1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc

110 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt trong những năm gần đây, ngoài hoạt động biểu diễn của hai đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp đoàn nghệ thuật Chèo và đoàn Ca Múa Nhạc, hoạt động BDNT không

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

*******&******

NGÔ DUY ĐÔNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT KHÔNG CHUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Trí Trắc

Những vấn đề được trình bày trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, có sự tham khảo, kế thừa nghiên cứu của các tác giả đi trước

Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung đã trình bày trong luận văn của mình

Hà nội, tháng 11 năm 2013

Tác giả

Ngô Duy Đông

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT VÀ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT KHÔNG CHUYÊN Ở VĨNH PHÚC 12

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật 12

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật 12

1.1.2 Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật 14

1.1.3 Những nội dung quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật 18

1.2 Tổng quan về hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc 19

1.2.1 Khái quát chung về tỉnh Vĩnh Phúc 19

1.2.2 Đặc điểm của hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc 22

1.2.3 Vai trò của quản lý với hoạt động động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc 23

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT KHÔNG CHUYÊN Ở VĨNH PHÚC 26

2.1 Cơ chế và chính sách trong quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên 26

2.1.1 Cơ chế quản lý 26

2.1.2 Các chính sách trong quản lý 32

2.2 Những thành tựu của Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên 33

2.2.1 Về xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động 34

2.2.2 Về tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn ở các cấp 36

2.2.3 Về xếp loại thi đua, khen thưởng 39

2.2.4 Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật chuyên môn cho diễn viên và các tác giả không chuyên 39

Trang 4

2.2.5 Về quản lý các nguồn lực 40

2.2 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc 44

2.2.1 Những điểm mạnh 44

2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 46

Chương 3: NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT KHÔNG CHUYÊN Ở VĨNH PHÚC 53

3.1 Những nguyên tắc trong quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên 53

3.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc 55

3.2.1 Giải pháp về nhận thức 55

3.2.2 Giải pháp về xã hội hóa 61

3.2.3 Giải pháp về tìm hình thức mới cho biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc 64

3.2.4 Giải pháp về quy hoạch, đổi mới cơ chế và công tác tổ chức quản lý 66

3.2.5 Giải pháp về tăng cường hỗ trợ xây dựng nội dung và hình thức các chương trình biểu diễn nghệ thuật không chuyên 68

3.2.6 Giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng 70

3.2.7 Giải pháp đưa hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên phục vụ phát triển du lịch 76

3.2.8 Giải pháp về tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn và đánh giá, xếp loại thi đua, khen thưởng 78

3.3 Một số kiến nghị 83

3.3.1 Với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc 83

3.3.2 Với chính quyền cơ sở 83

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

BDNT : Biểu diễn nghệ thuật

BVHTT : Bộ Văn hóa - Thông tin

BVHTTDL : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

UBND : Ủy ban nhân dân

VHTTDL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vĩnh Phúc là một tỉnh giáp Thủ đô Hà Nội về phía tây; một miền quê được thiên nhiên ban tặng núi non, sông nước “Sơn thủy hữu tình”, “Sơn kỳ thủy tú”, nơi có danh sơn Tam Đảo, nơi hội tụ của ba con sông lớn là sông Hồng, sông Lô, sông Đáy, hợp lưu với sông Đà ở ngã ba Bạch Hạc; vùng đất tiếp nhận sự giao thoa giữa các vùng thuộc châu thổ sông Hồng như văn hóa Kinh Bắc, văn hóa vùng đất Tổ vv Là không gian cư trú, hội tụ của rất nhiều tộc người trong đó chiếm phần lớn là người Kinh, sau đó là người Cao Lan, người Dao, người Sán Dìu Nơi đây trở thành chiếc nôi sinh ra và nuôi dưỡng các làn điệu dân ca, dân vũ, diễn xướng dân gian như Trống quân Đức Bác, Bồng mạc, Sa mạc, Xịnh ca, Soong cô, múa Cao Lan, múa Dao và sau này là Chèo, Chầu văn, Cải lương; nó đã hình thành đặc sản văn hóa của các tộc người tụ cư trên mảnh đất thiêng liêng bán sơn địa này Và đây cũng chính là

cơ sở để người dân Vĩnh Phúc có nhiều khả năng về nghệ thuật biểu diễn từ xa xưa, luôn yêu thích nghệ thuật biểu diễn và thích tự mình biểu diễn nghệ thuật

Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt trong những năm gần đây, ngoài hoạt động biểu diễn của hai đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp (đoàn nghệ thuật Chèo và đoàn Ca Múa Nhạc), hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc diễn ra rất sôi nổi, góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho cơ sở, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sáng tạo nghệ thuật của quần chúng nhân dân, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống đặc sắc, phong phú trong các vùng miền của địa phương Bên cạnh đó, qua hoạt động BDNT sẽ góp phần làm phong phú hơn đời sống tinh thần của cộng động nhân dân, khai thác những nhân tố tích cực, hạn chế những nhân tố tiêu cực trong đời sống xã hội

Trang 7

Bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, qua khảo sát, kiểm tra, tổng hợp số liệu và phân tích, chúng tôi nhận thấy, hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc thời kỳ này ít nhiều còn mang tính tự phát, phong trào chưa sâu rộng, đồng đểu giữa các vùng miền Nhận thức về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của văn hóa, văn nghệ quần chúng trong cấp ủy, chính quyền

ở một số nơi chưa sâu sắc, đầy đủ Vì thiếu sự quản lý, hướng dẫn giúp đỡ của các cơ quan văn hóa Nhà nước, nên các chương trình biểu diễn còn hạn chế

về nội dung tư tưởng và chất lượng nghệ thuật Việc thẩm định các chương trình biểu diễn chưa có qui định cụ thể, chưa có qui chế rõ ràng Nhiều nơi quản lý hoạt động BDNT không chuyên thiếu tính chuyên nghiệp, còn nặng

về tự phát cảm tính; việc tổ chức thực hiện các chương trình ít nhiều vẫn còn mang tính hô hào, phong trào, khẩu hiệu, vì thành tích Trước những ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã đẩy nhanh sự “xâm lăng” của văn hóa ngoại lai đến tận các thôn, làng, bản xa xôi, dẫn đến nhiều chương trình biểu diễn của một số đội văn nghệ, câu lạc bộ nghệ thuật đã dần xa rời bản sắc truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Quản lý như thế nào để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hưởng thụ các giá trị văn hóa nghệ thuật, qua đó bồi dưỡng năng lực nhận thức, xây dựng thị hiếu thẩm mỹ theo hướng lành mạnh, tiến bộ; quản lý như thế nào để thể hiện sự chăm lo của Đảng và Nhà nước ta nói chung, của chính quyền địa phương nói riêng đối với đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; đồng thời thu hút quần chúng tham gia tích cực vào quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa nghệ thuật mới, đáp ứng nhu cầu sáng tác, BDNT của quần chúng, qua đó phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo các tài năng nghệ thuật trẻ cho sân khấu biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp? Đó là lý do chúng tôi quyết định chọn đề

tài: “Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên trên địa bàn tỉnh

Vĩnh Phúc” làm luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản lý văn hóa

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu

Trên thực tế, đã có một số công trình, tác phẩm nghiên cứu về nghệ thuật biểu diễn ở Vĩnh Phúc, chúng tôi xin dẫn một số công trình, tác phẩm tiêu biểu sau:

- Văn hóa dân gian Vĩnh Yên của tác giả Trần Gia Linh, xuất bản năm

2010, Nxb Dân Trí, Hà Nội

- Văn hóa dân gian Vĩnh Phúc của tác giả Bùi Đăng Sinh, Sở Văn hóa

– Thông tin Vĩnh Phúc xuất bản năm 2007

Hai tác phẩm trên, các tác giả đi sâu phân tích, tổng hợp làm rõ các đặc trưng vốn có của văn hóa dân gian tỉnh Vĩnh Phúc trong mối quan hệ đan xen, lan tỏa, tiếp biến văn hóa vùng, tiểu vùng cùng những giá trị phổ quát chung của văn hóa dân gian dân tộc Dấu ấn địa phương, sản vật, con người cùng những địa danh cụ thể các vùng quê Vĩnh Phúc được khẳng định trong vùng lan tỏa ấy

