1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở tại huyện tiền hải tỉnh thái bình trong giai đoạn hiện nay

127 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 656,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 3 Phương hướng vμ một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình 3.1.2 Định hướng phát triển kin

Trang 1

LƯƠNG THỊ NGA

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

Ở CƠ SỞ TẠI HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH TRONG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ VĂN HÓA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS PHẠM DUY ĐỨC

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

mục lục

Trang

Danh mục các chữ viết tắt

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về quản lý

hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở

ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình hiện nay

9

1.1 Quan niệm quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở 9

1.1.2 Nội dung quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở 10

1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội, văn hoá của huyện Tiền Hải 19

1.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên, dân cư 19

1.3 Vai trò của công tác quản lý xây dựng đời sống văn hoá

cơ sở ở huyện Tiền Hải

38

Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động xây dựng đời

sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình.

43

2.1.1 Tình hình quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn

hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải

43

2.2 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động xây dựng

đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải

66

Trang 3

Chương 3 Phương hướng vμ một số giải pháp nâng cao

chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình

3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh tác động đến huyện Tiền Hải 78

3.2 Phương hướng phát triển văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải 79

3.2.4 Đẩy mạnh phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” 83

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt

động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái bình trong thời gian tới

Trang 4

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

- Ban chÊp hµnh Trung −¬ng BCHTW

Trang 5

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Sau Đại học trường Đại học Văn hóa

Hà Nội, thầy hướng dẫn PGS, TS Phạm Duy Đức và các thầy cô trong khoa; Phòng Văn hóa thông tin, Trung tâm Văn hóa- Thể thao huyện Tiền Hải và UBND các xã Nam Cường, Nam Phú, Nam Hưng, Nam Thịnh, Đông Minh,

Đông Hoàng, Đông Long, Đông Hải, cán bộ và nhân dân các xã được khảo sát; gia đình cùng bạn bè đã giúp tôi hoàn thành Luận văn này

Lương Thị Nga

Trang 6

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một nhiệm vụ

có ý nghĩa chiến lược lâu dài đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, đất nước ta bước vào quá trình phát triển kinh

tế thị trường, đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Mục tiêu của việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở nằm trong mục tiêu chung của cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, nhằm xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa

Gắn liền với công cuộc đổi mới của đất nước, nhiều địa phương đã xây dựng hàng loạt cơ sở mới cho hoạt động văn hoá, công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở từ đó thêm khởi sắc và mở rộng Hiện nay, trong cơ chế kinh

tế thị trường với tính chất cạnh tranh găy gắt, đã đến lúc chúng ta không thể tiếp tục tổ chức hoạt động văn hoá ở cơ sở với quan niệm như trước đây, đồng thời cũng không lạm dụng đổi mới để phủ định tất cả thành đạt của quá khứ

Cũng như các tỉnh thuộc vùng đất màu mỡ ven biển Đông Nam châu thổ sông Hồng, Thái Bình không ngừng được phù sa bồi đắp, thường xuyên

mở rộng về phía biển, đặc biệt các huyện Đông Nam của tỉnh Cùng với sự mở rộng đất đai màu mỡ là sự quy tụ cư dân từ nhiều nơi về sinh sống lập nghiệp

ở đây cái cũ và cái mới, cái truyền thống và cái hiện đại, cái bản địa và cái ngoại nhập đã gắn bó, hòa quyện vào nhau tạo nên một sắc thái đặc biệt của Thái Bình Người Thái Bình có cái chung, rất chung, nhưng cũng có cái riêng, với một diện mạo đẹp, một hội tụ được sàng lọc, để từ đó tạo nên một phong cách độc đáo cũng như sắc thái riêng biệt của Thái Bình, để lại dấu ấn trong

Trang 7

sinh hoạt xã hội qua phong tục tập quán, văn hóa dân gian, sinh hoạt lễ hội, thờ cúng cùng với di tích đền chùa, lăng tẩm, miếu mạo…

Từ vùng đất bãi biển Tiền Châu, một huyện mới mang tên Tiền Hải

được thành lập, tiếp nối truyền thống quai đê lấn biển mở làng, lập huyện của người xưa, lớp lớp cư dân Tiền Hải đã chung lưng đấu cật, trị thủy khẩn hoang

đẩy sóng ra xa, kéo chân trời gần lại Bằng kết quả lấn biển lập làng và bằng việc điều chỉnh địa giới qua các thời kỳ lịch sử, nhiều làng mới đã xuất hiện Văn hóa Tiền Hải một mặt được bắt nguồn và kế thừa từ nền văn hóa lâu đời của người Việt ở Đồng bằng sông Hồng, mặt khác có những sắc thái riêng,

độc đáo Những bản sắc văn hóa dân tộc giàu tính nhân văn như: tôn thờ những vị “Thành hoàng khai canh”, tôn thờ những người có công với dân với nước, thờ các Tổ nghề, thờ cúng tổ tiên trong cộng đồng làng xã và gia đình người Việt đã được nhân dân Tiền Hải bảo tồn và phát triển

Những truyền thống giàu tính nhân văn, mang đạo lý “uống nước nhớ nguồn” ở Tiền Hải cũng như trên cả nước là ngọn nguồn của phong trào “ đền

ơn đáp nghĩa” mà Đảng và nhân dân ta hướng tới trong giai đoạn hiện nay Từ nhận thức trên, cội nguồn văn hóa Tiền Hải được đẩy lên rất xa, có từ mấy ngàn năm lịch sử Truyền thống văn hóa, lịch sử Tiền Hải là một trong những nguồn động lực phát triển kinh tế- xã hội và đấu tranh thắng lợi trước thiên nhiên khắc nghiệt ở một miền quê lấn biển Dưới sự lãnh đạo của Đảng đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới vừa qua việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở

đây được các cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm

Quá trình tổ chức xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Tiền Hải trong những năm vừa qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa sâu sắc đối với việc phát triển đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương Tuy vậy, trong quá trình đó cũng nảy sinh những mâu thuẫn, những yếu kém cần phải khắc phục.Trong bối cảnh trên, công tác quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở có một vai trò hết sức quan trọng Vì thế,

Trang 8

nghiên cứu quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Tiền Hải góp phần nhận diện rõ nét hơn mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế nói chung, đặc biệt vai trò của công tác quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đối với việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, giúp cho Đảng bộ và chính quyền các cấp ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình quan tâm hơn đến vấn đề quản lý các hoạt động văn hóa, tìm ra các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở huyện Tiền Hải, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội một cách bền vững ở huyện Tiền Hải

Vì vậy tôi chọn đề tài: “ Quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá

cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn

tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý văn hóa

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Trên cơ sở thực trạng và tính đặc thù của việc quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm

đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình góp phần vào việc nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân tương xứng với một đời sống vật chất ngày càng được cải thiện

Trang 9

- Bước đầu đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở tại huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các mặt liên quan tới công tác quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh

Thái Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu tại các xã của huyện

Tiền Hải trong đó, lấy một số xã ven biển làm điểm nghiên cứu chính, là xã : Nam Hưng, Nam Thịnh, Nam Phú, Nam Cường

- Về thời gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu quản lý hoạt động xây

dựng đời sống văn hóa cơ sở tại huyện Tiền Hải từ năm 1998 khi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII), Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc được ban hành cho đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá, về nông thôn và nông nghiệp để xem xét, đánh giá các mặt liên quan

đến công tác quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

- Luận văn sử dụng các lý thuyết về quản lý, về làng xã, lý thuyết về biến đổi văn hóa, về văn hóa tộc người, để xem xét vấn đề việc quản lý các hoạt động văn hóa cơ sở huyện Tiền Hải

