1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tháp bà pônagar

147 144 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trị của di sản văn hóa của di tích tháp bà Pô Nagar nói riêng thật là lớn, song việc bảo tồn và phát huy những giá trị của di tích này sao cho có hiệu quả và mang tính bền vững trong

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG TÂM

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA

THÁP BÀ PÔNAGAR

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC QUẢN LÝ VĂN HÓA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGÔ VĂN DOANH

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC ……… 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ……… 3

MỞ ĐẦU ……… 4

Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HOÁ VÀ TỔNG QUAN VỀ THÁP BÀ PÔ NAGAR ………11

1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý về bảo tòn và phát huy giá trị di sản văn hoá ……… 11

1.1.1 Lý luận về bảo tồn di sản văn hoá ……….11

1.1.2 Lý luận về phát huy giá trị di sản văn hoá ……….16

1.1.3 Khái niệm quản lý, quản lý Nhà nước về di sản văn hoá ……… 17

1.1.4 Luật Di sản văn hoá và một số văn bản hướng dẫn thi hành ……….18

1.2 Luợc sử hình thành vùng đất Khánh Hoà ……….20

1.2.1 Một trong những cội nguồn của văn hoá Sa Huỳnh ……… 20

1.2.2 Vùng đất Kauthara ……….21

1.2.3 Dinh Thái Khang ……… 22

1.2.4 Tỉnh Khánh Hoà ……… 23

1.3 Khái quát về tháp Bà Pô Nagar……… 25

1.3.1 Lịch sử hình thành di tích … ……… 25

1.3.2 Đặc điểm kiến trúc tháp Bà Pô Nagar ……… 28

1.3.3 Các nhân vật thờ trong di tích ……… 35

1.4 Vai trò của tháp Bà Pô Nagar trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá Chăm - Việt ……… 39

1.4.1 Tháp Bà Pô Nagar trong đời sống tâm linh của người Chăm ……… 39

1.4.2 Tháp Bà Pô Nagar trong đời sống tâm linh của người Việt … ………40

Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ THÁP BÀ PÔ NAGAR ……….45

2.1 Công tác quản lý di tích tháp Bà Pô Nagar ……… 45

2.1.1 Bộ máy quản lý Nhà nước ………45

2.1.2 Quản lý và đào tạo nhân sự ……… 49

Trang 3

2.2 Thực trạng bảo tồn di sản văn hoá tháp Bà Pô Nagar ……… 51

2.2.1 Công tác bảo quản, trùng tu, tôn tạo di tích ……… 51

2.2.2 Tổ chức lễ hội truyền thống ……… 54

2.3 Thực trạng công tác phát huy giá trị di sản văn hoá ………… ……… 64

2.3.1 Công tác trưng bày, tuyên truyền ……… 65

2.3.2 Quảng bá ………67

2.3.3 Xuất bản ……….……… 68

2.3.4 Tổ chức tham quan du lịch ………70

2.4 Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá tháp Bà Pô Nagar ……… ……… 73

2.4.1 Ưu điểm ……… 73

2.4.2 Hạn chế ……… 75

Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ THÁP BÀ PÔ NAGAR ……… … 78

3.1 Giải pháp về quản lý và đào tạo nhân sự ……… 78

3.2 Giải pháp về bảo quản tu bổ và phục hồi di tích ……… 79

3.2.1 Bảo quản di tích ………79

3.2.2 Tu bổ di tích ……… 80

3.2.3 Bảo tồn di tích tháp Bà Pô Nagar trong phát triển không gian đô thị …… 85

3.3 Khôi phục một số nghi thức lễ hội truyền thống ……… 87

3.4 Công tác quy hoạch, kế hoạch giữa bảo tồn và phát triển du lịch ………… 92

3.4.1 Chính sách của Nhà nước về quy hoạch phát triển du lịch ……… 93

3.4.2 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá tháp Bà Pô Nagar gắn với phát triển du lịch ……… 95

KẾT LUẬN ……… 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 105

PHỤ LỤC ……….109

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch BVHTTDL

8 Xem tài liệu tham khảo số 28, trang 7 [28, tr.7]

14 Meeting Incentive Conference Event MICE

15 International Council On Monuments and Sites ICOMOS

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Đứng trước xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa, văn hóa trở thành nét đặc sắc riêng biệt để phân biệt các quốc gia, dân tộc và là cầu nối giữa các nền kinh tế, để các quốc gia dân tộc xích lại gần nhau Có nhiều đối tượng khác nhau để tiếp cận với văn hóa mỗi quốc gia dân tộc, trong đó di sản văn hóa là đối tượng được nhiều người quan tâm nhất Bởi di sản văn hóa chính là những bằng chứng xác thực và cụ thể nhất về đặc điểm lịch sử - xã hội, lối sống, phong tục tập quán, con người của mỗi dân tộc Theo dòng chảy văn hóa, các thế hệ trước trao truyền cho thế hệ sau để kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa của cha ông và tiếp tục sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới

1.2 Khánh Hòa - một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, nơi hội tụ, lưu giữ khá đầy đủ những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể để trở thành một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn của nước ta đối với du khách trong và ngoài nước Ở đó có những di chỉ khảo cổ học của nền văn hóa Sa Huỳnh như Hòa Diêm, Bích Đầm; những vịnh biển đẹp và nổi tiếng thế giới như Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh; những di sản văn hóa Chămpa một thời rực rỡ Tất

cả đó đã tạo nên một Khánh Hòa đầy tiềm năng và năng động trong thời kỳ hội nhập và giao lưu quốc tế

1.3 Phần lớn các di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh Khánh Hòa có niên đại từ 100 - 300 năm, trải qua thời gian cùng với sự khắc nghiệt của tự nhiên, nhiều di tích lịch sử - văn hoá vẫn tồn tại và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân Khánh Hòa có hơn 1.000 di tích, chủ yếu là hệ thống đình làng thờ Thành Hoàng làng, chùa thờ Phật và đền miếu thờ Mẫu Trong đó, di tích tiêu biểu nhất có lịch sử lâu đời và có giá trị văn hóa, khoa học, đã và đang được bảo tồn, phát huy có hiệu quả là di tích lịch sử - văn hóa tháp Bà

Trang 6

Pô Nagar Có thể nói đây là di tích hội tụ đầy đủ nhất sự giao lưu tiếp biến văn hóa Chăm - Việt ở nước ta Đó là sự giao thoa giữa tín ngưỡng thờ Nữ thần của người Chăm với tín ngường thờ Mẫu của người Việt Từ một nữ thần

Pô Nagar trở thành một Thiên Y A Na Thánh Mẫu có sức thu hút mạnh mẽ đối với người dân khu vực Nam Trung bộ và Nam bộ

1.4 Giá trị của di sản văn hóa của di tích tháp bà Pô Nagar nói riêng thật là lớn, song việc bảo tồn và phát huy những giá trị của di tích này sao cho

có hiệu quả và mang tính bền vững trong giai đoạn hiện nay mới là vấn đề đáng được quan tâm trong công tác quản lý văn hóa Dù đây chỉ là một di tích nhưng nó cũng là một viên gạch để đặt nền móng hợp thành nền tảng tinh thần của xã hội và góp phần nhỏ bé vào việc tăng trưởng kinh tế địa phương thông qua hoạt động du lịch Mặt khác, thông qua việc tham quan, nghiên cứu

di tích Tháp Bà Pô Nagar, những nhà nghiên cứu và du khách có thêm một cách tiếp cận văn hóa, lịch sử vùng đất và con người Khánh Hòa nói riêng, Việt Nam nói chung

1.5 Hiện nay, di tích tháp bà Pô Nagar do Trung tâm Quản lý di tích và danh lam thắng cảnh Khánh Hòa chịu trách nhiệm quản lý về an ninh trật tự, thu phí tham quan dịch vụ, trùng tu tôn tạo và phát huy giá trị di tích, còn Hội bảo trợ Tháp Bà Nha Trang duy trì và hướng dẫn nhân dân thờ cúng tại di tích Tuy nhiên, có một số thành viên của Hội nhận thức không đúng nên đã

có những hành động tiếm quyền về công tác quản lý làm ảnh hưởng đến công tác quản lý ở di tích

Xuất phát từ yêu cầu khách quan trên, là cán bộ hoạt động trong công

tác quản lý di tích – danh thắng, tôi chọn đề tài: Bảo tồn và phát huy giá trị

di sản văn hóa tháp Bà Pô Nagar làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học

chuyên ngành Quản lý văn hóa Hy vọng, đề tài sẽ góp phần vào việc nâng

Trang 7

cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý di tích nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa, góp phần “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ngoài một số công trình đã công bố trước đây như: Nguyễn Đình Tư

(2003, tái bản),Non nước Khánh Hòa, NxbThanh Niên, Hà Nội - là cuốn địa phương chí khảo cứu về địa lý và lịch sử của tỉnh mà tác giả thống kê năm

1966; Quách Tấn (2002, tái bản), Xứ Trầm hương, Nxb Hội Văn học Nghệ

thuật Khánh Hòa - mô tả và nói về lịch sử, địa danh, phong tục, tín ngưỡng

ở Khánh Hòa, ghi chép lại những điều mà ông được mắt thấy tai nghe sau những cuộc điền dã; trong những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu về các di tích lịch sử - văn hoá tháp Bà Pô Nagar đã được nhiều người quan tâm Xin

