1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các làng nghề huyện hưng hà, tỉnh thái bình

135 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 530,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, nghiên cứu quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các làng nghề huyện Hưng Hà góp phần nhận diện rõ nét hơn mối quan hệ giữa văn hoá và kinh tế nói chung, đặc biệt v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

BÙI THỊ DUNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở

CÁC LÀNG NGHỀ HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ VĂN HÓA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS BÙI XUÂN ĐÍNH

HÀ NỘI – 2008

Trang 2

2.1 Chủ chương của các cấp và các tổ chức có liên

quan đến hoạt động Xây dựng đời sống văn hóa cơ

Trang 3

2.1.2 Triển khai chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại

các làng nghề

37

2.2 Thực trạng hoạt động công tác quản lý của cộng

đồng dân cư với hoạt động Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa ở các làng nghề huyện hưng hà hiện nay

47

2.3 Những hạn chế, bất cập trong quản lý hoạt động Xây

Dựng Đời Sống Văn Hóa cơ sở ở các làng nghề huyện

3.1 Dự báo xu hướng phát triển của làng nghề huyện

Hưng Hà trong giai đoạn trước mắt

79

3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ, phương châm của công tác quản

lý hoạt động Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa Cơ Sở ở làng

nghề huyện Hưng Hà hiện nay

86

3.3 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý

các hoạt động Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa Cơ Sở ở làng nghề huyện hưng hà

88

Trang 4

Tμi liệu tham khảo 103 Phụ lục

1 Một số làng nghề và những giá trị văn hóa

truyền thống tiêu biểu

1

2 một số văn bản chỉ đạo của huyện h−ng Hà

về quản lý hoạt động Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa cơ sở

17

3 một số hình ảnh liên quan đến xây dựng và quản lý

hoạt động Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa ở một số

làng nghề huyện h−ng hà

42

Trang 5

danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

- C«ng nghiÖp, th−êng m¹i, dÞch vô CN -TM- DV

- V¨n ho¸ th«ng tin - ThÓ thao VHTT - TT

Trang 6

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài Luận văn

1.1 Trên vùng châu thổ Bắc Bộ, từ xa xưa đã hình thành nhiều loại hình làng khác nhau Bên cạnh số đông các làng nông nghiệp, còn có các nghề thủ công, làng buôn, làng đánh cá… Trên cơ sở khuôn mẫu chung của làng nông nghiệp ở Bắc Bộ, mỗi loại hình làng lại có sắc thái riêng do đặc thù nghề nghiệp quy định Đối với làng nghề, nét khác biệt rõ nhất thể hiện ở việc người thợ thủ công trong các làng nghề tuy chưa tách khỏi nông thôn và chưa hoàn toàn tách khỏi sản xuất nông nghiệp, song đã có những tố chất “làm nền” cho việc hình thành người công nhân công nghiệp Đặc điểm nghề nghiệp cũng quy định nhịp sống, cường độ lao động của cư dân làng nghề, tuy có thời điểm sôi động, song nhìn chung là đều đặn Làng nghề tạo ra một giá trị kinh tế lớn và ổn định hơn nhiều so với các làng nông nghiệp Quan hệ làm ăn của người làng nghề cũng được mở rộng hơn rất nhiều so với người làm nông (người thợ thủ công đi khắp các nơi làm ăn và cũng có rất nhiều người từ các làng quê khác đến làm thuê, trao đổi nguyên vật liệu và sản phẩm), từ đó, dẫn đến những thay đổi về quan hệ xã hội, nếp nghĩ, tầm nhìn, các quan niệm về các giá trị của làng xã, các thiết chế tổ chức và các hoạt động tín ngưỡng v v

Qua bao biến cố của lịch sử, đến nay, nhiều nghề và làng nghề vẫn được bảo tồn, không chỉ bảo đảm công ăn việc làm cho dân làng mà còn thu hút nhiều lao động dư thừa ở các làng quê khác Đây là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, hình thành các thị tứ, góp phần đẩy nhanh tốc

độ đô thị hóa nông thôn

Những đặc điểm trên đây của các làng nghề cần được lưu ý không chỉ trong phát triển kinh tế mà còn cả trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Tuy nhiên, vấn đề văn hóa làng nghề và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở - một trong những khâu quan trọng của quá trình “ xây dựng một nền văn hóa Việt

Trang 7

Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ V (khóa VIII) đề ra ở loại hình làng này cho đến nay chưa

được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức

1.2 Thái Bình là một tỉnh ven biển, được khai phá từ rất sớm bởi nhiều luồng cư dân Bên cạnh nghề trồng lúa là chủ đạo, cư dân các làng xã trong tỉnh còn tạo ra nhiều nghề thủ công, đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng cho đời sống thường ngày Trong 8 huyện và thành phố của tỉnh, Hưng Hà là một điển hình của một huyện đa nghề, trong đó, có những làng nghề nổi tiếng, như làng dệt chiếu Hới (làng Hải Triều, xã Tân Lễ), làng mộc Diệc (xã Tân Hòa), làng dệt Mẹo (xã Thái Phương) v v., được “dân biết mặt, nước biết tên” Sản phẩm của các làng đã vươn rộng ra khắp nơi trong cả nước và nhiều nước trên thế giới, mang lại nguồn thu lợi rất lớn cho cư dân nơi đây

Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu bước đầu của chúng tôi tại một số làng nghề lại cho thấy một hiện tượng nghịch lý : mặc dù kinh tế rất phát triển, song đời sống văn hóa của cư dân nơi đây chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí còn có nhiều bất cập, không tương xứng với đời sống kinh tế có tốc độ tăng trưởng “chóng mặt”, với một đời sống vật chất ngày càng được cải thiện theo hướng hiện đại Đó là, môi trường cảnh quan ô nhiễm, sự gia tăng của các việc vi phạm quy ước về việc cưới, tang, lễ hội, vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, cùng những biểu hiện xuống cấp về đạo đức trong một bộ phận cư dân, thậm chí cả việc gia tăng các hoạt động tội phạm

Từ hiện tượng này, một câu hỏi được đặt ra : một đời sống kinh tế phát triển

có đồng thuận hay không đồng thuận với một đời sống văn hóa lành mạnh, văn minh và trong trường hợp này, vai trò của văn hóa, nhất là xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở làng nghề, được cấp ủy và chính quyền địa phương quan tâm đến đâu? Sự không tương hợp giữa tăng trưởng kinh tế với đời sống văn hóa này chỉ là hiện tượng cá biệt của một số làng nghề hay là tình trạng chung của các làng nghề và đâu là nguyên nhân của thực trạng đó? Nếu văn hóa “vừa

Trang 8

là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển” thì văn hóa có thật sự là nhân tố giữ vai trò cho sự phát triển của các làng nghề và sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua có thật sự là phát triển bền vững? Những bất cập trên đây có liên quan gì đén công tác quản lý các hoạt động văn hóa ?

Làng nghề hiện nay có một vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển kinh

tế –xã hội ở nông thôn nói riêng, trên bình diện cả nước nói chung Trong bối cảnh trên, việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và việc quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở cũng có một vai trò quan trọng Vì thế, nghiên cứu quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các làng nghề huyện Hưng Hà góp phần nhận diện rõ nét hơn mối quan hệ giữa văn hoá và kinh tế nói chung, đặc biệt vai trò của công tác quản lý các hoạt động xây dựng dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đối với phát triển kinh tế, giúp cho Đảng bộ và chính quyền các cấp ở huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quan tâm hơn đến vấn

đề quản lý các hoạt động văn hóa, tìm ra các giải phù hợp để nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các làng nghề, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững ở các làng nghề

Với những lý do, những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên đây, tôi chọn

vấn đề “Quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các làng nghề huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình” làm đề tài Luận văn Cao học Văn hóa học,

chuyên ngành Quản lý Đối với tôi, việc thực hiện Luận văn này còn là tình cảm và trách nhiệm của nguời cán bộ làm công tác văn hóa ở địa phương

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Từ trước đến nay, vấn đề quản lý Nhà nước về văn hóa và quản lý hoạt

động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở đã có một số công trình bàn đến Có

thể kể một số tác phẩm và tác giả tiêu biểu là Quản lý hoạt động văn hóa bàn

về quản lý hoạt động văn hóa nói chung, quản lý xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở nói riêng, bài học về công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở [18], Tập bài

Trang 9

giảng bồi dưỡng kiến thức quản lý ngành Văn hóa Thông tin [26] Ngoài ra còn nhiều bài nghiên cứu, tham luận viết về quản lý các hoạt động văn hóa khác