- Hát Trống Quân do tác giả Trần Việt Ngữ giới thiệu và sưu tầm, xuất

bản năm 2002, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Tác giả đã mô tả khái quát về Hát Trống quân Đức Bác, về lễ hội Trống quân, về hình thức diễn xướng…

- Tục ngữ, ca dao, dân ca Vĩnh Phú của tác giả Nguyễn Khắc Xương,

Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao Vĩnh Phú xuất bản năm 1994 Về tác phẩm này, tác giả đã sưu tầm, tổng hợp các bài ca dao, tục ngữ, dân ca của tỉnh Vĩnh Phú (nay chia tách thành hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc)

Ngoài ra, còn có các bài báo, tham luận đề cập tới vấn đề Quản lý hoạt động BDNT, Bảo tồn và phát huy nghệ thuật biểu diễn truyền thống , nhưng chưa có công trình chuyên luận nào về đề tài quản lý hoạt động BDNT không chuyên, đặc biệt là quản lý hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc

Trang 9

Dẫu vậy, các công trình nghiên cứu trên vẫn là cơ sở gợi mở, cung cấp một số luận cứ, luận chứng để giúp chúng tôi thực hiện đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phát huy vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động BDNT không

chuyên trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế để từ đó đưa hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc lên tầm cao mới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định vai trò của quản lý hoạt động BDNT không chuyên trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Vĩnh Phúc;

- Làm rõ tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc hiện nay;

- Đánh giá thực trạng hoạt động BDNT không chuyên và công tác quản

lý hoạt động BDNT không chuyên hiện nay ở Vĩnh Phúc;

- Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động BDNT không chuyên và công tác quản lý hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc (các đội văn

nghệ ở các cơ quan Nhà nước không đề cập đến trong luận văn này)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về Quản lý hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc từ năm 2006 đến nay

Trang 10

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

- Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới;

- Các nội dung về văn hóa – xã hội trong báo cáo chính trị ở các kỳ Đại hội của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc; các nghị quyết của tỉnh ủy Vĩnh Phúc về định hướng, mục tiêu phát triển sự nghiệp văn hóa trong giai đoạn hiện nay và tầm nhìn đến năm 2020;

- Quyết định số 561/QĐ – TTg ngày 06/5/2009 về Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào cơ sở khoa học liên ngành và chuyên ngành như nghệ thuật học, mĩ học, văn hóa học, khoa học quản lý văn hóa làm công cụ trong quá trình nghiên cứu, tiếp cận, kết hợp với các phương pháp:

- Điền dã, khảo sát thực địa cùng hoạt động thực tế;

- Tổng hợp, phân tích và xử lý nguồn tư liệu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về quản lý hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc

- Làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý văn hóa và chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo, quản lý, điều hành hoạt động BDNT không chuyên ở cơ sở

- Giúp hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc bước đầu có những định hướng cần thiết cho sự phát triển

Trang 11

7- Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật và

tổng quan về hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc

Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không

chuyên ở Vĩnh Phúc

Chương 3 Nguyên tắc và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt

động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN

NGHỆ THUẬT VÀ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN

NGHỆ THUẬT KHÔNG CHUYÊN Ở VĨNH PHÚC

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật

sự phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định định” [29, Tr.68]

Quản lý là việc tất yếu phải thực hiện để duy trì tính tổ chức, sự phân công lao động, các mối quan hệ giữa những cá nhân trong một tổ chức và các

tổ chức với nhau hướng tới mục tiêu chung

Như vậy, quản lý là một hoạt động đặc biệt, có tính sáng tạo, là hoạt động chủ đích của con người, cá nhân hoặc một nhóm người thực hiện nhằm

thu được kết quả như mong muốn Nói một cách khác thì Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể đề ra

* Quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản, quy phạm pháp luật

Trang 13

Trong quản lý nhà nước, đóng vai trò quan trọng là các hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, đảm nhiệm chức năng thực thi quyền hành pháp

để quản lý, điều hành mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Gắn liền với hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước là một thể chế được cấu thành từ những nhân tố nhằm đảm bảo thực thi các hoạt động hành chính nhà nước một cách thống nhất

* Quản lý văn hóa

Khái niệm quản lý văn hóa, thực chất là cách gọi tắt của cụm từ quản lý nhà nước về văn hóa Với tư cách là một mặt hoạt động của quản lý nhà nước

bao trùm các lĩnh vực văn hóa, công cụ quản lý nhà nước đối với văn hóa là

hệ thống chính sách và luật pháp được duy trì, kiểm soát bởi các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Quản lý văn hóa là quá trình tác động, điều chỉnh bằng pháp luật đối với mọi hoạt động văn hóa trong đời sống xã hội của con người nhằm thúc đẩy sự nghiệp văn hóa của nhân dân không ngừng lớn mạnh, môi trường văn hóa phù hợp với định hướng của Đảng, pháp luật của Nhà nước Trong điều kiện xã hội ở nước ta, sự tham gia vào việc quản lý nhà

nước đối với văn hóa có cả bộ phận chuyên trách quản lý văn hóa trực thuộc

các cơ quan theo phân cấp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Với cách

nhìn rộng rãi và giản đơn, có thể hiểu khái niệm quản lý văn hóa (nói chung)

là: sự huy động, tổ chức điều hành các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu văn hóa đã xác định trước Như vậy, ý nghĩa tổng quát của quản lý văn hóa là tạo

điều kiện và thúc đẩy văn hóa phát triển theo đường lối lãnh đạo của Đảng

Trang 14

phương pháp về ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa” [41, Tr.29]

Diễn đạt cách khác, chính sách văn hóa là tổng thể những thực hành xã hội hữu thức có suy tính kỹ về những can thiệp hay không can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng các nhu cầu văn hóa của nhân dân bằng cách sử dụng tối ưu các nguồn lực mà một xã hội có thể huy động vào thời điểm nhất định Cũng như vậy, chính sách BDNT với mục tiêu là làm cho hoạt động BDNT tồn tại và phát triển, đáp ứng tích cực các nhu cầu BDNT của nhân dân trên cơ sở sử dụng tối đa các nguồn lực, phương tiện vật chất mà xã hội có thể huy động trong thời điểm nhất định

Chính sách có những công cụ khác nhau: Luật pháp và các thủ tục hành chính; ngân sách và hệ thống thuế vv…Nhưng trong các công cụ đó thì luật pháp có cấp độ quan trọng cao nhất về chính sách Nó là sự thể hiện, thể chế hóa các quan hệ xã hội trong lĩnh vực BDNT, điều chỉnh hành vi giữa các bên

có liên quan trên cơ sở qui định trong các điều luật có liên quan tới BDNT

Ngoài luật còn có các nghị định, thông tư của Chính phủ, Thủ tướng, các cơ quan cấp bộ có thẩm quyền liên quan tới văn hóa và các chỉ thị, quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các nghị quyết, quyết định của HĐND, UBND các địa phương…Đó chính là các văn bản pháp qui tác động vào những vấn đề cụ thể của hoạt động văn hóa

Như vậy, Nhà nước dùng chính sách văn hóa để tác động, điều chỉnh đối với mọi hoạt động văn hóa trong đời sống xã hội nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển văn hóa

1.1.2 Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật

Trong Quy chế hoạt động biểu diễn và tổ chức hoạt động biểu diễn chuyên nghiệp được ban hành kèm theo Quyết định số 47/2004/QĐ-BVHTT

Trang 15

ngày 2/7/2004 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin đã đưa ra khái niệm: “ Biểu diễn nghệ thuật là hoạt động trình diễn nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật đã được sáng tác bằng sự diễn xuất của diễn viên, để phản ánh cuộc sống, nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, góp phần nâng cao trình độ dân trí, thẩm

mỹ, đáp ứng nhu cầu giải trí, hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân”