đề cập đến một số công trình tiêu biểu:

Lê Đình Chi (1998), Lễ hội Tháp Bà Nha Trang, Nxb Văn hóa Dân

tộc, Hà Nội Đây là Luận văn Thạc sỹ, một công trình nghiên cứu phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Khánh Hòa thông qua hình thức lễ hội Tháp Bà Ponagar Nha Trang

Nguyễn Văn Khánh (chủ biên) (2003), Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn

hóa truyền thống Khánh Hòa 350 năm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Trong công trình đã tập hợp nhiều bài viết của các nhà khoa học và những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Khánh Hòa, trong đó có bài viết khái quát

về tín ngưỡng Yang Pô Inư Nagar trong đời sống văn hóa của người Khánh Hòa của Ngô Văn Doanh - nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, nói về tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu

Nguyễn Công Bằng (2005), Tháp Bà Nha Trang, Nxb Khoa học - Xã

hội, Hà Nội Đây là Luận án Tiến sỹ, một công trình nghiên cứu về đặc trưng

Trang 8

kiến trúc, điêu khắc, niên đại và phong cách nghệ thuật văn hóa Chăm ở di tích Tháp Bà Pô Nagar

Ngô Văn Doanh (2009), Tháp Bà Thiên Y A Na - Hành trình của một

nữ thần, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Trong tác phẩm này, nhà nghiên cứu đã

tổng hợp kết quả tìm hiểu và nghiên cứu trong 30 năm qua về tháp Bà Nha Trang về sự hình thành, phát triển và những thăng trầm của khu đền tháp, đặc biệt là sự lý giải về nguồn gốc của nữ thần Yang Pô Inư Nagar của người Chăm và sự tiếp biến của người Việt trong tiến trình lịch sử

Nguyễn Thanh Vân (2009), Tín ngưỡng thờ Pô Nagar ở Khánh Hòa,

Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, chuyên ngành Dân tộc học Luận văn góp phần tìm hiểu tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na ở Khánh Hòa và ảnh hưởng của văn hóa Chăm đối với người Việt ở Khánh Hòa và dải đất miền Trung hiện nay trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

Nguyễn Văn Bốn (2010), Văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu ở Khánh Hòa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Khánh Hòa Là luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ,

chuyên ngành Văn hóa học Luận văn tìm hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Trong đó, đi sâu tìm hiểu ở ba di tích Tháp Bà Pô Nagar, di tích Am Chúa và miếu Thánh Mẫu đệ nhất Tiên Thiên

Các tác phẩm, công trình nghiên cứu trên chủ yếu tìm hiểu về lễ hội, tín ngưỡng ở di tích hoặc kết cấu kiến trúc, chưa có công trình nghiên cứu nào bàn về vấn đề quản lý di tích và lễ hội ở di tích tháp Bà để từ đó đặt ra vấn đề giữ gìn và khai thác có hiệu quả những giá trị văn hóa, lịch sử của di tích

Trong quá trình triển khai đề tài Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tháp Bà Pô Nagar, tác giả luận văn sẽ tiếp thu, kế thừa những kết quả của các

tác giả đi trước, vận dụng một số nội dung vào công trình nghiên cứu vấn đề quản lý di tích lịch sử - văn hoá tháp Bà Pô Nagar

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò của công tác quản lý di tích lịch sử

- văn hóa trong giai đoạn hiện nay, luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa tháp Bà Pô Nagar, từ đó đề xuất một số giải pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử - văn hoá ở một di tích cụ thể và từ đó nhân rộng mô hình phù hợp cho các di tích – danh thắng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong những năm tiếp theo

3.2 Nhiệm vụ

Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Tìm hiểu về giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của di tích tháp Bà Pô Nagar;

- Trình bày những cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác quản lý

di sản văn hoá nói chung và di tích lịch sử - văn hoá nói riêng;

- Tìm hiểu, phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử - văn hoá tháp Bà Pô Nagar;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử - văn hoá ở một di tích cụ thể, từ đó nhân rộng mô hình phù hợp cho các di tích – danh thắng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong những năm tiếp theo

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

- Luận văn đi sâu nghiên cứu về giá trị di tích lịch sử - văn hóa và công tác quản lý di tích lịch sử - văn hoá tháp Bà Pô Nagar;

Trang 10

- Trong điều kiện cần thiết, sẽ mở rộng nghiên cứu sang một số di tích khác để đối chiếu, so sánh, trao đổi kinh nghiệm quản lý di tích, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm, áp dụng cho di tích tháp Bà Pô Nagar

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Về không gian:

- Di tích lịch sử - văn hóa tháp Bà Pô Nagar;

- Trong điều kiện cần thiết, tác giả luận văn sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu công tác quản lý di tích ở một số di tích khác để đối chiếu, so sánh

4.2.2 Về thời gian: Từ khi thành lập Trung tâm Quản lý di tích và

Danh lam thắng cảnh tỉnh Khánh Hòa (năm 1997) đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý di sản văn hoá dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu định tính: khảo sát thực địa tại di tích, thu thập các thông tin có liên quan đến công tác quản lý di tích

- Phương pháp phân loại hệ thống để làm nổi bật các giá trị vật thể và phi vật thể của di tích lịch sử - văn hóa

Trang 11

- Phương pháp so sánh trong văn hóa học để nhận diện những đặc điểm chung và nét riêng trong các hiện tượng tín ngưỡng thờ Mẫu ở di tích tháp Bà

Pô Nagar nói riêng và ở Khánh Hòa nói chung

- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp liên ngành: Quản lý văn hoá, Lịch

sử, Bảo tàng, Khảo cổ học

6 Đóng góp của luận văn

- Đưa ra một cái nhìn toàn diện về thực trạng công tác quản lý từ năm

1997 đến nay và những giá trị tiêu biểu của di tích lịch sử - văn hóa tháp Bà

Trang 12

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA

1.1.1 Lý luận về bảo tồn di sản văn hóa

1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa

Văn hóa là thành quả lao động của nhân dân, là kết quả của những giao lưu, tiếp biến văn hóa, tiếp thu những tinh hoa của các nền văn minh trên thế giới để bồi đắp thêm bề dày văn hóa dân tộc và tạo nên những di sản văn hóa Cho nên có thể hiểu di sản văn hóa là kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần của cha ông đã để lại cho các thế hệ con cháu "Di sản văn hóa Việt Nam

là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của

di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta" [29, tr.7]

Theo từ điển tiếng Việt, di sản là giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại [47, tr.533] Từ cách giải thích này, chúng ta có thể hình dung được di sản văn hóa và có thể hiểu một cách nôm na: Di sản văn hóa gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [29, tr.7-8]

Như vậy, di sản văn hóa cần được hiểu là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của chúng ta Di sản văn hóa là tài sản quý giá, tài nguyên

Trang 13

đặc biệt không thể tái sinh, không thể thay thế, nhưng rất dễ bị biến dạng trước những tác động của điều kiện tự nhiên và những hành vi của con người

Để gìn giữ kho tàng di sản văn hóa cho chúng ta hôm nay, biết bao thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu, đổ bao mồ hôi nước mắt, công sức cất giữ rồi lưu truyền cho hậu thế

1.1.1.2 Khái niệm di sản văn hóa vật thể

Trong cuộc sống hàng ngày, để tạo nên những lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại mà cha ông đã tạo nên những sản phẩm văn hóa Những giá trị vật chất và tinh thần đó được kết tinh, trao truyền qua các thế hệ và trở thành những di sản văn hóa vật thể Do đó, chúng ta có thể hiểu:

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [29, tr 9]

Ở đề tài này di sản văn hóa vật thể chủ yếu đề cập đến di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có cả di vật và cổ vật Vì vậy, chúng ta hiểu những khái niệm này được quy định trong Luật Di sản hóa là:

Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên

Di sản văn hóa vật thể luôn hiện hữu quanh chúng ta Những di sản đó chúng ta có thể nắm được, sờ được, nhìn được nên dễ nhận biết và dễ bảo tồn, khai thác hơn

Trang 14

1.1.1.3 Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa phi vật thể là một bộ phận của di sản văn hóa và Điều 4 Luật Di sản văn hóa đã xác định rõ:

Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội,

bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [29, tr 9]

Sau đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm

2009 đã sửa đổi, bổ sung khái niệm và khái quát cô đọng hơn về di sản văn hóa phi vật thể: "Là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề và các hình thức khác" [29, tr.43]

Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể cũng đã được UNESCO nêu trong Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể tại phiên họp lần thứ

Trang 15

giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc

và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người

Di sản văn hóa phi vật thể đôi khi không thể nhìn thấy bằng mắt, sờ được bằng tay, nhưng dưới những hình thức tồn tại khác nhau chúng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua các thế hệ Trong luận văn này, di sản văn hóa phi vật thể chủ yếu được đề cập đến ở khía cạnh lễ hội truyền thống diễn

ra tại di tích Giáo trình Quản lý lễ hội và sự kiện (2010), các tác giả đã trình

bày khái niệm lễ hội trích từ "Từ điển bách khoa Việt Nam " (2005):

Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh" Lễ hội là hoạt động của một tập thể người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo Do nhận thức, người xưa rất tin vào trời đất, sông núi, vì thế ở các làng, xã, thường có miếu thờ thiên thần, thổ thần, thủy thần, sơn thần, lễ hội cổ truyền đã phản ánh hiện tượng đó Tôn giáo có ảnh hưởng đáng kể đối với lễ hội Tôn giáo thông qua lễ hội làm

Trang 16

phương tiện phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo để thần linh hóa những gì trần tục [14, tr.14].

