Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI Kiều thanh nga định hướng Văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ hà nội qua hoạt động giáo dục
Trang 1Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI
Kiều thanh nga
định hướng Văn hóa ứng xử với tự nhiên
của giới trẻ hà nội
(qua hoạt động giáo dục tại bảo tàng địa chất việt nam)
LUậN VĂN THạC Sĩ VĂN HóA học
Hà Nội, 2015
Trang 2Bộ VĂN HOá, THể THAO Và DU LịCH Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI
********
Kiều thanh nga
định hướng Văn hóa ứng xử với tự nhiên
của giới trẻ hà nội
(qua hoạt động giáo dục tại bảo tàng địa chất việt nam)
Chuyên ngành: Văn hoá học Mã số: 60310640 LUậN VĂN THạC Sĩ VĂN HóA học
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn sỹ toản
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Sỹ Toản Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được
ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày ….tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Kiều Thanh Nga
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ 4
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI TỰ NHIÊN CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ BẢO TÀNG ĐỊA CHẤT VIỆT NAM 13
1.1 Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội 13
1.1.1 Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên 13
1.1.2 Giới trẻ Hà Nội 27
1.2 Tổng quan Bảo tàng Địa chất Việt Nam 30
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 30
1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ 36
1.2.3 Nội dung trưng bày 37
1.2.4 Vai trò giáo dục định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên cho giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam 43
Tiểu kết chương 1 48
Chương 2: CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐỊNH HƯỚNG VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI TỰ NHIÊN CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI TẠI BẢO TÀNG ĐỊA CHẤT VIỆT NAM 49
2.1 Giáo dục định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên cho giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam 49
2.1.1 Giáo dục thông qua công tác hướng dẫn tham quan cho giới trẻ Hà Nội 49
2.1.2 Giáo dục thông qua công tác viết bài, in ấn xuất bản phẩm của Bảo tàng 61
2.1.3 Giáo dục thông qua công tác truyền thông, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng 63
2.1.4 Giáo dục thông qua việc tổ chức hội nghị, hội thảo chuyên đề 65
2.1.5 Giáo dục thông qua hình thức kết hợp với nhà trường 67
2.2 Đánh giá những hoạt động giáo dục định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam 68
Trang 52.2.1 Kết quả điều tra xã hội học 69
2.2.2 Những nhận xét, đánh giá 75
Tiểu kết chương 2 80
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC ĐỊNH HƯỚNG VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI TỰ NHIÊN CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI TẠI BẢO TÀNG ĐỊA CHẤT VIỆT NAM 82
3.1 Những vấn đề đặt ra cho giới trẻ hiện nay 82
3.1.1 Thái độ ứng xử của giới trẻ với tự nhiên 82
3.1.2 Đẩy mạnh công tác giáo dục định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên cho giới trẻ Hà Nội 87
3.2 Đổi mới các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên cho giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam 93
3.2.1 Nghiên cứu phát triển nâng cao chất lượng khoa học các bộ sưu tập mẫu phục vụ công tác giáo dục 93
3.2.2 Tăng cường các hoạt động trưng bày chuyên đề, lưu động 97
3.2.3 Ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho trưng bày bảo tàng 100
3.2.4 Xây dựng chương trình giáo dục về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên cho giới trẻ Hà Nội 102
3.2.5 Tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền các cấp và tổ chức Đoàn thanh niên, Nhà trường để giáo dục định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên cho giới trẻ Hà Nội 106
3.2.6 Nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ hướng dẫn khách tham quan 109
3.2.7 Tạo lập mối liên kết chặt chẽ giữa Bảo tàng Địa chất Việt Nam với các trường học ở Hà Nội 111
3.2.8 Xây dựng phòng khám phá, chiếu phim phục vụ giới trẻ Hà Nội 113
Tiểu kết chương 3 114
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 121
Trang 6DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CNH – HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đài truyền hình Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ
1 Bảng 2.1 Kênh thông tin của giới trẻ đến với Bảo tàng Địa chất
5 Bảng 2.5 Đánh giá của giới trẻ về nội dung trưng bày của Bảo
tàng Địa chất Việt Nam
73
6 Bảng 2.6 Đánh giá của giới trẻ về đội ngũ hướng dẫn viên của Bảo
tàng Địa chất Việt Nam
73
7 Bảng 2.7 Đánh giá của giới trẻ về không gian trưng bày của Bảo
tàng Địa chất Việt Nam
74
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Văn hoá bao gồm những hệ thống hành vi, ứng xử của con người đối với nhau và đối với tự nhiên (cách thức sản xuất, tôn giáo, phong tục tập quán, nghệ thuật…) Những hệ thống ứng xử này là những tín hiệu mang tính biểu trưng Tuy nhiên, không phải ở đâu, lúc nào các hình thái biểu trưng này cũng giống nhau mà tuỳ theo hệ tư tưởng về bản thể luận, vũ trụ luận của từng
xã hội, từng thời kỳ mà cách thức biểu tượng hoá và ý nghĩa của các khuôn mẫu ứng xử ấy có sự khác nhau
Trong lĩnh vực văn hóa, ứng xử thể hiện hành vi đạo đức, diện mạo nhân cách của cá nhân trong xã hội, ứng xử đóng vai trò điều chỉnh hệ giá trị chuẩn mực xã hội nhằm phê phán lối sống thực dụng tầm thường Mặt khác
nó cổ vũ và hướng dẫn cho việc hình thành một nền kinh tế tri thức dựa trên nguồn tài nguyên tái sinh, đồng thời xây dựng một lối sống có văn hóa, tạo nên sự cân bằng giữa ước muốn của con người với sức tái sinh của tự nhiên,
đó là ứng xử văn hóa góp phần xây dựng một mô hình ứng xử nhân hậu giữa con người đối với thiên nhiên vì sự phát triển an toàn và bền vững của thế hệ trẻ hiện nay và thế hệ trẻ mai sau Con người là thành phần không thể tách rời với thiên nhiên, sống trong thiên nhiên, dựa nhờ và bổ sung cho thiên nhiên, cộng sinh với thiên nhiên Hành động trong sự nhận thức bởi trí tuệ trở thành ứng xử Sự ứng xử, cách ứng xử với thiên nhiên bởi sự tiến hóa của văn minh, trở thành văn hóa ứng xử với tự nhiên
Văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội là quan niệm, thái độ
và cách thức của một cá nhân hay một tập thể trong việc tiếp cận và xử lý những mối quan hệ với tự nhiên, với môi trường xung quanh Trong những năm gần đây, xã hội đang thay đổi từng ngày với tốc độ ngày càng cao và
Trang 9văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội cũng không nằm ngoài xu thế đó Những biến đổi tích cực phải kể đến là tình yêu với thiên nhiên thông qua các hoạt động chung tay giữ gìn vệ sinh chung, bảo vệ môi trường, bảo
vệ sự sống, qua đó nâng cao ý thức và có những hành vi ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên Tuy nhiên cũng có không ít những biểu hiện tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Hà Nội chưa nhận thức được tầm quan trọng của tự nhiên đối với con người, có những hành vi ứng xử thiếu văn hóa với tự nhiên như: Còn bẻ cây, vứt rác bừa bãi nơi công cộng, chưa tiết kiệm điện nước mọi lúc, mọi nơi, chưa có ý thức tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên, thờ ơ, vô cảm với môi trường xung quanh….Có thể thấy ngày nay một số bạn trẻ thủ đô còn thiếu đi một kỹ năng quan trọng đó là ứng xử văn hóa với tự nhiên
1.2 Bảo tàng là một cơ quan giáo dục ngoài nhà trường nơi con người
học hỏi và thỏa sức sáng tạo, bởi Bảo tàng là một thiết chế văn hoá có chức
năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu trưng bày, học tập thăm quan và hưởng thụ văn hóa của công chúng [19, tr.110]