Trang 10

- Luận văn kết hợp phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp khảo sát điền dã thực tế, phương pháp thống

kê, điều tra xã hội học cùng với phương pháp liên ngành, đa ngành khác để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

5 Tình hình nghiên cứu

Đối với nước ta, quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở còn rất mới, đòi hỏi phải được làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn chính vì thế mà vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, cũng như các nhà lãnh đạo, quản lý Sau đây là một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này:

+ Một số văn kiện các Đại hội, hoặc các Hội nghị BCH Trung ương

Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5, (khoá VIII), Kết luận của Hội nghị trung ương 10, (khoá IX) khi tổng kết, đánh giá thực trạng quá trình xây dựng, phát triển nền văn hoá mới ở nước ta, đã chỉ ra những nguyên nhân của thành tựu và yếu kém, trong đó có nguyên nhân về lãnh đạo, quản lý văn hoá

+ Để đáp ứng yêu cầu và giảng dạy, trong một số công trình, các tác giả

đã cố gắng làm rõ các vấn đề: Đại cương về quản lý hoạt động văn hoá, chính sách quản lý hoạt động văn hoá, nội dung quản lý hoạt động văn hoá, quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở hiện nay với các công trình tiêu biểu như:

- Lược sử quản lý văn hoá ở Việt Nam, Hoàng Sơn Cường, Nxb VHTT, H, 1998

- Cơ sở lý luận của quản lý văn hoá, Phan Văn Tú, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội

- Văn hoá và quản lý văn hoá, Nguyễn Văn Hy, Trường Đại học Văn hoá

Hà Nội

Trang 11

- Tập bài giảng bồi dưỡng kiến thức quản lý ngành văn hoá thông tin, Trường Cán bộ quản lý thông tin (1999)

- Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở và sự hình thành con người mới,

Hà Huy Bích, 1984

- Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở (1985) , Viện Văn hoá

- Đời sống văn hoá ở cơ sở- thực trạng những vấn đề cần giải quyết (1991), Viện Văn hoá

- Xây dựng làng xã văn hoá Thái Bình (1995), Sở VHTT-TT Thái Bình

- Vai trò của văn hoá trong sự nghiệp CNH-HĐH nông thôn, nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, PGS.TS Lê Quý Đức (2005), Nxb VHTT

và Viện Văn hóa

Bên cạnh những công trình trên là một số luận văn thạc sỹ văn hoá học cũng nghiên cứu vấn đề xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở như:

- Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở với tiến trình đô thị hoá huyện Bến Lức tỉnh Long An của Đặng Ngọc Sơn (1997), Trường Đại học Văn hoá Hà Nội

- Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở tại thành phố Cần Thơ- một số vấn đề

lý luận và thực tiễn, Lê Văn Hữu (1997), Trường Đại học Văn hoá Hà Nội

- Xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Bình Dương của Đỗ Khắc Điệp (1997), Trường Đại học Văn hoá Hà Nội

Ngoài ra, cũng có một số công trình đề cập đến vấn đề quản lý văn hoá

từ các phương diện khác Ví dụ, trong cuốn Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta, tác giả Hoàng Vinh đã bàn đến thể chế văn hoá với tư cách là công cụ cần thiết để quản lý trên lĩnh vực văn hoá

Có thể thấy hầu hết những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn

đề này chỉ mới tập trung ở phần lý luận nói chung về quản lý các hoạt động

Trang 12

văn hoá (nhóm tác giả Đại học Văn hoá) [38] Các công trình nghiên cứu trực tiếp công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, tiếp cận vấn đề ở góc độ xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở (Đặng Ngọc Sơn, Lê Văn Hữu, Đỗ Khắc

Điệp) Những kết quả nghiên cứu này gắn với từng hoàn cảnh cụ thể, trong một giai đoạn lịch sử nhất định

Nh− vậy, cho đến nay ch−a có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở cấp huyện nói chung một cách toàn diện, nhất là quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình nói riêng

Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để chúng tôi kế thừa khi giải quyết những yêu cầu đặt ra của đề tài

6 Nguồn t− liệu của luận văn

* Nguồn t− liệu chính của luận văn là t− liệu điền dã, bao gồm:

- Các văn bản, tài liệu của các cấp ủy và ngành văn hóa liên quan đến việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

- Các thông tin thu đ−ợc từ các cuộc trao đổi với cán bộ, nhân dân các xã của huyện Tiền Hải

- Các báo cáo tổng kết có liên quan đến xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở của các làng, xã và của huyện Tiền Hải

- Luận văn kế thừa những thành quả nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, về văn hóa làng, về xây dựng làng văn hóa đ−ợc công bố

7 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình,

Trang 13

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý hoạt động này trong thời gian tới

- Kết qủa của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác quản

lý của sở Văn hoá- Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy ở trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật tỉnh Thái Bình và những người quan tâm đến đề tài này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của Luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quản lý hoạt động xây dựng đời

sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình hiện nay

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao chất lượng,

hiệu quả quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở

ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình

Trang 14

Chương 1

Một số vấn đề lý luận chung

về quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình hiện nay

- 1.1 Quan niệm về quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở

1.1.1 Định nghĩa quản lý và đặc điểm của quản lý

1.1.1.1 Định nghĩa quản lý

Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế, đồng thời đều phải thừa nhận

và chịu một sự quản lý nào đó

Theo quan điểm của C Mác:

Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một

sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc

thì cần phải có nhạc trưởng [34, tr.10-11]

Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một

định nghĩa thống nhất Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác Cũng có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Có tác giả lại quan niệm một cách

đơn giản hơn, coi quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó…

Trang 15

Từ những nội dung chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách

là một hoạt động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng

đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra thông qua hệ thống luật pháp và những quyết định có tính chất pháp lý [33, tr.11-12] 1.1.1.2 Đặc điểm của quản lý

- Quản lý tồn tại trong mọi xã hội, ở bất cứ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào

- Đa dạng về lĩnh vực, đối tượng (xã hội, kỹ thuật ), hình thức, mức độ (vĩ mô, vi mô) và mục đích, tùy thuộc vào chế độ chính trị – xã hội

- Là những hoạt động mang tính hệ thống, có mối quan hệ chặt chẽ giữa các cấp và các cơ quan quản lý, các hình thức quản lý (bằng pháp luật, phong tục )

- Mang nặng tính hành chính, tính mệnh lệnh (quản lý nhà nước), vừa mang tính tự quản (quản lý cộng đồng), vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức tổng hợp

- Hiệu quả của quản lý phụ thuộc vào nhận thức, ý đồ chủ quan cùng các phương thức tổ chức thực hiện của cơ quan và người đứng đầu cơ quan quản lý

- Quản lý là một khoa học dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau (quy luật tự nhiên hay xã hội); đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi kiến thức xã hội, tự nhiên hay kỹ thuật Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu,

có kế hoạch lớn hay nhỏ của con người và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt

1.1.2 Nội dung quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở giữ vị trí quan trọng, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức nếp sống của mỗi người và cộng đồng dân cư Đảng và Nhà nước ta coi xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là nhiệm vụ then chốt để nâng cao đời sống

Trang 16

tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định xã hội, xây dựng nhân cách của người Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, cùng với việc thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới, chúng ta càng phải chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nhằm phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế các hiện tượng tiêu cực như lối sống thực dụng, vị kỷ, vọng ngoại; tệ nạn xã hội; nạn tham nhũng, cửa quyền; mê tín dị

đoan và các hủ tục khác, thực hiện cho được nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng (khóa VIII) là :

Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và từng cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước

ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến

vững chắc lên chủ nghĩa xã hội [45, tr.7]

Quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thực chất là quản

lý con người- con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng quản lý Mỗi con người là một thế giới nội tâm hết sức phong phú được hình thành từ nhiều yếu tố; môi trường sống (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội), yếu tố tâm lý,