1.1.1.4 Bảo tồn di sản văn hóa

Theo sách Đại từ điển tiếng Việt, bảo tồn là: Giữ nguyên trạng, không

để mất đi [47, tr.101] Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nước ta và những biến cố lịch sử, những cuộc chiến tranh kéo dài là những tác nhân gậy hại rất lớn đối với các di sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa là nghiên cứu xác định những giá trị tiêu biểu của di sản về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ Sau đó tìm kiếm giải pháp để áp dụng phù hợp cho việc gìn giữ lâu dài và khai thác sử dụng có hiệu quả nhằm phục vụ phát triển kinh

tế, văn hóa và xã hội

Trong hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, bảo tồn di tích là một trong những hoạt động đã và đang được quan tâm và thực hiện trong nhiều năm qua Bảo tồn di tích là những hoạt động bảo quản kết cấu một địa điểm, công trình xây dựng ở hiện trạng và kìm hãm sự xuống cấp của di tích, có những hoạt động chuyên môn nhằm gìn giữ, phát huy giá trị của di tích [12, tr.8]

Công tác bảo tồn di tích không thể thiếu các hoạt động bảo quản, tu bổ

và phục hồi di tích Tại Điều 4 của Luật Di sản văn hóa đã xác định: Bảo quản

di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [29, tr.10]

Hiến chương Burra của ICOMMOS (1979) họp tại Australia nhận định: Bảo quản là chăm nom, bảo vệ thường xuyên kết cấu và khung cảnh một địa điểm, cần phân biệt với sửa sang Sửa sang bao hàm trùng tu hoặc phục dựng

[12, tr.117] Như vậy, hoạt động bảo quản di tích nhằm phòng ngừa và hạn chế

Trang 17

những nguy cơ làm hủy hoại di tích, đồng thời không làm thay đổi những yếu

tố nguyên gốc của di tích

Tu bổ cũng là một hoạt động quan trọng và không thể thiếu trong công tác bảo tồn di sản văn hóa Là một thuật ngữ thường được dùng trong những năm gần đây Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh [29, tr.10]

Tu bổ di tích cũng có thể hiểu là hoạt động sửa chữa về kỹ thuật, điều chỉnh sự biến dạng, khắc phục những hư hỏng của di tích như chắp vá, nối, gia cố, định hình [12, tr.118] Công tác tu bổ di tích là hoạt động đòi hỏi sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau như: Sử học, hóa học, kiến trúc xây dựng, khảo cổ học và các nghệ nhân để những di sản văn hóa được bảo tồn với thành quả tốt nhất, nhằm gìn giữ cho các thế hệ mai sau

Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó [29, tr.10] Trong đó, phục hồi được chia thành hai cấp độ là phục hồi từng phần với những hạng mục, bộ phận riêng lẻ bị hư hỏng và phục hồi toàn phần khi toàn bộ kết cấu công trình hoặc bộ phận cơ bản bị hư hỏng

1.1.2 Lý luận về phát huy giá trị di sản văn hóa

Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động nhằm khai thác những giá trị của di sản để phục vụ và đáp ứng nhu cầu của xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc Phát huy: làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn

Trang 18

[47, tr.1321] Phát huy cũng có thể hiểu là tập trung sự chú ý của công chúng một cách tích cực tới các mặt giá trị của di sản văn hóa [12, tr.184]

Như vậy, phát huy giá trị di sản văn hóa gồm các hoạt động: Tham quan tại di tích, quảng bá di tích trên các phương tiện truyền thông đại chúng, xuất bản các ấn phẩm giới thiệu di tích, đưa di tích đến với ngành công nghiệp du lịch

1.1.3 Khái niệm quản lý, quản lý Nhà nước về di sản văn hóa

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng chính là công tác quản

lý di sản văn hóa Theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt, thuật ngữ “Quản

lý” được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, trông nom, theo dõi Cụ thể, quản lý có hai nghĩa là: 1 Tổ chức, điều khiển hoạt động của một

số đơn vị, một cơ quan; 2 Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì [47, tr.1363]

Trong bộ "Tư Bản", C.Mác cũng đã nhận định: Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ một góc độ riêng và đưa ra định nghĩa riêng về quản lý Mai Hữu Khuê (2003) đã nêu trong cuốn Lý luận quản lý nhà nước: Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của một chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi con người, nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định [14, tr.19] Đây có thể là khái niệm có ý nghĩa thông thường và phổ biến nhất về quản lý

Từ đó, suy rộng ra có thể hiểu quản lý di sản văn hóa là một quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hóa trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư chủ nhân của các di sản văn hóa đó [25, tr.56]

Trang 19

Di sản văn hóa là chiếc cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là mạch nguồn truyền thống dân tộc chảy trong lòng các thế hệ con người Việt Nam

và tiếp nối qua các giai đoạn lịch sử, khiến cho di sản văn hóa biến đổi không ngừng trong cuộc sống Chúng tồn tại và thường xuyên được bồi đắp, tiếp biến Cho nên, chúng có ý nghĩa to lớn và có giá trị đặc biệt đối với lịch sử dân tộc, chúng phản ánh những giai đoạn lịch sử mà chúng đã đi qua Điều đó khiến cho công tác quản lý di sản văn hóa là một nhiệm vụ khó khăn và có tính cấp thiết trong đời sống kinh tế - xã hội

1.1.4 Luật Di sản văn hóa và một số văn bản hướng dẫn thi hành

Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong quản lý xã hội, bất kỳ một lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật

và quản lý di sản văn hóa không nằm ngoài quy định đó Như đã nêu ở trên, công tác quản lý di sản văn hóa là một nhiệm vụ không đơn giản và nhiều khi phải có những chế tài cụ thể để thực hiện

Để nâng cao hơn nữa công tác quản lý di sản trong thời kỳ hội nhập, Luật Di sản văn hóa được Quốc hội thông qua trong kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa X năm 2001 Luật gồm 7 chương với 74 điều, trong đó quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa, phân định trách nhiệm các cấp đối với việc quản lý di sản văn hóa Ngày 11/11/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

Di sản văn hóa Năm 2009, Luật Di sản văn hóa được sửa đổi và bổ sung để hoàn thiện, nâng cao những vấn đề đã được quy định trong các văn bản pháp quy pháp luật trước đây cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế Ngày 01/01/2010, Luật Di sản văn hóa sửa đổi bổ sung có hiệu lực pháp lý và được

Trang 20

thi hành Ngày 21/9/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

98/2010/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa

Luật Di sản văn hóa và các Nghị định hướng dẫn thi hành đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi trong việc dân chủ hóa và xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Trong đó, Điều

54 và 55 nằm trong Nội dung quản lý Nhà nước và cơ quan quản lý Nhà nước

về di sản văn hóa quy định cụ thể:

Điều 54: Nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hóa bao gồm:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; 2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá; 3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá; 4

Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá; 5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; 6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; 7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; 8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại,

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá [29, tr.34-35]

Điều 55: 1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa;

2 Bộ Văn hóa - Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản

lý nhà nước về di sản văn hóa; 3 Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan

Trang 21

ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa; 4 Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [29, tr.35-36]

Như vậy, trên phương diện quản lý nhà nước, Luật di sản văn hóa là văn bản pháp quy của Nhà nước chính thức ban hành nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Theo đó, tất cả các cấp quản lý, các tổ chức xã hội

và cá nhân đều có quyền và có trách nhiệm thực hiệu theo những điều mà luật

đã đề ra Vấn đề hiện nay là làm sao để Luật di sản văn hóa đi vào cộng đồng dân cư để từng cá nhân, tổ chức hiểu biết pháp luật nhằm thực hiện tốt quyền

và nghĩa vụ của mình góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

1.2 LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH VÙNG ĐẤT KHÁNH HÒA

1.2.1 Một trong những cội nguồn của văn hóa Sa Huỳnh

Khánh Hòa là vùng đất cổ, địa bàn cư trú của cư dân bản địa từ thời kỳ tiền – sơ sử cho đến ngày nay Các nhà khoa học đã khẳng định Khánh Hòa là vùng đất cư trú của những cư dân bản địa thuộc nền văn hóa tiền Sa Huỳnh, tồn tại trong khoảng thiên niên kỷ II trước Công nguyên Điều đó đã được minh chứng qua các kết quả khảo cổ học như: Di chỉ Xóm Cồn (phường Cam Linh, thành phố Cam Ranh), di chỉ Bích Đầm (phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang)… Văn hóa Xóm Cồn thuộc thời đại sơ kỳ kim khí là một trong những cội nguồn văn hóa Sa Huỳnh - sơ kỳ Chămpa, là chiếc cầu nối văn hóa giữa lưu vực sông Đồng Nai với khu vực miền Trung và Tây Nguyên