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng phát triển kinh tế, bảo vệ tổ quốc thì vấn đề giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có trình độ luôn được coi trọng, đặc biệt là thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước Công tác giáo dục tuyên truyền là một khâu nghiệp vụ có vai trò quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của bảo tàng Bảo tàng Địa chất Việt Nam có vị trí quan trọng nằm trong hệ thống Bảo tàng Việt Nam nói chung và hệ thống Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam nói riêng đã và đang có những đóng góp to lớn vào việc giáo dục ý thức về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, sự tồn tại và phát triển của Bảo tàng Địa chất
Trang 10Việt Nam góp phần khắc phục tình trạng mất cân đối giữa các bảo tàng về xã hội nhân văn và bảo tàng Thiên nhiên Đây là một bảo tàng chuyên ngành khoa học tự nhiên có vị thế đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản lưu trữ, trưng bày các mẫu vật địa chất, các mẫu vật về tài nguyên thiên, các tài liệu, ấn phẩm địa chất quốc gia nhằm phổ biến khoa học
và giáo dục về di sản tự nhiên (địa chất, thiên nhiên) và những kiến thức về địa chất khu vực cũng như sinh khoáng khu vực của nước ta
Bảo tàng Địa chất Việt Nam có hơn 44.000 mẫu tài liệu, mẫu vật phản ánh sự giàu đẹp về tài nguyên thiên nhiên của nước Việt Nam Khách tham quan với số lượng ngày càng tăng, thành phần thăm quan khá đa dạng và phong phú, riêng đối tượng là giới trẻ chiếm tỷ lệ đông nhất, bởi họ xuất phát
từ nhu cầu muốn nghiên cứu, tìm hiểu, học tập nâng cao vốn hiểu biết về tự nhiên, qua đó có những hành vi văn hóa ứng xử phù hợp với tự nhiên, góp phần chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường cũng như khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên quý báu của đất nước
Là một cán bộ công tác tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam, trực tiếp đảm nhận công tác tuyên truyền giáo dục, từ lâu tác giả đã quan tâm tới việc nghiên cứu vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn này nhằm góp phần nhận diện các biểu hiện và đề xuất các giải pháp có ý nghĩ thiết thực để nâng cao chuẩn mực văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo con người, hoàn thiện nhân cách của đội ngũ tri thức trẻ hiện nay
Nhận thấy vai trò to lớn của văn hóa ứng xử với tự nhiên trong cuộc sống, cũng như nghiên cứu các biểu hiện văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội hiện nay vẫn đang còn nhiều bất cập tác giả quyết định chọn:
“Định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội (Qua hoạt
động giáo dục tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam)” làm đề tài luận văn thạc sỹ
chuyên ngành văn hóa học của mình
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, các vấn đề về văn hóa, văn hóa ứng xử là một đề tài thu hút được nhiều nhà nghiên cứu tập trung khai thác, tiến hành nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau Văn hóa ứng xử là một thành tố của văn hóa, phạm trù này được biểu hiện ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và
đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến
GS Trần Ngọc Thêm (1999), cơ sở văn hóa Việt Nam Trong cuốn
sách này tác giả dành hai chương để bàn về văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội Văn hóa ứng xử được tác giả quan niệm gồm hai hàm nghĩa: tận dụng và ứng phó thông qua giao lưu và tiếp biến văn hóa, còn văn hóa ửng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội chưa được tác giả
đề cập tới
Tác giả Lê Hoa Như (2002) với Văn hóa ứng xử của các dân tộc Việt
Nam đã đề cập đến văn hóa ứng xử của các dân tộc ít người trên đất Việt Nam
Đặc biệt góc độ văn hóa học tác giả phân tích một cách sâu sắc về văn hóa ứng
xử của người Việt “Coi trọng tính cộng đồng, tính tập thể của xã hội”
Nguyễn Hùng Khu (2006), “Văn hóa ứng xử của người Giẻ - Triêng”, giới thiệu phong tục tập quán, văn hóa Giẻ - Triêng trong không gian văn hóa Kom tum, văn hóa tây nguyên, văn hóa của tộc người Giẻ - Triêng, hôn nhân truyền thống và văn hóa ứng xử của dân tộc Giẻ - Triêng
PGS Phạm Khắc Chương - Ths Nguyễn Thị Hằng (2011), Văn hóa
ứng xử trong gia đình Trong cuốn sách này, Tác giả đã nghiên cứu khái niệm
về văn hóa và văn hóa ứng xử, nghiên cứu văn hóa ứng xử của lứa tuổi hoa niên (12 - 16) xưa và nay; đồng thời đưa ra những quan điểm mang tính chất định hướng cho lứa tuổi này trong văn hóa ứng xử với bản thân, văn hóa ứng
xử trong gia đình
Trang 12Đề tài văn hóa ứng xử cũng là đề tài thu hút được khá nhiều học viên
sau cao học chuyên nghành văn hóa học nghiên cứu như: Văn hóa ứng xử tại
một số bệnh viện Hà Nội; Văn hóa ứng xử với bạn đọc của thư viện quốc gia Việt Nam; Văn hóa ứng xử của người Thái với môi trường tự nhiên ở huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La Đây là những đề tài giúp tác giả tham khảo trong qúa
trình nghiên cứu đề tài văn hóa ứng xử
- Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội (1974), Người Hà Nội thanh lịch, Nxb
Hà Nội Công trình tập trung phân tích đánh giá những giá trị văn hóa và biểu hiện chất thanh lịch ở người Hà Nội trong lịch sử và trong cuộc sống hàng ngày lúc đó Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh nét đẹp thanh lịch trong cuộc sống tập thể
- Vũ Khiêu, Nguyễn Vĩnh Cát (1991), Văn hóa Thủ đô hôm nay và
ngày mai, Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội Thông qua việc phân tích, đánh giá
văn hóa Thủ đô qua 45 năm xây dựng và phát triển (1945 - 1990), nhất là mục
“Bộ mặt Thủ đô qua nếp sống ngày nay”, các tác giả đã làm rõ sự biến đổi cách thức ứng xử trong sinh hoạt vật chất, tinh thần và cuộc vận động xây dựng Nếp sống văn minh - Gia đình văn hóa khi mới bước vào đổi mới Các tác giả dự báo xu hướng phát triển nếp sống văn hóa tiếp theo qua mối quan
hệ ứng xử trong gia đình, giao tiếp xã hội và sinh hoạt cá nhân; tức là những nội dung cơ bản trong văn hóa ứng xử với môi trường xã hội và với bản thân
- Trần Văn Bính (chủ biên) (2000), Văn hóa Thăng Long - Hà Nội hội
tụ và tỏa sáng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tuy không trực tiếp bàn về
văn hóa ứng xử, nhưng thông qua việc làm sáng tỏ các giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội (văn học, kiến trúc, mỹ thuật, giáo dục, lễ hội ), các tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về diễn trình lịch sử, về đặc điểm chung của văn hóa ứng xử và mối tương quan giữa văn hóa Thăng Long - Hà Nội với văn hóa các vùng, miền trên đất nước (Phú Xuân - Huế, Sài Gòn - TP Hồ Chí
Trang 13Minh) Hội tụ và tỏa sáng là đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, trong đó có văn hóa ứng xử của nó
Nguyễn Văn Chức (Chủ biên, 2002), Văn hóa ứng xử của người Hà
Nội với môi trường thiên nhiên Các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa
môi trường thiên nhiên và văn hóa ứng xử đối với môi trường thiên nhiên của người Hà Nội, từ truyền thống đến hiện đại, trước thách thức của toàn cầu hoá trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các tác giả đề xuất một số phương hướng quan điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên Ở đây văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên được các tác giả đề cập tới, tuy nhiên với một phạm
vi rộng hơn là người Hà Nội
Trong các nghiên cứu trên, văn hóa ứng xử đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến ở nhà lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Vấn đề văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên đã có một số tác giả quan tâm đến nhưng mang tính chất khái quát chung Cho đến nay, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà nội (Qua hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam)
Vì vậy đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu đánh giá định hướng văn hóa ứng
