1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý di tích lịch sử ở huyện thiệu hóa, tỉnh thanh hóa

150 33 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 5,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập: Công tác tuyên truyền Luật Di sản văn hóa chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến nhận thức của

Trang 1

Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO

TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI

********

quản văn hải

Quản lý di tích lịch sử văn hoá

ở huyện thiệu hóa, tỉnh thanh hóa

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 60310642

LUậN VĂN THạC Sĩ QUảN Lý VĂN HóA

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trịnh Thị Minh Đức

Hà Nội, 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày… tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

Quản Văn Hải

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA 13

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý Di tích lịch sử văn hóa 13

1.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm 13

1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa 24

1.1.3 Nội dung quản lý Nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 29

1.2 Tổng quan về hệ thống DTLSVH của huyện Thiệu Hóa 31

1.2.1 Khái quát chung về huyện Thiệu Hóa 31

1.2.2 Hệ thống Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa 39

Tiểu kết Chương 1 51

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THIỆU HÓA 52

2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý di tích 52

2.1.1 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa 52

2.1.2 Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Thiệu Hóa 54

2.1.3 Ban quản lý di tích tại các xã/ thị trấn ở huyện Thiệu Hóa 55

2.2 Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa 58

2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa 58

2.2.2 Tổ chức tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân về pháp luật bảo vệ di tích lịch sử văn hóa 61

2.2.3 Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 64

2.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về di tích lịch sử văn hóa 75

2.2.5 Tổ chức đào tạo đội ngũ chuyên môn về quản lý di tích lịch sử văn hóa 76

Trang 4

2.3 Đánh giá công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu

Hóa trong thời gian qua 78

2.3.1 Những ưu điểm 78

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 80

Tiểu kết Chương 2 83

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HUYỆN THIỆU HÓA 85

3.1 Phương hướng 85

3.1.1 Tăng cường sự quản lý, đầu tư của Nhà nước và sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 85 3.1.2 Đẩy mạnh việc đầu tư kinh phí, vận động các tổ chức xã hội và đông đảo nhân dân tham gia vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình xã hội hóa các hoạt động văn hóa 87

3.1.3 Đẩy mạnh việc giao lưu, hợp tác nghiên cứu liên ngành giữa các cơ quan khoa học ở trung ương và huyện Thiệu Hóa về việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 89

3.1.4 Quản lý di tích lịch sử văn hóa gắn với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện Thiệu Hóa 90

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý di tích trên địa bàn huyện Thiệu Hóa 91

3.2.1 Nhóm giải pháp về chính sách 91

3.2.2 Nhóm giải pháp tăng cường tổ chức và triển khai thực hiện công tác quản lý và bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa 99

3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 103

3.3 Một số khuyến nghị 106

3.3.1 Khuyến nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa 106

3.3.2 Khuyến nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 107

Tiểu kết Chương 3 109

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 114

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

DTLSVH Di tích lịch sử văn hóa

Ủy ban Mặt trận tổ quốc

Xã hội hóa QLDTLSVH Quản lý Di tích lịch sử văn hóa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô giá của đất nước, là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc Ngày nay, vai trò của di tích lịch sử càng trở nên quan trọng hơn trước những thay đổi nhanh chóng mang tính thời đại

ở về mọi mặt Kinh nghiệm xây dựng và phát triển văn hóa xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy, một dân tộc nào giữ được những giá trị di tích lịch sử văn hóa thì dân tộc đó sẽ giữ được bản sắc văn hóa của mình, sẽ khẳng định được “thương hiệu” của quốc gia trên trường quốc tế Trong nhiều năm trở lại đây, Nhà nước ta đã có chủ trương đầu tư kinh phí cho việc quản

lý, bảo tồn và khai thác các di tích lịch sử văn hóa

Lĩnh vực văn hóa luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta coi trọng Văn hóa không chỉ là nền tảng, mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội, ngày nay, văn hóa được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị Trong những năm qua, nền văn hóa Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong lịch sử dân tộc Tuy nhiên, cùng với thời gian, do hoàn cảnh và hạn chế nhất định, những di sản văn hóa được các thế hệ cha ông để lại đang có nguy

cơ mai một Giá trị của di sản văn hóa nói chung và của di tích lịch sử văn hóa nói riêng là vô cùng to lớn, song điều quan trọng hơn là việc quản lý, bảo tồn và phát huy những giá trị của nó như thế nào đang là vấn đề cần được quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành, nhất là những người làm công tác quản lý văn hóa hiện nay Nhiều năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc ở những quy

mô khác nhau Hàng loạt di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, tu bổ, tôn tạo; rất nhiều cổ vật, di vật trong đó được bảo vệ; lễ hội truyền thống, diễn xướng, trò chơi dân gian, thuần phong, mỹ tục được lưu giữ và phát triển Tuy nhiên, công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc cũng còn tồn tại một

Trang 7

số hiện tượng đáng quan tâm, gây bức xúc trong xã hội Đó là tình trạng xâm hại, phá hoại di tích; lấy cắp cổ vật và đồ thờ tự trong đình, đền, chùa; hiện tượng mê tín dị đoan gia tăng; lễ hội truyền thống còn nhiều lộn xộn Tình trạng này khiến cho môi trường văn hóa, xã hội nói chung, môi trường bảo tồn di sản văn hóa nói riêng kém lành mạnh, chưa thực sự bền vững Mặc dù toàn xã hội và ngành VHTTDL đã có nhiều giải pháp ngăn chặn, can thiệp song đây vẫn là những thách thức cho toàn xã hội trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

và phát triển phù hợp với xu thế mở cửa, hội nhập

Huyện Thiệu Hóa là vùng đất cổ, một địa danh nổi tiếng của Thanh Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung Thiệu Hóa, có sông Chu - núi Đọ, nơi cách đây khoảng 30 - 40 vạn năm đã có con người cư trú, đồng thời đây cũng

là địa bàn sinh sống lâu đời của cư dân Việt cổ thuộc nền văn hóa Đông Sơn Trong suốt quá trình hình thành và phát triển cùng với lịch sử quốc gia dân tộc, bằng đấu tranh, lao động và sáng tạo, con người nơi đây đã phải đổ mồ hôi công sức kể cả xương máu và nước mắt để tạo dựng nên mảnh đất không

ít kì tích này Vì vậy, khi nhắc đến địa danh Thiệu Hóa ta không chỉ biết đến vùng đất cổ có lịch sử phát triển lâu đời, có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa, mà còn là vùng đất “địa linh nhân kiệt” Nơi đây đã sản sinh ra những anh hùng, danh nhân văn hóa của dân tộc, tiêu biểu như: Dương Đình Nghệ, Đinh Lễ, Nguyễn Quán Nho, Lê Văn Hưu

Tính đến hết tháng 5/2014, huyện Thiệu Hóa có 40 di tích được xếp hạng, trong đó có 06 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và 34 di tích xếp hạng cấp Tỉnh Từ thành lập huyện đến nay, dưới sự lãnh đạo của huyện ủy, HĐND, UBND huyện Thiệu Hóa, sự vào cuộc của các ngành chuyên môn, công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện Thiệu Hóa đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, nhiều di tích đã trở thành điểm sáng trong công

Trang 8

tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử (tiêu biểu như Di tích lịch sử cơ

sở cách mạng của Xứ ủy Bắc kỳ, Trung kỳ và Đảng bộ Thanh Hóa thời kỳ

1930 - 1945 (nhà ông Tô Đình Bảng, nhà ông Tô Công Thanh, nhà ông Lê Huy Toán, di tích lịch sử mộ và đền thờ Nguyễn Quán Nho) Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập: Công tác tuyên truyền Luật Di sản văn hóa chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến nhận thức của người dân còn hạn chế trong việc bảo vệ di sản; nguồn kinh phí của nhà nước chi cho công tác đầu tư, tu bổ còn hạn hẹp; còn hiện tượng tự ý tu bổ, sửa chữa làm biến dạng di tích; việc thành lập và hoạt động Ban quản lý di tích một số nơi còn hình thức, chưa thực sự quan tâm; một số di tích còn hiện tượng bị lấn chiếm đất, hiện tượng xây dựng không xin phép cơ quan chức năng còn diễn ra, những di tích chưa xếp hạng bị phá

bỏ nhiều yếu tố nguyên gốc làm ảnh hưởng đến giá trị của di tích, việc đưa các hiện vật vào di tích chưa còn phù hợp với qui định và với giá trị của Di tích

