Một trong những vị thần thuộc “Tứ trấn” Thăng Long, chuyên bảo hộ và có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của mỗi người dân vùng đất kinh kỳ mà sự thờ phụng ngài có ảnh hưởng tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
LƯƠNG THU HÀ
SỰ PHỤNG THỜ THÁNH LINH LANG (QUA KHẢO SÁT TRUYỀN THUYẾT,
DI TÍCH VÀ LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN BA ĐÌNH – HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 60 31 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HOÁ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.TRẦN ĐỨC NGÔN
HÀ NỘI – 2011
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu
Chương 1: Khái quát về tín ngưỡng thờ Thần và không gian văn hóa
quận Ba Đình………9
1.1 Khái quát về tín ngưỡng thờ Thần……… 9
1.1.1 Tên gọi Thánh, Thần và sự khác biệt của hai khái niệm……9
1.1.2 Tín ngưỡng thờ thần của người Việt………11
1.1.3 Phân loại thần trong tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội… 14
1.2 Không gian văn hoá quận Ba Đình………16
1.2.1 Không gian văn hóa chung……… 17
1.2.2 Không gian văn hoá tại các điểm phụng thờ thánh Linh Lang 29
1.3 Vị trí của sự phụng thờ thánh Linh Lang trong không gian văn hoá quận Ba Đình……… 37
Tiểu kết chương 1………39
Chương 2: Truyền thuyết và tín ngưỡng liên quan đến việc phụng thờ thánh Linh Lang……… …41
2.1 Hình tượng Thuỷ thần trong truyền thuyết và tín ngưỡng thờ Rắn………42
2.1.1 Hình tượng thủy thần trong truyền thuyết………43
2.1.2 Tín ngưỡng thờ Rắn……… 47
2.2 Hình tượng người anh hùng chống ngoại xâm và tín ngưỡng thờ người anh hùng dân tộc………53
2.2.1 Hình tượng người anh hùng chống ngoại xâm trong truyền thuyết………53
2.2.2 Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc………57
2.3 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng………61
2.4 Tục thờ Đá………65
Tiểu kết chương 2………69
Chương 3 Di tích và lễ hội thờ thánh Linh Lang trên địa bàn quận Ba Đình………71
3.1 Hệ thống di tích thờ thánh Linh Lang trên địa bàn quận Ba Đình………71
3.1.1 Đền Voi Phục (Thủ Lệ)………71
3.1.2 Đình Vạn Phúc……….74
3.1.3 Đình Kim Mã Thượng 76
3.1.4 Đình Ngọc Khánh 78
3.2 Lễ hội tại các di tích thờ thánh Linh Lang ở quận Ba Đình 80
3.2.1 Lễ hội trước năm 1945……… 80
3.2.1.1 Thời gian, không gian và quy mô lễ hội………80
3.2.1.2 Tổ chức chuẩn bị lễ hội………81
Trang 33.2.1.3 Diễn trình của lễ hội………83
3.2.2 Lễ hội sau năm 1945 và hiện nay………98
3.2.3 Giá trị văn hóa của lễ hội thờ thánh Linh Lang vùng Thập Tam Trại tại Hà Nội………103
Tiểu kết chương 3………108
Kết luận………110
Tài liệu tham khảo………114
Phụ lục………
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô ra Hà Nội và đặt tên là Thăng Long Việc lựa chọn đó chắc không phải là ý riêng của một ông vua Thăng Long tức rồng bay lên, là chỗ đất danh thắng, trọng yếu để bốn phương sum họp, đáng là
đô thành bậc nhất, kinh sư muôn đời Có lẽ bởi Thăng Long - Hà Nội vốn là tinh hoa của đất nước, là nơi địa linh nhân kiệt, tụ nhân tụ thuỷ Trước Thăng Long,
Cổ Loa đã từng là kinh đô của nhà Thục Phù Đổng là nơi sinh ra người anh hùng làng Dóng, Hà Nội là quê hương của Lý Thường Kiệt, người đã viết bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta bằng những lời thơ hùng tráng… Thăng Long - Hà Nội nổi tiếng là một trong những Thủ đô cổ của vùng Đông Nam Á
và thế giới Năm 2010, Hà Nội tròn ngàn năm tuổi, qua bao lần ngoại bang xâm chiếm cùng bao nhiêu triều đại phong kiến đã từng, Thủ đô cho đến ngày nay vẫn xứng đáng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước Vượt qua những bước dài của lịch sử, chúng ta có quyền tự hào về Hà Nội, một Thủ đô có chiều sâu lịch sử - văn hoá Tất cả được ghi dấu lại qua những di tích còn tồn tại trên mảnh đất giàu truyền thống này Trải qua bao biến động của thời gian, những di tích của Hà Nội là chứng tích vô giá về truyền thống văn hiến của Thủ đô Di tích là những bức thông điệp chứa đựng và kết tinh những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mà cha ông chúng ta đã để lại, làm cầu nối vững chắc giữa quá khứ và hiện tại, đó là hành trang cho chúng ta vững bước vào tương lai Do đó, việc tìm hiểu và khai thác giá trị những di sản đó cho hôm nay và mai sau chính là thể hiện lòng biết ơn của chúng ta, của con cháu mai sau đối với các bậc tiền nhân Đồng thời, lòng yêu nước thể hiện ở ý thức giữ gìn, vun đắp những truyền thống tốt đẹp của cha ông là cơ sở cội nguồn để phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Thăng Long - Hà Nội, vùng đất kinh kỳ, là nơi hội tụ những nét đẹp, tinh hoa của dân tộc Đây còn là vùng đất cổ, mang nhiều dấu ấn tín ngưỡng của các thời kỳ lịch sử, thể hiện trong tâm thức cũng như tục lệ thờ cúng trong dân gian
Trang 5Bên cạnh các tín ngưỡng phổ quát như thờ tổ tiên, thờ Phật, thờ thành hoàng làng, thờ mẫu… Thăng Long có những tín ngưỡng không phải nơi nào cũng có Điển hình như thờ các vị thần thuộc “Tứ trấn”
Một trong những vị thần thuộc “Tứ trấn” Thăng Long, chuyên bảo hộ và
có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của mỗi người dân vùng đất kinh
kỳ mà sự thờ phụng ngài có ảnh hưởng trên phạm vi rất rộng lớn phải kể đến là đức thánh Linh Lang Theo cách phân loại các vị thần của GS Nguyễn Duy Hinh trong cuốn sách “Các thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội” thì đây là vị thần Chiến đấu Không chỉ vậy, nếu đi sâu bóc tách các lớp văn hóa thì theo nhiều nhà nghiên cứu, việc thờ thánh Linh Lang thực chất bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ thuỷ thần của người Việt cổ - một nét văn hoá đặc trưng của cư dân trồng lúa nước Tìm hiểu sự thờ phụng đức thánh Linh Lang còn cho thấy dấu vết của tín ngưỡng thờ đá Ngoài ra, trong lễ hội thờ thánh Linh Lang, ta thấy những nét đẹp trong những phong tục truyền thống như tục kết chạ, sinh hoạt văn hóa như “con đĩ đánh bồng”…
Hơn nữa, hiện nay, khi cả thế giới đang bước vào thời kỳ giao lưu, hội nhập, văn hóa được xem như một nền tảng, động lực then chốt của sự phát triển Việc bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hoá là việc làm cần thiết đối với mỗi quốc gia, đó là một nhân tố quan trọng của sự phát triển bền vững, trong
đó việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích (một loại hình của di sản văn hóa) góp phần thiết thực vào việc giữ gìn cốt cách, bản sắc văn hóa dân tộc Sự phục hồi trở lại của hàng loạt các lễ hội, các dự án bảo tồn và phát huy giá trị của các
di tích tôn giáo tín ngưỡng cho thấy nhu cầu, sự quan tâm của xã hội về văn hóa tinh thần ngày càng cao
Với lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Sự phụng thờ thánh Linh
Lang (qua khảo sát truyền thuyết, di tích và lễ hội trên địa bàn quận Ba Đình - Hà Nội)” làm đề tài cho luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Văn hóa học
của mình
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trang 6Qua tham khảo, được biết từ lâu, tín ngưỡng, sự thờ phụng thánh ở Việt Nam đã được nhắc đến dưới nhiều góc độ và những quan điểm khác nhau Đối với tín ngưỡng thờ thánh tại Hà Nội, đáng kể nhất có tính tổng hợp là cuốn sách
“Các thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội” của tác giả Nguyễn Duy
Hinh và Nguyễn Vinh Phúc Còn lại hầu hết các nghiên cứu đều là các đề tài mang tính đơn lẻ, nghiên cứu tại từng di tích với từng vị thánh cụ thể Như :
- Tín ngưỡng Hai Bà Trưng ở làng Hát Môn (Nguyễn Thị Trung)
- Việc thờ phụng Chử Đồng Tử ở Chử Xá (Đỗ Lan Phương)
- Tìm hiểu hiện tượng tín ngưỡng đức thánh Trần (Phạm Quỳnh Phương)
- …
Về di tích thờ thánh Linh Lang, theo tìm hiểu của tác giả mới chỉ có đề tài
luận văn Thạc sỹ “Đền Voi Phục Thủ Lệ: di tích và lễ hội” của tác giả Nguyễn
Thị Cẩm Phương Ngoài ra cũng có nhiều tư liệu viết về thánh Linh Lang, viết
về các dị bản thần tích hoặc các di tích nhỏ lẻ Nhưng tóm lại các nghiên cứu chưa làm rõ sự phụng thờ và các giá trị phụng thờ thánh Linh Lang Nói cách khác, các nghiên cứu mới dừng lại ở khía cạnh Bảo tàng học, chưa tiếp cận dưới góc độ văn hóa học Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về sự thờ phụng thánh Linh Lang thành hệ thống tại các di tích trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, tại quận Ba Đình nói riêng và vấn đề bảo tồn khai thác phát huy có hiệu quả các giá trị của chúng
Tuy tình hình nghiên cứu còn mờ nhạt nhưng tác giả vẫn có thể kế thừa một
số cơ sở tài liệu quan trọng từ các nhà nghiên cứu lớn trước đây và tham khảo một
số kết quả nghiên cứu gần đây, một số công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long -
Hà Nội và hồ sơ các di tích tại Ban Quản lý di tích danh thắng Hà Nội
Đó là những cơ sở tài liệu hết sức quan trọng cho tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hoá các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu về những di tích có thờ đức thánh Linh Lang trên địa bàn thành phố Hà Nội, cụ thể là tại
Trang 7quận Ba Đình nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa -
xã hội một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích
- Nghiên cứu và đánh giá vai trò giá trị của sự phụng thờ thánh Linh Lang
- Tìm hiểu thực trạng các di tích thờ thánh Linh Lang tại Hà Nội hiện nay
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu chính trong luận văn là các di tích và lễ hội tại các
di tích thờ đức thánh Linh Lang (thời Lý) tại quận Ba Đình
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Về mặt không gian: Quận Ba Đình
+ Về mặt thời gian: từ xưa tới nay (từ thời Lý)
- Lí do chọn quận Ba Đình làm đối tượng nghiên cứu và phạm vi chính để khảo sát: Trên địa bàn Thành phố Hà Nội có rất nhiều nơi thờ đức thánh Linh Lang Tuy nhiên, theo khảo sát, khu vực tập trung nhiều di tích thờ thánh Linh Lang hơn cả và có di tích nổi tiếng: Đền Voi Phục - Thủ Lệ là ở quận Ba Đình Ngoài ra, dựa trên bản đồ Hà Nội cũ thì đây là khu vực phía Tây của Thăng Long, nơi có địa văn hóa đặc trưng nhất cho tín ngưỡng thờ thánh Linh Lang
Do đó, tác giả chọn quận Ba Đình làm đối tượng nghiên cứu và phạm vi chính
để khảo sát
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Lịch sử, Dân tộc học, …
Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp
Luận văn sử dụng phương pháp điền dã thực tế với các kỹ năng quan sát, miêu tả, ghi chép, điều tra hồi cố, đo vẽ, chụp ảnh để khảo tả, so sánh, tham dự, phân tích
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Tập hợp những tư liệu và kết quả nghiên cứu về những di tích, lễ hội tại các di tích thờ thánh Linh Lang trên địa bàn thành phố Hà Nội, cụ thể là quận Ba
Trang 8Đình, trong phạm vi đề tài quan tâm một cách có hệ thống, đầy đủ và cập nhật, nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa - xã hội một nguồn tư liệu tham khảo hữu ích
Nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống thực trạng sự thờ phụng đức thánh Linh Lang tại quận Ba Đình, mức độ hiệu quả trong phát huy các giá trị của sự phụng thờ đó
Nghiên cứu và đánh giá vai trò giá trị của sự thờ phụng đức thánh Linh Lang tại quận Ba Đình, đồng thời đưa ra những nhận định trong việc bảo tồn và phát huy giá trị sự thờ phụng đức thánh Linh Lang trong bối cảnh đất nước mở của hội nhập và phát triển
Ngoài ra, luận văn sẽ góp một phần tâm huyết của một học viên cao học văn hóa học vào công cuộc xây dựng Hà Nội nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long, để Hà Nội mãi mãi là một địa chỉ văn hóa đặc biệt quan trọng vừa hội tụ vừa lan tỏa cả trong nước và bè bạn quốc tế
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được chia thành 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Ngoài ra luận văn còn có phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo
Phần nội dung được chia làm 03 chương:
Chương 1 Khái quát về tín ngưỡng thờ Thần và không gian văn hoá quận
Trang 9Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN
VÀ KHÔNG GIAN VĂN HOÁ QUẬN BA ĐÌNH
Tín ngưỡng thờ Thần ở Việt Nam là lĩnh vực đã được nhiều tác giả nghiên cứu và bước đầu có những quan điểm thống nhất Bên cạnh tín ngưỡng thờ Thần còn xuất hiện một tín ngưỡng khác mà nội dung của nó vẫn còn đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi cũng như các ý kiến trái chiều từ phía các nhà nghiên cứu
Đó là tín ngưỡng thờ Thánh Có hay không một Đạo Thánh ở Việt Nam? Tín ngưỡng thờ Thánh khác gì tín ngưỡng thờ Thần?