xử với tự nhiên của giới trẻ Hà nội (Qua hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam), để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội là vấn đề cấp thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với
tự nhiên của giới trẻ Hà Nội; Nghiên cứu nhận diện các hoạt động định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội thông qua hoạt động giáo dục
Trang 14tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam; Nghiên cứu những vấn đề đặt ra và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục định hướng văn hóa ứng
xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ
- Sưu tầm thu thập tài liệu làm rõ cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội
- Nghiên cứu khảo sát các hoạt động giáo dục định hướng văn hóa ứng
xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội thông qua các hình thức hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam
- Tiến hành điều tra xã hội học, nêu rõ những ưu điểm và hạn chế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là định hướng văn hóa ứng xử với
tự nhiên của giới trẻ Hà Nội (Qua hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các hoạt động định
hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội (Độ tuổi từ 15 - 25) tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: Toàn bộ các hoạt động định hướng văn hóa ứng
xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam (từ 2006 đến nay)
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn vận dụng các quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và các quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển văn
Trang 15hóa trên cơ sở đó nghiên cứu, xem xét, đánh giá văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam
- Luận văn sử dụng phương pháp liên ngành: Văn hóa học, bảo tàng học, xã hội học, tâm lý học, giáo dục học và địa chất học
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu khảo sát các hoạt động định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam; Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu; Phương pháp thống kê và phân loại đối với khách thăm quan; Phương pháp điều tra xã hội học
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp cho việc nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội
Luận văn là tài liệu quan trọng khẳng định vị thế, vai trò nhiệm vụ của Bảo tàng Địa chất Việt Nam trong hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội
Kết quả nghiên cứu của đề tài còn là tài liệu tham khảo quan trọng đối với bảo tàng Địa chất Việt Nam và một số ngành khoa học tự nhiên
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội và tổng quan về Bảo tàng Địa chất Việt Nam
Chương 2: Các hoạt động giáo dục định hướng văn hóa ứng xử với
tự nhiên của giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam
Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với việc định hướng văn hóa ứng
xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG VĂN HÓA ỨNG XỬ
VỚI TỰ NHIÊN CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI
VÀ TỔNG QUAN VỀ BẢO TÀNG ĐỊA CHẤT VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội
1.1.1 Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa ứng xử
* Khái niệm ứng xử
Ứng xử là một từ ghép gồm “ứng” và “xử” Theo Từ điển tiếng Việt (2010) của Viện Ngôn ngữ học thì nghĩa của từ “ứng” mang 2 nội dung chính Đầu tiên là đáp lại, lên tiếng đáp lại lời kêu gọi Thứ 2 là có mối quan hệ phù hợp tương đối với nhau Còn “xử” có nghĩa là hành động theo cách nào đó, thể hiện thái độ đối với người khác trong một hoàn cảnh nhất định Ở đây, “ứng xử” là những biểu thị phản ứng của con người trong các mối quan hệ của họ qua đó thể hiện được thái độ chủ thể [31, tr.70]
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu tâm lý học, “ứng xử” là một biểu hiện của giao tiếp “Ứng xử” là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau Xét trên diện nhân cách thì bản chất của ứng
xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh Xét trên góc độ sinh học, các nhà khoa học cho rằng “ứng xử” có nghĩa
là “toàn thể những phản ứng thích nghi có thể quan sát được khách tham quan
mà một cơ chế, một hệ thống thần kinh thực hiện để đáp trả lại những kích
Trang 17thích… Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy (những ứng xử, xử lý để đáp ứng được diễn ra theo cách tương đối ổn định” [7, tr.123]
Theo tác giả Đoàn Văn Chúc (1997), để xác định một cách ứng xử nào
đó là ứng xử văn hóa hay không người ta thường xét trên 4 yếu tố sau đây:
- Ứng xử được thường xuyên lặp đi lặp lại, tức là tính thời gian của ứng xử;
- Ứng xử được lặp đi lặp lại tương đối theo cùng một cách bởi nhiều người, tức là tính không gian của ứng xử;
- Ứng xử ấy có tác dụng kim chỉ nam mẫu mực hay quy tắc cho các thành viên của một nhóm hay một xã hội;
- Ứng xử ấy chứa đựng một ý nghĩa xã hội nào đấy, tức nó biểu thị kiến thức tư tưởng hoặc tình cảm mà chủ thể đã đạt được, nói cách khác nó là cái mang vác một giá trị (kinh tế, chính trị, luân lý hay thẩm mỹ) [7, tr.66]
Trong xã hội học, “ứng xử” dùng để chỉ cách hành động hoặc cách nói của một vai trò xã hội này đối diện với một vai trò khác Ví dụ như một cặp vai trò vợ/chồng, cha/con, cấp trên/cấp dưới… Tuy nhiên, ứng xử không chỉ giới hạn giữa các vai trò xã hội với nhau, còn là ứng xử với mình, ứng xử với
đồ vật, tự nhiên
Những ứng xử của con người trong “các mối liên hệ” của mình được lặp đi lặp lại theo cùng một cách thức trong cùng một xã hội, theo thời gian dần dần được lựa chọn, tập hợp, khái quát hóa và trở thành những khuôn mẫu ứng xử của xã hội ấy Khuôn mẫu ứng xử của một xã hội không chỉ là tập hợp những quy tắc mang tính chuẩn mực mà nó còn chứa đựng những giá trị Những giá trị đó được coi là mẫu mực để áp đặt lên các thành viên xã hội khiến họ phải hành động theo một cách nào đó, được tiêu chuẩn hóa làm thước đo để phân biệt cái nên hay không nên, đúng hay sai, ứng xử như thế
Trang 18nào thì mới là có văn hóa Nhưng trong thực tế không có mô hình tổ chức nào
cố định cho tất cả mọi xã hội và cũng không có khuôn mẫu ứng xử nào chung cho tất cả mọi mô hình xã hội
“Ứng xử” cũng có thể được coi như một khái niệm nhân học văn hóa Đối tượng của nhân học văn hóa rất rộng nhưng chủ yếu là nghiên cứu con người, coi con người như là những sinh vật có tính xã hội và tính văn hóa Trong cuốn “Ứng xử văn hóa trong du lịch” (2010) tác giả Trần Thúy Anh cũng cho rằng, một đặc điểm nổi bật của ứng xử con người khác hẳn con vật, là con người sống trong một thế giới biểu trưng và ước lệ mà những nhà nhân học gọi là văn hóa
Trong khung cảnh văn hóa, con người có khả năng gán cho những vật (vật chất sống và vô sinh trong thiên nhiên) và cho những ứng
xử một ý nghĩa ước định mà họ bắt buộc phải theo như là một bộ phận của thế giới hiện thực Ở những vùng văn hóa khác nhau có chứa những biểu trưng và ước lệ khác nhau, khiến và buộc con người cần ứng xử khác nhau cho phù hợp Rõ ràng là, ứng xử con người ở các nước, các vùng khác nhau thì không giống nhau do các nền văn hóa khác nhau Còn ứng xử của con vật ở khắp nơi thì hầu như giống nhau vì chúng không có văn hóa nhưng điều đó không hẳn là chúng không có tư duy Bởi vậy con người mới là sinh vật đặc biệt và theo đó, ứng xử của con người cũng được xếp là ứng xử đặc biệt - ứng xử văn hóa [1, tr.25]
Qua đó có thể thấy ứng xử của con người (cá nhân hay cộng đồng) phản ánh 2 mối liên hệ cơ bản Đầu tiên, nói đến ứng xử là nói đến cách xử trí trong quan hệ giữa người với người hoặc giữa cá nhân với cộng đồng trước những sự kiện hoặc sự việc cụ thể Thứ 2, ứng xử cũng là một phương diện cấu thành của văn hóa, là biểu hiện tổng hợp của văn hóa