Là một cán bộ đang làm công tác quản lý trong ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch, là người con sinh ra trên mảnh đất Thiệu Hóa, với trách nhiệm, sự say mê nghề nghiệp cùng với sự hiểu biết, xác định rõ vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý văn hóa nói chung, công tác quản lý di sản

văn hoá nói riêng trong giai đoạn mới hiện nay, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý

di tích lịch sử văn hoá ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa” làm Luận văn tốt

nghiệp Cao học chuyên ngành Quản lý văn hoá

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những tập hợp tài liệu bước đầu cho thấy hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trong một số công trình đã xuất bản, có một số công trình có tình khái quát như:

Trang 9

“Địa chí huyện Thiệu Hóa” của 2 tác giả Phạm Tấn, Phạm Văn Tuấn,

xuất bản năm 2010 đã giới thiệu tổng quan về địa lí tự nhiên, địa lí hành chính, lịch sử, kinh tế, văn hoá xã hội và nhân vật chí của huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hoá

“Thanh Hoá di tích và danh thắng’’ (Tập 3), Nxb Thanh Hoá, năm

2004, đã đề cập đến qui mô, kiến trúc của các di tích lịch sử trên địa bàn huyện Thiệu Hóa Theo số liệu sách đưa ra, huyện Thiệu Hóa có 05 Di tích xếp hạng cấp Quốc gia và 31 Di tích xếp hạng cấp tỉnh

Sách “Tể tướng Vãn Hà’’, Nxb Thanh Hoá, năm 1995, tác giả Lê Bá

Chức đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp của nhân vật lịch sử của Thiệu Hóa, cũng như những nét khái quát ban đầu về đền thờ và lăng mộ của các nhân vật lịch sử

“Khảo sát văn hoá truyền thống Thiệu Hoá’’ Nxb Văn hoá dân tộc,

năm 2003, tác giả Tạ Quang đã có cái nhìn khái quát về văn hoá truyền thống của huyện Thiệu Hoá trên nhiều lĩnh vực Sách chủ yếu đi vào sưu tầm các giá trị văn hoá dân gian (truyện kể, phương ngôn, tục ngữ, ca dao, trò diễn…)

“Thiệu Hóa quê ta” của các tác giả Hoàng Văn Toàn, Phạm Như Hân,

Lê Văn Tiến, xuất bản năm 2010 bao gồm những bài viết, bài thơ, ảnh viết về quê hương Thiệu Hoá trên con đường đổi mới, tấm lòng của những người con

xa quê hương mong muốn được đóng góp nhiều hơn nữa cho quê hương

Ngoài ra còn có một số Luận văn cao học và Khoá luận đại học ngành

Bảo tàng của Trường Đại học Văn hoá Hà Nội như: Luận văn Thạc sĩ Quản lý

di tích lịch sử văn hóa ở huyện Phú Xuyên – TP Hà Nội tác giả Vũ Ngọc Hải,

Luận văn Thạc sĩ của Thạc sỹ Kiều Tuấn Đạt viết về “Giá trị văn hóa nghệ

thuật đình Hạ Giẽ”, Khóa luận Đại học của sinh viên Bạch Thị Dung với đề tài

“Tìm hiểu giá trị di tích đình là Tri Chỉ”, các công trình này chủ yếu viết về giá

trị một di tích hoặc một cụm di tích cụ thể ở những địa phương khác chứ chưa

Trang 10

viết về quản lý di tích ở huyện Thiệu Hóa; trong các đề tài vừa nêu trên, có một phần viết về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, đó cũng chính là những nội dung có liên quan đến công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa

Các tài liệu liên quan đến đề tài: Hồ sơ di tích được xếp hạng trên địa bàn huyện Thiệu Hóa từ năm 2008 – 2014; Báo cáo kết quả Danh sách các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thiệu Hóa; Đề án về bảo quản, tu bổ di tích trên địa bàn huyện Thiệu Hóa của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thiệu Hóa được Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt

Tổng hợp tình hình nghiên cứu của các tác giả đi trước cho thấy có các công trình đã viết về giá trị của di tích, của một số di tích, thậm chí giới thiệu

có hệ thống, tương đối đầy đủ về diện mạo các di tích trên địa bàn huyện Thiệu Hóa hoặc một số địa phương khác Tuy vậy, cho tới nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu đề cập toàn diện về công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trong quá trình triển khai đề tài “Quản lý Di tích lịch sử văn hoá ở

huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa”, tác giả luận văn đã kế thừa những kết

quả của các tác giả đi trước, trên cơ sở đó việc thực hiện mục tiêu và nhiệm

vụ của đề tài có nhiều thuận lợi

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò của công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trong giai đoạn hiện nay, luận văn đi sâu khảo sát phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cùng những hạn chế trong công tác quản lý các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, từ đó đề xuất một số giải pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa của huyện Thiệu Hóa trong thời gian tới

Trang 11

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch

sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa trong vòng 10 năm trở lại đây

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: từ năm 2005 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Quản lý văn hóa, Lịch sử, Bảo tồn di tích, xã hội học…

- Phương pháp tổng hợp tài liệu phân tích, thống kê, phân loại

- Phương pháp điều tra, khảo sát điền dã về thực trạng hệ thống di tích

và tình trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa

- Thực hiện phỏng vấn sâu, các nhà quản lý và đại diện cộng đồng để đánh giá khách quan về hiệu quả quản lý di tích

Trang 12

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên đánh giá thực trạng của hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa Chỉ ra được những mặt ưu điểm, hạn chế, những nguyên nhân yếu kém về công tác quản lý để từ đó có định hướng phát huy giá trị của hệ thống di tích trong công tác bảo tồn giá trị

di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa

- Kết quả nghiên cứu về thực trạng cũng như các nhóm giải pháp mà luận văn đưa ra là một trong những cơ sở khoa học giúp các cấp lãnh đạo của UBND huyện, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện có giải pháp phù hợp trong việc đổi mới, nâng cao công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa cho các huyện và các độc giả muốn tìm hiểu về công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa và tổng quan hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở

HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý Di tích lịch sử văn hóa

1.1.1 Nghiên cứu một số khái niệm

Cơ sở khoa học và pháp lý là những tiền đề quan trọng trong công

tác quản lý di sản văn hóa (DSVH) quốc gia nói chung và công tác quản lý

di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) ở huyện Thiệu Hóa nói riêng, nhằm từng bước giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực DSVH

Tiếp cận nghiên cứu thực trạng công tác quản lý DTLSVH ở huyện Thiệu Hóa và những giá trị văn hóa nằm trong tổng thể đó nhận thấy cần làm rõ những vấn đề lý luận chung về DTLSVH để từ đó đưa ra giải pháp cho công tác quản lý DTLSVH đạt hiệu quả; đồng thời phát huy tốt các giá trị văn hóa đó tới cộng đồng xã hội

1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Di sản là cái của thời trước để lại” [36,

tr 254] Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị DSVH được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên

Khái niệm DSVH trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một quá trình hình thành khá lâu dài Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ này lại được hình thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp

1789 Quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ

Trang 14

giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản Để tránh sự thất thoát và phá hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia Di sản lúc đó được hiểu như ý niệm về một tài sản chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó

là ý niệm đã tạo thành cái ý thức về di sản quốc gia

Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [26, tr.20]

Như vậy, DSVH được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau DSVH là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau

Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc, gọi tắt là UNESCO họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29-9 đến 17-10-2003

đã bàn thảo và ra Công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể Công ước đã ghi nhận: Các quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cùng với các

điều kiện khác đã tạo nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái biến mất và hủy hoại các DSVH phi vật thể

Luật Di sản văn hoá của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: “DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [34, tr.17]

Trang 15

Khái niệm di sản là một khái niệm tiến triển, vận động thay đổi theo thời gian Ngày nay khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ nữa Bởi lẽ không phải bất cứ cái gì của quá khứ cũng được coi

là di sản Di sản là sản phẩm của quá khứ nhưng đó là quá khứ đã được lựa chọn theo nhu cầu của xã hội hiện đại Di sản là sự lựa chọn từ quá khứ lịch sử những ký ức, báu vật của cộng đồng, thể hiện nhu cầu, nguyện vọng, mong

muốn của xã hội hiện đại Do đó, sự ra đời của Luật DSVH năm 2001 cùng với

các văn bản hướng dẫn đi kèm đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm tăng cường nhận thức và hành động cho toàn xã hội, tăng cường sự hiểu biết về

di sản và quá trình bảo vệ, phát huy kho tàng DSVH của dân tộc

Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong việc phê chuẩn

Công ước về bảo vệ DSVH phi vật thể năm 2003 của UNESCO và là thành

viên của Ủy ban Liên Chính phủ tham gia xây dựng phương hướng hoạt động

và các chính sách quốc tế có liên quan đến Công ước này DSVH là yếu tố cốt lõi của văn hóa, chuyển tải bản sắc văn hóa của một cộng đồng xã hội DSVH Việt Nam là tài sản văn hóa quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và

là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Như vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ gìn và làm phong phú cho kho tàng DSVH nhân loại

Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương đường lối và chính sách bảo vệ và phát huy giá trị DSVH nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước DSVH Việt Nam khi được bảo tồn, kế thừa và phát huy sẽ có tác dụng tích cực trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam đương đại, kết hợp với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Trang 16

1.1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa

* Khái niệm DTLSVH: Là bằng chứng không thể phủ nhận về một quá

khứ luôn có mặt mà cộng đồng, dân tộc đã công nhận và thừa nhận như những giá trị tiêu biểu cho bản sắc văn hóa của mình Khái niệm này được các nhà khoa

học rất quan tâm trong thời kỳ chưa có khái niệm trong Hiến chương quốc tế

Venice (1964) Xác định DTLSVH là một loại hình di sản văn hóa vật thể, luôn

tồn tại khách quan, được xem là những giá trị văn hóa tiêu biểu cho cộng đồng dân tộc

Di tích là “dấu tích” “dấu vết” còn sót lại không nguyên vẹn của một công trình nghệ thuật LSVH nào đó đã được xây dựng trong quá khứ (từ thế

kỷ XX trở về trước, lùi sâu cho đến thời tiền, sơ sử, có quy mô to nhỏ khác nhau, có chức năng, tác dụng khác nhau) Từ khái niệm nêu ra trên đây có thể nhận thấy được về giá trị văn hóa vật thể cả một công trình kiến trúc Tuy nhiên, trải qua thời gian đã có những biến đổi trong một chừng mực nhất định Khái niệm đã qui định về khung thời gian cho việc xác định sự hiện diện của di tích Tuy nhiên về quy mô có thể to nhỏ khác nhau, chức năng, tác dụng khác nhau Có những kiến trúc phục vụ cho tôn giáo, có những tòa thành phục vụ cho mục đích quân sự, có những kiến trúc trở thành một bộ phận của kiến trúc đô thị

* Khái niệm trong Hiến chương quốc tế: Trong Hiến chương Venice –

Italia năm 1964 quan niệm rằng, DTLSVH không phải là công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh công trình ở đô thị hay ở nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng đối với công trình nghệ thuật

to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng thời gian thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa Khái niệm trong hiến chương cũng đặc biệt quan tâm đến các khung cảnh đô thị trong đó có các đô thị cổ ở nước ta như

Trang 17

phố cổ Hội An, Phố Hiến,… Khung cảnh nông thôn là các khu vực có làng

cổ, bản cổ như ở nước ta có làng cổ Đường Lâm ở Hà Nội, làng cổ Phước Tích ở Huế,…

* Khái niệm trong Luật Di sản văn hóa: Theo Luật Di sản văn hóa năm

2001 quy định tại Chương 3, Điều 4 cho biết: DTLSVH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt hiếm về các mặt lịch sử, văn hóa, khoa học

* Tiêu chí để trở thành di tích lịch sử văn hóa

Điều 28 Luật Di sản văn hóa quy định:

1 Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;

b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;

c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến;

d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;

đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử

2 Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

a) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu;

Trang 18

b) Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,

đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất

* Các loại hình di tích

Căn cứ Điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, di tích được phân

ra thành 04 loại hình, bao gồm:

Một là, di tích khảo cổ học gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị

nổi bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ Loại hình di tích khảo cổ có thể phân chia thành các loại di tích sau đây: 1/ Loại di chỉ cư trú; 2/ Loại di chỉ mộ táng; 3/ Loại di chỉ cư trí –

mộ táng Ngoài ra, còn có thể phân chia theo thời đại khảo cổ: 1/ Loại di tích/ di chỉ thời đại đồ Đá; 2/ Loại di tích/ di chỉ thời đại đồ Đồng; 3/ Loại di tích/ di chỉ thời đại đồ Sắt [20, tr.15]

Hai là, loại hình di tích lịch sử bao gồm những công trình xây

dựng địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, của địa phương hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc [20] Loại hình di tích lịch sử có 3 loại di tích: 1/ Loại di tích gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước, giữ nước; 2/ Loại di tích gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; 3/ Loại di tích gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng [20, tr.15]

Ba là, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: công trình

kiến trúc, nghệ thuật quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và

Trang 19

địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật có thể chia ra các loại khác nhau, cụ thể được chia làm 06 loại: 1/ Các đô thị đã hình thành trong lịch sử và các thành phần của chúng Các phế tích của các đô thị cổm các phối hợp và tổng thể đô thị lớn thể hiện bộ mặt đô thị và các khu dân cư 2/ Di tích kiến trúc

cư trú, gồm các ngôi nhà ở thành thị và nông thôn, các cung thất, dinh thự 3/ Di tích kiến trúc dân dụng như các công sở, các công trình văn hóa, các công trình phục vụ đời sống 4/ Di tích kiến trúc tôn giáo (đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ,…), lăng tẩm cũng có thể đưa vào loại hình này 5/ Di tích kiến trúc quân sự như: thành, lũy, hào… 6/ Di tích kiến trúc phong cảnh – phần những cảnh quan thiên nhiên cónhững công trình kiến trúc được lồng ghép vào các công viên, vườn hoa, khu sinh thái [20, tr.16]

Bốn là, loại hình di tích danh lam, thắng cảnh Cảnh quan thiên

nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù [20] Loại di tích này có thể phân chia thành 2 loại: 1/ Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý,

đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Việt Nam và thế giới 2/ Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu [20, tr.16]

Mặc dù trong các văn bản phân chia DTLSVH làm 04 loại hình, trong từng loại hình lại phân chia thành các loại di tích thuộc loại hình cụ thể, nhưng

Trang 20

trên thực tế khi căn cứ vào các giá trị tiêu biểu chứa đựng ở từng trường hợp cụ thể thì quá trình phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối Trong khi tiếp cận phân loại, điều cơ bản chúng ta cần xác định được giá trị tiêu biểu của di tích

để tiến hành phân loại các di tích, dù ở phạm vi của loại hình nào

Nếu căn cứ vào giá trị lịch sử văn hóa, khoa học thẩm mỹ và cấp độ quản lý, di tích được xếp hạng và chia thành ba loại, gồm:

Một là, di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu

của quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xếp hạng

Hai là, di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ

trưởng Bộ VH, TT& DL ra quyết định xếp hạng

Ba là, di tích cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) là di tích

có giá trị tiêu biểu trong phạm vi địa phương do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định xếp hạng

Việc hiểu rõ nội hàm khái niệm di tích và các hình thức phân loại di tích có ý nghĩa quan trọng để xác định sự quan tâm của các cơ quan quản lý di tích cho từng loại hình di tích Đây cũng là một trong những cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và xây dựng hệ thống văn bản pháp luật trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc

1.1.1.3 Khái niệm quản lý

Thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo nghĩa thông thường, trong tiếng Việt thuật ngữ “Quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, theo dõi; nếu hiểu theo nghĩa Hán – Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “Lý” là trông nom, coi sóc Ở phương tây người ta dùng từ “Management” có nghĩa là quản lý, là bản tay hoặc liên quan đến hoạt động của bàn tay, tức là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt

Trang 21

Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý ở một góc độ riêng nào đó thì chúng đều có những định nghĩa riêng về quản lý Khái niệm quản lý trong điều khiển học được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình để điều khiển, chỉ đạo sự vận động của nó theo những quy luật nhất định nhằm đạt được những mục đích hay kế hoạch mà người quản lý đã đề ra từ trước

Điểm qua một số quan điểm, chúng ta thấy rõ bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Quản lý là một hoạt đông khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vu lớn, từ đơn giản đến phức tạp Đối với xã hội có trình độ phát triển càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai trò của quản lý ngày một tăng lên

Theo ý nghĩa thông thường, phổ biến, thuật ngữ “Quản lý” được hiểu

là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội

và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định

Với cách hiểu về khái niệm quản lý như đã trình bày ở trên, về mặt Nhà nước, quản lý bao gồm các yếu tố sau:

+ Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn

là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

+ Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản

lý Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản

lý khác nhau

+ Khách thể quản lý chịu sự tác động hay điều chỉnh của chủ thể quản

lý, đó là hành vi của con người hoặc quá trình xã hội

Trang 22

+ Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định

do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản lý

ra đời chính là hướng đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc

1.1.1.4 Khái niệm quản lý di tích lịch sử văn hóa

Quản lý DTLSVH chính là sự đinh hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLSVH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Các DTLSVH cần được tôn trọng và bảo

vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng

có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân Đặc biệt trong nên kinh tế thj trường có sự quản lý của Nhà nước như đặc thù của nước ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển KT –

XG của đất nước, đồng thời bảo tồn được giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc

Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, xét cho cùng cũng là một phần của công tác quản lý DSVH nói chung và quản lý DTLSVH nói riêng Theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo dõi Cụ thể, “quản lý” có hai nghĩa là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan; trông coi, giữ gìn và theo dõi những hoạt động cụ thể Trường hợp quản lý DTLSVH có thể hiểu là tổ chức, điều khiển hoạt động của cơ quan quản lý di tích ở các cấp độ khác nhau, tùy theo quy định về chức năng, nhiệm vụ cụ thể Trong lĩnh vực DTLSVH, cơ quan quản lý di tích có trách nhiệm trông coi, giữ gìn, tổ chức các hoạt động bảo quản, tu bổ, tô tạo di tích; tổ chức bảo vệ

di tích với mục tiêu chống xuống cấp cho di tích, để di tích tồn tại lâu dài, tổ chức lập hồ sơ, xếp hạng các giá trị và cơ sở pháp lý bảo vệ di tích…

Trang 23

Phát huy giá trị DTLSVH gồm các hoạt động: Tổ chức tham quan tại di tích; quảng bá di tích trên các phương tiện truyền thông đại chúng; xuất bản các ấn phẩm giới thiệu di tích; đưa di tích đến với ngành công nghiệp du lịch Phát huy giá trị DSVH là một hoạt động nhằm khai thác những giá trị của di sản để phục vụ và đáp ứng nhu cầu của xã hội, góp phần phát triển KT-XH của đất nước, đồng thời góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ DSVH dân tộc Phát huy làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn

Phát huy cũng có thể hiểu là tập trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các mặt giá trị của DSVH Quản lý DSVH là một quá trình theo dõi, định hướng, điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các DSVH trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư, chủ nhân của các DSVH đó Quản lý DSVH là một hoạt động nằm trong công tác quản lý DSVH Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý DSVH không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể mà quan trọng hơn là người làm công tác quản lý phải quan tâm đến những giá trị văn hóa phi vật thể để có tác động tích cực đến đời sống cộng đồng Đặc biệt hơn là các DT DSVH luôn tổ chức lễ hội tại không gian thiêng và không gian tự nhiên của di tích

Từ những khái niệm quản lý, quản lý nhà nước về văn hóa, quản lý di

tích lịch sử văn hóa có thể hiểu là một hoạt động luôn có hướng đích giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý theo đúng những đường hướng mà Đảng và Nhà nước đề ra Đó chính là quá trình tác động giữa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý Để công tac quản lý có hiệu quả cần thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hóa hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Trong trường hợp cụ thể với các đối tượng là

Trang 24

DTLSVH thì mục tiêu cần hướng tới là bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH phục vụ cộng đồng trong nước và quốc tế

1.1.2 Cơ sở pháp lý cho công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa

1.1.2.1 Các văn bản của Đảng và Nhà nước là cơ sở pháp lý cho quản

lý di tích lịch sử văn hóa

Trong khi tiến hành nhiệm vụ quản lý di tích cần phải tuân thủ theo đường lối của Đảng và Nhà nước đã đề ra, đó là các văn bản quản lý được ban hành- cơ sở pháp lý cho công tác quản lý DTLSVH Dưới đây, xin điểm qua một số văn bản pháp lý về công tác QLDTLSVH, đặc biệt là các văn bản ban hành trong thời gian gần đây

+ Nghị định số 519-TTg ban hành ngày 29 tháng 10 năm 1957 của Thủ

tướng Chính phủ về việc “Quy định các luật lệ cơ bản cho hoạt động bảo tồn di

tích”: Đây là một văn bản pháp lý quan trọng có giá trị nền tảng cho hoạt động

bảo vệ di tích nói riêng và bảo tồn bảo tàng nói chung Nghị định số 519-TTg ngày 29 tháng 10 năm 1957 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký, quy định các điều luật cơ bản cho hoạt động bảo tồn di tích thời gian này Nghị định gồm 7 mục 12 điều trong đó mục II quy định về liệt hạng di tích; Mục III quy định về sưu tầm và khai quật; Mục IV quy định về bảo quản; Mục V quy định về trùng

tu, sửa chữa; Mục VI quy định về xuất nhập khẩu những di vật có giá trị lịch sử

+ Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN ban hành ngày 04 tháng 4 năm 1984 của

Hội đồng Nhà nước về việc “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh

lam thắng cảnh”, Pháp lệnh là căn cứ pháp lý quan trọng để bảo vệ di tích sau

khi đất nước hoàn toàn thống nhất và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đây là bước tiến lớn của ngành bảo tồn bảo tàng, nhằm thống nhất quản lý

và chỉ đạo mọi hoạt động bảo vệ di tích bằng các điều luật cụ thể Nhờ có Pháp

lệnh và một cơ chế quản lý mới, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng

Trang 25

làm”, hàng ngàn di tích đã được cứu vãn bởi sự huỷ hoại và những vi phạm về

đất đai liên quan đến di tích cũng được góp phần ngăn chặn

+ Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra

Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 1998 về việc “Xây dựng và

phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”: Nghị

quyết Trung ương Đảng lần thứ V, khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền

văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã khẳng định: DSVH là

tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở

để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Bảo tồn và phát huy các DSVH được coi là 1 trong 10 nhiệm vụ cụ thể trong sự nghiệp xây dựng phát triển văn hóa Bản sắc dân tộc ở mỗi giai đoạn lịch sử cũng được bồi đắp thêm bởi nhiều nhân tố, những giá trị văn hóa bền vững, những tinh hoa kết đọng qua từng thời kỳ lịch sử dân tộc, thể hiện ở các DSVH bao giờ cũng là cái cốt lõi Chính với ý nghĩa đó, Nghị quyết nhấn mạnh: “Phải hết sức coi trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”

+ Luật Di sản Văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành năm 2001 và

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hoá năm 2009: Những

nội dung cơ bản của Luật đã bám sát và đáp ứng được những nhu cầu trong cơ chế điều hành đất nước ta trong giai đoạn hiện nay là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; toàn dân sống, học tập và làm việc theo pháp luật Luật DSVH ra đời đã tạo ra những cơ sở pháp lý để triển khai một loạt các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với DSVH, chỉ rõ những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi vi phạm

di tích; quy định trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương

Trang 26

và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo tồn DSVH Những quy định của Luật DSVH được xây dựng theo hướng cởi mở, sát với thực tiễn nhằm tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và môi trường thuận lợi cho việc đầu tư phát triển kinh tế của đất nước nói chung và thúc đẩy phát triển du lịch nói riêng, đồng thời góp phần mở rộng giao lưu văn hóa, hội nhập cộng đồng quốc tế

+ Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ban hành ngày 11/11/2002 của Chính

phủ về việc “Hướng dẫn chi tiết Luật Di sản Văn hóa”; Nghị định

98/2010/NĐ-CP ngày 6/11/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

Di sản văn hóa năm 2009: Đây là những văn bản quy phạm dưới luật nhằm hướng dẫn và cụ thể hóa những quy định trong Luật Di sản văn hóa năm 2001

và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, đặc biệt là những vấn đề có liên quan đến công tác quản lý DTLSVH

+ Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/09/2012 của Chính phủ “Quy

định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu

bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh” Nghị định nhằm

hướng dẫn cụ thể hóa Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 và các vấn đề về quy hạch bảo tồn và khôi phục di tích lịch sử, thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch,

dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh

+ Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa,

Thể thao và Du lịch về việc Quy định nội dung hồ sơ khoa học để xếp hàng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh: Thông tư hướng dẫn về nội

dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh, cấp quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt

+ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ban hành ngày 06/11/2010 của Chính

phủ về việc “Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật

Trang 27

sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2001”: Đây là những văn

bản quan trọng qua các thời kỳ, quy định các hoạt động liên quan đến di tích Đó là cơ sở pháp lý quan trọng cho các hoạt động bảo tồn và quản lý

di tích lịch sử - văn hóa ở Việt Nam

+ Thông tư 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa,

Thể thao và Du lịch về việc Quy định nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh: Thông tư đã hướng dẫn về nội

dung hồ sơ khoa hoc để xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam ắng cảnh cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt Với đối tượng lập hồ sơ kha học là công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên thuộc danh mục kiểm kê di tích của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định tại khoản 14, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa có đủ tiêu chí quy định tại Điều 27, Luật

Di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung tại khoản 9, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa

+ Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 Quy định chi tiết

một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích: Thông tư này quy định

về điều kiện năng lực và điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích

1.1.2.2 Văn bản của tỉnh Thanh Hoá về vấn đề quản lý di tích lịch sử văn hóa

Căn cứ vào các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước ban hành và điều kiện thực tiễn của tỉnh, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành, áp dụng quyết định số 18/2014/QĐ-UBND về việc sửa đổi, bổ sung một số điều quy định phân cấp quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 – 2015, một số nội dung quy định về Quản lý văn hóa – Thể thao – Du lịch – Thông tin truyền thông như sau:

Trang 28

1 Tỉnh quản lý và thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đối với các di tích trên địa bàn tỉnh: Nghiên cứu, kiểm kê xếp hạng, lập hồ sơ tư liệu, hồ sơ khoa học về di tích; lập hồ sơ khoa học về di vật theo đề nghị của địa phương; quản lý và tổ chức thực hiện việc nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê phân loại di sản văn hóa phi vật thể, quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể trích Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND

2 UBND các huyện quản lý và thực hiện các nội dung sau: Quản lý, tu

bổ các di tích đã được xếp hạng còn lại trên địa bàn (ngoài các di tích tiêu biểu do tỉnh quản lý) Quản lý việc sử dụng và quản lý các hoạt động tuyên truyền, phát huy giá trị các di tích trên địa bàn Đây là nhiệm vụ trọng tâm mà

Sở VH, TT&DL tỉnh giao cho trong công tác quản lý DTLSVH tại huyện Thiệu Hóa hiện nay trích Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND

3 UBND các xã quản lý và thực hiện các nội dung sau: Quản lý toàn diện các di tích chưa được xếp hạng trên địa bàn; quản lý bảo vệ an ninh trật

tự, an toàn di vật, di tích trên địa bàn; phối hợp trong công tác bảo vệ, vệ sinh môi trường, nhân sự và tổ chức lễ hội đối với các di tích do cấp thành phố, cấp huyện trực tiếp quản lý trích Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND

4 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, xã, lập và trình UBND tỉnh phê duyệt danh mục các di tích phân cấp cho UBND các huyện, xã quản lý, cơ chế phối hợp giữa các ngành và cấp trong quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa

1.1.2.3 Các văn bản của huyện Thiệu Hóa về vấn đề quản lý di tích lịch sử văn hóa

Trong những năm qua, để tăng cường cơ sở pháp lý cho công tác quản

lý DTLSVH, Huyện ủy, HĐND, UBND đã ban hành chỉ thị, công văn chỉ đạo trực tiếp cho hoạt động quản lý, dưới đấy là một số văn bản chỉ đạo:

Trang 29

Chỉ thị 09 CT/HU, ngày 8 tháng 4 năm 2010 của Huyện ủy Thiệu Hóa

về việc tăng cường lãnh đạo, quản lý các DTLSVH và cơ sở tín ngưỡng trên địa bàn huyện Thiệu Hóa; Kế hoạch số 15/KH-UBND ngày 28 tháng 5 năm

2011 của UBND huyện Thiệu Hóa về việc tăng cường công tác QLNN các

di tích LSVH vật thể và phi vật thể trong đó nhấn mạnh vấn đề tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ di sản cho nhân dân; Công văn số 85 CV/VHTT ngày 8 tháng 11 năm 2012 của phòng VHTT về việc thống kê, báo cáo các

di tích đã xếp hạng bị xuống cấp nghiêm trọng cần tu bổ, phát huy giá trị huyện Thiệu Hóa; Công văn số 04/CV-DTTH ngày 08 tháng 01 năm 2013 của Ban quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa về việc đăng ký xếp hạng

di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp Tỉnh và cấp Quốc gia năm

2013 Ngoài ra, phòng VHTT tham mưu UBND huyện xây dựng các văn bản quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện, các báo cáo, tờ trình tỉnh phê duyệt công nhận xếp hạng các DTLSVH, hỗ trợ kinh phí trùng tu các di tích xuống cấp

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Pháp luật ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong quản lý xã hội, bất kỳ một lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật và quản lý DSVH không nằm ngoài quy định đó Như đã nêu ở trên, công tác quản lý DSVH là một nhiệm vụ không hề đơn giản và nhiều khi phải có những chế tài cụ thể để thực hiện

Luật DSVH năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009; các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật DSVH đã

cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng

và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về DSVH được quy định tại Điều 54

Trang 30

và Điều 55 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009, cụ thể như sau:

* Điều 54:Quy định nội dung quản lý nhà nước về DSVH, bao gồm:

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH;

- Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH;

- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH;

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;

- Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;

- Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH

* Điều 55: Quy định về cơ quan quản lý nhà nước về DSVH, bao gồm:

Trang 31

- Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về DSVH ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ

1.2 Tổng quan về hệ thống Di tích lịch sử Văn hóa của huyện Thiệu Hóa

1.2.1 Khái quát chung về huyện Thiệu Hóa

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Đối sánh trên bản đồ huyện Thiệu Hoá đương đại và sử cũ còn lưu lại, thì vùng đất Thiệu Hóa ngày nay vốn là thổ địa của huyện Thụy Nguyên thuộc phủ Thiệu Hóa xưa kia Thụy Nguyên trước kia vốn là vùng đất có vị trí Đông Tây cách nhau 89 dặm, Nam Bắc cách nhau 114 dặm, phía Đông đến địa giới huyện Hoằng Hóa 14 dặm, phía Tây đến địa giới Châu Lang Chánh

75 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Lôi Dương và Đông Sơn 1 dặm, phía

Bắc đến địa giới huyện Yên Định 9 dặm Theo Địa chí Thanh Hóa, Thiệu

Hóa được xác định có vị trí địa lý nằm dọc theo tỉnh lộ 22 từ tỉnh lỵ qua cầu Thiệu Hóa đến Thị trấn Vạn Hà là huyện lỵ Thiệu Hóa, cách tỉnh lỵ khoảng

18 km Địa phận huyện Thiệu Hóa trải dọc hai triền sông Chu từ giáp huyện Thọ Xuân tới giáp Ngã Ba Đầu (Thiệu Dương) dài trên 20 km, triền sông với những bãi ngô, dâu… màu mỡ

Trên thực tế, Thiệu Hóa là một huyện nằm ở trung tâm các huyện đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa, phía Bắc tiếp giáp với huyện Yên Định, phía Tây giáp với hai huyện Triệu Sơn và Thọ Xuân, phía Đông giáp huyện Hoằng Hóa và thành phố Thanh Hóa Vị trí thuận lợi như vậy sẽ tạo điều kiện cho Thiệu Hóa phát triển và giao lưu kinh tế- văn hóa với các vùng lân cận trong tỉnh Thanh Hóa

Đối với quá trình định cư lâu dài của con người thì địa hình, đất đai là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự ổn định và phát triển

Trang 32

của mọi cộng đồng dân cư Thiệu Hóa có địa hình tương đối bằng phẳng,

không quá phức tạp, đại đa số các xã đều là đồng bằng, ít hoặc không có đồi núi Trong cái bằng phẳng nhưng rất nhiều khu vực xung quanh ta còn bắt gặp những khoảng đồi núi sót như núi Bằng Trình (còn gọi là núi Vồm - Thiệu Khánh), núi Đọ (còn gọi là núi Tràn - Thiệu Vân), núi Nuông (còn gọi là núi Khuyển Ngọa Sơn- núi chó nằm), núi Là (Thiệu Tiến), núi Mấu (hai ngọn núi

đá gần nhau thuộc Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Thành, Thiệu Tiến) hầu hết đều có độ cao trung bình từ 150 tới 200m được cấu tạo từ đá phun trào, đá vôi, cát kết và đá phiến Bên cạnh đó, do quá trình hình thành phải trải qua thời gian dài nâng lên hoặc lún xuống, phù sa sông Mã và sông Chu không bồi đắp lập nên địa hình Thiệu Hóa có cả những vùng thấp, trũng Trải qua hàng ngàn năm nhân dân Thiệu Hóa đã bỏ ra biết bao công sức để tạo nên hàng trăm km đê đại hà, đê quai, đê con trạch dọc theo các triền sông, hệ

thống đê này đã hạn chế phần nào tác hại do lũ lụt gây ra

1.2.1.2 Lịch sử hình thành

Thiệu Hoá ngày nay thuộc vùng đất của người Việt cổ cư trú từ thời xa xưa, trước công nguyên nằm trong hai huyện Quận Ninh và Tư Phố Dấu vết thành Tư Phố hiện còn ở làng Giàng (nay là làng Dương Xá – xã Thiệu Dương) Sau thời Lý- Trần, các huyện trên đổi tên là Lương Giang và Cửu Chân Đến thời Lê sơ được thay thế bằng tên mới là Thuỵ Nguyên và Đông Sơn Vua Lê Thánh Tông lên ngôi (1460 - 1497) định lại bản đồ cho huyện lỵ vào phủ Thiệu Thiên lấy tên Lương Giang Thời Lê Hy Mục (1505- 1509) đổi tên là Thuỵ Nguyên, lỵ sở đặt tại làng Yên Cảng, nay là xã Phú Yên huyện Thọ Xuân Đến thời Nguyễn, dưới triều vua Gia Long (1802 - 1819) huyện lỵ dời về làng Mật (nay là xã Thiệu Phúc), sau đó lại dời về làng Bằng Trình (nay là xã Thiệu Hợp) Thời vua Minh Mạng (1820 - 1841) lỵ sở dời về làng Kiến Trung (nay là Thị trấn Vạn Hà) Cũng từ thời Gia Long, năm 1815 phủ

Trang 33

Thiệu Thiên đổi tên là phủ Thiệu Hoá (tên Thiệu Hoá có từ đây) Phủ Thiệu Hoá bấy giờ kiêm nhiếp 8 huyện: Quảng Bằng, Thạch Thành, Thuỵ Nguyên, Yên Định, Lôi Dương, Vĩnh Lộc, Đông Sơn, Cẩm Thuỷ Từ 44 xã, 13 thôn,

17 trang, 1 sở, 6 trại, 13 phường thời Lê, đến đây huyện Thuỵ Nguyên có 8 tổng: Phùng Cầu, Mật Vật, Phù Chẩn, Thử Cốc, Phú Hà, Yên Trường, Quảng Thi, Ngọc Lặc

Cách mạng tháng Tám thành công, tổng Thử Cốc chuyển về Thọ Xuân, đổi phủ Thiệu Hoá thành huyện Thiệu Hoá, bỏ đơn vị hành chính trung gian là tổng, chia huyện thành 12 xã: Huy Toàn, Đại Đồng, Minh Quang, Thái Bình, Đại Bối, Tân Dương, Ngọc Vũ, Thành Công, Vạn Hà, Chuỳ Giang, Duy Tân

và Quang Thịnh Từ tháng 3- 1953 đến nay 12 xã trên chia thành 31 xã: Thiệu Duy, Thiệu Nguyên, Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh, Thiệu Công, Thiệu Thành, Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Phúc, Thiệu Phú, Thiệu Hưng, Thiệu Long, Thiệu Quang, Thiệu Tiến, Thiệu Giang, Thiệu Vân, Thiệu Khánh, Thiệu Dương, Thiệu Viên, Thiệu Lý, Thiệu Vận, Thiệu Trung, Thiệu Đô, Thiệu Châu, Thiệu Thịnh, Thiệu Hoà, Thiệu Minh, Thiệu Tâm, Thiệu Toán, Thiệu Tân, và xã Thiệu Giao

Ngày 18-11-1996, huyện Thiệu Hoá được tái lập với Nghị định 72/CP của Chính phủ Ngày 1-1-1997, mọi hoạt động trở lại như Thiệu Hoá của 20 năm trước đây và duy trì cho đến hiện tại Những đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Thiệu Hóa trong 2 kháng chiến đã được ghi nhận bằng phần thưởng cao quý Chỉ tính riêng cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp toàn huyện được Chủ tịch nước và Chính Phủ tặng thưởng: 797 Huân chương kháng chiến hạng Hai và hạng Ba, 2.033 Huy chương, 1.556 Bằng khen, 12.807 Giấy khen Đặc biệt có tới hàng trăm gia đình được nhận Bằng có công với nước… Những phần thưởng cao quý đó đã động viên, cổ vũ Đảng bộ và nhân dân Thiệu Hóa tích cực xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh

Trang 34

1.2.1.3 Cơ cấu cư dân

Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, vùng đất Thiệu Hoá đã sớm có con người tới sinh sống Lưu vực sông Mã, sông Chu và các dải núi sót phân bố ở đôi bờ con sông từ thời đá cũ đã có con người tới cư trú Dấu vết của Người vượn cũng như những công cụ của họ đã tìm thấy ở Núi Đọ (Thiệu Tân), núi Nuông (làng Tiên Nông, xã Thiệu Long) Người nguyên thuỷ ở Núi Đọ đã dùng đá ghè đẽo thành các công cụ gần hình rìu, tách các mảnh tước để dùng trong việc cắt gọt và các hạch đá, các công cụ chặt thô Họ sống chủ yếu bằng hái lượm và săn bắt Hàng ngày từng bầy người tụ tập với nhau đi nhặt ốc ven sông Chu, hái quả và đào củ trong núi rừng xung quanh Cuộc sống của họ cứ thế trải qua hàng vạn năm, cứ sinh sôi nảy nở và sáng tạo Trải qua bao thăng trầm, biến đổi của lịch sử, bao lần di cư, chuyển cư, trên địa bàn Thiệu Hoá đã có nhiều dòng họ sống xen kẽ trong các làng xóm

Sau nhiều lần xê dịch vị trí, địa giới, thay đổi tên gọi, đến giữa năm

1999, toàn huyện Thiệu Hoá có 193.000 nhân khẩu, với 44.909 hộ, mật độ dân số trung bình là 1.143 người thuộc loại cao nhất tỉnh Thanh Hoá Có tới 85% số hộ sống bằng nghề nông, còn lại hoạt động trong các lĩnh vực khác như thuỷ sản, dịch vụ, công nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và các ngành nghề khác Bên cạnh một số xã dưới 1000 hộ như Thiệu Tân (687 hộ), Thiệu Minh (872 hộ), Thiệu Thịnh (922 hộ), cũng có nhiều xã trên 2000 hộ như Thiệu Dương (2057 hộ), Thiệu Giao (2153 hộ), đây cũng là những xã đông dân nhất (Thiệu Dương 9.135 người, Thiệu Giao 9776 người) [38, tr.30] Dân số đông, số người trong độ tuổi lao động cao là thử thách lớn trong việc thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình, cũng như giải quyết vấn đề việc làm, an sinh xã hội Tuy nhiên đây cũng chính là nguồn nhân lực dồi dào, đóng vai trò quyết định trong các chiến lựơc phát triển kinh tế- xã hội của cả huyện

