1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa ứng xử trong môi trường chung cư cao tầng ở hà nội ( qua khảo sát khu chung cư linh đàm và trung hòa nhân chính)

156 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước, với quỹ đất có hạn, không thể tăng thêm, nhưng dân số lại tăng lên một cách nhanh chóng về số lượng và đa dạng về tr

Trang 1

Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o Bé v¨n ho¸, thÓ thao vμ du lÞch

Tr−êng §¹i häc V¨n ho¸ Hμ Néi

-

NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG

VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG MÔI

TRƯỜNG CHUNG CƯ CAO TẦNG Ở

HÀ NỘI(QUA KHẢO SÁT KHU CHUNG

CƯ LINH ĐÀM VÀ TRUNG HÒA-NHÂN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG MÔI TRƯỜNG CHUNG CƯ 21

1.1 Tổng quan về chung cư cao tầng ở Hà Nội 21

1.1.1 Khái niệm chung cư cao tầng 21

1.1.2.Lịch sử phát triển của chung cư cao tầng tại Hà Nội 23

1.1.3 Vai trò nhà chung cư trong tổ chức đời sống cộng đồng 31

1.2 Lý luận chung về văn hóa ứng xử trong môi trường chung cư 33

1.2.1 Khái niệm về văn hóa ứng xử 33

1.2.2 Văn hóa ứng xử của cư dân trong môi trường chung cư 37

1.2.3 Vai trò của văn hóa ứng xử trong tổ chức đời sống cộng đồng 40

1.3 Tiểu kết 47

Chương 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA CƯ DÂN TRONG MÔI TRƯỜNG CHUNG CƯ CAO TẦNG Ở HÀ NỘI 48

2.1 Thực trạng văn hóa ứng xử của cư dân chung cư đối với không gian tự nhiên 49

2.1.1 Văn hóa ứng xử của cư dân với không gian sinh hoạt công cộng 49

2.1.2 Văn hóa ứng xử của cư dân chung cư với không gian căn hộ 61

2.1.3 Đánh giá chung 71

2.2 Thực trạng văn hóa ứng xử của cư dân chung cư cao tầng đối với không gian xã hội 79

2.2.1 Văn hóa ứng xử với gia đình 80

2.2.2 Văn hóa ứng xử với cộng đồng 87

2.2.3 Đánh giá chung 93

2.3 Tiểu kết 101

Trang 3

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA ỨNG

XỬ TRONG MÔI TRƯỜNG CHUNG CƯ CAO TẦNG Ở HÀ NỘI 103

3.1 Phương hướng 106

3.1.1 Bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia 106

3.1.2 Định hướng chiến lược 111

3.1.3 Phương hướng cơ bản 113

3.2 Giải pháp 121

3.2.1 Giải pháp trước mắt 121

3.2.2 Giải pháp lâu dài 127

3.3 Tiểu kết 130

KẾT LUẬN 133

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 ĐH KHXHNV Đại học khoa học xã hội nhân văn

6 PGS TS Phó giáo sư tiến sĩ

7 PGS TS KTS Phó giáo sư tiến sĩ kiến trúc sư

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ từ các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp cùng các ban ngành có liên quan Qua đây, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo, Ban Giám hiệu và Khoa Sau đại học- Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội, đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của TS Nguyễn Viết Chức- người đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban quản lý và cư dân ba khu chung cư Trung Hòa – Nhân Chính, Bắc Linh Đàm và Nam Trung Yên đã cung cấp tư liệu và tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong quá trình làm luận văn

Bản thân tôi đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý chân thành của các nhà nghiên cứu, các thầy, cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2012

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, nhà ở luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu của mọi quốc gia Nhà ở là tấm gương phản ánh trung thực tình hình kinh tế xã hội, trình độ văn minh, là thành phần cơ bản trong việc tạo lập không gian và những giá trị thẩm mỹ đô thị, đó là biểu hiện vật chất của văn hóa