Trang 19Trong thực tiễn tâm lý cũng như trong thực tiễn xã hội, ứng xử được thể hiện trong một tình huống giao tiếp cụ thể, ứng xử chủ động trong giao tiếp, không chủ động tạo ra hành động, nhưng chủ động trong thái độ, phản ánh trước những thái độ, hành vi, cử chỉ của người khác trong một tình huống cụ thể nào đó”, “Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng, tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất [7, tr.11-12] Tác giả nhất trí với khái niệm này và vận dụng khái niệm “ứng xử” trong thực tiễn tâm lý cũng như trong thực tiễn xã hội trong nghiên cứu văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội (qua hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam)
* Khái niệm văn hóa ứng xử
Theo nhóm tác giả công trình “Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với
tự nhiên”, nội dung khái niệm văn hóa ứng xử được xác định gồm: “cách
thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với tự nhiên, đối với
xã hội và đối với người khác” [8, tr.54]
Theo đó, văn hóa ứng xử gồm có 3 chiều quan hệ là với thiên nhiên, với xã hội và với bản thân Văn hóa ứng xử gắn liền với những thước đo mà
xã hội dùng để ứng xử - các chuẩn mực xã hội
Trong công trình, các tác giả cũng đưa ra 4 hệ chuẩn mực chi phối lựa chọn cách ứng xử của con người (giữa thiện/ác, đúng/sai, đẹp/xấu ) Đó chính
là hệ chuẩn mực đạo đức, hệ chuẩn mực pháp luật, hệ chuẩn mực thẩm mỹ và trí tuệ, hệ chuẩn mực về niềm tin Công trình cũng đã nêu ra 4 chuẩn mực cơ bản của nhân cách là: hệ chuẩn mực trong lao động, hệ chuẩn mực trong giao tiếp, hệ chuẩn mực gia đình, các chuẩn mực phát triển nhân cách
Trang 20Trong công trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về văn hóa ứng xử nhưng đã xác định những nội hàm của khái niệm này Tác giả cho rằng, các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu…) và môi trường xã hội (các dân tộc, quốc gia, láng giềng ) Với mỗi loại môi trường đều
có cách thức xử thế phù hợp là tận dụng môi trường (tác động tích cực) và ứng phó với môi trường (tác động tiêu cực) [37, tr.16-17]
Như vậy, “văn hóa ứng xử” qua đó được khái quát là một kiểu xử thế phù hợp của con người với môi trường, xã hội và với chính bản thân con người Cũng dựa trên những quan điểm tương tự, trong công trình “Văn hóa ứng xử của người Thái trong gia đình và ngoài xã hội qua ca dao”, tác giả Phạm Phương Thùy cũng được ra một khái niệm về văn hóa ứng xử Theo đó:
Văn hóa ứng xử là hệ thống những khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử trong các mối quan hệ ứng xử của con người với các đối tượng khác, được thể hiện qua ngôn ngữ hành vi, nếp sống, tâm sinh lý… Cùng với tiến trình phát triển không ngừng hoàn thiện của đời sống con người, hệ thống đó được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa và trở thành chuẩn mực của mỗi cá nhân, nhóm xã hội hay toàn bộ xã hội, nó phù hợp với đời sống xã hội, với bản sắc của văn hóa dân tộc, quốc gia, được cá nhân, cộng đồng, xã hội thừa nhận và tuân theo [38, tr.16] Nhóm tác giả cho rằng văn hóa ứng xử được hình thành từ các khuôn mẫu ứng xử, từ các hoạt động trong quan hệ của con người với tự nhiên, môi trường xã hội đã hình thành những khuôn mẫu ứng xử của con người đối với thế giới thiên nhiên, xã hội và đối với nhau
Cái khuôn mẫu ứng xử này được hiểu một cách giản đơn là những ứng
xử đã được cộng đồng chấp nhận Từng cá nhân trong xã hội có thể vận dụng
Trang 21quy tắc đó vào những tình huống khác nhau, nhưng có cùng một loại nghĩa Nói cách khác là họ phải ứng xử theo cách mà các thành viên khác mong chờ Theo quan niệm này, thì việc ứng xử tuân theo đúng những khuôn mẫu chuẩn mực và những giá trị chuẩn mực này được cho là ứng xử văn hóa “Những ứng xử văn hóa này được lặp đi lặp lại thành nếp và được kết cấu, định vị với nhau trong hệ thống văn hóa lớn hơn gọi là văn hóa ứng xử” [38, tr.15]
Tuy nhiên, các khuôn mẫu ứng xử văn hóa hay văn hóa ứng xử luôn có tính lịch sử - cụ thể Nghĩa là nó luôn gắn liền với điều kiện, môi trường cụ thể nhất là điều kiện kinh tế - xã hội và khi những điều kiện này thay đổi thì
nó cũng sẽ có sự điều chỉnh cần thiết cho thích hợp
Như vậy có thể xem văn hóa ứng xử là một thành tố không thể tách rời của của văn hóa nói chung, nó bao hàm cả phương thức của con người với thiên nhiên Xét trên phương diện hoạt động, văn hóa ứng xử là một hệ thống các hành vi nhằm thực hiện những khuôn mẫu mang tính lý tưởng kết tinh những giá trị và chuẩn mực xã hội nhằm bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập đến văn hóa ứng xử giữa con người với tự nhiên
1.1.1.3 Khái niệm về văn hóa ứng xử với tự nhiên
* Tự nhiên
Tự nhiên là tập hợp các điều kiện địa lý tự nhiên của một vùng đất lãnh thổ có tác động trực tiếp đến mức sống của dân cư và các chỉ tiêu kinh tế trong vùng lãnh thổ ấy [31, tr.940]
Theo wikipedia thì:
Tự nhiên hay cũng được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thế giới tự nhiên, là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng
Trang 22bản chất “Tự nhiên” nói đến các hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất, và cũng nhắc đến sự sống nói chung Phạm vi bao quát của
nó từ cấp hạ nguyên tử cho tới khoảng cách lớn trong vũ trụ
Từ nature có nguồn gốc trong tiếng Latin natura, có nghĩa là “chất lượng thuần khiết, bản chất bẩm sinh”, và trong thời cổ đại, trong văn chương
có nghĩa là “sinh ra” Natura là từ dịch trong tiếng Latin của từ Hy Lạp physis (φύσις), mà nguồn gốc của từ này liên quan đến đặc tính nội tại của thực vật, động vật, và những thứ khác trong thế giới do chính người cổ đại nghĩ ra hoặc ghi chép lại Khái niệm tự nrẻhiên theo nghĩa tổng thể, hay vũ trụ vật lý, là một trong vài khái niệm mở rộng của khái niệm ban đầu; nó bắt đầu bằng những cách hiểu trung tâm của từ φύσις bởi các triết gia trước Sokrates, và đã thu được sự chú ý dần dần theo thời gian kể từ đó Cách sử dụng này dần được chấp nhận trong giai đoạn phát triển của phương pháp khoa học hiện đại trong vài thế kỷ qua
Với nhiều cách sử dụng và ý hiểu ngày nay, “tự nhiên” cũng nhắc tới địa chất và thế giới hoang dã Tự nhiên cũng bao gồm nhiều loại động thực vật sống khác nhau, và trong một số trường hợp liên quan tới tiến trình của những vật vô tri vô giác - cách mà những thứ đặc biệt tồn tại và làm biến đổi môi trường quanh nó, như là thời tiết và hoạt động địa chất của Trái Đất, cũng như vật chất và năng lượng của tất cả mọi thứ mà chúng cấu thành lên Khi hiểu theo nghĩa là “môi trường tự nhiên” hoặc vùng hoang dã, động vật hoang
dã, đá, rừng, bờ biển, và nói chung những thứ không bị thay đổi hay bị tác động của con người, hoặc tồn tại lâu dưới tác động của con người Ví dụ, các sản phẩm được sản xuất hoặc có tác động bởi con người nói chung sẽ không được coi là thuộc về tự nhiên, trừ khi được phân loại, ví dụ, “bản chất con người” hay “toàn bộ tự nhiên” Khái niệm truyền thống này về các vật tự nhiên mà đôi khi ngày nay vẫn sử dụng hàm ý sự phân biệt giữa thế giới tự
Trang 23nhiên và nhân tạo, với những thứ nhân tạo được hiểu từ tâm thức hoặc tư duy của con người Phụ thuộc vào từng ngữ cảnh, từ “tự nhiên” cũng có thể khác hẳn với từ “không tự nhiên”, “siêu nhiên”, “nhân tạo”
Tự nhiên, theo nghĩa rộng là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan Theo nghĩa này thì con người và xã hội loài người đều là những bộ phận, hơn nữa là những bộ phận không thể tách rời và đăc thù của tự nhiên Giới tự nhiên mà chúng ta xem xét trong hệ thống “tự nhiên - con người - xã hội” là những gì có liên quan trực tiếp đến sự sống của con người,
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người - đó chính là sinh quyển
Sinh quyển là một hệ thống vật chất sống, có cấu trúc vô cùng phức tạp, được tạo nên từ ba bộ phận cơ bản:
- Tập hợp toàn bộ các cơ thể sống từ đơn bào đến đa bào, từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất, đến con người và xã hội loài người