[45, tr 451] Nền văn hóa Sa Huỳnh không những ở ven biển Trung bộ mà đã lên đến Tây Nguyên Làn sóng cư dân Nam Đảo đã từng tràn lên cao nguyên đất đỏ mà dấu vết rõ nhất là chế độ mẫu hệ ở người Êđê, Cơ Ho Có thể đây là

Trang 22

tiền đề của việc một số người dân Tây Nguyên hàng năm vẫn hành hương về

dự lễ Vía Bà vào tháng 3 Âm lịch tại di tích tháp Bà Pô Nagar

Tiếp đó, khảo cổ học đã phát hiện và khai quật di chỉ Hòa Diêm (xã Cam Phước Đông, thành phố Cam Ranh), di chỉ Diên Sơn (xã Diên Sơn, huyện Diên Khánh) thuộc thời đại đồ sắt càng khẳng định sự xuất hiện của văn hóa Sa Huỳnh ở Khánh Hòa, có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500 - 3.000 năm Đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh là các hiện vật đồ gốm, đồ trang sức, mộ chum Những thành quả đó của cư dân cổ thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh đã góp phần tạo nên vùng đất Khánh Hòa sau này, mà trực tiếp là góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển vương quốc Chămpa nói chung và vùng đất Kauthara nói riêng Thậm chí có nhà khoa học còn nhận định rằng: "Văn hóa Chămpa nảy sinh từ văn hóa Sa Huỳnh, người Chămpa

cổ là con cháu người Sa Huỳnh cổ" [15, tr 43]

1.2.2 Vùng đất Kauthara

Bia cổ Võ Cạnh (xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang) và sự hiện hữu của di tích tháp Bà Pô Nagar Nha Trang… đã minh chứng một thời kỳ phát triển lâu dài của Vương quốc Chămpa trên vùng đất Khánh Hòa Người Chăm

ở Khánh Hòa và những người Chăm ở miền Trung (sinh sống từ Quảng Bình đến Bình Thuận ngày nay) đã xây dựng nên một nền văn hóa Chămpa rực rỡ

từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ XV Họ sinh sống chủ yếu ở những vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển và cửa sông Chính dãy núi Trường Sơn ở phía tây chạy ra đến tận bờ biển Đông tạo thành các đèo "Một đèo, một đèo, lại một đèo" và làm cho đồng bằng duyên hải miền Trung bị chia cắt nhỏ hẹp Điều kiện tự nhiên có thể là yếu tố góp phần chia cắt vùng duyên hải này thành các tiểu vùng địa lý dưới các vương triều Chămpa và vùng đất Kauthara chỉ là một trong năm tiểu vùng đó

Trang 23

Tiểu vùng 1 gọi là Indrapura, gồm châu Địa Lý, châu Bố Chính, châu

Ma Linh, nay thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Tiểu vùng 2 gọi là Amaravati, là trung tâm chính trị, văn hóa, nghệ thuật của vương quốc Chămpa trong một thời gian dài và nay thuộc tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi Tiểu vùng 3 gọi là Vijaya, là kinh đô của vương quốc Chămpa

từ thế kỷ XI - XV và nay thuộc tỉnh Phú Yên và Bình Định Tiểu vùng 4 chính là Kauthara, tức là Khánh Hòa ngày nay Tiểu vùng 5 gọi là Panduranga, nay là tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận [35, tr.98] Mỗi tiểu vùng đều có những đặc điểm địa hình sông núi, cửa biển đặc trưng của miền Trung nên các thủ lĩnh địa phương đều dựa vào đó để thiết lập những tiểu quốc Nhà nước của người Chăm được hình thành trên cơ sở sát nhập các tiểu quốc ở các tiểu vùng khác nhau Trong đó, các tiểu quốc phía Nam có vai trò chuyển tiếp những ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, họ thống nhất bằng một tâm thức chung là tôn giáo Xuất phát từ nhu cầu thực tế về tôn giáo, từ sự biểu hiện quyền uy của triều đình là nguyên nhân xuất hiện các đền tháp Chămpa (Kalan) và các đền tháp đã được chỉ đạo xây dựng theo tinh thần của đền tháp

Ấn Độ giáo [35, tr 99] Mỗi vị quốc chủ cũng ra sức xây dựng những đền tháp

để thờ các vị thần chủ Chính vì vậy, dưới thời Chămpa trên dải đất miền Trung đã xuất hiện rất nhiều đền tháp ở những địa điểm khác nhau và có sự

đa dạng phong phú về kiến trúc, nghệ thuật, điêu khắc Một trong những di sản của giai đoạn lịch sử này được xây dựng ở Kauthara, được trao truyền đến hôm nay là tháp Bà Pô Nagar, một thánh đô ở phương Nam, một kiệt tác trong nghệ thuật kiến trúc đền tháp và nghệ thuật điêu khắc của văn hóa Chămpa

1.2.3 Dinh Thái Khang

Có thể nhiều người nghĩ trong quá trình nam tiến, mỗi lần mở rộng phạm vi quốc gia Đại Việt, người Việt tiến sâu về phương Nam thì người

Trang 24

Chăm càng co dần về tụ cư ở vùng đất thuộc Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay Thực ra, một bộ phận người Chăm vẫn bám trụ quê hương, cộng cư với cộng đồng người Việt mới nhập cư và diễn ra quá trình người Chăm đồng hóa với người Việt [39, tr.277] Điều đó được thể hiện rất rõ trên vùng đất Kauthara Người Việt chiến thắng về quân sự nhưng trong công cuộc chinh phục vùng đất Kauthara lại bị văn hóa người Chăm chinh phục ngược trở lại

để rồi người Việt tiếp biến và dung nạp những yếu tố văn hóa bản địa tương đồng với tâm thức và truyền thống văn hóa của mình

Theo bước chân chúa Nguyễn vào Nam khai hoang lập ấp ở giữa thế kỷ

XVII, những cư dân mới của vùng đất Kauthara mang theo cả hoài bão tạo lập nên cuộc sống sung túc Có lẽ vì vậy, chúa Nguyễn Phúc Tần đặt tên cho vùng đất này là dinh Thái Khang với ngụ ý mong muốn đây sẽ trở thành vùng đất thái bình, thịnh vượng và cử cai cơ Hùng Lộc Hầu cai quản vùng đất mới Dinh Thái Khang gồm hai phủ Diên Ninh và Thái Khang với năm huyện: Phước Điền, Hoa Châu, Vĩnh Xương thuộc phủ Diên Ninh và Tân Định, Quảng Đức thuộc phủ Thái Khang Thủ phủ của dinh Thái Khang đặt ở phủ Quảng Đức (nay là thị xã Ninh Hòa) [13, tr.69]

1.2.4 Tỉnh Khánh Hòa

Tỉnh Khánh Hòa được thành lập năm 1832, dưới triều vua Minh Mệnh Sau mấy lần dinh Thái Khang được đổi tên gọi, đến năm 1832 vua Minh Mệnh ban chiếu đổi các trấn thành tỉnh nên trấn Bình Hòa được đổi thành tỉnh Khánh Hòa Đây là giai đoạn nước ta trải qua nhiều biến động lịch sử Chỉ có

80 năm dưới thời Nguyễn, từ đời vua Gia Long (1802 - 1819) đến cuối đời Tự Đức (1847 - 1883), nhân dân có cuộc sống thái bình thịnh trị, được yên ổn làm ăn Sau khi thực dân Pháp chiếm lục tỉnh Nam kỳ, nhân dân Khánh Hòa cũng như người dân cả nước bước vào thời kỳ những cuộc chiến tranh kéo dài

Trang 25

chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Đến mùa Xuân năm 1975, bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước ta được hoàn toàn thống nhất

và từ đó nhân dân Khánh Hòa cùng cả nước có cuộc sống hòa bình và độc lập dân tộc

Ngày 30 tháng 6 năm 1989, Khánh Hòa tái lập tỉnh, được tách từ tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa Ngày nay, Khánh Hòa là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, có chiều nghiêng theo hướng tây – đông, nằm trong khoảng vĩ độ từ 12052’15” bắc đến 11042’50” bắc và kinh độ

108040’33” đông đến 109027’55” đông Khánh Hòa giáp với bốn tỉnh, gồm: Phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, nam giáp tỉnh Ninh Thuận, tây giáp tỉnh Đắc Lắc

và Lâm Đồng Riêng phía đông giáp biển Đông, với bờ biển dài 385km, quanh co và khúc khuỷu Điểm cực Đông trên đất liền của Khánh Hòa nằm tại mũi Hòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh

và cũng là điểm cực đông trên đất liền của nước ta [PL, tr.133]

Tỉnh Khánh Hòa trở thành tỉnh trực thuộc Trung ương, với chín đơn vị hành chính, trong đó có 02 thành phố và 01 thị xã, gồm: Thành phố Nha Trang, thành phố Cam Ranh, thị xã Ninh Hòa, huyện Vạn Ninh, huyện Diên Khánh, huyện Cam Lâm, huyện Khánh Vĩnh, huyện Khánh Sơn và huyện Trường Sa Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, dân số của tỉnh là 1.156.903 người; mật độ dân số trung bình 222 người/km2, phân bố đều khắp các huyện, thị và thành phố, nhưng tập trung đông nhất là các vùng đồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn Thành phố Nha Trang tập trung đông dân cư nhất, với 361.454 người, chiếm 31.24% dân số toàn tỉnh