Do phạm vi nghiên cứu của luận văn có giới hạn, nên dưới đây chỉ là những nhận định sơ lược mà tác giả đã tìm hiểu được trong quá trình nghiên cứu của mình
1.1.1 Tên gọi Thánh, Thần và sự khác biệt của hai khái niệm
Tục ngữ có câu “Chuông làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ” Dân gọi tất cả là “chư vị đức thánh” Ta gặp rất nhiều đền đài, nhiều lễ hội mang tên các thánh chứ không phải các thần Tuy nhiên, khi đi sâu vào trong, ta vẫn thấy vị được thờ thực chất vẫn là Thần nào đó Dân thường dùng chữ thánh nhưng vẫn hiểu đó là thần
Theo thói quen chung, do ảnh hưởng của tín ngưỡng đa thần bắt nguồn căn
rễ từ xa xưa, dân ta thường gọi các lực lượng siêu trần, các nhân vật linh thiêng
ấy là thần Song, chữ thần thường bị triều đình phong kiến lợi dụng, kéo họ vào hàng ngũ bách thần để tôn vinh cho chế độ Vì thế mới có việc phong thần Những vị thần được vua chúa phong cho các tước hiệu Hạ đẳng, Trung đẳng, Thượng đẳng phúc thần thậm chí là đại vương, có vẻ tôn quý nhưng thực ra đã làm mất đi giá trị đích thực của các thần Thần là ở cõi thiêng, là phải đứng trên con người, dù con người ấy là ai đi nữa Nhưng vua lại ban cho các thần những
mỹ từ, phẩm trật, dù cao đến đâu cũng vẫn chỉ là bề tôi, chịu sự sai phái của nhà
Trang 10vua Để tỏ rõ uy quyền của chế độ quân chủ, nhà vua đòi hỏi các đấng thiêng ấy phải tuân thủ trật tự của chế độ, phải bảo hộ lê dân Khá nhiều thần tích cho biết thần được vua sai đi dẹp giặc, được giao phó công này việc nọ (tất nhiên ở trong cõi linh) Thần cũng có thể bị rút tên khỏi bảng phong thần
Dân gian không dám nói ra, song về căn bản họ không chấp nhận thái độ bề trên với các thần linh như vậy Các quan viên hương chức trong làng phải tuân theo sắc phong ấy của triều đình, chứ dân chúng thì không quan tâm mấy, mặc cho bao nhiêu thần được phong cấp này cấp nọ, bởi họ đã sáng tạo ra các Thánh,
từ để chỉ các thần linh riêng của mình Thánh mới thực là biểu tượng thiêng liêng của họ Chế độ phong kiến chỉ lợi dụng được chữ Thần, chứ không lợi dụng được chữ Thánh Chữ Thánh ( ) ở trên một bên chữ Nhĩ (nghĩa là nghe), một bên chữ Khẩu (nghĩa là nói), ở dưới chữ Vương (nghĩa là vua) Thánh là vị có thể nghe hiểu và phán bảo được mọi điều trên tài cả vua Bởi thế, vua chỉ có thể phong thần, tôn thánh chứ không thể phong thánh
Gọi là Thần thì dễ bị lẫn lộn, còn gọi là Thánh thì không lẫn lộn bao giờ Thánh gần với người ta hơn và không phải vị thần nào cũng được tôn là thánh Thần thuộc vào một thế giới siêu nhiên, theo quan niệm vạn vật hữu linh Thần
là vị tài giỏi phán bảo mọi điều mọi nhẽ, mọi nơi mọi lúc Chữ Thần ( ) bên trái là chữ Kỳ (thần kỳ), bên phải là chữ Viết (nói, phán bảo), thêm xổ dọc (xuyên suốt mọi nơi mọi lúc) Thần ở chốn cao xa, vô cùng huyền diệu, không
rõ xuất xứ, không biết hành tung Người thường luôn thấy bản thân mình cách biệt với thế giới thần linh Những vị thần Sấm, thần Non, Thuỷ thần… Không ai biết được các ngài như thế nào, chỉ có thể tưởng tượng là các ngài có quyền uy
và năng lực vô song
Thánh là một sự tập trung hoàn thiện để tạo nên biểu tượng Nếu như trong
số các vị được tôn là “thần” cũng có tốt, có xấu (tà thần) thì trong tâm thức dân gian, thánh thường phải là những thần - người hoàn mỹ, là chỗ dựa cho quần chúng nhân dân Không cần có nhiều hư cấu, con người có thể tạo ra thế giới thánh, quan niệm được sự hiện diện thường xuyên của thánh, bởi lẽ thánh là siêu
Trang 11trần nhưng vẫn hiện thực Thánh có ở khắp nơi: ở chỗ đương thời, ở hôm qua và ngày mai, giữa thanh thiên bạch nhật hay trong đêm trường tăm tối, đều có thể tìm đến thánh Tìm đến thánh nhưng chính là để hoàn thiện bản thân mình, bởi chữ Thánh còn mang ý nghĩa tôn vinh, để chỉ vào một bậc tài năng xuất sắc, đạo đức cao cả Nếu với thần linh, khi nhận thức của dân gian còn nhiều mơ hồ, chưa biết nguồn gốc, hành tung và cảm thấy không thể tiếp cận thì với Thánh,
họ đã có thể lịch sử hoá vị thần được thờ, sự sáng tạo của bản thân giúp họ có thể hình dung về vị thần đó một cách cụ thể hơn, theo ý mình mong muốn và tưởng tượng Thánh có thể là nhân vật huyền thoại hoặc có thực Hình dung ra thánh, dân gian tưởng tượng về những con người trong cõi thiêng có nhiều công lao đóng góp với trần thế, từ những việc ích lợi cho làng xóm quê hương đến sự nghiệp chiến đấu cho cả dân tộc Tiếp đó là tài năng, đức độ của các ngài Dứt khoát họ đều là những tấm gương đẹp về sự công bằng chính trực, về sự chí nhân chí thiện Cách tưởng tượng của người dân về sự nghiệp và tài đức của các thánh là ở lối tư duy thực tiễn, không phải dựa trên một sự viển vông nào
Tóm lại, từ một góc độ nhất định để nhìn nhận thì Thánh và thờ Thánh chỉ
là cách gọi dân gian để chỉ một biểu tượng, một sáng tạo mà bản chất vẫn là một tín ngưỡng cổ truyền của người Việt: tín ngưỡng thờ Thần
1.1.2 Tín ngưỡng thờ thần của người Việt
Tín ngưỡng thờ thần là một tín ngưỡng rất phổ biến của người Việt Nam
Nó xuất phát từ lòng tin là xung quanh người sống, cùng với thế giới hiện hữu của chúng ta, có một thế giới vô hình, ở đó các thần linh khắp mọi nơi theo dõi
và phù trợ cho thế giới của người sống Tín ngưỡng thờ thần của người Việt, có nhiều cách phân loại, các học giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau
Tác giả Nguyễn Duy Hinh trong “Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam” khi
nghiên cứu về thần điện thành hoàng làng, căn cứ vào bản chất thần đã chia thành:
1 Sơn thần và Thủy thần tức thần sông núi (sơn xuyên) bao gồm núi, gò đồng, ao hồ có hiện tượng thiêng, kể cả rắn…
Trang 122 Thần Đá, Cây, Rừng, Đất (thổ thần), kể cả Nõ Nường…
3 Thiên thần là những nhân vật thần tiên không phải nhân vật lịch sử
4 Nhân thần là các nhân vật anh hùng lịch sử, những tiên hiền khai hoang lập ấp, tổ sư các nghề… [19, tr.107]
Trong đó, Linh Lang được xếp vào nhóm Thủy thần, mà ở đây cụ thể là
thần Rắn Thần Rắn là một mô típ thủy thần quan trọng nhất trong thần điện thành hoàng của người Việt Linh Lang được xem là vị thần Rắn nhiều ý nghĩa nhất Tác giả còn khẳng định cội nguồn, dạng sớm nhất cổ xưa nhất của thành hoàng làng là Rắn Hình tượng Rắn đã gặp nhiều trong tư liệu khảo cổ học lại được thể hiện trong thần thoại thành hoàng một cách sâu đậm
Do tính chất vô cùng phong phú và phức tạp của tín ngưỡng nên nhà
nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy, trong cuốn “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo
Việt Nam”, đã phân loại theo mức độ thờ cúng thần:
ở các làng ấp lại vô cùng phong phú, có thể phân ra như sau:
1 Thần từ thời nguyên thủy còn bảo lưu lại
- Thần là các hiện tượng tự nhiên: như thần ánh sáng, hệ thống thần Tứ pháp (mây, mưa, sấm, chớp), thần tinh tú (Nam Tào, Bắc Đẩu )
- Thần là các đối tượng tự nhiên:
+ Thần núi
+ Thủy thần
+ Thần cây
- Thần từ cầu mong sinh sôi nảy nở
2 Thần thời phong kiến
- Thần là những vị có công dựng nước, giữ nước
Trang 13- Thần là những vị tụ dân khai phá lập làng
- Thần là những vị mở mang dân trí [14, tr.81]
Với cách phân loại này, Linh Lang cũng được xếp vào nhóm Thủy thần
Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, trong “Tín ngưỡng và văn hóa tín
ngưỡng ở Việt Nam” đã kể ra các hình thái tín ngưỡng được phân loại sau:
+ Thành hoàng có nguồn gốc Thiên thần:
Gồm thần Hào Quang, Tứ pháp, một số tinh tú, các vị tiên, thần linh trong Đạo giáo
+ Thành hoàng có nguồn gốc Nhiên thần:
Gồm Thành hoàng là Sơn thần, Thành hoàng có nguồn gốc Thủy thần, Thành hoàng có nguồn gốc Thổ thần, Thành hoàng là Cây
+ Thành hoàng có nguồn gốc Nhân thần:
Gồm các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa, người khai phá lập làng, hiền
sĩ có công mở mang dân trí, người ngoại bang, người chết vào giờ thiêng
Về các vị thành hoàng có nguồn gốc thủy thần, có vị là thủy thần rõ rệt nhưng cũng không ít vị đã nhân thần hóa, nhân vật hóa trở thành các vị thần có tên tuổi, gốc tích là các nhân vật lịch sử Các vị cũng tùy theo từng địa phương
mà mang các danh thần khác nhau: thần biển như Nam Hải Đại Vương Bát Hải Đại Vương; thần sông, hồ đầm như Tam Giang, Trương Hống - Trương Hát, Linh Lang Các thủy thần thường mang dạng rắn, cá, rồng, baba…
Trang 14Theo đó, Linh Lang được xếp vào là thành hoàng có nguồn gốc Thủy thần, nhóm thần sông, dạng rắn được thờ phổ biến hơn cả
Tác giả Tạ Chí Đại Trường trong cuốn “Thần người và đất Việt” thì lại xếp
hệ thống thần linh theo thời gian và chia thần linh bản địa của người Việt cổ thành:
+ Nhiên thần: các thần cây, đá
+ Nhiên thần: các thần sông nước