điều kiện kinh tế xã hội, ảnh hưởng của các nghề nghiệp Vì vậy, quản lý hoạt

động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là vấn đề khó, rất tế nhị và phức tạp

Hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở tập trung xuất phát từ tính đặc thù của sự sáng tạo những giá trị văn hóa tinh thần kể cả những tác phẩm văn hóa, khuôn mẫu văn hóa Sự sáng tạo giá trị văn hóa là một quá trình sản xuất tinh thần đặc biệt, không tuân thủ hoàn toàn máy móc theo như

Trang 17

quy trình công nghệ sản xuất những dạng sản phẩm vật chất thuần túy Thực

tế đời sống xã hội cho thấy, quản lý hoạt động văn hóa rất phức tạp, nhiều khó khăn bởi chính ngay sự khó khăn phức tạp trong bản thân lĩnh vực văn hóa và

có khi phức tạp ngay trong nhận thức, đánh giá của những người lãnh đạo, quản lý văn hóa

Từ những nét đặc thù trên đặt ra cho quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là: một mặt cần có thái độ trân trọng, ưu ái và khoan dung đối với hoạt động văn hóa, kể cả đối với cá nhân người làm văn hóa và các phong trào văn hóa Do đó, chủ yếu dùng những biện pháp khích lệ động viên khuyến khích hơn là nặng về những biện pháp hành chính: cảnh cáo, cưỡng chế, cấm đoán Hơn nữa, quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa

ở cơ sở không thể tính toán, hạch toán cung cầu một cách máy móc, đơn giản

Vì vậy, công tác quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở ở huyện Tiền Hải được triển khai trên các lĩnh vực chủ yếu sau:

* Tuyên truyền phổ biến pháp luật về văn hóa

Tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân pháp luật về văn hóa và các quy

định pháp luật có liên quan đến xây dựng đời sống văn hóa Công tác tuyên truyền thực chất là giáo dục chính trị tư tưởng, truyền bá giáo dục nhân sinh quan, thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ vũ nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác tuyên truyền đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, các nhiệm vụ chính trị của địa phương góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển

Trang 18

* Xây dựng con người đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước

Văn hóa bắt nguồn từ con người và trở về phục vụ con người Trong thời

kỳ hội nhập và mở cửa, nước ta đang đứng trước thời cơ và thách thức mới Đó

là có khả năng hội nhập và trưởng thành trong hệ thống kinh tế - xã hội của cộng đồng quốc tế hay là bị biến thành lệ thuộc hoặc bị gạt ra khỏi quỹ đạo của sự phát triển Điều này liên quan đến nhân tố con người, chủ thể quyết

định quá trình phát triển Vì vậy, cần quan tâm xây dựng con người có trình

độ văn hóa cao, có khả năng lao động giỏi, có tư tưởng, đạo đức và lối sống lành mạnh, thể hiện những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của dân tộc kết hợp với những giá trị tiến bộ của thời đại Những phẩm chất cần xây dựng ở con người mới hiện nay là:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng;

có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực [45, tr.9]

Ngoài các yếu tố trên, cần quan tâm đến mối quan hệ ứng xử của con người trong không gian sinh sống, không gian lao động và không gian sinh hoạt cộng đồng của họ Trong lao động, con người tác động lên bản thân mình

Trang 19

và các đối tượng khác hình thành tính văn hóa trong các hoạt động ứng xử Trong không gian sinh sống, từng cá nhân, gia đình tương tác với nhau hình thành tình làng nghĩa xóm, tương thân, tương ái, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hạn chế các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống, giảm nhẹ tệ nạn xã hội Trong không gian sinh hoạt cộng đồng, hành vi ứng

xử của con người hình thành phép lịch sự, hòa nhã ở đây điều cần lưu ý là, trong từng cá nhân và cả gia đình đều có hai mối quan hệ ứng xử cơ bản Đó

là thái độ ứng xử bên trong và thái độ ứng xử bên ngoài Mặt khác, cũng cần lưu ý không gian sinh sống và không gian lao động của từng cá nhân, gia đình

có khi hoàn toàn tách biệt nhau, lại có khi chồng khít lên nhau ở nông thôn không gian sinh sống và không gian lao động thường chồng khít lên nhau, ở

đô thị thường ngược lại Ngoài ra, cũng có cả trường hợp pha tạp như các hộ tập thể của nhà máy xí nghiệp, doanh trại quân đội Nhận thức đặc điểm này

để khi ta tiến hành xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thì điều cần thiết quan tâm trước hết là xem xét cá nhân, gia đình đó đang vận động trong các mối quan hệ nào, không gian nào để đề ra những tiêu chí hợp lý và hoàn toàn mang tính khả thi

Để góp phần giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cá nhân và cộng

đồng dân cư ở cơ sở, cần mở rộng các hình thức tuyên truyền, giáo dục về: chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao tình cảm yêu nước, lòng tự hào, tự cường dân tộc, tạo nên sự nhất trí cao với đường lối chính trị của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội

* Xây dựng gia đình văn hoá

Trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, vấn đề xây dựng gia

đình văn hóa được coi là một nội dung quan trọng Xây dựng gia đình văn hóa

Trang 20

góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch dân số, giữ gìn và phát huy truyền thống đạo đức, văn hóa tốt

đẹp của dân tộc Gia đình có vị trí rất quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân, nó là môi trường văn hóa đầu tiên mà mỗi con người được sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, nhân cách để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Đó là cái nôi thân yêu để từ đó hình thành những tình cảm thiêng liêng, gắn bó Trước đây, do nhận thức chủ quan nên chúng ta chưa quan tâm đầy đủ đến việc xây dựng gia đình, chưa coi đó là trường học

đào luyện nhân cách, do đó trong xã hội đã xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực

Để thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ nâng cao ý thức và nghĩa vụ gia đình đối với mọi người, trước hết gia đình phải có trách nhiệm bảo đảm nhu cầu vật chất, nhu cầu hưởng thụ văn hóa cho các thành viên Khi đời sống đã trở lên sung túc thì yếu tố quan trọng để bảo đảm hạnh phúc gia đình là phải giáo dục mọi người có ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ

đối với nhau như những thành viên tự giác

Cha mẹ phải có trách nhiệm “Nuôi con khỏe, dạy con ngoan” dạy dỗ, chăm sóc cho con được học hành, con cái phải phụng dưỡng cha mẹ, vợ chồng sống hòa thuận, thủy chung, thương yêu nhau Đặc biệt coi trọng vai trò phụ nữ, chống tư tưởng trọng nam khinh nữ còn xuất hiện nhiều ở nông thôn, cần thực hiện kế hoạch hóa gia đình để có điều kiện chăm sóc con cái chu đáo Xây dựng gia đình văn hóa là tạo những hạt nhân nòng cốt để tạo nên diện mạo mới cho văn hóa cơ sở, nếp sống văn hóa ở cơ sở có điều kiện hình thành

Nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, tiếp tục thực hiện tốt các tiêu chuẩn công nhận gia đình văn hóa, làm cho các tiêu chuẩn công nhận gia đình văn hóa thấm sâu vào nếp sống hàng ngày của các gia đình, tạo nên môi trường văn hóa, gia đình văn hóa lành mạnh, góp phần hình thành nhân cách văn hóa của mỗi thành viên trong gia đình Tổ chức tốt việc đăng ký, bình xét, công nhận

Trang 21

danh hiệu gia đình văn hóa Xây dựng, biểu dương các gia đình văn hóa tiêu biểu, trở thành gương sáng và mũi nhọn trong phong trào xây dựng gia đình văn hóa Lựa chọn những tiêu chí cơ bản, đặc thù của các ngành, đoàn thể lồng ghép vào phong trào xây dựng gia đình văn hóa để bình xét bổ sung các danh hiệu gia đình văn hóa (Gia