- Các chất tạo nên sự sống và cần cho sự sống
- Các sản phẩm hoạt động sống của tất cả các cơ thể, các chất thải qua quá trình trao đổi chất và xác chết của chúng
Như vậy, sinh quyển là sự thống nhất hữu cơ giữa sinh thể và các thành phần vô cơ, và hữu cơ tham gia vào quá trình sống Sinh quyển đã trải qua một quá trình tiến hoá hữu cơ lâu dài và phức tạp để hình thành nên các bộ phận của nó và hoàn thiện chu trình trao đổi chất - chu trình sinh học đã có ngay từ khi mới xuất hiện nhưng cơ thể đơn bào đến khi xuất hiện con người Qua việc phân tích khái niệm tự nhiên trên đây cho thấy nội hàm và những vấn đề được đề cập trong thế giới tự nhiên vô cùng rộng lớn Do đó trong phạm vi luận văn này, tác giả xin được giới hạn nghiên cứu những yếu
tố của tự nhiên đó là địa chất và khoáng sản
Trang 24* Khái niệm văn hóa ứng xử với tự nhiên
Con người sống trên trái đất nên môi trường của loài người chính là không gian bao quanh trái đất, có quan hệ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triến của xã hội loài người Môi trường sống của con người, tức là tất cả hoàn cảnh bao quanh con người, có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của con người, đến chất lượng cuộc sống của con người
C.Mác đã chia thiên nhiên làm hai bộ phận hợp thành: thiên nhiên thứ nhất - thiên nhiên tinh khiết, thiên nhiên thuần khiết và thiên nhiên thứ hai thiên nhiên có sự tác động của con người và do con người tạo ra một bản sao
từ thiên nhiên thứ nhất làm thành một thiên nhiên mới
Thế giới tự nhiên hay gọi là thiên nhiên thứ nhất, tồn tại ngoài sự tác động của con người và cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của con người và mọi sinh vật Đó là các dạng vật thể (đất, nước, không khí ) và các dạng sinh vật, kể cả con người
Thế giới thiên nhiên thứ hai: thiên nhiên có sự tác động của con người
và do con người tạo ra một bản sao từ thiên nhiên thứ nhất đề làm thành một thế giới mới (nhà ở, kết cấu hạ tầng nông thôn, đô thị, cây trồng, vật nuôi ) Thiên nhiên thứ hai này, kể cả con người, là một bộ phận, hơn nữa là một bộ phận đặc tù của tự nhiên hay của thiên nhiên thứ nhất Thiên nhiên thứ hai bao gồm cả môi trường xã hội và môi trường văn hóa vì đều là môi trường mà con người thích nghi và biến đổi
Để đảm bảo được sự hài hòa về lợi ích giữa con người và thiên nhiên, đòi hỏi con người phái có tính tự giác, tự ý thức rất cao Muốn thực hiện được điều này, một mặt con người cần phải biết nuôi dưỡng, phát huy tình yêu vốn
có của mình đối với thiên nhiên, nuôi dưỡng tinh thần “thiên - địa - nhân” hòa hợp; mặt khác, cần phải có những hiểu biết sâu sắc về các yếu tố tự nhiên, các
Trang 25quy luật tồn tại, vận động và phát triển của nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và trách nhiệm quan trọng của con người trong mối quan hệ với tự nhiên Trên cơ sở những hiểu biết đó, con người mới có thể lựa chọn, xác định được những chuẩn mực hành vi đạo đức đúng đắn, phù hợp trong quá trình khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Trải qua nhiều thế kỷ, môi trường sinh thái ở Việt Nam nói chung và ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, khu vực Hà Nội nói riêng đã trải qua các giai đoạn ứng xử văn hóa theo quy luật chung của tiến trình lịch sử Thăng Long - Đông
Đô - Hà Nội là một địa danh văn hóa của cả nước có hệ sinh thái kiểu Đông Nam Á, ao hồ, cây xanh và khí hậu vùng bán đảo Hệ sinh thái ấy đã trải qua những biến thiên lịch sử và có các ứng xử khác nhau của con người
Từ các nhận định trên tác giả hiểu khái niệm ứng xử với tự nhiên là
“toàn bộ những tác động của con người vào tự nhiên nhằm ngày càng hoàn thiện mối quan hệ con người - tự nhiên, trong đó con người luôn đóng vai trò chủ động điều khiển thái độ, hành vi của mình” Trong khái niệm ứng xử, có
bao hàm sự thích ứng, thích nghi của con người với thiên nhiên Ở luận văn này tác giả không đề cập đến tính thích nghi sinh học của con người mà sử dụng nội hàm về sự thích nghi với thiên nhiên nhờ vào những phương thức, công cụ và những tạo phẩm văn hóa Bởi lẽ, loài vật thích nghi với môi trường trực tiếp bằng cơ thể của chúng Còn ở con người, bên cạnh sự thích nghi sinh học; còn có sự thích nghi với môi trường nhờ những phương thức, công cụ và tạo phẩm văn hóa
Văn hóa ứng xử với tự nhiên Hà Nội hiện nay đã có những tiến bộ rõ rệt Giới trẻ Hà Nội đã thực hiện rất nhiều phương thức khác nhau để duy trì
sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, không sát sinh chim muông được bảo tồn, giảm hiện tượng chặt phá cây cối, các em đều hướng về sự giữ gìn môi trường trong sạch, ứng xử tốt với cảnh quan môi trường thiên nhiên hay
Trang 26các điểm du lịch sinh thái Giới trẻ có ý thức tốt đối với môi trường công cộng, tuân thủ thực hiện tốt những quy định chung của từng khu phố, cụm dân cư… Từ đó có thể thấy được sự hài hòa của con người và thiên nhiên của người Hà Nội xưa trong đó có cả giới trẻ Hà Nội hiện nay được biểu hiện ở 3 mức độ:
- Sống nương nhờ và thuận theo thiên nhiên, có ý thức hòa đồng với thiên nhiên, thậm chí tôn thờ thiên nhiên “Đất có thổ công, sông có Hà Bá’,
- Ứng phó nhạy bén và phù hợp với những thay đổi của các điều kiện thiên nhiên
- Cố gắng tận dụng tối đa và khai thác có giới hạn các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có để phục vụ cho việc ăn, mặc, ở, đi lại của con người
1.1.1.4 Định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên
* Khái niệm định hướng
Định hướng là việc hoạch định trước một phương pháp, mục tiêu để thực hiện nếu không có gì thay đổi Sự định hướng này đã có sự cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định Mục đích cuối cùng của sự định hướng có đạt được hay không còn phụ thuộc vào điều kiện khách quan [45, tr.114]
Môi trường văn hóa là môi trường con người không chỉ đã thích ứng,
mà còn đã biến đổi tự nhiên và môi trường xã hội Đặc trưng của môi trường văn hóa là luôn vận hành theo một hệ thống các giá trị văn hóa được cả cộng đồng chấp nhận và làm theo
Có thể coi hệ thống giá trị là chỉ số đánh giá trình độ đã đạt được của môi trường văn hóa Giá trị, theo Các Mác quan niệm, gồm giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, để phân biệt rõ các hàm nghĩa giá cả, phẩm giá, phẩm chất, ý nghĩa xã hội của phạm trù giá trị Giá trị có mặt khách quan và mặt chủ quan: mặt khách quan là những thực thể thiên nhiên và xã hội cũng như mối liên hệ
Trang 27của chúng để tạo ra giá trị Mặt chủ quan là thái độ, cách thức lựa chọn giá trị
và quy trình đánh giá giá trị thông qua các cá nhân và xã hội Qua sự phân biệt hai mặt khách quan và chủ quan này có thể thấy rằng, giá trị chủ yếu tồn tại, phát triển thông qua cái chủ quan Mà cái chủ quan thì luôn mang tính lịch
sử - cụ thể
Giá trị, dù đó là vật thể hay tư tưởng, là vật thực hay vật ảo, luôn luôn được các thành viên xã hội tin tưởng mạnh mẽ và coi như một biểu tượng quan trọng trong đời sống tinh thần của họ và cần đến nó như một nhu cầu thực thụ Giá trị, vì thế, là nhân tố nền tảng quyết định thái độ và hành động của cá nhân và cộng đồng; nó đóng vai trò điều chỉnh thái độ và hành động của cá nhân và cộng đồng, để định đoạt lợi ích xã hội của họ Nói khác đi, giá trị là nền tảng và đóng vai trò định vị văn hóa ứng xử; nó quy định tính lịch sử
- cụ thể của văn hóa ứng xử
Và sau nữa, do văn hóa ứng xử là văn hóa hành động (ứng phó và xử lý) của con người trong môi trường văn hóa lịch sử - cụ thể, cho nên nó được thể hiện và thực hiện thông qua những khuôn mẫu (chuẩn mực, tiêu chí, quy ước, quy chế ) và cả những kỹ năng ứng xử Các khuôn mẫu này cơ bản dựa vào các giá trị của nhân cách văn hóa mà mỗi người hay cộng đồng tự xác định theo các hệ chuẩn mực của xã hội và xã hội đòi hỏi sự “trở thành” của nhân cách Các giá trị văn hóa, trong đó có các giá trị nhân cách, đều mang bản chất chân, thiện, mỹ Tuy nhiên, các chuẩn mực, tiêu chí , vì là sự áp dụng