Nhà ở là yếu tố quan trọng đánh dấu bước phát triển về chất của loài người từ ở trong hang núi đến việc biết làm nhà để tổ chức đời sống cộng đồng trong một trình độ cao hơn Chính điều đó đã tạo nên sự khu biệt về văn hóa sinh tồn của con người với bản năng sống của loài vật Nhà ở có ý nghĩa quan trọng như vậy trong lịch sử phát triển của loài người ngay từ buổi sơ khai.Trong thời hiện đại, xu thế đô thị hóa ngày càng cao, nhà ở nơi đất chật người đông càng có ý nghĩa quan trọng hơn cả về phương diện vật chất, kỹ thuật và văn hóa Có thể nói nhà ở đã tác động mạnh mẽ, làm thay đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, thay đổi văn hóa ứng xử từ những tổ chức cộng đồng đơn lẻ đến những hệ giá trị văn hóa trong cộng đồng

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, nhà ở

là vấn đề vô cùng quan trọng đối với tất cả mọi người dân, không chỉ đối với những người có thu nhập cao mà quan trọng đối với cả những người có thu nhập thấp, không chỉ quan trọng đối với người dân ở thành thị mà còn quan trọng đối với cả người dân ở nông thôn, không chỉ quan trọng ở hiện tại mà quan trọng cả trong quá khứ và tương lai, nó là vấn đề của thời đại Con người để sống và tồn tại ngoài nhu cầu về ăn, mặc thì nhu cầu về nhà ở là không thể thiếu đối với tất cả mọi người Chính vì vậy mà ông cha ta đã có câu: “Có an cư thì mới lạc nghiệp”

Trang 7

Xã hội ngày càng phát triển, dân số ngày càng tăng, xu thế chung ở các

đô thị là loại hình nhà chung cư ồ ạt xuất hiện, góp phần đa dạng hóa thị trường bất động sản, đáp ứng nhu cầu nhà ở của cư dân đô thị

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước, với quỹ đất có hạn, không thể tăng thêm, nhưng dân số lại tăng lên một cách nhanh chóng về số lượng và đa dạng về trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thị hiếu… Quá trình đô thị hoá gia tăng kéo theo sự gia tăng dân số cơ học với dòng người từ nông thôn du nhập vào thành thị tìm kiếm việc làm và cơ hội định cư, thêm vào đó cơ chế chính sách cởi mở của nhà nước về việc mua nhà, thuê nhà và nhập hộ khẩu ở Hà Nội làm cho dân số Hà Nội tăng nhanh trong thời gian gần đây Việc mở rộng địa giới hành chính Hà Nội với phần

mở rộng gồm tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình cũng góp phần vào việc tăng dân số vùng nội đô Hà Nội Sự gia tăng dân số trong vùng đô thị của Hà Nội đẩy nhu cầu về nhà ở ngày càng tăng, trong khi số lượng nhà ở lại có hạn nên đã gây

ra áp lực về nhà ở

Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa và sự phát triển nhanh chóng của các thành phố trên đất nước ta chính là động lực thúc đẩy và làm thay đổi chất lượng hình ảnh và không gian kiến trúc đô thị, đặc biệt là kiến trúc nhà ở Là một bộ phận của cấu trúc đô thị, loại hình nhà ở chung cư tồn tại trong lòng

đô thị cùng quá trình phát triển của nó Song hành với sự phát triển đô thị Việt Nam, chung cư cũng có những biến đổi từ quy mô, kiểu dáng kiến trúc, bố trí nội ngoại thất đến những trang thiết bị kỹ thuật khác nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của cư dân đô thị trong quá trình phát triển Từ bước khởi đầu là những dãy nhà chung cư thấp tầng, mà người ta hay gọi là nhà tập thể trong thời kỳ bao cấp cho đến những năm gần đây chung cư đã có dấu hiệu thay đổi về nhiều mặt Loại hình nhà ở chung cư cao tầng xuất hiện

Trang 8

ngày càng nhiều ở Hà Nội và các thành phố lớn như là kết quả tất yếu của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, để rồi nhanh chóng trở thành xu hướng phát triển nhà ở của đô thị Việt Nam hiện đại Có thể nói chung cư ngày nay được xây dựng đáp ứng nhu cầu của con người trong nền kinh tế thị trường _ nhu cầu ăn, ở, làm việc khác xa nhu cầu của thế kỷ trước Tuy nhiên, sự thay đổi từ nhà thấp tầng thành nhà cao tầng mới đáp ứng một phần về vật chất, kỹ thuật, tiện nghi và không gian sống cho con người, nhưng lại kéo theo nó một