Cũng theo kết quả điều tra ở trên, Cục Thống kê Khánh Hòa đã công bố trên địa bàn tỉnh có 293.280 người có tín ngưỡng, tôn giáo, chiếm 28,7% dân

số Trong đó, nhiều nhất là Phật giáo 180.503 người, chiếm 17,6%; Công giáo

Trang 26

97.518 người, chiếm 9,6%, còn lại là Tin Lành 0,7%, Cao Đài 0,7%; các tôn giáo khác 0,1% Trong đó, Phật giáo tập trung nhiều nhất ở thành phố Nha Trang (50,4%), Công giáo và Cao Đài tập trung ở thành phố Cam Ranh, Tin Lành tập trung ở huyện Khánh Vĩnh

Hiện nay, toàn tỉnh Khánh Hòa có 32 tộc người sinh sống như: Kinh, Chăm, Mường, Raglai, Hoa, Ê đê, Tày, Nùng … Trong đó, người Kinh chiếm

tỷ lệ lớn nhất, trên 95,3% tỷ lệ dân số, tiếp đến là người Raglai chiếm 3,4%, người Hoa chiếm 0,86% và người Cơ ho chiếm 0,34% dân số toàn tỉnh

Như vậy, có thể khẳng định Khánh Hòa như một miền Trung thu nhỏ với đầy đủ những tính chất của nó, giống như một nhận định cho rằng: Là một Việt Nam nhỏ bé song rất đa dạng về các hệ sinh thái, về ngữ hệ - tộc người

và về văn hóa, theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này là lối sống và lề lối ứng xử với các quan hệ con người - tự nhiên - xã hội và lịch sử [45, tr 454]

1.3 KHÁI QUÁT VỀ THÁP BÀ PÔ NAGAR

1.3.1 Lịch sử hình thành di tích

Trong quá trình tồn tại và phát triển, cư dân cổ Chămpa đã để lại một khối lượng di sản văn hóa khổng lồ cả về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần trên dải đất miền Trung và Tây Nguyên (ngày nay là mảnh đất kéo dài từ Quảng Bình đến Bình Thuận và lên đến Gia Lai, Kon Tum) Những thành tựu của nền văn hóa Chămpa được thể hiện đầy đủ và tiêu biểu trên nhiều lĩnh vực: Nghệ thuật xây dựng đền tháp, nghệ thuật điêu khắc, bia ký, chữ viết, tôn giáo tín ngưỡng …

Sử cũ còn ghi, dưới vương triều Panduranga của vương quốc cổ Chămpa, khi đất nước được xác lập ở miền Nam, họ đã xây dựng khu đền tháp trên đồi Cù Lao thuộc xứ Kauthara Theo tấm bia ký cổ nhất được biết đến ở tháp Bà Pô Nagar do vua Satyavarman cho khắc năm 706 saka (năm

Trang 27

784), vị vua huyền thoại Vicitrasagara là người dựng lên ở khu vực Kauthara một Mukhalinga (linh vật thờ thần Siva dưới dạng sinh thực khí có khắc hình khuôn mặt thần trên đó) Tấm bia ký cũng nói đến việc ngôi đền bị phá và những đồ vật cùng linh vật Mukhalinga bị cướp mất vào năm 696 saka (năm 774) và mô tả vua Satyavarman cùng binh lính và các tướng lĩnh truy đuổi những kẻ cướp bóc trên những chiếc thuyền tốt, nhưng Sivamukha (hình mặt thần Siva bọc ngoài linga) cùng những vật dụng đã bị chúng ném xuống biển

và bị phá hủy Khi trở về, vua đã cho xây ngôi đền khác, làm một Mukhalinga mới đặt tên là Sri-Satya-Mukhalinga (lấy tên vua đặt cho linga) cùng hình nữ thần Bhagavati và thần Ganesa [10, tr.9-10] Như vậy, theo bia ký trên, tháp

Bà Pô Nagar đã có từ lâu đời và được dựng bởi vị vua huyền thoại Vicitrasagara để thờ thần Siva

Dựa vào nội dung tấm bia đó, các nhà nghiên cứu cho rằng về thực tế Satyyavaman là người đầu tiên cho xây lại một cơ sở tôn giáo ở Pô Nagar vào năm 774 Đây cũng là thời kỳ trung tâm của vương quốc Chăm di chuyển về phương nam đến Panduranga (Phan Rang) và Kauthara (Khánh Hòa) (thuộc thời kỳ Hoàn Vương) Nội dung tấm bia cũng là cơ sở cho chúng ta biết ban đầu đây là nơi thờ thần Siva, còn nữ thần Bhagavati (vợ của thần Siva, còn gọi là Uma và là biểu hiện âm tính của Siva) ban đầu xuất hiện như một linh tượng và được thờ song hành Sau đó, Nữ thần trở thành thần chủ ở ngôi đền

Pô Nagar, tiền đề hình thành tín ngưỡng thờ nữ thần Mẹ (Mẹ xứ sở) của người dân Chămpa

Sau gần 100 năm trị vì, quyền lực của các vua Hoàn Vương chấm dứt khi Vikrantavarman III chết, triều đình đã chọn Indravaman II lên ngôi (ông

là một người Campapura phía Bắc có tính chất ưu tú trong tu luyện khổ hạnh

và bởi đầu óc thông minh trong sáng chứ không phải cha ông hoặc ông của ông - lời bia ký) [10, tr.18] Vị vua mới dời đô ra phía Bắc và lấy tên mình đặt

Trang 28

cho thủ đô là Indrapura (còn gọi là Đồng Dương - nay là tỉnh Quảng Nam)

Đó có thể là nguyên nhân khu đền thờ Bàlamôn chính của vương triều Hoàn Vương bị lãng quên trong suốt 43 năm (875 - 918) Chỉ đến khi Indravaman III lên ngôi (916), Bhavagati mới được vực dậy và vươn lên mạnh mẽ, trở thành Nữ thần của khu đền chính, dù không ở vị trí tối cao, của cả vương quốc Chămpa [9, tr.21]

Sở dĩ Nữ thần của Pô Nagar được nâng lên tầm cao là nhờ vua Indravaman III "cho dựng hình nữ thần Bhagavati bằng vàng để có được danh thơm trên khắp thế giới" và ông đã cho dựng bia ký ở Pô Nagar năm 918 để khắc ghi sự kiện này Từ đây, các vị vua phía Bắc đã đưa nữ thần Bhagavati của miền Nam vào hệ thống thần điện chung và thống nhất của Chămpa do vị thần chủ vốn được tôn sùng từ xưa là Sambhuhadrasvara của miền Bắc Chămpa đứng đầu [3, tr.160]

Mỗi vị vua mới lên ngôi lại xây dựng thêm đền thờ hoặc dâng cúng các

đồ vật quý lên Nữ thần, hay trùng tu những ngôi tháp cũ Vì vậy, các ngôi đền

ở tháp Bà Pô Nagar được xây dựng liên tục từ khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XIII Tuy những pho tượng Nữ thần của khu đền Pô Nagar dù là bằng vàng hay bằng đá sau đó tiếp tục bị mất bởi quân Kh'me, Java, Bắc Hải, nhưng khu đền tháp vẫn luôn được dâng cúng những bức tượng cùng những linh vật và đồ vật quý như: Tượng nữ thần bằng vàng, bình vàng, bình bạc, vương miện, dây thắt lưng có đốm màu khác nhau, quần áo thêu cùng những nô lệ người Chămpa, người Kh'me (Kvir), người Trung Quốc (Lov), người Miến Pagan (Pukam), người Xiêm (Syam) và những thửa ruộng trên cánh đồng Kauthara [3, tr.160] Tất cả những sự việc trên cho thấy vị trí đặc biệt của Nữ thần Kauthara trong hệ thống thờ cũng như trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của những cư dân Chămpa Trong lịch sử vương quốc Chămpa, việc đồng nhất một vị vua Chăm với các vị thần để thờ cúng là điều

Trang 29

thường gặp, song việc đồng nhất một vị thần trong Ấn Độ giáo trở thành Nữ thần Pô Nagar Nữ thần Mẹ của người Chăm là một ngoại lệ

1.3.2 Đặc điểm kiến trúc tháp Bà Pô Nagar

Tháp Bà Pô Nagar nằm trên ngọn đồi Cù Lao cao chừng 20m so với mực nước biển và có diện tích 57.500m2 Đồi Cù Lao nằm bên cạnh cửa sông Cái, thuộc phường Vĩnh Phước, là cửa ngõ phía bắc của thành phố Nha Trang, vì vậy tháp Bà Pô Nagar có vị trí được kết hợp một cách tuyệt vời của cảnh sắc thiên nhiên giữa sông - núi - biển - trời [PL.H2, tr.134] Khi tháp Bà

Pô Nagar trở thành một trong những trung tâm tôn giáo của quốc gia, khu đền tháp có vị trí đặc biệt trong đời sống tôn giáo, tinh thần của dân tộc Chăm trong khoảng thời gian tương đối lâu dài Vì vậy, những công trình kiến trúc ở đây được xây dựng trước hết là phục vụ cho các hoạt động tín ngưỡng của triều đình trung ương, và mỗi công trình cũng chứa đựng những tinh hoa nghệ thuật của văn hóa Chămpa

Những năm đầu thế kỷ XX, khi nhà khảo cổ học người Pháp H.Parmentier đến nghiên cứu, đã đo vẽ và thống kê được ở tháp Bà Pô Nagar còn khoảng 10 công trình kiến trúc [PL.H1, tr 134] Điều đó cho thấy, khu di tích này vốn là một quần thể di tích kiến trúc rất lớn Sau những biến động của lịch sử, hiện nay khu di tích còn lại 5 công trình kiến trúc ở hai mặt bằng: Khu Mandapa - tiền đình và Khu đền tháp Theo sử sách và những kết quả khảo sát thực địa, khu đền tháp này có tất cả sáu đền tháp Ngoài bốn đền tháp còn hiện hữu, còn có hai đền tháp ở khu vực bãi đá phía sau, nhưng hiện nay chỉ còn nền móng của tháp cũ [PL, H.26, tr.146]

1.3.2.1 Mandapa - Tiền đình và đường lên tháp Chính

Khu vực Mandapa: Ai đã một lần đến tháp Bà Pô Nagar đều không thể

quên những hàng cột gạch sừng sững hình bát giác ngay gần cổng vào di tích

Trang 30

[PL.H.9, tr.138] Đây là công trình kiến trúc gồm 10 cột hình bát giác lớn phía trong và 12 cột nhỏ hình bát giác ở phía ngoài, nằm trên nền nhà hình chữ nhật có diện tích 283,59m2 (20,30m x 13,97m) Các cột nhỏ cao 2,97m, có đường kính trung bình 0,90m và mỗi cạnh bát giác rộng 0,75m Các cột lớn cao 4,98m, có hình dáng giống những cột nhỏ Có thể nói "không chỉ lớn nhất, đặc biệt nhất, tiêu biểu nhất, nhà cột Pô Nagar còn là kiến trúc mandapa duy nhất của kiến trúc cổ Chămpa còn để lại nhiều dấu tích nguyên vẹn nhất"

[9, tr.13] Kiến trúc Mandapa đã được tu bổ nhưng vẫn giống như mô tả của H.Parmentier ở đầu thế kỷ XX:

Phòng này có một gian giữa và hai gian chung quanh Gian giữa có hai dãy trụ bát giác bằng gạch có chân và diềm; có tất cả 10 trụ tạo thành bốn gian và có bốn trụ nhỏ giống như các trụ lớn ở bốn góc của gian Toàn bộ hệ thống cột trụ này dựng trên một mặt thềm bằng gạch cao hơn một mét, vách thềm, ở những chỗ không bị đá núi ngắt quãng được trang trí những ô có gờ đơn giản [9, tr.5-6]

Qua nghiên cứu, các nhà khoa học cho rằng đây là kiến trúc hở tường bao và có mái che bằng các vật liệu nhẹ, vì trên mỗi cột lớn, tương ứng với chiều cao cột nhỏ đều có “lỗ mộng” hình chữ nhật không sâu lắm Nghiên cứu các di tích Chăm khác, các nhà khoa học cũng nhận xét:

Kỹ thuật vá lắp mộng cũng được sử dụng, mộng thể hiện mộng tròn, mộng hình vuông, mộng hình chữ nhật với kỹ thuật chung là bản âm (lỗ mộng) đục sâu vào thành phần kiến trúc, mộng dương (chốt mộng) đục khối nhô ra gá lắp vừa khít với lỗ mộng tạo nên sự liên kết bền vững Tất cả thực chỉ để định vị chứ các liên kết này không có tác dụng chịu lực [43, tr.6]

Trang 31

Tuy rằng hiện nay không còn dấu vết mái che của Mandapa, nhưng dựa vào sự so sánh hình dạng kiến trúc này với phế tích gian nhà III (Vihara - Phật đường) ở Đồng Dương (Quảng Nam) và mô hình quần thể kiến trúc đền thờ Hin đu giáo ở Ấn Độ, các nhà nghiên cứu cho rằng đây có thể là sảnh đường, được xem như một tiền đình mang dáng dấp của một công trình kiến trúc có tính đời thường nhiều hơn là thờ tự, có thể được dùng cho các tín đồ chuẩn bị

lễ vật trước khi lên hành lễ ở các đền tháp phía trên

Đường lên tháp Chính: Phía cuối Mandapa là những bậc cấp nối liền

khu vực này với khu vực thứ hai phía trên Chắc hẳn đây là đường lên các đền

và tháp ở phía trên Lối lên rất dốc, rộng 1m70, với 36 bậc cấp Các bậc này rất ngắn khiến cho người đi phải đi như bò, tay bám các bậc phía trên để không ngã ra sau và khi xuống phải quay lưng đi giật lùi xuống bên dưới Có thể đây là chủ ý của những chủ nhân xây đền tháp nhằm mục đích để cho các tín đồ khi đến hành lễ phải kính cẩn cúi mình trước nữ thần và để thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần được thờ ở đây Trải qua thời gian, lối đi này đã

bị sạt lở, khó đi hơn nên người ta mở đường bên cạnh, men theo sườn đồi lên tháp, đường mới này ít dốc hơn, dễ dàng đi lại với các bậc xây bằng đá chẻ Khi xây đường đi lên mới, người ta đã xây cổng mới thẳng với đường đi lên đền tháp và hiện nay nó trở thành cổng chính di tích tháp Bà Pô Nagar

Trước đây, phía đông Mandapa còn có hai cột nhỏ, thấp hơn nền, ở hai bên bậc lên xuống Mandapa (nay không còn, chỉ còn dấu tích) và thẳng ra cổng chính cũ Cổng, Mandapa và tháp Chính ở trên tạo thành trục thẳng đông - tây, như trục thần đạo của Pô Nagar

Như vậy, trong số năm kiến trúc hiện còn ở Pô Nagar, Mandapa bị hư hại nhiều nhất và không có bia ký nào tìm thấy ở đây đề cập đến kiến trúc này Sau khi phân tích đặc điểm kiến trúc gian nhà III (Vihara - Phật đường) ở

Trang 32

Đồng Dương (Quảng Nam) và phế tích khu B của Mỹ Sơn, đã có ý kiến cho rằng "xét về loại hình cột có thể nhận thấy, từ giữa thế kỷ XII trở đi, cột đỡ mái trong các kiến trúc nhà dài của các đền tháp Chămpa là có hình bát giác"

[9, tr.12] Do đó, niên đại Mandapa được đoán định khoảng thế kỷ XII Vì vậy, xác định phong cách và niên đại của kiến trúc này vẫn còn cần những nghiên cứu sâu hơn để có câu trả lời chính xác nhất

1.3.2.2 Các đền tháp

Khu vực thứ hai ở di tích này là khu vực các đền tháp Các tháp Chăm

ở đây được xây dựng theo bình đồ hình vuông, với ba phần: đế, thân và mái Mỗi tháp đều có bốn cửa ở bốn hướng đông, tây, nam, bắc Ba cửa ở ba hướng tây, nam và bắc chỉ là những ô cửa giả, được xây bịt kín Riêng cửa phía đông được mở ra và kéo dài như một tiền sảnh Theo quan niệm Á Đông, hướng đông là hướng của thần thánh nên có thể các tháp Chăm được mở cửa hướng đông để đón các vị thần giáng thế Thông thường, các ngôi tháp ở đây được gọi theo không gian phương hướng ở mặt bằng di tích và tính theo đường đi lên tháp hiện nay

Tháp Đông Bắc: Còn được gọi là tháp Chính – tháp lớn nhất trong số

các tháp Chăm còn tồn tại ở Việt Nam [PL.H.3, tr.135] Tháp được xây dựng bằng gạch nung, cao 23,30m Riêng phần đế tháp được xây hẳn lên trên mặt đất và có chiều cao 1m25, góp phần nâng độ cao của tháp Chính [8, tr 60]

Trên thân tháp, mỗi mặt được trang trí bằng 5 hàng trụ áp tường thẳng đứng, chạy dọc song song nhau, tạo dáng vẻ vững chắc và bề thế cho công trình kiến trúc Mỗi ô cửa giả trên thân tháp đều được tạc hình người đứng chắp tay dưới cái tán che phía trên đầu Tuy nhiên, những hình người trang trí trên cửa giả đã bị bào mòn theo thời gian nên khó nhận biết nhân vật Trên hệ mái, có

3 tầng mái thu nhỏ dần về phía trên theo một tỷ lệ thích hợp và tầng trên là hình ảnh thu nhỏ của tầng dưới; ở bốn góc mỗi tầng mái có bốn tháp nhỏ và

Trang 33

các góc ngoài tháp có gắn các bức tượng vũ nữ Ápsara tạc bằng đá như đang múa, bay lượn quanh tháp Trên đỉnh tháp được gắn một Linga, nhưng đã bị rơi vỡ nên người ta đã gắn các mảnh vỡ và đặt ngay trước sân ngôi tháp Trên

hệ mái còn được trang trí những con linh vật như: Voi, Ngỗng là những vật cưỡi của một số vị thần trong Ấn Độ giáo [PL.H.25, tr.146]

Phần cửa hướng đông của tháp Chính không chỉ là cửa ra vào và đơn thuần là một cửa vòm như thường lệ mà còn được cấu tạo như một kiến trúc tháp độc lập Vòm cửa hướng đông có hình dáng và cấu trúc giống với ngôi tháp, cũng gồm đế thân và mái, nhưng vốn là cửa ra vào nên kiến trúc có một chút thay đổi cho phù hợp với chức năng: Hai mặt tường bắc và nam chỉ có ba cột ốp trơn; hệ mái chỉ có hai tầng, hai bên cửa ra vào có hai trụ đá hình vuông cao 3m15, có chân kê bằng phiến đá hình vuông và đỡ lấy cột đá nằm ngang có kích thước tương ứng với trụ đá Trên những trụ đá ở cửa ra vào được khắc các bài văn bằng chữ Sancrit và chữ Chăm cổ Trên trán vòm cửa

là tấm "Phù điêu Siva múa" được đánh giá là một trong những tấm phù điêu đẹp của văn hóa Chămpa còn được lưu giữ ở Việt Nam [PL.H.22, tr.144]

Bức phù điêu bằng đá hình lá đề có niên đại thế kỷ XI, tạc hình ảnh thần Siva với bốn cánh tay đang múa và hai bên có hai nhạc công thổi sáo và chơi chũm chọe (xập xõa) Ba nhân vật được thể hiện trong tấm lá đề với những động tác uyển chuyển, sinh động và cũng rất duyên dáng

Qua nghiên cứu đặc điểm kiến trúc của ngôi tháp, các nhà nghiên cứu cho rằng niên đại của tháp Chính được xây dựng lần đầu tiên vào các năm 813 – 817 và trải qua những biến cố của lịch sử, tháp đã được xây dựng lại vào thế

kỷ XI – XII

Tháp Nam: Tháp nằm giữa hàng tháp thứ nhất và bên cạnh tháp Chính,

tháp cao 18m, có quy mô lớn thứ hai trong toàn bộ tổng thể kiến trúc ở khu đền tháp Pô Nagar [PL.H.4, tr.135] Tháp cũng có bình đồ hình vuông và cửa

Trang 34

ra vào cấu trúc dạng tiền sảnh, nhưng có bộ mái tương đối lạ trong quần thể kiến trúc tháp Bà Pô Nagar Phần đế và phần thân của tháp vẫn được xây theo

mô típ tháp Chăm truyền thống song phần mái được thu gọn lại thành một tầng chóp, kéo dài lên phía trên, có hình dáng giống một “củ hành tây” vĩ đại, gần giống như kiến trúc ở các nước Hồi giáo và phương Tây Phía trên cùng

là một Linga được đỡ trên bốn đầu bò thần Nadin quay về bốn hướng Kiểu kiến trúc này hiện còn rất ít trong các đền tháp Chămpa và đáng được quan tâm nghiên cứu về đặc điểm kiến trúc Dựa vào dấu vết còn lại ở một số bộ phận kiến trúc, nhất là phần thân dưới cho thấy ngôi tháp này đã được trùng tu nhiều lần trong lịch sử [3, tr 59] Vì vậy, ngôi tháp được đoán định có niên đại cuối cùng là vào thế kỷ XIII

Tháp Đông Nam: Đây là ngôi tháp có quy mô nhỏ nhất, giống như một

ngôi đền thờ Tháp được xây dựng khá đơn giản cả về kiểu dáng và trang trí, tháp cao 7,10m và hình dáng bên ngoài đã bị hư hại nhiều [PL.H.7-8, tr 137]

Điều khác biệt ở đây là trông dáng dấp hiện nay thì thân tháp ngay từ phần đế

đã xây giật cấp dần vào trong rồi lại từ từ loe ra khi tiếp xúc với phần mái, tạo

sự thanh thoát về hình khối Phần mái được xây giống hình yên ngựa hoặc hình dáng mái nhà hay hình thuyền quen thuộc của những cư dân Đông Nam

Á hải đảo Đây có thể là kiến trúc phụ trong quần thể kiến trúc này và thuộc loại muộn, có niên đại cuối cùng khoảng thế kỷ XIII

Tháp Tây Bắc: Tháp nằm ngay sau tháp Chính, có chiều cao 9,10m, là

ngôi tháp duy nhất ở khu di tích còn khá nguyên vẹn về kiến trúc và trang trí

[PL.H.5-6, tr.136] Trên mỗi ô cửa giả đều có hoa văn trang trí hình các linh vật, được chạm trổ tinh xảo trên nền gạch nung Trên ô cửa giả phía nam là hình ảnh chim thần Garuda, ô cửa giả phía bắc là hình ảnh đầu con Sư Tử, ô cửa giả phía tây là hình tượng một vị thần cưỡi voi (phụ nữ) Tháp chỉ có một tầng mái và cong mô phỏng hình chiếc thuyền, đầu hồi trang trí các mô típ lá

Trang 35

đề mềm mại cong nhọn, uốn vào trong, phô ra hai trán nhà có chạm khắc một

vị thần ngồi dưới tán của các đầu rắn Nagar Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đây là một kiến trúc đặc sắc của nghệ thuật Chăm [3, tr.63] Theo bia kí và kết quả khảo cổ học, tháp Tây Bắc có niên đại xây dựng năm 813 song đã được trùng tu nhiều lần và có niên đại cuối cùng khoảng thế kỷ XIII – XIV

Bảng 1: Đặc điểm riêng các công trình kiến trúc ở Pô Nagar

(đơn vị tính:

mét)

MỘT SÔ ĐẶC ĐIỂM PHẦN MÁI

Khối liền hình chuông úp (giống củ hành tây), chóp có 4 đầu bò thần Nadin nhô ra đỡ lấy linga phía trên

Cột lớn:

4,98 Cột nhỏ:

2,97

Hiện nay không còn

Có thể được làm bằng vật liệu loại nhẹ như: Tranh, tre,

lá mía

Nhìn vào tổng thể cũng như từng kiến trúc ở khu di tích tháp Bà Pô Nagar, cho chúng ta thấy tính đa dạng và sự hấp dẫn của mỗi công trình kiến

Trang 36

trúc: Quy mô bề thế, vững chãi nhưng hài hòa, đăng đối của tháp Chính, sự thanh thoát của tháp Nam, chất duyên dáng trữ tình của tháp Tây Bắc và cái mộc mạc trầm tĩnh của tháp Đông Nam Khu đền tháp được xây dựng trên ngọn đồi san hô rợp cây xanh tỏa bóng mát, tất cả tạo nên một không gian riêng mà không một di tích Chămpa nào ở nước ta có được

1.3.3 Các nhân vật thờ trong di tích

Như chúng ta đã biết, trước khi thờ Nữ thần Pô Nagar, Siva là vị thần chủ ở đây Trong Ấn độ giáo có ba vị thần chủ đạo: thần Brahma là vị thần tượng trưng cho sự sáng tạo, thần Visnu là vị thần tượng trưng sự phát triển, thần Siva là vị thần tượng trưng sự hủy diệt Người Chăm vốn thờ thần Siva không phải để thờ sự huỷ diệt, mà trong quan niệm Á Đông, thế giới vận động theo vòng tròn, có sự luân hồi nên họ thờ thần Siva với quan niệm có sự hủy diệt mới có sự ra đời, tồn tại và phát triển của cái mới hình thành Tôn giáo này xâm nhập vào vương quốc Chămpa được kết hợp với tín ngưỡng bản địa

là tín ngưỡng phồn thực đã góp phần hình thành các đền tháp, các thánh địa trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm

Tín ngưỡng này được người Chăm thể hiện qua tín ngưỡng thờ bộ sinh thực khí Linga và Yoni (một trong những biểu tượng thờ thần Siva, nằm trong câu chuyện Padma Puranas) [8, tr.50-51] Vì vậy, trong các đền tháp ở đây đều thờ bộ sinh thực khí Linga – Yoni Riêng tháp Đông Nam và tháp Nam có cấu tạo kiến trúc như một bộ sinh thực khí, toàn bộ tháp tượng trưng Yoni, trụ đá trên đỉnh tượng trưng Linga

Từ việc thờ một linh vật Mukhalinga trong ngôi đền bằng gỗ có trước thế kỷ thứ VIII mà chúng ta đã biết qua bia ký ở tháp Bà Pô Nagar, do vị vua huyền thoại Vicitrasagara dựng lên và năm 784 vua Satyavarman dựng lại đền thờ Siva đã khẳng định một điều: Siva vốn là vị thần chủ ở đây Nhưng lúc

Trang 37

này vua Satyavarman đưa Bhagavati vào thờ song song tại khu đền thờ, ông

đã không biết rằng đây là tiền đề để Bhagavati dần dần chiếm lĩnh vị trí độc tôn ở khu đền tháp này

Đến năm 817, tức sau hơn 30 năm, pho tượng đã bị mất và ngôi đền

đã từ lâu trống rỗng Và, tại khu đền Pô Nagar, lần thứ ba tượng nữ thần Bhagavati được làm để thờ Điều quan trọng là, đến thời điểm này (đầu thế kỷ IX), nữ thần Bhagavati được tôn làm Đại thần nữ Bhagavati (Mahabhagavati) và trở thành đối tượng thờ phụng chính

ở khu đền quan trọng nhất phía nam Chămpa này [9, tr.12-13]

Có thể nói, vị trí độc tôn của Bhagavati ở khu đền tháp Pô Nagar được dâng lên đỉnh điểm khi vua Indravaman III dâng cúng bức tượng nữ thần được tạc bằng vàng vào năm 918 để "có được danh thơm trên khắp thế giới"

[9, tr.20], nhưng sau đó bức tượng nữ thần lại bị quân Khơ me cướp mất vào năm 950 [15, tr.179-180]

Mười lăm năm sau, vua Jaya Indravaman I đã khôi phục ngôi đền và cho dựng pho tượng nữ thần và dựng bia ghi lại sự việc này vào năm 887 saka (năm 965) với nội dung: "Vào năm saka adriasta-anga (887 saka) Sri Jaya Indravaman, vì sự hưng thịnh đã dựng ở Kauthara pho tượng nữ thần bằng đá" Kể từ đây về sau, được biết không có một tư liệu nào nói đến việc tượng

nữ thần ở đây bị phá hoặc cướp mất [10, tr.24] Tuy nhiên, năm 1942, qua phân tích và nghiên cứu phong cách, nhà nghiên cứu người Pháp, P.Stern nhận định rằng, chiếc bệ và tấm ngai tựa của pho tượng có niên đại đầu phong cách Mỹ Sơn A1, còn pho tượng có thể được làm lại giữa thế kỷ XI Sau đó, năm 1963, nhà nghiên cứu người Pháp, J.Boisselier tiếp tục phân tích cấu tạo, các họa tiết và đầu Kala trên đỉnh cùng hai đầu Macara trên tấm tựa, cũng nhận định nó chỉ có thể thuộc phong cách Mỹ Sơn A1 [9, tr.25]

Trang 38

Tượng Nữ thần đặt bên trong điện thờ hình vuông, khá hẹp và ngẫu tượng thờ chính là phần hồn của di tích Cũng là biểu tượng của bộ sinh thực khí Linga và Yoni, nhưng ở ngôi tháp chính này nó được thể hiện một cách sinh động với những đường nét hoa văn tinh xảo nhất Linga đã được tạc thành bức tượng nữ thần và Yoni là bệ tượng của thần, mà vẫn đảm bảo kết cấu một linh trụ đặt trên một bệ có rãnh chảy sang bên cạnh

Toàn bộ pho tượng được đặt trên một bệ sen, có tấm tựa đằng sau và được chạm khắc tinh xảo cả hai mặt Tượng thể hiện một người phụ nữ ngực

để trần, có mười cánh tay, trong đó có hai bàn tay chính, một bàn tay ngửa ra

có ý nghĩa ban phát và một bàn tay giơ lên có ý nghĩa trấn an con dân của vương triều Chămpa Còn tám cánh tay phụ hai bên mỗi tay cầm một vật biểu trưng cho quyền năng của Nữ thần, gồm: bên phải là thanh đoản kiếm, mũi tên, chùy, mũi lao và bên trái là chuông, đĩa, cung, tù và ốc Những vật dụng tượng trưng cho sức mạnh của Nữ thần Như vậy, Kauthara - một trong những trung tâm kinh tế và tôn giáo lớn ở miền Nam - là quê hương, nơi phát tích tín ngưỡng thờ Mẹ xứ sở của dân tộc Chăm và cũng là nữ thần Pô Nagar

Khi những người Việt theo bước chân chúa Nguyễn vào Nam, năm

1653 họ đã đến vùng đất Khánh Hòa ngày nay và vốn mang trong mình tâm thức thờ Mẫu, họ đã tiếp biến tín ngưỡng này và người Việt (Kinh) vừa dịch, vừa phiên âm tên Nữ thần sang tiếng Việt Họ đã phiên âm tên đầy đủ của Nữ thần là Yang Pô Inư Nagar sang tiếng Việt và gọi là Thiên Y A Na Thánh Mẫu: Yang là Thần, Pô là Ngài, Inư là Mẹ và Nagar là Xứ sở.Tháp Chính trở thành nơi thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu [PL.H.10, tr.138] Tháp ở giữa hàng thứ nhất, cạnh tháp Chính là tháp Nam, người Việt gọi đây là dinh Ông, thờ Thái tử Bắc Hải, chồng bà Thiên Y A Na Ngôi tháp nhỏ nhất phía ngoài cùng

là tháp Đông Nam, người dân địa phương gọi đây là dinh Cố - thờ ông Tiều

và bà Tiều là cha mẹ nuôi của Thiên Y A Na Thánh Mẫu Phía sau tháp Chính

Trang 39

là tháp Tây Bắc, người Việt gọi là dinh Cô Cậu, thờ công chúa Quý và hoàng

tử Tri (Trí) là hai người con của bà Thiên Y A Na

Bảng 2: Các nhân vật thờ ở tháp Bà Pô Nagar

STT

TÊN

THƯỜNG GỌI TÊN GỌI CỦA

NGƯỜI ĐỊA PHƯƠNG

VỊ TRÍ THÁP

TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI CHĂM

TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI VIỆT

Nữ thần Pô Nagar

Thiên Y A Na Thánh Mẫu

02

Tháp Nam Dinh Ông Hàng thứ nhất,

ở giữa Cri Cambhu Thái tử Bắc Hải

Tháp Tây Bắc Dinh Cô

Cậu Hàng thứ hai, phía sau tháp

Chính

Ganesa Công chúa Quý

và Hoàng tử Tri (Trí)

Nữ thần Pô Nagar hay Thiên Y A Na Thánh Mẫu, Mẹ xứ sở của không chỉ người Chăm mà người Việt (Kinh) cũng xem Bà như một vị phúc thần, dạy cho con dân biết trồng trọt, chăn nuôi, dệt vải, bảo vệ con dân khỏi nạn ngoại xâm, khi đi rừng chặt củi, lấy trầm và khi đi biển đánh bắt hải sản Bà còn được nhân dân Khánh Hòa thờ cúng với vai trò là vị thần để cầu đảo mong cho mưa xuống cho nhân gian hết hạn hán, cây cối không héo úa, con người và vật nuôi tránh được tai ương, tật bệnh Chính vì vậy, tháp Chính, ngôi tháp lớn nhất nơi thờ Nữ thần Pô Nagar được lấy làm tên gọi chung cho

cả quần thể di tích và người Việt gọi là Thiên Y A Na Thánh Mẫu, cũng là tên gọi chung cho lễ hội diễn ra vào dịp tháng Ba hàng năm tại di tích Nhận thấy những giá trị văn hóa, khoa học và lịch sử được lưu giữ tại di tích Tháp Bà Pô Nagar, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp

Trang 40

hạng là di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia tại quyết định số 54-VHTT/QĐ ngày 29 tháng 4 năm 1979

1.4 VAI TRÒ CỦA THÁP BÀ PÔ NAGAR TRONG QUÁ TRÌNH GIAO LƯU TIẾP BIẾN VĂN HÓA CHĂM – VIỆT

1.4.1 Tháp Bà Pô Nagar trong đời sống tâm linh của người Chăm

Có thể nói, lịch sử vương quốc Chămpa có nhiều thăng trầm, song không vì vậy mà khu đền tháp Pô Nagar bị lãng quên Ngược lại, Nữ thần còn được tôn lên cao, được xem là biểu tượng để che chở cho con dân có cuộc sống bình yên, bảo vệ con dân khỏi những cuộc binh đao, cướp bóc của các lực lượng khác đến vùng đất này Những lời cầu khẩn còn được khắc vào bia

ký và Bà được tôn là Mẹ xứ sở của cả dân tộc [3, tr.163]

Khi người Việt đến định cư ở Kauthara, quá trình di cư của người Chăm về vùng Ninh Thuận, Bình Thuận diễn ra một cách từ từ, không ồ ạt

[19, tr.100] Còn một bộ phận người Chăm vẫn ở lại và tiếp biến văn hóa của người Kinh Có quan điểm cho rằng: Tương truyền, do có việc ngăn trở người Chăm tới cúng lễ ở tháp Bà Nha Trang vào khoảng nhà Tây Sơn, nhất là càng ngày vùng tụ cư của họ càng lùi xa về phía nam, nên người Chăm đã chuyển tượng thờ Pô Inư Nưgar từ Nha Trang về Ninh Thuận [39, tr.263]

Khi chúng tôi hỏi những người Chăm hiện vẫn ra cúng kính ở tháp Bà

Pô Nagar: Sau khi một bộ phận di cư vào sinh sống tập trung ở Ninh Thuận

và Bình Thuận, người Chăm có lập miếu thờ Mẹ xứ sở - Nữ thần Pô Nagar ở đâu không? Chúng tôi đã được câu trả lời rằng họ thờ Mẹ ở đền Pô Nưkan thuộc thôn Hữu Đức, xã Phước Hưng, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

Dưới vương triều nhà Nguyễn cai trị, những người Chăm lại tiếp tục hành hương về tháp Bà Pô Nagar ở Nha Trang và tổ chức biểu diễn múa Bóng

ở khu đền tháp Do điều kiện đi lại khó khăn nên mỗi lần về với Mẹ họ phải ở

Ngày đăng: 06/06/2021, 04:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w