Như vậy, BDNT bao gồm các thành tố: tác phẩm (chương trình, tiết mục, vở diễn), người biểu diễn (nghệ sĩ, diễn viên) và công chúng thưởng thức nghệ thuật

Tác phẩm là bức thông điệp mà người sáng tác (nhạc sĩ, biên kịch, đạo diễn, biên đạo, họa sỹ, kỹ sư âm thanh, ánh sáng ) muốn gửi gắm tới công chúng Người sáng tác với tư cách là chủ thể thẩm mỹ đã chuyển đối tượng thẩm mỹ vào trong tác phẩm của mình, nhào nặn qua cảm xúc và tư duy để từ

đó đối tượng thẩm mỹ không còn nguyên bản nữa mà đã được nâng cao gọt giũa thành đối tượng thẩm mỹ cao hơn, điển hình hơn, tập trung hơn trước công chúng nghệ thuật Trong tác phẩm nghệ thuật, đối tượng thẩm mỹ và giá trị cảm xúc sáng tạo của người sáng tác là hai yếu tố tạo nên một tác phẩm nghệ thuật có giá trị đối với đời sống xã hội con người

Người biểu diễn là nghệ sĩ, diễn viên (người sáng tạo lần thứ hai) đưa tác phẩm nghệ thuật đến với công chúng nghệ thuật Tác phẩm trở nên

“động” và đối tượng thẩm mỹ trong tác phẩm nghệ thuật (cái hay, cái đẹp, cái cao cả, cái hùng và cả cái xấu, cái bi, cái hài ) mới được công chúng nghệ thuật tiếp nhận

Công chúng nghệ thuật là những người thưởng thức tác phẩm nghệ thuật thông qua nghe và xem nghệ sĩ, diễn viên biểu diễn (người sáng tạo thứ ba) Tác phẩm nghệ thuật và người biểu diễn nếu không có công chúng đón nhận thì tác phẩm nghệ thuật cũng như người biểu diễn sẽ “yếu” dần rồi

Trang 16

“chết” Như vậy, tác phẩm nghệ thuật là con đẻ của người nghệ sĩ , nhưng sinh mệnh của nó lại phụ thuộc vào khả năng thưởng thức và đánh giá của công chúng

Ngoài ra, BDNT phải cần đến các thành tố khác như: Các cơ quan sản xuất, phổ biến tác phẩm, hệ thống các Nhà hát, Cung văn hóa, các cơ quan truyền thông đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo chí ) Các đơn vị tổ chức sự kiện, các đơn vị tổ chức biểu diễn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc BDNT, với tư cách là cầu nối phổ biến tác phẩm nghệ thuật tới công chúng

Quản lý hoạt động BDNT nghệ thuật là một hoạt động cơ bản của quản

lý văn hóa Từ nhận thức trên, ta có thể hiểu quan niệm về quản lý hoạt động

BDNT như sau: Quản lý hoạt động BDNT là sự tác động của Nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ hoạt động biểu diễn nghệ thuật (cả chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp) trên phạm vi toàn quốc nhằm định hướng, thiết lập kỷ cương của hoạt động này đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển sự nghiệp Nghệ thuật biểu diễn và nguồn nhân lực biểu diễn nghệ thuật cho quốc gia

* Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp

Như trên đã nói, BDNT là trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người biểu diễn Như vậy, người biểu diễn ở đây có thể là chuyên nghiệp hoặc không chuyên Quản lý hoạt động BDNT chuyên nghiệp được hiểu là quản lý hoạt động biểu diễn của tổ chức, đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp (cả công lập và dân lập) trong đó có các diễn viên chuyên nghiệp Diễn viên chuyên nghiệp là những người được học hành bài bản về nghệ thuật, thường làm chuyên một nghề có môi trường biểu diễn ổn định Hiện nay, hoạt động BDNT chuyên nghiệp được điều chỉnh bởi Nghị

Trang 17

định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ, quy định

về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu Cục nghệ thuật biểu diễn và các Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch trên cả nước là những cơ quan Nhà nước chỉ đạo, quản lý, giám sát các hoạt động BDNT chuyên nghiệp thực hiện Nghị định này

* Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên

Hoạt động BDNT không chuyên (còn được gọi là hoạt động BDNT quần chúng) bao gồm nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như ca, múa, nhạc, sân khấu (Kịch, Tuồng, Thèo, Cải lương ) Xiếc, ngâm thơ Hoạt động BDNT không chuyên do những tác giả, đạo diễn, diễn viên không chuyên thực hiện Đó là những người có năng khiếu nghệ thuật hoặc ít nhiều có năng khiếu nghệ thuật Họ có thể đã qua đào tạo, bồi dưỡng về văn hóa nghệ thuật hoặc chưa một lần được đào tạo, bồi dưỡng nhưng yêu thích nghệ thuật và thích tự mình biểu diễn nghệ thuật

Quản lý hoạt động BDNT không chuyên thường được thực hiện theo hai phương thức:

- Đưa các tác phẩm văn nghệ hay nhất đến với công chúng bằng cách tổ chức cho họ được xem phim, xem kịch, ca múa nhạc, Chèo, Cải lương…

- Thu hút quần chúng tham gia các hoạt động sáng tác tự biên tự diễn, tính chất chung của hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên là thiên về biểu diễn nghệ thuật trên sân khấu (trong nhà hoặc ngoài trời) để tự biểu hiện tài năng nghệ thuật của họ

Về góc độ quản lý, hoạt động BDNT không chuyên lại không chịu sự

điều chỉnh của "Quy chế hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp", cũng không thuộc phạm vi quản lý của Cục NTBD mà thuộc

Trang 18

sự quản lý của Cục Văn hóa cơ sở và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên cả nước

1.1.3 Những nội dung quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong di chúc: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao

đời sống của nhân dân” Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng một xã hội mà ở

đó, người dân vừa có đời sống vật chất đầy đủ, vừa có đời sống tinh thần lành

mạnh, phong phú là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra

Muốn được như vậy, công tác quản lý hoạt động BDNT rất cần thiết đảm bảo những nội dung sau:

- Xây dựng một cơ chế, chính sách, chế tài ổn định, phù hợp với hoạt động BDNT Quản lý trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội là tác động có định hướng, có mục đích đến các hoạt động văn hóa, phù hợp với qui luật khách quan của sự phát triển văn hóa tinh thần, ở đó Nhà nước là chủ thể duy nhất

có nghĩa vụ, định hướng, chỉ đạo, điều khiển mọi hoạt động văn hóa theo mục tiêu đã định

- Định hướng giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật cho công chúng xuất phát từ mục tiêu thỏa mãn tinh thần của khán giả

- Mở rộng giao lưu quốc tế về văn hóa, chống sự xâm nhập của văn hóa phẩm độc hại, lai căng

- Tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi, thông qua hệ thống các văn bản pháp quy, quy định, những biện pháp tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn phương pháp chuyên môn cho sự phát triển của nghệ thuật biểu diễn

- Lập kế hoạch, điều hành, kiểm tra mọi hoạt động theo một qui trình thống nhất nhằm đạt mục tiêu phát triển của nghệ thuật biểu diễn

Trang 19

- Phát huy tính năng động, chủ động, tạo điều kiện và thúc đẩy năng lực sáng tạo của nghệ sĩ Tạo mối quan hệ giữa nghệ sĩ và công chúng không những nhằm mục đích giới thiệu nghệ thuật đến công chúng mà còn là cơ hội phát triển nghệ thuật

- Nâng cao thẩm mỹ nghệ thuật cho công chúng qua các hoạt động BDNT và khuyến khích, giúp đỡ họ được tham gia sáng tạo, biểu diễn nghệ thuật nhằm thỏa mãn nhu cầu của đông đảo công chúng, phát huy mọi nguồn lực để phát triển sự nghiệp nghệ thuật biểu diễn

1.2 Tổng quan về hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc

1.2.1 Khái quát chung về tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là tỉnh có 3 loại địa hình chính: địa hình miền núi, địa hình vùng đồi và địa hình vùng đồng bằng Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía Nam và phía Đông giáp thủ đô