Ngoài các tác phẩm bàn trực tiếp về công tác quản lý văn hóa, còn có nhiều công trình bàn về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở ít nhiều đề cập đến

vấn đề trên, như : Đời sống văn hóa ở cơ sở - thực trạng và những vấn đề cần giải quyết [7]; Chủ động sáng tạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở [8]; Mấy vấn đề về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hiện nay [18]; Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta [46]

Tại Thái Bình, từ khi phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

được mở rộng, ngành văn hóa đã có nhiều văn bản, bài viết làm sáng tỏ vai trò của công tác quản lý văn hoá Năm 1992, Sở VHTT- TT tỉnh xuất bản chuyên

san Văn hoá Thái Bình tập trung bàn về văn hoá cơ sở (gắn với hướng dẫn việc

tổ chức chỉ đạo thực hiện [28] Cùng năm này, Trường Trung học Văn hoá

Nghệ thuật Thái Bình xuất bản tập Công tác văn hoá thông tin - Thể dục thể thao, với các nội dung, mục tiêu xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở dùng làm

tài liệu học tập cho lớp Trưởng ban văn hoá thông tin xã, phường [27]

Năm 1995, Sở VHTT- TT Thái Bình xuất bản cuốn Xây dựng làng xã Văn hoá ở Thái Bình [29], sau khi nêu các mục đích của việc xây dựng làng

văn hóa, nội dung và tiêu chí về một làng văn hoá, đã đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện đối với cấp ủy và ngành văn hóa các cấp

Năm 1997, Sở VHTT- TT Thái Bình xuất bản cuốn Sổ tay công tác văn hóa thông tin - thể thao cơ sở [30] bàn đến việc tổ chức, quản lý các hoạt động

văn hóa ở cơ sở

Trong khoảng vài năm gần đây, nhiều học viên cao học của khoa Sau

Đại học trường Đại học Văn hóa đã chọn làng nghề làm đề tài luận văn tốt nghiệp, song các luận văn này chỉ đi sâu tìm hiểu lai lịch nghề, quy trình làm

Trang 10

nghề và sản xuất, đặc trưng sản phẩm, các đặc điểm của làng nghề về xã hội

và văn hóa, không đề cập đến và quản lý các hoạt động xây dựng ĐSVHCS Một số luận văn lấy vấn đề xây dựng ĐSVHCS làm trọng tâm, nhưng chủ yếu

ở các địa bàn là quận, huyện, các khu công nghiệp, còn tại các làng nghề ít

được quan tâm, trong khi do những điều kiện riêng về môi trường tự nhiên, lịch sử, cư dân, loại hình làng này mang tính đặc thù rất rõ nét, có ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức, quản lý các hoạt động văn hóa Có thể nói, ngoài Luận

văn Thạc sĩ Văn hóa học Xây dựng đời sống văn hóa trong các làng nghề ở Hà Tây của Nguyễn Đức Toàn (bảo vệ năm 2006) [31], vấn đề xây dựng đời sống

văn hóa ở cơ sở và quản lý các hoạt động văn hóa cơ sở ở làng nghề cho đến nay còn là một mảng trống

Đây cũng là lý do để tôi chọn vấn đề này làm Luận văn tốt nghiệp ở bậc Cao học

3 Mục đích nghiên cứu của Luận văn

- Chỉ ra thực trạng cùng tính đặc thù của việc quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các làng nghề huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương hiện nay

- Trên cơ sở đó, Luận văn đưa ra một số luận cứ khoa học để cấp ủy, chính quyền các xã có làng nghề tham khảo trong việc đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc quản lý hoạt động xây dựng ĐSVHCS ở nông thôn nói chung và các làng nghề nói riêng, góp phần vào việc nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa cho cư dân các làng tương xứng với một đời sống vật chất ngày càng được cải thiện

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các mặt liên quan tới việc quản

lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở làng nghề huyện Hưng

Hà, tỉnh Thái Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian : Luận văn chủ yếu nghiên cứu tại các làng nghề ở

huyện Hưng Hà, trong đó, lấy một số làng tiêu biểu làm điểm nghiên cứu chính, là làng dệt Phương La (xã Thái Phương), làng mộc Vế (xã Canh Tân), làng chiếu Hới (xã Tân Lễ)

- Về thời gian : Luận văn chủ yếu nghiên cứu quản lý hoạt động xây

dựng ĐSVHCS tại các làng nghề từ năm 1998 - khi Hội nghị Trung ương lần thứ V (khóa VIII) ra Nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,

đậm đà bản sắc dân tộc cho đến cuối năm 2006

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá, về nông thôn và nông nghiệp để xem xét, đánh giá các mặt có liên quan

đến công tác quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở làng nghề huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

- Luận văn sử dụng các lý thuyết về văn hóa tộc người, về biến đổi văn hóa, lý thuyết về làng xã, lý thuyết về quản lý để xem xét vấn đề việc quản lý các hoạt động văn hóa cơ sở tại các làng nghề huyện Hưng Hà

- Luận văn chú trọng sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học để thu thập tư liệu; kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành: văn hoá học, phân tích, thống kê và phương pháp hệ thống, phương pháp nghiên cứu điển hình để xem xét các nội dung, giải mã các hiện tượng cần nghiên cứu

6 Nguồn tư liệu của Luận văn

Trang 12

- Nguồn tư liệu chính của Luận văn là tư liệu điền dã, bao gồm :

+ Các văn bản, Nghị quyết của cấp ủy và ngành văn hóa huyện, xã liên quan đến việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động xây dựng văn hóa ở cơ sở;

+ Các thông tin thu được từ các cuộc trao đổi với cán bộ, nhân dân của các làng nghề; cán bộ lãnh đạo xã, huyện;

+ Các báo cáo tổng kết có liên quan đến xây dựng đời sống văn hoá cơ

sở của các làng, xã và của huyện Hưng Hà

- Luận văn kế thừa những thành quả nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, về văn hoá làng, về xây dựng làng văn hóa, về làng nghề đã

được công bố

7 Đóng góp của Luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu Quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở các làng nghề huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

- Luận văn chỉ ra thực trạng của việc quản lý các hoạt động xây dựng

ĐSVHCS ở làng nghề huyện Hưng Hà, hình thành các luận cứ khoa học để cấp uỷ, chính quyền, ngành văn hóa các làng nghề tham khảo trong việc đề ra các giải pháp đẩy mạnh công tác quản lý hoạt động xây dựng ĐSVHCS, góp phần làm cho văn hóa có vai trò to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương theo hướng bền vững

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho ngành văn hóa huyện Hưng Hà và tỉnh Thái Bình trong việc chỉ đạo công tác xây dựng ĐSVHCS tại các làng nghề trong tỉnh

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của

Luận văn được chia làm 3 chương:

Trang 13

Chương 1: Làng nghề ở huyện Hưng Hà và vai trò của quản lý hoạt

động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hoá ở các làng nghề huyện Hưng Hà

Chương 3: Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở các làng nghề huyện Hưng Hà

Trang 14

Chương 1

lμng nghề huyện Hưng Hμ vμ vai trò của quản lý hoạt

động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

trong giai đoạn hiện nay -

1.1 Tổng quan về huyện Hưng Hμ vμ lμng nghề trong huyện 1.1.1 Vài nét về huyện Hưng Hà

1 1 1 1 Điều kiện tự nhiên, dân cư và địa lý hành chính

Hưng Hà ngày nay được hợp nhất từ hai huyện Hưng Nhân và Duyên

Hà, theo Quyết định số 93 - CP ngày 17 tháng 6 năm 1969 của Hội đồng Chính phủ [4, tr 21- 22] Theo số liệu thống kê diện tích và dân số có đến cuối năm 2007 huyện Hưng Hà có diện tích tự nhiên là 204 km2, dân số trên

có 268.310 người [5, tr 324], là huyện có mật độ dân số cao so với các huyện

trong tỉnh

Hưng Hà nằm ở Đông Bắc tỉnh Thái Bình - tỉnh nằm trong địa vực sông Hồng nhưng mang nét độc đáo là tỉnh đồng bằng duy nhất không có núi, đồi