Trang 35

1.2.1.4 Điều kiện kinh tế

Theo số liệu thống kê hiện nay, tổng quỹ đất toàn huyện quản lý sử dụng là 17547,52 ha, trong đó đã sử dụng 14842,83 ha bằng 84,6% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Diện tích đất chưa sử dụng là 2704,64 ha, bằng 15,4% tổng diện tích tự nhiên Diện tích sông suối chiếm 1702,84 ha bằng 10% diện tích tự nhiên Huyện Thiệu hóa nằm ở vùng khí hậu đồng bằng, theo phân vùng của khí hậu tỉnh Thanh Hóa, thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa

có nền nhiệt cao với hai mùa chính: mùa hè và mùa lạnh Mùa hè: khí hậu nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng

9 âm lịch Mùa này khí hậu có bốn hiện tượng đan xen nhau và sự mạnh yếu của từng thời kỳ khác nhau đó gió lào- nóng, hạn hán, giông bão và lụt lội Thiệu Hóa là một trong những huyện ở xứ Thanh có hệ thống sông ngòi phong phú và đa dạng bao gồm cả sông tự nhiên và sông nhân tạo (sông đào) Lớn nhất là sông Mã và sông Chu, đây là hai con sông đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của cư dân Thanh Hóa nói chung và Thiệu Hóa nói riêng

Sông Mã hay còn gọi là sông Tất Mã hoặc sông Lễ, phát nguyên từ vùng Tây Bắc có chiều dài 522 km, trong đó có 245 km chạy qua Thanh Hóa Sông vượt qua nhiều vùng rừng núi có địa hình phức tạp, nguồn nước nhiều, tốc độ dòng chảy cao, diện tích lưu vực tới 9000km2 Sông Chu là con sông lớn thứ hai của xứ Thanh, bắt nguồn từ Sầm Nưa (Lào) ở độ cao 1000m, chảy vào Thanh Hóa ở huyện Thường Xuân, chảy qua các huyện Thọ xuân, Thiệu Hóa rồi nhập vào sông Mã ở Ngã Ba Đầu (làng Giàng, xã Thiệu Khánh) Diện tích lưu vực cũng tới 3000km2 và mật độ sông suối cũng tăng hơn nhờ băng qua khu vực mưa nhiều Lượng nước sông Chu chiếm khoảng 1/4 nước sông

Mã Nước lũ trên sông Chu cũng xảy ra khá mạnh Trên các phụ lưu chính nơi điạ hình mới được nâng cao, mưa nhiều và chảy trên những vùng phiến Nam,

Trang 36

ít thấm nước Vì vậy đê sông Chu bắt đầu từ phía trên Thọ Xuân nhưng chỉ đắp bên hữu ngạn Từ Thọ Xuân trở xuống, đê đắp cả hai bên Sông Mã và sông Chu đã tạo nên vùng châu thổ và bãi bồi ven sông rộng lớn, tạo ra vùng sản xuát nông nghiệp chủ yếu ở địa phương

1.2.1.5 Văn hóa truyền thống

Trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam, Thiệu Hóa đã hòa chung vào dòng chảy của quốc gia, dân tộc Tuy nhiên trải qua quá trình đấu tranh với thiên tai, địch họa để sinh tồn, bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước, bao lớp người trên mảnh đất Thiệu Hóa đã sáng tạo nên biết bao giá trị văn

hóa đặc sắc mang đậm dấu ấn, đặc trưng của địa phương

Nói đến Thiệu Hóa người ta nghĩ ngay đến sông Chu- núi Đọ, nơi cách đây khoảng 30- 40 vạn năm vào thời đồ đá cũ thuộc nền văn hóa Sơn Vi, đã

có con người sinh sống Đồng thời Thiệu Hóa cũng được biết đến với tư cách

là nơi đã tìm thấy những hiện vật tiêu biểu cho văn hóa vật chất thuộc nền văn hóa Đông Sơn (niên đại) Hiện nay di chỉ khảo cổ núi Đọ (xã Thiệu Tân) và di chỉ khảo cổ ở Thiệu Dương đã trở thành di tích- lịch sử nổi tiếng không chỉ riêng Thiệu Hóa mà còn của cả nước nói chung Mặt khác những phát hiện khảo cổ ở Thiệu Dương đã chứng minh Thiệu Hóa xưa kia là địa bàn cư trú của người Việt Cổ

Thiệu Hóa là vùng đất xưa kia có truyền thống khoa cử Theo thống kê, vào thời kỳ phong kiến cả huyện Thiệu Hóa có 29 nhà khoa bảng trong tổng

số 210 vị của cả tỉnh Thanh Hóa, riêng xã Thiệu Trung đã có tới 8 vị, trong số

đó trước hết phải kể đến những người con ưu tú nhất, tiêu biểu nhất cho lớp trí thức Thiệu Hóa lúc bấy giờ, đó là: Bảng nhãn Lê Văn Hưu, người xã Thiệu Trung, đậu bảng nhãn khoa Đinh Mùi (năm 1247), đời vua Trần Thái Tông; TrạngNguyên Đào Tiêu, người xã Thệu Trung, đậu trạng nguyên khoa Thái học sinh năm Ất Hợi (1276); Nguyễn Quán Nho, người xã Thiệu Hưng, ông

Trang 37

đậu tiến sỹ khoa Đinh Mùi (1667) đời vua Lê Huyền Tông, làm đến lại bộ thượng thư, đi sứ nhà Thanh Hiện nay, truyền thống hiếu học vẫn được nhân dân Thiệu Hóa giữ gìn và phát huy

Thời Lý- Trần khi Đạo Phật phát triển có vị trí quan trọng, đây cũng là thời kỳ Phật giáo rất thịnh hành ở Thiệu Hóa, để đáp ứng nhu cầu về tâm linh của dân chúng, một số chùa ở đây được tu bổ, mở rộng, tiêu biểu là chùa Hương Nghiêm Theo Kiến ni sơn Hương Nghiêm từ bi dựng tháng giêng năm 1125 thì

có nhiều khả năng chùa được xây dựng từ trước thế kỷ X Vì khi Lê Đại Hành đi tuần du đến Ngũ Huyên Giang thấy chùa chiền đổ nát, liền cho xây đắp tu bổ lại Dưới thời nhà Lý nhiều lần được sửa sang, tu bổ lại Ngoài chùa Hương Nghiêm

kể trên ở Thiệu Hóa còn có một số chùa nổi tiếng khác, đó là chùa Đại Khánh còn gọi là chùa Vồm, ở làng Vồm- xã Thiệu Khánh, chùa Thái Bình (xã Thiệu Hợp), chùa Doanh Xá (nay thuộc đất hiện Đông Sơn), chùa Báo Ân…

Thiên Chúa giáo truyền vào Thiệu Hóa từ thế kỷ XIX, chủ yếu ở các làng dọc đôi bờ sông Chu, nay thuộc các xã Thiệu Thịnh, Thiệu Vũ và một số

hộ lẻ ở xã Thiệu Thành và 2 nhà thờ với 1726 giáo dân (năm 1999) Trong sự nghiệp cách mạng và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng bào theo Thiên chúa giáo ở Thiệu Hóa đã có nhiều đóng góp, hi sinh về của cải và tính mạng tích cực tham gia xây dựng quê hương giàu đẹp

Ở Thiệu Hoá có nhiều dòng họ sống xen kẽ trong các làng xóm, dù lớn hay nhỏ, dòng họ nào cũng giữ truyền thống tưởng nhớ đến công lao tổ tiên

và những bậc tiền bối có công với quê hương, đất nước Đây là một mỹ tục đáng khích lệ vì trải qua bao nhiêu năm tháng đó đã trở thành một tín ngưỡng dân gian, cũng như bao làng quê ở Việt Nam, xưa kia ở Thiệu Hoá hầu như ở làng nào cũng có đền miếu, phủ nghè để quanh năm hương khói Nhiều đền thờ ở địa phương đã trở thành quốc miếu như đền thờ Dương Đình Nghệ ở