đình nông dân văn hóa, gia đình văn hóa sức khỏe ) [6, tr.42-43]

* Xây dựng nếp sống văn hoá

Phát huy ý thức cộng đồng ở cơ sở, khơi dậy truyền thống tập quán tốt

đẹp giữa thôn xóm như tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau, nhất là những lúc gặp khó khăn, tinh thần tương thân tương ái, giúp nhau xóa đói giảm nghèo,

ổn định và phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu chính đáng; huy động nguồn lực to lớn trong nhân dân xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, thiết chế văn hóa cộng đồng; tạo ra sự chuyển biến tiến bộ thực hiện nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội

Nâng cao ý thức tự quản cộng đồng, tôn trọng kỷ cương phép nước, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật Xây dựng nếp sống ăn, ở, đi lại, lao động, ứng xử có thái độ kính già, yêu trẻ, tôn trọng phụ nữ

án tệ nạn xã hội: cờ bạc, rượu chè, trộm cắp, đánh cãi nhau, ngược đãi cha mẹ, người già cũng như hiện tượng chèn ép lẫn nhau dẫn đến mất đoàn kết Vì vậy, phải chú ý giáo dục các thành viên có ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, với xã hội Vận động các thành viên khi có bất hòa thì đưa ra hòa giải ở thôn, làng, không nên đối xử với nhau bằng vũ lực Tạo ra một cuộc sống trong sạch, lành mạnh, yên vui, mọi người cảm thấy thoải mái, hạnh phúc

Đẩy mạnh phong trào xây dựng nếp sống văn hóa trong các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị vũ trang, trọng tâm là xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có đời sống văn hóa tốt phải đi trước một bước Xây

Trang 22

dựng nếp sống văn minh; tác phong làm việc công nghiệp Xây dựng phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao Gắn các phong trào xây dựng đời sống văn hóa với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị xây dựng tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng trong sạch, vững mạnh của cơ quan, đơn vị Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, lao động và lực lượng vũ trang gương mẫu chấp hành kỷ cương pháp luật, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, có tư tưởng, đạo

đức, lối sống lành mạnh, đi đầu thực hiện nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm, làm gương cho nhân dân noi theo Đặc biệt đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng và những biểu hiện gây phiền hà và sách nhiễu đối với nhân dân [6, tr.43]

* Xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở

Tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, diện tích sử dụng, kinh phí hoạt động thường xuyên, tổ chức bộ máy và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đặc biệt là các thiết chế văn hóa ở cơ sở như: Thư viện (tủ sách), Nhà văn hóa, Câu lạc bộ, Nhà truyền thống, Sân vận động, điểm vui chơi, thể thao cấp xã, thị trấn và thôn, làng, tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân ở cộng đồng dân cư được tham gia vào các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa

Xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thể thao cơ sở; thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, thể thao quy định tại Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm

2008 của Chính phủ Khuyến khích phát triển mạnh mẽ các phong trào xã hội hóa xây dựng thiết chế văn hóa, đặc biệt đẩy nhanh tốc độ xây dựng thiết chế văn hóa thôn làng

Trang 23

* Xây dựng phong trào văn nghệ quần chúng, thể dục, thể thao

Văn nghệ quần chúng đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi con người Vì văn nghệ quần chúng là của quần chúng sinh ra và tồn tại cùng đời sống thường ngày của quần chúng từ đời này qua đời khác, cho nên phong trào văn nghệ quần chúng không thể thiếu ở cơ sở Có thể nói hoạt động văn nghệ quần chúng là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức sống của một đơn vị văn hóa cơ sở

Duy trì và phát triển phong trào văn hóa, văn nghệ, hình thành các câu lạc bộ hoặc nhóm sở thích như: câu lạc bộ khuyến nông, hội làm vườn, bóng

đá, bóng chuyền, cầu lông v.v tạo điều kiện sinh hoạt lành mạnh, gây không khí vui vẻ, đoàn kết, khuyến khích các tài năng văn hóa, văn nghệ phát triển;

Phát triển phong trào “ Toàn dân rèn luyện thể dục, thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại”, xây dựng và duy trì phong trào văn nghệ quần chúng; xây dựng và phát triển các loại hình câu lạc bộ sở thích trong quần chúng nhân dân, thu hút ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia vào các hoạt

động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy vốn văn hóa, văn nghệ cổ truyền phong phú và quý giá, thuần phong mỹ tục của quê hương, dân tộc

* Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú

Xây dựng môi trường văn hóa sạch, đẹp, an toàn; đường làng ngõ xóm khang trang, sạch đẹp, nước sạch, ăn uống vệ sinh, không vứt rác bừa bãi ở những nơi công cộng; không gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường luôn trong sạch và lành mạnh

Các làng, xã, khu dân cư đã chủ động, nỗ lực cải tạo, xây dựng, nâng cấp hạ tầng cơ sở, cải thiện môi trường vừa đảm bảo sinh thái tốt vừa khai thác giá trị văn hóa của điều kiện tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiến hành các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí lành mạnh

Trang 24

Môi trường văn hóa của từng địa phương, từng cộng đồng không ngừng chuyển đổi, tức là thêm thắt, thích hợp những cái mới lạ, gọt bỏ những cái lỗi thời để giữ lại những gì mẫu mực; tạo dựng một lối sống văn minh, lịch sự, những phong tục tập quán tốt đẹp, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa phù hợp với trào lưu văn hóa tiến bộ của nhân loại Kiên quyết đấu tranh với các quan

điểm, tư tưởng phản động, phi văn hóa, những tư tưởng sai trái xuất hiện ra ngoài đời sống xã hội tạo môi trường văn hóa trong lành, giàu tính giáo dục, ngăn chặn những yếu tố văn hóa độc hại xâm nhập vào đời sống hàng ngày của mọi người dân Xây dựng môi trường văn hóa, có thêm những nội dung, hình thức hoạt động phong phú, góp phần nâng cao dân trí, chống hủ tục mê tín dị đoan, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân địa phương

1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hoá ở huyện Tiền Hải

1.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên, dân cư gi

Tiền Hải là một huyện ven biển nằm phía đông nam của tỉnh Thái Bình,

được thành lập năm 1828 với cuộc doanh điền của Nguyễn Công Trứ, giáp biển Đông, huyện Kiến Xương và huyện Thái Thụy Thị trấn huyện lỵ Tiền Hải nằm trên trục tỉnh lộ 39B cách Thành phố Thái Bình 20 km

Đồng bằng duyên hải Tiền Hải, theo các nhà địa lý-địa chất là “ vùng đenta sông Hồng” rõ ràng nhất Địa hình Tiền Hải có cảnh quan đặc thù ở đồng bằng châu thổ gắn liền với những đặc trưng của “nền văn minh sông nước” Phía Bắc huyện Tiền Hải giáp sông Trà Lý, một nhánh của sông Thái Bình, ranh giới với huyện Thái Thụy; phía Nam giáp với sông Hồng mà bên kia bờ nam sông Hồng

là tỉnh Nam Định; phía Đông là biển mà bờ là hình cánh cung chắn gió bão, trải rộng từ cửa Trà Lý đến cửa Ba Lạt dài 23 km; phía tây giáp địa phận huyện Kiến Xương (Thái Bình), vùng đất ”cựu” có mối quan hệ chặt chẽ về lịch sử-văn hóa

và khai phá vùng đồng bằng duyên hải này

Trang 25

Tiền Châu (còn gọi là Cồn Tiền) là kết quả của quá trình bồi tạo của các sông: Trà Lý, sông Lân và đặc biệt là sông Hồng Lượng dòng

tổng lượng phù sa của toàn bộ dòng sông, đóng vai trò chính trong việc hình thành đồng bằng châu thổ[8, tr.9-10]