+ Các nhân thần sơ khai [58, tr.31]
1.1.3 Phân loại thần trong tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội
Thăng Long là vùng đất cổ, mang nhiều dấu ấn tín ngưỡng của các thời kỳ lịch sử, thể hiện qua tâm thức cũng như tục lệ thờ cúng trong dân gian Bên cạnh các tín ngưỡng phổ quát thì Thăng Long - Hà Nội còn có nhiều tín ngưỡng rất riêng
Tác giả Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh, trong “Các thành hoàng và
tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội”, chia tín ngưỡng thờ thần thành:
Tác giả Nguyễn Thế Long trong “Đình và đền Hà Nội” cho rằng các vị
thần và thành hoàng được thờ ở đình, đền, miếu, có thể phân chia ra làm hai loại: loại thứ nhất gồm những nhân vật truyền thuyết, huyền thoại từ thời kỳ cổ đại như Tản Viên, Thành Gióng…; loại thứ hai gồm những nhân vật lịch sử có
Trang 15tên tuổi được ghi trong lịch sử hoặc dã sử như Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo và các danh tướng Có những thần tuy không có công với nước nhưng đã có công dạy dân trong vùng, khai hoang chống lụt, dạy nghề cũng đều thuộc loại này [30, tr.18]
Trong đó, Linh Lang được xếp vào nhóm thần là nhân vật được huyền thoại hóa
Tác giả Nguyễn Minh Ngọc, trong “Bách thần Hà Nội” có đưa ra quan niệm
thần Hà Nội là tất cả những sự vật, hiện tượng, con người có tính thiêng được người Hà Nội tôn thờ Theo đó, tác giả phân loại thần Hà Nội thành:
Tóm lại, sau khi xem xét quan điểm của mỗi học giả về hệ thống thần linh
cũng như sự phân loại thần linh, ta có thể tạm kết luận: Hệ thống thần linh ban đầu của người Hà Nội nói riêng, người Việt Nam nói chung là các thần cây, thần
đá, thần sông nước, thần rắn,… Tuy nhiên, cùng với diễn trình lịch sử, ý nghĩa khởi nguyên của việc thờ thần linh đã được thêm vào những yếu tố mới, làm cho yếu tố khởi nguyên bị che lấp, thậm chí có lúc không còn nhận ra nữa Toàn bộ
hệ thống phân loại trên là cơ sở lý thuyết để xem xét vấn đề về sự phụng thờ thánh Linh Lang
Nền văn hóa thống nhất của dân tộc Việt Nam được biểu hiện ra với
những sắc thái đa dạng ở các vùng khác nhau trên đất nước Mỗi vùng văn hóa như vậy gắn với từng môi trường tự nhiên cụ thể cho nên có sắc thái riêng Những sắc thái riêng của các vùng văn hóa trong nước không tách rời bản sắc chung của văn hóa Việt Nam mà chỉ làm cho bản sắc chung ấy thêm phần phong
Trang 16phú Ranh giới của từng vùng văn hóa hình thành dần một cách mặc nhiên, tự phát trong lịch sử Ranh giới ấy có thể thay đổi vì nhiều nguyên nhân Đó là sự phát triển không ngừng của văn hóa, đó là sự chuyển biến dần dần cơ cấu của các thành phần xã hội, đó là sự di động thường xuyên của các nhóm dân cư, các nhóm tộc người từ nơi này sang nơi khác Tóm lại, ranh giới của một vùng văn hóa chỉ có ý nghĩa tương đối Ranh giới ấy không thể chính xác được như ranh giới của một đơn vị hành chính
Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi hình thành dân tộc Việt và văn hóa cổ truyền Việt Nam Trong đó, Thủ đô Hà Nội với vai trò đặc biệt trong lịch sử văn hóa của nước ta từ xưa đến nay, còn được coi là một vùng văn hóa lớn Theo khảo sát của tác giả Ngô Đức Thịnh về tín ngưỡng thờ thành hoàng ở đồng bằng Bắc
Bộ, có những “vùng Thành hoàng” mà ở đó, các làng chuyên thờ tập trung một
vị thần, gắn với điều kiện tự nhiên và lịch sử đặc trưng của địa phương
Do đó, việc quan tâm đến bối cảnh, những điều kiện địa lý nhân văn, điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội của đồng bằng sông Hồng, Hà Nội nói chung và quận Ba Đình nói riêng sẽ giúp chúng ta có cái nhìn địa văn hóa về tín ngưỡng thờ thánh ở Thăng Long - Hà Nội nói chung và sự thờ phụng Thánh Linh Lang nói riêng, đặc biệt là trong không gian văn hóa quận Ba Đình
1.2.1 Không gian văn hóa chung
Quận Ba Đình luôn được xem là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, giữ vị trí trọng yếu của kinh thành Thăng Long trong suốt chiều dài lịch sử Quận Ba Đình ngày nay là một trong chín quận nội thành Hà Nội, có diện tích 9,29 km2với hơn 24 vạn dân, được chia thành 14 phường là: Cống Vị, Đội Cấn, Điện Biên, Giảng Võ, Ngọc Khánh, Ngọc Hà, Kim Mã, Nguyễn Trung Trực, Phúc
Xá, Quan Thánh, Thành Công, Trúc Bạch, Liễu Giai, Vĩnh Phúc Đặc biệt, trên địa bàn Ba Đình tập trung hầu hết các cơ quan của Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, các cơ quan ngoại giao quốc tế
Trang 17* Vị trí địa lý và những biến đổi của quận Ba Đình trên bản đồ hành chính
Kể từ khi định đô ở vùng đất giữa hai con sông vào năm 1010 cho đến trước năm 1945, trải qua hơn 9 thế kỷ vùng đất Ba Đình luôn giữ vị trí quan trọng của kinh thành Thăng long thời Lý, thời Trần, của Đông Kinh thời Lê, của
Hà Nội thời Nguyễn và trung tâm hành chính - chính trị quốc gia của thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quận Ba Đình phía bắc giáp quận Tây Hồ, phía đông giáp quận Hoàn Kiếm, phía nam giáp quận Đống Đa, phía tây giáp quận Cầu Giấy
Ba Đình vốn là tên một chiến khu ở Nga Sơn (Thanh Hóa) - một căn cứ chống Pháp nổi tiếng vào giữa thế kỷ XIX Sau cách mạng tháng Tám năm 1945
Ba Đình được đặt tên cho vườn hoa tại ngã sáu phía sau vườn Bách Thảo Trên mảnh đất này, ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước
ta vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Năm 1954, Thủ đô Hà Nội được giải phóng, đến năm 1959, tên gọi Ba Đình được đặt cho một trong tám khu phố nội thành Ngày 31/5/1961, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập khu phố Ba Đình trên cơ sở sáp nhập các khu phố Trúc Bạch, Ba Đình và ba xã nông nghiệp ngoại thành thuộc khu vực phía nam Hồ Tây Thời kỳ này Ba Đình được chia thành 50 khối; tháng 05/1968 sáp nhập thành 35 tiểu khu Năm 1981, khu phố Ba Đình đổi thành quận Ba Đình gồm 15 phường Thực hiện nghị định 69/CP, ngày 28/9/1995, các phường: Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ chuyển sang thuộc quận Tây Hồ Ngày 05/01/2005, Chính phủ ra Nghị định số 02/2005/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới các phường; Ngọc Hà, Cống Vị, Ngọc Khánh và thành lập thêm hai phường mới là Liễu Giai và Vĩnh Phúc
Ba Đình vốn là một miền đất gồm hầu hết những phường, thôn của huyện Vĩnh Thuận cũ Huyện Vĩnh Thuận dưới thời Lê Thánh Tông là huyện Quảng Đức (1469), đến năm 1865 đổi thành Vĩnh Thuận Trong đó có 12 thôn của tổng
Trang 18Yên Thành, 3 trong 7 phường của tổng Thượng, 9 trại của tổng Nội, 5 trong 6 phường của tổng Trung, 1 trong 7 phường của tổng Hạ Ở phía Tây Nam là khu vực thành cũ - thành Thăng Long - Hà Nội đã bị thực dân Pháp phá hủy cuối thế
kỷ XIX Khu thành này có từ xưa nằm ở hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận thuộc phủ Phụng Thiên
Như vậy quận Ba Đình gồm những khu vực có từ xa xưa, vẫn tồn tại tới bây giờ với những đặc điểm riêng: nằm ở phía nam Hồ Tây - khu vực mang tính thành thị, nằm ở phía đông khu vực hành chính tức khu kinh thành Thăng Long (sau là thành Hà Nội cũ) Do đó quận Ba Đình đã gắn liền với rất nhiều biến đổi lịch sử của Thủ đô và đất nước
* Những dấu tích địa văn hóa
Quận Ba Đình nằm ở khu vực bắc nội thành Hà Nội hiện nay Khung cảnh thiên nhiên của Ba Đình là cả một vùng sông hồ: ba mặt đều có sông hồ bao bọc, phía đông là sông Hồng, phía bắc là Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, phía tây là sông
Tô Hồ Trúc Bạch đã từng là nơi cư trú của những người sống bằng nghề chài lưới; nơi ngâm giữ tơ sợi, giặt lụa của làng lụa thời xưa Hồ Cổ Ngư là dấu vết của dòng sông Hồng cũ, thông ra hồ Trúc Bạch, chạy đến phố Hàng Than (nay
đã lấp) Dòng Hải Trì được đào từ năm 1481, chảy quanh co trong khuôn viên Bách Thảo Các hồ khác như hồ Ngọc Khánh, Giảng Võ, Ngọc Hà đã tô điểm cho vùng đất Ba Đình những cảnh sóng nước lung linh, huyền ảo và thơ mộng Ngoài hồ, còn đầm, như đầm Giảng Võ, đầm Cánh Hàn là những mảng nước lớn làm tăng vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên và tạo nguồn lợi cho địa phương
Sông Hồng còn gọi là sông Nhị Hà hay sông Cái chảy uốn lượn ở phía đông vùng đất Ba Đình, còn sông Tô ở giữa chảy từ đông sang tây rồi chuyển từ bắc xuống nam làm ranh giới tự nhiên với quận Cầu Giấy Sông Kim Ngưu mở cửa vào Hồ Tây (Kim Ngưu), chảy theo chiều bắc - nam tạo thành vùng đất Ngọc Hà, dọc theo đường Ông Ích Khiêm - Lê Trực (nay là cống ngầm) luồn qua đường Cát Linh chảy xuống Hào Nam
Nhị Hà quanh bắc sang đông
Trang 19Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
Tô Lịch, một con sông cổ của kinh thành Thăng Long, hai bên bờ là các phường buôn bán sầm uất của huyện Thọ Xương (nay thuộc quận Hoàn Kiếm)
và những phường nghề thủ công cổ truyền thuộc huyện Vĩnh Thuận xưa (thuộc đất Ba Đình ngày nay) Khách buôn xuôi dòng mạn bắc qua cửa Giang Khẩu, còn từ phía nam thì thuận dòng sông Đáy, sông Nhuệ vào kinh thành Thăng Long cũng qua cửa sông Tô Ngoài lợi thế cho khách buôn vận chuyển hàng bằng đường thủy, sông Tô Lịch còn là nguồn nước tưới tiêu cho những dải vườn rau bao quanh kinh thành Thăng Long
Ở cùng đất Ba Đình, dẫu không có non cao nhưng cũng có một số địa danh hay được nhắc đến, đó là núi Nùng, còn gọi là núi Long Đỗ - nghĩa là bụng rồng (vì tương truyền ở giữa núi có một lỗ thông xuống lòng đất nên dân gian mới quen gọi là núi rốn rồng) Đời vua Lý Thái Tổ (1009 - 1028), dựng chính điện ở trên núi Đời Lê, cũng xây cung điện Kính Thiên ở nơi này Núi hiện nay không còn, chỉ sót lại bốn thềm rồng đá là dấu vết điện Kính Thiên cũ Thơ văn cổ và
sử sách có ghi núi Nùng cùng với sông Tô được coi là núi - sông kinh thành Thăng Long, tượng trưng cho khí thiêng của cả đất nước Một ngọn núi đất thấp phía tây bắc thành Hà Nội cũ gọi là núi Khán, vì vào thời Lê, nơi đây vua thường tới ngự xem duyệt binh, do vậy mà thành tên Núi đã bị san bằng vào cuối thế kỷ XIX Vị trí núi Khán ở vào khoảng trước cửa Phủ Chủ tịch bây giờ Ngoài ra, trong khu vực các làng Vĩnh Phúc, Liễu Giai, Đại Yên, Vạn Phúc nằm giữa đường Thụy Khuê và Hoàng Hoa Thám, còn có các núi đất: núi Cung cao 18m, tương truyền điện Thái Hòa của nhà Lý dựng ở đây; núi Cột Cờ 13,5m; núi Voi 14m (nay thuộc địa phận Nhà máy bia Hà Nội), ở phía đông núi có Cột Cờ, núi Trúc 11m ở làng Vạn Phúc; núi Bò 8m; núi Sưa hay núi Xuân cao 10m, tên gọi vậy vì ở đây có nhiều cây Sưa và nằm trên đất thuộc làng Xuân Sơn, nay còn
ở trong khu vườn Bách Thảo
Điểm qua vài nét có thể thấy Ba Đình trước đây là một vùng non nước sông hồ hài hòa về phong thủy, tạo nên khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp của một
Trang 20vùng đại danh chốn đế đô xưa Tuy nhiên có thể thấy, về địa lý Ba Đình, sông
hồ vẫn là chủ đạo, nổi bật hơn núi non, thiên nhiên chủ yếu gắn chặt với yếu tố nước, là điều kiện tiên quyết cơ bản cho đời sống kinh tế cũng như các tín ngưỡng, tâm linh của người dân trong vùng
Ngoài ra, từ những di chỉ khảo cổ tiêu biểu được phát hiện và công nhận cho đến hàng loạt các di tích lịch sử văn hóa của các thời kỳ lịch sử đã khẳng định: trong cái nôi của nền văn minh sông Hồng, những cư dân Ba Đình đã xây dựng cho mình một bản sắc văn hóa trải qua hàng chục thế kỷ ở đất kinh kỳ, góp phần xây dựng nên một Thăng Long ngàn năm văn hiến, một mảnh đất Ba Đình lịch sử
- văn hóa với những di tích đã trở thành tiêu biểu của Thủ đô
Quận Ba Đình là nơi còn nhiều dấu vết của các thành quách thời cổ Đường Hoàng Hoa Thám, quãng từ Bách Thảo đến Bưởi hiện nay vẫn còn cao như một bờ đê, nhân dân Ngọc Hà, Đại Yên quen gọi đường này là đường Thành, còn nhân dân vùng Bưởi thì gọi rõ là thành nhà Lý Hoàng thành thời Lý
và thời Trần vốn cùng một chỗ Hoàng thành thời Lê tuy có mở rộng thêm nhưng chủ yếu vẫn trên nền cũ của hoàng thành Lý - Trần Đến khi nhà Nguyễn xây thành mới, mà di tích vẫn còn mảng thành Cửa Bắc phố Phan Đình Phùng, thì đó chỉ là tòa thành nhỏ, nằm lọt trong một phần đất phía đông của hoàng thành nhà Lê Như vậy, có thể nói rằng dấu vết của tất cả các thành Lý, Trần,
Lê, Nguyễn đều nằm ở địa bàn quận Ba Đình, và đây chính là khu vực cổ nhất
của Hà Nội
Trong vùng đất của quận Ba Đình còn có một vùng nông nghiệp cổ, gọi là Thập Tam trại Trong số các di tích của kiến trúc ở thời Lê, cần nhắc đến là núi Cung, núi Cột Cờ, núi Vạn Bảo, núi Voi; nằm hết trong vùng đất của các trại Núi Vạn Bảo tên tục gọi là núi Bò, xưa gồm cả một dãy nằm ngoằn ngoèo trên
bờ đầm Thủ Lệ, cây cối um tùm, tạo nên một cảnh lâm tuyền giữa chốn thị thành Hàng năm, dân Thập Tam trại mở hội rước bài vị thánh Linh Lang đi theo dãy núi Vạn Bảo, muốn kiệu thăng bằng, những người khiêng phải khom người xuống mà bò nên có tên tục là núi Bò
Trang 21Trước đây, bên mép phải đường Kim Mã đi Sơn Tây, sát bờ đầm còn có ngôi chùa cổ, ngoài cửa có đề ba chữ “Chân giáo tự” Đó chính là di tích ngôi chùa Chân Giáo mà ông vua bất đắc chí thời tàn Lý là Huệ Tông đã tới tu hành Nay chùa đã biến thành ngôi đền nhỏ ít ai để ý Núi Voi ở tại Đại Yên, sở dĩ còn gọi là núi Thái Hòa vì thời Lý, đây là đất phường Thái Hòa, nơi có cư xá của quan thái úy Lý Thường Kiệt, người anh hùng dân tộc, đánh giặc giỏi, ngoại giao tài Lý Thường Kiệt vốn là người làng An Xá, thuộc khu vực phố Yên Ninh ngày nay Sau làng chuyển ra bãi sông để lấy đất xây kinh đô mới đổi tên thành
Cơ Xá Lý Thường Kiệt vốn họ Ngô tên Tuấn, tự là Thường Kiệt, sau nhờ tài năng và đức độ, trở thành võ tướng mưu lược, được nhà vua tin dùng, ban cho
họ Lý
Nhiều danh nhân nổi tiếng của kinh đô và cả nước đã sinh trưởng hoặc cư trú ở vùng đất này Dưới triều Trần, một số danh nhân văn học, quân sự thuộc tôn thất nhà Trần như Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn - người được cả thế giới đánh giá là một “thiên tài quân sự”, hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh tan
quân Nguyên Mông hùng mạnh xâm lược, đồng thời là tác giả của Binh thư yếu
lược và Hịch tướng sĩ nổi tiếng khích lệ lòng quân, đôn đốc vương hầu, binh sĩ xả
thân tận trung cứu nước Chiêu minh đại vương Trần Quang Khải ngoài tài cầm
quân còn để lại cho đời bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư đầy khí phách viết lúc khải hoàn, tập thơ Lạc đạo và một số bài còn tìm thấy trong Toàn Việt thi lạc và
Hoàng Việt thi tuyển Trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh xâm
lược, bên cạnh Bình Định vương Lê Lợi còn có một vị quân sư là linh hồn của
nghĩa quân, đó là Nguyễn Trãi - nhà văn hóa lớn của dân tộc, là tác giả của Bình
Ngô đại cáo vang cổ lừng kim, được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau Nam quốc sơn hà Khi làm quan dưới triều Lê, ông cũng đã từng có thời gian trú
chân ở vùng đất thuộc Hồ Tây, Ba Đình Thời Lê có vua Lê Thánh Tông, một vương quân có tâm hồn thi sĩ, chủ soái hội Tao Đàn - gồm 28 nhà thơ nổi tiếng đương thời Sang đến thời Lê Trung Hưng, phường Công Bộ (nay thuộc phường Thành Công) là quê hương của Trương Đình Tuyên nổi tiếng hay chữ, tác giả
Trang 22cuốn Hàn các quyết khoa thi tập, đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Mùi, từng cai quản Quốc Tử
Giám, dạy nhiều học trò thành tài Đầu triều Nguyễn, có Lý Văn Phúc, quê ở phường Hồ Khẩu, là nhà văn giỏi cả chữ Hán và chữ Nôm Phường Hồ Khẩu
cũng là quê của Nguyễn Văn Giai, tức Ba Giai, tương truyền là người viết Hà
Thành chính khí ca Ngoài ra, trên địa bàn quận Ba Đình còn có Trình quốc công
Nguyễn Bỉnh Khiêm, danh sĩ đời Mạc, còn gọi là Trạng Trình, có tài văn chương, tinh thông lý học và tướng số, được xem là nhà tiên tri số một của Việt Nam
Từ đường Kim Mã ra Cầu Giấy, gặp đường đê La Thành, Bưởi, Giảng Võ cắt ngang Ở ngã ba, mé phải có ngôi đền Voi Phục trên bờ đầm Thủ Lệ, là ngôi đền trấn giữ phía tây trong “Thăng Long tứ trấn” Từ Cầu Giấy rẽ về phía đường Láng vài trăm mét là Chiêu Thiền Tự hay Chùa Láng, xây dựng từ thế kỷ XII thời Lý, nằm trong khuôn viên rộng rãi cây cối um tùm, xưa được coi là “Đệ nhất tùng lâm”, cổ kính bậc nhất của Thăng Long
Phía gần Hồ Tây có một khu vực toàn cây cao bóng cả và những cây quý
cổ thụ, đó là vườn Bách Thảo, có trại Bách Thú Trong vườn có một hồ nước nhỏ hình tròn, giữa hồ có đảo Con Nhện, bên hồ có núi Sưa, sau núi có miếu Xuân Thảo Mé tây vườn có “Khán Xuân từ” Vườn Bách Thảo nằm trên đất thôn Khán Xuân, giáp liền với các trại Ngọc Hà, Hữu Tiệp chuyên trồng hoa, tục gọi là trại Hàng Hoa Phường Khán Xuân là nơi sinh trưởng và thường trú của
nữ sĩ Hồ Xuân Hương - “Bà chúa thơ Nôm” lừng lẫy kinh thành Khi thực dân Pháp xâm chiếm Hà Nội, đã san bằng núi cùng thôn Khán Xuân để xây Phủ toàn quyền Thôn Khán Xuân ngoảnh mặt ra Hồ Tây là nơi sơn thủy hữu tình, đời chúa Trịnh Giang thường cho đám nội thần và các cung nữ tới khu ly cung này
mở chợ bán hàng, hát múa làm vui Tương truyền những đêm hội chợ, vùng Khán Xuân treo đèn đốt nến sáng rực cả góc kinh thành, “Chợ đêm Khán Xuân”
là đề tài ngâm vịnh trong tập thơ “Tây Hồ bát cảnh” thời Lê
Một di tích khác của quận Ba Đình là đền Quán Thánh, ngôi đền trấn giữ phía Bắc trong “Thăng Long tứ trấn” Ở gần đó là ngôi chùa cổ Trấn Quốc, đã
có thuở là hành cung của vua chúa ngự xem Hồ Tây
Trang 23Gần đến dốc Yên Phụ, phía bên phải đường Thanh Niên, nhìn vào hồ Trúc Bạch còn thấy một ngôi đền dựng trên đảo nhỏ, mà một số người vẫn tưởng là nơi thờ thủy thần Ngôi đền bé nhỏ không gợi sự chú ý của mọi người song kỳ thực vốn là đền Thần Cẩu Nhi, được lập từ thời Lý và có liên quan mật thiết với
ông vua khai sáng Thăng Long Sách Tây Hồ chí và truyền thuyết dân gian đều
cho rằng khi vua Lý Thái Tổ định đô Thăng Long, được biết chuyện có con chó trắng ở châu Cổ Pháp, quê vua, vượt sông Cái sang lót ổ đẻ con trên đỉnh núi Khán, nhà vua theo tín ngưỡng dân gian cho đó là điềm lành, bèn cho lập miếu Thần Cẩu Mẫu trên núi này và cho lập miếu Thần Cẩu Nhi trên bến Châu Chử
(bến Ngọc Trai), tức ngôi miếu nhỏ này Cũng theo Tây Hồ chí, bến Châu Chử
thời Trần còn được gọi là bến Thần Cẩu, còn tên hồ Trúc Bạch là tên gọi về sau, tức là gọi theo tên thôn Trúc Bạch thời Lê - Trịnh
Giáp hồ Trúc Bạch, khoảng các phố Quán Thánh, Phó Đức Chính xuống đến tận Hàng Than, xưa là vùng hồ Cổ Ngựa, ngôi đền Lăng Linh ở Hàng Bún, chính là một di tích trên bờ hồ Cổ Ngựa xưa còn lại đến nay Tục truyền hồ này
có giống trai rất kỳ lạ, ở nước ngọt mà lại sinh ra ngọc, do đó vào thời Lý có địa danh Châu Chử (bến Ngọc Trai) để chỉ một bến nước của hồ này Theo dốc Phó Đức Chính đi xuống phía hồ Trúc Bạch và bán đảo Ngũ Xã, nay là phố Ngũ Xã, còn thấy chùa Thần Quang, nơi thờ tổ sư nghề đúc đồng
Trong quận Ba Đình hiện nay còn di tích thành nhà Nguyễn, nằm ở khu phía đông Phủ Chủ tịch Nhưng các công trình kiến trúc trong thành đã bị phá hết, chỉ may mắn còn sót lại một mảng thềm đá của điện Kính Thiên Thềm có chín bậc, hai thành giữa chạm hình rồng uốn khúc đang trườn mình từ trên điện xuống, đầu to vươn cao, mắt lồi, một chân rồng như đang vuốt râu, trông linh hoạt, sắc sảo, có thể coi như một tác phẩm điêu khắc có giá trị của thời Lê sơ Khu Cột Cờ hiện nay có thêm Bảo tàng quân sự Việt Nam Mặt trước xưa có hồ Voi, sau này hồ bị lấp và trở thành vườn hoa Chi Lăng, nay là nơi đặt tượng đài V.I.Lê-nin Dọc theo đường thành phía tây là đường Hùng Vương, khoảng giữa
là khu quảng trường Ba Đình lịch sử Giữa quảng trường là lăng Chủ tịch Hồ
Trang 24Chí Minh, một công trình kiến trúc của dân tộc vừa hiện đại vừa có giá trị nghệ thuật cao vừa có ý nghĩa chính trị sâu sắc Lăng được tạo dáng theo kiểu hình hoa sen cách điệu, tượng trưng cho khí tiết và phẩm chất cao đẹp của Bác Hồ Đằng sau lăng Bác Hồ còn có chùa Một Cột vốn được xây dựng trong khu vườn Tây Cấm thời Lý Chùa đã bị tu sửa qua nhiều đời song vẫn giữ được những đặc điểm riêng của kiến trúc Đại Việt thời cổ Năm 1945, trước khi rút khỏi Hà Nội, bọn Pháp đã cho tay sai đặt mìn phá hủy chùa Ngay sau khi tiếp quản Thủ đô, Chính phủ ta đã cho dựng lại chùa như cũ Công việc được làm liên tục suốt trong mấy tháng và đến tháng 4 năm 1955 thì hoàn thành Trước chùa còn có một cây bồ đề từ đất Phật, do Chính phủ Ấn Độ mang sang tặng Hồ Chủ tịch năm 1958, thể hiện tình cảm hòa bình hữu nghị của nhân dân Ấn Độ với nhân dân ta
* Văn hóa làng nghề
Trải qua bao năm tháng, người dân Ba Đình luôn cần mẫn, tài hoa trên mảnh đất thấm đượm mồ hôi và nước mắt đã tạo dựng nên các phường nghề truyền thống, vừa là hội tụ tinh hoa văn hóa đặc trưng, vừa cải thiện đời sống kinh tế
- Nghề nông
Xưa kia, “phía Tây thành Thăng Long là một vùng đầm lầy cỏ rậm cũng dần được khai phá, trở thành một khu nông nghiệp phát triển” [55, tr.62] Đây là vùng nông nghiệp của kinh thành từ thời Lý, chạy dài từ cửa Tây đến sát đường
đê La Thành, còn gọi là Thập Tam trại, bao gồm các trại của Tổng Nội huyện Quảng Đức (Vĩnh Thuận) xưa: Liễu Giai, Giảng Võ, Đại Yên, Thủ Lệ, Cống Vị, Hữu Tiệp, Vạn Bảo (Vạn Phúc), Cống Yên, Ngọc Hà Sau này thêm Vĩnh Phúc, Ngọc Khánh, Kim Mã, Xuân Biểu, Hào Nam [69, tr.202] Có thể coi là khu nông nghiệp truyền thống của Hà Nội cổ, vì đến thời Nguyễn, khu vực này vẫn được gọi là “sại” hay “trại”, chứ chưa bao giờ được gọi là phường hay phố cả Thập tam trại là vùng nông nghiệp thuần túy dựa trên cơ sở chế độ công hữu
Trang 25hoàn toàn về ruộng đất với các hình thức tổ chức sản xuất mang nặng tính chất
cổ truyền Tuy nhiên hiện nay, theo nhiều nhà nghiên cứu, con số 13 này mang tính ước lệ, Thập Tam trại chỉ là địa danh, ra đời muộn chứ không hẳn là 13 trại khai hoang từ thời Lý vì qua thời gian, tên và số lượng các trại cũng thay đổi Quá trình khai khẩn, một số trại như Vĩnh Phúc, Kim Mã, Giảng Võ có nhiều ruộng đất, nên nhiều gia đình đã đến làm nhà trên các cánh đồng xa làng để tiện canh tác Do đó hình thành các trại Vạn Phúc Thượng (trước đây là Vạn Bảo), Vạn Phúc Hạ, Kim Mã Thượng, Kim Mã Hạ, Giảng Võ và Bảo Khánh Làm nghề nông ở Ba Đình xưa còn có làng Thành Công, tức phường Nhược Công (Công Bộ cũ) tổng Hạ, huyện Vĩnh Thuận Làng này vừa giỏi nghề nông, vừa giỏi nghề dệt một thời nhờ công của hai vợ chồng Đoàn Thưởng, người huyện Thanh Lâm (nay thuộc tỉnh Hải Dương) Đoàn Thưởng từng làm đến chức Tả thị lang Chưởng Công bộ, vợ là Liễu, giỏi nghề dệt, lại biết chữ Làng lập đền thờ hai vợ chồng ông
- Nghề trồng thuốc
Trong khu Thập Tam trại có trại Đại Yên nổi tiếng nghề trồng thuốc Cho đến bây giờ, ngay cả những bậc cao niên trong làng cũng không nhớ rõ nghề thuốc nam Đại Yên có từ bao giờ và đến từ đâu Có người cho rằng, nghề trồng
và bán cây thuốc nam ở Đại Yên có từ thời Lý, xuất phát từ việc phải cung cấp
lá thuốc dùng để chữa bệnh trong cung đình mà thành Về nguồn gốc, cây thuốc Đại Yên ra đời cùng với quá trình dân làng Lệ Mật sang đây khai phá đất đai từ thời Lý Làng Lệ Mật vốn có nghề truyền thống là bắt rắn, nên người dân khá thành thạo với những bài thuốc dân gian chữa rắn cắn Khi sang Đại Yên, họ đã học thêm một số bài thuốc khác mà dần thành một làng nghề Dù bắt nguồn từ đâu thì nghề thuốc nam ở Đại Yên cũng được khẳng định là có từ lâu đời Người dân Đại Yên không chỉ trồng cây thuốc mà còn đi hái thuốc trong tự nhiên, bốc thuốc để bán Hầu hết các cây thuốc nam Đại Yên được trồng vào mùa xuân Người dân Đại Yên trồng các loại cây thành luống: cây gốc to lâu năm, cây gốc nhỏ, cây thành khóm, cây leo giàn Do đất làng ít, trồng thuốc không đủ bán
Trang 26nên người dân phải đi hái thuốc Công việc hái thuốc bắt đầu từ 5 giờ sáng đến
12 giờ trưa Hầu hết đi chợ bán lá là phụ nữ, đàn ông nhiều người không theo nghề này vì cho rằng nghề thuốc nam gắn liền với đi chợ Họ chỉ làm vườn, cắt thuốc, xao thuốc Người Đại Yên quan niệm nghề thuốc nam không giàu nhưng
là nghề làm phúc nên không thể bỏ
- Nghề trồng hoa
Người đất kinh kỳ thanh lịch, vốn yêu hoa và thú chơi hoa, chơi cây cảnh
Sách Tây Hồ chí có nhắc tới những ấp trại bên cạnh hồ đều có nghề trồng hoa và
bán hoa Mỗi làng chuyên trồng một thứ hoa Thời Lê trong khu Thập Tam trại
có trại Ngọc Hà trồng nhiều hoa Sách Cương mục nói tới Hoàng hoa thị (chợ
hoa cúc) ở trại Ngọc Hà Hoa Ngọc Hà sau phát triển sang Hữu Tiệp và vẫn nổi
tiếng đến nay về nghề trồng hoa: đất Ngọc Hà, hoa Hữu Tiệp Theo kí ức dân
gian, xưa các trại Ngọc Hà, Hữu Tiệp là nơi có nhiều sông hồ, nằm sát kinh thành, nhiều quan lại khi nghỉ hưu thường về đây dưỡng lão Họ lập nhiều vườn hoa, trồng cây cảnh Những người phục dịch phần lớn là dân địa phương chuyên trồng, ươm, cắt, tỉa và cứ như thế, qua thời gian, nghề trồng hoa trở thành truyền thống, nguồn sống chính của cư dân Ở Ngọc Hà, Hữu Tiệp, do đất ít, nhà và vườn trồng hoa đan xen, trồng hoa thay đổi mỗi năm một loại để tránh tình trạng hoa “thuộc đất” sẽ không đẹp, không thơm Hoa Ngọc Hà – Hữu Tiệp chủ yếu là hoa cúng Mỗi gói hoa cúng tùy theo mùa có 5-7 loại, có hương thơm như ngọc lan, huệ, móng rồng, bưởi, ngâu, sói, lý…, được gói trong những chiếc lá giong giềng hay lá chuối khô, buộc lạt vuông vức, vừa giữ được hương thơm, vừa giữ cho hoa tươi lâu Sau này khi Pháp vào, người Ngọc Hà học thêm cách trồng hoa ngoại như cẩm chướng, bướm, păng sê, lay ơn Vào ngày lễ tết, đến Ngọc
Hà - Hữu Tiệp mới thấy “trên là giời, dưới là hoa” Người Ngọc Hà - Hữu Tiệp còn đặc biệt tinh tế khi biết dùng những loại hoa thơm khác nhau ướp chè, bột sắn Kinh nghiệm truyền đời là hoa sen, sói, ngâu, nhài để ướp chè, hoa bưởi ướp bột sắn, ướp mía… làm nên hương vị đặc trưng của các món ăn
- Nghề đúc đồng
Trang 27Một nghề rất đặc sắc là nghề đúc đồng Hà Nội có hai nơi đúc đồng: Lò Đúc thuộc quận Hai Bà Trưng và Ngũ Xã (Ba Đình) Nhưng nghề đúc đồng ở phố Lò Đúc chỉ còn đọng lại tên phố và chùa Tổ Ông có bài vị thờ ông tổ nghề, còn ở Ngũ Xã, việc hành nghề đúc vẫn được duy trì đến ngày nay Tổ sư nghề đúc đồng Ngũ Xã là thần tăng Nguyễn Minh Không, được thờ tại chùa Thần Quang dựng từ thế kỷ XVIII Gọi là Ngũ Xã vì hồi cuối Lê có năm xã làm nghề đúc đồng ở Kinh Bắc (Bắc Ninh) được vua gọi sang khu vực này để đúc tiền cho quốc khố, sau lập nghiệp, chuyên đúc các loại đồng để bán ở Kẻ Chợ Thời ấy
nghề nghiệp phồn thịnh, các lò đúc ngày đêm rực lửa, như Phú tụng Tây Hồ
(Nguyễn Huy Lượng) đã tả: “Lửa đóm ghen năm xã gây lò” Thợ đúc Ngũ Xã đúc tiền, đúc chuông, đúc các đồ tế tự rồi đến những vật dụng hàng ngày với kỹ thuật đúc đạt trình độ rất cao
Ngũ Xã tràng là tác giả của pho tượng đồng giá trị vào loại nhất ở nước ta
Đó là pho tượng Thánh Trấn Vũ bằng đồng đen đời Lê Hy Tông cao 3,72m, nặng 4 tấn, cùng thời với công trình nghệ thuật này còn có quả chuông đồng cao gần 1,5m treo ở Tam quan đền Ngoài ra, ở chùa Thần Quang cũng nổi bật với pho tượng đồng Di Lặc và câu chuyện nguồn đồng đúc tượng lý thú Nguyên vào năm 1945 tại Hà Nội, nhân dân ta đã hạ bỏ một loạt các tượng đồng Pôn-be, Đầm xòe, Giăng-đuy-puy ở mấy vườn hoa đem bỏ vào kho Sở Lục Lộ Đến khi đúc tượng Phật, thì số tượng đồng đó đã được lôi ra để cùng nấu với các đồ đồng quyên góp của đồng bào Hà Nội Vì thế pho tượng Di Lặc nặng tới ngót 12 tấn, cao gần 4m, chu vi gần 13m, tòa sen có 56 cánh, riêng tòa sen đã dùng tới 1 tấn
60 tạ đồng Pho tượng được đúc từ năm 1949 đến năm 1952 mới xong Đó là pho tượng lớn nhất miền Bắc lúc bấy giờ Trên đây là những minh chứng cho nghệ thuật tạc tượng đúc đồng đạt tới đỉnh cao ở nước ta, qua đó khẳng định tài hoa của các nghệ nhân làng nghề đúc đồng Ngũ Xã xưa và nay
- Nghề dệt
Trong các nghề, đáng chú ý nhất là nghề dệt Lĩnh Bưởi là mặt hàng được
ưa chuộng nhất “Lĩnh Bưởi, lụa Nga, là Sốm” là sản phẩm của ba tỉnh khác
Trang 28nhau nhưng lĩnh Bưởi của phường Trích Sài, Bái Ân, Yên Thái nổi tiếng hơn cả Còn lụa làng Trúc lại rất đẹp:
Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng
May áo chàng cho sóng áo em
Lụa được mang tên Trúc Bạch (lụa làng Trúc) Cái tên này được đặt cho tên hồ vẫn còn đến ngày nay
- Nghề làm giấy
Ở các phường nghề thủ công lại lưu truyền những truyền thuyết về các ông
Tổ nghề Ví dụ như chuyện về ông Tổ nghề giấy đã lần lượt đi dạy cho các làng ven sông Tô học làm giấy, mỗi làng làm một loại giấy Vùng Bưởi có nghề làm giấy dó ở phường Yên Thái, phường Hồ Khẩu Ngoài ra, giấy còn làm ở Yên Hòa, Nghĩa Đô Mỗi làng sản xuất một loại giấy riêng: giấy moi, giấy bản thô làm ở Yên Hòa, giấy đẹp và đắt tiền nhất là giấy sắc (để viết các sắc phong của triều đình) sản xuất ở Nghĩa Đô Ở Yên Thái, Hồ Khẩu thì làm giấy bản, hàng tốt để viết và in sách; tốt nhất là giấy lụa, giấy lệnh Loại giấy gùi đặc biệt rất mỏng và dai của làng Đông Xã chuyên sản xuất cho làng Cầu Cậy (Gia Lâm) dùng để dát vàng quỳ
Hai nghề dệt và làm giấy đã có từ lâu Sử sách thời Lý - Trần đã nhắc tới
Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi đã coi giấy và vải lụa là hai sản phẩm đáng chú
ý nhất của đất Thượng Kinh
Ở đất kinh kỳ, kinh tế hàng hóa sớm phát triển, đặc biệt là nhân dân đã phát huy khả năng của đôi bàn tay tài hoa với nhiều nghề thủ công cổ truyền lâu đời nổi tiếng sản xuất ra những sản phẩm có giá trị kinh tế và mỹ thuật cao Bên cạnh nghề đúc đồng, nghề dệt, nghề làm giấy còn có nghề nung vôi ở Thạch Khối, làm bún ở Yên Ninh Vạn Phúc, Thủ Lệ có nghề làm bánh đa nem từ xa xưa cho đến mãi gần đây Vùng Thụy Khuê - Hoàng Hoa Thám có mạch nước tốt, xa xưa nước ở đây được dùng làm rượu sen để cung tiến vua Khi thực dân Pháp đô hộ, thấy mạch nước này làm bia tốt nên đã chuyển sản xuất rượu sang
Trang 29nơi khác để lấy địa điểm đó xây dựng nhà máy bia, chính là Nhà máy bia Hà Nội, nay là Tổng công ty bia rượu, nước giải khát Việt Nam
1.2.2 Không gian văn hoá tại các điểm phụng thờ thánh Linh Lang
Trước đây Thủ Lệ thuộc phủ Ứng Thiên, kinh thành Thăng Long Năm
1469, vua Lê Thánh Tông đổi tên phủ Ứng Thiên thành phủ Phụng Thiên gồm hai huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức Trại Thủ Lệ lúc đó thuộc Tổng Nội, huyện Quảng Đức
Sau khi thực dân Pháp chiếm được toàn bộ nước ta (1884) và lập xong bộ máy cai trị trên toàn cõi Đông Dương (1887), thì ở Hà Nội, chúng lập ra khu vực ngoại thành, Thủ Lệ được gọi là thôn Thủ Lệ thuộc Tổng Nội, huyện Hoàn Long
Năm 1915, toàn bộ huyện Hoàn Long được cắt về tỉnh Hà Đông Từ đó, thôn Thủ Lệ thuộc tỉnh Hà Đông Đến cuối năm 1942, huyện Hoàn Long lại được cắt trả lại Hà Nội, lấy tên là Đại lý đặc biệt Hà Nội Thủ Lệ thuộc tổng Nội, ngoại thành Hà Nội
Từ ngày 01/7/1997, theo Nghị định số 74 của Chính phủ, phường Cầu Giấy đổi tên thành phường Ngọc Khánh gồm Thủ Lệ, Ngọc Khánh, phố Cầu Giấy và các khu tập thể trong khu vực
Thủ Lệ nằm ngay bên bờ sông Tô Lịch, sông Nhuệ, xa hơn là Hồ Tây, sông Hồng, xung quanh là đầm hồ nối tiếp nhau Khi chưa đắp đê và đắp thành Đại La, người ta có thể dùng thuyền đi từ sông Hồng qua Hồ Tây vào cập bến Long Thủ Vết tích còn lại chính là cổng làng Thủ Lệ, xưa gọi là bến Cũng vì đặc điểm nêu trên mà đất làng Thủ Lệ ít, ruộng thì gần như không có Ruộng ít lại chỉ cấy được một vụ nên cuộc sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Tuy vậy,
Trang 30Thủ Lệ lại là một trong những trại tập trung nhiều ao, đầm, hồ Ngoài nguồn sống từ nông nghiệp, người dân phải dựa đáng kể vào việc khai thác thủy sản, thậm chí đây là nguồn sống chính Hầu hết cư dân trong làng sống bằng nghề đánh giậm, mò cua bắt ốc men theo các dòng sông và trên các đầm hồ Trai đinh lớn lên được chia trên dưới một sào đầm Xưa kia đầm rất nông, có thể cấy được một vụ chiêm Câu ca nổi tiếng nói về nghề sinh sống của dân Thủ Lệ còn truyền lại là “ba rô chín tiền” (tính lần hồi thường nhật, mỗi ngày ra đi kiếm cá, cua, có cá mới có tiền) Ngư nghiệp với hình thức đánh bắt thô sơ là một đặc điểm kinh tế nổi bật của cư dân Thập Tam Trại nói chung và Thủ Lệ nói riêng Như vậy, cuộc sống của dân Thủ Lệ xưa hoàn toàn dựa vào nước sông, hồ; đói
no, may rủi đều từ nguồn nước Vật lộn để tồn tại, để mưu sinh vì nguồn sống phụ thuộc vào thiên nhiên, luôn phải không ngừng phấn đấu cho bữa ăn thường nhật, cư dân nơi đây đã có những biện pháp để hỗ trợ nhau Công việc mò cua bắt ốc, đánh giậm lại càng cần sự đoàn kết, tương trợ Những phường đánh giậm được thành lập và duy trì hoạt động nhằm mục đích ấy
Trong nhiều thế kỷ, Thủ Lệ cùng dân Thập Tam trại còn là một trong những nơi cung cấp lương thực, thực phẩm rau quả cho Kinh thành
Kể từ đó mười ba làng trại
Được ra đời cùng với lúa hoa
Ao sâu bè muống mượt mà
Xanh xanh rặng nhãn, hồng, na trĩu cành
Trước thời kỳ đổi mới, Thủ Lệ là nơi trồng rau cung cấp cho thành phố và
có nghề tráng bánh đa nem rất phát triển Thủ Lệ trấn giữ phía tây kinh thành, vì vậy, khi có chiến tranh, đây là một địa điểm quan trọng Có nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra ở đây Trận đánh quân Pháp ngày 21/12/1873 do Tôn Thất Thuyết chỉ huy đánh cùng quân Cờ đen, tại cửa đền Voi Phục, quan hai Pháp Ban-uy đã
tử trận cùng ngày với quan ba Gác-niê
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), Thủ Lệ là khu vực ngoại thành đã tích cực và chủ động tham gia kháng chiến: hướng dẫn dân đi sơ
Trang 31tán; vận chuyển, cứu chữa thương binh; tiếp tế đồ ăn, thức uống cho mặt trận nội thành…
Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đền Voi Phục trở thành Sở chỉ huy của bộ đội phòng không Các gia đình ở Thủ Lệ đã thu xếp chỗ ăn ở cho bộ đội về đóng quân Nhân dân Thủ Lệ còn góp sức cùng bộ đội đào đắp trận địa chiến đấu
Qua quá trình phát triển hàng nghìn năm nay, đặc biệt là quá trình đô thị hóa trong thế kỷ XX, điều kiện tự nhiên và xã hội của Thủ Lệ đã có nhiều thay đổi Ngày nay, cùng với quá trình đô thị hóa diễn ra ồ ạt, những ngôi nhà hiện đại mọc lên thay thế ngôi nhà truyền thống làm thay đổi hoàn toàn diện mạo kiến trúc nơi đây Thời xưa, cả trại chỉ có một nhà hướng bắc, một nhà hướng nam, còn lại tất cả đều theo hướng đông nam Cư dân nơi đây rất coi trọng hướng nhà Đến nay, trong điều kiện xây dựng nhỏ khó chủ động chọn được hướng nhà thì người ta đặc biệt quan tâm đến hướng bếp, thường chọn hướng đông, đón ánh sáng mặt trời
Nằm ở vị trí cửa ngõ phía tây của Thủ đô, Thủ Lệ chứng kiến nhiều biến
cố của lịch sử Dân làng Thủ Lệ bao đời nay luôn tự hào về truyền thống văn hóa lịch sử của mình, đặc biệt là về đền Voi Phục, một trong Tứ trấn của kinh thành Thăng Long xưa
* Vạn Bảo