Trang 38

Thiệu Dương, đền Lê Đại Hành ở Trung Lập, đền Lê Văn Hưu ở Thiệu Trung, đền Nguyễn Quán Nho ở Thị trấn Vạn Hà Bên cạnh đó là hàng chục đền miếu khác thờ các nhân thần, nhiên thần ở Mật Vật (Mật Thôn, Kim Hoạch- xã Thiệu Phúc), Vạn Hà (Kiến Hưng- Thị trấn Vạn Hà)

Nơi đây hội hè, đình đám ra đời sớm và có nhiều nét độc đáo, hầu hết ở các làng đều có trò diễn Trò Ngô với ba phường Ngô ở Bằng Trình (xã Thiệu Hợp), Chí Cường (xã Thiệu Quang) và làng Chuộc (xã Thiệu Tiến) nằm trong

hệ trò Văn Vương đến nay vẫn còn câu “thứ nhất pháo Ngò, thứ nhì trò Chuộc” Lại có hát chèo chái, múa đèn, chạy chữ ở xã Thiệu Quang Làng Chuộc còn có nghề múa rối cổ diễn lại tích Lê Lợi đánh giặc, Lê Lợi chém Liễu Thăng, Đào viên kết nghĩa, Phụng Nghi đình Nhiều làng xóm khác ở Thiệu Hoá đều lập ra phường hát tuồng, hát chèo hoạt động thường xuyên

Kho tàng ca dao, tục ngữ của Thiệu Hoá thực sự là một tài sản vô giá của nền văn học dân gian Việt Nam Vùng đất đầy những khắc nghiệt nhưng cũng chứa đựng biết bao tình cảm thân thương, núi cao, sông rộng, nhà tranh, cầu gỗ… tất cả đi vào ca dao như những cung bậc trữ tình Bên cạnh đó, ở Thiệu Hoá còn có áng truyện Nôm đặc sắc, đó là truyện “Phương Hoa” do cử nhân Nguyễn Văn Duyên, người làng Đoán Quyết (xã Thiệu Phúc) sáng tác vào khoảng giữa thế kỷ XIX cũng lấy nhân cốt từ trong dân gian: Phương Hoa- con gái viên quan ngự sử Trần Diên, quê ở Lôi Dương và Cảnh Yên- con trai quan thượng thư Trương Đái, quê ở Thuần Lộc trải qua bao tang tóc

và oan trái, gia đình mới được minh oan, sum họp Truyện “Phương Hoa” là một áng truyện Nôm khá phổ cập và được nhân dân địa phương rất trân trọng

Tóm lại, Thiệu Hoá là một trong những cái nôi của người Việt Cổ, với truyền thống văn hoá đặc sắc, truyền thống chống giặc ngoại xâm kiên cường

đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt và các bậc khai quốc công thần được lưu danh ngàn đời, mãi mãi là niềm tự hào của mỗi chúng ta

Trang 39

1.2.2 Hệ thống Di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa

1.2.2.1 Số lượng di tích lịch sử văn hóa ở huyện Thiệu Hóa

Tính đến năm 2014 tại huyện Thiệu Hóa có tổng số 112 di tích gồm di tích đã được xếp hạng và di tích chưa được xếp hạng Di tích được phân bổ ở hầu khắp các xã trong huyện với các loại hình phong phú như: đền, chùa, đình, miếu, điện, phủ, văn bia, lăng mộ, nhà thờ họ, nhà thờ thiên chúa giáo, văn từ bia ký, di chỉ khảo cổ học, di tích lịch sử cách mạng… Số lượng di tích lớn những mật độ di tích phân bổ ở các xã/ thị trấn trong huyện không đồng đều Di tích tập trung ở các xã: Thiệu Trung, Thiệu Hưng, Thiệu Toán, Thiệu Giang, Thiệu Quang, Thiệu Minh, Thiệu Giao với 42 di tích chiếm trên 45,25% tổng số di tích toàn huyện

Trong tổng số 112 di tích của toàn huyện đã có 40 di tích xếp hạng, trong đó có 06 di tích cấp Quốc gia và 34 di tích cấp tỉnh Trong đó trong đó

có 11 ngôi đình, 14 ngôi đền, 3 ngôi chùa, 2 văn bia, 2 di chỉ khảo cổ học, 2

từ đường, 1 nhà thờ họ, 5 di tích lịch sử cách mạng Ngoài ra còn 7 di tích khác đang tiếp tục đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh

Trong các di tích đã được xếp hạng, thì đa số là di tích lịch sử cách mạng gắn nhiều với thời kỳ kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống

Mỹ cứu nước với 12 di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu Trong đó có 04 đình làng: đình làng Tân Bình, đình làng Lam Vỹ, đình Ngô Xá Hạ, đình làng Yên

Lộ gắn với thời kỳ cách mạng giai đoạn 1930 – 1945; ngoài ra còn có các di tích như: cụm di tích cách mạng ở xã Thiệu Toán, địa điểm cuộc khởi nghĩa Thiệu Hóa ở thị trấn Vạn Hà, Hầm kháng chiến và trụ sở làm việc của Tỉnh

ủy thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Hầm chỉ huy của Tỉnh đội thanh hóa thời

kỳ 1965 – 1973 là những di tích, địa chỉ đỏ gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, là địa chỉ lịch sử cách mạng để giáo dục về truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc cho thế hệ sau noi theo và soi chiếu

Trang 40

Bên cạnh đó là hệ thống các di tích lịch sử văn hóa với 9 di tích bao gồm 3 nhà thờ họ: Nhà thờ họ Lê Minh, Nhà thờ họ Lê Duy, Nhà thờ Ông Hoàng Văn Cài; 2 đền thờ: đền thờ họ Nguyễn Đình, đền thờ Dương Tam Kha; 1 đình làng: đình làng Thọ Sơn; 1 chùa: Chùa Vĩnh Phúc và 2 phủ: Nghè Thượng và Phủ Cố Các di tích này đều gắn với các nhân vật lịch sử văn hóa của địa phương, là người có công với làng, với nước được người đời sau ghi nhớ công ơn

Một số, các di tích lưu niệm, di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu như: di chỉ khảo cổ học Thiệu Dương, đền thờ Dương Đình Nghệ (xã Thiệu Trung), đền thờ Nguyễn Quán Nho, đền thờ Đinh Lễ (Thị trấn Vạn Hà), cụm di tích cách mạng Thiệu Toán (xã Thiệu Toán), chùa Vồm (xã thiệu Khánh), đình làng Thanh Dương (xã Thiệu Khánh), đình làng Cam Vỹ (xã Thiệu Vũ)… cũng là những giá trị lịch sử văn hóa tiêu biểu của huyện Thiệu Hóa Ở mỗi

xã có ít nhất một vài di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh tiêu biểu như Thiệu

Vũ, Thiệu Khánh, Thiệu Ngọc, Thiệu Tiền, Thiệu Giao, Thiệu Quang, Thiệu Châu, Thiệu Minh, Thiệu Phúc…đặc biệt ở Thị trấn Vạn Hà, xã Thiệu Dương, Thiệu Trung, Thiệu Toán đã có di tích xếp hạng quốc gia

Theo tư liệu thống kê của Phòng VH&TT huyện Thiệu Hóa hiện nay cho biết, toàn huyện có 72/112 di tích chưa xếp hạng Trong số đó có nhiều di tích ở các loại hình khác nhau như: đình, chùa, đền, miếu, cổng làng, nhà thờ

họ, văn chỉ, miếu,… Phần lớn di tích này đều chưa được tu sửa Hiện nay, các

cơ quản quản lý vẫn đang tiếp tục kiểm kê, xây dựng hồ sơ khoa học, xác định giá trị của từng di tích để xét duyệt xếp hạng, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ

di tích Căn cứ 40 di tích đã được xếp hạng (06 di tích cấp Quốc gia và 34 di tích cấp Tỉnh) có thể xác định giá trị của di tích, trên cơ sở đó cơ quan quản lý

di tích sẽ có bchương trình lập quy hoạch tổng thể, quy hoạch hệ thống di tích huyện Thiệu Hóa theo tinh thần của Nghị định 70/NĐ-CP Trên cơ sở các quy

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w