Câu ca “Sông Hồng, sông Luộc, sông Trà, giang tay ôm lấy Hưng Hà quê em”

cho thấy Hưng Hà được bao bọc bởi ba con sông lớn, song Hưng Hà không bị

cô lập bởi thế sông nước đó, từ năm 1997, cầu Triều Dương đã vượt sông, nối

liền quốc lộ 39 giữa Hưng Hà với tỉnh Hưng Yên, ra đường 5, lên Hà Nội và các tỉnh phía Bắc

Hưng Hà là một vùng đất cổ, theo các nhà khoa học và căn cứ vào “bản

đồ lịch sử phát triển Sông Hồng” thì vùng đất Hưng Hà có lịch sử 2500 -

3000 năm cách ngày nay Các nhà nghiên cứu lịch sử đã tìm thấy mộ gạch có

kết cấu hình vòm, mang dáng dấp mộ Hán, có niên đại khoảng 10 thế kỷ đầu

Công nguyên Năm 2000 đã tìm thấy trống đồng ở xã Minh Tân có độ tuổi

Trang 15

2500 năm do chính các cư dân ở đây chế tác Những năm 40 sau Công nguyên, vùng đất này không còn là vùng đất đầm lầy mà có những làng ấp trù phú, dân cư đông đúc vì vậy Bát Nạn tướng quân Vũ Thị Thục đã chiêu binh, xây dựng lực lượng đứng lên dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc

Đông Hán Ngày nay, tại xã Đoan Hùng vẫn còn đền Tân La thờ Bà, mở hội từ ngày 15 tháng Ba hàng năm Ngoài ra, Hưng Hà còn nhiều mộ cổ, đền lũy - chứng tích của một thời kỳ dựng nước và giữ nước dày đặc

Phần lớn các làng trong huyện đều mang tên Nôm được xác định là những làng cổ thì Hưng Hà có tới 127 làng, gắn với từ “Kẻ” mà về sau được

Hán - Việt hóa thành “Cổ” như Cổ Lễ, Cổ Trai (xã Hồng Minh), Cổ Sách (xã Kim Chung), ; 21 làng mang tên họ như Làng Phan (xã Cộng Hoà), Làng Lưu Xá (xã Canh Tân), Làng Bùi (xã Duyên Hải), Làng Phạm Lễ (xã Tân Lễ),…; các làng mang tên "Kênh" như làng Kênh (xã Tây Đô), làng Kênh (xã

Tân Hoà),…[4, tr 19 - 21]

Hưng Hà là vùng đất cổ, vùng đất “địa linh nhân kiệt" Nơi đây đã sản

sinh ra những con người nổi danh trong sử sách, như Trần Thủ Độ, Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung - những người khởi nghiệp triều đại nhà Trần Hưng

Hà còn sản sinh ra những danh nhân văn hóa lớn như Trạng nguyên Phạm

Đôn Lễ - người có công mang nghề dệt chiếu từ Trung Quốc về cho cư dân nơi đây; Nhà bác học nổi tiếng Lê Quý Đôn v v

Cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, huyện Duyên Hà có 6 tổng với 59 xã, thôn, trang, phường; huyện Hưng Nhân có 6 tổng với 55 xã, thôn, trang Cả hai huyện đều thuộc phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam Hạ Năm Minh Mạng thứ

ba (Nhâm Ngọ, 1822), trấn Sơn Nam Hạ được đổi thành trấn Nam Định, vùng

đất Thái Bình ngày nay thuộc trấn Nam Định; năm thứ mười hai (Tân Mão, 1831), ba huyện Hưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê của trấn Nam Định nhập

Trang 16

với năm huyện Phù Dung, Tiên Lữ, Thiện Thi, Kim Động, Đông Yên lập

thành tỉnh Hưng Yên

Ngày 21 tháng 3 năm 1890, tỉnh Thái Bình được thành lập, trên cơ sở phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương (tách ra từ tỉnh Nam Định), huyện Thần Khê của tỉnh Hưng Yên Đến năm 1894 lại cắt thêm hai huyện Hưng Nhân, Duyên Hà của tỉnh Hưng Yên nhập vào tỉnh Thái Bình

Vào đầu thế kỷ XX, các xã của hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà lại

được chia nhỏ (Duyên Hà có 74 xã, Hưng Nhân có 82 xã) [37, tr 13-14- 40]

Huyện Hưng Hà ngày nay có 258 thôn, làng thuộc 34 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: thị trấn Duyên Hà, thị trấn Hưng Nhân và 32 xã, trong đó, huyện Duyên Hà cũ có 1 thị trấn và 20 xã; huyện Hưng Nhân có 1 thị trấn và

12 xã Cụ thể như sau :

- Huyện Duyên Hà gồm thị trấn Duyên Hà và các xã: Bắc Sơn, Chi

Lăng, Chí Hoà, Dân chủ, Duyên Hải, Điệp Nông, Độc Lập, Đông Đô, Hoà Bình, Hồng Lĩnh, Hùng Dũng, Hồng Minh, Kim Trung, Minh Hoà, Minh Khai, Minh Tân, Tân Tiến, Thống nhất, Văn Cẩm, Văn Lang

- Huyện Hưng Nhân gồm thị trấn Hưng Nhân và các xã: Cộng Hoà,

Canh Tân, Đoan Hùng, Hồng An, Hoà Tiến, Liên Hiệp, Tân Lễ, Tiến Đức, Tân Hoà, Thái Phương, Thái Hưng, Phúc Khánh

1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa

Hưng Hà là huyện nông nghiệp, với khoảng 80% dân số sống ở nông thôn Trong chục năm trở lại đây, cơ cấu kinh tế của huyện đã có những thay

đổi tích cực, theo hướng tăng tỷ trọng công thương nghiệp Toàn huyện hiện

có 10 doanh nghiệp thương mại; 28 chợ xã, thị trấn trong đó có 5 chợ đầu mối: 2 chợ quy mô loại 1 (chợ thị trấn Hưng Hà và Hưng Nhân), có 5 chợ quy mô đạt loại 2; 29 loại hình hoạt động dịch vụ - thương mại Theo báo cáo của

Trang 17

các cơ quan chuyên môn, đến cuối 2005, cơ cấu kinh tế của huyện như sau

Hưng Hà là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời Cùng với văn

minh lúa nước của châu thổ sông Hồng, văn hóa làng xã của Hưng Hà thể hiện

đậm nét qua các hội làng, ở đó các loại hình nghệ thuật dân gian được sáng

tạo và bảo lưu truyền giữ cho đến ngày nay Trải trên hai nghìn năm lịch sử,

Hưng Hà đã có đến hàng trăm di tích có giá trị, rất đa dạng về chủng loại, kiến

trúc độc đáo và quý hiếm Nổi bật là mộ gạch ở thôn Mẽ xã Phú Sơn (khai

quật tháng 2 năm 1981), mộ cổ Phạm Lễ ở xã Tân Lễ, mộ cổ Lộc Thọ ở xã

Độc Lập … Ngoài ra, Hưng Hà có 17 di tích thờ các Vua Hùng nằm rải rác ở

các vùng trong huyện Độc đáo nhất là đình Thượng Lãn xã Minh Hòa thờ

Đức Quốc tổ Kinh Dương Vương, đền Tinh Thủy xã Hồng Minh, đình chùa

Hú xã Hòa Tiến, đền Tiên La thờ các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng

Cho đến nay Hưng Hà vẫn còn 93 đình làng, 127 chùa, 89 đền, 67

miếu và là huyện có nhiều lễ hội nhất tỉnh với 179 hội các loại cùng nhiều

sinh hoạt văn hóa dân gian tiêu biểu khác

Trang 18

1.1.2 Tổng quan về làng nghề Hưng Hà

1.1.2.1 Các khái niệm "Làng nghề", "Làng nghề truyền thống", " Làng nghề mới"

Khái niệm “Làng nghề thủ công truyền thống” được dùng để chỉ những

làng có một bộ phận lớn cư dân trong quá khứ sống bằng một nghề, hoặc nhiều nghề, có khi chỉ bằng một công đoạn của một nghề, mang những yếu tố sau:

- Có hoặc không có tổ nghề gắn với việc thờ tổ nghề,

- Sản phẩm của nghề không chỉ tạo ra thu nhập cho dân làng mà còn

được khẳng định trong thị trường địa phương, vùng

Khái niệm “Truyền thống” dùng trong đề tài được hiểu là thời gian từ năm

1954 trở về trước, khi kết cấu kinh tế của các làng nghề chưa bị xáo động lớn trước các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước dân chủ nhân dân

Khái niệm “Làng nghề mới” được dùng trong Luận văn là những làng

có nghề mới được du nhập

Từ nhiều năm nay, mỗi tỉnh đưa ra một tiêu chí về loại làng nghề truyền thống và làng nghề mới Tại tỉnh Thái Bình, theo Quyết định 672-QĐ/UB, Quyết định 12- QĐ/UB, Quyết định 52- QĐ/UB, quan tâm hỗ trợ các làng nghề xây dựng cơ sở hạ tầng theo Quyết định 132-QĐ/CP của Chính phủ Tỉnh có chính sách về vốn, tăng cường thông tin thị trường … Sự phát triển của nghề và các làng nghề thủ công huyện Hưng Hà nằm trong bối cảnh chung của tỉnh Thái Bình - tỉnh có tiềm năng, thế mạnh và có truyền thống về ngành nghề, lại được Tỉnh ủy và UBND tỉnh chỉ đạo ngành công nghiệp và các ngành có liên quan tổ chức thực hiện tương đối đồng bộ Để các địa phương tích cực phát triển ngành nghề theo hai hướng: phục hồi nghề truyền thống và mở rộng ngành nghề mới, ngày 31 tháng 3 năm 2006, UBND tỉnh

Trang 19

Thái Bình ra Quyết định số 29/ 2006/ QĐ- UBND "Quyết định V/v Ban hành Quy định tiêu chuẩn làng nghề"[52, tr 3]

Điều 3, Chương II của Quyết định có quy định tiêu chẩn làng nghề là :

1 Chấp hành tốt các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của tỉnh và địa phương

2 Trong làng, số lao động quy đổi làm nghề công nghiệp - thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ đạt từ 50% trở lên hoặc 30% số hộ

3 Giá trị sản xuất làng nghề chiếm tỷ trọng từ 50% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của làng

4 Có hình thức tổ chức phù hợp, chịu sự quản lý Nhà nước, của chính quyền địa phương, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của

địa phương Đảm bảo vệ sinh môi trường sinh thái theo quy định hiện hành

Điều 4, Chương II của Quyết định quy định tiêu chuẩn làng nghề truyền thống: “Làng nghề truyền thống phải đạt các tiêu chuẩn như Điều 3 và phải là

làng nghề sản xuất lâu đời có ít nhất từ 50 hộ trở lên hoặc 1/3 (một phần ba) tổng số hộ cùng làm một nghề truyền thống, có thu nhập ổn định”

1.1.2.2 Sự hình thành các làng nghề truyền thống ở huyện Hưng Hà và

sự chuyển đổi của chúng từ 1954 đến nay

Tuy là một huyện thuần nông, nhưng từ bao đời, cư dân các làng xã trong huyện Hưng Hà đã tạo ra nhiều nghề thủ công, tạo ra những sản phẩm không chỉ phục vụ cho cuộc sống của mình mà còn để trao đổi, tăng thêm thu nhập Nhà Địa lý học người Pháp Pièrre Gourou đã cho biết các làng nghề ở hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà cũ

- Huyện Hưng Nhân: các tổng Thanh Triều làm chiếu với quy mô lớn,

Đặng Xá (làm võng, đan lát); Phương La kéo tơ; làng Phú Lạc tổng Đặng Xá

đan lưới đánh cá; làng Dương Khê, làng Dương Xá tổng Đặng Xá đan võng;

Trang 20

lµng NhËt T¶o tæng Hµ L·o, lµng Khu«ng Phó tæng Tèng Xuyªn; lµng Thuþ V©n tæng Thanh TriÒu lµm vâng; lµng Hµ X¸, Mü §¹i, Bïi X¸, Thuþ V©n, Xu©n Tr¸c tæng Thanh TriÒu dÖt chiÕu; lµng Quan BÕ tæng Quan BÕ lµm méc;

- Huþªn Duyªn Hµ: c¸c lµng thuéc tæng Duyªn Hµ ®an l¸t, tæng Vþ SÜ

dÖt v¶i; Lµng Gia L¹c tæng Th−îng Hé lµm vâng; lµng Th−îng B¸i tæng Th−îng B¸i bÖn thõng; lµng An Liªm tæng Vþ SÜ lµm hµng x¸o; lµng Canh N«ng tæng Canh N«ng, lµng Duyªn L·ng tæng Duyªn Hµ lµm bón; lµng §×nh Ngò tæng Canh N«ng; lµng Tinh Thuû tæng Th−îng Hé; lµng Xu©n La tæng Duyªn Hµ ®an l¸t [23, tr 406 - 460]

Theo ®iÒu tra cña chóng t«i, tr−íc kia, huyÖn H−ng Hµ cã 31 lµng nghÒ

thñ c«ng truyÒn thèng tiªu biÓu (B¶ng 2)

B¶ng 2 : C¸c lµng nghÒ thñ c«ng truyÒn thèng huyÖn H−ng Hµ

TT Lµng nghÒ Nay thuéc x· NghÒ vµ s¶n phÈm Ghi chó

1 Ph−¬ng La Th¸i Ph−¬ng DÖt v¶i, t¬ , lôa

2 Xu©n La Th¸i Ph−¬ng DÖt v¶i, t¬ , lôa

3 Hµ Nguyªn Th¸i Ph−¬ng DÖt v¶i, t¬ , lôa

4 Nh©n X¸ Th¸i Ph−¬ng DÖt v¶i, t¬ , lôa

5 Tr¸c D−¬ng Th¸i Ph−¬ng DÖt v¶i, t¬ , lôa

6 Bïi X¸ T©n LÔ DÖt chiÕu

8 H¶i TriÒu T©n LÔ DÖt chiÕu

9 KiÒu Tr¹ch T©n LÔ DÖt chiÕu

10 L·o Khª T©n LÔ DÖt chiÕu

11 Quan Khª T©n LÔ DÖt chiÕu

12 T©n Mü Hµ T©n LÔ DÖt chiÕu

13 T©y Xuyªn T©n LÔ DÖt chiÕu

14 Thanh ChiÒu T©n LÔ DÖt chiÕu

Trang 21

15 Xuân Hải Tân Lễ Dệt chiếu

16 Xuân Trúc Tân Lễ Dệt chiếu

17 Mỹ Xá Tân Lễ Dệt chiếu

18 Do Đạo Tiến Đức Đan võng

19 Phúc Lạc Minh Tân Xe đay, đan lưới

20 Trung Đình Văn Cẩm Tre dân dụng

21 Ngọc Liễn Hồng Minh Tre dân dụng

22 Cổ Trai Hồng Minh Tre dân dụng

23 Mỹ Thịnh Đông Đô Tre dân dụng

24 Chí Linh Đông Đô Tre dân dụng

25 Thống Nhất Bình Lăng Mây tre

26 Làng Diệc Tân Hòa Mộc

28 Việt Yên Điệp Nông Gốm sứ

29 Duyên Nông Điệp Nông Gốm sứ

Từ sau ngày hòa bình lập lại đến nay, nghề thủ công và các làng nghề huyện Hưng Hà đã chịu nhiều tác động của các chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, những thay đổi về điều kiện sống

Những năm đầu sau hòa bình lập lại, phần lớn các làng nghề bị đình

đốn trong kháng chiến chống Pháp tập trung khôi phục nghề Tuy nhiên, số làng nghề được khôi phục không nhiều, vì thiếu nguyên liệu, thiếu vốn, thiếu thợ có tay nghề (một bộ phận lớn trong số này hoặc già yếu, hoặc đã qua đời, hoặc đi ra thành phố làm ăn không trở lại quê), thị trường tiêu thụ kém vì sức mua của dân giảm sút do đời sống rất khó khăn Số ít nghề và làng nghề vừa

Trang 22

mới phục hồi ít năm, thì người lao động, tư liệu sản xuất, vốn liếng đã được

đưa vào các HTX Tùy điều kiện phát triển của nghề ở địa phương mà có làng, những người làm nghề được thành lập HTX riêng, trong khi có làng, nghề chỉ

là một bộ phận của HTX nông nghiệp Dù tồn tại dưới hình thức nào thì việc sản xuất của những người thợ thủ công đều được đặt theo kế hoạch của HTX,

mà HTX thì phụ thuộc chặt vào việc cung cấp nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm của Nhà nước Cơ chế quan liêu bao cấp hay sự sản xuất theo kế hoạch đã làm mất khả năng sáng tạo của các làng nghề, của người thợ thủ công, biến họ thành người làm thuê, hoặc làm gia công cho các cơ sở kinh tế của Nhà nước hay của nước ngoài (chủ yếu là các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa) Có nhiều nghề, do sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn nên không phát triển được, vì liên quan đến sự an toàn lương thực, thực phẩm là những mặt hàng chiến lược của thời chiến, của chế độ bao cấp (chẳng hạn các nghề chế biến nông sản, thực phẩm như làm bún, làm bánh đa, )