Do đặc trưng của vùng đồng bằng châu thổ điển hình, Tiền Hải có đặc

điểm của một bãi bồi ven biển với nhiều sông lạch, địa hình lòng chảo với hai vùng rõ nét: vùng đất trũng phía nội đồng và vùng đất cao ở ven biển Chính yếu tố đó tác động không nhỏ trong quá trình khai thác, canh tác nông nghiệp

ở khu vực này

Khí hậu Tiền Hải mang đặc điểm chung của khu vực Đồng bằng sông Hồng, song vị trí địa lý Tiền Hải gần biển nên tạo ra những nét riêng Biển như một hệ thống điều hòa, tăng độ ẩm, giảm độ khô nóng về mùa hè, những tháng cuối năm đôi khi có sương mù dầy đặc Khí hậu miền biển của Tiền Hải tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, khu nghỉ mát, an dưỡng và

Trang 26

như Thư Điền, Trình Phố, An Ninh, Tiểu Hoàng thủa ấy thường xuyên bất ổn định trước nạn quấy phá của giặc biển Cư dân ở đây sống trong cảnh “triều khứ, mộ hồi” (sớm tản cư đi tối trở về) [8, tr 9-11] Trên vùng đất đai trù phú với sự ưu đãi hào phóng của thiên nhiên, diện tích đất đai Tiền Hải không ngừng đựơc mở rộng, theo sự tính toán của các già làng cứ khoảng 30 đến 40 năm lại có thêm một làng lấn biển mới

Cho đến tháng 12-2007 diện tích tự nhiên 226,040 km2 trong đó có 16.684 ha đất nông nghiệp

Dân số trung bình năm 2007, toàn huyện có 219.146 người phần lớn là người kinh chiếm 70% dân số, đồng bào theo đạo thiên chúa chiếm 30% dân số; mật độ dân số bình quân 970 người/km2 [24, tr.14]

Huyện Tiền Hải ngày nay có 163 thôn, làng thuộc 35 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: thị trấn Tiền Hải và 34 xã Theo thống kê của Cục Thống kê Thái Bình, đến cuối năm 2007, dân số chia theo đơn vị hành chính như sau (Bảng 4)

Bảng 4: Dân số huyện Tiền Hải chia theo đơn vị hành chính năm 2007

Trang 27

Nguån: Côc Thèng kª Th¸i B×nh

C¸c lµng x· ®−îc thµnh lËp g¾n liÒn víi c«ng cuéc khÈn hoang vµ còng chÝnh lµ thµnh qu¶ cña c«ng cuéc khÈn hoang V× thÕ, tæ chøc lµng x· kh¸c h¼n ë nh÷ng n¬i kh¸c Còng v× vËy, TiÒn H¶i ®−îc c¸c nhµ v¨n ho¸ häc xÕp

Trang 28

vào dạng văn hoá bãi triều trẻ nhất trong vùng địa-văn hoá duyên hải, có kiểu quần cư dạng bàn cờ đường ngang ngõ dọc thẳng góc Đây là kiểu quần cư khá độc đáo, khác với kiểu quần cư “mật tập” khá phổ biến ở đồng bằng Bắc

Bộ Nhìn trên bản đồ các đê ngăn mặn chạy song song với biển, địa giới các làng được xác định bởi các con kênh đào thẳng tắp và vuông góc với đê Cách phân chia như vậy tạo cho mỗi làng điều kiện dẫn nước ngọt thau chua rửa mặn và sau này lấn dần ra biển, đồng thời thuận tiện cho việc đắp đê, giữ đê phòng chống lụt bão Các đường cắt ngang để phân chia các giáp cũng rất thẳng, rồi từ đây các đường vào các ngõ xóm cũng cắt vuông góc thành những

ô bàn cờ đẹp mắt Trước đây nhà cửa ở đây dù to hay nhỏ đều làm thấp, chắc, nhiều cột để chống gió bão

ở vùng văn hoá bãi triều này, ngành nghề cũng có những nét riêng Khi làm ruộng vẫn lợi dụng thuỷ triều lên xuống để dẫn nước vào ruộng và tiêu nước ra sông, biển Bên cạnh nông nghiệp có nghề

đánh cá và làm muối, các nghề thủ công không nhiều so với vùng

địa-văn hoá trung tâm châu thổ [8, tr 17-18]

Vùng biển Tiền Hải theo kết quả điều tra cơ bản là khu vực chịu ảnh hưởng lớn của dòng hải lực áp lực từ đuôi đảo Bạch Long Vĩ vào bờ

và phần áp lực đẩy ra biển của cửa sông Hồng và sông Trà Lý Đây

là nơi lắng đọng phù sa, tích tụ phong phú và đa dạng các loại động vật, thực vật phù du Trong 1m3 nước biển gần bờ có 170 loài thực vật và 100 động vật phù du Hàng năm sông Hồng tiến ra biển với tốc độ bình quân từ 20-30m [8, tr 169]

Trên cơ sở phân tích các điều kiện ưu đãi của thiên nhiên, điều kiện địa lý Tiền Hải tạo ra những thuận lợi về mặt mở rộng diện tích canh tác, phát triển kinh tế đa dạng, song không ít những khó khăn đặt ra Huyện uỷ Tiền Hải đã

Trang 29

xác định các mục tiêu lớn nhằm khai thác kinh tế biển một cách đồng bộ và toàn diện:

- Tăng nhanh sản phẩm cho tiêu dùng và xuất khẩu

- Từng bước mở rộng diện tích xây dựng các vùng kinh tế mới tạo công ăn việc làm cho người lao động

- Giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa mục tiêu kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, giữa kinh tế với quốc phòng và an ninh trật tự [8, tr.169]

- Tập trung mọi nguồn lực, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, kinh tế biển và công nghiệp khí đốt là mũi nhọn, khai thác nguồn khí đốt thiên nhiên để sản xuất sứ, thuỷ tinh, gạch men Các ngành nghề truyền thống, sản xuất các sản phẩm vừa mang giá trị hàng hoá, vừa mang giá trị văn hoá như nghề làm nón Nam Hà, nghề xây dựng Tây Lương, nghề dệt chiếu Tây Tiến, Bắc Hải, Nam Hải; nghề sản xuất vật liệu xây dựng Vân Trường, Tây Ninh; nghề mây tre đan ở Vân Trường, Phương Công, Tây Giang; nghề sứ Đông Lâm, Đông Cơ; nghề đánh bắt cá và chế biến hải sản ở các làng chài Nam Thịnh, Nam Hải và ngành nghề có thế mạnh ở địa phương phát triển mạnh góp phần đẩy nhanh kinh tế hộ gia đình [8, tr.174] Huyện uỷ cũng chủ trương trên cơ sở sản xuất, tiến hành mở rộng liên doanh, liên kết, thu hút đầu tư kỹ thuật trong và ngoài nước đối với các dự án phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ khuyến khích tìm kiếm và mở rộng thị trường, đẩy nhanh tốc độ xây dựng nông thôn mới, thực hiện các chính sách xã hội

Do các điều kiện địa lý, tự nhiên và lịch sử, các mối quan hệ dòng họ, làng xã đã cố kết cộng đồng dân cư Hơn ở đâu hết, tính công bằng, dân chủ còn thể hiện khá đậm nét trong đời sống của những người nông dân từng

Trang 30

chung sức, chung lòng chống giặc giã, bão táp vùng ven biển ngay từ buổi đầu dựng nghiệp

Tiền Hải có vị trí địa kinh tế và nguồn tài nguyên thiên nhiên rất thuận lợi cho sự phát triển một nền kinh tế đa dạng Đất đai được bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng màu mỡ, phì nhiêu trên nền địa hình khá bằng phẳng, kết hợp với nguồn nước dồi dào, khí hậu nóng ẩm quanh năm thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng vật nuôi

