Trên quan điểm kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa của cha ông và sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật tạo điều kiệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
******&*****
NGUYỄN THÀNH QUANG
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số : 60310642
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI VĂN TIẾN
HÀ NỘI – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý di tích lịch sử văn
hóa ở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” là công trình tổng hợp tư liệu
và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những ý kiến, nhận định, tư liệu khoa học của các tác giả được ghi chú xuất xứ đầy đủ
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2014
Xác nhận của người hướng dẫn khoa học Tác giả luận văn
PGS.TS Bùi Văn Tiến Nguyễn Thành Quang
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN
HÓA, TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
13
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 13
1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa 22 1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 27
1.2 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Đan
Phượng
29
1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Đan Phượng 39
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ
VĂN HÓA Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
49
2.1 Cơ cấu, chức năng của hệ thống tổ chức quản lý di tích lịch
sử văn hóa huyện Đan Phượng
49
2.1.1 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội 49 2.1.2 Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đan Phượng 50
2.2 Công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Đan Phượng 55
2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị
di tích lịch sử văn hóa ở huyện
55
2.2.2 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về pháp 58
Trang 4luật bảo vệ di tích lịch sử văn hóa 2.2.3 Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn
và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
62
2.3 Nhận xét, đánh giá về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa
trên địa bàn huyện Đan Phượng
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
87
3.1 Phương hướng, nhiệm vụ quản lý di tích lịch sử văn hóa trên
địa bàn thành phố Hà Nội
87
3.1.1 Phương hướng chung giai đoạn 20152020 87
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử
văn hóa huyện Đan Phượng
Trang 5VH&TT: Văn hóa và Thông tin
VHTDTT: Văn hóa – Thể dục – Thể thao
VH, TT& DL: Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Trang 6DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ
1 Bảng 1: Danh mục DT LSVH ở huyện Đan Phượng được tu
bổ, tôn tạo giai đoạn 2009 2014
67
2 Bảng 2: Kinh phí tu bổ, tôn tạo DT LSVH của huyện Đan
Phượng giai đoạn 2009 – 2014
75
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Di tích LSVH là những di sản văn hóa quý báu của mỗi địa phương, mỗi dân tộc và của cả nhân loại Đó là những dấu vết, dấu tích còn lại của quá khứ, phản ánh những biến cố, những sự kiện lịch sử, văn hóa hay nhân vật qua các thời kỳ lịch sử Không những thế di tích lịch sử văn hóa còn là chứng tích,
là tư liệu sống để các thế hệ mai sau tìm hiểu, nghiên cứu về các thời kỳ lịch sử
đó đi qua, từ đó giáo dục thế hệ trẻ truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc 1.2 Trên quan điểm kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa của cha ông và sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc bản tồn, tôn tạo hệ thống di tích lịch sử văn hóa và đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Hàng loạt di tích lịch sửvăn hóa đã được xếp hạng, tu bổ, tôn tạo; rất nhiều cổ vật, di vật trong đó được bảo vệ; lễ hội truyền thống, diễn xướng, trò chơi dân gian, thuần phong,
mỹ tục được lưu giữ và phát triển
Để tiếp tục gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa một cách bền vững, chúng ta cần tăng cường vai trò công tác quản lý di tích tại các địa phương thông qua các nghiên cứu, khảo sát, đánh giá, nắm bắt được thực trạng công tác quản lý cũng như giá trị hệ thống di tích lịch sử văn hóa một cách toàn diện Trên cơ sở đó, chủ động điều chỉnh, hoàn thiện bộ máy quản
lý, định hướng và xây dựng các kế hoạch, giải pháp cho công tác quản lý, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa kinh tế
và văn hóa nói chung, giữa bảo tồn và phát triển nói riêng
1.3 Huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội là một vùng đất cổ Tổng diện tích là 76,59km2, hiện có 15 xã và 1 thị trấn Bên cạnh đó, Đan Phượng còn là một địa phương có truyền thống văn hoá, lịch sử, cách mạng, ở đây còn
Trang 8lưu giữ được nhiều di tích từ thời kỳ tiền sơ sử đến các di tích của các thời đại lịch sử sau này Theo số liệu tổng hợp của phòng Văn hóa Thông tin huyện, hiện nay toàn huyện có 138 di tích Trong đó có 37 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, 27 di tích được xếp hạng cấp tỉnh/thành phố; 74 di tích chưa xếp hạng Về loại hình di tích bao gồm: 03/04 loại hình di tích: Di tích khảo cổ học, di tích lịch sử cách mạng kháng chiến, di tích kiến trúc nghệ thuật Trong đó có các di tích tiêu biểu như: Di chỉ Phùng Nguyên ở Bá Dương, thành Ô Diên thời Hậu Lý Nam Đế; đình Phùng thôn Đại Phùng, xã Đan Phượng; đền thờ Hai Bà Trưng ở thôn Vân Môn, xã Trung Châu; khu di tích cách mạng xã Liên Hồng; Miếu Voi phục và lăng văn sơn, nơi tổ chức hát hội chèo tàu; đình Vạn Xuân và hội đua thuyền bắt vịt nấu cơm thi, quán – miếu La Thạch…
Trong thời gian qua, công tác quản lý di tích tại huyện Đan Phượng đã được các cấp và các ngành quan tâm và đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc: Nhiều di tích xuống cấp, nguồn kinh phí nhà nước còn hạn hẹp, chế độ cho người trông coi trực tiếp tại di tích chưa có quy định của thành phố; tình trạng tự ý tu bổ, làm biến dạng di tích đã và đang xảy ra tại một số địa phương trong huyện Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; việc hưởng ứng tham gia bảo vệ, phát huy giá trị
di tích trên địa bàn huyện của người dân còn hạn chế
Vì vậy, hơn bao giờ hết, công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của huyện Đan Phượng trong giai đoạn hiện nay cần được tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân; nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách trong, ngoài nước, tạo nền móng vững bền góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước
Trang 9Là một cán bộ công tác trong ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch, xác định và hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý di sản văn hoá dân tộc trong giai đoạn mới hiện nay Được sự đồng ý của trường Đại học
Văn hóa Hà Nội học viên thực hiện đề tài: “Quản lý di tích lịch sử - văn hoá
trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” làm Luận văn tốt
nghiệp Cao học, chuyên ngành Quản lý văn hoá, khóa 20122014
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, các đề tài nghiên cứu về huyện Đan Phượng
và các di tích lịch sử văn hoá huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội đã được một số tác giả, nhà nghiên cứu quan tâm, giới thiệu như:
Địa chí Hà Tây [37] Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây (2007) Sách đã
giới thiệu chung về địa lý, điều kiện tự nhiên, địa giới hành chính, dân cư, của
Hà Tây cũ nói chung và Đan Phượng nói riêng tại trang 20 cho biết, các xã Đan Phượng, Đồng Tháp, Hà Mỗ (Xưa có thành Ô Diện thời Hậu Lý Nam
Đế, xã Hồng Hà có di chỉ Phùng Nguyên ở Bá Dương) Phần viết về các di tích đã xếp hạng từ trang 416 đến trang 418 Ngoài việc giới thiệu về các di tích Hà Tây nói chung còn thống kê số lượng di tích được xếp hạng, trong đó huyện Đan Phượng là 55 di tích (việc thống kê cũng chưa bao quát hết các di tích lịch sử văn hóa tại Huyện Đan Phượng hiện nay)
Di tích Hà Tây [35] , Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây (1999), trong đó
giới thiệu các di tích lịch sử văn hóa các huyện, thị xã Hà Đông, Thị xã Sơn Tây nói chung Di tích lịch sử văn hóa của huyện Đan Phượng giới thiệu trong cuốn sách này từ trang 180 đến trang 212, trong đó có 20 di tích, tập trung chủ yếu là đình, chùa, miếu…
Đan Phượng di tích lịch sử văn hóa và cách mạng [20] do Huyện ủy –
HĐND – UBND huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xuất bản Cuốn sách bao gồm: 03 phần Phần I: giới thiệu tổng quan về huyện Đan Phượng với 03 nội
Trang 10dung: truyền thống lịch sử văn hóa; Đan Phượng với lịch sử văn hóa ngàn năm Thăng Long Hà Nội; Bác Hồ với quê hương Đan Phượng Phần II: tập trung giới thiệu về các di tích lịch sử văn hóa và cách mạng của huyện với 117 di tích được giới thiệu theo đơn vị cấp xã Trong đó có bài giới thiệu chung về từng xã
và sau đó đi sâu giới thiệu về các di tích tiêu biểu của các xã đó Phần III: Đánh giá công tác tu bổ tôn tạo di tích trên địa bàn huyện Đan Phượng Để thực hiện cuốn sách này do tác giả Nguyễn Doãn Tuân chủ biên cùng với nhiều tác giả tham gia viết bài về các di tích cụ thể
Lịch sử cách mạng huyện Đan Phượng [3] do Ban chấp hành Đảng Bộ
huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây xuất bản năm 2004 Cuốn sách gồm 8 chương Trong chương 1 từ trang 11 – 29 giới thiệu về đất và người Đan Phượng, đặc điểm về địa lý, về những truyền thống tốt đẹp của vùng đất này như hát chèo Tân Hội Gối, hát chèo bè trên sông dân chài Vạn Vỹ, hội thả diều Bá Giang, hát ca trù Thượng Mỗ đã nổi tiếng từ thế kỷ XV Về truyền thống hiếu học, nhiều người đỗ đạt cao, tên tuổi của các vị tiến sỹ ở Đan Phượng đã được ghi trên bia văn miếu ở Hà Nội và ở Huế Nhân dân Đan Phượng có truyền thống yêu nước và truyền thống cánh mạng Cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII Đan Phượng có thành Ô Diên (vùng Hạ Mỗ được gọi là Quốc đô thời đó) Đan Phượng còn nổi tiếng bởi các danh nhân như: Thái úy Tô Hiến Thành, đền Văn Hiến xã Hạ Mỗ và khu di tích về Tô Hiến Thành tại làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ
Kỷ yếu hội thảo khoa học Thành cổ Ô Diên [38] do Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch Ủy ban Nhân dân huyện Đan Phượng xuất bản năm 2011 Trong đó có 17 bài báoc áo khoa học đều tập trung khẳng định thành cổ Ô Diên được xây dựng trên mảnh đất Hạ Mỗ của huyện Đan Phượng Các tham luận đều đưa ra những cứ liệu khoa học có căn cứ xác thực về thành cổ Ô Diên và mảnh đất văn hóa, con người Hạ Mỗ nói riêng, Đan Phượng nói chung
Một số công trình nghiên cứu viết về di tích văn hóa huyện Đan
Trang 11Phượng như Luận văn cao học và Khoá luận đại học của học viên và sinh viên Trường Đại học Văn hoá Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác Các công trình này viết về giá trị của một di tích hoặc một cụm di tích cụ thể, đồng thời nêu
ra các giải pháp về bảo tồn và phát huy các di tích trên địa bàn huyện
Ngoài ra còn có sách, bài viết khác về lịch sử, văn hoá, danh nhân, lễ hội, di sản văn hóa… huyện Đan Phượng đã được xuất bản và đăng tải trên
các báo, tạp chí khoa học chuyên ngành, cụ thể như: Làng văn hoá Hà Tây [34]; Đặc sản và ẩm thực dân gian Hà Tây [36] Tuy nhiên, nội dung các
cuốn sách, bài viết chủ yếu chỉ tập trung giới thiệu, nghiên cứu về di tích lịch
sử, lễ hội, danh nhân hoặc một làng cổ cụ thể trên địa bàn huyện nói riêng và
Hà Nội nói chung, không đi vào nghiên cứu về công tác quản lý di tích và các giải pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc
Sách Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam [41] do tác giả Trần
Mạnh Thường chủ biên, trong đó có giới thiệu về đình Đại Phùng từ trang
187 đến 188, được xem là một ngôi đình cổ có niên đại vào thế kỷ XVII, ngôi đình có nhiều nét độc đáo về chạm khắc trên kiến trúc
Từ tập hợp và phân tích trên đây, có thể khẳng định cho tới nay chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về công tác quản lý di tích lịch sử
văn hóa của huyện Đan Phượng
Trong quá trình triển khai đề tài: “Quản lý di tích lịch sử văn hoá ở
huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”, tác giả luận văn sẽ tiếp thu, kế
thừa kết quả của các tác giả đi trước, vận dụng vào nội dung của công trình nghiên cứu, đặc biệt là phần đánh giá về giá trị của các di tích lịch sử văn hóa huyện Đan Phượng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của công tác quản lý di
Trang 12tích lịch sử văn hóa trong giai đoạn hiện nay, luận văn đi sâu khảo sát phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như một số hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Đan Phượng từ năm 2008 đến nay Đây
là mốc thời gian địa giới hành chính được thay đổi từ khi Hà Tây được sáp nhập vào thành phố Hà Nội
Thông qua, nghiên cứu, phân tích, Luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Đan Phượng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
Tìm hiểu khái quát lịch sử hình thành, phát triển và hệ thống di tích lịch sử văn hóa huyện Đan Phượng
Trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác quản lý di sản văn hoá nói chung và quản lý di tích lịch sử văn hóa nói riêng
Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch
sử văn hóa của huyện Đan Phượng từ tháng 8 năm 2008 đến nay (khi tỉnh Hà Tây sát nhập vào thành phố Hà Nội)
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa của huyện Đan Phượng trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 13 Phạm vi không gian: Luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu tình hình
quản lý di tích lịch sử văn hóa của huyện Đan Phượng, có thể mở rộng ra các
vùng phụ cận để so sánh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng;
chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin, các
quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý di sản văn hóa dân tộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: quản lý văn hoá, lịch sử, bảo tàng học, xã hội học;
Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp;
Phương pháp khảo sát điền dã: Phân tích tài liệu do tác giả thực hiện
thông qua việc xuống trực tiếp một số cơ sở di tích lịch sử văn hóa để điều tra
về thực trạng công tác quản lý của cấp xã; Phỏng vấn sâu đối với các chuyên
gia thuộc lĩnh vực di sản văn hóa và quản lý di sản văn hóa
6 Đóng góp của luận văn
Bước đầu đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa
trên địa bàn huyện Đan Phượng
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di
tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Đan Phượng trong thời gian tới
Kết quả nghiên cứu về thực trạng cũng như các nhóm giải pháp mà
luận văn đưa ra là một trong những cơ sở khoa học giúp các cấp lãnh đạo của
UBND, Phòng VH&TT huyệncó giải pháp phù hợp trong việc đổi mới công
tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đan Phượng
Đồng thời đây cũng có thể là tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho các
Huyện lân cận có điều kiện kinh tế xã hội tương đồng xem xét, vận dụng vào
Trang 14quá trình đổi mới công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa của địa phương mình
7 Bố cục Luận văn
Đề tài nghiên cứu “Quản lý di tích lịch sử văn hoá ở huyện Đan
Phượng, thành phố Hà Nội” ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa, tổng quan
về hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Đan Phượng
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn ở huyện Đan
Phượng
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử
văn hóa ở huyện Đan Phượng
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
Ở HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa
1.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa
Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì DSVH bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể
và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [25, tr.8]
UNESCO chia di sản văn hóa thành hai loại: DSVH vật thể và DSVH phi vật thể (physical and nonphysicalcuture) DSVH vật thể bao gồm các di tích, công trình lịch sử, đền đài, cung điện, sách cổ, mẫu vật ở bảo tàng, công
cụ sản xuất ở từng giai đoạn lịch sử, các di tích danh thắng DSVH phi vật thể bao gồm các loại hình văn họcnghệ thuật (âm nhạc, ca múa, sân khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại), các sinh hoạt và kinh nghiệm dân gian (lễ hội, nghi lễ, phong tục tập quán, y học dân tộc, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ)
Trang 16Như vậy, di sản văn hóa chính là thành quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử; phản ánh tiến trình phát triển, thành tựu và khả năng của chính dân tộc đó; là minh chứng sống động cho sự vận động, giao thoa và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời phản ánh những đặc trưng cơ bản để làm rõ sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác trong những môi trường, cảnh quan cụ thể của không gian và thời gian
1.1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành nên DSVH Khái niệm DT LSVH được đề cập ở nhiều văn bản khác nhau Ở văn bản quốc tế khái niệm về Di tích lịch sử văn hóa đã được nêu ra trong:
Điều 1 Hiến chương Venice-Italia năm 1964 khái niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn thuần mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [11, tr.145] Theo khái niệm nà, di
tích không chủ hiểu đơn thuần/hay đơn chiếc như di tích chùa Thày, chùa Tây Phương, đình Tây Đằng mà còn cả những khung cảnh/di tích đô thị như đô thị phố Hiến, phố cổ Hội An, phố cổ Hà Nội Khung cảnh nông thôn bao gồm các làng, bản cổ như làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội; bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình Ngoài ra cũng cần chú ý đến các công trình khiêm tốn hơn/nhỏ hơn
nhưng thời gian qua đi, các di tích đã trở nên quý hiếm và có giá trị
Ở văn bản quốc gia, khái niệm về DTLSVH đã được nêu trong Pháp lệnh
số 14 LCT/HĐNN ngày 04 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng Nhà nước về
“Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh” thì quy định: “DT LSVH là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị về văn
Trang 17hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội”
Khái niệm DTLSVH được nêu ra trong Luật Di sản văn hóa năm 2001
được sửa đổi, bổ sung năm 2009 DT LSVH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch
sử, văn hoá, khoa học [25, tr.9] Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc
di tích khác nhau Trong đó bao gồm: loại hình di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh
Từ các khái niệm trên đây cho thấy, DT LSVH là những nơi lưu giữ một giá trị văn hóa khảo cổ, những địa điểm ghi dấu tích về lịch sử dân tộc, những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa đối với lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương, những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược, chống áp bức, những nơi có giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, khoa học, những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị Mỗi một DT LSVH đều mang một giá trị văn hoá, lịch sử nhất định, phản ánh một chặng đường lịch sử của cộng đồng dân cư, quá trình hình thành và phát triển xã hội qua mỗi thời đại Nghị quyết Trung ương V, khoá VIII của Đảng cũng khẳng định: Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hoá của
Trang 18nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình [2]
1.1.1.3 Tiêu chí để trở thành di tích lịch sử văn hóa
Điều 28 Luật Di sản văn hóa quy định
1 Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;
b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;
c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến;
d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;
đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử
2 Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:
a) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu;
b) Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,
đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất
1.1.1.4 Các loại hình di tích
Căn cứ Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐCP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa dổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, di tích được phân
ra thành 04 loại hình, bao gồm:
Một là, di tích khảo cổ học gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi
bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hóa khảo cổ Loại hình di tích khảo cổ có thể phân chia thành các loại di tích sau đây: 1/Loại di chỉ cư
Trang 19trú; 2/Loại di chỉ mộ táng; 3/Loại di chỉ cư trú mộ táng Ngoài ra, còn có thể phân chia theo thời đại khảo cổ: 1/Loại di tích/di chỉ thời đại đồ Đá; 2/Loại di tích/di chỉ thời đại đồ Đồng; 3/Loại di tích/di chỉ thời đại đồ Sắt
Hai là, loại hình di tích lịch sử bao gồm những công trình xây dựng, địa
điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, của địa phương hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc [25] Loại hình di tích lịch sử có 03 loại di tích: 1/Loại di tích gắn với
sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước, giữ nước; 2/Loại di tích gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; 3/Loại di tích gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng
Ba là, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: công trình kiến
trúc, nghệ thuật quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú
có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam [25] Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật có thể chia ra các loại khác nhau, cụ thể được chia làm 06 loại: 1/Các đô thị đã hình thành trong lịch sử và các thành phần của chúng Các phế tích của các đô thị cổ, các phối hợp và tổng thể đô thị lớn thể hiện bộ mặt đô thị và các khu dân cư 2/Di tích kiến trúc cư trú, gồm các ngôi nhà ở tại thành thị và nông thôn, các cung thất, dinh thự 3/Di tích kiến trúc dân dụng như các công sở, các công trình văn hóa, các công trình phục vụ đời sống 4/Di tích kiến trúc tôn giáo (đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ ), lăng tẩm cũng có thể đưa vào loại hình này 5/Di tích kiến trúc quân sự như: thành, lũy, hào 6/Di tích kiến trúc phong cảnh phần những cảnh quan thiên nhiên có những công trình kiến trúc được lồng ghép vào các công viên, vườn hoa, khu sinh thái
Bốn là, loại hình di tích danh lam, thắng cảnh Cảnh quan thiên nhiên
đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất,
Trang 20địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù [25] Loại hình di tích này có thể phân chia thành 02 loại: 1/Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học
về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của của Việt Nam và thế giới 2/Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu [25]
Mặc dù trong các văn bản (văn bản luật) phân chia DT LSVH làm 04 loại hình, trong từng loại hình lại phân chia thành các loại di tích thuộc loại hình cụ thể, nhưng trên thực tế khi căn cứ vào các giá trị tiêu biểu chứa đựng
ở từng trường hợp cụ thể thì quá trình phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối Trong khi tiếp cận phân loại, điều cơ bản chúng ta cần xác định được giá trị tiêu biểu của di tích để tiến hành phân loại các di tích, dù ở phạm vi của loại hình nào
Nếu căn cứ vào giá trị lịch sử văn hóa, khoa học thẩm mỹ và cấp độ quản lý, di tích được xếp hạng và được chia thành ba loại, gồm:
Một là, di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu
của quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xếp hạng
Hai là, di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ
trưởng Bộ VHTT&DL ra quyết định xếp hạng
Ba là, di tích cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là di tích có giá
trị tiêu biểu trong phạm vi địa phương do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định xếp hạng
Việc hiểu rõ nội hàm khái niệm di tích và các hình thức phân loại di tích có ý nghĩa quan trọng để xác định sự quan tâm của các cơ quan quản lý di tích cho từng loại hình di tích Đây cũng là một trong những cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và xây dựng hệ thống văn bản pháp luật trong
Trang 21việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc
1.1.1.5 Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động C.Mác đã viết: Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu có sự chỉ đạo, điều hoà giữa những hoạt động cá nhân…Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một
dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [30] Quản lý là một hoạt động khách
quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý
diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Quản
lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công
việc Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì “quản lý” có thể hiểu là hoạt
động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định, do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản
lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Do đó, quản lý là một quá trình tác động giữa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý, thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hoá hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Quản lý bao giờ cũng có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính hiệu quả
1.1.1.5 Khái niệm về quản lý di tích lịch sử văn hóa
Quản lý văn hoá là một thuật ngữ mới Trong khoa học, người ta có thể tiếp cận với văn hóa hoặc riêng rẽ hoặc tổng hợp trên ba bình diện: Văn hóa với tính cách một nền văn hóa; Văn hóa với tính cách những cái/thuộc tính văn hóa; Văn hóa với tính cách những hoạt động văn hóa Ở đây, chúng ta tập
trung chỉ tập trung nghiên cứu về khái niệm quản lý hoạt động văn hóa
Trang 22Hoạt động văn hóa là những quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, nhằm giao lưu những tư tưởng, ý nghĩa và những tác phẩm văn hóa của con người sinh ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng sống của con người trong xã hội [30] Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù vì: Thứ nhất, hoạt
động văn hóa là một hoạt động sáng tạo; các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con người
Về phương diện này, hoạt động đó đòi hỏi có “một khoảng trời tự do nhất định”, giúp cho sức tưởng tượng của chủ thể có “đất sống” để sáng tác Thứ hai, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng” (tốt hoặc xấu) trong xã hội Thứ ba, hoạt động văn hóa là hoạt động kinh tế, một
nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển KTXH
Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, xét cho cùng cũng là một phần của
công tác quản lý DSVH nói chung và quản lý DT LSVH nói riêng Theo
nghĩa thông thường trong tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo dõi Cụ thể, “quản lý”
có hai nghĩa là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan; Trông coi, giữ gìn và theo dõi những hoạt động cụ thể Trường hợp quản lý DTSLVH có thể hiểu là tổ chức, điều khiển hoạt động của cơ quan quản lý di tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể Trong lĩnh vực DT LSVH, cơ quan quản lý di tích có trách nhiệm trông coi, giữ gìn; tổ chức các hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích; tổ chức bảo vệ di tích với mục tiêu chống xuống cấp cho di tích, để di
Trang 23tích tồn tại lâu dài; tổ chức lập hồ sơ, xếp hạng xác định giá trị và cơ sở pháp
lý bảo vệ di tích…
Phát huy giá trị DT LSVH gồm các hoạt động: Tổ chức tham quan tại
di tích; Quảng bá di tích trên các phương tiện truyền thông đại chúng; Xuất bản các ấn phẩm giới thiệu di tích; Đưa di tích đến với ngành công nghiệp du lịch Phát huy giá trị DSVH là một hoạt động nhằm khai thác những giá trị của
di sản để phục vụ và đáp ứng nhu cầu của xã hội, góp phần phát triển KTXH của đất nước, đồng thời góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ DSVH dân tộc Phát huy: làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn [53]
Phát huy cũng có thể hiểu là tập trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các mặt giá trị của DSVH [18] Quản lý DSVH là một quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các DSVH trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư, chủ nhân của các DSVH đó [23] Quản lý DT LSVH là một hoạt động nằm trong công tác quản lý DSVH Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý DSVH không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể mà quan trọng
hơn là người làm công tác quản lý phải biết cách “đánh thức” những giá trị
văn hóa phi vật thể để có tác động tích cực đến đời sống cộng đồng
Quản lý DT LSVH cũng chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DT LSVH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Các DT LSVH cần được tôn trọng
và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân Đặc biệt trong nền
Trang 24kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước như đặc thù của nước ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển KTXH của đất nước, đồng thời bảo tồn được các giá trị của của bản sắc văn hóa dân tộc
Từ những khái niệm quản lý, quản lý di sản văn hóa, quản lý di tích lịch sử văn hóa có thể hiểu đó là một hoạt động luôn có hướng đích giữa chủ thể quản lý và đốI tượng quản lý (khách thể quản lý) theo đúng những những đường hướng mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Đó chính là quá trình tác động giữa chủ thể quản lý (chính là hệ thống các cơ quan quản lý di tích) tới đối tượng quản lý (là hệ thống DT LSVH) Để công tác quản lý có hiệu quả cần thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hóa hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Trong trường hợp cụ thể với các đối tượng là DT LSVH thì mục tiêu cần hướng tới là bảo tồn và phát huy giá trị DT LSVH phục vụ công đồng trong nước và quốc tế
1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa
Trong khi tiến hành nhiệm vụ quản lý di tích cần phải tuân thủ đi đúng hướng theo những đường hướng mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Những đường hướng thể hiện rõ trong các văn bản đã được ban hành, đó chính là cơ
sở pháp lý cho công tác quản lý DT LSVH
Dưới các triều đại phong kiến, ý thức giữ gìn, bảo quản, kiểm kê và tu
bổ di tích đã được cả chính quyền trung ương và toàn xã hội chú ý Trong các
bộ sử ký, các sách địa chí đều có các ghi chép về di tích như: đình, đền, chùa, quán, miếu, thành quách và các nhân vật lịch sử Bộ Luật Hồng Đức ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông có điều khoản ghi việc trừng phạt những người lấy cắp, phá huỷ tượng Phật và chuông đồng cổ Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, người Pháp đã tiến hành điều tra, nghiên cứu về các di tích kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ học trên đất nước ta nhưng việc ban hành các
Trang 25văn bản pháp lý để quản lý và điều hành các hoạt động có tính chất bảo vệ di tích thì hầu như chưa có
Từ sau năm 1945 và nhất là sau năm 1954, hoạt động bảo tồn di tích ở nước ta bắt đầu tiếp cận với khoa học bảo tồn hiện đại của thế giới Và cũng bắt đầu từ đây, các văn bản pháp lý từng bước được xây dựng, để làm sơ sở cho mọi hoạt động có liên quan, đặc biệt là công tác quản lý các DT LSVH nói riêng và di sản văn hóa dân tộc nói chung
* Sắc lệnh số 65/SL ngày 23/11/1945 về việc thành lập Đông Phương Bác Cổ học viện và Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam
Ngay sau Cách mạng Tháng 8 thành công, trong lúc phải đối phó với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm nhưng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn không quên tới việc bảo vệ các DSVH của dân tộc Nhà nước ta chủ trương đặt toàn bộ các di tích dưới sự bảo hộ của pháp luật Chủ trương đó được thể hiện rất rõ ràng, cụ thể trong Sắc lệnh số 65/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 về việc thành lập Đông Phương Bác Cổ học viện
và bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Nội
dung Sắc lệnh nêu rõ: “Cấm phá huỷ đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ được bảo tồn” Sắc
lệnh đã khẳng định quan điểm và nhận thức đúng đắn của Chính phủ đối với vai trò và ý nghĩa quan trọng của các di tích trong công cuộc kiến thiết đất nước Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ đã không cho phép chúng ta mở rộng hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ di tích của đất nước trong giai đoạn này
* Nghị định số 519-TTg ngày 29/10/1957 của Thủ tướng Chính phủ quy định các luật lệ cơ bản cho hoạt động bảo tồn di tích
Đây là một văn bản pháp lý quan trọng, có giá trị nền tảng cho hoạt động bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn, bảo tàng nói chung Nghị định số
Trang 26519TTg ngày 29 tháng 10 năm 1957 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quy định các luật lệ cơ bản cho hoạt động bảo tồn di tích thời gian này Nghị định gồm 7 mục, 32 điều trong đó mục II quy định về liệt hạng di tích; Mục III quy định về sưu tầm và khai quật; Mục IV quy định về bảo quản; Mục V quy định
về trùng tu, sửa chữa; Mục VI quy định về xuất nhập khẩu những di vật có giá trị lịch sử Như vậy, từ năm 1957 cho tới năm 1984, Nghị định số 519TTg của Thủ tướng Chính phủ đã phát huy tốt tác dụng làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn ngành, đặc biệt là hoạt động bảo vệ di tích
* Pháp lệnh số 14-LCT/HĐND ngày 04/4/1984 của Hội đồng Nhà nước bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh
Pháp lệnh là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích trong thời kỳ đất nước vừa hoàn toàn thống nhất Đây là bước tiến lớn của ngành bảo tồn, bảo tàng nhằm thống nhất quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích bằng các điều luật cụ thể Nhờ có Pháp lệnh và một cơ chế quản lý mới, với
phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, đã góp phần cứu vãn sự
huỷ hoại của hàng ngàn di tích, góp phần ngăn chặn một phần những vi phạm
về đất đai liên quan đến di tích
* Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Điều 34 của Hiến pháp quy định cụ thể: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát huy các DSVH dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo tồn và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các DSVH, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh
* Hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã thông qua Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998:“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Trang 27Nghị quyết đã khẳng định: DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng
dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH được coi là 1 trong
10 nhiệm vụ cụ thể trong sự nghiệp xây dựng phát triển văn hóa Bản sắc dân tộc ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng được bồi đắp thêm bởi nhiều nhân tố, những giá trị văn hóa bền vững, những tinh hoa kết đọng qua từng thời kỳ lịch sử dân tộc, thể hiện ở các DSVH bao giờ cũng là cái cốt lõi Chính với ý nghĩa
đó, Nghị quyết nhấn mạnh phải hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm
cả văn hóa vật thể và phi vật thể
* Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá năm 2009
Những nội dung cơ bản của Luật đã bám sát và đáp ứng được những nhu cầu trong cơ chế điều hành đất nước ta trong giai đoạn hiện nay là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; toàn dân sống, học tập và làm việc theo pháp luật
Luật Di sản văn hóa ra đời đã tạo ra những cơ sở pháp lý để triển khai một loạt các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với DSVH, chỉ rõ những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi vi phạm di tích; quy định trách nhiệm của các
Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo tồn DSVH Những quy định của Luật Di sản văn hóa được xây dựng theo hướng cởi mở, sát với thực tiễn nhằm tạo ra hành lang pháp
lý thông thoáng và môi trường thuận lợi cho việc đầu tư phát triển kinh tế của đất nước nói chung và thúc đẩy phát triển du lịch nói riêng, đồng thời
Trang 28góp phần mở rộng giao lưu văn hóa, hội nhập cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, trong quá trình đưa Luật Di sản văn hóa áp dụng vào thực tiễn bên cạnh những mặt tích cực, cũng nảy sinh một số hạn chế như chưa xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, dẫn đến tình trạng thương mại hoá di tích Một số di tích có xu hướng bị biến dạng bởi những hoạt động thương mại, tưởng chừng như đóng góp vào ngân sách của địa phương nhưng thực chất là đang phá huỷ di tích, làm mất đi những giá trị
về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học và kiến trúc thẩm mỹ của di tích Vì vậy, năm 2009 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001
* Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Di sản văn hóa; Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 06/11/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009
Đây là những văn bản quy phạm dưới luật nhằm hướng dẫn và cụ thể hoá những quy định trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, đặc biệt là những vấn đề
có liên quan đến công tác quản lý DT LSVH
* Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/09/2012 của Chính phủ Quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh
Nghị định nhằm hướng dẫn cụ thể hóa Luật Di sản văn hóa năm 2001
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 và các vấn đề về quy hoạch bảo tồn và khôi phục di tích lịch sử; thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh
Trang 29* Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc Quy định nội dung hồ sơ khoa học
để xếp hạng di tích - văn hóa và danh lam thắng cảnh
Thông tư hướng dẫn về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh, di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt Với đối tượng lập hồ sơ khoa học là Công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên thuộc danh mục kiểm kê di tích của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định tại khoản 14 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa có đủ tiêu chí quy định tại Điều 28 Luật di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản
9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa
* Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 Quy định chi
tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
Thông tư này quy định về điều kiện năng lực và điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích,
dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, báo cáo kinh tế kỹ thuật bảo quản, tu
bổ, phục hồi di tích, thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
và thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; nội dung hồ sơ thiết kế tu bổ di
tích, thẩm quyền thẩm định hồ sơ thiết kế tu bổ di tích; thi công tu bổ di tích
* Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 hướng dẫn
xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích
Thông tư này hướng dẫn việc xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tếkỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa
Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh
Trang 30các mối quan hệ xã hội Pháp luật ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong quản lý xã hội, bất kỳ một lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật và quản lý DSVH không nằm ngoài quy định đó Như đã nêu ở trên, công tác quản lý DSVH là một nhiệm vụ không hề đơn giản và nhiều khi phải có những chế tài cụ thể để thực hiện
Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009; các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về DSVH được quy định tại Điều 54 và Điều 55 của Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 [25], cụ thể như sau:
Điều 54 của Luật DSVH quy định nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa
3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH
4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di
Trang 314 UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về DSVH ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ
1.2 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Đan Phượng
1.2.1 Tổng quan về huyện Đan Phượng
Huyện Đan Phượng ngày nay là một trong 29 quận, huyện của thủ đô
Hà Nội, phía Đông giáp quận Bắc Từ Liêm, phía Bắc giáp huyện Mê Linh có dòng sông Hồng cắt ngang làm ranh giới, phía Tây giáp huyện Đan Phượng, phía Nam giáp huyện Hoài Đức; tổng diện tích tự nhiên là 77,35km2; cơ cấu hành chính gồm 15 xã và 01 thị trấn, 120 thôn, cụm dân cư, 06 tổ dân phố, dân số năm 2012 trên 156.000 người Đan Phượng là một vùng đất cổ, căn cứ kết quả khảo cổ học các di chỉ ở Bá Nội xã Hồng Hà và Ngọc Kiệu xã Tân Lập cho thấy trên mảnh đất Đan Phượng đã có con người sinh sống vào giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên (đầu thời đại đồ đồng) cách ngày nay khoảng
3500 năm đến 4000 năm
Trang 32Đan Phượng nghĩa là Con chim phương đỏ Theo sách Đại Nam nhất thống trí, tên huyện có từ thể kỷ XIII (thời vua Trần Thái Tông 1246); đến thời thuộc Minh có tên là Đan Sơn, thuộc châu Từ Liêm, phủ Giao Châu Sang thời Hậu Lê, Đan Phượng thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây Đến năm
1888, huyện Đan Phựợng thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông Sau Cách mạng tháng 8 đến 1954, Đan Phượng có lúc thuộc tỉnh Hà Nội, có thời gian lại thuộc tỉnh Hà Đông Sau hoà bình lập lại, Đan Phượng trải qua rất nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, khi thuộc về Hà Sơn Bình, lúc thuộc về tỉnh Hà Tây… đến ngày 1 tháng 8 năm 2008, theo Nghị quyết 15NQ/QH của Quốc hội, huyện Đan Phượng thuộc thành phố Hà Nội
Là mảnh đất nằm ở cửa ngõ của kinh thành Thăng Long, Huyện Đan Phượng được biết đến là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, một địa bàn chiến lược quan trọng trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Nhân dân Đan Phượng có truyền thống đoàn kết, hiếu học, lao động cần cù sáng tạo, giàu tình yêu quê hương đất nước và ý chí kiên cường cách mạng Mảnh đất này đã sản sinh ra nhiều người con ưu tú làm rạng danh quê hương, đất nước Mùa xuân năm 40 thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc Đông Hán, nhân dân Đan Phượng đã đứng lên tụ nghĩa theo sự chỉ huy của Bà Sa Lãng (Kẻ Dày), tướng quân Lôi Chấn, Hải Diệu (Kẻ Phùng,
Kẻ Thón) xuất quân chiến đấu anh dũng, lập nhiều chiến công góp phần vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa giành độc lập
Từ thế kỷ thứ VI (557570), vua Lý Nam Đế xây thành Ô Diên (vùng
Hạ Mỗ) đặt làm kinh đô của nước Vạn Xuân Đây là một trong 3 toà thành (Ô Diên, Cổ Loa, Long Biên) thuộc 3 khu vực phòng thủ chiến lược của nhà nước Vạn Xuân ở đồng bằng châu thổ sông Hồng
Đan Phượng là nơi sinh ra danh nhân Tô Hiến Thành, làm quan dưới 3 triều vua, giữ trọng trách Thái uý dưới hai triều vua Lý Anh Tông và Lý Cao
Trang 33Tông (TK XII) Ông là một nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hoá kiệt xuất của vương triều Lý, văn võ kiêm toàn, đạo cao đức trọng Ông là tấm gương nổi tiếng chính trực, liêm khiết và tài ba
Nhân dân Đan Phượng có truyền thống hiếu học từ xa xưa, lịch sử khoa
cử chế độ phong kiến đã ghi danh 15 vị là người Đan Phượng đậu Tiến sỹ, được ghi danh ở Bia Văn Miếu Quốc tử giám và Văn Miếu kinh thành Huế Nhiều vị có công đóng góp xây dựng nên nền văn hoá Thăng Long văn hiến Ngày nay, Đan Phượng có hàng nghìn người là Cử nhân, Tiến sỹ, Giáo sư đã
và đang góp phần tri thức khoa học của minh vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tếxã hội của đất nước Thời kỳ tiền khởi nghĩa, Đan Phượng là nơi hoạt động bí mật của cơ quan Báo Cứu quốc và nhiều cán bộ cao cấp của Đảng, phát hành số báo ra lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa của Mặt trận Việt Minh in ở Đan Phượng được phát hành đi khắp nơi, kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên phá tan xích xiềng nô lệ, giành lại độc lập và chủ quyền
về tay nhân dân Đan Phượng cũng là địa điểm dừng chân duyệt quân của Trung đoàn Thủ đô do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy sau khi hoàn thành
sứ mệnh 60 ngày đêm anh dũng chiến đấu bảo vệ Hà Nội mùa đông năm 1946 trước khi lên chiến khu Việt Bắc, tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ
Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ biên giới, nhân dân Đan Phượng một lòng đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng, đóng góp biết bao sức người, sức của cho kháng chiến Lịch sử còn ghi chiến thắng Chợ Gốc Ngô ở Trung Châu, sự kiện “Ba ngày năm trận” ở vùng Gối đã góp phần vào chiến thắng chung của cuộc kháng chiến của dân tộc Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng vạn người con Đan Phượng hăng hái tòng quân tham gia chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc Ở hậu phương cũng ra sức thi đua, lao động sản xuất tất cả “vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả cho tiền tuyến”, sẵn
Trang 34sàng “tay cày, tay súng” chiến đấu bảo vệ quê hương Hình ảnh 9 dũng sỹ Đập Phùng không kể hiểm nguy duới làn mưa đạn của kẻ thù anh dũng chiến đấu và hy sinh bên ngọn pháo quyết tâm bảo vệ công trình đập Đáy ngày 28/4/1967 đã để lại bao cảm xúc cho mỗi người dân Đan Phượng, càng làm tăng thêm ý chí quyết tâm đánh giặc
Mảnh đất Đan Phượng còn được nhân dân cả nước biết đến là nơi khởi nguồn phong trào phụ nữ Ba Đảm đang ở giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ Ngày 1831965, phong trào phụ nữ "Ba đảm đang"
do Bác Hồ đặt tên được Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam phát động đã huy động được sức mạnh tổng hợp của hàng chục triệu phụ nữ từ nông thôn tới thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, trên mọi lĩnh vực hoạt động; biến tiềm năng cách mạng của phụ nữ thành hiện thực sinh động, thành nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn, góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược thống nhất nước nhà Huyện Đan Phượng đã xây dựng tượng đài kỷ niệm phong trào phụ nữ ba đảm đang để ghi dấu sự kiện lịch sử và tri ân những chị em phụ nữ Việt Nam, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của phụ
nữ Đan Phượng Kết thúc các cuộc kháng chiến, Đan Phượng có 2586 Liệt sỹ,
281 Mẹ được phong tặng danh hiệu Mẹ Việt nam Anh hùng, 1051 thương binh, bệnh binh, hàng nghìn thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến… đã
hy sinh một phần xương máu, 04 Liệt sỹ được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều tấm gương tiêu biểu anh dũng chiến đấu vì độc lập dân tộc
Với vị trí chiến lược quan trọng, Đan Phượng vinh dự được Chủ tịch
Hồ Chí Minh về thăm 5 lần: ngày 23/7/1959 thăm xã Liên Trung, ngày 25/11/1961 thăm xã Song Phượng, ngày 22/5/1962 thăm xã Tân Lập, ngày 17/7/1962 thăm công trình Đập Đáy và trạm bơm Đan Hoài, ngày 26/8/1965 thăm đơn vị tên lửa bảo vệ đập Phùng; các đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn, Đỗ
Trang 35Mười, Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trường Trinh, Trương Tấn Sang, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước về thăm và chỉ đạo các phong trào xây dựng mô hình điểm về thâm canh lúa cao sản, ngô cao sản, làm bèo hoa dâu, làm thủy lợi Đan Phượng là huyện đầu tiên xây dựng cánh đồng đạt 5 tấn rồi 10 tấn/ héc ta, là địa điểm tham quan, học tập kinh nghiệm thâm canh năng suất lúa cho nhiều địa phương trên
cả nước Năm 2000, Chủ tịch nước phong tặng huyện Đan Phượng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Năm 2013 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động và nhiều danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước Các
xã Song Phượng, Tân Hội, Tân Lập được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, xã Đan Phượng được phong tặng Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới
Đan Phượng còn biết đến là nơi sản sinh ra nhiều loại hình văn hoá dân gian độc đáo và địa chỉ của nhiều di tích lịch sử văn hoá quý giá của quốc gia như ca trù ở xã Thượng Mỗ, vật truyền thống ở xã Hồng Hà, thổi cơm thi, bơi chải ở Đồng Tháp, hát chèo tàu ở Tân Hội, hội thả diều ở Bá Giang…Đan Phượng có 149 di tích được kiểm kê, trong đó có 67 di tích đã được xếp hạng, nhiều di tích có giá trị văn hoá, nghệ thuật cao như đình Đại Phùng, đền Văn Hiến, chùa Hải Giác… Hệ thống di sản này đã góp phần đáng kể trong việc bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, di dưỡng lòng nhân
ái, tình yêu thương đồng loại và giáo dục truyền thống, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Đan Phượng không ngừng phát huy truyền thống quê hương anh hùng cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh phát triển toàn diện, bền vững, từng bước hiện đại về kinh tếxã hội, giữ ổn định chính trị xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và đoàn thể trong sạch vững mạnh, giành được nhiều
Trang 36thành tích to lớn Về kinh tế, cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Công nghiệp Xây dựng = 49,51%, Thương mại Dịch vụ = 39,51 %, Nông nghiệp thuỷ sản = 10,98%, xu hướng trong những năm tới cơ cấu ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục giảm Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân
10 năm qua đạt 16,94%, thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 23,5 triệu đồng Công tác xây dựng nông thôn mới được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, phấn đấu năm 2015, 15/15 xã đạt chuẩn, là huyện đầu tiên hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới
Lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ vượt bậc, bám sát nhiệm vụ
chính trị, nâng cao chất lượng, thực hiện có hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước Phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đạt nhiều kết quả, đến nay có
49 làng, 03 tổ dân phố, 53 cơ quan, đơn vị được công nhận danh hiệu văn hóa 72 làng, khu phố, cụm dân cư có nhà văn hoá, là huyện có tỷ lệ nhà văn hoá, thôn cụm dân cư đứng đầu các huyện ngoại thành Công tác Giáo dục Đào tạo phát triển toàn diện, thực chất, cơ sở vật chất trường học được tăng cường đầu tư, chất lượng giáo dục được nâng cao, đạt được nhiều thành tích quan trọng 100% trường lớp THPT, THCS, Tiểu học và Mầm non được xây dựng hiện đại, có 35 trường học được công nhận đạt chuẩn quốc gia Công tác
y tế, dân số KHHGĐ được các cấp thường xuyên quan tâm, chất lượng khám chữa bệnh tiếp tục được nâng lên, mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố Bệnh viện đa khoa huyện được công nhận bệnh viện hạng 2, Trung tâm Y tế được đầu tư khang trang từng bước hiện đại Thực hiện tốt công tác Dân số KHHGĐ, giảm tỷ lệ sinh hàng năm 0,3%, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 0,5%
Công tác đảm bảo an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa, lao động việc làm, bảo trợ xã hội được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể quan tâm chỉ đạo,
Trang 37hàng năm đều thực hiện tốt các chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với Cách mạng, các đối tượng chính sách xã hội,
hộ nghèo… Đã hỗ trợ xây dựng, nâng cấp gần 400 nhà tình nghĩa, nhà ở xuống cấp hư hỏng nặng cho gia đình chính sách người có công và hộ nghèo 100%
hộ chính sách, người có công có mức sống cao hơn mức sống trung bình của địa phương Huyện tập trung đầu tư kinh phí và xã hội hoá với số tiền trên 200
tỷ đồng để nâng cấp 7/7 nghĩa trang liệt sỹ và xây dựng Đài tưởng niệm liệt sỹ, Nhà truyền thống, Thư viện, Công viên cây xanh của huyện
Công tác vệ sinh môi trường, chỉnh trang bộ mặt nông thôn thực hiện tốt, là điểm sáng trong các huyện ngoại thành về xây dựng hồ, ao môi trường, thu gom xử lý, chế biến rác thải Huyện uỷ đã ban hành Chỉ thị 06/CTHU về việc tăng cường lãnh đạo xây dựng chỉnh trang hạ tầng thôn, phố xanh sạch đẹp trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 20112015; Chỉ thị 22/CTHU về tăng cường lãnh đạo xây dựng nếp sống văn hóa trong thời kỳ CNHHĐH trên địa bàn huyện
Tình hình nông thôn tiếp tục giữ được ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh Hàng năm, công tác quốc phòng, quân sự địa phương đều hoàn thành tốt kế hoạch Công tác huấn luyện, diễn tập chiến đấu, xây dựng lực lượng bộ đội địa phương sẵn sàng chiến đấu, tham gia phòng chống thiên tai hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đảm bảo chất lượng chỉ tiêu đựợc giao
Hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Đảng bộ và nhân dân Đan Phượng luôn luôn kiên định con đường cách mạng và độc lập dân tộc, phát huy sức mạnh đoàn kết, khơi dậy truyền thống yêu nước, ý thức làm chủ, tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, khai thác mọi tiềm năng và thế mạnh, tự tin
Trang 38vững bước tiến vào TK XIX với ý chí và quyết tâm xây dựng trở thành huyện: Giàu mạnh về kinh tế, ổn định về chính trị xã hội, phát triển văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Các đơn vị hành chính cơ sở cấp xã, thôn, cụm dân cư:
1 Thị trấn Phùng 6 phố, thôn: Phan Đình Phùng, Phùng Hưng, Phượng Trì, Nguyễn Thái Học, Tây Sơn, Thụy Ứng
2 Đan Phượng (Phùng) 3 thôn: Đại Phùng, Đoài Khê, Đông Khê
3 Đồng Tháp (Liên Hợp) 5 thôn: Bãi Tháp, Bãi Thuỵ, Đại Thần, Đồng Lạc, Thọ Vực
4 Hạ Mỗ (Hồng Thái) 3 thôn: Hạ Mỗ, Trại, Trúng Đích
5 Hồng Hà 4 thôn: Bá Dương Nội, Bá Dương Thị (Bá), Bồng Lai, Tiên Tân (Bến Tiên)
6 Liên Hà 2 thôn: Đoài Quý, Thượng
7 Liên Hồng 4 thôn: Đông Lai, Hữu Cước, Thượng Trì, Tổ
8 Liên Trung 2 thôn: Hạ Trì, Trung
9 Phương Đình (Liên Minh) 8 thôn: Cổ Ngoã, Địch Trong, Địch Trung, Địch Đình, Địch Thượng, Ích Vịnh, La Thạch, Phương Mạc
10 Song Phượng 4 thôn, xóm: Tháp Thượng, Thu Quế, Thuận Thượng, Thống Nhất
11 Tân Hội* 4 thôn: Phan Long (Sơn), Thượng Hội, Thuý Hội, Vĩnh Kỳ
12 Tân Lập** 4 thôn: Đan Hội, Hạ Hội, Hạnh Đàn, Ngọc Kiệu (*, ** Tên chung: Kẻ Gối)
13 Thọ An 3 thôn: An Thanh (Tây Sơn), Thanh Điềm (Bắc Hà), Thọ Lão (Đông Hải)
14 Thọ Xuân 2 thôn: An Điềm, Thọ Xuân
15 Thượng Mỗ (Hồng Phong) 8 thôn: An Sơn I, An Sơn II, Đại Phú, Hoa Chử, Tân Thịnh, Tiến Bộ, Trung Thành, Trung Hiền
Trang 3916 Trung Châu 8 thôn: Chu Phan, Hưu Trưng, Nại Yên (Nại Xá, Yên Châu), Phương Lang (Phương Nội), Phương Ngoại, Trung Hà làng, Vạn Vĩ, Văn Môn
Đan Phượng là huyện ngoại thành, nằm ở phía Tây Bắc của Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km, cách quận Hà Đông khoảng 19 km Phía Bắc huyện giáp với sông Hồng và huyện Mê Linh; phía Nam giáp huyện Hoài Đức; phía Đông giáp huyện Từ Liêm và phía Tây giáp huyện Đan Phượng Huyện có đường quốc lộ 32 chạy qua, ở vị trí như trên có nhiều thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế với các huyện ngoại thành và nội thành cũng như các tỉnh khác trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Theo quy hoạch xây dựng vùng thủ đô Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn 2050, huyện Đan Phượng nằm ở vùng trung tâm giữa vùng đô thị trung tâm và vùng phát triển du lịch, công nghệ cao ở phía tây, mạng giao thông đường bộ được thiết kế gồm đường vành đai cao tốc vùng Hà Nội bán kính 15 20 km và trong đó có tuyến quốc lộ 32 chạy qua thị trấn Phùng của huyện,
dự kiến thành phố bố trí các trung tâm dịch vụ y tế và đào tạo trên địa bàn huyện sẽ tạo nên động lực phát triển mạnh mẽ thương mại và dịch vụ của huyện, việc hình thành hệ thống đường bộ hoàn chỉnh trong đó có đường vành đai 4 sẽ tạo nên không gian phát triển rất đặc trưng phía đông huyện thuộc vùng đô thị hoá, phía tây huyện thành vùng đai xanh theo quy hoạch chung và tham gia hình thành vành đai xanh cho nội thành
Theo thống kê huyện Đan Phượng năm 2010 thì diện tích tự nhiên của toàn huyện là 77,36km2 chiếm khoảng 2,35% diện tích tự nhiên toàn thành phố Huyện có 16 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 15 xã, trong đó có 05
xã nằm theo sông Hồng, 05 xã nằm ven sông Đáy, còn lại 05 xã nằm trong đồng là huyện có diện tích nhỏ, đất ít nhưng đất rất màu mỡ và địa hình mang tính đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng là bằng phẳng, tài nguyên khoáng sản chủ yếu chỉ có nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng
Trang 40Dân số của huyện Đan Phượng đến nay khoảng 148.633 người Cấu
trúc dân số: Nam 71.369 người chiếm 48,16% và Nữ 77.264 người chiếm 51,98%; dân số đô thị là 8.708 người, chiếm 5,9% và dân số nông thôn là 139.925 người chiếm 94,1% người Mật độ dân số trung bình 1.870 người/km2 Phân bố dân cư không đều trên các xã, xã có mật độ thấp nhất là
xã Trung Châu đạt 990 người/Km2, tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân giai đoạn 20052010 đạt 1,85%/ năm
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi là khá cao, qua nhiều năm tỷ lệ này giao động trong khoảng 5759% (tỷ lệ này thấp nhất là năm 2006 đạt 57%, cao nhất năm 2010 đạt 59,63%) về phân bổ nguồn nhân lực, lao động nông nghiệp của huyện vẫn chiếm tỷ trọng khá cao, năm 2009 là hơn 50 ngàn người, chiếm 50,58% ( tổng số lao động kinh doanh các ngành dịch vụ có 3.568 người, chiếm 4,32% lực lượng lao động, trong đó kinh doanh chuyện nghiệp
có 2.600 người chiếm khoảng 73% tổng số lao động kinh doanh dịch vụ)
Dự báo tốc độ dân số, quy mô dân số đến năm 2015 khoảng160.260 người nơi có mật độ dân số cao chủ yếu ở các xã Tân Hội, Tân Lập, Phương Đình và Thị trấn
Trên địa bàn huyện có 01 Cụm Công nghiệp, 03 điểm công nghiệp, 03 làng nghề Các điểm công nghiệp và các làng nghề, các đơn vị sản xuất kinh doanh đã lấp đầy Các làng nghề chủ yếu sản xuất kinh doanh đồ gỗ Điểm công nghiệp chủ yếu sản xuất, kinh doanh công nghiệp nhỏ Tốc độ tăng dân
số tự nhiên bình quân giai đoạn 2005 2010 đạt 1,85%/năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung trong 5 năm gần đây (20052010) tăng nhanh đạt 18,31% đặc biệt ngành Công nghiệp và xây dựng tăng rất cao đạt 24,33% Nhìn chung, Đan Phượng nằm trong vùng đất cổ, từ lâu đã có dấu hiệu con người sinh sống ở đây Trong quá trình phát triển, ngày nay huyện Đan Phượng đang trong quá trình CNHHĐH, ĐTH mạnh mẽ Vì vậy, vấn đề bảo tồn DSVH của vùng đất này đã trở lên cấp thiết hiện nay