Vào cuối thập kỷ 80, cùng với những biến cố chính trị ở Liên Xô và các nước Đông Âu, việc xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp đã có những tác động sâu sắc đến các nghề và làng nghề thủ công trong huyện Hưng Hà Phần lớn các làng nghề chuyên gia công hàng xuất khẩu sang Đông Âu mất thị trường

và không kịp chuyển đổi hướng sản xuất nên bị “tê liệt” Bộ phận làng nghề còn lại phải mất một thời gian “chao đảo” mới dần dần tìm được hướng sản xuất mới và ổn định trở lại vào đầu thập kỷ 90, sau đó có bước phát triển khá

Nhìn chung, trong khoảng 20 năm nay, nghề và các làng nghề trong huyện Hưng Hà phát triển hoặc suy giảm theo các hướng :

- Chỉ có một số ít làng duy trì liên tục sức sản xuất Đó là các làng tạo

ra các vật dụng thiết yếu, nhưng không ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu hay mặt hàng chiến lược, điển hình là làng dệt chiếu Hới, làng dệt vải (bây giờ là dệt khăn) Phương La

Trang 23

- Một số nghề và làng nghề cũ bị đình đốn một thời gian dài gần đây mới được khôi phục trở lại, nhất là các nghề chế biến nông sản thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, điển hình là nghề làm bánh đa làng Me xã Tân Hoà, nghề làm hương làng Quán La xã Duyên Hải

- Một số nghề và làng nghề không thể duy trì sản xuất đã mất hẳn do thay đổi điều kiện sống, thay đổi cảnh quan môi trường (nghề đan võng, nghề làm gốm sứ ) Cũng có nghề bị suy giảm sản xuất do cuộc sống thay đổi, chịu những tác động khách quan, cư dân vừa nhanh chóng triển khai thêm các nghề khác, vừa chuyển hướng tạo sản phẩm của nghề truyền thống (điển hình

là làng Vế, trước đây có nghề dệt chiếu sau dệt chiếu bị teo dần và chuyển sang làm nghề mộc) Có những làng du nhập nghề mới, hiện đang trở thành cơ

sở sản xuất lớn, có thương hiệu riêng Song lại có làng dù duy trì được nghề, nhưng cư dân vẫn không thể triển khai làm nghề tại làng mà phải đi các nơi khác và làm nghề khác

- Dưới sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, trực tiếp là ngành công nghiệp, trong khoảng 10 năm trở lại đây, một số nghề mới được “nhân cấy”, như nghề mây tre đan xuất khẩu, nghề dệt mành, nghề làm lưới ni lông, dệt khăn mặt…

Theo Quy định tiêu chuẩn của UBND tỉnh Thái Bình, đến năm 2006,

huyện Hưng Hà có 35 làng nghề (Bảng 3)

Bảng 3: Các làng nghề hiện nay của huyện Hưng Hà

TT Tên làng nghề Nay thuộc xã Sản phẩm Năm được

công nhận

1 Phương La Thái Phương Dệt vải, tơ , lụa 2002

2 Canh Nông Điệp Nông Bún, bánh đa 2002

Trang 24

5 An TËp T©n LÔ DÖt chiÕu 2002

12 Ngäc LiÔn V¨n CÈm §an m©y, tre 2002

13 T©y Xuyªn TT H−ng Nh©n DÖt chiÕu, mµnh 2002

Trang 25

32 Phan Hoà Tiến Dệt chiếu 2005

1.1.2.3 Vị trí của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa

ở nông thôn hiện nay

Ngày nay làng nghề càng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của nó trong phát triển kinh tế và xã hội Làng nghề đã tạo ra một giá trị kinh tế cao trong cơ cấu kinh tế nói chung và so với giá trị công nghiệp nói riêng, đáp ứng nhu cầu lớn về hàng hóa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đời sống của cư dân luôn đảm bảo hơn các làng thuần nông Thực hiện Nghị quyết 01/NQ-TU

về phát triển nghề và làng nghề, được sự quan tâm đầu tư của tỉnh, đặc biệt với thế mạnh là huyện có nghề và làng nghề phát triển nhất tỉnh, hơn nữa vị trí địa

lý của huyện rất thuận lợi cho việc giao thông góp phần phát triển nghề và làng nghề, do đó Huyện uỷ Hưng Hà ra Nghị quyết 30 (khoá XI) đã đặt vị trí của làng nghề, xã nghề như một mục tiêu trọng yếu của chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Nếu tính cả nghề truyền thống thì cả 34/34 xã, thị trấn ở Hưng Hà có nghề, hộ nghề, có nhiều nghề đã trở thành nguồn sống chính của người dân, như: nghề dệt may khăn xã Thái Phương, nghề mộc xã Canh Tân, nghề dệt chiếu xã Tân Lễ, nghề làm nón, mây tre xã Chi Lăng Làng nghề dệt Phương La (xã Thái Phương), năm 2006 đạt 29.962 tỷ đồng, chiếm 99,5% tỷ trọng; dệt, may Khăn làng Phụng Công (xã Minh Tân) đạt 6.831 tỷ đồng chiếm 98,1% tỷ trọng; dệt chiếu làng Hải Triều (xã Tân Lễ) đạt 10.411 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 97,7 %

- Làng nghề không những là nơi thu hút nhiều lao động, góp phần làm giảm tình trạng dư thừa lao động ở nông thôn, tạo công ăn việc làm cho cư dân, góp phần hạn chế các tệ nạn, ổn định xã hội Mỗi ngày một làng nghề có

Trang 26

thể giải quyết việc cho hàng trăm, hàng ngàn lao động Một số nông dân làm thuê đã được học nghề để trực tiếp làm ra sản phẩm Một số khác làm phần ruộng của các hộ trong làng hoặc các việc khác như vận chuyển, nội chợ và tạp vụ tạo tiền đề cho lực lượng công nhân công nghiệp trong giai đoạn mới

- Làng nghề là hạt nhân để hình thành thị tứ, thị trấn ở các vùng nông thôn, có điều kiện để xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo sự giao lưu… giúp cho người dân dễ tiếp thu lối sống đô thị hơn làng thuần nông

- Làng nghề thủ công truyền thống tồn tại và phát triển bởi chính các sản phẩm làng nghề làm ra hình thành một bản sắc riêng về giá trị sản phẩm của nghề, làng nghề mình, tạo được một uy tín về chất lượng sản phẩm, nét

độc đáo riêng biệt trong sản phẩm của làng nghề Mỗi sản phẩm là sự kết tinh của sức lao động, cái tâm, cái hồn và sự khéo léo của đôi bàn tay người thợ …

Từ những cái đó đã tạo nên bản sắc văn hóa riêng của mỗi nghề và làng nghề -

di sản văn hóa phi vật thể; đồng thời làng nghề cũng chính là nơi lưu giữ bảo quản tốt nhất các truyền thống văn hóa lâu đời, lưu truyền bí quyết nghề Tại

đây mang đậm nét những phong tục cổ truyền, những nét văn hóa đặc trưng

Do đó, làng nghề lại còn chứa đựng tiềm năng thu hút to lớn, quảng bá truyền thống văn hóa Việt Nam, sản phẩm hàng thủ công Việt Nam

Từ làng nghề truyền thống, ngày nay Hưng Hà đã xuất hiện nhiều vùng nghề và khu công nghiệp làng nghề Đến năm 2002, Hưng Hà đã hoàn thành quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp Phương La xã Thái Phương, diện tích 10

ha, 2 cụm công nghiệp: cụm công nghiệp Đồng Tu - Phúc Khánh; cụm công nghiệp thị trấn Hưng Nhân, mỗi cụm 30 ha và hình thành 6 vùng nghề nhằm khuyến khích phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, gồm: vùng nghề dệt chiếu lấy xã Tân Lễ làm trung tâm, vùng nghề sản xuất đồ gỗ lấy xã Canh Tân là trung tâm, vùng nghề chế biến lương thực lấy xã Tân Hoà - Điệp Nông

Trang 27

làm trung tâm; vùng nuôi tằm tơ, lấy xã Hồng Minh, Tiến đức làm trung tâm, vùng đan mây tre lấy xã Văn Cẩm - Chi Lăng làm trung tâm