Biển là nơi tiềm tàng nhiều khả năng phát triển kinh tế, giao thương với bên ngoài Tài nguyên rừng không chỉ có tác dụng to lớn trong việc điều hòa khí hậu, chắn cát, chắn sóng, bảo vệ đê điều mà còn góp phần tạo nên một hệ sinh thái phong phú đặc trưng của vùng ngập nước ven biển phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch sinh thái và giữ vai trò quan trọng trong công tác an ninh quốc phòng

Tài nguyên khoáng sản có giá trị như khí đốt, nước khoáng đã và đang khai thác phục vụ con người một cách có hiệu quả

Tuy nhiên Tiền Hải cũng gặp không ít khó khăn do thiên nhiên gây ra trong quá trình phát triển như bão, giông, úng ngập

1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế - x∙ hội

Thái Bình là một tỉnh lúa, một đỉnh cao của vựa thóc lưu vực sông Hồng Người Thái Bình biết rõ thế mạnh và yếu của nền kinh tế ấy trong sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Trong nhiều năm qua, Thái Bình rất cố gắng trên con đường phá vỡ thế độc canh cây lúa Trong sự tìm tòi ấy thì Tiền Hải- một huyện sinh sau, đẻ muộn lại có sự ưu việt trời phú để mở ra con đường phá bỏ

độc canh, phát huy nội lực, khai thác tiềm năng vốn có: kinh tế tiểu thủ công nghiệp phong phú, đa dạng trong nhân dân, những tài nguyên từ trong lòng đất (mỏ khí đốt và nước khoáng ), tài nguyên biển: đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, vận tải, và hợp tác với nước ngoài [71, tr.27-28] Đây là lợi thế để phát

Trang 31

triển khu công nghiệp tập trung với diện tích 120 ha như : nước khoáng Tiền

Hải, thủy tinh phalê, sứ vệ sinh, sứ mỹ nghệ, gạch men cao cấp; cụm công

nghiệp Trà Lý 38 ha, sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, gạch Tuylen,

bê tông đúc sẵn, bến Trà Lý được nâng cấp thành cảng vận tải hàng hóa có

quy mô hợp lý để cung cấp và chu chuyển nguyên liệu, sản phẩm cho khu

công nghiệp khí mỏ Tiền Hải; cụm công nghiệp Cửa Lân 30 ha chế biến hải

sản và đầu mối tiêu thụ hải sản của huyện; kinh tế biển có nhiều tiềm năng,

triển vọng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; với tiềm năng phát triển kinh tế,

huyện Tiền Hải có 28 chợ xã, thị trấn trong đó có 5 chợ đầu mối ( Tây Sơn,

Đông Minh, Nam Trung, Nam Thịnh, Thị trấn) Kinh tế có tốc độ tăng trưởng

khá, tương đối toàn diện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng

tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ thương mại Theo báo cáo của các cơ quan

chuyên môn đến cuối năm 2008, cơ cấu kinh tế của huyện như sau (bảng 5)

Bảng 5: Cơ cấu kinh tế của huyện Tiền Hải năm 2007

Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tiền Hải

Các yếu tố kinh tế-xã hội của huyện Tiền Hải tương đối thuận lợi cho sự

phát triển của huyện như: nguồn lao động tại chỗ dồi dào, người lao động cần

cù, chịu khó, có tay nghề, trình độ dân trí cao, có khả năng nắm bắt khoa học

kỹ thuật; chủ trương của Huyện ủy và UBND huyện là tiếp tục đổi mới và tiếp

Trang 32

thu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quản lý kinh tế, quản lý xã hội, phát triển kinh tế với nhịp độ cao và bền vững, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, thương mại - dịch vụ và nông nghiệp; sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao phù hợp với nhu cầu thị trường Đẩy mạnh cải cách hành chính Nhà nước một cách kiên quyết và đạt hiệu quả thiết thực Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa-xã hội, tạo nhiều việc làm, từng bước nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân Đẩy lùi các

tệ nạn xã hội, tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc về xã hội Củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong sạch vững mạnh

Phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa và phục vụ xuất khẩu, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm

Phấn đấu đến 2010 giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt 981 tỷ

đồng trong đó nông, lâm nghiệp 675 tỷ đồng

Tập trung xây dựng cánh đồng đạt giá trị sản lượng 50 triệu

đồng/ha/năm, diện tích đạt 3500 đến 4000 ha ở 35 xã, thị trấn Tiếp tục chuyển đổi đất cấy lúa năng suất thấp, đất tận dụng sang trồng cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản theo mô hình trang trại tổng hợp Nâng cao hệ số sử dụng đất, tiến hành lập quy hoạch xây dựng các

dự án chuyển đổi diện tích lúa năng suất thấp ở các xã ven biển để nuôi tôm, cua, cá theo hướng bán thâm canh và thâm canh cao Tập trung nuôi trồng cây, con có giá trị kinh tế cao theo hướng sản xuất hàng hóa, để tăng thu nhập trên 1 ha canh tác

Giữ vững ổn định sản lượng lương thực 150.000 tấn, trong đó có 50 ngàn tấn lương thực hàng hóa xuất khẩu Lương thực bình quân đầu

Trang 33

người đạt 700kg/năm Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện cơ cấu giống lúa lai vụ xuân đạt 70% trở lên, năng xuất cả năm giữ vững trên 130 tạ/ha Phấn đấu giống lúa có chất lượng gạo ngon chiếm 40% đến 50% diện tích; hình thành vùng trồng lúa đặc sản có chất lượng phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Quy hoạch nhiều vùng sản xuất lúa siêu cao sản, ứng dụng nhanh tiến bộ công nghệ sinh học vào sản xuất lúa từng bước quy hoạch các vùng chuyên canh trồng hoa, cây cảnh ở các xã ven thị trấn, thị tứ như An Ninh, Nam Thanh, Nam Trung [9, tr.20]

ưu tiên đầu tư cải tạo hệ thống thủy lợi, tiếp tục thực hiện tốt chương trình kiên cố hóa kênh mương, cải tạo các trạm bơm, làm tốt công tác thủy lợi nội đồng để nâng cao năng lực tưới tiêu, đáp ứng đủ nước phục vụ yêu cầu thâm canh tăng vụ, sản xuất vụ đông Tập trung xây dựng quy hoạch tổng thể

về phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp, chế biến hải sản, tiểu thủ công nghiệp, giao thông toàn diện trên địa bàn huyện Tiếp tục thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của nhà nước, của tỉnh, của huyện về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, con gia súc

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 12 của Tỉnh ủy và đề án chăn nuôi của Huyện ủy-UBND huyện, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng chăn nuôi tập trung, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản nước ngọt

và trồng cây ăn quả theo mô hình kinh tế trang trại tổng hợp, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và an toàn dịch bệnh; Phấn đấu đến năm

2010 bình quân 1 xã có 10-15 trang trại và 10-20 gia trại chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, từng bước đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính chiếm

tỷ trọng 40% trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Quy hoạch vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm bảo đảm vệ sinh môi trường, kết hợp chế biến thức ăn chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh và tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm Khai thác triệt

Trang 34

để diện tích ao, đầm, hồ nước ngọt để nuôi tôm, cá và các con đặc sản có giá trị kinh tế cao

Phấn đấu đưa ngành thủy hải sản đạt giá trị sản xuất 306 tỷ đồng vào năm

2010 Trong đó nuôi trồng 252 tỷ, đánh bắt 54 tỷ [9, tr 20-21]

Tiếp tục rà soát xây dựng, bổ sung quy hoạch vùng bãi triều, vùng chuyển đổi để phát triển mở rộng diện tích nuôi trồng thủy hải sản theo hướng chuyển đổi diện tích cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy hải sản nước

lợ và nước ngọt, theo phương thức thâm canh các giống con có giá trị kinh tế cao Đặc biệt chú trọng đến diện tích đầm, bãi ngoài đê ở các xã ven biển, tiến hành quy hoạch phân khu vực sản xuất bao gồm: Những vùng ven đê có điều kiện chống bão lụt thì đầu tư thâm canh cao; vùng phía tây sông Hồng lấp đầu tư nuôi bán thâm canh; vùng phía ngoài sông Hồng lấp đến Cồn Vành đầu tư nuôi sinh thái kết hợp với khai thác du lịch Chủ động, quản lý chặt chẽ chất lượng con giống, thức ăn và xử lý tốt môi trường, dịch bệnh, đảm bảo nuôi trồng có hiệu quả kinh tế cao và bền vững