cụ thể các giá trị văn hóa vào đời sống thường nhật theo những lợi ích khác nhau, cho nên, chúng có hệ số biến dạng không phải là nhỏ Phải trải qua một khoảng thời gian nhất định mới có thể sàng lọc được những chuẩn mực, tiêu chí hợp lý, vừa phản ánh đúng được các giá trị văn hóa, vừa có thể cụ thể hóa được những giá trị này thành các tiêu chí được đa số thành viên xã hội tin tưởng và dễ nhớ, dễ làm theo Thực tế cho thấy các khuôn mẫu ứng xử truyền
Trang 28thống như phong tục, tập quán , đều đã được sàng lọc, trải nghiệm qua những thời kỳ lịch sử khác nhau, trước khi chúng trở thành giá trị văn hóa cộng đồng, giá trị văn hoá dân tộc
Văn hóa ứng xử còn được thể hiện, thực hiện bằng những kỹ năng ứng
xử Các kỹ năng này chỉ đạt đến chuẩn mực văn hóa khi chúng được rèn luyện, bồi dưỡng bởi những tư tưởng, đạo đức, lối sống có văn hóa Các kỹ năng này được hình thành chủ yếu thông qua con đường giáo dục
Qua tham khảo tài liệu trên đây luận văn dựa trên 8 nguyên tắc của Hội đồng thế giới về môi trường để từ đó có được nhận thức sâu sắc về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên:
1 Hạn chế tác động của con người tới sinh quyển ở mức độ nằm trong phạm vi chịu tải của nó
2 Duy trì kho tài nguyên sinh học
3 Sử dụng tài nguyên không tái tạo được với cường độ ở dưới khả năng tạo nên các chất thay thế
4 Thực hiện việc phân bố công bằng lợi ích, chi phí sử dụng tài nguyên
và quản lý môi trường
5 Khuyến khích các công nghệ tăng hiệu quả sử dụng từ một khối lượng tài nguyên nhất định
6 Sử dụng các chính sách kinh tế bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
7 Chấp nhận tiếp cận tham gia liên ngành trong quá trình quyết định
8 Khuyến khích và hỗ trợ việc phát triển các giá trị văn hóa phù hợp với tư tưởng phát triển bền vững
Định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên trước hết phải kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống Cần phải khai thác nguồn lợi văn hóa tinh thần trong tự nhiên để hoàn thiện lối ứng xử Bởi thiên nhiên đã mang đến cho con
Trang 29người đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, trong sáng, dũng cảm Tình yêu thiên nhiên xác lập nhu cầu văn hóa tinh thần trước tự nhiên sẽ luôn tạo lập hành vi ứng xử văn hóa Với thái độ nương nhờ, đùm bọc thiên nhiên như một người bạn, con người luôn gắn bó, giao hòa với thiên nhiên vì vậy chúng ta biết quý trọng, ngưỡng mộ thiên nhiên Văn hóa ứng xử với thiên nhiên sẽ được củng cố, hành vi tàn phá giới tự nhiên sẽ được hạn chế
Tính chất nền tảng có tính định hướng cơ bản và xuyên suốt của văn hóa ứng xử là thái độ ứng xử Thái độ ứng xử đối với việc lựa chọn, thực hiện khuôn mẫu ứng xử; thái độ ứng xử trong tự nhiên, xã hội và văn hóa cụ thể; thái độ đối với việc thể hiện, thực hiện các kỹ năng ứng xử Nghĩa là thái độ của con người đóng vai trò định hướng và có ý nghĩa xuyên suốt của văn hóa ứng xử Nó là một phần nền tảng và có tính định hướng của văn hóa ứng xử
Có thể quan niệm thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tư tưởng, tình cảm và lựa chọn của chủ thể, để có phản ứng ban đầu đối với tình huống hoặc quá trình ứng xử mà kết quả là chủ thể phải đặt ra được các nhiệm vụ cụ thể đồng thời sẵn sàng giải quyết được các nhiệm vụ đó Thái độ là kết quả tổng hợp và biểu hiện năng lực của tư tưởng, đạo đức, lối sống và tính cách của mỗi người; hay nói khác đi, nó là kết quả và biểu hiện năng lực của nhân cách trong quá trình ứng xử
Từ việc phân tích các hàm nghĩa của văn hóa ứng xử trên đây, tác giả nghiên cứu và bước đầu đưa ra nhận thức của mình về định hướng ứng xử với
tự nhiên như sau: “định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên là hướng hệ thống
thái độ, khuôn mẫu, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng đồng người trong mối quan hệ với tự nhiên, dựa trên những chuẩn mực xã hội, nhằm bảo tồn,
phát triển tự nhiên”
Trang 301.1.2 Giới trẻ Hà Nội
1.1.2.1 Khái niệm giới trẻ
Theo cách hiểu thông thường được sử dụng lâu nay, “giới trẻ” là từ dùng để chỉ những thanh niên vẫn đang trong độ tuổi Đoàn viên Theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X (nhiệm kỳ 2012- 2017) thì đó là những thanh niên trong độ tuổi từ 16-30 tuổi
Theo khoản 1 điều 1 của Luật Thanh niên (ban hành năm 2005) quy định: “Thanh niên là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ
16 - 30 tuổi”
Khái niệm giới trẻ: Là thế hệ thanh thiếu niên, là thế hệ đi sau tiếp bước các thế hệ đi trước đang được nuôi dưỡng, học tập và rèn luyện trong trường Trung học phổ thông đến đại học Ta có thể phân chia theo đội tuổi hoặc các cấp học
Trên thực tế có những quan niệm khác nhau và chưa có sự thống nhất tuyệt đối về giới hạn độ tuổi của thanh niên hay của giới trẻ nói chung
Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận văn là những thanh niên Hà Nội có độ tuổi từ 15 – 25 tuổi (chủ yếu là học sinh, sinh viên)
1.1.2.2 Đặc điểm của giới trẻ Hà Nội
Giới trẻ nước ta là một bộ phận quan trọng của dân tộc, là tương của lai
Tổ quốc Trong những năm qua, nhìn chung giới trẻ hăng hái tham gia vào các phong trào cách mạng do Đảng và Đoàn đề ra Trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, cũng như những khó khăn của đất nước ta trong quá trình phát triển, đa số giới trẻ ta đã biểu thị niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, ủng hộ và tham gia tích cực, có hiệu quả công cuộc đổi mới và thực hiện Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước
Là lực lượng đáng kể trong dân số thành phố, nhìn chung giới trẻ Hà Nội có trình độ văn hoá cao, năng động, thích ứng nhanh với cơ chế mới, đặc
Trang 31biệt là việc tiếp thu khoa học, công nghệ mới, có ý chí vươn lên để lập thân và lập nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu
Về tình hình tư tưởng giới trẻ, nhìn chung được giữ ổn định, có bước
chuyển biến mới trong nhận thức và ý thức chính trị Đại bộ phận giới trẻ tiếp
tục thể hiện sự tin tưởng vào đường lối và sự lãnh đạo của Đảng bằng những việc làm thiết thực Thông qua phong trào giới trẻ tình nguyện vai trò, uy tín của người đoàn viên giới trẻ được nâng lên
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, giới trẻ nước ta đã từng bước trưởng thành cùng toàn Đảng, toàn dân vượt qua biết bao thử thách, đưa sự nghiệp đổi mới đạt được nhiều thành tựu quan trọng Giới trẻ đã tích cực phấn đấu với tinh thần năng động, tự lực, tự cường, tự vươn lên lập thân, lập nghiệp không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu, góp phần hiện thực hoá mục tiêu dân giàu, nước mạnh Trong giai đoạn hiện nay, mẫu người lý tưởng được giới trẻ xác định phù hợp với yêu cầu và điều kiện mới của sự phát triển đất nước và thời đại Nếu như trong chiến tranh cứu nước, mẫu người lý tưởng của giới trẻ là “anh bộ đội
cụ Hồ”, trong thời kỳ bao cấp mẫu hình lý tưởng có phần nào chung chung trừu tượng (như làm chủ tập thể, có tư tưởng đúng và tình cảm đẹp ) thì hiện nay mẫu người lý tưởng của giới trẻ cụ thể hơn, thiết thực hơn và sinh động hơn
Đó là những con người có trí tuệ, giỏi chuyên môn, thạo việc, năng động, sáng tạo; có khả năng thích ứng cao với hoàn cảnh mới, có bản lĩnh, trung thực, giữ được chữ tín với mọi người; biết quý trọng và tiết kiệm thời gian, quan tâm đến năng suất, chất lượng hiệu quả; có chí tiến thủ, tiếp cận với khoa học, công nghệ hiện đại; có ý thức hợp tác, tôn trọng kỷ cương, pháp luật và có ý thức kỷ luật Các đặc trưng này vừa là biểu hiện cụ thể, vừa là tiền đề trong việc định hướng giá trị để giới trẻ chủ động bước vào cuộc sống Trong quá trình hoàn thiện nhân cách của mình, giới trẻ góp phần tích cực thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc, dân chủ, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 32theo định hướng xã hội chủ nghĩa Khi đời sống vật chất được cải thiện thì định hướng giá trị của giới trẻ có xu hướng tăng ở các giá trị xã hội tinh thần Vốn hành trang của mỗi giới trẻ tự chuẩn bị để bước vào thế kỷ mới, cuộc sống mới được giới trẻ xác định rất rõ ràng: 88,2% cho rằng cần có sức khoẻ tốt; 76,4% cần có nghề nghiệp, kiến thức chuyên môn vững; 73,6% cần có ý chí nghị lực tốt; 69,8% có niềm tin đối với mọi người và 59,9% cần có hiểu biết rộng về xã