Từ năm 2001 đến 30 tháng 4 năm 2006, trên địa bàn huyện đã có 74 dự

án đầu tư với tổng số vốn được phê duyệt 312 tỷ đồng, trong đó:

9 dự án đầu tư vào cụm công nghệp Đồng Tu - Phúc Khánh

2 dự án đấu tư vào cụm công nghiệp thị trấn Hưng Nhân

20 dự án đầu tư trong cụm công nghiệp xã Thái Phương và 43 dự án

đầu tư rải rác ở các xã, thị trấn Chính vì vậy, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá mạnh Tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, đã phát huy được nội lực, thế mạnh của huyện, khơi nguồn thu hút nhân tài, vật lực, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, đổi mới trang thiết bị sản xuất, thúc đẩy làng nghề phát triển mạnh [60, tr 1-2] Có thể thấy

được sự phát triển của các làng nghề Hưng Hà qua bảng sau (Bảng 4)

Lao động (người) Giá trị sản xuất

Tổng

số

Từ nghề

Tỷ trọng

Tổng

số

Từ nghề

Tỷ trọng (%)

1 Làng Đặng

Hưng Nhân

Dệt chiếu

728 436 60.0 10956 7.356 67,1

2 Tây Xuyên

Hưng Nhân

Làm mành

484 443 91,5 5.057 2.867 56,7

3 Xuân Trúc

Hưng Nhân

Làm mành

342 314 91,8 5.863 4.641 79,2

4 Làng Châu

Hưng Nhân

Dệt chiếu

538 368 68,4 9.976 6.806 68,2

5 Làng Lái Dệt

chiếu

398 369 92,7 8.493 5.523 65,0

Trang 28

H−ng Nh©n

6 V©n Lam

H−ng Nh©n

DÖt chiÕu

405 295 72,8 6.831 4.081 59,7

7 V©n §«ng

H−ng Nh©n

DÖt chiÕu

621 583 93,8 12.241 8.381 68,5

8 Lµng §Çu

H−ng Nh©n

DÖt chiÕu

770 448 58,2 10.102 6.772 67,1

9 Lµng MÏ

H−ng Nh©n

Bón B¸nh

256 185 72,3 4.037 2.567 63,6

10 Lµng Buém

H−ng Nh©n

DÖt ChiÕu

574 314 55,0 6.018 3.938 65,5

11 ¢n X¸

H−ng Nh©n

DÖt chiÕu

468 411 94,2 9.154 6.294 68,7

12 Bïi X¸

T©n LÔ

DÖt chiÕu

696 594 87,0 12.300 10.187 62,8

13 Hµ X¸

T©n LÔ

DÖt chiÕu

815 786 96,4 20.056 14.116 70,0

14 H¶i TriÒu

T©n LÔ

DÖt chiÕu

793 775 97,7 19.677 13.727 69,7

15 An TËp

T©n LÔ

DÖt chiÕu

240 198 82,5 4.772 3.273 68,6

16 L©n Hµ

T©n LÔ

DÖt chiÕu

658 565 85,8 14.126 10.116 71,6

17 L·o Khª

T©n LÔ

DÖt chiÕu

196 63 83,2 4.260 2.908 68,3

18 Thanh TriÒu

T©n LÔ

DÖt chiÕu

682 613 89,8 14.551 10.411 71,5

19 Phó Hµ

T©n LÔ

DÖt chiÕu

332 223 67,2 5.910 3.740 63,3

20 Quan Khª

T©n LÔ

DÖt chiÕu

533 510 95,6 13.783 9.213 66,8

21 Lµng Phan DÖt

chiÕu

925 551 59,5 13.325 10.095 76,3

Trang 29

Hßa TiÕn

22 Ph−¬ng La

Th¸i Ph−¬ng

DÖt Kh¨n

325 319 98,1 9.692 6.832 70,5

24 KiÒu Trai

Minh T©n

DÖt, may Kh¨n

695 479 69,0 18.688 15.048 80,5

25 Lµng G¹o

Hång An

DÖt, may Kh¨n

782 585 74,8 15.360 11.650 5,8

31 T©n TiÕn

Chi L¨ng

§an m©y

356 295 82,8 7.633 6.233 1,6

32 Ngäc LiÔn

V¨n CÈm

§an m©y

660 515 78,0 5.036 2.776 55,2

33 Canh N«ng

§iÖp N«ng

Bón b¸nh

403 295 73,2 6.108 3.587 58,7

Trang 30

1.2 Vai trò của quản lý hoạt động xây dựng

đời sống văn hóa ở cơ sở các lμng nghề

1.2.1 Khái niệm “Quản lý” và đặc điểm của quản lý

1 2 1 1 Khái niệm

- Theo Từ điển tiếng Việt : Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt

động theo những yêu cầu nhất định [15, tr 663]

- Theo Từ điển Bách khoa : Quản lý là chức năng và hoạt động của hệ

thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo

đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo

đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó Có quản lý kỹ thuật, quản lý xã hội, quản lý các đối tượng khác nhau [27, tr 580]

1 2 1 2 Đặc điểm của quản lý

- Quản lý tồn tại trong mọi xã hội, ở bất cứ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào,

- Đa dạng về lĩnh vực, đối tượng (xã hội, kỹ thuật….), hình thức, mức

độ (vĩ mô, vi mô) và mục đích, tùy thuộc vào chế độ chính trị - xã hội;

- Là những hoạt động mang tính hệ thống, có mối quan hệ chặt chẽ giữa các cấp và các cơ quan quản lý, các hình thức quản lý (bằng pháp luật, phong tục….);

- Mang nặng tính hành chính, tính áp đặt (quản lý nhà nước), vừa mang tính tự quản (quản lý cộng đồng), vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật,

đòi hỏi nhiều kiến thức tổng hợp;

- Hiệu quả của quản lý phụ thuộc vào nhận thức, ý đồ chủ quan cùng các phương thức tổ chức thực hiện của cơ quan và người đứng đầu cơ quan quản lý;

Trang 31

- Quản lý là một khoa học dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau (quy lụât tự nhiên hay xã hội); đồng thời quản lý còn là một nghệ thụât, đòi hỏi kiến thức xã hội, tự nhiên, hay kỹ thuật Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu,

có kế hoạch lớn hay nhỏ của con người và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt

1.2.1.3 Đặc điểm, nội dung, đối tượng và các hình thức của quản lý

hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

Quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở thực chất là quản lý con người - con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng quản lý Mỗi con người là một thế giới nội tâm hết sức phong phú được hình thành từ nhiều yếu tố: môi trường sống (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội), yếu tố tâm lý,

điều kiện kinh tế xã hội, ảnh hưởng của nghề nghiệp Vì vậy, quản lý các hoạt

động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là vấn đề khó, rất tế nhị, rất văn hóa

Hoạt động văn hóa hay hoạt động xây dựng đời sống văn hóa tập trung xuất phát từ tính đặc thù của sự sáng tạo những giá trị văn hóa tinh thần kể cả những tác phẩm văn hóa (sản phẩm làng nghề truyền thống), khuôn mẫu văn hóa Sự sáng tạo giá trị văn hóa là một quá trình sản xuất tinh thần đặc biệt, không tuân thủ hoàn toàn máy móc theo như qui trình công nghệ sản xuất những dạng sản phẩm vật chất thuần túy Thực tế đời sống xã hội cho thấy rằng, quản lý các hoạt động văn hóa rất phức tạp, nhiều khó khăn bởi chính ngay sự khó khăn phức tạp trong bản thân lĩnh vực văn hóa và có khi phức tạp ngay trong nhận thức, đánh giá của những người lãnh đạo, quản lý văn hóa

Từ những nét đặc thù trên đặt ra cho quản lý hoạt động văn hóa, quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là: một mặt cần có thái độ trân trọng, ưu ái và khoan dung đối với hoạt động văn hóa, kể cả đối với cá nhân người làm văn hóa và các phong trào văn hóa Do đó, chủ yếu dùng những

Trang 32

biện pháp khích lệ động viên khuyến khích hơn là nặng về những biện pháp cảnh cáo, gò ép, cưỡng chế, cấm đoán Lại cần sự thông cảm, hoạt động trên lĩnh vực văn hóa không dễ dàng, nó như một mặt trận do vậy hoạt động văn hóa, quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa không thể tính toán, hạch toán cung cầu một cách máy móc, không thể áp dụng mô hình chung giống nhau cho tất cả các loại hình làng

Để quản lý hoạt động văn hóa - hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở các làng nghề có khoa học tức là đừng tuyệt đối hóa bất kỳ một khía cạnh nào

mà cũng đừng bài xích khía cạnh nào Cần xử lý, quản lý hài hòa, hợp lý, có

lý có tình với các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa của người dân ở cơ sở

Xét về mặt hoạt động, suy cho cùng mọi hoạt động văn hóa, chủ yếu chỉ thực hiện trên ba phương diện:

- Hoạt động sáng tạo văn hóa,

- Hoạt động bảo tồn văn hóa dân tộc,

- Hoạt động giao lưu văn hóa

Tuy nhiên trong quá trình quản lý hoạt động văn hóa khó có thể tách bạch riêng từng phương diện hoạt động ấy được để mà quản lý Mọi phương diện hoạt động của mọi thiết chế và phương tiện truyền tải văn hóa, cũng như mọi sản phẩm văn hóa làm ra chung cuộc rồi cũng nhằm tạo ra môi trường văn hóa để tác truyền giáo dục con người trên cùng địa bàn họ đang sinh sống

1 2 2 Vai trò của quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở ở các làng nghề hiện nay

1 2 2 1 Những vấn đề mới đang đặt ra đối với quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở các làng nghề hiện nay

Những năm qua Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách khuyến khích tạo điều kiện cho các nghề thủ công truyền thống phát triển

Trang 33

Thái Bình có Nghị quyết 01- NQ/TU, ngày 05 - 6 - 2001 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về "Phát triển nghề và làng nghề " do vậy nghề, làng nghề sau 5 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt được rất nhiều thành tựu : nghề và làng nghề mở rộng, sản xuất có bước phát triển mạnh, 100% số xã có nghề, 173 làng nghề

đạt chuẩn (23 làng nghề quy mô xã) Trong phương hướng, mục tiêu, nhiêm

vụ 5 năm (2006 - 2010), Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVII cũng xác định phải mở rộng và phát triển các làng nghề hiện có, du nhập thêm những nghề phù hợp Với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta mang tính nhất quán kể trên là điều kiện thuận lợi để nghề và làng nghề trong cả nước phát triển Nghề, làng nghề Hưng Hà cũng nằm trong điều kiện được mở rộng, thu hút ngày càng nhiều lao động không chỉ ở địa phương mà cả các địa phương khác về làm ăn tại các xã trong huyện

Tuy nhiên, đồng thời với việc góp phần nâng cao tỷ trọng kinh tế, giải quyết tốt nạn thất nghiệp thì vấn đề tiềm ẩn trong các làng nghề đó là: môi trường sống của con người bị đe dọa, môi trường tự nhiên bị hủy hoại dần, đời sống tinh thần của người dân làng nghề không tương xứng với đời sống kinh tế vốn có của họ Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thị trường diễn ra sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và đến tận cơ sở thì nó ảnh hưởng tới cư dân làng nghề thế nào? Lối sống, nếp sống, phong tục tập quán rồi các giá trị văn hóa truyền thống tại các làng nghề ra sao? Đó là những câu hỏi mà các nhà quản lý văn hóa cần quan tâm

1 2 2 2 Vai trò quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở các làng nghề hiện nay

Để xây dựng đời sống văn hóa ở các làng nghề đạt kết quả cao và bền chặt thì yếu tố quản lý không thể tách rời Bước khởi đầu xây dựng không thể thiếu yếu tố quản lý và trong quá trình xây dựng đặc biệt có mô hình thì yếu

Trang 34

tố quản lý càng quan trọng hơn Quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa

ở cơ sở có tốt thì mới thực sự phát huy được vai trò, mục tiêu, động lực của văn hóa tại các làng nghề

Quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở các làng nghề nhằm tạo

ra môi trường văn hóa lành mạnh phát huy sức sáng tạo của người thợ thủ công, nâng cao đời sống kinh tế, đặc biệt đời sống tinh thần cho người dân Mục tiêu quản lý hoạt động xây dưng đời sống văn hóa cơ sở ở các làng nghề nhằm góp phần xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà nhiều lần văn kiện của Đảng, Nhà nước nhắc tới Song, mục tiêu trước mắt đó là hình thành được một lối sống mới như chúng ta mong muốn, bên cạnh các yếu tố phát triển kinh tế-xã hội phải có một đời sống văn hóa ở cơ sở sôi nổi, phong phú, đầy tính nhân văn và văn hóa cao, vừa hình thành một nếp sống văn hóa lành mạnh, tươi đẹp, văn minh, vừa là để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo những giá trị văn hóa tinh thần của nhân dân đồng thời là cơ sở

đề kháng chống và xóa những hiện tượng phản văn hóa trên cộng đồng cơ sở mình Suy cho cùng, quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở các làng nghề nhằm giúp các làng nghề phát triển một cách bền vững

1 2 3 Những nhân tố của làng nghề huyện Hưng Hà có ảnh hưởng

đến việc quản lý xây dựng đời sống văn hoá cơ sở

Thứ nhất, liên quan đến vấn đề quản lý, làng nghề vẫn có những đặc

điểm chung của làng Việt mà trên nền tảng là làng nông nghiệp, do vậy:

- Về cơ sở hạ tầng vẫn dựa trên cơ sở của làng nông nghiệp với đường làng ngõ xóm được quy hoạch từ ngàn xưa, mỗi làng đều có đình, đền, miếu

để thờ Thàng hoàng; tổ chức lễ hội và duy trì hoạt động cộng đồng; làng còn

có chùa để thờ Phật, có văn chỉ để thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền

- Về thiết chế tổ chức và các quan hệ xã hội: làng nghề vẫn được tổ chức theo mô hình của làng nông nghiệp, mỗi làng vẫn có các xóm ngõ, dòng

Trang 35

họ, các tổ chức phường hội phi quan phương (tổ chức dân dã) và trong lòng các tổ chức đó là hàng loạt các mối quan hệ xóm giềng, huyết thống, lớp tuổi,

vị thế xã hội, nghề nghiệp, sở thích… đan xen nhau một cách chồng chéo

- Về phong tục và lối sống: phong tục tang ma, cưới xin…của các làng nghề về cơ bản vẫn giống làng nông nghiệp Lối sống của người thợ thủ công vấn còn đậm lối sống của cư dân nông nghiệp nông thôn bởi họ có quá khứ không xa là những người nông dân Bên cạnh những mặt tốt, mặt tích cực thì tính cộng đồng tương trợ còn bộc lộ nhiều hạn chế, có mặt đã trở thành tiêu cực, như tính bon chen, phô trương hình thức, háo danh…

Thứ hai, mặc dù có những đặc điểm chung của làng nông nghiệp song làng nghề vẫn có một số đặc điểm riêng biệt có tác động tới việc xây dựng và quản lý các hoạt động xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, đó là:

- Thu nhập cao và tương đối ổn định dễ tạo điều kiện cho những mặt hạn chế và tiêu cực trong lối sống của nông thôn “được phát huy”, như: tính phô trương hình thức, háo danh, nổi trội… Ngoài ra có sản xuất hàng hóa tất yếu dẫn đến trao đổi mua bán, có thu nhập điều này cũng cho chúng ta thấy rõ rằng có đồng tiền nếu biết sử dụng một cách đúng mức, có hiệu quả nó góp phần nâng cao đời sống vật chất, cải thiện đời sống tinh thần cho người dân Ngược lại, nếu sử dụng đồng tiền không đúng mục đích vô hình chung sẽ dẫn tới tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến các mối quan hệ giữa người với người trong gia đình, dòng họ, thôn làng… theo hướng phai nhạt giá trị truyền thống Đặc biệt nó ảnh hưởng chi phối tới phong tục tập quán, lối sống, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của làng xã Việt Nam nói chung, dân tộc Việt Nam nói riêng

- Làng nghề dung nạp một lượng lớn lao động người ngoài làng vào làng nghề tạo được mặt tích cực đó là sựu giao lưu văn hoá - xã hội nhưng

đồng thời nó cũng gây cản trở cho công tác quản lý xã hội và quản lý văn hoá

Trang 36

- Làng nghề dễ tiếp cận lối sống đô thị song cũng dễ bị nhiễm văn hóa không lành mạnh của lối sống đô thị vào trong làng Người làng nghề có mối quan hệ làm ăn rộng rãi với nhiều nơi nhưng cũng dễ du nhập yếu tố văn hoá không phù hợp ở các nơi khác vào Sự xâm nhập lối sống của xã hội thượng l-

ưu phương Tây, xa lạ với truyền thống dân tộc đang có xu hướng lan rộng ở các làng nghề do tiếp xúc với thị trường buộc con người ta phải năng động, thích ứng đồng thời họ càng phải nắm bắt, am hiểu các quy luật thị trường, am hiểu pháp luật Tuy nhiên, chính việc này dễ dẫn đến mối quan hệ giữa con người với con người trong các làng nghề chủ yếu là mối quan hệ kinh tế, quan

hệ luật pháp, nặng về lý còn cái tình đã giảm

- Dù là làng nghề theo công nghệ thủ công hay làng nghề sản xuất theo công nghệ hiện đại thì ứng xử của những người thợ thủ công (kể cả những ông chủ) vẫn còn tư duy mang tính tiểu nông, đó là sự khoe khoang, đề cao mình, tâm lý sùng ngoại Lối tư duy tiểu nông vốn tiềm ẩn trong con người làng nghề rất dễ thức dậy trong cơ chế thị trường, đó là kiểu làm ăn chụp giật, lối ăn xổi, chỉ cầu lợi cho riêng bản thân… làm mất vẻ bình yên vốn có của làng xã

- Làng nghề dễ tạo ra ô nhiễm môi trường, nguồn nước, tiếng ồn, bụi của bông, tơ, sợi đay, cói bay khắp nơi… làm ngột ngạt bầu không khí, dễ gây các bệnh nan y

Chính những đặc điểm trên đây quy định những nét chung và riêng trong công tác quản lý của Nhà nước và của cộng đồng dân cư đối với hoạt

động xây dựng đời sống văn hoá ở các làng nghề huyện Hưng Hà

Trang 37

có liên quan đến quản lý hoạt động xây dựng

đời sống văn hóa ở các lμng nghề huyện Hưng Hμ

2 1 1 Nhận thức của cấp ủy và chính quyền

về xây dựng đời sống văn hóa tại các làng nghề

2.1.1.1 Đối với cấp huyện

Nhận thức rõ vai trò của cấp huyện đối với hoạt động xây dựng đời sống văn hóa tại các thôn làng, từ năm 1992, Huyện ủy Hưng Hà (khóa X) đã

ra Nghị quyết số 28- NQ/HU về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, trọng tâm

là xây dựng GĐVH và làng văn hóa Nghị quyết này có tác dụng định hướng cho các hoạt động xây dựng ĐSVHCS trong huyện suốt từ đó đến nay

Sau khi Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5 (khóa VIII) ban hành Nghị quyết về “xây dựng một nềnvăn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh ủy Thái Bình, Huyện ủy và UBND huyện tiếp tục triển khai công tác xây dựng ĐSVHCS

Trang 38

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII đã đưa việc xây dựng và phát triển đơn vị, thôn làng, GĐVH là một trong 6 chương trình kinh tế-xã hội trọng tâm giai đoạn 2001-2005 Ngày 07 tháng 3 năm 2001, UBND huyện đã

ra Quyết định số 77 về việc thành lập Ban tổ chức thực hiện chương trình Huyện đã chọn một số làng làm điểm, hướng dẫn quy trình xây dựng làng văn hoá….Qua 5 năm thực hiện, phong trào phát triển tương đối toàn diện, nhiều kết quả đáng ghi nhận Ngày 20 tháng 9 năm 2006, UBND huyện đã ra Quyết

định số 09/2006/QĐ-UBND "Quyết định V/v kiện toàn Ban chỉ đạo cuộc vận

động phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" huyện Hưng Hà" [54] Theo Quyết định này, Ban chỉ đạo gồm 17 thành viên, Phó Chủ tịch

UBND huyện là Trưởng Ban, Trưởng phòng VHTT-TT là Phó Ban thường trực, Phó Chủ tịch UB MTTQ huyện là phó Ban và đại diện các ban ngành,

đoàn thể khác là ủy viên BCĐ đã xây dựng kế hoạch tổ chức, phối hợp các hoạt động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, hướng dẫn các xã, thị trấn, các đơn vị, các ngành và nhân trong toàn huyện triển khai thực hiện có hiệu quả cuộc vận động này

Để đưa Nghị quyết Đại hội Đảng huyện Hưng Hà lần thứ XII vào cuộc sống, BCH Đảng bộ đã triển khai thực hiện 6 chương trình kinh tế - xã hội trọng tâm, trong đó có chương trình xây dựng làng, cơ quan, đơn vị văn hóa Căn cứ vào Quyết định 2080 của UBND tỉnh Thái Bình về việc ban hành quy

định thực hiện nếp sống văn hóa, Hội nghị lần thứ hai BCH Đảng bộ huyện (khóa XIII) đã quyết định triển khai bốn mũi nhọn đột phá tăng trưởng kinh tế

và hai chương trình trọng tâm về xã hội, trong đó có chương trình xây dựng gia

đình, dòng họ, cơ quan đơn vị văn hóa (giai đoạn 2006-2010) Thực hiện Nghị quyết BCH Đảng bộ huyện, ngày 08 tháng 01 năm 2006, UBND huyện xây

dựng Đề án số 04/ĐA-UBND "Đẩy mạnh xây dựng gia đình, dòng họ, làng xã, cơ quan, đơn vị văn hoá huyện Hưng Hà (giai đoạn 2006 - 2010)" [56] Đề án

đưa ra quan điểm chỉ đạo :

Trang 39

- Xây dựng gia đình, dòng họ, làng xã, cơ quan, đơn vị văn hóa được coi

là nội dung quan trọng, chủ yếu trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở,

nó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao

đời sống vật chất tinh thần của nhân dân

- Xây dựng gia đình, làng xã, cơ quan, đơn vị văn hóa phải trên cơ sở xã hội hóa, đa dạng hóa về hình thức, thiết thực về nội dung, phải gắn kết chặt chẽ với các nội dung kinh tế xã hội và các cuộc vận động của các đoàn thể, ngành, giới, phải đảm bảo góp phần trực tiếp vào nâng cao dân trí, phát triển dân sinh, mở rộng dân chủ, giữ nguyên kỷ cương pháp luật, phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và quản lý của chính quyền

- Xây dựng gia đình, dòng họ, làng xã, cơ quan, đơn vị văn hóa là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, là trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể từ huyện đến cơ sở, cũng như mọi thành viên trong từng gia đình, dòng họ, cộng đồng, làng xã, cơ quan, đơn vị

- 100% cơ quan, đơn vị xây dựng hoàn chỉnh quy ước, được UBND

huyện phê duyệt, 90% cơ quan, đơn vị đăng ký, 70% số đăng ký đạt chuẩn

Về tiêu chuẩn GĐVH :

- Gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tiến bộ, giữ gìn gia phong tốt đẹp

Trang 40

- Làm kinh tế giỏi, thực hiện kế hoạch hoá gia đình và tổ chức cuộc sống gia đình khoa học Các thành viên trong gia đình ở độ tuổi đi học đều

được đến trường, không có người mắc tệ nạn xã hội

- Đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng thôn, làng, tổ dân phố theo nếp sống văn hoá

- Thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ công dân

Tiêu chuẩn DHVH (theo quyết định 2080 năm 2001 của UBND tỉnh):

- Có 90% hộ trở lên có đời sống ổn định và phát triển, dưới 5% hộ nghèo, 100% hộ có nhà xây mái ngói, mái bằng; 100% hộ dùng điện, 90% trở lên hộ dùng nước sạch, có nhà tắm, nhà tiêu hợp vệ sinh

- Đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển kinh tế và các hoạt động khác; xây dựng quy ước dòng tộc được UBND xã phê duyệt, có phong trào khuyến học khuyến tài tốt; tích cực tham gia tổ chức các hoạt động nhân đạo, từ thiện và giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, 100% hộ đăng ký thực hiện tiêu chuẩn GĐVH,

có từ 85% trở lên số hộ đạt tiêu chuẩn

- Các thành viên trong dòng tộc thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, giữ gìn tốt nền nếp gia phong dòng tộc, quan hệ

đoàn kết tốt với các dòng tộc khác trong thôn, làng, xã

- Nghiêm chỉnh chấp hành đường lối chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, các quy định của địa phương, quy ước thôn làng và dòng tộc, giải quyết tốt mọi mâu thuẫn tranh chấp bằng cách hòa giải, không có người mắc

tệ nạn xã hội và sinh con thứ ba trở lên

Về tiêu chuẩn thôn, làng, khu, tổ dân phố văn hoá :

- Có kinh tế ổn định, phát triển, có phong trào giúp nhau xoá đói giảm

nghèo, cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w