Về khai thác hải sản: Khuyến khích ngư dân đầu tư, đa dạng hóa lưới

nghề trên mỗi phương tiện đánh bắt, phục hồi một số nghề truyền thống như: khai thác cá nổi, khai thác tôm, cua, mực, cá chim tạo cơ chế thuận lợi về

đất đai, vốn, các chính sách ưu đãi để khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư để chế biến các mặt hàng thủy sản truyền thống như nước mắm, mắm tôm, cá khô, chế biến ngao bóc đông lạnh

Xây dựng thương hiệu thủy sản Tiền Hải, xây dựng chợ đầu mối hải sản Đông Minh, Cửa Lân để tiêu thụ sản phẩm Kết hợp ngành chế biến thủy sản với ngành chế biến thức ăn chăn nuôi để tận dụng tối

đa nguyên liệu địa phương [9, tr 21-22]

Tham gia quy hoạch khu công nghiệp khí mỏ, quy hoạch trung tâm thị trấn phấn đấu đạt đô thị loại 4 và trở thành thị xã Trong thời gian tới cần tập

Trang 35

trung thực hiện tốt một số dự án như đường vành đai phía tây thị trấn, khu đô thị mới Trái Diêm-Tây Giang, quy hoạch và hình thành một số trung tâm thương mại, siêu thị, trung tâm vui chơi giải trí, khu đô thị nhà vườn, đài phát thanh, truyền thanh, trung tâm văn hóa-hội nghị Xây dựng mới một số công trình văn hóa phúc lợi phục vụ nhân dân ở khu vực trung tâm, phát triển nhanh thị trấn Tiền Hải thành đô thị hiện đại xứng tầm với vai trò là đô thị cửa ngõ phía Đông nam của tỉnh Thái Bình trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Quy hoạch phát triển thị tứ Đông Minh thành thị trấn du lịch trong tương lai, tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng để khôi phục thương hiệu du lịch Đồng Châu Trong những năm tới tăng cường đầu tư quy hoạch thị tứ Nam Trung thành thị trấn thương mại là trung tâm phát triển kinh tế - văn hóa của các xã khu nam và tuyến du lịch Cồn Vành Quy hoạch khu du lịch sinh thái Cồn Vành, khu nghỉ dưỡng Đồng Châu, khu lưu niệm Bác Hồ (xã Nam Cường) và một số điểm di tích lịch sử văn hóa tạo thành tua du lịch hấp dẫn khách tham quan trong và ngoài tỉnh Từng bước hình thành và quảng bá thương hiệu du lịch sinh thái Cồn Vành Tăng nhanh tỷ trọng thương mại-dịch vụ và du lịch trong cơ cấu kinh tế nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của huyện trong những năm tới Phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh, giải phóng mặt bằng, từng bước nâng cấp tuyến đường 39B đoạn từ An Ninh đến cầu Trà Lý

và tuyến đường 221A đi các xã khu nam, có kế hoạch đón nhận dự án của Trung ương về xây dựng tuyến đường cao tốc ven biển Triển khai kịp thời cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước, quản lý và điều hành theo quy hoạch tạo điều kiện cho phát triển kinh tế bền vững; huy động tốt mọi nguồn lực để tạo ra nguồn vốn lớn cho đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng Đảm bảo dân chủ công khai trong quá trình thực hiện quyết định 372/QĐ-UB của UBND Tỉnh

về đổi đất lấy công trình

Thực hiện chủ trương của Tỉnh trong những năm tiếp theo cần tập trung phát triển công nghiệp với nhịp độ cao Phấn đấu đến năm 2010

Trang 36

giá trị sản xuất công nghiệp, TTCN-XDCB đạt 982 tỷ đồng; trong đó

có công nghiệp-TTCN là 705 tỷ đồng, mức tăng trưởng bình quân hàng năm 18,6%, chiếm tỷ trọng 35% trong cơ cấu kinh tế của huyện Chú trọng phát triển những ngành nghề có lợi thế và khả năng cạnh tranh, tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp lớn như: thủy tinh phalê, sứ vệ sinh,

sứ mỹ nghệ, gạch men cao cấp, sản phẩm mây, tre đan, gia công các mặt hàng xuất khẩu, chế biến nông sản thực phẩm Tăng cường đầu tư chiều sâu, đổi mới dây chuyền, công nghệ, xây dựng đăng ký thương hiệu bản quyền, tiếp thị và chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu Khuyến khích phát triển nhiều doanh nghiệp trong làng nghề ở các xã Tây Giang, Tây An, Đông Xuyên, Đông Minh, Nam Thịnh, Thị trấn [9, tr 23]

Tiếp tục thu hút đầu tư vào khu công nghiệp khí mỏ, các cụm công nghiệp Trà Lý, bến cá Cửa Lân theo hướng trên cơ sở tiềm năng sẵn có hiện nay để tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế để xây dựng khu vực Trà Lý thành cụm công nghiệp bao gồm các ngành sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, gạch tuylen đồng thời nâng cấp đầu tư bến Trà Lý thành cảng vận tải hàng hóa có quy mô hợp

lý để cung cấp và chu chuyển nguyên liệu, sản phẩm cho khu công nghiệp khí

mỏ Tiền Hải Phát triển theo quy hoạch khu vực bến cá Cửa Lân thành cụm công nghiệp chế biến hải sản và đầu mối tiêu thụ hải sản của huyện Tích cực cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, thủ tục giải phóng mặt bằng cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế vào thuê đất đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và mở rộng nâng cao năng lực sản xuất

Về khoa học công nghệ: nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ mới vào sản

xuất kinh doanh phục vụ đời sống như: công nghệ tin học, công nghệ sinh học bảo quản sau thu hoạch, sử lý môi trường, nước sạch nông thôn, đánh giá tác

Trang 37

động môi trường trong các dự án đầu tư, giáo dục ý thức giữ gìn bảo vệ môi trường sinh thái

Mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng hoạt động thương mại dịch

vụ Phấn đấu đến 2010 giá trị sản xuất đạt 836 tỷ đồng, mức tăng trưởng hàng năm là 18,6%, chiếm 30% trong cơ cấu kinh tế

Phối hợp với các ngành của tỉnh lập dự án đầu tư quy hoạch tổng thể Cồn Vành theo hướng kinh tế-quốc phòng gắn với du lịch sinh thái, có cơ chế phù hợp để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào khu du lịch Cồn Vành Sau khi hoàn thành dự án đường bộ đi Cồn Vành, tiếp tục đầu tư đưa điện, nước sạch, tạo điểm du lịch hấp dẫn cho khách tham quan

Phát triển thương mại, dịch vụ gắn với sản xuất tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, chú trọng tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm cho nông dân Hỗ trợ khuyến khích các thành phần kinh tế, phát triển nhiều loại hình dịch vụ ở nông thôn trước hết là các dịch vụ kỹ thuật, tín dụng thương mại, để tạo nhiều việc làm tăng thu nhập cho nông dân Quy hoạch tổng thể và chi tiết hệ thống các khu thương mại dịch vụ gắn với quy hoạch khu dân cư, đô thị để tạo sức mua tập trung Từng bước nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ khác như: giao thông vận tải, điện lực và bưu chính viễn thông Tăng cường công tác quản lý thị trường, đặc biệt là những lĩnh vực nhạy cảm, chống nhập lậu và gian lận thương mại

Tập trung mọi nguồn lực tăng đầu tư cho phát triển, khai thác triệt để mọi nguồn thu, thu đúng, thu đủ các khoản thu ngân sách theo quy định của nhà nước, đồng thời thực hiện tốt chủ trương về thực hành tiết kiệm Tập trung huy

động mọi nguồn lực trên cơ sở lợi thế của huyện ven biển và có khu công nghiệp khí đốt để phát triển sản xuất, chỉ đạo quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Tăng cường hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện luật ngân sách đối với các cơ quan, đơn vị và các

Trang 38

xã, thị trấn Thực hiện nghiêm túc chủ trương sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng Đồng thời tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư vào các khu trung tâm thương mại, du lịch và khu công nghiệp của huyện

Các ngân hàng, tổ chức tín dụng tăng cường huy động vốn để đáp ứng nhu cầu phục vụ các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Trước mắt ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng chính sách tập trung đảm bảo vốn cho người nghèo, hộ nông dân thiếu vốn vay đầu tư phát triển kinh tế khu vực nông nghiệp Ngân hàng công thương và các tổ chức tín dụng khác đảm bảo vốn vay cho phát triển, khai thác nuôi trồng và các dự án chế biến thủy hải sản [9, tr.22-25]

1.2.3 Tình hình phát triển văn hoá

Văn hóa ở Tiền Hải trong lịch sử cũng như ngày nay cơ bản dựa trên nền tảng nông nghiệp lúa nước cổ truyền Người Tiền Hải đã kế thừa và phát huy văn minh nông nghiệp lúa nước khu vực đồng bằng sông Hồng từ hàng nghìn năm về trước Bằng sự kiên nhẫn phi thường, nhân dân Tiền Hải

đã từng bước chế ngự thiên nhiên, “ ngọt hóa ” đồng đất, phát triển nền nông nghiệp bền vững bên bờ biển Đông, biến miền đất sình lầy, chua mặn thành những “bờ xôi, ruộng mật ”, năng suất cây trồng ngày một cao Quá trình lao động bền bỉ, sáng tạo đó rất gian nan nhưng rất đáng tự hào

Trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, xây dựng và bảo vệ xóm làng, trại ấp, người Tiền Hải ngay từ những ngày đầu “ mở đất ” đã hòa quyện vào nhau Một khởi đầu tốt đẹp của tinh thần đoàn kết, hòa hợp cộng đồng, dù đó

là dân “ làng cựu ” hay dân từ nhiều miền quê đến khẩn hoang Tinh thần ấy còn truyền đến các làng sau này được sáp nhập từ các huyện kề cận, tạo nên một đặc điểm rất riêng của Tiền Hải

Trang 39

Trong quá trình lao động bền bỉ, lâu dài, nhân dân tiền Hải đã tạo cho mình những truyền thống tốt đẹp thể hiện trên nhiều mặt đời sống văn hóa- xã hội Đó là tiền đề thuận lợi cùng cả nước xây dựng nền văn hóa mới trên cơ sở

kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

So với các huyện trong tỉnh Thái Bình thì huyện Tiền Hải là một vùng

đất mới có lịch sử hình thành đất đai và cư dân cơ bản muộn hơn và không

đồng đều về độ tuổi, có những làng xã mới ra đời trên dưới nửa thế kỷ như dải

đất bốn xã khu nam huyện Tiền Hải được mang tên Nam Hưng, Nam Thịnh, Nam Phú, Nam Cường thường đựơc gọi tắt một cách kiêu hãnh là : Hưng – Thịnh – Phú – Cường

Cần phải thấy rằng hầu hết đất đai của huyện Tiền Hải hiện nay vốn được hình thành từ một bãi bồi ven biển, quá trình biển tiến, biển thoái tự nhiên và công cuộc lấn biển ngàn đời đã đưa những làng xưa là duyên hải, nay là nội

đồng Cư dân thuộc các làng xã ven biển nhìn chung từ nhiều nơi đến làm ăn sinh sống nên trong làng, xã thường có nhiều dòng họ và mối quan hệ với quê

cũ còn khá đậm Cho nên, điều lý thú là đời sống văn hóa của cư dân vùng duyên hải Tiền Hải có nét rất riêng của Tiền Hải và có nét rất chung của vùng

“biển” Đó là tính hỗn dung và mở của văn hóa

Vùng ven biển Tiền Hải trải dài 23 km bờ biển với 8 xã, số dân 42965 người Từ 3 cửa sông lớn, tàu thuyền có thể từ các cửa sông này vào sâu trong nội địa Tiền Hải, từng được xác định là một trong những cửa ngõ của Tổ quốc

có vị trí chiến lược trọng yếu về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa qua các thời kỳ lịch sử Các cửa sông lớn này cũng là cửa ngõ truyền giáo của các loại tôn giáo, phổ biến là Thiên chúa giáo và Phật giáo Các loại tạp giáo cũng lợi dụng vùng đất ven biển Tiền Hải này để ươm gieo những hạt mầm Thời kỳ chiến tranh, kẻ thù dùng biển Đông làm bàn đạp tấn công bằng đường biển,

đường không Mỗi làng xã ven biển Tiền Hải là một pháo đài bảo vệ Tổ quốc Thời hòa bình, đổi mới, mở cửa lại diễn ra những hoạt động tinh vi hơn, phức

Trang 40

tạp hơn về việc xâm phạm của tầu thuyền nước ngoài Việc tranh chấp ngư trường, đưa người vượt biển trái phép, truyền đạo trái phép, buôn lậu và thẩm lậu các sản phẩm văn hóa ngoại lai trong đó có một bộ phận sản phẩm văn hóa lai căng, độc hại

Trước cách mạng Tháng Tám, vùng đất ven biển thường được gọi

bằng thuật ngữ không mấy trân trọng là “Ven bìa cuối bãi” Trong

sự nghiệp xây dựng CNXH, xây dựng nền văn hóa mới, vùng Tiền Hải được xác định là vùng sâu vùng xa, càng ngày càng được quan tâm để giảm dần khoảng cách chênh lệch về đời sống kinh tế-văn

hóa so với các vùng miền khác [57, tr.47-48]

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng Bộ huyện Tiền Hải lần thứ XXV nhiệm kỳ 2005-2010 đã xác định phát triển kinh tế biển là một trong năm trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội ở Tiền Hải Kinh tế hộ gia đình của nhiều gia đình đã nhanh chóng chuyển từ hộ nghèo sang hộ giàu nhờ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, nhưng cái giá phải trả của sự tăng trưởng kinh tế như nghiện hút, mê tín dị đoan, sự lai căng về nếp sống, lối sống, sự phô trương về lễ nghi tôn giáo… cũng đặt ra những bức xúc trong quá trình quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở huyện Tiền Hải

hơn Câu ngạn ngữ “ Kim Sơn phụng Phật, Tiền Hải sự thần” (Kim Sơn thờ Phật, Tiền Hải thờ thần) đã phản ánh thực tế đó Điều đáng chú ý là, bên cạnh các vị thành hoàng rước từ các làng cựu, nhiều làng thờ Nguyễn Công Trứ, người có công sáng lập công cuộc khẩn hoang và thờ Trần Hưng Đạo- vị Đức Thánh cầu mong sự phù hộ cho cuộc sống trên biển và ven biển vốn nhiều gian truân và bất trắc Tuy thế, ở các làng cựu thuộc Kiến Xương, Giao Thuỷ

mà sau này hoà nhập vào Tiền Hải, làng nào cũng có những ngôi chùa cổ kính Đáng chú ý là trong các ngôi chùa này vẫn còn lưu lại các di vật thời Tây Sơn như chuông Cảnh Thịnh ở Tây An, Võ Lăng, Nam Hải

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w