Hà Nội Tổng diện tích tự nhiên là 1.231 km2, dân số gần 1,006 triệu người (số liệu thống kê năm 2009) Hiện nay, Vĩnh Phúc có 137 xã, phường, thị trấn thuộc 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố Vĩnh Yên (là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh), thị xã Phúc Yên và 7 huyện là Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo, Sông Lô và Lập Thạch

Nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, Vĩnh Phúc có

hệ thống giao thông đa dạng gồm cả đường sắt, đường bộ và đường thuỷ; ở gần sân bay quốc tế Nội Bài, là cầu nối giữa thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Thiên nhiên ưu đãi cho Vĩnh Phúc có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Rừng quốc gia Tam Đảo,

Trang 20

hồ Đại Lải, hồ Làng Hà, Đầm Và, Đầm Vạc Nhiều di tích lịch sử, văn hoá mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như: Khu di tích lịch sử văn hóa

và danh thắng Tây Thiên, thiền viện trúc lâm Tây Thiên, đền thờ Trần Nguyên Hãn, tháp Bình Sơn, cụm đình Tam Canh, chùa Hà Tiên, di chỉ khảo

cổ Gò Đậu Có gần 250 di tích lịch sử, văn hoá được xếp hạng, trong đó 82

di tích được xếp hạng cấp quốc gia Những làng nghề nổi tiếng như làng gốm Hương Canh, làng rèn Lý Nhân, làng mộc Bích Chu, làng thương mại Thổ Tang…thực sự có sức hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế Có khu nghỉ mát Tam Đảo với độ cao trên 900m so với mực nước biển, bao bọc bởi rừng nguyên sinh có nhiều động, thực vật quý hiếm- là nơi du lịch và nghỉ dưỡng cuối tuần lý tưởng Quần thể danh thắng Tây Thiên - Tam Đảo là “ địa linh” lớn của cả nước, nơi không chỉ có đền thờ Quốc mẫu, mà còn là nơi được phát hiện có dấu tích Phật giáo đến từ Ấn Độ sớm nhất ở Việt Nam

Đặc biệt, Vĩnh Phúc là vùng đất giáp giới 3 trung tâm kinh tế - chính trị

- văn hóa của nước ta thời cổ Đó là: kinh đô Văn Lang thời Hùng Vương; kinh đô Cổ Loa thời An Dương Vương và kinh đô Thăng Long - Đông Đô, nay là thủ đô Hà Nội Bao đời nay, Vĩnh Phúc là vùng đất phên dậu của kinh thành Thăng Long, là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ nên những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống được hình thành và phát triển từ rất sớm Vĩnh Phúc là nơi có nhiều trò chơi, sinh hoạt văn hoá dân gian độc đáo như: lễ hội Tây Thiên, chọi trâu (Hải Lựu), kéo song (Hương Canh); là nguồn cội của nhiều làn điệu dân ca đặc sắc như: hát Ví, hát Xoan, hát Ghẹo, Sa mạc, Bồng mạc, hát Xẩm, hát Trống quân Đức Bác…của người Kinh; hát Sọong cô của người Sán Dìu, hát Xịnh ca của dân tộc Cao Lan

Riêng hát Xoan, lâu nay nhiều người vẫn coi là của riêng tỉnh Phú Thọ,

là dân ca Phú Thọ Thực ra không hẳn vậy

Trang 21

Nếu xét theo đơn vị hành chính trước Cách mạng tháng Tám, thì họ Xoan đã hát ở 21 đình miếu của 17 xã trong 6 huyện: Phù Ninh, Tam Nông, Lâm Thao (thuộc tỉnh Phú Thọ), Đoan Hùng (thuộc tỉnh Tuyên Quang), Vĩnh Tường, Lập Thạch (thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) Như thế, 3 huyện tỉnh Phú Thọ có hát Xoan, 2 huyện tỉnh Vĩnh Phúc có hát Xoan [39, tr.302]

Từ năm 2006 đến nay, nền kinh tế của Vĩnh Phúc liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, với những con số đầy sức thuyết phục Bình quân tăng trưởng 10 năm (1997 - 2007) là 15,4%; 3 năm (2006 - 2008) tăng bình quân 20,42%, vượt xa mục tiêu đề ra (14 - 15%/năm); năm 2008 đạt mức 14,78% Năm 2009, tỉnh vẫn đạt mức tăng trưởng “ngoạn mục” - trên 8% Năm 2010, tăng trưởng đạt con số 19,1% Với sự nỗ lực không ngừng của toàn Đảng bộ, các cấp chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Vĩnh Phúc sẽ tiếp tục thu được những thành công mới, từng bước đưa tỉnh cơ bản một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI

Bên cạnh thành tựu về kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ Phong trào xây dựng gia đình, làng xã, cơ quan văn hoá được đẩy mạnh Năm 2007, tỉ lệ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá đạt 80%; thôn, làng, khu phố văn hoá đạt 65% Đến năm 2012, đạt 87,5% gia đình văn hoá; 66,6% đạt thôn, làng, khu phố văn hoá

Các chính sách xã hội được tỉnh quan tâm thực hiện, hàng năm giải quyết việc làm khoảng 20.000 lao động Tỉnh đã xoá hộ đói, mỗi năm giảm từ 2-3% hộ nghèo; an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội đảm bảo, quốc phòng được củng cố, tăng cường; đời sống nhân dân được cải thiện

và nâng lên về nhiều mặt; bộ mặt của đô thị và nông thôn có nhiều đổi mới

Trang 22

1.2.2 Đặc điểm của hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc

Hoạt động BDNT không chuyên có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa ở cơ sở Đây là hoạt động rất hấp dẫn, phong phú và đa dạng, thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, kể cả mọi lứa tuổi Hoạt động BDNT không chuyên đã góp phần giáo dục, định hướng về thẩm mỹ, phong cách, đạo đức, lối sống đến người xem, nhất là giới trẻ Trong những năm qua, hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh phúc không những sáng tạo ra các sản phẩm văn hoá, nghệ thuật mới, đương đại, mà còn biểu diễn, lưu giữ lại những giá trị văn hoá dân gian truyền thống, làm cho các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống được bảo tồn phát huy trong xã hội hiện đại

Trải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử, khi đất nước hoà bình cũng như trong chiến tranh, nhân dân các dân tộc Việt Nam nói chung, nhân dân các dân tộc Vĩnh Phúc nói riêng, sống, chiến đấu, bảo vệ quê hương, dựng xây đất nước, dù nắng mưa, trong buồn vui không bao giờ vắng lời ca tiếng hát Giờ đây, các loại hình giải trí hấp dẫn, hiện đại được truyền dẫn qua truyền hình, internet phủ sóng khắp nơi cũng không thể thay thế được các loại hình BDNT quần chúng ở cơ sở như hát mới, hát Xịnh ca, hát Soọng cô, hát Văn, hát Chầu văn, hát Chèo, hát Trống quân của người dân Vĩnh Phúc Vì văn nghệ quần chúng là của quần chúng, sinh ra và tồn tại trong đời sống của quần chúng, là món ăn tinh thần không thể thiếu của quần chúng nhân dân từ đời này qua đời khác

Các loại hình của hoạt động BDNT không chuyên như ca mới, nhạc, sân khấu (Chèo, Tuồng, Cải lương…), hát dân ca, ngâm thơ… được biểu diễn

đã khắc hoạ, phản ánh sinh động cuộc sống của quần chúng nhân dân, phản ánh tâm tư nguyên vọng của nhân dân thông qua tiếng đàn, lời ca, điệu múa…

Trang 23

1.2.3 Vai trò của quản lý với hoạt động động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở Vĩnh Phúc

Thực chất công tác quản lý với hoạt động BDNT không chuyên là quá trình tác động, điều chỉnh bằng những văn bản qui phạm pháp luật, những hướng dẫn nghiệp vụ, chuyên môn đối với các hoạt động BDNT không chuyên nhằm thúc đẩy hoạt động BDNT không chuyên không ngừng lớn mạnh, phù hợp với định hướng của Đảng, pháp luật của Nhà nước Ở Vĩnh Phúc, vai trò củaquản lý hoạt động BDNT không chuyên được thể hiện ở các mặt sau:

- Nhà nước định hướng các hoạt động BDNT không chuyên nhằm tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên mọi mặt của đời sống xã hội; đồng thời củng cố vững chắc nền tảng

tư tưởng cách mạng trong các tầng lớp nhân dân;

- Nhà nước (mà cụ thể ở đây là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh) đã xây dựng các cơ chế và chính sách nhằm xây dựng, phát triển đời sống văn hóa cơ sở, trong đó có hoạt động BDNT không chuyên như;

- Nhà nước (thông qua Trung tâm văn hóa tỉnh, các phòng Văn hóa – Thông tin và các Trung tâm Văn hóa – Thể thao cấp huyện) ra quyết định thành lập các đội văn nghệ, các câu lạc bộ nghệ thuật cho quần chúng nhân dân; xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên hàng quí, hàng năm; tổ chức các kỳ Hội thi, Hội diễn, Liên hoan; xếp loại thi đua, khen thưởng; tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn cho các tác giả và diễn viên không chuyên;

- Bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc của địa phương như hát Ca trù, hát Xoan, hát Trống quân, hát Soọng cô, hát Xịnh ca, các làn điệu dân ca, dân vũ đặc sắc trong đồng bào dân tộc thiểu số ở Vĩnh

Trang 24

Phúc như Dao, Cao Lan, Sán Dìu thông qua các hình thức đầu tư về kinh phí, trang thiết bị hoạt động cho các độ văn nghệ, CLB nghệ thuật; sưu tầm chỉnh lý, nâng cao các làn điệu dân ca, dân vũ của địa phương

Quản lý Nhà nước về văn hóa nói chung nhằm thúc đẩy phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, xây dựng nếp sống mới, thì các hoạt động BDNT không chuyên phải phản ánh đời sống, hơi thở của thời đại bằng nhiều loại hình phong phú, đa dạng khác nhau, không ngừng nâng cao chất lượng nghệ thuật, đáp ứng được nhu cầu, thị yếu của quần chúng Quản lý nhà nước đối với các hoạt động BDNT không chuyên giúp cho các hoạt động này phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, dần đi vào nề nếp, hiệu quả phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước và địa phương; quản lý hoạt động BDNT không chuyên tạo ra sân chơi lành mạnh, bổ ích, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia sáng tạo, hưởng thụ các giá trị văn hóa của dân tộc và từng vùng miền, qua đó đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh, chính trị, từng bước nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân trong tỉnh Vĩnh Phúc

Tiểu kết chương 1

Được tái lập từ năm 1997, khởi điểm là một tỉnh thuần nông, cho đến nay, Vĩnh Phúc là một tỉnh có tỉ trọng công nghiệp đứng trong tốp đầu cả nước, kinh tế - xã hội có những bước phát triển vượt bậc Chính vì thế, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa nghệ thuật trong nhân dân ngày càng cao Trước tình hình trên, Vĩnh Phúc cần phải có sự tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa nói chung, quản lý hoạt động BDNT không chuyên nói riêng của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành trong việc vận hành thể chế nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng quản lý hoạt động BDNT không chuyên ở địa phương

Trang 25

Quản lý hoạt động BDNT không chuyên có vai trò quan trọng trong việc thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật của quân chúng nhân dân, đồng thời đảm bảo các hoạt động văn hóa, văn nghệ thực hiện đúng đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc, cần có sự nghiên cứu, bao hàm cả lý luận và thực tiễn trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng cụ thể

Trang 26

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN

NGHỆ THUẬT KHÔNG CHUYÊN Ở VĨNH PHÚC

2.1 Cơ chế và chính sách trong quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên

(xem cấu tổ chức ở Phụ lục 1) Nếu CLB hoặc đội văn nghệ quần chúng nào

mà thành viên từ nhiều nơi trong tỉnh tập hợp lại thì Trung tâm Văn hóa tỉnh

ra quyết định thành lập hoặc giải thể sau khi có đơn đề nghị của CLB hoặc đội văn nghệ đó Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Văn hóa tỉnh được quy định tại Quyết định số 296/QĐ - VHTT&DL ngày 03 tháng 12 năm 2008 của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Có thể tóm tắt chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Văn hóa tỉnh liên quan đến hoạt động BDNT không chuyên như sau:

- Tổ chức hoạt động văn hoá tổng hợp (văn nghệ quần chúng, tuyên

truyền lưu động, tuyên truyền cổ động, triển lãm) phục vụ các sự kiện chính

trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, giải trí, sáng tạo văn hoá, nghệ thuật và thu nhận thông tin của quần chúng

- Khai thác, kế thừa và bảo tồn phát huy vốn văn nghệ dân gian truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, tổ chức thi sáng tác, liên hoan, hội

Trang 27

diễn nghệ thuật quần chúng, hội thi tuyên truyền, tổ chức các lễ hội truyền thống và hiện đại

- Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các hạt nhân phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng, thông tin cổ động, triển lãm, nhà văn hoá ở cơ sở Mở các lớp năng khiếu về văn hoá, nghệ thuật, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng quần chúng về sáng tạo, biểu diễn

và hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật

- Tổ chức tuyên truyền hoạt động văn hoá tại Trung tâm hoặc tuyên truyền lưu động bằng các loại hình văn hoá, văn nghệ tổng hợp để định hướng

và nâng cao thị hiếu thẩm mỹ, trình độ cảm thụ văn hoá nghệ thuật, tiếp nhận thông tin mới và đa dạng đáp ứng nhu cầu văn hoá nghệ thuật của quần chúng

- Tổ chức khảo sát, tham quan, trao đổi nghiệp vụ, giao lưu văn hoá- văn nghệ quần chúng với các đơn vị có liên quan trong toàn quốc Tổ chức sinh hoạt các loại hình nhóm sở thích, CLB và các hoạt động vui chơi giải trí tại Trung tâm…

- Khảo sát, bảo tồn hát Ca Trù, hát Xoan trên địa bàn tỉnh; xây dựng kế hoạch phục dựng, bảo tồn các làn điệu hát dân ca, múa đặc sắc trong đồng bào dân tộc thiểu số như : Dao, Cao Lan, Sán Dìu Hàng năm mở các lớp tập huấn các làn điệu hát Chèo, hát Ca Trù làng văn hóa trọng điểm; hát Văn và Chầu văn; đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho các hạt nhân để gây dựng phong trào tại cơ sở, đội ngũ nhạc công phục vụ các lễ hội ở địa phương; truyền dạy dân ca: hát Xoan, hát Trống quân, hát Soọng cô, các ca khúc mới về quê hương Vĩnh Phúc…

- Duy trì sinh hoạt thường kỳ của các CLB như : CLB hát Chèo, CLB

mĩ thuật, CLB Ca trù, CLB nghệ thuật không chuyên, CLB thơ, CLB thể thao…Tổ chức hoạt động giao lưu, biểu diễn văn nghệ phục vụ nhu cầu của

Trang 28

hội viên, nhân dân đồng thời phục vụ các ngày lễ, kỷ niệm, các nhiệm vụ chính trị

- Tổ chức các hoạt động BDNT, chương trình vở diễn, chiếu bóng lưu động theo kế hoạch hàng năm phục vụ nhiệm vụ chính trị, đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các tầng lớp nhân dân, nhất là các xã miền núi, khu vực nông thôn, nông dân…đảm bảo về chất lượng nội dung nghệ thuật và chỉ tiêu kế hoạch được giao

- Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho các trung tâm văn hóa

- thể thao cấp huyện và công chức văn hóa - xã hội cấp xã

* Cấp huyện

Phòng Văn hóa – Thông tin là cơ quan quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa nói chung, trong đó có hoạt động BDNT không chuyên Phòng có chức năng hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các hoạt động BDNT không chuyên trên địa bàn Phòng quản lý; ra quyết định thành lập hoặc giải thể các CLB hoặc Đội văn nghệ quần chúng, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan dến hoạt động BDNT không chuyên Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Văn hóa – Thông tin liên quan đến công tác quản lý hoạt động BDNT không chuyên được thể hiện ở những nội dung sau:

- Trình UBND huyện ban hành quyết định, chỉ thị; kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; đề án, chương trình phát triển văn hóa, gia đình, thể dục thể thao (TDTT) và du lịch; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện cải cách hành chính, xã hội hóa trong lĩnh vực văn hoá; gia đình; TDTT; du lịch; thông tin và truyền thông trên địa bàn huyện và chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện sau khi được ban hành;

Trang 29

- Trình Chủ tịch UBND huyện dự thảo các văn bản về lĩnh vực văn hóa, gia đình, TDTT, du lịch, thông tin và truyền thông thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch UBND huyện;

- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình đã được phê duyệt; hướng dẫn, thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, hoạt động phát triển sự nghiệp văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông; chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa, TDTT; chống bạo lực trong gia đình;

- Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện phong trào văn hóa, văn nghệ; phong trào luyện tập TDTT; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"; xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, khu phố văn hóa, đơn vị văn hóa; bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa

và danh lam thắng cảnh; bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên

du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch trên địa bàn huyện;

- Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện, các thiết chế văn hóa thông tin cơ sở, các cơ sở hoạt động dịch vụ văn hóa, TDTT, du lịch, điểm vui chơi công cộng thuộc phạm vi quản lý của Phòng trên địa bàn huyện;

- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động văn hóa, gia đình, TDTT và du lịch trên địa bàn huyện; giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân về lĩnh vực văn hóa, gia đình, TDTT và du lịch theo quy định của pháp luật;

- Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa, gia đình, TDTT và du lịch đối với các công chức văn hóa - xã hội và chủ nhiệm các Nhà văn hóa trực thuộc UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Tuyên

Trang 30

truyền, phổ biến, hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và cá nhân trên địa bàn huyện thực hiện pháp luật về các lĩnh vực bưu chính, viễn thông và Internet; công nghệ thông tin, hạ tầng thông tin, phát thanh, quảng cáo, báo chí, xuất bản;

- Thực hiện công tác thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình hoạt động văn hóa, gia đình, TDTT, du lịch, thông tin và truyền thông với UBND huyện, Giám đốc các Sở: VHTTDL và Thông tin -Truyền thông;

Cùng tham gia quản lý, hướng dẫn, tổ chức cho hoạt động BDNT không chuyên ở cấp huyện còn có Trung tâm Văn hóa – Thể thao

Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện liên quan đến hoạt động NDNT không chuyên được quy định như sau:

- Căn cứ vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của huyện để xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động trình Chủ tịch UBND huyện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;

- Tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, tuyên truyền cổ động, hoạt động thư viện và phong trào đọc sách báo, giải trí chiếu phim, câu lạc bộ, nhóm

sở thích, lớp năng khiếu nghệ thuật; công tác tuyên truyền trên địa bàn huyện;

- Tổ chức các cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn, thi đấu và hướng dẫn phong trào văn hoá, văn nghệ, TDTT ở cơ sở;

- Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu văn hoá, văn nghệ, thông tin, TDTT;

- Sưu tầm bảo tồn và hướng dẫn các loại hình nghệ thuật dân gian, các môn thể thao truyền thống, bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá, các di sản văn hoá;

- Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn: công tác gia đình; tổ chức các hoạt động dịch vụ văn hoá thể thao và các dịch vụ khác đáp ứng nhu

Trang 31

cầu của nhân dân đảm bảo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với điều

kiện cơ sở vật chất của Trung tâm (xem Cơ cấu tổ chức tại Phụ lục 2)

* Cấp xã

Hoạt động BDNT không chuyên ở cấp xã chủ yếu do UBND quản lý trên cơ sở tham mưu của công chức văn hóa- xã hội cấp xã Nhiệm vụ của công chức văn hóa - xã hội cấp xã được quy định mới nhất tại Thông tư

số 06/2012/TT-BNV, ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nội vụ về Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn Cụ thể như sau:

Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: Văn hóa, TDTT,

du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật

Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tổ chức, theo dõi và báo cáo về các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, y tế và giáo dục trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn cấp xã;

- Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền thông về tình hình kinh tế -

xã hội ở địa phương;

- Thống kê dân số, lao động, việc làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính sách lao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản

lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã;

Trang 32

- Chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã;

Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao

2.1.2 Các chính sách trong quản lý

Nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển văn hóa, trong những năm qua, tuy chưa có chính sách riêng cho hoạt động BDNT không chuyên, nhưng tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ chung cho hoạt động văn hóa cơ sở như:

- Nghị quyết 14/2006/NQ-HĐND ngày 17/7/2006 của HĐND tỉnh về xây dựng Gia đình văn hóa, Làng văn hóa, Đơn vị văn hóa tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006 - 2010 (Hỗ trợ kinh phí hỗ trợ mua trang thiết bị cho NVH

thực hiện theo mức 15 triệu đồng/1 NVH xã, 7 triệu đồng/NVH thôn)

- Nghị quyết số 32/2008/NQ-HĐND ngày 15/12/2008 của HĐND tỉnh

Vĩnh Phúc về Sửa đổi, bổ sung mức hỗ trợ kinh phí mua trang thiết bị cho nhà văn hoá xã, thôn theo Nghị quyết số 14/2006/NQ-HĐND ngày 17/7/2006

của HĐND tỉnh, khoá XIV (30 triệu đồng/1 NVH xã, 40 triệu đồng/NVH thôn không thuộc MN, 50 triệu đồng/NVH thôn MN )

- Nghị quyết số 40/2011/NQ- HĐND ngày 19/12/2011 của HĐND tỉnh

về việc Hỗ trợ kinh phí mua sắm trang thiết bị nội thất cho NVH xã, phường, thị trấn, thôn, tổ dân phố giai đoạn 2012 – 2015 (30 triệu đồng/1 NVH xã, 40

triệu đồng/NVH thôn không thuộc MN, 50 triệu đồng/NVH thôn MN )

- Nghị quyết số 08/2010/NQ-HĐND ngày 22/7/2010 của HĐND tỉnh

về việc Hỗ trợ bồi thường giải phóng mặt bằng và đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa – thể thao, vui chơi giải trí ở xã, phường, thị trấn, thôn, tổ dân phố (

Trang 33

Ngân sách tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng để có quỹ đất xây dựng Trung tâm văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí xã, phường, thị trấn, nhà văn hóa thôn, tổ dân phố; hỗ trợ 800 triệu đồng/1xã để xây dựng trung tâm văn hóa xã miền núi)

- Quyết định số 2576/QĐ-UBND ngày 23/9/2011 của UBND tỉnh về

Phê duyệt nhiệm vụ thiết kế và thiết kế mẫu phương án kiến trúc trung tâm văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí xã, phường, thị trấn, thôn, tổ dân phố;

- Quyết định số 2892/QĐ-UBND ngày 13/10/2010 của UBND tỉnh về

Phê duyệt Đề án phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Ngoài các văn bản trên, xuất phát từ nhiệm vụ của cán bộ quản lý nhà văn hóa xã, thôn và để khuyến khích các đối tượng này trong việc quản lý và

tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ ở cơ sở, tỉnh Vĩnh Phúc có chính sách hỗ trợ như sau: Cán bộ quản lý nhà văn hoá xã được hỗ trợ 0,6 lần mức

lương tối thiểu/người/tháng (Nghị quyết số 27/2004//NQ-HĐND ngày 21/12/2004 của HĐND tỉnh); người quản lý nhà văn hoá thôn, tổ dân phố

được hỗ trợ 0,2 lần mức lương tối thiểu/người/tháng (Nghị quyết số 10/2010/NQ-HĐND ngày 22/7/2010 của HĐND tỉnh)