hội (Theo báo cáo đề án xây dựng người Hà Nội văn minh, thanh lịch của
Thành ủy Hà Nội năm 2012) Đây chính là cơ sở để từng bước hình thành nhân
cách độc lập, tinh thần tự lực cánh sinh trong giới trẻ, chống lại tâm lý bao cấp,
ỷ lại khá nặng nề trong giới trẻ trước đây
Những khó khăn trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế cộng với mặt trái của cơ chế thị trường, sự yếu kém, thiếu đồng bộ trong công tác quản lý kinh
tế, xã hội và các hiện tượng tiêu cực, đặc biệt là tệ tham nhũng, buôn lậu đã tác động không tốt đến tư tưởng, nhận thức, niềm tin lý tưởng, lối sống của giới trẻ, cản trở việc phát huy tính tích cực xã hội của giới trẻ Mặt khác, một bộ phận cán
bộ, công chức thoái hoá, biến chất, tham nhũng, quan liêu, cơ hội ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin, lý tưởng của giới trẻ Ý thức chính trị trong một bộ phận lớn giới trẻ chưa thật sâu sắc Chưa có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, nhận thức về chủ nghĩa xã hội, về định hướng xã hội chủ nghĩa còn mơ hồ; tư tưởng vọng ngoại, sùng ngoại vẫn còn; một bộ phận ít quan tâm đến chính trị, thời cuộc Tinh thần dân tộc trong giới trẻ còn dừng lại ở nhận thức tư tưởng, chưa thật sự chuyển thành hành vi trách nhiệm rõ rệt trong công việc ứng xử hàng ngày, nhất
là trong hành động tự giác đối với sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước và thành phố” Khi nghiên cứu về “Mô hình hoạt động của Đoàn Thanh niên ngoại thành Hà Nội”, Thành Đoàn Hà Nội cũng có kết quả tương tự: 89% cán bộ Đoàn nông thôn làm vì trách nhiệm phân công và chỉ có 11% tự nguyện đến với hoạt động chính trị - xã hội Nhận xét về tình hình giới trẻ, có 57,6% cán
Trang 33bộ Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể cấp huyện và cấp cơ sở cho rằng
giới trẻ hiện nay chủ yếu lo làm ăn kinh tế, ít quan tâm đến chính trị (Theo báo
cáo đề án xây dựng người Hà Nội văn minh, thanh lịch của Thành ủy Hà Nội
năm 2012) Thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chưa thấm nhuần sâu sắc vào một bộ phận giới trẻ Chưa có nhiều giới trẻ tự nguyện học tập lý luận chính trị, say mê các môn học Mác - Lênin Trên thực tế nhiều giới trẻ không có việc làm, bế tắc trong cuộc sống đã tìm đến tôn giáo, coi đó là chỗ dựa và lối thoát Hiện tượng giới trẻ
đi tu, chịu ảnh hưởng của các tôn giáo, của mê tín dị đoan và hệ tư tưởng duy tâm đang tăng lên ở một số đối tượng giới trẻ làm ảnh hưởng đến tư tưởng, tinh thần của giới trẻ, là một hiện tượng cần được quan tâm nghiên cứu, giải quyết
trong quá trình tác động của đời sống kinh tế - xã hội (Theo báo cáo đề án xây
dựng người Hà Nội văn minh, thanh lịch của Thành ủy Hà Nội năm 2012)
1.2 Tổng quan Bảo tàng Địa chất Việt Nam
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Bảo tàng Địa chất Việt Nam là một bảo tàng chuyên ngành khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản lưu trữ, trưng bày và truyền bá các tri thức về địa chất và khoáng sản Việt Nam cũng như lịch sử tiến hóa của chúng Cho đến nay, Bảo tàng Địa chất Việt Nam là bảo tàng cấp ngành duy nhất của ngành Địa chất Việt Nam, nơi lưu giữ và trưng bày các mẫu vật địa chất, các tài liệu, ấn phẩm địa chất quốc gia; nơi giao lưu khoa học - kinh tế địa chất và là nơi tổ chức triển khai các hoạt động bảo tàng về địa chất Giống như ngành Địa chất, Bảo tàng Địa chất Việt Nam có tính đặc thù riêng, đó là bảo tàng chuyên ngành về khoa học trái đất, mang tính nghiên cứu cơ bản mà sự đầu tư phát triển không nhằm mang lại lợi nhuận kinh
tế trực tiếp trước mắt (không vì lợi nhuận trực tiếp) Vì thế, sự phát triển của
nó, ngoài việc phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế xã hội, còn lệ thuộc trực
Trang 34tiếp vào nhận thức xã hội Theo chiều dài lịch sử phát triển của đất nước, Bảo tàng Địa chất Việt Nam tuy có những bước thăng trầm, nhưng cũng đang trên
đà phát triển như một tất yếu khách quan, đã, đang và sẽ phát huy tiềm năng, vai trò, vị thế của mình, đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục bảo tồn, sử dụng hợp lý, khai thác phát huy giá trị to lớn của các di sản địa chất, di sản thiên nhiên, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Được sự đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội
vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, ngày 05/5/2006, Bộ trưởng Văn hoá - Thông tin đã ký quyết định xếp hạng I, Bảo tàng cấp quốc gia cho Bảo tàng Địa chất Việt Nam Đây là một sự kiện trọng đại ghi nhận tầm quan trọng và bước trưởng thành, đồng thời cũng là bước ngoặt thúc đẩy sự phát triển của Bảo tàng Địa chất Việt Nam trong thời kỳ mới
Bảo tàng Địa chất Việt Nam được xây dựng từ năm 1914, rất sớm ở nước
ta Trải qua bao nhiêu biến cố của lịch sử, Bảo tàng Địa chất Việt Nam luôn được duy trì và phát triển Giống như các đơn vị Bảo tàng khác, sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Địa chất Việt Nam gắn liền với lịch sử của đất nước và được chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn trước năm 1954, giai đoạn 1954-1975 và giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Giai đoạn trước năm 1954
Theo ông Blondel F., Giám đốc sở Địa chất Đông Duơng: Bảo tàng của
sở Địa chất Đông Dương được xây dựng năm 1914, đó là một toà nhà một tầng nằm phía sau nhà hát Lớn Hà Nội (Số 6, Phố Phạm Ngũ Lão ngày nay),
do các ông Lantenois H và Mansuy H sáng lập và tổ chức hoạt động Bài viết và ảnh toàn cảnh bên ngoài diện mạo của toà nhà đuợc in trên tạp chí số
14 của Sở Địa lý Hà Nội xuất bản năm 1928, sau chuyến tham quan của Hiệp hội Địa lý Đông Dương ngày 04/12/1927 Cho đến năm 1928, bảo tàng của
Trang 35Sở Địa chất Đông Dương đã trưng bày và phục vụ khách tham quan các mẫu vật thu thập trên toàn lãnh thổ 3 nước Đông Dương với 3 phần:
1 Khoáng vật và thạch học;
2 Cổ sinh vật;
3 Địa chất ứng dụng (trong đó cổ sinh vật là quan trọng hơn cả) Ngoài
ra, bảo tàng còn có một phòng nhỏ ở ngôi nhà bên cạnh trưng bày mẫu vật khảo cổ Số lượng mẫu vật có trong bảo tàng lúc đó khoảng 5.000 mẫu, gồm:
đá, quặng, hoá thạch và các mẫu khảo cổ học
Đây là cơ sở Bảo tàng Địa chất duy nhất của Việt Nam dưới thời thuộc Pháp có nhiệm vụ chủ yếu là tiếp nhận, lưu giữ và trưng bày mẫu vật địa chất
để phục vụ số ít “công chúng” với mục tiêu vơ vét tài nguyên khoáng sản ở các nước thuộc địa, số nhân lực phục vụ tại Bảo tàng Địa chất ở giai đoạn này không được công bố
Giai đoạn năm 1954 đến 1975
Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết (năm 1954), nước ta tạm thời bị phân chia thành hai miền Nam và Bắc; người Pháp đã chuyển đại bộ phận mẫu vật quý hiếm và những mẫu vật có giá trị nghiên cứu vào miền Nam, riêng những mẫu to và cồng kềnh bị bó lại, lập nên ở Sài Gòn một cơ sở Bảo tàng Địa chất thuộc Sở Địa chất Quốc Gia Cũng có thể coi từ đây Việt Nam có 2 cơ sở Bảo tàng Địa chất đóng ở 2 miền Nam và miền Bắc, chuyên sưu tập lưu giữ trưng bày mẫu vật địa chất Cơ sở Bào tàng Địa chất ở miền Bắc - đóng tại Hà Nội gọi là Bảo tàng Địa chất Hà Nội, cơ sở Bảo tàng Địa chất ở miền Nam gọi là Bảo tàng Địa chất miền Nam đóng tại Sài Gòn Các mẫu vật ở Bảo tàng Địa chất miền Nam được trưng bày trong một diện tích nhỏ ở Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc Gia Đến năm 1956, Bảo tàng Địa chất miền Nam đuợc chuyển sang Tổng nha
Mỏ thuộc Ngành Công nghiệp - Thủ công nghiệp của Bộ Kinh tế (số 59 Gia