Làng Vạn Phúc xưa có tên là Vạn Bảo Đây nguyên là tên một ngọn núi thấp trong hệ thống núi dài của khu vực phía Tây thành Thăng Long Làng Vạn Phúc hiện nay đất rộng nhưng lại kẹt vào giữa hai dải hồ, một hồ lớn và một hồ nhỏ và là những hồ dài: hồ lớn ở phía Bắc có tên là đầm Cây Khế và hồ nhỏ hơn
ở phía Nam dọc theo đường Sơn Tây có tên là hồ Trước Cửa Khi phố Tây Sơn
mở mang, nhiều nhà cửa mọc lên san sát dần kín mặt đường phố thì hồ Trước Cửa cũng bị lấp dần, chỉ còn là một đường thoát nước nhỏ
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, tên làng xưa luôn gắn với tên gọi Vạn Bảo Năm 1889, Thái tử Bửu Lân lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thành
Trang 32Thái Trong chữ Hán, chữ Bửu và chữ Bảo tuy không đồng âm nhưng đồng tự,
cả hai chữ đều có nghĩa là của báu Tên làng Vạn Bảo có chữ “Bảo” phạm húy vua, nên phải đổi tên làng là Vạn Phúc (Vạn sự hạnh phúc) Làng Vạn Bảo có thể nói là một trong những làng to nhất trong thập tam trại và xây dựng đình
chùa sớm nhất
Ngày đầu dân nghèo theo ông Lệ Mật sang phía tây thành Thăng Long lập nên trại Vạn Bảo, khoảng gần 20 hộ, phần lớn có quan hệ họ hàng với nhau trong năm dòng họ: Nguyễn, Trương, Phạm, Trịnh, Thái Trong đó có bốn dòng
họ gốc Lệ Mật
Vạn Bảo thời Lý thuộc phủ Ứng Thiên, sang thời Lê Thánh Tông (1469) nằm trong Tổng nội huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên, sang thời Nguyễn Gia Long (1805), thuộc huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức Năm 1899 thời Pháp lập huyện ngoại thành, thuộc huyện Hoàn Long, sau là Đại lý Hoàn Long
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tháng 12/1945 thuộc ngoại thành Hà Nội Tháng 02/1957 thuộc khu phố Ba Đình, sau là quận Ba Đình - Hà Nội
Vạn Bảo xưa có bốn giáp là Giáp Thượng, Hạ, Trung, Nam, sau gọi là bốn xóm là xóm Bắc (nay thuộc phường Đội Cấn), xóm Thượng (nay thuộc phường Cống Vị), xóm Trong và xóm Ngoài (nay thuộc phường Kim Mã)
Vạn Bảo ở vị trí trung tâm của Thập Tam Trại Đây là trại có tổng diện tích các loại ruộng đất khá lớn Một đặc điểm nữa của Vạn Bảo là có nhiều dải đầm,
hồ, ao nên ngoài nghề trồng lúa và hoa màu, rau xanh, Vạn Bảo còn nổi tiếng với nghề thả muống bè Muống bè Cây Khế, gạo dé thơm, gạo nếp hoa vàng là những nông sản nổi tiếng của Vạn Bảo Theo các cụ già ở đây kể lại, rau muống bè Vạn Bảo chính là rau muống mà Trạng Quỳnh tiến Chúa Trịnh sau khi cho ngài chờ đợi xơi món “mầm đá” Không biết thực hư câu chuyện ra sao nhưng điều đó cũng chứng tỏ nghề thả muống bè nói riêng và nông nghiệp nói chung của Vạn Bảo khá phát triển và là ngành nghề chủ yếu của trại
Trang 33Đánh giá theo mặt bằng chung thì Vạn Bảo là một trại nghèo, đời sống kinh
tế kém phát triển nhưng truyền thống học tập lại rất được chú trọng Dưới thời
Nguyễn, theo Hà Nội di tích văn vật, Vạn Bảo có một người đỗ Phó bảng, hai
người đỗ cử nhân Thời Pháp, năm 1927 cả làng có ba người đỗ tiểu học Làng
có một trường sơ học (ecole élémentaire) xây tại Đình Từ sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt từ năm 1954 trở lại đây nhiều gia đình có con em đỗ đạt và giữ nhiều cương vị cao trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đất nước
* Kim Mã
Làng Kim Mã gốc là một xóm của thôn Liễu Giai Theo truyền thuyết, nguồn gốc của làng Kim Mã là một số dân nghèo làng Lệ Mật được quan Thái giám Nguyễn Quý Công đưa sang khẩn hoang, lập trại Mới đầu có bốn họ sang khai phá là họ Nguyễn, họ Trần, họ Phạm, họ Ngô Khi mới thành lập, dân tập trung ở giáp Đông, giáp Trung Do ruộng đất ít nên dân phải kéo nhau lên mạn trên Vạn Bảo để sống, nhiều gia đình phải chuyển lên những cánh đồng xa khai phá Trại Kim Mã đất hẹp, phía Bắc giáp với trại Vạn Bảo, phía Tây giáp với trại Giảng Võ, phía Đông giáp làng An Trạch, phía Nam giáp trại Hào Nam Sau đó,
có một số hộ dân chuyển lên xóm mới, phía Nam, phía Đông giáp cánh đồng trại Vạn Bảo, phía Tây giáp trại Cống Vị, phía Bắc giáp trại Liễu Giai, thành một giáp mới của làng Kim Mã gọi là giáp Thượng, hay Kim Mã Thượng Kim Mã Thượng ngày nay thuộc phường Cống Vị, quận Ba Đình, nằm trên một vùng đất
cổ do phù sa sông Hồng bồi đắp Ở khu vực này, phần lớn là ruộng trũng, mỗi năm chỉ cấy được một vụ với điều kiện canh tác lạc hậu, năng suất thấp Trại chỉ chuyên làm nghề nông, hầu như không có nghề thủ công Đời sống vật chất của đại đa số nhân dân còn rất nghèo khổ, phải lo kiếm ăn hàng ngày Làm nông nghiệp thuần tuý không đủ sống
Sang thời Lý, do vị trí ở gần kinh thành, triều đình phong kiến chọn khu vực này làm pháp trường để hành hình những phạm nhân bị xử trảm Sau đó, đất của làng được dùng làm nơi nuôi ngựa của hoàng cung và phục vụ cho những kỳ
Trang 34luyện quân, thi đấu của điện Giảng Võ thời Lý Trần nên làng còn có tên gọi là
“trại Mã” hay “Mã trại”
Đến thời Tây Sơn, đất Kim Mã được dùng làm nơi an táng các nghĩa binh Tây Sơn đã hy sinh trong chiến trận Đống Đa lịch sử
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trại Kim Mã được đổi thành xã Kim Mã, thuộc tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận
Đầu thế kỷ XX, Kim Mã được đổi tên thành thôn Kim Mã
* Ngọc Khánh
Cũng như các trại khác, thời Lý, Ngọc Khánh thuộc Tổng Nội, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên Ngọc Khánh là một trại nhỏ, trước kia thuộc thôn Bảo Khánh, thuộc trại Giảng Võ Sang thời Nguyễn niên hiệu Gia Long (1805) thuộc huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức
Theo địa bạ Gia Long 4 (1805), Ngọc Khánh có giáp giới như sau: phía Đông giáp quan pha và công điền thôn Trung bản trại, lấy công pha bờ ruộng làm giới; phía Tây giáp công điền trại Vạn Bảo lấy bờ ruộng làm giới; phía Nam giáp thành Đại La và công pha thôn Trung bản trại, lấy chân thành, bờ ruộng, công pha làm giới; phía Bắc giáp công điền trại Thủ Lệ, lấy bờ ruộng làm giới Năm 1899, thời Pháp, lập huyện ngoại thành, Ngọc Khánh thuộc huyện Hoàn Long, đổi là Đại lý Hoàn Long Tháng 12/1945, Ngọc Khánh thuộc ngoại thành Hà Nội Ngày nay, Ngọc Khánh thuộc quận Ba Đình, Hà Nội
Ngọc Khánh là một trại nhỏ nhưng lại có diện tích công điền khá lớn, nên dân được chia khẩu phần đáng kể Tuy vậy, ruộng đất của Ngọc Khánh chủ yếu
là ruộng trũng, chỉ cày cấy được vụ lúa chiêm Người dân chủ yếu sống bằng các ngành nghề phụ
Theo truyền thuyết, vùng đất Ngọc Khánh có nhiều kho tàng cất giấu vũ khí do bà Lý Châu Nương cai quản như các kho: Bãi Đạn, đạn Đá, Gò Voi, Cổ ngựa Đặc biệt, ở cửa đình trông ra đầm nước mênh mông, nơi ấy khi xưa bà Lý Châu Nương chiến đấu với giặc Nguyên Mông đã chôn cất quân khí ở dưới lòng
hồ Năm 1983 - 1984, việc phát hiện ra các bãi đạn đá và đặc biệt là những phát
Trang 35hiện khảo cổ ở hồ Ngọc Khánh đã được coi là “một sự kiện bùng nổ” của khảo
cổ học Việt Nam Những di vật thu thập được như: bộ sưu tập vũ khí quý báu, gồm câu liêm, đinh ba, các loại kiếm, lao, giáo mác, móc câu chùm, các loại chuông, bát xà màu…; các vật liệu kiến trúc như gạch hòm sớ, gạch lát vuông, ngói mũi hài, các loại gỗ, vồ nện đất và cả di tích kiến trúc như nền nhà lớn đã được phát hiện cùng hàng loạt đồ gia dụng bằng gốm men (tất cả đều là những
di vật thời Lê) đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lịch sử của cả một vùng rộng lớn ở phía tây thành Thăng Long
Tóm lại, các di tích thờ thánh Linh Lang, qua khảo sát di tích, lễ hội trên địa bàn quận Ba Đình, đều thuộc khu vực Thập Tam trại Khu vực Thập Tam trại là vùng dày đặc các di tích lịch sử văn hóa Hệ thống các di tích này phản ánh rõ nét đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cư dân nơi đây phong phú, đa dạng nhưng cũng rất phức tạp
Tuy nhiên, nếu như Hoàng Lệ Mật được coi là người có công khai hoang lập ấp ở Thập Tam trại thì Linh Lang đại vương được coi là thành hoàng của Thập Tam trại Điều này cho thấy tầm ảnh hưởng của ngài trong đời sống văn hóa tâm linh của cư dân nơi đây
Trại Vạn Phúc - trại hàng tổng - cũng không nằm ngoài đặc điểm chung của Thập Tam Trại, nơi có đủ các kiểu loại di tích và tín ngưỡng, gồm cả đình, đền, chùa, miếu, văn chỉ và nhà thờ Bên cạnh đình Vạn Phúc thờ thánh Linh Lang còn có đền Miếu Trắng thờ Liễu Hạnh công chúa, đền Bảo Sơn thờ Thánh Mẫu và Thánh Trần, chùa Bát Tháp thờ Phật, miếu Tam Ô Tướng Vạn Phúc thần thờ Tam Ô Tướng, miếu Cô thờ nhị vị công chúa Dung Huệ và Quế Hoa, văn chỉ Vạn Phúc, nhà thờ xóm trên, xóm dưới Việc thờ văn chỉ cho thấy hoạt động học tập chiếm vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần trại Vạn Phúc Trại Kim Mã chỉ thấy xuất hiện thêm tín ngưỡng thờ Phật tại chùa Kim Sơn bên cạnh đình, đền Kim Mã, Kim Mã Thượng thờ thánh Linh Lang
Xét về tín ngưỡng thành hoàng, vị thành hoàng của cả Thập Tam Trại là thánh Linh Lang, tuy nhiên trong mỗi một di tích tại quận Ba Đình, trong vùng
Trang 36Thập Tam Trại, việc thờ thánh Linh Lang lại mang một tư cách khác nhau Điều này cho thấy thánh Linh Lang có tầm ảnh hưởng quan trọng mà chỉ ở quận Ba Đình ta mới thấy sự phong phú trong việc phụng thờ với những đặc trưng riêng tại các di tích Thánh Linh Lang được thờ ở đền Thủ Lệ với tư cách là một trong Thăng Long tứ trấn, thờ ở đình Vạn Phúc - đình hàng tổng - với tư cách là thần bảo hộ cho cả khu vực Thập Tam Trại và thờ ở các làng trại với tư cách là thành hoàng làng Hình tượng thánh Linh Lang thấm đẫm vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cư dân các trại Thủ Lệ, Vạn Phúc, Kim Mã, Ngọc Khánh cũng như trong vùng Thập Tam Trại Thậm chí Hoàng Lệ Mật, người được coi là có công khai lập các thôn trại, cũng không được xem là thần bảo hộ của cả tổng, chỉ được thờ vọng
hoá quận Ba Đình
Ba Đình là quận có nhiều di tích lịch sử văn hóa Các di tích văn hóa tôn giáo nhiều về số lượng, phong phú về thể loại Theo thống kê của Ủy ban nhân dân quận Ba Đình năm 2009 thì toàn quận có 12 chùa, 18 đình, 19 đền, 4 miếu
và 2 am Trong đó, các nhân vật được thờ cũng đa dạng, gồm cả thiên thần, nhiên thần, nhân thần Nhưng nhiều nhất vẫn là mẫu Liễu Hạnh, thánh Linh Lang, Phùng Hưng và Hoàng Phúc Trung Những di tích thờ thánh Linh Lang trên quận Ba Đình tập trung ở vùng Thập Tam trại cũ
Tất cả có 269 nơi thờ Linh Lang Đại vương trên toàn đất nước Việt Nam Tuy vậy, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, đây không phải con số thực mà chỉ là con số phiếm chỉ, tượng trưng cho số nhiều Theo thống kê Hà Nội có 27 điểm, trong đó, riêng Ba Đình tập trung nhiều nhất lên tới 9 điểm Ở các quận khác di tích đã giảm mất đi phần nhiều, thậm chí là không còn, đặc biệt các di tích thờ thánh Linh Lang trên địa bàn các quận khác nhìn chung đều là phối thờ, duy có
di tích đền Thủ Lệ trên quận Ba Đình được xem là nơi thờ chính, thờ từ xa xưa, gắn với địa danh sinh ra và hóa thân của thần, thậm chí sau khi vua Lý Thánh Tông phong “Thượng đẳng phúc thần” cho đức thánh Linh Lang đã giao cho
Trang 37làng Thủ Lệ trách nhiệm trông coi việc thờ cúng tại đền Voi Phục Thủ Lệ nghĩa
là giữ lệ được đổi tên từ đó (trước là Thị Trại) Làng mới được vua ban cho 36 mẫu ruộng công để phục vụ việc cúng lễ hàng năm Đồng thời làng cũng được miễn mọi phu phen tạp dịch để chuyên lo hương đăng cho đền Ngoài đền Voi Phục Thủ Lệ thì các nơi khác trên địa bàn quận Ba Đình hầu như đều chính thờ thánh Linh Lang, thậm chí còn thờ nhiều với tư cách là thành hoàng làng
Quận Ba Đình với điều kiện địa lý, thiên nhiên là cơ sở cho tín ngưỡng thờ thủy thần, cụ thể đây là vùng đất nổi tiếng nhiều sông hồ đầm, là những yếu tố đặc biệt thích hợp với việc thờ thần sông như Linh Lang Các di tích trên địa bàn
Ba Đình thờ Linh Lang nói chung đều lớn, lâu đời và nổi tiếng… cho thấy ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Linh Lang ở Ba Đình là rất sâu sắc và rộng lớn
Cũng như vậy, lễ hội thờ thánh Linh Lang của các di tích trên địa bàn quận
Ba Đình đã có từ rất xa xưa và các giá trị vẫn còn được bảo lưu gần như nguyên vẹn cho tới tận ngày nay Lễ hội giữa các làng trại thuộc Thập Tam trại được xem như một trong những lễ hội lớn, điển hình về lễ hội của Thăng Long Trong các hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, lễ hội thờ thánh Linh Lang của vùng Thập Tam trại cũng là một điểm nhấn ấn tượng Thậm chí lễ hội
ở các di tích chung thờ thánh Linh Lang trên địa bàn quận Ba Đình còn có mối liên hệ liên vùng với các tỉnh như Đình Bảng (Bắc Ninh) - quê cha đức Thánh, Bồng Lai (Hà Tây) - quê mẹ Ngài, khác hẳn tính chất nhỏ lẻ, cá thể của lễ hội ở các quận khác
Tuy nhiên hiện nay có một thực tế, di tích thờ thánh Linh Lang tại quận Ba Đình cũng không nằm ngoài tình trạng chung với các quận khác, đó là sự mai một, giảm sút đáng kể về mặt số lượng Nếu di tích thờ thánh Linh Lang ở các quận khác mất đi quá nửa, thậm chí là mất gần hết thì ở quận Ba Đình, số di tích còn giữ được đáng kể Các di tích thờ thánh Linh Lang trước đây gồm: đình Vĩnh Phúc Hạ, đình Thạch Khối Hạ, đền Giai Cảnh, đình Xuân Biểu, đình Kim
Mã, đình Kim Mã Thượng, đình Ngọc Khánh, đình Vạn Phúc và đền Voi Phục (Thủ Lệ) Hiện nay, đình Cống Vị, đình Vĩnh Phúc Hạ, đình Thạch Khối Hạ,
Trang 38đền Giai Cảnh đã mất Trong phạm vi bài nghiên cứu, tác giả giới hạn phạm vi khảo sát ở các di tích thờ thánh Linh Lang tiêu biểu trên địa bàn quận Ba Đình, nơi dân cư đã từng kết chạ thuộc Thập Tam trại xưa và hiện nay vẫn cùng nhau
tổ chức lễ hội trong các ngày kỉ niệm của Thánh Đó là: đình Vạn Phúc, đền Voi Phục (Thủ Lệ), đình Kim Mã Thượng và đình Ngọc Khánh
Tiểu kết
Từ bao đời nay, trong đời sống tâm linh phong phú của mình, người Việt Nam có rất nhiều tín ngưỡng Trong đó, tín ngưỡng thờ thần, thánh là tín ngưỡng rất phổ biến Tuy nhiên, việc phân biệt giữa Thánh và Thần, tín ngưỡng thờ Thánh và thờ Thần thì không phải ai cũng phân biệt được Cùng là một nhân vật Linh Lang nhưng trong các tài liệu lại có cách gọi khác nhau Một số xếp Linh Lang vào nhóm Thánh, trong khi một số khác lại xếp vào nhóm Thần
Thực chất Linh Lang và sự thờ phụng đức Linh Lang là một dạng thờ thần linh
nguyên thủy bản địa của người Việt, sau được lịch sử hóa, nhân thần hóa, nhân vật hóa và thờ với tư cách là thành hoàng làng có công chiến đấu Phát tích, Linh Lang có nguồn gốc thủy thần, cụ thể là thần rắn, ở phạm vi vùng sông nước, đầm lầy
Thực tế đã chứng minh rằng tín ngưỡng có liên quan tới môi trường tự nhiên cụ thể, nó có tính độc lập tương đối và gắn bó với tâm linh con người của cộng đồng cụ thể Quận Ba Đình gồm những khu vực có từ xa xưa, vẫn tồn tại tới bây giờ với những đặc điểm riêng, đã gắn liền với rất nhiều biến đổi lịch sử của Thủ đô Không như các quận khác, quận Ba Đình là một trong những quận còn lưu giữ được nhiều và nguyên vẹn nhất di tích cũng như những nét văn hóa
về sự phụng thờ Thánh Linh Lang Các di tích trên địa bàn Ba Đình thờ Linh Lang nói chung đều lớn, lâu đời và nổi tiếng… Điều đó cho thấy ảnh hưởng của
Trang 39tín ngưỡng thờ Linh Lang ở Ba Đình là rất sâu sắc và rộng lớn Quận Ba Đình,
cụ thể, vùng đất được giới hạn là Thập Tam Trại, khu đất phía Tây thành Thăng Long có từ thời Lý, đã đi vào lịch sử, là nơi có nhiều đầm lầy, thuộc phạm vi sông nước, là khởi nguồn phát tích cho tín ngưỡng thờ thánh Linh Lang
Trang 40Chương 2 TRUYỀN THUYẾT VÀ TÍN NGƯỠNG LIÊN QUAN ĐẾN
VIỆC PHỤNG THỜ THÁNH LINH LANG
Có một điều tất yếu, hợp với quy luật của sự phát triển là trải qua thời gian càng dài, trầm tích các lớp văn hóa càng dày, mỗi lớp lại đặc trưng cho một thời
kỳ lịch sử Để hiểu một vấn đề, chúng ta cố gắng bóc tách các lớp văn hóa đã được bồi đắp theo thời gian Thật vậy, cùng với diễn trình lịch sử, ý nghĩa khởi nguyên của việc thờ thần linh đã được thêm vào những yếu tố mới, làm cho yếu
tố khởi nguyên bị che lấp, thậm chí có lúc không còn nhận ra nữa Tuy nhiên qua đó, ta cũng thấy được một điều: trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, văn hóa cũng có những đặc trưng và chuẩn mực mới phù hợp Khi xét tất cả các đặc trưng ấy theo chiều dọc của lịch sử, ta sẽ hiểu được những giá trị lớn lao Bởi xét cho cùng, mọi hệ thống biểu tượng của tín ngưỡng đều là hệ thống biểu tượng của văn hóa, nó vừa chứa đựng hệ giá trị của dân tộc đồng thời là sự thể hiện bản sắc và sắc thái văn hóa của dân tộc trong mỗi thời đại nhất định
Thờ thần vốn là việc thiêng liêng, song để cho thần khác thường, thiêng liêng hơn nữa, người Việt còn huyền thoại hóa các nhân vật được thờ Một biểu hiện về sự huyền thoại thiêng liêng ấy của thần nằm trong các thần tích, truyền thuyết Về bản chất, thần tích là những truyền thuyết dân gian được ghi chép và lưu giữ tại các miếu, đền cùng với sắc phong của các triều đại phong kiến Qua mỗi dị bản truyền thuyết, ta thấy được các lớp ý nghĩa mang đặc trưng văn hóa của từng vùng Có khá nhiều truyền thuyết về đức thánh Linh Lang Tuỳ thuộc vào đặc điểm từng trại, trong dân gian có những sự tích riêng của mình, phù hợp với những di vật còn lưu giữ được ở mỗi đình, đền với nhiều dị bản và những chi tiết khác nhau Qua mỗi dị bản, ta thấy được các lớp ý nghĩa và đặc trưng văn hóa của mỗi trại
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam là sản phẩm văn hóa của người Việt Nam trong mối quan hệ với tự nhiên, xã hội Trải qua trường kỳ lịch sử với những