Những chính sách trên tuy chưa đủ, nhưng đã thể hiện sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền của tỉnh Vĩnh Phúc đối với sự nghiệp văn hóa nói chung và hoạt động văn hóa ở cơ sở nói riêng, đảm bảo những điều kiện tối thiểu cho công tác quản lý và hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc

2.2 Những thành tựu của Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên

Cùng với sự phát triển đi lên của đất nước, hoạt động BDNT không chuyên của Vĩnh Phúc những năm gần đây đã có những bước phát triển mạnh

Trang 34

mẽ cả về số lượng và chất lượng, đã trở thành những sân chơi văn hóa nghệ thuật bổ ích, thu hút nhiều cấp, ngành, cán bộ, đảng viên và đông đảo người dân trong tỉnh tham gia Theo thống kê của Trung tâm Văn hoá tỉnh, tính đến năm 2009, toàn tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 600 Đội văn nghệ, CLB nghệ thuật và đến năm 2013 đã có 827 Đội văn nghệ và CLB nghệ thuật Ngoài ra, còn có rất nhiều các CLB sở thích, các đội nhóm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá

văn nghệ của mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh (xem Phụ lục 3) Nhiều CLB

nghệ thuật, các đội văn nghệ không chuyên ở cơ sở đã là một trong những lực lượng nòng cốt giúp cơ quan Đảng, chính quyền hoàn thành các nhiệm vụ của công tác văn hóa, tư tưởng; tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tới mỗi gia đình, làng, thôn, tổ dân phố; là đại diện cho các đơn vị

cơ sở tham gia giao lưu BDNT trong các kỳ hội thi, hội diễn Không chỉ trông chờ vào tiết mục, chương trình của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, các đội văn nghệ, các câu lạc bộ nghệ thuật không chuyên đã tham gia biểu diễn các chương trình chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, các sự kiện lớn của tỉnh; tham gia biểu diễn trong các lễ cưới, lễ mừng thọ, lễ hội Hoạt động BDNT không chuyên có được kết quả như trên, ngoài sự nhiệt tình, say

mê, cố gắng của tập thể và từng thành viên các CLB nghệ thuật, các đội văn nghệ, phải kể đến công tác quản lý của các cơ quan quản lý văn hóa các cấp Những thành tựu trong công tác quản lý hoạt động BDNT không chuyên ở

Vĩnh Phúc được thể hiện ở các mặt sau:

2.2.1 Về xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động

Kế hoạch tổ chức các hoạt động BDNT không chuyên có ý nghĩa rất quan trọng vì nó là tiêu chuẩn, là thước đo kết quả với những mục tiêu đã đề

ra Việc xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động đã được các cơ quan quản lý văn hóa các cấp ở Vĩnh Phúc xác định là một bước quan trọng trong việc tạo dựng nền tảng trong quá trình tổ chức thực hiện Hàng năm, các cơ quan quản

Trang 35

lý văn hóa, cụ thể ở đây là Trung tâm Văn hóa tỉnh, Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện và chính quyền cơ sở đã xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động BDNT không chuyên cho các Đội thông tin cổ động, các Đội văn nghệ, các CLB văn hóa nghệ thuật quần chúng như:

- BDNT mừng Đảng, mừng xuân, mừng đất nước trên đường đổi mới (trong tháng 1, tháng 2);

- BDNT chào mừng ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và ngày thành lập Đoàn Thanh niên 26/3 (trong tháng 3);

- BDNT chào mừng ngày các dân tộc Việt Nam 19/4, ngày giải phóng Miền Nam 30/4, ngày Quốc tế Lao động 1/5, ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5, ngày sinh Bác Hồ 19/5 (trong tháng 4, tháng 5);

- BDNT chào mừng ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6, ngày Phòng chống ma túy 26/6 (trong tháng 6);

- BDNT chào mừng kỷ niệm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9, ngày hội đưa trẻ đến trường 5/9, tết Trung thu (trong tháng 8, tháng 9);

- BDNT chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, ngày Quốc phòng toàn dân và thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12 ( trong tháng 11, tháng 12)

Ngoài các kế hoạch trên, còn có các kế hoạch BDNT cho những ngày

lễ, kỷ niệm riêng của từng địa phương trong tỉnh, các kế hoạch BDNT tuyên truyền cho các hoạt động mang tính xã hội, kế hoạch BDNT phục vụ khách quốc tế, trung ương và tỉnh bạn đến thăm và làm việc tại địa phương, kế hoạch BDNT phục vụ du khách tại các tuyến điểm du lịch trọng điểm

Trong công tác xây dựng kế hoạch, cơ quan quản lý văn hóa các cấp cũng thường xuyên chú trọng đến công tác phối hợp vận động với các cơ

Trang 36

quan đoàn thể liên quan cùng tham gia như: Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Quân đội, Công an Việc phối hợp có

cơ chế phân công trách nhiệm cụ thể, có kiểm tra đôn đốc thường xuyên Chính các yếu tố này đã tạo nên những thành công trong hoạt động BDNT không chuyên ở Vĩnh Phúc

2.2.2 Về tổ chức liên hoan, hội thi, hội diễn ở các cấp

Theo báo cáo thống kê về công tác văn hóa quần chúng của Trung tâm Văn hóa tỉnh, từ năm 2005 đến nay, Vĩnh Phúc tổ chức được 39 cuộc liên

hoan, hội thi, hội diễn tham gia cấp khu vực và toàn quốc (xem Phụ lục 4)

Ngoài ra là hàng trăm cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn từ cấp huyện xuống

đến cơ sở (xem Phụ lục 5) Các liên hoan, hội thi, hội diễn ở các cấp đã được

tổ chức nghiêm túc, chu đáo ngay từ khâu lập kế hoạch, triển khai kế hoạch đến đánh giá, tổng kết, xếp loại trao giải Qua mỗi lần hội thi, hội diễn cấp tỉnh, khu vực và toàn quốc là một lần các đơn vị tham gia học tập ở các đơn vị bạn được nhiều điều hay trong phương pháp biên tập và dàn dựng chương trình văn nghệ, từ đó rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu để xây dựng cho đơn vị mình những chương trình mang tính nghệ thuật cao, đạt kết quả như mong muốn khi tham gia hội thi, hội diễn Nhiều cuộc liên hoan, hội thi, hội diễn ở các cấp đã được tổ chức thành công, tạo được hiệu ứng tốt trong đời

sống nhân dân Có thể kể ở đây như:

Liên hoan tiếng hát công nhân viên chức lao động tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ 3 năm 2010, tham dự có 21 đoàn nghệ thuật quần chúng đến từ liên đoàn

lao động các huyện, thành, thị, các Công đoàn ngành và Công đoàn các khu công nghiệp với hơn 400 diễn viên, nhạc công và 70 tiết mục đơn ca, song ca, tốp ca, múa và đọc tấu nhạc cụ Các tiết mục có nội dung ca ngợi Đảng, Bác

Hồ và quê hương Vĩnh Phúc Kết thúc liên hoan, Ban tổ chức đã trao 11 giải

Trang 37

tập thể và 35 giải Nhất, Nhì, Ba cho các tiết mục tham gia liên hoan (tiền thưởng là 12,85 triệu đồng)

Hội diễn Công – Nông – Binh tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ IV năm 2011,

nhằm thiết thực chào mừng kỷ niệm 15 năm tái lập tỉnh Vĩnh Phúc (01/01/1997 – 01/01/2012) và lễ kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2011), 22 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân Hội diễn lần này đã quy tụ được đông đảo lực lượng gồm các thành phần là cán bộ, công nhân viên chức lao động và lực lượng vũ trang trên địa bàn toàn tỉnh hăng hái biểu diễn với chất lượng chuyên môn khá cao

Liên hoan hát ru, hát dân ca tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ IV năm 2011, Hội

Liên hiệp Phụ nữ tỉnh phối hợp với Sở VHTTDL tổ chức Tham gia Liên hoan có 11 đoàn đến từ Hội Liên hiệp Phụ nữ các huyện, thành, thị, Ban công tác nữ công Công an tỉnh và Hội Phụ nữ Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Với 33 tiết mục gồm các thể loại tốp ca, song ca, hát múa… nội dung phản ánh các hoạt động của phụ nữ trong lao động, sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc; thể hiện tình yêu quê hương, đất nước; phẩm chất đạo đức của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Những khúc hát ru ngọt ngào, sâu lắng, những điệu dân ca chứa chan tình yêu thương cùng với sự đầu tư dàn dựng công phu

đã đem đến cho khán giả những xúc cảm trong tâm hồn, được người xem nhiệt tình hưởng ứng Liên hoan đã góp khơi dậy phong trào văn hoá, văn nghệ trong cán bộ, hội viên phụ nữ và nhân dân trong tỉnh; tạo điều kiện cho các cơ sở hội phụ nữ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm tổ chức hội và xây dựng phong trào văn hoá, văn nghệ tại địa phương; đồng thời tạo không khí thi đua sôi nổi trong cán bộ, hội viên phụ nữ hăng say lao động, sản xuất và công tác

Liên hoan Nghệ thuật quần chúng với chủ đề “Uống nước nhớ nguồn”

nhằm kỷ niệm 65 năm ngày thương binh liệt sĩ (27/07/1947 – 27/07/2012)

Trang 38

Tham gia liên hoan có 12 đơn vị đến từ 9 huyện, thành, thị trong tỉnh và 3 đơn

vị lực lượng vũ trang: Đoàn Nghệ thuật quần chúng Đặc công 113, Lữ đoàn

204 và Trường Trung cấp Kỹ thuật Tăng thiết giáp Các đơn vị đã trình bày nhiều tiết mục đặc sắc ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương đất nước, những tấm gương anh hùng, truyền thống lịch sử vẻ vang và những ca khúc về quê hương Vĩnh Phúc Đây là một hoạt động văn hoá tinh thần thiết thực, bổ ích với mục đính thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn’’ của dân tộc, có tác dụng giáo dục thế hệ trẻ sâu sắc Bên cạnh đó, liên hoan còn là dịp để phát hiện những giọng hát hay, biểu diễn tốt, có năng khiếu văn nghệ để bồi dưỡng

và phát triển phong trào văn nghệ quần chúng trong tương lai

Liên hoan biểu diễn nghệ thuật tại ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ VIII – năm 2012 ở tỉnh Tuyên Quang

do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Mặc dù không được học chuyên ngành, đảm nhận nhiều công việc chuyên môn khác nhau và thời gian tập luyện không nhiều, nhưng các diễn viên đã thể hiện tốt vai của mình Phần trình diễn trang phục gồm: trình diễn trang phục dân tộc Sán Dìu, trang phục dân tộc Dao đều do các nghệ nhân là người dân tộc Sán Dìu và dân tộc Dao thực hiện

Liên hoan hát Văn, hát Chầu văn khu vực đồng bằng sông Hồng mở rộng năm 2013 do tỉnh Vĩnh Phúc đăng cai Các tiết mục đã được dàn dựng

công phu, phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức Các nghệ sĩ đã thể hiện được vốn liếng nghệ thuật tương đối dày dặn, tinh tế Các tiết mục hát Chầu văn đã bảo lưu được nét đẹp của nghệ thuật truyền thống, kế thừa được tinh hoa trong vốn cổ và có những sáng tạo độc đáo của từng địa phương, từng nghệ sĩ, không rập khuôn, sao chép, có phong cách riêng Kết thúc Liên hoan, Cục Văn hóa Cơ sở - Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã trao giải xuất sắc cho Đoàn nghệ thuật quần chúng tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 39

Nhìn chung, thông qua liên hoan, hội thi, hội diễn ở các cấp, ta thấy:

Thứ nhất, phản ánh kịp thời và sinh động cuộc sống đa dạng của nhân

dân địa phương bằng thơ, ca, múa, nhạc, kịch… Qua đó, đề cao những tấm gương người tốt, phê phán thói hư tật xấu còn tồn tại trong bộ phận lạc hậu của xã hội Thông qua hình tượng nhân vật, nội dung diễn xuất, góp phần vào

sự nghiệp giáo dục đối với công chúng

Thứ hai, đáp ứng những đòi hỏi về thưởng thức nghệ thuật của quần

chúng, qua đó bồi dưỡng năng lực nhận thức, xây dựng thị hiếu thẩm mỹ theo hướng lành mạnh, tiến bộ

Thứ ba, đáp ứng nhu cầu sáng tác, tự biên, tự diễn của quần chúng, qua

đó phát hiện và bồi dưỡng các tài năng trẻ Có thể xem hoạt động BDNT không chuyên là vườn ươm cho nghệ thuật chuyên nghiệp, nhiều nghệ sỹ đã trưởng thành từ hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên ở cơ sở

2.2.3 Về xếp loại thi đua, khen thưởng

Thi đua và xếp loại thi đua, khen thưởng là công tác được cơ quan quản

lý văn hóa các cấp ở Vĩnh Phúc đã quan tâm Hàng năm, cơ quan quản lý văn hoá các cấp tham mưu với cấp có thẩm quyền khen thưởng cho những Đội văn nghệ, những CLB đạt được thành tích cao trong các kỳ liên hoan, hội thi, hội diễn Việc đánh giá, xếp loại, khen thưởng tương đối khách quan và kịp thời đã động viên tinh thần các tác giả, các nghệ sĩ không chuyên thêm hăng say sáng tạo, luyện tập và biểu diễn

2.2.4 Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật chuyên môn cho diễn viên

và các tác giả không chuyên

Việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật chuyên môn cho diễn viên và các tác giả không chuyên nhằm giúp cho hạt nhân văn nghệ nắm được phương pháp

Trang 40

biên tập, xây dựng, dàn dựng chương trình cùng các kỹ thuật cơ bản của từng loại hình nghệ thuật cho phong trào văn hoá, văn nghệ cơ sở, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động và tạo ra các nhân tố làm hạt nhân cho phong trào Hàng năm, Trung tâm Văn hóa tỉnh và các Phòng Văn hóa – Thông tin, các Trung tâm văn hóa – Thể thao cấp huyện đã tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ thuật múa, biên đạo múa, hát mới, hát Chèo, Ca trù, hát Văn, hát Chầu văn, kỹ thuật biểu diễn nhạc cụ dân tộc truyền thống, biên tập, dàn dựng chương trình nghệ thuật tổng hợp, tiểu phẩm, đặt lời mới cho các làn điệu Chèo, Hát

văn (xem Phụ lục 6)

2.2.5 Về quản lý các nguồn lực

2.2.5.1 Về quản lý các thiết chế văn hóa

Việc quản lý, xây dựng thiết chế văn hóa ở cơ sở là hết sức quan trọng,

vì đây là địa điểm chủ yếu cho các hoạt động BDNT không chuyên Địa điểm

ở đây chính là trung tâm văn hóa, NVH xã, thôn, tổ dân phố, ngoài ra các hoạt động BDNT không chuyên còn diễn ra ở một địa điểm khác như: Quảng trường, sân đình, tại các lễ hội truyền thống của từng địa phương…Song, ở những địa điểm này chỉ manh tính thời vụ, không thường xuyên Chúng ta có thể tìm hiểu số liệu về nhà văn hóa xã, phường, thôn, tổ dân phố ở Vĩnh Phúc

(xem Biểu 2.1 )

Theo số liệu thống kê, ta thấy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 120 NVH/137 xã (đạt 87,5%), trong đó có 72/120 NVH (60%) đạt chuẩn theo Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới; 1.150 NVH/1.368 thôn (đạt 84%), trong

đó có 385/1.150 đạt chuẩn (33,4%) Có 2 địa phương là Yên Lạc và Tam Đảo đạt 100% về nhà văn hóa xã; tỷ lệ nhà văn hóa thôn của huyện Lập Thạch tương đối cao (96,7%), Sông Lô (91,4%)…

Trên thực tế, tại các địa phương này, nhờ có hệ thống cơ sở vất chất tốt, tương đối đầy đủ nên các hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên phát

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm