh đã nhấn mạnh đến việc bảo tồn cổ tích là việc làm cần thiết của nước ta Sắc lệnh quy định toàn bộ di tích lịch sử văn hóa là tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc phá hủy đình, đền, chùa, miếu và các di tích khác chưa được bảo tồn Cấm phá hủy bia ký, văn bằng có ích cho lịch sử Đồng thời Sắc lệnh cũng quy định nhà nước chi ngân sách cho việc bảo vệ, tu sửa di tích và công nhận các khoản trợ cấp cho Học viện Đông phương Bắc cổ

Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 519/TTg quy định về thể lệ bảo tồn cổ tích Văn bản pháp lý quan trọng này đã có giá trị thiết thực trong việc bảo vệ, gìn giữ các di sản văn hóa trong gần hai thập kỷ chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta Nghị định 519/TTg là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công tác quản lý di sản văn hóa trong gần 30 năm (1957-1984) Với 7 mục và 32 điều Nghị định đã đề cập đến công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở các góc độ như liệt hạng di sản văn hóa, quy định những tiêu chuẩn của các công trình được liệt hạng là di tích lịch sử văn hóa; việc trùng tu, tôn tạo di tích; chế độ khen thưởng và kỷ luật đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ và phát huy tác dụng di sản văn hóa dân tộc Nghị định đã phát huy tác dụng mạnh mẽ trong đời sống xã hội và có giá trị to lớn trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy di sản văn hóa Việt Nam phục vụ tích cực cho sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo Sau Nghị định 519/TTg nước ta đã lần lượt ban hành các Thông tư, Nghị định về bảo vệ

và sử dụng di tích lịch sử văn hóa

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Đảng và Nhà nước luôn coi trọng và đánh giá đúng vai trò của công tác quản lý di sản văn hóa, tiếp tục đề ra những chính sách, biện pháp cụ thể để thích ứng với thời kỳ

Trang 22

mới của đất nước nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý các di tích lịch

sử văn hóa và danh lam thắng cảnh

Ngày 31/3/1984, Hội đồng Nhà nước đã ban hành và công bố Pháp

lệnh số 14 LCT/HĐNN về việc “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và

danh lam thắng cảnh” Pháp lệnh gồm 5 chương và 27 điều: Ngay lời mở đầu

Ra đời trên cơ sở kế thừa tinh thần của Nghị định 519/TTg, Pháp lệnh

số 14- LCT/HĐNN đã tập trung thống nhất quản lý, sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên phạm vi cả nước, đưa công tác kiểm kê, lập hồ sơ xếp hạng đi vào nề nếp Quy định về cổ vật, xuất nhập khẩu cổ vật, việc tu bổ, tôn tạo và hoạt động bảo vệ di tích cũng đã rõ ràng, chặt chẽ hơn Pháp lệnh ra đời có ý nghĩa to lớn và là bước tiến về mặt pháp lý với mục đích làm cho công tác quản lý di sản văn hóa dân tộc hoàn thiện hơn

Cùng với việc ra đời Pháp lệnh số 14-LCT/ HĐNN, Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ban hành các Nghị định, Thông tư để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh:

Năm 1992, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành Đây là văn bản có tính pháp lý cao nhất, tại điều 34 đã xác định:

Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn - bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát

Trang 23

huy tác dụng các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh [24, tr.35]

Trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập, nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của công tác quản lý di sản, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 đã ban hành và thông qua Luật Di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa gồm 07 chương với 74 điều trong đó quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa, phân định trách nhiệm của các cấp đối với việc quản lý di sản văn hóa đó là:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa; Bộ Văn hóa - Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa; Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ; UBND các cấp trong phạm vi, nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [32, tr.13]

Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình dân chủ hóa và xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa điều chỉnh những vấn đề hoàn toàn mới

và hoàn thiện những vấn đề đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đây cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế

Các quy định của Luật Di sản văn hóa đã tạo động lực giúp cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc có những bước phát triển mới theo hướng: bảo tồn và tôn vinh những di sản văn hóa tiêu biểu nhất; tạo điều kiện cho việc thu hút nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là

Trang 24

các chủ sở hữu di sản văn hóa đã đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích; phát huy di sản văn hóa phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước góp phần thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Đồng thời vận hành theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, tạo được nguồn thu đáng kể từ các hoạt động dịch vụ, văn hóa tại di tích, tái đầu tư cho công tác bảo quản, tu bổ phục hồi di tích Để thực thi Luật Di sản văn hóa, Chính phủ,

Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ban hành một số văn bản hướng dẫn thi hành

Căn cứ vào tình hình thực tế trong công tác quản lý di sản đã có nhiều thay đổi, chính những điều này đã làm cho Luật Di sản văn hóa có những điều quy định đã không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay Do đó, Quốc hội nước

ta đã thông qua và ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa năm 2009, những điều lệ bổ sung này có tính chất bù đắp, bổ sung vào những hạn chế được ghi trong Luật Di sản Văn hóa năm 2001

Căn cứ Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Chỉ thị số 73/CT- BVHTTDL về việc tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu

bổ và phục hồi di tích

Ngày 21/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2010/NĐ - CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa Nghị đinh ra đời thay thế nghị định

số 92/2002/NĐ – CP của Chính phủ

Ngày 14/7/ 2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư

số 09/2011/TT-BVHTTDL Quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng

di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh

Trang 25

Ngày 18/9/2012, Chính Phủ ban hành Nghị định số 70/2012/NĐ-CP Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

Ngày 28/12/2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư

số 18/2012/TT- BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

Bên cạnh đó UBND thành phố Hà Nội, UBND huyện Gia Lâm của ban hành nhiều Chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn công tác bảo tồn phát huy các giá trị

di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn

Nhìn chung, các văn bản pháp lý được nhà nước ban hành trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa là cơ sở để các địa phương trong cả nước thi hành, trong đó có huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Trên cơ sở đó giúp cơ quan quản lý thực hiện tốt công tác quản lý di tích lích sử văn hóa góp phần vào

việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

Điều 54, Luật Di sản văn hóa quy định rõ nội dung quản lý nhà nước

về di sản văn hoá gồm 8 nội dung cụ thể là:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị

Trang 26

5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hoá;

8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại,

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá [33, tr.12-13]

1.1.4 Vai trò của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa với sự phát triển kinh tế văn hóa - xã hội trong thời kỳ giao lưu hội nhập quốc tế

Trong những năm gần đây, công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa đã được các cấp, các ngành từ Trung ương tới cơ sở hết sức quan tâm Từ việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và ban hành các chính sách nhằm bảo tồn phát huy giá trị của các di tích đến việc tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ, huy động các nguồn lực để bảo tồn di tích đền việc thanh tra, kiểm tra đều được chỉ đạo sát sao Các hoạt động đó đã góp phần không nhỏ trong việc bảo tồn di tích, phát huy giá trị văn hóa của di tích, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc từ đó góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ

Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại Trong xu thế hội nhập toàn cầu, hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa đã góp phần bảo tồn gìn giữ, phát huy các giá trị của các di tích lịch sử văn hóa, là cơ sở để chống lại sự xuống cấp của di tích Với sự quan tâm của các cấp, các ngành và sự vào cuộc

Trang 27

của nhân dân, trong những năm qua, hàng nghìn di tích đã được bảo vệ, gìn giữ, được đầu tư tu bổ, tôn tạo, điều đó cho ta thấy tầm quan trọng của công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa

Hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa được thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế việc xâm hại, làm biến dạng các di tích lịch sử văn hóa Các di tích được khoanh vùng bảo vệ, các hiện tượng xâm hại di tích được các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý kịp thời Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ di tích được đẩy mạnh góp phần nâng cao nhận thức, ý thức của người dân trong việc gìn giữ, bảo vệ di tích góp phần chống lại sự xâm hại di tích, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc

Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa được thực hiện chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan chức năng đã góp phần làm cho các di tích lịch sử văn hóa được bảo tồn và phát huy, chống lại hiện tượng làm biến dạng di tích Công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho những người làm công tác quản lý di tích thực sự là một khâu quan trọng trong hoạt động quản lý di tích, làm cho những đội ngũ cán bộ quản lý di tích thấy rõ được trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn, gìn giữ di tích cũng như có trình độ chuyên môn nhất định để phát hiện và xử lý kịp thời những hiện tượng làm biến dạng di tích Bên cạnh đó, các bước trong công tác tu bổ, tôn tạo di tích được quản lý chặt chẽ và được thực hiện một cách đồng bộ và khoa học, theo đúng quy định của pháp luật đã góp phần hạn chế hiện tượng làm biến dạng di tích, giữ gìn và phát huy được giá trị của di tích lịch sử văn hóa

Mục đích của hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa là gìn giữ, di tích

và những giá trị văn hóa mang trong mình nó Nói cách khác là giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc thông qua hoạt động quản lý di tích Với sự nỗ lực, cố gắng của các địa phương trong công tác quản lý di tích, đến nay hệ thống các di tích lịch sử văn hóa được phục dựng, đầu tư tu bổ tôn tạo, bảo tồn và phát huy

Trang 28

giá trị của di tích lịch sử văn hóa góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Đã xuất hiện nhiều điển hình, nhiều bài học kinh nghiệm về bảo tồn phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa thông qua việc huy động các nguồn vốn xã hội hóa, huy động công sức, trí tuệ của nhân dân trong việc đầu tư, tu

bổ, phát huy giá trị các di tích Hệ thống di tích lịch sử văn hóa được bảo vệ, gìn giữ khang trang sạch sẽ, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân đồng thời phát huy giá trị góp phần giáo dục truyền thống đồng thời giữ gìn bản sắc của dân tộc Tuy vậy, dưới sự tác động của quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra hàng ngày, công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa đang đứng trước những khó khăn và thách thức đòi hỏi những nhà quản lý phải có những giải pháp cụ thể và đúng đắn Quá trình hiện đại hóa đang làm cho các giá trị văn hóa của dân tộc dễ bị mai một, lai căng Các di tích lịch sử văn hóa và các giá trị mang trong mình nó dễ dàng bị biến dạng theo lối hiện đại hóa Cùng với quá trình đô thị hóa, việc trùng tu, tôn tạo, tu bổ di tích dễ sai phạm, thiếu

dữ liệu lịch sử, bên cạnh đó là hiện tượng các di tích lịch sử văn hóa bị “bê tông hóa”, ngập úng, ô nhiễm làm mất cảnh quan di tích…

Trong xu thế hội nhập toàn cầu, công tác quản lý văn hóa phải được quan tâm, chỉ đạo sát sao và phát huy được giá trị của mình để góp phần bảo vệ di tích, giữ gìn được bản sắc của dân tộc bởi lẽ các di tích lịch sử văn hóa như một nguồn “tài nguyên văn hóa” không chỉ phục vụ cho các hoạt động tại địa phương mà hơn nữa có là cơ sở để giáo dục truyền thống,

để tìm về với cuội nguồn của bản sắc dân tộc, góp phần không nhỏ trong việc phát huy giá trị di tích, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương, quảng báo hình ảnh của địa phương đồng thời cũng thu hút khách

du lịch trong nước và quốc tế đến du lịch, thăm quan các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Các hoạt động du lịch văn hóa mà điểm đến của nó là các địa chỉ văn hóa, sản phẩm văn hóa, các lễ hội truyền thống, những phong

Trang 29

tục tín ngưỡng tạo sức hút đối với du khách bản địa và khắp nơi trên thế giới Các di tích lịch sử văn hóa cả về mặt nội dung lẫn hình thức, đều có khả năng tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ, là yếu tố then chốt tạo lên không gian, môi trường cho các giá trị văn hóa bảo tồn và phát triển, đồng thời cũng là điểm đến để du khách trong nước và quốc tế tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam Có thể nói công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa sẽ không hiệu quả nếu chúng ta không đánh thức được những giá trị văn hóa, không biết khai thác, phát huy những giá trị đó bởi đây là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ di tích Các di tích chỉ được phát huy giá trị tốt nhất khi được sử dụng tích cực, đúng mục đích, phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành mạnh Muốn làm được điều này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của các cấp Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, trong đó vai trò quản lý của các cấp chính quyền đối với công tác quản lý di tích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và quyết định Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa được thực hiện tốt sẽ góp phần bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

1.2 Tổng quan về di tích lịch sử văn hóa huyện Gia Lâm

1.2.1 Tổng quan về huyện Gia Lâm

1.2.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên và kinh tế- xã hội

Huyện Gia Lâm nằm ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội Phía Tây Nam

có địa giới là dòng sông Hồng, bên kia bờ là huyện Thanh Trì và quận Hoàng Mai; phía Nam giáp với huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; phía Bắc giáp quận Long Biên; phía Đông Bắc và Đông giáp với các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành của tỉnh Bắc Ninh; Gồm 20 xã và 02 thị trấn Đó là các xã: Bát Tràng, Cổ Bi, Dương Hà, Dương Quang, Dương Xá, Đặng Xá, Đa Tốn, Đình Xuyên, Đông Dư, Kiêu Kỵ, Kim Lan, Kim Sơn, Lệ Chi, Ninh Hiệp, Phù

Trang 30

Đổng, Phú Thị, Trung Mầu, Yên Viên, Yên Thường, Văn Đức và 02 thị trấn

là thị trấn Trâu Quỳ và Thị trấn Yên Viên

Hiện nay, xã Lệ Chi của huyện Gia Lâm vẫn còn một làng mang tên

gọi “Gia Lâm” Tên nôm na và cổ xưa của làng Gia Lâm này là: Kẻ Lầm

“Lầm” trong địa danh “Kẻ Lầm” có thể hiểu là lầm lội, lầy lội là tên gọi của

một vùng đất có nhiều nước Đây chính là một địa điểm nằm trên ngã ba sông Đuống và sông Dâu Nó chính là một vị trí chiến lược về mặt quân sự và kinh

tế Nhà Lý đã chọn nơi đây làm chỗ đặt “phủ đệ” của quý tộc và vương triều

Từ “Lầm” cũng có thể hiều là cơ sở ngôn ngữ học để cho ra đời địa âm “Gia Lâm” Tức “Lâm” trong từ kép “Gia Lâm”, là một biến âm, để phiên âm về mặt ngữ âm của “Lầm” (Kẻ Lầm) Như vậy, trước khi Gia Lâm trở thành tên gọi của một “địa danh cấp huyện” ngày nay thì nó là tên của một địa điểm nhỏ nhưng rất quan trọng, nhờ vị thế chiến lược của mình, và có quy mô tương tự một làng Đó là đất “Kẻ Lầm” (thuộc thôn Gia Lâm, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm ngày nay)

Căn cứ vào thư tịch cổ về địa lý chính thống của nước nhà, sự rõ ràng

có địa danh Gia Lâm, bắt đầu ở nửa đầu thế kỷ XV với tư cách là một tên huyện Trong sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi cho biết: vào năm 1435, huyện Gia Lâm có 68 xã, 2 sở và 3 trại Đến sách “Đại Việt địa dư toàn biên”

Trang 31

của Nguyễn Văn Siêu (khắc in năm 1890) thì lại thấy nói: huyện Gia Lâm có tới 77 xã - là huyện lớn nhất trong số 5 huyện của phủ Thuận An, và đứng thứ nhì (sau huyện Đông Ngàn: 82 xã) Sách “Địa chí Hà Bắc” và một số tài liệu cho biết đến đầu thời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX), huyện Gia Lâm, với 10 tổng

là các tổng: Như Kinh, Kim Sơn, Đặng Xá, Gia Thị, Cự Linh, Đông Dư, Lạc Đạo, Cổ Biện, Đa Tốn, Nghĩa Trai với 79 xã Sau năm 1858, ba Tổng là: Nghĩa Trai, Như Kinh và Lạc Đạo chuyển về huyện Văn Lâm thuộc đạo Bãi Sậy (Hưng Yên) Trước năm 1945, huyện Gia Lâm thuộc phủ Thuận An, rồi phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh

Ngày 28/11/1948, Chủ tịch nước ra Sắc lệnh số 263/SL đưa huyện Gia Lâm (kể cả đặc khu Ngọc Thuỵ) thuộc tỉnh Bắc Ninh sáp nhập vào Hưng Yên Một năm sau, do yêu cầu của tình hình mới, ngày 07/11/1949, Chủ tịch nước ra Sắc lệnh số 127/SL đưa toàn bộ huyện Gia Lâm trở lại Bắc Ninh Sau ngày Thủ

đô giải phóng, đặc khu Ngọc Thuỵ trở thành Quận 8 thuộc thành phố Hà Nội

Theo Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, kỳ họp thứ 2 ngày 20/4/1961 và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 31/5/1961 quy định địa dư hành chính huyện Gia Lâm và sáp nhập huyện Gia Lâm về Hà Nội bao gồm: toàn bộ Quận 8, huyện Gia Lâm, 7 xã và thị trấn Yên Viên của hai huyện Từ Sơn và Tiên Du, 2 xã Dương Quang, Dương Xá (huyện Thuận Thành) và xã Văn Đức (huyện Văn Giang); huyện Gia Lâm có

Trang 32

Ngày 02/01/2005, Chính phủ quyết định chuyển xã Trâu Quỳ thành thị trấn Trâu Quỳ

Huyện Gia Lâm ngày nay gồm 20 xã, 2 thị trấn

Như vậy, địa giới hành chính huyện Gia Lâm luôn có sự thay đổi trong

tiến trình phát triển

1.2.1.3 Quá trình phát triển

Gia Lâm được xác định là vùng kinh tế trọng điểm, là địa bàn quân sự chiến lược ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội Trên địa bàn huyện có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đã và đang được đầu tư xây dựng: Quốc

lộ 1A; Quốc lộ 1B; Quốc lộ 3 mới Hà Nội - Thái Nguyên; Quốc lộ 5; Đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; đường Hà Nội - Hưng Yên; đường 181 ; đường thuỷ sông Hồng, sông Đuống, ga Yên Viên và hệ thống đường sắt ngược lên phía Bắc, Đông Bắc và xuôi cảng biển Hải Phòng Trên địa bàn Huyện có nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và các trung tâm thương mại được hình thành; nhiều làng nghề nổi tiếng, thu hút đông khách thập phương trong và ngoài nước như làng gốm sứ Bát Tràng, dát vàng, may da Kiêu Kỵ, chế biến thuốc bắc Ninh Giang Đây chính là những động lực và tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế thương mại, du lịch, dịch vụ giao thông, giao lưu hàng hoá hiện nay và trong tương lai

Đất và người Gia Lâm gắn liền với truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; kiên cường bất khuất đánh đuổi giặc ngoại xâm; cần cù, thông minh, sáng tạo trong xây dựng cuộc sống, tự hào là quê hương của hai

vị “Tứ bất tử” trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, truyền thống cách mạng hào hùng, tinh thần yêu nước, vì độc lập dân tộc của cha ông tiếp tục được các thế hệ con cháu trên mảnh đất Gia Lâm nối tiếp Tháng 8/1929, Gia Lâm đã có Chi bộ Đảng Cộng sản được

Trang 33

thành lập ở Nhà máy gạch Cầu Đuống Sau khi Đảng bộ Thành phố được thành lập (tháng 6/1930), các chi bộ Đảng ở Gia Lâm lần lượt ra đời và không ngừng phát triển, lãnh đạo, chỉ đạo phong trào quần chúng cách mạng Những năm 40 của thế kỷ XX, xã Trung Mầu đã trở thành một điểm “An toàn khu” của Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ Khi thời cơ cách mạng đến, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 18/8/1945 nhân dân Gia Lâm đã đồng loạt đứng lên khởi nghĩa, đập tan chế độ cũ giành chính quyền về tay nhân dân

Trong công cuộc kháng chiến anh dũng và lâu dài của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, quân và dân Gia Lâm mưu trí, dũng cảm, kiên cường chiến đấu chống kẻ thù, lập lên những chiến công vang dội, góp phần vào những chiến thắng vang dội ở Bắc Ninh và Thủ đô Hà Nội Trong các cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, hàng vạn thanh niên Gia Lâm đã hăng hái lên đường tòng quân giết giặc bảo vệ Tổ quốc: 4.417 người con ưu tú của Gia Lâm đã anh dũng hy sinh trên các chiến trường Hàng chục gia đình có từ 2 đến 3 con là liệt sĩ, 6 đồng chí được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhiều đồng chí được tặng danh hiệu Anh hùng lao động; 134 bà mẹ đã được Đảng và Nhà nước tôn vinh danh hiệu cao quý: Bà mẹ Việt Nam anh hùng Với những thành tích to lớn, những chiến công đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Gia Lâm và các xã Yên Thường, Yên Viên, Trâu Quỳ, Trung Mầu, Kim Sơn, Đa Tốn và một số

cơ quan, đơn vị trên địa bàn được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”

Sau khi thực hiện nhiệm vụ điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập Quận Long Biên (01/2004), Gia Lâm tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, tích cực khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh, tiếp tục vững bước đi lên trên đường đổi mới Đại hội lần thứ XX Đảng bộ huyện Gia Lâm

Trang 34

nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã xác định: “Phát huy truyền thống cách mạng và anh hùng, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng huyện Gia Lâm giàu đẹp, dân chủ, văn minh”

Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo trên, các cấp, các ngành từ Huyện đến cơ sở đã chủ động khắc phục khó khăn, tích cực khai thác tiềm năng, thế mạnh, tranh thủ sự chỉ đạo của Thành ủy - HĐND - UBND thành phố, sự ủng hộ

và phối hợp của các sở, ban, ngành Thành phố, các đơn vị đóng trên địa bàn, tập trung có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, tăng cường hoạt động của hệ thống chính trị từ Huyện đến cơ sở Năm

2014, kinh tế huyện duy trì mức ổn định, giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu do Huyện quản lý tăng 9,81% so với năm 2013; Công nghiệp, xây dựng đạt 52,43% tăng 8,82%, dịch vụ đạt 33,18% tăng 14,71%; Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đạt 14,39% tăng 1,9% Tổng số thu ngân sách nhà nước đạt 1.169,7 tỷ đồng; loại trừ kết dư, thu chuyển nguồn, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 1.082,5 tỷ đồng bằng 113,6% dự toán Thành phố giao, bằng 108,1% dự toán Huyện giao ; trong đó thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 573,4 tỷ đồng, bằng 127,6% dự toán Thành phố giao, bằng 116,5% dự toán Huyện giao Công tác đầu tư, thực hiện các dự án trọng điểm, công tác giải phóng mặt bằng được chỉ đạo quyết liệt, thúc đẩy tiến độ thực hiện; công tác xây dựng nông thôn mới, công tác quản lý trật tự đô thị, tài nguyên, môi trường được tập trung chỉ đạo và triển khai tổ chức thực hiện tích cực Công tác thông tin tuyên truyền, cổ động các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức tốt Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh Tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt 91,8% Tỷ lệ thôn làng văn hóa đạt 77,2% Tỷ lệ tổ dân phố văn hóa đạt 79,5 Tỷ

lệ cơ quan đơn vị văn hóa đạt 76,5% Công tác quản lý di tích và lễ hội được quan tâm Phong trào thể dục thể thao phát triển rộng khắp

Trang 35

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, công tác Dân số - Gia đình & Trẻ em được quan tâm Nền nếp dạy

và học được duy trì, chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên Có 47 trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia Công tác phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe ban đầu cho nhân dân được thực hiện tốt Tỷ xuất sinh là 16,84%, giảm 0,22% Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 7,18% Thực hiện tốt chính sách xã hội; tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho trên 71.800 lượt người

có công và các đối tượng xã hội với tổng kinh phí trên 18,2 tỷ đồng Vận động xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa được 1,7 tỷ đồng Giải quyết việc làm cho 7.165 lao động Triển khai hỗ trợ xây dựng và sửa chữa 41 nhà hộ nghèo

Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm còn 1,43%; Triển khai thực hiện nghiêm túc công tác an ninh trật tự, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn Duy trì và thực hiện tốt công tác giải quyết các thủ tục hành chính theo

cơ chế “Một cửa” và “Một cửa liên thông” từ Huyện đến cơ sở Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại được thực hiện tốt Quan tâm chỉ đạo công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí; triển khai đồng bộ các biện pháp thực hành tiết kiệm, thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán các dự án, quyết toán vốn, đấu thầu mua sắm tài sản

1.2.1.4 Truyền thống lịch sử, văn hóa

Gia Lâm là nơi có bề dày truyền thống văn hóa và lịch sử Mảnh đất này còn lưu dấu nhiều di tích lịch sử liên quan đến buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc Trên 300 di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến cùng kho tàng văn hóa phi vật thể rất phong phú, đa dạng, tiêu biểu cho diện mạo văn hóa truyền thống và đậm đà bản sắc văn hóa Kinh Bắc và văn hóa Thăng Long -

Hà Nội ngàn năm văn hiến Dấu ấn lịch sử của ông cha từ thời xa xưa còn rải rác khắp huyện đã chứng minh Gia Lâm là vùng đất có lịch sử lâu đời, tồn tại hàng ngàn năm và có một nền văn minh sớm với các tầng văn hóa dày đặc

Trang 36

Qua phát hiện và khai quật khu di tích khảo cổ học tại Dương Xá đã cho thấy đây là dấu tích thuộc thời dựng nước, cách ngày nay khoảng 3000 năm Những ngôi mộ của các giai đoạn muộn hơn, cùng với những di vật thuộc các thời kỳ khác nhau từ Đông Hán tới Lý, Trần, Lê… chứng tỏ một quá trình định cư, phát triển liên tục của người Việt trên vùng đất Dương Xá trong suốt mấy nghìn năm lịch sử

Khai quật tại Kim Lan, đã phát hiện nhiều di vật cổ rất phong phú bao gồm: tiền đồng, gạch ngói, vật liệu trang trí kiến trúc đặc biệt là đồ gốm sứ

Đồ gốm ở đây có niên đại khá dài từ thời Đường (thế kỷ VII - thế kỷ X) đến thời Lê (thế kỷ XVII - XVIII)

Các nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện rất nhiều ngôi mộ cổ từ thời Hán

ở vào thế kỷ đầu công nguyên, rìu, búa ở Trung Mầu, Phù Đổng Di chỉ văn hóa ở Trâu Quỳ, Kim Sơn, Ninh Hiệp, Yên Thường dấu vết tồn tại của con người lao động, sinh sống và phát triển

Tạo dựng lên mảnh đất cổ giàu truyền thống ấy là con người Gia Lâm đôn hậu, thuần phác, cần cù chăm chỉ bằng bàn tay và khối óc, từ hạt lúa, cây rau, củ khoai đã tạo nên đặc sản quê hương nổi tiếng khắp vùng Đậu Dương, Tương Sủi, Cà Hàn, Cải Vân, dưa bẹ Đông Dư, hành tỏi Cổ Bi, Dương Xá Cùng các di tích lịch sử văn hóa và các di tích cách mạng và kháng chiến ở Gia Lâm còn có nhiều lễ hội cổ truyền tiêu biểu là Lễ hội Gióng- Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, lễ hội Đền Bà Tấm, lễ hội Chử Đổng Tử từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của bao thế hệ người Thăng Long - Hà Nội

Gia Lâm còn là nơi lưu giữ được nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc như tuồng Đình Xuyên, Yên Thường, cải lương Đa Tốn, chèo

cổ Dương Quang, múa Bông Sòng xã Phú Thị, tế lễ rước kiệu trong tất cả các lễ hội làng Gia Lâm còn là nơi xuất hiện và lưu truyền nhiều trò chơi

Trang 37

dân gian rất độc đáo vừa mang đậm bản sắc của vùng văn hóa Kinh Bắc vừa phảng phất nét tài hoa thanh lịch của văn hóa Thăng Long - Hà Nội như: trò kéo co, đấu vật, chọi gà, thi đấu cờ tướng, bịt mắt đánh trống, thi têm trầu, đánh trận, thi nấu cơm, thi kéo tơ, thi vẽ tranh trên bình sứ, thi ứng tác thơ, đẩy gậy, cướp cờ Các trò chơi dân gian được diễn ra trong tất cả các lễ hội làng và trong các dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng thu hút sự tham gia cổ vũ của hàng vạn người, trở thành một sản phẩm văn hóa tinh thần độc đáo không thể thiếu được của nhân dân trong huyện Gia Lâm còn rất nhiều các loại hình văn hóa đã ra đời và đang được phổ biến rộng rãi như: Câu lạc bộ thơ, câu lạc bộ đàn và hát dân ca, câu lạc bộ nhiếp ảnh, câu lạc bộ những người làm công tác văn hóa, câu lạc bộ những người quản lý di tích… Có thể khẳng định các di sản văn hóa đã và đang tồn tại trên địa bàn huyện Gia Lâm rất rực rỡ và rất đáng tự hào, là một phần của văn hóa Thăng Long - Hà Nội và là tài sản văn hóa chung của cả nước rất cần được quan tâm và gìn giữ, bảo tồn

Gia Lâm còn có nhiều nghề truyền thống như: nghề đúc diệp cầy, nồi gang ở Nhân Lễ, nghề làm hàng tre nan ở làng Táo, làng Dương, chăn tằm, ươm tơ ở Hạ Dương, thợ mộc Giang Cao, thợ nề làng Lở Đặc biệt, nhiều làng nghề truyền thống từ xa xưa vẫn được giữ vững và tồn tại, phát triển đến ngày nay đã tạo ra những nét rất riêng mà mỗi khi nhắc đến làng nghề đều nghĩ tới Gia Lâm Đó là Làng Gốm Bát Tràng có lịch sử hình thành và phát triển làng nghề từ thế kỷ XIII – XIV với những sản phẩm như thạp hoa nâu, chân đèn, lọ, bình mang yếu tố tạo hình cao của văn hóa dân gian Việt Gốm Bát Tràng không chỉ được nhân dân trong nước yêu thích mà còn được

ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới vì vẻ đẹp hài hòa, độc đáo của hình dáng, nét vẽ và màu men Đó là làng nghề Kiêu Kỵ nổi tiếng với những sản phẩm dát vàng, may da Đây là làng duy nhất ở Việt Nam chuyên làm vàng

Trang 38

quỳ, có lịch sử trên 400 năm do danh nhân Nguyễn Quý Trị truyền dạy Ngoài ra, nghề làm đồ dùng bằng da và giả da cũng rất phát triển Đó là nghề sơ chế thuốc Nam ở Phù Ninh, Tổng Nành (xã Ninh Hiệp ngày nay) theo tương truyền do bà Lý Nương (Lý Nhũ Thái Lão) truyền dạy Từ thế kỷ XVII - XVIII, làng Phù Ninh đã là một môn phái trong y học cổ truyền Việt Nam Hiện trong gia phả của một số dòng họ tại Ninh Hiệp còn ghi lại, nhiều tên tuổi của làng Nành từng được triều đình cử vào cung chăm lo sức khoẻ cho vua và triều thần Cùng với nghề thuốc, Ninh Hiệp còn là trung tâm chợ đầu mối nổi tiếng chuyên cung cấp vải cho cả miền Bắc, miền Trung, thậm chí cho gần khắp cả nước Nhiều người đã ví von nếu may tất

cả các miếng vải ở chợ Ninh Hiệp lại thành một tấm thì nó sẽ rộng đến nỗi

đủ che hết bầu trời Hà Nội

Không chỉ cần cù, sáng tạo trong lao động, con người Gia Lâm còn làm rạng danh mảnh đất lịch sử này Gia Lâm tự hào là mảnh đất “địa linh sinh nhân kiệt”, quê hương của nhiều danh nhân lỗi lạc, những con người sáng ngời cốt cách Việt Công lao và vị trí của họ đã được lịch sử ghi nhận xứng đáng, nhân dân yêu mến, tôn sùng phong Thánh, phong Thần

Về với Gia Lâm, chúng ta đang trở về với cội nguồn văn hóa, để có những cảm nhận sâu sắc nét tinh tú từ huyền thoại, huyền tích xa xưa Trong bốn vị thánh bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt (tứ bất tử), đất Gia Lâm có tới hai, đó là Đức Thánh Phù Đổng Thiên Vương và Đức Thánh Chử Đồng

Tử Những câu chuyện truyền thuyết, huyền thoại về hai vị thánh đã được nhân dân ghi nhớ, thuộc lòng

Gia Lâm là quê hương của Thánh Gióng, biểu tượng kỳ vĩ cho ý chí quật cường, sức sống, lòng yêu nước thiết tha, ý chí sức mạnh, quyết thắng chống quân xâm lược của dân tộc Việt Nam

Trang 39

Gia Lâm còn là mảnh đất in đậm mối tình giữa Đức Thánh Chử và Tiên Dung công chúa Mối tình giữa nàng công chúa lá ngọc cành vàng với một chàng trai nghèo khó nhưng hiếu thảo đã trở thành thiên tình sử đẹp nhất trong kho tàng văn học dân gian Đức Thánh Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa được thờ phụng ở nhiều nơi trên địa bàn vùng đồng bằng và trung

du Bắc Bộ, chủ yếu là các làng ven sông Hồng và sông Đuống Một trong những nơi thờ tự chính đó là Đền Chử Đồng Tử và Lăng Chử Cù Vân tại chính quê hương thôn Chử Xá, xã Văn Đức

Đất Gia Lâm còn có Quan Âm Nữ - Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan, người phụ

nữ đức hạnh, tài sắc vẹn toàn Xuất thân trong gia đình tại Trang Thổ Lỗi, Hương Siêu Loại, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm) làm nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa Bà đã vươn lên trở thành người phụ nữ duy nhất trong lịch sử nắm quyền hai lần nhiếp chính, giúp chồng, thay vua con trị vì đất nước, thực hiện sứ mạng chống Tống xâm lược thắng lợi để dân tộc ta ca khúc khải hoàn, xây dựng nhà Lý cường thịnh

Gia Lâm gắn liền với tên tuổi của danh nhân Cao Bát Quát mà người đời xưa tôn vinh là “Thánh Quát” Ông sinh ra tại làng Phú Thụy, xã Phú Thị huyện Gia Lâm ngày nay, nổi tiếng về văn thơ, hay chữ Ông để lại 1.353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn Thơ ông là sự thông cảm sâu sắc nỗi khổ cực của người nông dân và bộc lộ tinh thần dám đấu tranh chống chế độ phong kiến triều Nguyễn mục nát Người đời có câu “Văn như Thần Siêu, Chữ như Thánh Quát” để ca ngợi ông

Gia Lâm còn tự hào là quê ngoại của Lê Ngọc Hân, con gái của vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) và cung phi Nguyễn Thị Huyền Sử sách nhắc đến

bà không chỉ vì bà là con gái út xinh đẹp gái giỏi giang và nổi tiếng vào bậc nhất trong những người con gái của vua Lê, vợ của vua Quang Trung - người

Trang 40

anh hùng “áo vải cờ đào” trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc

ta mà bà còn là người phụ nữ tài ba trên văn đàn cuối thế kỷ XVIII

Người dân Gia Lâm cũng tự hào có Nguyễn Sơn (tên thật là Vũ Nguyên Bác), người làng Kiêu Kỵ Ông là một trong những người Việt Nam được phong quân hàm tướng Quân đội Nhân dân năm 1948, được Trung Quốc phong hàm tướng năm 1955 nên gọi là Lưỡng Quốc Tướng quân

Hòa trong lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Gia Lâm đã có các thế hệ nối tiếp nhau đấu tranh chống áp bức, xâm lược bảo vệ xóm làng, quê hương, đem lại nền độc lập, tự do cho nước nhà Biết bao con người đã làm nên lịch sử, công trạng còn lưu danh sử sách, được nhân dân yêu mến tôn phong là Thành hoàng làng

Là vùng đất phát triển từ khá sớm, con người Gia Lâm không những chăm chỉ, cần cù trong lao động sản xuất mà còn luôn chú trọng việc học hành, thi cử Nhiều làng, xã trên địa bàn huyện nổi tiếng về truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt Bát Tràng không chỉ nổi danh trong lịch sử với làng nghề truyền thống gốm sứ, mà còn là một địa chỉ đỏ về văn hóa học hành, khoa cử Tại Văn chỉ Bát Tràng còn lưu danh 291 vị tiên nho tiên hiền

mà nổi bật là 9 vị đỗ Tiến sĩ đến Trạng nguyên Tiêu biểu là Trạng nguyên Giáp Hải (1507- 1586) là một trong 6 vị Trạng Nguyên đất Thăng Long Phú Thị nổi tiếng là một làng có truyền thống hiếu học, khoa bảng Trong vòng hơn 70 năm (1703 - 1779), làng có tới 10 tiến sĩ đỗ đại khoa, là một trong 21 làng của đất nước có tiến sĩ nho học được ghi tên trong bia Văn Miếu - Quốc

Tử Giám Kim Sơn cũng nổi tiếng về truyền thống văn hiến, khoa bảng với hai tể tướng và năm người đỗ đại khoa

Tiếp nối trang sử hào hùng của ông cha, thế kỷ XX - thế kỷ của đấu tranh gian khổ, ác liệt nhưng cũng đầy vinh quang hiển hách, cả dân tộc Việt

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w