Trang 36Long) và được tổ chức lại Hơn hai năm sau (năm 1959), Sở Địa chất cùng bảo tàng của mình được chuyển đến số 31 Hàn Thuyên (nay vẫn là đường Hàn Thuyên, quận 1, thành phố Hồ Chi Minh) Sau nhiều lần dọn đi dọn lại, Sở Địa chất thuộc Nha Tài nguyên Sài Gòn được di chuyển về số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm (thuộc quận 1, thành phố Hồ Chí Minh) - đây là địa chỉ cơ sở Bảo tàng Địa chất miền Nam thuộc Trung tâm Thông tin - Tư liệu - Bảo tàng Địa chất của Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam ngày nay
Trong giai đoạn này, cơ sở Bảo tàng Địa chất miền Nam được cung cấp nhiều sưu tập mới về miền Nam, trong đó đáng chú ý có sưu tập hoá thạch tuổi Silur ở Nông Sơn; hoá thạch thân mềm ở Lộ Đức, Buôn Ma Thuột; các mẫu hoá thạch ở các quần đảo thuộc vịnh Thái Lan Cuối năm 1970, Bảo tàng Địa chất miền Nam được xây dựng lại, đặt trong một phòng lớn tại tầng 1 với diện tích 120 m2 trưng bày theo 3 nội dung:
1975 Về mặt chuyên môn nghiệp vụ, hoạt động của Bảo tàng Địa chất Hà Nội trong giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn do hoàn cảnh lịch sử để lại, nhưng việc sưu tầm thu thập mẫu vật luôn được chú ý tiến hành và phát triển Đặc biệt
là từ năm 1960, nhận rõ được vai trò quan trọng và nhu cầu phát triển của Bảo
Trang 37tàng Địa chất, Tổng cục Địa chất đã mời chuyên gia Liên Xô (cũ) là Tiến sĩ Varfolomeev P.N Giám đốc Bảo tàng Địa chất Liên bang đóng ở Leningrad sang khảo sát và cố vấn cho Tổng cục về phát triển Bảo tàng Địa chất Hà Nội Duới sự hợp tác giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô cũ, công tác điều tra địa chất nói chung và công tác Bảo tàng Địa chất nói riêng đã được tổ chức triển khai mạnh mẽ Các phương án đo vẽ địa chất được tiến hành rộng rãi, kèm theo
đó là công tác sưu tầm mẫu vật Bảo tàng Địa chất của các phương án được quan tâm thực hiện Công tác trưng bày đuợc khôi phục lại, cơ cấu trưng bày được thiết kế theo 2 chủ đề lớn là: Địa chất khu vực và địa chất khoáng sản Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Địa chất Hà Nội ở giai đoạn này chỉ là đơn vị cấp phòng với số nhân lực hạn hẹp, giao động từ 3 - 5 người với nhiệm vụ tiếp nhận, lưu giữ mẫu và trông coi nhà trưng bày
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Đây là giai đoạn cả nước tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội Theo hoàn cảnh lịch sử kinh tế - xã hội, giai đoạn này được chia thành 2 thời kỳ: thời kỳ trước đổi mới (tính từ năm 1975 đến năm 1985), thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay)
Thời kỳ trước đổi mới (năm 1975 - 1985): Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước; cả nước khắc phục hậu quá nặng nề của chiến tranh giữ nuớc vĩ đại và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu Bảo tàng Địa chất Hà Nội
là một đơn vị cấp phòng thuộc viện Bảo tàng - Lưu trữ Địa chất Công tác sưu tầm mẫu vật được tiến hành nhờ thi công các công trình điều tra cơ bản về địa chất - khoáng sản ở các tỷ lệ khác nhau trên phạm vi toàn quốc Qua đó, Bảo tàng Địa chất Hà Nội đã tiếp nhận được thêm một khối lượng lớn mẫu vật với nhiều bộ sưu tập có giá trị thuộc địa tầng, cổ sinh, magma và khoáng sản các loại Công tác trưng bày vẫn đuợc tiến hành bổ sung theo 2 chủ đề lớn đã nêu
Trang 38trên Có thể nói ở thời kỳ này, các hoạt động Bảo tàng Địa chất Hà Nội vẫn mang tính thụ động, chủ yếu vẫn là tiếp nhận lưu giữ và trưng bày mẫu vật; công tác nghiên cứu - sưu tầm và trưng bày - tuyên truyền giáo dục cộng đồng chưa được quan tâm đúng mức, chưa phát triển
Thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay): Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) đã hoạch định đường lối - chính sách đổi mới, đây là bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đổi mới trước hết được bắt đầu từ kinh tế Về mặt kinh tế, mọi sự đầu tư cho hoạt động điều tra cơ bản trong ngành địa chất nói chung
và hoạt động của Bảo tàng Địa chất Hà Nội nói riêng không mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp và trước mắt; Bảo tàng Địa chất vừa là “chủ thể” vừa là “đối tượng” của ngành địa chất và về góc độ văn hoá thì Bảo tàng Địa chất là một thiết chế văn hoá Nếu nền kinh tế chưa phát triển thì công tác Bảo tàng Địa chất chưa thể có được sự quan tâm chú ý của cộng đồng, chưa thể nhận được
sự đầu tư đúng tầm cho phát triển Đầu tư cho hoạt động phát triển kinh tế lúc này của xã hội chỉ thường tập trung vào các ngành nghề mang lại lợi ích kinh
tế trực tiếp cho xã hội - đó là hiện thực khách quan Khi nền kinh tế xã hội phát triển, nhận thức và nhu cầu của công chúng tăng cao thì công tác Bảo tàng Địa chất mới được quan tâm đúng mức và phát triển Vì lẽ đó mà ngành Địa chất nói chung và Bảo tàng Địa chất Hà Nội nói riêng “bắt nhịp đổi mới” chậm hơn các ngành nghề khác
Kể từ năm 1991 đến nay, Bảo tàng Địa chất Hà Nội mới thực sự được củng cố, đổi mới và phát triển Đã có nhiều hội nghị khoa học cấp Cục, Vụ, Viện được tổ chức liên quan đến việc xác định chức năng nhiệm vụ và định hướng chiến lược phát triển bảo tàng của ngành địa chất nói chung và Bảo tàng Địa chất Hà Nội nói riêng, nhờ đó chức năng nhiệm vụ đã được mở rộng
và đang trên đà phát triển
Trang 39Ngày 05/05/2006, Bảo tàng Địa chất Việt Nam được vinh dự nhận danh hiệu là Bảo tàng Quốc gia Hạng I, trong hệ thống bảo tàng Việt Nam, theo Quyết định số 50/ 2006/ QĐ - BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch)
Bảo tàng Địa chất Việt Nam trong lịch sử phát triển của mình đã trải qua nhiều bước thăng trầm nhưng hiện nay Bảo tàng Địa chất Việt Nam đang trên đà phát triển, đã - đang và sẽ đóng góp tích cực cho việc bảo tồn sử dụng, khai thác và phát huy tác dụng to lớn của các di sản dịa chất, di sản thiên nhiên, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ
* Chức năng
Bảo tàng Địa chất Việt Nam là một bảo tàng chuyên ngành nằm trong
hệ thống Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
Theo Quyết định số 506QĐ/ĐCKS-TCCB: Bảo tàng Địa chất Việt Nam là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, là Bảo tàng chuyên ngành địa chất, có chức năng: Tổ chức thực hiện công tác nghiên cứu, thu thập, lưu trữ và trưng bày, giới thiệu mẫu vật bảo tàng địa chất cùng vật phẩm minh hoạ Bảo tàng Địa chất Việt Nam có
tư cách pháp nhân, có con dấu và có tài khoản theo quy định của pháp luật Bảo tàng Địa chất Việt Nam có số lượng tài liệu mẫu vật gốc phong phú và quý hiếm nhất về địa chất - khoáng sản ở Việt Nam, là nơi trưng bày - lưu giữ kết quả nghiên cứu về địa chất - khoáng sản của nhiều thế hệ, là nơi lưu giữ những mẫu vật Quốc tế trao tặng; và là nơi giao tiếp khoa học đối với ngành địa chất Điều đó đã khẳng định tiềm năng và vị thế vốn có của Bảo tàng Địa chất Việt Nam là bảo tàng chuyên ngành hàng đầu về khoa học địa chất ở Việt Nam
Trang 40Quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật;
Thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật;
Tổ chức hoạt động dịch vụ phục vụ khách tham quan phù hợp với
;nhiệm vụ của Bảo tàng Địa chất Việt Nam;
Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật”
1.2.3 Nội dung trưng bày
Trưng bày được coi là ngôn ngữ đặc trưng riêng của bảo tàng Nhờ có
hệ thống trưng bày, công chúng được tiếp cận với tài liệu mẫu vật bảo tàng dễ dàng hơn Trên cơ sở mẫu vật được trưng bày một cách khoa học, logic, các bảo tàng có điều kiện thực hiện tốt công tác giáo dục của mình Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống trưng bày, Bảo tàng Địa chất Việt Nam đã coi trọng việc xây dựng và chỉnh lý thường xuyên nội dung trưng bày nhằm mục đích thu hút khách tham quan
Hiện nay, Bảo tàng Địa chất Việt Nam có diện tích trưng bày là 1200m2 Nội dung trưng bày hiện nay của Bảo tàng Địa chất Việt Nam gồm có 3 chủ đề: