1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý khu di tích lịch sử và danh thắng côn sơn kiếp bạc (tỉnh hải dương)

188 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 6,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện chương trình quốc gia về "Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam", ngày 22/2/1994, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Hưng nay là Hải Dương ra quyết định số 153/QĐ-UBND th

Trang 1

Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o Bé v¨n ho¸ , thÓ thao vÀ du lÞch

Tr−êng §¹i häc V¨n ho¸ Hμ Néi

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn, với tình cảm chân thành, tác giả xin trân trọng cảm ơn:

+ PGS – TS Trịnh Thị Minh Đức, người hướng dẫn khoa học;

+ Ông Nguyễn Khắc Minh, Trưởng Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc;

+ Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; các thầy giáo,

cô giáo tham gia quản lý và giảng dạy trong thời gian học tập tại trường;

+ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương;

+ Ban quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc;

+ Bảo tàng tỉnh Hải Dương;

+ Thư viện tỉnh Hải Dương;

+ Cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi thiếu sót, kính mong được góp

ý và chỉ dẫn

Côn Sơn, tháng 7 năm 2010

Tác giả

Phạm Khắc Cường

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……….… 03

MỞ ĐẦU……….04

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH CÔN SƠN – KIẾP BẠC; CƠ SỞ KHOA HỌC, PHÁP LÝ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ………… 12

1.1 Vài nét về thị xã Chí Linh……… 12

1.2 Tổng quan về khu di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc……… 15

1.2.1 Những di tích ở Côn Sơn……… 15

1.2.2 Những di tích ở Kiếp Bạc……… 27

1.2.3 Lễ hội Côn Sơn – Kiếp bạc……… 34

1.3 Những giá trị tiêu biểu của khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc……….38

1.4 Cơ sở khoa học và pháp lý cho công tác quản lý khu di tích……… 43

1.4.1 Cơ sở khoa học……… 43

1.4.2 Cơ sở pháp lý……….47

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DI TÍCH CÔN SƠN – KIẾP BẠC……….54

2.1 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Ban QLDT Côn Sơn - Kiếp Bạc……… 54

2.2 Thực trạng công tác quản lý khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc… 59

2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, trung hạn……… 59

2.2.2 Công tác tổ chức hoạt động văn hóa tín ngưỡng tại khu di tích……… 62

2.2.3 Tổ chức tuyên truyền, quảng bá giới thiệu về di tích………65

2.2.4 Tổ chức kiểm kê, bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo di tích……… 69

2.2.4.1 Công tác kiểm kê, bảo quản, tu bổ di tích……… 70

2.2.4.2 Công tác phục hồi, tôn tạo di tích………… 72

2.2.5 Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, hội thảo và tọa đàm tìm hiểu về…… 74

Trang 4

2.2.6 Chủ trì, phối hợp với địa phương quản lý di tích, tổ chức lễ hội…… 83

2.2.7 Bảo vệ trật tự an toàn xã hội……… 84

2.2.8 Tổ chức hoạt động dịch vụ và vệ sinh môi trường………86

2.2.9 Quản lý, tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức………….89

2.2.10 Huy động nguồn lực và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho bảo tồn… 91

2.2.11 Công tác thi đua khen thưởng, thanh kiểm tra và xử lý vi phạm 94

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DI TÍCH CÔN SƠN - KIẾP BẠC… 97

3.1 Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc……… 97

3.1.1 Ưu điểm……… 97

3.1.2 Hạn chế……… 98

3.1.3 Nguyên nhân……… 99

3.2 Định hướng phát triển của khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc… 100

3.2.1 Định hướng của Chính Phủ……… 100

3.2.2 Định hướng của UBND tỉnh Hải Dương……… 101

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và phát huy giá trị khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc……… 104

3.2.1 Giải pháp về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và công tác cán bộ … 104

3.2.2 Giải pháp về công tác phát triển toàn diện tại khu di tích…… 108

3.2.3 Giải pháp về tổ chức quản lý các hoạt động bảo tồn và phát huy… 112

3.2.4 Giải pháp về quy hoạch lại các dịch vụ phục vụ khách tham quan 115

3.2.5 Giải pháp phát triển hoạt động du lịch theo hướng bền vững… 117

3.2.6 Giải pháp thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm………119

KẾT LUẬN……… 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 127 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

VHTT&DL : Văn hóa thể thao và Du lịch

[37] : Xem tài liệu tham khảo số 37

[32, tr.12] : Xem tài liêu tham khảo số 32, trang 12 [79, T1, tr.667] : Xem tài liệu tham khảo số 79, tâp 1, trang 667

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… 04

MỞ ĐẦU………05

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH CÔN SƠN – KIẾP BẠC; CƠ SỞ KHOA HỌC, PHÁP LÝ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ……… 13

1.1 Vài nét về thị xã Chí Linh……… 13

1.2 Tổng quan về khu di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc……… 16

1.2.1 Những di tích ở Côn Sơn……… 16

1.2.2 Những di tích ở Kiếp Bạc……… 28

1.2.3 Lễ hội Côn Sơn – Kiếp bạc……… 34

1.3 Những giá trị tiêu biểu của khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc……….38

1.4 Cơ sở khoa học và pháp lý cho công tác quản lý khu di tích ……… 42

1.4.1 Cơ sở khoa học……… 42

1.4.2 Cơ sở pháp lý……….47

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DI TÍCH CÔN SƠN – KIẾP BẠC……….53

2.1 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Ban QLDT Côn Sơn - Kiếp Bạc……… 53

2.2 Thực trạng công tác quản lý khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc… 58

2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, trung hạn.58 2.2.2 Công tác tổ chức hoạt động văn hóa tín ngưỡng tại khu di tích… 61

2.2.3 Tổ chức tuyên truyền, quảng bá giới thiệu về di tích………64

2.2.4 Tổ chức kiểm kê, bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo di tích… 67

2.2.4.1 Công tác kiểm kê, bảo quản, tu bổ di tích………… 68

Trang 7

2.2.4.2 Công tác phục hồi, tôn tạo di tích………… 70

2.2.5 Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, hội thảo và tọa đàm tìm hiểu về 72 2.2.6 Chủ trì, phối hợp với địa phương quản lý di tích, tổ chức lễ hội81 2.2.7 Bảo vệ trật tự an toàn xã hội………82

2.2.8 Tổ chức hoạt động dịch vụ và vệ sinh môi trường………84

2.2.9 Quản lý, tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức….87 2.2.10 Huy động nguồn lực và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho bảo tồn…88 2.2.11 Công tác thi đua khen thưởng, thanh kiểm tra và xử lý vi phạm 91

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DI TÍCH CÔN SƠN - KIẾP BẠC… 94

3.1 Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc……… 94

3.1.1 Ưu điểm……… 94

3.1.2 Hạn chế……… 95

3.1.3 Nguyên nhân……… 96

3.2 Định hướng phát triển của khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc… 97

3.2.1 Định hướng của Chính Phủ……… 97

3.2.2 Định hướng của UBND tỉnh Hải Dương……… 98

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và phát huy giá trị khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc………101

3.2.1 Giải pháp về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và công tác cán bộ 96

3.2.2 Giải pháp về công tác phát triển toàn diện tại khu di tích…… 100

3.2.3 Giải pháp về tổ chức quản lý các hoạt động bảo tồn và phát huy 104

3.2.4 Giải pháp về quy hoạch lại các dịch vụ phục vụ khách tham quan 107

3.2.5 Giải pháp phát triển hoạt động du lịch theo hướng bền vững… 109

3.2.6 Giải pháp thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm……… 111

KẾT LUẬN……… 114

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 117 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

VHTT&DL : Văn hóa thể thao và Du lịch

[37] : Xem tài liệu tham khảo số 37

[32, tr.12] : Xem tài liêu tham khảo số 32, trang 12 [79, T1, tr.667] : Xem tài liệu tham khảo số 79, tâp 1, trang 667

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tỉnh Hải Dương, đặc biệt là vùng Chí Linh, nổi tiếng là nơi “tụ sơn hội thủy linh thiêng”, nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, nơi sinh thành và hun đúc nên nhiều bậc hiền tài, nơi tìm về và lập nên nghiệp lớn của nhiều danh nhân đất nước Vì vậy, cũng như vùng đất Kinh Bắc và xứ Đoài (Hà Tây), xứ Đông xưa - Hải Dương nay - lưu giữ rất nhiều di sản văn hóa đặc sắc Đây là gia tài hương hỏa của tổ tiên truyền lại, là vốn quý, nguồn nội lực to lớn của tỉnh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Giữ gìn, tu bổ và phát huy có hiệu quả di sản văn hóa này không chỉ là trách nhiệm, biểu hiện tình cảm thiêng liêng và sự trân trọng của chúng ta đối với lịch sử dân tộc, mà cũng là thái độ của chúng ta đối với quá trình phát triển, với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Côn Sơn - Kiếp Bạc là quần thể di tích lịch sử và danh thắng đặc biệt quan trọng của quốc gia Nơi đây gắn bó với cuộc đời, sự nghiệp của nhiều danh nhân nổi tiếng như: Anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn; ba vị Phật tổ của thiền phái phật giáo Trúc Lâm thời Trần: Đệ nhất tổ Hoàng đế Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông; đệ nhị tổ Pháp Loa; đệ tam tổ Huyền Quang; quan đại Tư đồ Trần Nguyên Đán; anh hùng dân tộc - danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi Cũng trên mảnh đất này, đã từng in dấu những kỷ niệm sâu sắc về Bác Hồ và các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta và nhiều bạn bè quốc tế Uy đức của họ đã góp phần hun đúc lên hồn thiêng sông núi, để lại tiếng vang muôn thuở Trải qua hơn 700 năm tồn tại, phát triển, Côn Sơn - Kiếp Bạc là một trong những trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng lớn của đất nước Vì vậy, đây là cái nôi sản sinh và hội tụ của nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của cư dân châu thổ Bắc bộ và các vùng miền trong cả nước

Trang 11

Ngay trong thời kỳ kháng chiến đánh giặc giữ nước gian khổ, khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đã được xếp hạng bảo vệ đợt đầu tiên (ngày 28 tháng 4 năm 1962) Năm 1992, được xác định là một trong những di tích đặc biệt

quan trọng quốc gia Để thực hiện chương trình quốc gia về "Bảo tồn và phát

huy các giá trị văn hóa Việt Nam", ngày 22/2/1994, Ủy ban Nhân dân tỉnh

Hải Hưng (nay là Hải Dương) ra quyết định số 153/QĐ-UBND thành lập Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin, đúng với tinh thần văn bản Pháp lệnh bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa của Nhà nước

Từ thực tế, có thể thấy là mô hình tỏ rõ ưu thế và phù hợp, chỉ sau mười năm, hoạt động của Ban quản lý di tích đã đi vào nề nếp và đạt hiệu quả khá khả quan Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phê duyệt nhiều dự án tu bổ và tôn tạo Côn Sơn - Kiếp Bạc Từ đó đến nay, nhờ tập trung đầu tư kinh phí, nhiều hạng mục công trình đã được hoàn thiện, các công trình đều bảo đảm kỹ thuật và mỹ thuật, do các hiệp thợ lành nghề thi công, thể hiện được truyền thống kiến trúc, điêu khắc tinh tế, uyển chuyển, hài hòa của dân tộc

Hàng năm, ở Côn Sơn - Kiếp Bạc có hai kỳ lễ hội lớn Tính theo lịch âm, mùa xuân chính hội từ 16 đến 22 tháng giêng (tưởng niệm ngày mất của đệ tam tổ Trúc Lâm - Huyền Quang tôn giả) Mùa thu, diễn ra từ 15 đến 20 tháng tám, tưởng niệm Nguyễn Trãi cùng gia quyến ông bị oan khuất trong vụ án Lệ Chi Viên, ngày 16 thánh 8 năm Nhâm Tuất (19/9/1442) và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn qua đời tại phủ đệ Vạn Kiếp ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (5/9/1300) Trong các ngày hội chính, có tới vài chục vạn người về

dự, trở thành truyền thống tốt đẹp đã được đúc kết trong câu ca: "Tháng Tám

giỗ cha " Việc mở hội, đón khách chiêm bái và nghiên cứu di tích có nghĩa

sâu sắc giáo dục ý thức vào đạo lý nhớ ơn những người có công với dân, với nước Tuy số lượng cán bộ, nhân viên không đông nhưng Ban quản lý di tích

Trang 12

đã tranh thủ sự hỗ trợ của các cơ quan hữu quan, tiến hành tổ chức lễ hội trang trọng, chu đáo và an toàn Đồng thời, sưu tầm, chỉnh lý, bổ sung và biên soạn, dịch thuật tài liệu, kết hợp khai quật khảo cổ học, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản sách, làm phim tư liệu, cung cấp thông tin phong phú và chuẩn xác hơn về Côn Sơn - Kiếp Bạc Tuy nhiên, ngoài những việc đã và đang làm được, công tác quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc hiện nay vẫn còn nhiều mặt hạn chế, cần phải có những giải pháp khắc phục nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích tốt hơn Chính vì vậy, nhận thức được tầm

quan trọng của công tác quản lý di tích đó, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý khu di

tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn – Kiếp Bạc (tỉnh Hải Dương)” làm luận

văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành quản lý văn hóa của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước tới nay, đã có nhiều công trình, bài viết về khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc Chúng tôi xin được khái quát tình hình nghiên cứu của các tác giả đi trước như sau:

2.1 Sách xuất bản, khóa luận tốt nghiệp đại học

Cuốn “Hải Dương di tích và danh thắng” [65] tập trung giới thiệu các

di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và như vậy khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cũng được giới thiệu trong cuốn sách này Nội dung cơ bản ở đây người viết giới thiệu những nét khái quát về địa danh, niên đại, nhân vật

được thờ, kiến trúc và một số cổ vật có giá trị tiêu biểu…“Địa chí Hải

Dương” [76], công trình này đã dành một chương giới thiệu một cách khái

quát về vùng đất, con người, đặc điểm kinh tế, văn hóa Chí Linh “Địa linh

nhân kiệt” Trong đó ở phần văn hóa có giới thiệu về khu di tích Côn Sơn -

Kiếp Bạc “Di sản Hán nôm Côn Sơn – Kiếp Bạc – Phượng Sơn” [7], giới

thiệu toàn bộ những giá trị về di sản hán nôm như nội dung văn bia, câu đối đại tự cũng như các tác phẩm hán nôm có liên quan đến của khu di tích Côn

Trang 13

Sơn - Kiếp Bạc và khu di tích Phượng Hoàng “Lịch sử đảng bộ huyện Chí

Linh” [4], cuốn cách này đã dành chương đầu để giới thiệu khái quát về đặc

điểm địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, văn hóa về vùng đất Chí linh “Khảo

sát văn bia chùa Côn Sơn” [53], đây là công trình tốt nghiệp đại học -

Những tư liệu trong văn bia chùa Côn Sơn đã cho biết khá chi tiết về lịch sử hình thành, thân thế và sự nghiệp của Trúc lâm tam tổ, các lần trung tu, tu bổ

di tích… “Di tích đền Kiếp Bạc” [46], khóa luận tốt nghiệp đại học ngành

bảo tàng Tác giả tập trung khai thác giá trị kiến trúc, điêu khắc, các di vật

cổ vật thuộc công trình, bài viết cho biết về niên đại của di tích, những lần trùng tu, tu bổ trong diễn trình lịch sử tồn tại của di tích Từ đánh giá thực trạng và hiện trạng kỹ thuật; bài khóa luận đã đưa ra các giải pháp bảo tồn, phát huy di tích đền Kiếp Bạc trong đời sống văn hóa cộng đồng

2.2 Tạp chí

Đã có nhiều tác giả quan tâm đến di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc; những bài báo khoa học của họ đã được đăng tải trên các tạp chí của trung ương và địa

phương: Tác giả Nguyễn Khắc Minh với bài viết: “Bảo vệ phát huy giá trị

văn hoá khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc” [45], đã đề cập đến nhiều vấn đề đạt

được trong quá trình quản lý như: Hoạt động bảo vệ, trùng tu tôn tạo di tích, hoạt động phối hợp với chính quyền địa phương trong quản lý di tích, hoạt động tổ chức lễ hội… Từ đó nêu nên được những ưu điểm và hạn chế trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc Bài viết đã xuất phát từ góc độ và nội dung quản lý được vận dụng vào trường hợp cụ thể mà ở đây là góc độ quản lý khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc Tác

giả Vũ Đức Thuỷ với bài: “Một vài suy nghĩ về công tác tổ chức lễ hội truyền

thống Côn Sơn - Kiếp Bạc” [74], bài viết đã nêu ra những đặc điểm của lễ hội

trên các mặt tổ chức, tuyên truyền, an ninh trật tự trong thời gian diễn ra lễ hội… Tuy nhiên, ở đây tác giả bàn về việc tổ chức lễ hội như thế nào? Những

Trang 14

mặt tốt và những hạn chế cần khắc phục từ góc độ quản lý di sản văn hóa phi vật thể… Chúng tôi quan tâm đến hai bài viết này vì đó là những kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình quản lý tại khu di tích Ông Tăng Bá Hoành với

bài báo: “Côn Sơn – Kiếp Bạc quá trình hình thành và phát triển” [38], từ góc

độ lịch sử tác giả đã giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc Trong đó tác giả đi sâu nghiên cứu thân thế và sự nghiệp của các nhân vật được thờ tại di tích Giáo sư Trần Quốc Vượng với bài viết:

“Đôi điều cảm nhận về khu di tích Kiếp Bạc” [87] đã nêu nên những nét đặc

trưng, tiêu biểu về vị trí, quá trình tồn tại và đời sống tâm linh thông qua khu

di tích Kiếp Bạc Giám đốc sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đặng Việt

Cường: “Vị thế của Côn Sơn – Kiếp Bạc trong hệ thống di tích tỉnh Đông”

[24] Ở đây tác giả đã nêu lên được những giá trị tiêu biểu như giá trị lịch sử, quân sự, kiến trúc, cảnh quan của khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc để so sánh với các di tích khác trong tỉnh Từ đó, tác giả đánh giá một cách khách quan

về vị trí, vai trò của khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc trong hệ thống di tích thuộc tỉnh Hải Dương

2.3 Hồ sơ khoa học, đề án, dự án về khu di tích

Để có căn cứ và cơ sở khoa học về giá trị của khu di tích này, đề xuất nhà nước xếp hạng cho khu di tích, Ban quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc đã khảo sát, nghiên cứu lập hồ sơ khoa học căn cứ theo những quy định của Cục

di sản văn hóa Năm 2006, lập 3 bộ hồ sơ: Hồ sơ khoa học khu di tích lịch sử Kiếp Bạc, hồ sơ khoa học khu di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn, hồ sơ khoa học khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc Lý lịch di tích đã nêu đầy đủ các nội dung từ lịch sử hình thành, quá trình tồn tại, nhân vật lưu niệm, tưởng niệm, giá trị lịch sử văn hóa và khoa học của khu di tích này Kèm theo lý lịch di tích còn

có các văn bản như: Khoanh vùng bảo vệ di tích, bản vẽ kỹ thuật mặt bằng và

Trang 15

kiến trúc di tích; ảnh chụp di tích… Hồ sơ khoa học đã xác định giá trị tiêu biểu cho khu di tích và xếp hạng cấp quốc gia cho 2 di tích này

Ngoài hồ sơ khoa học còn có các dự án quy hoạch tổng thể bảo tồn khu

di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc gắn với phát triển du lịch thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đến năm 2020; đề án lễ hội truyền thống Côn Sơn - Kiếp Bạc giai đoạn 2006 – 2010 của UBND tỉnh Hải Dương…

2.4 Kỷ yếu hội thảo khoa học

Những giá trị tiêu biểu của khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc được thể hiện trên nhiều mặt, nổi trội ở đây là gắn với anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, thiền phái Trúc Lâm và anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi Vì vậy, đã có những cuộc hội thảo nhằm tập trung những ý kiến của các nhà khoa học để xác định về giá trị, định hướng bảo tồn và phát huy khu di tích này được tốt hơn Những tài liệu hội thảo đã giúp cho tác giả luận văn trong quá trình triển khai đề tài

Kỷ yếu hội thảo xây dựng đền thờ Nguyễn Trãi; kỷ yếu hội thảo xây

dựng đền Trần Nguyên Đán; kỷ yếu hội thảo khoa học: “Bảo tồn và phát huy

di sản đệ tam tổ thiền phái Trúc Lâm Huyền Quang tôn giả và lễ hội Côn Sơn”; kỷ yếu hội thảo: “Bảo tồn lễ hội truyền thống Kiếp Bạc” (do UBND

tỉnh Hải Dương phối hợp với Viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật tổ chức)… Những tập hợp và phân tích trên cho thấy, mặc dù đã có nhiều công trình, bài báo nghiên cứu và viết về khu di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn – Kiếp Bạc nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nhìn nhận từ góc độ quản lý văn hóa Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, tìm kiếm tư liệu phục vụ cho luận văn, tác giả nhận thấy một số tài liệu, công trình nghiên cứu phù hợp với yêu cầu đề tài sẽ kế thừa để từng bước làm sáng tỏ thêm vai trò của công tác quản lý di tích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay

Trang 16

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

+ Nghiên cứu, đánh giá tổng quan về đặc trưng giá trị khu di tích lịch sử

và danh thắng Côn Sơn – Kiếp Bạc

+ Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản lý di tích lịch sử văn hóa

+ Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn – Kiếp Bạc, trên cơ sở nhận diện những ưu khuyết điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý di tích

+ Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý

di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các nội dung hoạt động quản lý khu di tích lịch sử

và danh thắng Côn Sơn – Kiếp Bạc Trong điều kiện có thể mở rộng đến các đối tượng quản lý khác để so sánh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn công tác quản lý di tích lịch sử

và danh thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc

+ Khu di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc nằm trên địa bàn 3

xã, phường: Cộng Hòa, Hưng Đạo và Lê Lợi, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương + Nghiên cứu khu di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc và hoạt động của ban quản lý di tích từ khi có Luật Di sản đến nay (2001 trở lại đây)

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Về mặt khoa học

+ Luận văn cung cấp một cái nhìn toàn diện về thực trạng công tác quản

lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc

+ Luận văn góp phần vào nguồn tài liệu tham khảo, làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu trong chuyên ngành Quản lý văn hóa

Trang 17

5.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc

6 Phương pháp nghiên cứu

+ Luận văn vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa để nhìn nhận, xem xét, đánh giá

các sự vật, hiện tượng trong quá trình nghiên cứu

+ Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, bảo tàng học, văn hóa học, giáo dục học, tâm lý học, xã hội học và vận dụng những lý luận của khoa học quản lý, quản lý di sản văn hóa

+ Phương pháp khảo sát thực tế tại khu di tích, áp dụng các kỹ năng phỏng vấn, thống kê, quan sát, miêu tả, ghi hình… Nghiên cứu thực trạng đồng thời thu thập, phân tích những tư liệu về khu di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc; cơ sở

khoa học và pháp lý cho công tác quản lý khu di tích

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý khu di

tích Côn Sơn - Kiếp Bạc

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH CÔN SƠN - KIẾP BẠC;

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DI TÍCH 1.1 Vài nét về thị xã Chí Linh

Chí Linh là thị xã ở phía đông bắc tỉnh Hải Dương, cách thành phố Hải Dương gần 40km, nằm giữa miền rừng núi phía Đông bắc Bắc Bộ và miền đồng bằng của châu thổ sông Hồng Địa giới hành chính của thị xã bao gồm: + Phía Bắc giáp huyện Lục Nam, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang + Phía Nam giáp các huyện Nam Sách, Kinh Môn, tỉnh Hải Dương + Phía Đông giáp huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

+ Phía Tây giáp huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

Chí Linh nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Là thị xã mới được thành lập ở nút giao thông quan trọng của tỉnh Hải Dương, thuộc địa bàn trọng điểm kinh tế phía Bắc Chí Linh có vị trí địa lý thuận lợi về kinh tế, có nhiều đường giao thông quan trọng chạy qua Quốc lộ

18 là đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long, chạy qua địa bàn thị xã 20km; quốc

lộ 183 nối Chí Linh với thành phố Hải Dương và quốc lộ 5 nối Chí Linh với thành phố Hải Phòng Đường 37 là đường vành đai chiến lược quốc gia từ trung tâm thị xã đi Bắc Giang Về đường thuỷ, thị xã có 40km đường sông với

3 con sông bao bọc là sông Kinh Thày, sông Thương, sông Đồng Mai, đó là những tuyến giao thông thuỷ thuận lợi giữa thị xã với các vùng lân cận

Từ xa xưa, Chí Linh đã trở thành địa bàn cửa ngõ giữa rừng núi Đông Bắc với đồng bằng Bắc Bộ, những đặc điểm riêng về địa lý đã tạo cho Chí Linh có vị trí chiến lược quân sự, kinh tế quan trọng Chí Linh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế nhất là kinh tế rừng Rừng Chí Linh có nhiều loại thực vật khác nhau, có nhiều loại gỗ quý như: Lát hoa, lim, sến,

Trang 19

táu, giổi, thông… nơi có nhiều thông nhất là Côn Sơn Thông vừa có giá trị kinh tế, vừa tạo nên cảnh đẹp cho di tích Côn Sơn lịch sử Ngoài ra, rừng Chí Linh còn có nhiều loại chim, thú quý như: Hươu, nai, hoẵng, tắc kè Từ xưa Chí Linh có nguồn cát (sa thạch) có giá trị lớn cho phát triển công nghiệp, tập trung nhiều nhất là ở hai địa phương Cổ Thành và Cộng Hoà Ven đường 18 thuộc khu vực phường Cộng Hoà có mỏ đất chịu lửa, khu vực Văn Đức có mỏ than Cổ Kênh được khai thác từ khi thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp khai thác mỗi năm trên mười năm vạn tấn [4]

Chí Linh có vị trí ở cửa ngõ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, địa bàn thị xã

có nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua, tạo nhiều cơ hội cho thị xã đón nhận đầu tư và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Bên cạnh đó với địa hình đa dạng, núi đồi, đồng bằng, sông ngòi

và cảnh quan thiên nhiên phong phú, khí hậu ôn hoà, nguồn nước dồi dào, môi trường trong lành là những lợi thế đáng kể để Chí Linh có thể chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong tương lai

Chí Linh là nơi “tụ sơn hội thuỷ” linh thiêng, có vị trí địa lý đặc biệt,

nằm án ngữ trên đường giao thông thuỷ, bộ từ biên giới phía bắc về Hà Nội, là nơi nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi của nền văn minh Sông Hồng, cận kề kinh thành Thăng Long, trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước, nền văn minh Sông Hồng, văn hoá Thăng Long trực tiếp tác động và kết tinh nhiều thành tựu rực rỡ trên mảnh đất này

Chí Linh là một vùng núi non kỳ thú, sơn thuỷ hữu tình, nhiều danh thắng đẹp nổi tiếng từ xưa: Trán Rồng, Kỳ Lân, Ngũ Nhạc, Phượng Hoàng… Đây là vùng đất lý tưởng để các bậc tiên hiền thấm nhuần lẽ xuất xử của đạo Nho lựa chọn Ở đây khi bất đắc chí, phải lui về, chỉ đi qua vài dốc núi, nhà nho đã vào đến chốn lâm tuyền, đã tìm được nơi vô cùng thanh tĩnh, yên ả để ở

Trang 20

ẩn, tránh thế tục, “lánh đục về trong” Khi cần ra tay giúp đời, chỉ một, hai khắc giờ đã kịp về với đồng bằng, với cuộc đời rộng lớn, thậm chí chỉ một, hai ngày đường bộ hoặc ngồi thuyền là đã về tới Thăng Long, hoặc dễ dàng, mau chóng tới những địa phương khác - nơi cuộc đời đang cần họ ra tay “trị quốc, bình thiên hạ” Có thể nói: Chí Linh là địa bàn thuận lợi cho các danh nhân, cả dụng văn và dụng võ, cả khi hành và khi chỉ, cả lúc xuất lẫn lúc xử Người Chí Linh

có truyền thống hiếu học, khao khát tri thức, tôn trọng nhân tài, giàu ân nghĩa với người có công với nước, luôn nhiệt tình chào đón và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhân tài đến Chí Linh sống và phấn đấu vì nghiệp lớn

Những điều kiện địa lý, lịch sử và con người nói trên là nguyên nhân làm cho Chí Linh trở thành nơi sinh thành, hun đúc nên nhiều bậc hiền tài, nơi tìm

về và lập nên nghiệp lớn của nhiều bậc danh nhân đất nước Không phải ngẫu nhiên mà Trần Hưng Đạo – Anh hùng dân tộc, vị tướng tài kiệt xuất thế giới; Nguyễn Trãi – Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, Chu Văn An - Người thầy tiêu biểu mẫu mực của muôn đời, đó là những nhân vật vĩ đại bậc nhất của đất nước đã tìm về và gắn bó máu thịt với đất Chí Linh Cuộc đời, sự nghiệp của các nhân vật lịch sử cùng quá trình lao động sáng tạo của đông đảo nhân dân qua nhiều thế hệ đã làm cho Chí Linh - “đất học”, “đất danh nhân”,

“đất văn hiến” - xây dựng được nhiều truyền thống quý báu, để lại một kho tàng lịch sử - văn hoá phong phú, đa dạng và độc đáo Đó là khối lượng lớn di sản văn hoá vật thể và phi vật thể rất giá trị, với 9 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, trong đó Côn Sơn - Kiếp Bạc là hai di tích được xếp hạng đặc biệt quan trọng của quốc gia Hệ thống di tích lịch sử và các lễ hội truyền thống đã làm cho Chí Linh trở thành một vùng đất lịch sử - văn hoá đặc biệt hấp dẫn Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, vùng đất Chí Linh đã in dấu ấn đậm nét các nhân vật lịch sử vĩ đại của dân tộc trong hàng loạt di tích, gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, đặc biệt là dưới các

Trang 21

triều đại Trần - Lê - Mạc (từ thế kỷ XIII – XVII) Với đạo lý uống nước nhớ nguồn, giàu ân nghĩa với những người có công nên nhiều thế kỷ trôi qua các nhân vật lịch sử ấy vẫn có vai trò, vị trí to lớn trong đời sống tâm linh của nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

1.2 Tổng quan về khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc

1.2.1 Những di tích ở Côn Sơn

Khu di tích Côn Sơn có hai dãy núi Kỳ Lân và Ngũ Nhạc, chùa Côn Sơn, Bàn Cờ Tiên, Thạch Bàn, giếng Ngọc, am Bạch Vân, đền Nguyễn Trãi, động Thanh Hư, cầu Thấu Ngọc, Ngũ Nhạc linh từ

* Chùa Côn Sơn

Chùa Côn Sơn nhìn về hướng Đông Nam, tên chữ là “Thiên Tư Phúc tự”, nghĩa là ngôi chùa được trời ban phúc lành, thời Trần thuộc xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn, nay thuộc phường Cộng Hoà, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đây là nơi tụ hội linh khí của trời đất để ban phát cho dân lành, nhất

là cho chúng sinh có phật quả Nhân dân thường gọi là chùa Hun, với ý nghĩa như sau: Theo sự tích truyền lại thì Côn Sơn xưa rừng rậm um tùm, dân trong vùng thường vào rừng đốt củi lấy than, khói bụi mù mịt cả vùng lên được gọi

là núi Hun Một thuyết khác lưu truyền rằng, vào thế kỷ thứ X, trong quá trình thống nhất quốc gia, Đinh Bộ Lĩnh đã sai tướng Nguyễn Bặc dùng kế hoả công vây bắt sứ quân Phạm Phòng Át (tức Phạm Bạch Hổ) làm cả vùng núi

Côn Sơn khói mù mịt nên gọi là núi Hun và tên chùa được gọi theo tên núi

Côn Sơn là nơi "tôn quý của trời đất", đất thiêng đạt được quy chuẩn đối đãi âm dương, về cảnh sắc thì "gió hoà tươi tốt" đẹp tựa chốn bồng lai Nên Côn Sơn đã thu hút nhiều bậc cao tăng về đây để hoằng dương phật pháp, là nơi di dưỡng tinh thần của bao bậc quân vương hiền triết, các tao nhân mặc khách và muôn vàn kẻ sĩ của mọi triều đại Trong đó tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Nguyên Đán, Chu

Trang 22

Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, các chúa Trịnh, chúa Nguyễn… Đều về đây tu tâm dưỡng tính và suy ngẫm, học cách ứng xử, phép trị nước của các bậc tiền nhân Theo các thư tịch cổ còn lưu giữ lại di tích và một

số truyền thuyết thì chùa Côn Sơn được xây dựng từ thế kỷ X Đến thế kỷ XIV, Côn Sơn đã là chốn danh lam cổ tích, nơi có 3 vị tam tổ Trúc Lâm thường về đây tu hành thuyết pháp lập tăng viện Kỳ Lân, đã trở thành một trong những trung tâm phật giáo nổi tiếng của thiền phái Trúc Lâm Việt Nam:

"Côn Sơn, Yên Tử, Quỳnh Lâm; Vĩnh Nghiêm chưa đến thiền tâm chưa đành"

Mục đích thống nhất 3 tôn giáo: Phật - Nho - Lão, trong mô hình tam giáo đồng nguyên Nhằm quy tụ nhân tâm trong xã hội lấy thần quyền phục vụ cho vương quyền, góp phần củng cố sự thịnh trị của đất nước Thiền sư Huyền Quang (1254 - 1334) - Trúc Lâm đệ tam tổ đã về trụ trì chùa Côn Sơn Tại đây ông đã tôn tạo mở rộng chùa Côn Sơn, xây dựng nơi đây thành tăng viện đào tạo tăng ni, giảng kinh thuyết pháp, lập đài cửu phẩm liên hoa có 385 pho tượng… xây dựng Côn Sơn thành một nơi chốn tổ quốc tự được xếp vào hàng đại già lam Ngày 23 tháng Giêng năm 1334, sư tổ Huyền Quang viên tịch, thương tiếc vị quốc sư mẫu mực, đức vua Trần Minh Tông đã về Côn Sơn ban tước hiệu và tiền vàng để xây "Đăng Minh bảo tháp" Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo của thời Trần còn lưu lại Ngày giỗ tổ Huyền Quang từ nhiều thế kỷ qua nhân dân và phật tử thập phương nô nức trảy hội, trở thành ngày hội truyền thống, là nét văn hoá đặc sắc của chùa Côn Sơn

Từ thế kỷ XIV, chùa đã cơ bản hoàn chỉnh hệ thống các công trình tôn giáo như đã từng tồn tại trong lịch sử phát triển Kiến trúc chính của chùa là nội công ngoại quốc, quy mô di tích khá lớn với đầy đủ các công trình kiến trúc đồ sộ và hoành tráng từ hồ Bán Nguyệt lên đến đỉnh núi Côn Sơn và núi Ngũ Nhạc như: Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, 2 dãy tiền hành lang và hậu hành lang, cửu phẩm liên hoa, các toà tháp, am Bạch Vân, Ngũ Nhạc năm cung… Đây là

Trang 23

kết quả sự quan tâm của Nhà nước và công đức tiền của lớn lao của nhân dân, trong đó có các vương hầu, quý tộc như vua: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông Trải qua thăng trầm của lịch sử, ngày nay chùa Côn Sơn vẫn còn dấu ấn kiến trúc thế kỷ XIV, XVII, XVIII, XIX, vẫn tầng tầng lớp lớp theo lối cung đình:

Hồ Bán Nguyệt, sân đá, tam quan ngoại, gác chuông, phật điện, tổ đường, hậu hành lang… Hệ thống tượng thờ khá phong phú biểu hiện thế giới phật giáo thu nhỏ với ý nghĩa triết lý nhân sinh, giáo dục hướng thiện khai tâm cho chúng sinh Đặc biệt trên thượng điện chùa Côn Sơn có 3 pho tượng tam thế được đánh giá là 3 pho tượng cổ, quý hiếm vào loại bậc nhất của nước ta có niên đại thế kỷ XVII, pho tượng A Di Đà cao 258cm, toạ thiền trên toà sen cao 60cm càng tăng thêm vẻ bề thế, uy nghi nơi phật điện Hiện chùa còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú: Hệ thống văn bia từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX Đặc biệt tấm bia tạo thời Long Khánh

có bút tích của vua Trần Duệ Tông và Trần Nghệ Tông, tấm bia "Côn Sơn tư phúc tự bi" hình lục lăng tạo thời hậu Lê đã được Bác Hồ đọc khi Người về thăm di tích (15/2/1965), hệ thống tảng kê chân cột thế kỷ XIV, tháp Đăng Minh thế kỷ XIV, hệ thống các đôi câu đối, hoành phi của nhiều triều đại:

"Tứ Hải Trạng Nguyên", dịch nghĩa: Bốn biển trạng nguyên

"Đông thổ tâm tông truyền pháp hải

Tây càn diệu chỉ hiển Côn Sơn"

(Đông thổ tâm tông truyền phật pháp, Tây trúc diệu chỉ hiển Côn Sơn) [7]

Ngoài ra, còn các bộ sách kinh phật, bộ cúng đàn Mông Sơn Thí Thực, bùa chú của Huyền Quang, hệ thống phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi Những hiện vật khảo cổ học được khai quật năm 1979, 2000, 2005 và năm 2006 tại khu vực chùa Côn Sơn: Ngói mũi hài kép, bình, lọ, bát, đĩa, đặc biệt đầu đao bằng đất nung có

Trang 24

niên đại thế kỷ XIV, XVII Những hiện vật ấy đã minh chứng một thời vàng son của chùa Côn Sơn trong hào khí văn hoá Đông A của quốc gia Đại Việt

Năm 1962, thực hiện Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về việc bảo vệ các di sản văn hoá dân tộc, khu di tích Côn Sơn được xếp hạng là di tích lịch

sử văn hoá Quốc gia Đến năm 1992, Côn Sơn với ý nghĩa là một trong những nơi Quốc tự lâu đời nhất trong lịch sử phật giáo Việt Nam gắn với những danh nhân văn hoá nổi tiếng của đất nước, đồng thời là một khu du lịch nghỉ mát lý tưởng Khu di tích Côn Sơn được xếp hạng là di tích lịch sử - danh thắng đặc biệt quan trọng quốc gia Ngày nay Côn Sơn được Đảng, Nhà nước

và nhân dân quan tâm đầu tư tôn tạo và bảo vệ Thực hiện Nghị quyết TW 5 khoá 8 về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, văn hoá là nền tảng cho một xã hội phát triển bền vững Giá trị văn hoá tâm linh, cảnh quan thiên nhiên cùng các công trình kiến trúc cổ của Côn Sơn là di sản văn hoá vật thể, phi vật thể quý báu, là tài sản vô giá của đất nước Chùa Côn Sơn ngót ngàn năm tồn tại và phát triển, lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, tư tưởng, văn hoá, nghệ thuật… của mọi thời đại

Ở các triều đại phong kiến: Trần, Lê, Nguyễn, chùa Côn Sơn luôn là Quốc tự; là 1 trong 3 trung tâm phật giáo lớn của đất nước Đến nay chùa Côn Sơn không những còn nguyên giá trị văn hoá tâm linh từ ngàn xưa, mà còn là nơi giáo dục truyền thống yêu nước hướng về cội nguồn của dân tộc Bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị lịch sử văn hoá của khu di tích Côn Sơn trong công cuộc đổi mới, mở rộng giao lưu quốc tế là việc làm có ý nghĩa chiến lược, cấp thiết được Đảng và Nhà nước quan tâm

* Đền Thanh Hư

Đền Thanh Hư thờ Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán thuộc quần thể di tích Côn Sơn Trần Nguyên Đán (1325 - 1390) hiệu là “Băng Hồ”, con của Uy Túc hầu Trần Văn Bích - chắt của thượng tướng thái sư Trần Quang Khải,

Trang 25

quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường Nay là xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Trần Nguyên Đán thuộc họ tôn thất, nên từ sớm được bổ nhiệm làm quan theo quy chế tập chức Cuộc đời, sự nghiệp của ông gắn với công cuộc củng cố, xây dựng vương triều nhà Trần nửa cuối thế kỉ XIV

Hơn 30 năm làm quan, Trần Nguyên Đán là tướng quốc của ba triều vua: Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông Năm 1369, ông có công dẹp loạn Dương Nhật Lễ, giành lại vương triều Trần, lập Trần Phủ lên ngôi vua (Trần Nghệ Tông) được phong chức Tư đồ phụ chính, tước Chương túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán có nhiều công đóng góp trên các lĩnh vực văn hoá, tư tưởng, khoa học… Ông để lại nhiều trước tác như: “Băng Hồ ngọc hác thi tập”,

“Bách Thế thông khảo”, đến nay còn 51 bài thơ chép trong “Toàn Việt thi lục” Cuối thế kỷ XIV, triều Trần xuy vong, báo trước sự sụp đổ không còn xa nữa, tư đồ Trần Nguyên Đán xin với 2 vua (Nghệ Tông, Duệ Tông) về trí sĩ ở Côn Sơn Lý do ông chọn Côn Sơn về trí sĩ, có lẽ không chỉ Côn Sơn cảnh đẹp "núi xanh muôn lớp như bức bình phong vẽ" (Chu Văn An), một "danh lam nơi đất Bắc, tiêu biểu của trời Nam" (bia Bảo Thái thứ 3 (1721)) mà còn là một trong 3 chốn tổ của dòng thiền Trúc Lâm do chính tổ nội của ông khởi dựng Chính vì vậy trước khi về cáo lão ở Côn Sơn, ông đã cho gia nhân về xây dựng

khu động phủ ở sườn núi Côn Sơn: “Một tiếng trống vang, muôn người xúm lại,

phạt bụi san đồi, thế là suối nguồn được gạn trong, cỏ rác được dọn sạch, phu thợ đủ các nghề, xây đắp không nghỉ Chưa đầy một tháng mà việc dựng cột xây tường đều xong”[7] Trong động Thanh Hư, ông cho trồng trúc "Thanh Hư đầy

động hàng ngàn trúc" (Nguyễn Trãi), trên núi trồng thông Truyền thuyết "Ông thông, bà giễ" còn lưu lại đến bây giờ Ông muốn tạo dựng động Thanh Hư

thành một miền đất thánh thiện: “Khói ngàn ráng đỏ như gấm cuốn, như lụa

giăng, cỏ rừng, hoa suối hoặc mầu biếc đung đưa, hoặc mầu hồng rực rỡ Cảnh mát dịu trong lành, thơm đến muốn nuốt, xinh đến muốn ăn” [7]

Trang 26

Thanh Hư động của Tư đồ bao gồm các công trình "nghỉ ngơi, chơi ngắm"

ở sườn núi Côn Sơn rộng trên 2000m2: “khu động vây bọc những cảnh kỳ lạ và

đẹp đẽ, các nơi nghỉ ngơi chơi ngắm đều được đặt tên riêng, nhưng tất cả khu đó được gọi chung là Thanh Hư động” [7] Dưới núi có cầu Thấu Ngọc bắc qua

suối Côn Sơn Nguyễn Trãi khi về ẩn ở Côn Sơn thường thưởng trà trên cầu Thấu Ngọc: "Đình Thấu Ngọc tiên xanh, tuyết nhũ" Kiến trúc cây cầu theo kiểu

"thượng gia, hạ kiều" và Thấu Ngọc kiều còn tồn tại mãi đến thế kỷ XIX Động dựng xong, vua Trần Duệ Tông tặng 3 chữ ngự bút lớn Thanh Hư động tạc ở mặt bia, Thượng hoàng Nghệ Tông tự chế bài minh khắc vào lưng bia

Năm 1385, Đại Tư đồ cùng với gia đình và cháu ngoại là Nguyễn Trãi về sống ở Côn Sơn Trong 5 năm (1385 - 1390) ở Côn Sơn ngoài việc vân du sơn thuỷ, suy ngẫm về lẽ mầu nhiệm của đạo Thiền, ông còn có công dạy cháu ngoại những bài học làm người Những bài học đầu tiên ấy ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi Nhiều thế kỷ qua, Thanh Hư động chỉ còn là một khu phế tích, nhưng địa danh Thanh Hư động vẫn hấp dẫn tín đồ, du khách thập phương "Ôn cố tri tân", ngày 02 tháng 6 năm 2004, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương ra Quyết định số 2138/QĐ-UBND về việc phê duyệt thiết kế kỹ thuật và dự toán công trình xây dựng đền tại động Thanh Hư, thờ Trần Nguyên Đán [63] Sau hơn 2 năm xây dựng, ngôi đền khánh thành vào ngày 16 tháng giêng năm 2006 Đường lên đền quanh co, khúc khuỷu được lát bằng đá quý Nghi môn kết cấu tứ trụ, hai trụ chính đăng đối với nhau qua đường thần đạo vào đền Đền chính kiến trúc kiểu chữ đinh, gồm bái đường và hậu cung Kiến trúc bái đường theo kiểu 2 tầng 8 mái, lợp ngói vẩy cá Chính giữa bờ nóc là hình hổ phù đội mặt trời bốc lửa Đầu bờ nóc đắp con kìm hiện thân của con ly Đầu đao tầng mái trên đắp rồng, mây, lá hoá rồng Tầng mái dưới đắp đao tứ linh trong dáng đàm

ấm, biểu hiện sự trường tồn âm dương hoà hợp

Trang 27

* Di tích miếu Ngũ Nhạc

Miếu được xây dựng trên năm đỉnh núi Ngũ Nhạc thuộc thôn An Mô, xã

Lê Lợi, thị xã Chí Linh Núi có chiều dài 4390m đỉnh cao nhất là 238m Trải qua bao năm tháng cùng sự phá hoại của thời gian, mưa nắng, những miếu thờ trên đỉnh Ngũ Nhạc chỉ còn là những ban thờ lộ thiên kiến trúc đơn sơ bằng

đá trát vữa vôi có hình chữ nhật với chiều dài 3m rộng 2m cao 1m Đây thực

sự là những di tích quý giá cần được khôi phục Sau hơn một năm thi công, ngày 16 tháng giêng năm Bính Tuất (tức ngày 13/2/2006) lễ khánh thành năm miếu thờ trên núi Ngũ Nhạc cùng hệ thống đường bộ hành lên núi đã được tổ chức Các ngôi miếu đều quay về hướng Nam - nơi có hồ Côn Sơn quanh năm nước biếc Công trình được thiết kế, thi công khá công phu Tuy địa hình núi dốc, hiểm trở nhưng đã đạt cả yêu cầu về kỹ, mỹ thuật và phù hợp với cảnh quan môi trường Đường bộ hành lên núi dài 1,8km được lát hoàn toàn bằng đá xanh Thanh Hoá, con đường ẩn mình dưới rừng thông khép tán xanh tươi

Di tích miếu Ngũ Nhạc là công trình phục hồi, tôn tạo đồng bộ từ đường

bộ hành đến kiến trúc các ngôi miếu Ở mỗi ngôi miếu đều có những mảng chạm khắc đạt trình độ nghệ thuật Thông qua quy mô công trình giúp ta hiểu thêm kiến trúc truyền thống, sự tinh tế trong trang trí, hợp lý trong kết cấu Các ngôi miếu thờ Thần Năm Phương trên đỉnh núi Ngũ Nhạc đã tạo thêm những nét văn hoá tâm linh độc đáo làm hài lòng du khách thập phương đến chiêm bái khu di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng nổi tiếng Côn Sơn - Kiếp Bạc

* Bãi Giễ

Bãi giễ nằm ở phía Nam chân núi Côn Sơn diện tích khoảng 15ha Cây giễ

cứ héo rồi lại xanh tiếp nhau phủ kín diện tích rộng lớn ấy, năm này qua năm khác mà chẳng ai phải mất công chăm sóc Các bậc bô lão trong vùng không biết bãi giễ có tự bao giờ, chỉ biết là lớn lên đã thấy bãi giễ xanh tốt mênh mông cả một vùng Theo truyền thuyết của nhân dân địa phương sau khi cáo quan về

Trang 28

trí sĩ ở Côn Sơn, Tư đồ Trần Nguyên Đán đã trồng rất nhiều thông ở trên núi Côn Sơn Sau này cây lớn tạo thành rừng thông đại ngàn Vợ ông thì cấy giễ, đem màu xanh cây thanh hao phủ lên khắp vùng đất hoang ở dưới chân núi Côn Sơn Đời này qua đời khác, cây giễ mọc lan, phát triển thành bãi giễ này Vì thế cây thông, cây giễ đã gắn liền với đất Côn Sơn trong câu nói cửa

miệng từ ngày xưa “ông trồng thông, bà cấy giễ”

* Giếng Ngọc

Dưới chân tháp tổ Huyền Quang là giếng Ngọc, nước trong vắt mát lạnh Người xưa cho rằng, giếng Ngọc là huyệt mạch của núi Côn Sơn, là mắt của con

Kỳ Lân Tương truyền, đêm rằm tháng bảy, sư tổ Huyền Quang mơ thấy vị thần

dẫn đi về phía sau chùa chỉ cho viên ngọc sáng lấp lánh dưới chân núi

Khi nhà sư cúi xuống xem thì chuông chùa vang lên làm Ngài tỉnh giấc Ngẫm lại giấc mơ, thiền sư cùng sư tăng lên xem, khi phát quang bụi rậm thấy hiện ra dòng nước Nhà sư uống thử thấy nước mát ngọt bèn cho khơi sâu, kè đá thành giếng Nước giếng bốn mùa đầy, xanh trong nhìn thấu đáy Sư tổ Huyền Quang đặt tên là giếng Ngọc Nước giếng Ngọc được dùng làm nước cúng và làm lễ mộc dục (tắm tượng) tại chùa Côn Sơn Dân gian truyền rằng nước giếng Ngọc thanh trong tẩy sạch bụi trần, ban phúc lành cho mọi chúng sinh Bởi vậy, du khách khi đến Côn Sơn đều không quên lên thăm giếng Ngọc, lấy nước để uống cho vơi đi mọi nỗi phiền muộn và hy vọng dòng nước sẽ mang đến cho bản thân sức khoẻ dồi dào Năm 1995, giếng Ngọc được tôn tạo lại, thành giếng kè đá hộc, hai bên đắp sư tử nằm phủ phục canh giữ “viên ngọc quý”, mãi long lanh toả khí thiêng bao trùm trời đất

* Suối Côn Sơn

Suối bắt nguồn bởi 2 dãy núi Côn Sơn và Ngũ Nhạc, dài khoảng 3km uốn lượn tạo nhiều ghềnh thác kế tiếp nhau rồi đổ ra hồ Côn Sơn Dòng suối

Trang 29

hẹp, cây cối um tùm mang dáng vẻ hoang sơ, thơ mộng Suối Côn Sơn đã đi

vào thơ ca Nguyễn Trãi: “Côn Sơn suối chảy rì rầm; Ta nghe như tiếng đàn

- Thạch Bàn lớn: rộng khoảng 200m2 về phía thượng nguồn được gọi là

"Hòn đá năm gian" Nơi xưa, Nguyễn Trãi thường ngồi ngắm cảnh, làm thơ

và suy tư việc nước Trong những năm tháng theo Lê Lợi đánh giặc Nguyễn

Trãi thường mơ trở về Côn Sơn, gối đầu trên đá mà ngủ: “Bao giờ dưới núi

mây về ở; Nước suối chè xanh, ngủ Thạch bàn” [77].

Suối xưa có cầu Thấu Ngọc bắc qua, được các sử gia và thi nhân ca ngợi như một công trình tuyệt mỹ Đến thế kỷ XIX, cầu Thấu Ngọc vẫn còn và động Thanh

Hư vẫn là một cảnh quan kỳ thú Cao Bá Quát đến thăm Côn Sơn, cảm xúc viết:

“Thấu Ngọc kiều biên dã hoa tiêu; Thanh Hư động ký văn đê điểu” (Bên cầu Thấu Ngọc hoa rừng tươi tốt; Trong động Thanh Hư chim hót ríu rít) [7]

* Bàn Cờ Tiên

Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, từ lâu nhân dân trong vùng đã gọi

là Bàn Cờ Tiên Tương truyền ở đây có nền của am Bạch Vân, một kiến trúc cổ được xây dựng từ thế kỷ XIV nhà Trần, thời Trúc Lâm đệ tam tổ Huyền Quang tu hành ở chùa Côn Sơn Am Bạch Vân là nơi các vị cao tăng thường lên đây tu luyện, hoặc giảng kinh, thuyết pháp cho các môn đệ Truyền thuyết kể về tên gọi Bàn cờ tiên như sau: Vào một chiều thu, có một số danh nhân vùng Kinh Bắc về

Trang 30

thăm Côn Sơn Sau khi thắp hương, làm lễ, vãng cảnh, các vị nghỉ tại chùa để ngày mai lên núi uống rượu đánh cờ Sáng sớm hôm sau, núi rừng Côn Sơn được mây trắng bao phủ, các danh nhân lần theo lối mòn trong mây mù lên núi, tới gần đỉnh núi, nghe có tiếng cười nói, các vị cho rằng đêm qua có người nghỉ tại am Khi đến nơi mọi người đều ngạc nhiên thấy trong am không một bóng người, chỉ thấy một bàn cờ đang đánh dở, suy ngẫm hồi lâu các vị cho rằng trên đỉnh núi Côn Sơn đêm qua trời đất nối liền bằng mây mù, sương phủ, các tiên ông trên trời đã cưỡi mây xuống đánh cờ, thấy có người đến, các tiên ông bay về trời để lại bàn cờ đang đánh dở, từ đó đỉnh núi Côn Sơn có tên gọi là Bàn cờ tiên

Hiện nay, trên am Bạch Vân có dựng một nhà bia theo kiểu vọng lâu, hai tầng tám mái cổ kính Đứng ở đây, nhìn về hướng tây, ta thấy rõ cả một vùng sông nước, đẹp như bức tranh thuỷ mặc Những năm gần đây, để mở rộng không gian du lịch, phục vụ khách về tham quan và dự lễ hội Côn Sơn, Nhà nước đã cho tu sửa con đường cũ với hơn 700 bậc đá từ chân núi Kỳ Lân, sau chùa Côn Sơn lên tới Bàn cờ tiên Ngoài ra, còn cho xây dựng con đường bậc đá thứ hai từ sau tháp Huyền Quang, men theo ven suối Côn Sơn, qua các điểm di tích: Đền Nguyễn Trãi, động Thanh Hư, Thạch bàn, nền nhà Nguyễn Trãi… rồi tiếp nối vào con đường cũ lên tới “Bàn cờ tiên”

Ai đã từng một lần đến Côn Sơn mà chưa đến “Bàn cờ tiên” để thưởng thức những phút giây yên tĩnh, thư thái của tâm hồn, để nghe thông reo, gió hát, để ngắm toàn bộ phong cảnh Côn Sơn đẹp đến huyền ảo, mê lòng, thì khi

ra về sẽ vô cùng nuối tiếc “Bàn cờ tiên” với thắng cảnh Côn Sơn mãi mãi là cảnh đẹp, di tích lịch sử đậm nét trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam [75]

* Đăng Minh Bảo Tháp

Sau khi Sư tổ Huyền Quang viên tịch tại chùa Côn Sơn (1334), Vua Trần Minh Tông cúng dường 10 lạng vàng xây tháp cho thiền sư, lấy tên là Đăng Minh bảo tháp, đặc phong tự pháp Huyền Quang tôn giả Trải qua thời gian

Trang 31

tháp đã bị huỷ hoại Năm Kỷ Hợi (1719), nhà sư Hải Ấn xây dựng lại Đăng Minh bảo tháp “… Một sớm khởi công, muôn người xúm lại, thay gạch ngói

cổ bằng đá quý đẹp hơn” Đăng Minh bảo tháp gồm 3 tầng cao khoảng 5m được ghép bởi những phiến đá xanh, lên cao tháp thu nhỏ dần Tầng giữa khắc nổi bốn chữ hán Đăng Minh bảo tháp, mặt sau khắc bài minh ca ngợi sư

tổ Huyền Quang Trong lòng tháp đặt tượng Huyền Quang bằng đá ngồi kiết già, tay kết ấn tam muội (hiện pho tượng đã được chuyển về tổ đường chùa Côn Sơn) Đăng Minh bảo tháp với dáng đậm, chắc, thế vững chãi uy nghi trong không gian bao la giữa đại ngàn Côn Sơn

* Nền nhà Nguyễn Trãi

Phía sau công trình đền thờ Trần Nguyên Đán 200m, là dấu tích nền nhà

cũ của Anh hùng dân tộc - danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi Nơi đây, gần 600 năm trước (từ năm 1435 - 1442) Nguyễn Trãi đã về đây nương theo sườn núi, lấy cây rừng đá núi dựng nên nếp nhà đơn sơ nhưng ấp ủ trong đó là một con người có tâm hồn, nhân cách, tài năng vĩ đại Hiện nay, dấu tích ngôi nhà xưa chỉ còn lại nền nhà bằng phẳng dài 17m rộng 7m nằm bên cạnh Thạch Bàn Di tích này đã được Bảo tàng Hải Hưng phát hiện từ năm 1979 Ngày 1/9/1996, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh về thăm Côn Sơn đã căn dặn cán bộ và nhân dân Hải Dương: Côn Sơn là một di tích văn hoá quí giá vào hàng bậc nhất của Việt Nam cần được giữ gìn, tôn tạo

để giáo dục muôn đời các thế hệ người Việt Nam Cần khôi phục ngôi nhà của

cụ Nguyễn Trãi và trồng cây xanh xung quanh khu nhà để làm nơi tưởng niệm nhà văn hoá thế giới, vị anh hùng dân tộc của Việt Nam ta

* Đền thờ Nguyễn Trãi

Đây là công trình xây dựng để tưởng niệm anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi Đã từ lâu, trong tâm trí người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, nói đến Côn Sơn là mọi người nghĩ ngay tới Nguyễn Trãi, và

Trang 32

ngược lại nói đến Nguyễn Trãi là mọi người nghĩ tới Côn Sơn Vậy nên, khách thập phương ai cũng ngỡ ngàng khi đặt chân tới mảnh đất này, được sống với bao kỷ niệm về Nguyễn Trãi, nhưng chưa có một ngôi đền thờ ông để dâng hương tưởng niệm Vì thế, xây dựng đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn đã trở thành ước nguyện của nhân dân bao năm nay Từ những điều trăn trở ấy, với lòng ngưỡng mộ và thái độ tôn vinh đối với bậc hiền tài Ngày 14/12/2000, UBND tỉnh Hải Dương đã quyết định khởi công xây dựng đền thờ Nguyễn Trãi tại Côn Sơn với tên gọi Ức Trai linh từ

Đền thờ Ức Trai được xây dựng trên diện tích 10.000m2 chia cắt bằng năm cung bậc cao thấp trải dài kế tiếp nhau Bên phải là rừng đại ngàn thông mã vĩ, sim mua, là thung lũng ngập tràn keo tai tượng Bên trái là đại danh lam cổ tự Côn Sơn Cả con đường nằm lọt giữa bạt ngàn màu xanh của thiên nhiên Côn Sơn Sau đoạn đường dài 300m, là tới Nghi môn ngoại kiến trúc theo lối thạch

thiên trụ sừng sững, uy nghiêm “Thiên trụ y nhiên đối trĩ Phượng Sơn tiêu thắng

cảnh Thần từ trác nhĩ trường lưu lục thuỷ chí danh lam” (Trụ đá vững vàng đối Phượng Sơn ngời thắng cảnh, Đền thần vòi vọi uốn lượn Lục Đầu tỏ danh lam)

[7] Thạch thiên trụ với những trạm khắc kiến trúc hoa lá, hán tự tinh xảo Ngoài cảm nhận về vẻ đẹp chung, ta còn cảm nhận được cả tâm hồn nghệ nhân tỏa ra rồi tụ lại trong từng đường nét, chi tiết kiến trúc Nghi môn ngoại trong khoảng sân đá 700m2 có tường bao trạm khắc hoa văn sóng nước thời Lê Đó là cầu đá Thấu Ngọc vào đền, cầu dài 17,6m, rộng 6,4m và trụ cầu cao gần 4m vươn mình qua suối Côn Sơn Thành cầu được chạm khắc theo dạng thức hình sóng nước, xen lẫn mô típ tứ bình, tứ quý Cây cầu vừa tạo ra một cảm giác vững chắc mà thanh thoát Trên cung bậc thứ hai, Nghi môn nội được xây dựng theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái Các mảng chạm khắc trên cánh cửa, trên bức cốn, đầu dư biểu trưng linh vật sống động Tiếp lên cung bậc thứ ba là hai nhà bia nói

về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Trãi và quá trình xây dựng đền thờ Ức Trai

Trang 33

Giữa hai nhà bia là Tắc môn (tiểu tiền án) làm bằng đá xanh được thiết kế theo

dạng cuốn thư Trên cung bậc thứ tư là hai dãy nhà tả, hữu vu làm bằng gỗ lim

vừa tạo sự khép kín, vừa tạo lên tính tôn nghiêm của Ức Trai linh từ Ngôi đền

được xây dựng ở cung bậc thứ 5, theo phong cách kiến trúc thời Lê, đề tài trang

trí trên các bức cốn, đầu dư, xà nách là "Tứ linh hội hợp", trên các cánh cửa trạm

đề tài: "Tứ quý uyên ương" Hoành phi câu đối trong đền do Viện Nghiên cứu

Hán nôm sưu tầm tuyển chọn Nội dung của hoành phi câu đối thể hiện tâm hồn,

nhân cách cao đẹp, tài năng và công đức lớn của Nguyễn Trãi đồng thời thể hiện

thái độ tôn vinh, tấm lòng biết ơn đối với Nguyễn Trãi

Gian Tiền tế được xây dựng theo kiểu 3 gian 2 chái, chính giữa có

bài trí ban thờ công đồng Bên trái là ban thờ Sơn thần Bên phải là ban

thờ Thổ địa Trung từ có đặt ban lễ trình Tại hậu cung bài trí tượng thờ

chân dung Nguyễn Trãi bằng đồng trong khám thờ uy nghiêm Tượng thờ

toát lên vẻ thần thái một bậc đại nhân đại nghĩa, một nhà nho tiết tháo

thanh cao Bên trên tượng đức Nguyễn Trãi là bức cuốn thư đề chữ Hán:

"Bình Ngô khai quốc" (dẹp giặc Ngô khai mở nước) Hai bên tả hữu Hậu

cung phối thờ long ngai, bài vị thân phụ và thân mẫu Nguyễn Trãi

Đền thờ Nguyễn Trãi là tác phẩm kiến trúc vừa giàu tính truyền thống,

vừa mang dấu ấn thời đại, là kết quả đỉnh cao về tấm lòng tôn vinh, tri ân sâu

sắc của hậu thế đối với tầm vóc và công lao vĩ đại của Ức Trai Đền thờ

không chỉ là niềm tự hào riêng của nhân dân tỉnh Hải Dương mà còn là niềm

tự hào chung của nhân dân cả nước Hành hương về thăm đền thờ Nguyễn

Trãi là dịp ôn cố tri tân, đền ơn các bậc tiền nhân của dân tộc, là dịp giáo dục

truyền thống văn hoá, giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

1.2.2 Những di tích ở Kiếp Bạc

Xung quanh đền Kiếp Bạc là hệ thống di tích đền, chùa Nam Tào - Bắc Đẩu,

Sinh Từ, Hang Tiền, Hố Thóc, Xưởng Thuyền, Hành Cung, Viên Lăng, Ao

Trang 34

Cháo Thời Trần đây là những công trình kiến trúc bề thế, nguy nga nhưng hiện nay nhiều di tích chỉ còn là phế tích Qua các cuộc khai quật khảo cổ học cho thấy đây là di sản quí giá về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học của khu di tích Kiếp Bạc:

* Đền Kiếp Bạc

Đền Kiếp Bạc thờ anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của Quốc gia, thời Trần thuộc hương Vạn Kiếp, lộ Lạng Giang Thời Lê, Nguyễn thuộc trấn Kinh Bắc, nay thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Trấn giữ cửa ngõ phía đông thủ đô Thăng Long, có vị trí địa lý, phong thuỷ hiểm yếu, nơi hội tụ các giá trị văn hoá, tôn giáo, quân sự, kinh tế, chính trị

ở các triều đại, Kiếp Bạc là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của tỉnh Hải Dương Đền toạ lạc trên khu đất bằng, trung tâm khu di tích Kiếp Bạc Đền nhìn theo hướng Tây nam, ở thế "ỷ sơn quan thuỷ" Phía trước

là dòng Lục Đầu Giang - nơi tụ thuỷ, tụ linh khí, tụ phúc, tụ đức của 6 con sông hội về Với chiều dài trên 10km, sông Lục Đầu nhận nước của 4 nhánh sông từ phía Bắc đổ xuống (Thiên Đức - sông Đuống, Nhật Đức - sông Thương, Nguyệt Đức - sông Cầu, Minh Đức - sông Lục Nam) và hợp với hai nhánh sông dưới hạ lưu là sông Thái Bình, sông Kinh Thầy đổ ra biển Đông Đền tựa lưng vào núi Trán Rồng Hai bên tả, hữu là 2 dãy núi rộng mở thế tay ngai, long mạch toả ra hình rồng uốn khúc từ đỉnh dãy núi Rồng kéo thành "tay Long" núi Nam Tào (Dược Sơn) chầu bên tả và "tay Hổ" núi Bắc Đẩu bao bên hữu Ở vào vị trí "đắc địa", hội linh khí của sông núi, vũ trụ, hợp với phong

thuỷ nên từ cổ chí kim mảnh đất này luôn được ca tụng rằng: “Vạn kiếp cao

sơn long dẫn mạch; Lục đầu thuỷ mãn hổ triều lai” (Vạn kiếp núi cao long dẫn

mạch; Lục đầu sông rộng hổ chầu về) [7]

Vạn Kiếp có thế núi, hình sông đan xen, dày đặc, với nhiều đường giao thông thuỷ bộ thuận lợi liên hệ với các miền trong nước và tiện cho việc tiến,

Trang 35

lui, tấn công, phòng thủ và phản công chiến lược Với cảnh quan hấp dẫn và vị trí hiểm yếu, Vạn Kiếp đã sớm thu hút sự chú ý của vị hoàng thân trẻ tuổi, có tài thao lược - Trần Quốc Tuấn Ông đã đặt đại bản doanh ở Vạn Kiếp, án ngữ mặt Đông bắc của kinh thành Thăng Long trong cuộc kháng chiến chống giặc

Nguyên Mông thế kỷ XIII Địa danh Vạn Kiếp là bài ca chiến thắng: “Gươm

khua Hàm Tử kinh hồn giặc; Chiêng lường Vạn Kiếp tiếng quân reo” [7]

Quá trình phát triển khu di tích Kiếp Bạc gắn với lịch sử về cuộc đời sự nghiệp Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Qua hệ thống văn bia và hệ thống thư tịch cũ còn để lại cho thấy đền Kiếp Bạc đã được khởi dựng vào những năm đầu thế kỷ XIV (sau khi Hưng Đạo Vương từ trần năm 1300) Sang thời Lê, theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1427 ngay sau kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, vua Lê Thái Tổ đã cắt ngân quỹ, cử Dương Thái Nhất về tu sửa thái miếu đền Kiếp Bạc, ra sắc chỉ nghiêm cấm chặt phá và xâm hại đất đai khu vực di tích Nhiều thế kỷ do nắng mưa và chiến tranh các công trình kiến trúc nguy nga, lộng lẫy thời Trần, Lê không còn, quy mô xây dựng của các lần trùng tu không còn đẩy đủ: Trung từ và tả hữu vu đã bị giặc Pháp đốt phá, chỉ còn lại hậu cung, tiền bái và nghi môn Các công trình kiến trúc hiện nay chủ yếu do một số quan lại xứ Bắc, xứ Đông, khởi xướng cùng nhân dân trùng tu tôn tạo

Hệ thống các công trình kiến trúc tuân thủ theo nguyên tắc âm dương, ngũ hành Từ núi Trán Rồng, các công trình kiến trúc phát triển ra sông Lục Đầu gồm các hạng mục: Sinh Bia nay là Hố chân bia (do Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông soạn văn bia), gò đất chữ Vương, đền chính, nhà Bạc, tả, hữu Thành Các, tả, hữu Giải vũ, giếng Mắt Rồng, Nghi môn Đền chính kết cấu kiến trúc kiểu tiền nhất hậu đinh, liên hoàn, thống nhất gồm: Tiền tế, Trung từ, Hậu cung Là công trình kiến trúc thời Nguyễn, mang đậm phong cách trang trí, chạm khắc đương thời, không cầu kỳ và quá công phu với các đồ án chủ đạo "tứ linh quần hùng",

Trang 36

"văn triện hoá long", "cúc, trúc hoá long", "tiêu cảnh tứ quý” nhưng đã tạo được điểm nhấn, đạt hiệu quả trong việc chuyển tải ý tưởng tâm linh và nghệ thuật của nghệ nhân về những ước vọng cầu mùa của cư dân nông nghiệp

Nghi môn đền là công trình kiến trúc đồ sộ hoàng tráng, thiết kế kiểu cổng thành dạng bức cuốn thư với ba cửa vòm và hai trụ biểu lớn Đây là bức tranh sinh động hội đủ tứ linh, tứ quý, khái quát cả âm dương, trời đất, thiên nhiên, con người nơi đất Thánh Đáng chú ý là biểu tượng hình tròn đặt ở tư thế long chầu trên đỉnh nghi môn Thời Trần mặt tròn này đã mang bóng dáng của vòng tròn vũ trụ Đó là 1 vòng tròn sinh lực đang bốc lửa tượng trưng cho bầu trời, phần trên là hội tụ của hai yếu tố âm - dương, bao phủ lấy phần dưới, tượng trưng cho sự giao hoà của vũ trụ, nhằm cầu sinh sôi phát triển Phần dưới vòng tròn vũ trụ là từng cặp tứ linh đối xứng trong tư thế "long mã hà đồ", "thần qui lạc thư", "phượng hàm thư" là điểm nhấn cho các bức hoành

phi, câu đối ca ngợi Đức Thánh Trần: “Dữ thiên vô cực” (sự nghiệp hiển hách với đất trời), “âm dương hợp đức” (đức của Thánh hợp với trời đất), “nhạc

độc chung linh” (sông núi hun đúc lên khí thiêng) và “Trần Hưng Đạo Vương từ” (đền thờ Trần Hưng Đạo) [7] Mặt sau nghi môn trang trí từng cặp tiêu

cảnh biến thể từ tứ quý “đào - tùng lộc”, “trúc tước - mai điểu”, “tiêu tượng - hồng trĩ”, “cúc - điệp” thể hiện cho sự trường tồn bền vững Ngày nay, nghi môn là công trình kiến trúc độc đáo, hiếm thấy trong các công trình văn hoá cổ

ở khu vực Bắc Bộ Qua Nghi môn là tả, hữu Thành Các Công trình được tôn tạo thời Nguyễn, là nơi các quan hàng tỉnh về nghỉ ngơi, chuẩn bị các kỳ lễ hội Trong sân là giếng Mắt Rồng Giếng nằm ở trung tâm thung lũng dãy núi Rồng

do mạch nước ngầm từ núi chảy ra gọi là giếng mắt rồng Tương truyền, giếng xây dựng thời Trần gắn với tên tuổi của danh tướng Yết Kiêu, người có công tìm và phát hiện ra nguồn nước Đây là nước giếng thiêng, trong mát đã tiếp sức cho quân sỹ nhà Trần mỗi khi ra trận Sau này, nước giếng được dùng

Trang 37

trong các nghi lễ cúng, tế của đền Giữa sân là nhà Bạc Công trình nằm trên đường thần đạo, là cầu nối giữa nghi môn và đền chính, mang ý nghĩa như một tắc môn chắn tà khí cho đền Đây là nơi tổ chức các nghi lễ trọng thể của Nhà nước dâng hương tưởng niệm anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Hai bên sân có tả, hữu hành lang là nơi dành cho nhân dân thập phương nghỉ ngơi, tu sửa lễ phẩm trước khi vào lễ Thánh Đền chính gồm: Tiền tế, Trung từ, Hậu cung Toà Tiền tế có ban thờ công đồng Trần triều Trung từ thờ vọng ngai, bài

vị tứ vị hoàng tử (4 vị con trai của Trần Hưng Đạo - Hưng Vũ Vương Trần Quốc Hiến, Hưng Hiến Vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, Hưng Trí Vương Trần Quốc Uy), thờ tượng Điện suý Phạm Ngũ Lão (con rể thứ 2), hai bên tả - hữu thờ vọng quan Nam Tào, quan Bắc Đẩu Toà hậu cung gồm: Cung chính thờ tượng Đức Thánh Trần; cung cấm thờ vọng gia tiên Đức Thánh, tượng Thiên Thành công chúa phu nhân, hai bên thờ tượng Quyên Thanh công chúa - cô đệ nhất và Anh Nguyên quận chúa - cô đệ nhị Trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật, cổ vật quý như 5 pho tượng đồng, sơn son thiếp vàng, đúc cuối thế kỷ XIX, hoành phi, câu đối, bia đá đặc biệt

là Thánh Ấn nhà Trần Ấn "sát quỷ, trừ tà" của Đức Thánh Trần được dân gian truyền tụng và gìn giữ, là bảo vật của muôn đời Bất cứ ai hành hương về đền Kiếp Bạc đều mong xin được ấn dấu nhà Ngài, mang bên mình cầu an

* Đền và chùa Nam Tào, Bắc Đẩu

Trên hai ngọn núi Nam Tào, Bắc Đẩu có ngôi đền và ngôi chùa dựng từ thời Trần, thờ phật và thờ thần Nam Tào (cầm sổ sinh), Bắc Đẩu (cầm sổ tử) tượng trưng cho thị giả giúp Đức Thánh Trần coi sóc chúng sinh

Đền, chùa Nam Tào - Bắc Đẩu, đặt trong sự đối ứng với đền Kiếp Bạc

đã thể hiện sự tôn vinh, ngưỡng vọng của nhân dân đối với Trần Hưng Đạo, tôn ông là vị Thánh sánh với Ngọc Hoàng thượng đế trên thiên đình Nam

Trang 38

Tào - Trần Hưng Đạo - Bắc Đẩu xuất hiện dưới hạ giới là hiện tượng hiếm thấy, mang đậm mầu sắc đạo giáo

* Dược Sơn

Dược Sơn (núi thuốc) là nhánh núi phía Nam đền Kiếp Bạc với diện tích xấp xỉ 10.000m2 Thời Trần, Trần Hưng Đạo với tư tưởng người Nam dùng thuốc nam đã cho trồng những cây thuốc nam, vị thuốc quý để chữa bệnh, trị thương cho quân sỹ Sự tích kể rằng: Một đêm Hưng Đạo Đại Vương nằm mơ thấy có một ông già đầu quấn khăn nâu, mình mặc áo dài đen, tay xách túi cói vào tìm gặp Ông lão vái ba vái: “Tôi là Dược linh, biết Đức Ông cần thuốc nên đem biếu” Hưng Đạo Vương cảm tạ và đáp lễ nhận túi Mở túi Quốc Công chỉ thấy có mấy cây thuốc giống, ngẩng lên không thấy ông lão đâu nữa Chuyện về cây thuốc làm Quốc Công không sao ngủ được Mấy hôm sau trên đường từ xưởng Thuyền về phủ đệ Ông thấy bên đường có những cây con như cây thuốc dược linh đã đem về trồng ở Dược Sơn rồi tự tay hái lá làm thuốc đắp vết thương cho quân lính, quả nhiên vết thương lành hẳn Vườn thuốc quý của Trần Hưng Đạo đến thời Lê được xếp vào Chí Linh bát cổ (8 di tích cổ của huyện Chí Linh) với tên gọi Dược Lĩnh cổ viên Hiện nay, theo thống kê của y dược trung ương trên núi Dược Sơn và một số ngọn lân cận còn khoảng trên 300 vị thuốc như: Tán tía, cam thảo, hoàng chỉ nam Dân

gian vẫn thường nhắc câu ca: “Dược lĩnh hoa thơm cỏ lạ thường; Biết chăng

chăng biết thuốc thần tiên”

* Viên Lăng

Viên Lăng nằm ở gò đất nhỏ hình tròn, cách đền Kiếp Bạc khoảng 200m

về phía Đông Nam Xung quanh viên lăng là ruộng trũng, phía trước nhìn ra sông Thương, phía sau là dãy núi Rồng bao bọc Viên Lăng được ví như một viên ngọc mà rồng (núi rồng) luôn ở tư thế lao xuống muốn càm ngọc Là một địa điểm đẹp, tương truyền xưa kia lăng mộ Trần Hưng Đạo được táng ở đây

Trang 39

Năm 2000 khảo cổ học đã phát hiện nhiều dấu tích kiến trúc nhà ở và một số hiện vật thời Trần

di tích, mở 3 hố thám sát với diện tích là 23,3m2, kết quả đã phát hiện được dấu tích kiến trúc của 3 cấp nền, 21 đoạn ống cống thoát nước bằng đất nung hình trụ (đường kính 20cm) nối liền nhau và vết tích bờ kè bằng đá vôi, đá cuội Ngoài

ra, còn tìm thấy nhiều di vật đồ gốm, đất nung, thóc cháy… có niên đại thế kỷ XIII Theo nhận định ban đầu của các nhà khảo cổ thì Sinh Từ nằm ở đoạn cuối của sông Vang, di tích như một ốc đảo xung quanh là nước Khi đó, bờ kè có chức năng ngăn nước giữa sông Vang với các công trình kiến trúc của phủ đệ

* Cồn Kiếm

Trên sông Lục Đầu, trước cửa đền Kiếp Bạc có một cồn cát chạy dài 200m hình như lưỡi kiếm nằm xuôi dòng nước, gọi là Cồn Kiếm Tương truyền sau khi đánh thắng giặc Nguyên Mông mang lại thái bình cho đất nước Hưng Đạo Vương về nghỉ tại thái ấp của ông ở Vạn Kiếp Một hôm, ông cùng gia nhân dùng thuyền nhỏ đi dạo cảnh trên dòng sông Lục Đầu Khi con thuyền đã quay về gần núi Dược Sơn, Hưng Đạo Vương cho dừng thuyền lại, đứng trên mũi thuyền Người rút thanh kiếm của mình ra khỏi bao

và nói: Thanh gươm này đã gắn bó với ta gần cả cuộc đời Trong suốt cuộc chinh chiến nó đã dính bao máu giặc Thát, nó đã từng được bôi phân gà với vôi tôi và bồ hóng để chém đầu tên giặc Phạm Nhan dơ bẩn Nay ta muốn nhờ dòng nước sông Lục Đầu để gột rửa sạch những vết nhơ trên nó Nói

Trang 40

rồi, Người ném thanh gươm đã bao năm gắn bó bên mình đi chiến trận xuống dòng sông Tại khúc sông Hưng Đạo Vương thả thanh kiếm báu, sau này đã nổi lên cồn đất hình thanh kiếm, dân gian gọi đó là Cồn Kiếm Cồn Kiếm ngày nay vẫn còn trên dòng sông Lục Đầu về phía nam trước cửa đền Kiếp Bạc Nhân gian cho rằng Người đã thả kiếm xuống dòng sông, nhờ nước sông Lục Đầu hay siêu thực hơn lấy cái Đức của trời đất (Thiên Đức, Nhật Đức, Nguyệt Đức, Minh Đức) gột rửa chiến tranh để gìn giữ nền thái

bình muôn thuở Đó cũng là cổ mẫu từ huyền thoại - huyền tích với biểu

trưng của kim và thuỷ (kim sinh thuỷ) nhằm cầu mưa, chống lũ lụt hay cầu mùa màng của cư dân nông nghiệp cổ

1.2.3 Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc

* Lễ hội chùa Côn Sơn

Từ xưa, chùa Côn Sơn đã nổi tiếng là một trong 3 chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm Năm 1328, thiền sư Huyền Quang - vị tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm đã về đây trụ trì, tu hành và phát triển thiền phái Ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334) sư viên tịch tại chùa Côn Sơn Từ đó ngày viên tịch của Huyền Quang là ngày giỗ tổ của chùa Côn Sơn, cũng vì thế mà Côn Sơn trở thành chốn Phật tổ của thiền phái này Ngày giỗ tổ sau trở thành ngày hội truyền thống Như vậy, hội mùa xuân Côn Sơn bắt nguồn từ ngày giỗ Trúc Lâm đệ tam tổ, có từ đầu thế kỷ XIV Hội bắt đầu từ rằm tháng giêng và kéo dài đến cuối tháng Những thế kỷ trước, Quốc sử ghi rằng cứ đến mùa xuân, trai gái đến chùa dâng hương hàng tuần mới tan, đó là thắng hội của một phương Hội Côn Sơn thực sự là nơi vui chơi, giải trí lành mạnh, thời khắc thư giãn quý giá, điểm giao lưu, hò hẹn, lý tưởng Đến đây, du khách được mặc sức chọn lựa các trò chơi dân gian theo sở thích để cảm nhận và khám phá Rước nước là một nghi lễ quan trọng trong lễ hội Côn Sơn, diễn ra vào ngày 16 tháng giêng hàng năm, với mục đích lấy nước làm lễ mộc dục (tắm

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w