hệ lụy về văn hóa khi những người vào sống tại các chung cư cao tầng đa phần vẫn đem nguyên xi lối sống, nếp sống văn hóa ứng xử cũ từ các môi trường, không gian sống khác vào chung cư mới mẻ này Chính điều đó đã tạo những bất cập trong việc sử dụng không gian chung, kỹ năng sống với các thiết bị hiện đại, vấn đề cháy nổ, kẹt thang máy… Và điều còn lớn hơn là đời sống tinh thần cộng đồng bị đe dọa bởi văn hóa ứng xử đang bị đảo lộn do không kịp thích ứng với môi trường sống mới Điều đó cho thấy, người ta mới chỉ quan tâm tới cơ sở vật chất bên ngoài chứ chưa nghĩ tới việc phải ứng xử với nó ra sao Chính vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá và tìm ra một khuôn mẫu phát triển cho văn hóa ứng xử của cư dân chung cư là vô cùng cần thiết

và là một yêu cầu khách quan

Sẽ là thiếu sót nếu chỉ nhìn thấy những bất cập trên mà vội đánh giá văn hóa ứng xử của cư dân trong những khu chung cư là không thể chấp nhận Bởi bên cạnh những hạn chế có thể khắc phục ấy, ta thấy, từ trong các khu nhà chung cư kia, văn hóa chung cư cũng đang được định hình và trở thành thân thuộc, tạo nên nhiều giá trị nhân văn đặc trưng cho văn hóa ở của

cư dân đô thị Vì thế nghiên cứu văn hóa chung cư cao tầng nói riêng là một việc làm thiết thực để có cái nhìn đúng đắn với đời sống của cư dân chung cư cũng như cư dân đô thị hiện đại Điều này càng có ý nghĩa trong bối cảnh kinh tế thị tường hiện nay, khi mối quan hệ giữa con người với con người,

Trang 9

con người với tự nhiên đang bộc lộ nhiều biểu hiện tiêu cực, có nguy cơ phá

vỡ nền tảng văn hóa, đạo đức truyền thống Như vậy, việc làm rõ những bất cập trong ứng xử văn hóa nói chung và văn hóa chung cư nói riêng là một yêu cầu thực tế

Việc nghiên cứu văn hóa ứng xử trong môi trường chung cư cao tầng tại Hà Nội thực sự là một yêu cầu khách quan về lý luận và thực tế

Về mặt nhận thức, ta thấy nhiều luồng ý kiến trái ngược nhau xoay

quanh loại hình nhà ở nói trên Nhìn dưới góc độ kiến trúc nhà ở, có người cho rằng chung cư cao tầng là phát triển tất yếu và hợp lý của nhà ở đô thị, có người lại cho rằng loại hình này khó có khả năng giải quyết triệt để vấn đề nhà ở và không thực sự phù hợp với Việt Nam, cũng có ý kiến nghi ngờ khả năng phát triển lành mạnh trong tương lai của chung cư cao tầng, xuất phát từ thực trạng xuống cấp của chung cư cũ thấp tầng tại Việt Nam Còn nhìn dưới góc độ văn hóa, có ý kiến đánh giá cao loại hình nhà ở chung cư, bởi đó là môi trường để văn hóa đô thị hình thành những đặc trưng rõ nét nhất và phù hợp với sự phát triển chung của xã hội hiện đại Lại có ý kiến xem môi trường chung cư là nơi mà ở đó văn hóa đạo đức truyền thống bị ăn mòn, lối sống cộng đồng không còn nữa, thể hiện ở văn hóa ứng xử của các chủ thể chung

cư, một cách ứng xử thực dụng và máy móc Để đưa ra cách phân giải cho những ý kiến trái chiều trên, không còn cách nào khác là nghiên cứu chung cư cao tầng một cách toàn diện, về cả mặt lịch sử, kiến trúc, xã hội và văn hóa

Về mặt văn hóa, để có những đánh giá khách quan và khoa học, tác giả xét mối quan hệ đa chiều giữa đối tượng nghiên cứu là cư dân chung cư cao tầng với các khách thể chi phối và ảnh hưởng Vậy nên, các yếu tố lịch sử, kiến trúc, xã hội được coi như yếu tố nền để tác giả tìm ra nét văn hóa đặc trưng khi nghiên cứu

Trang 10

Về mặt thực tiễn, nếu như người thu nhập cao có thể tìm đến những loại

hình chung cư hiện đại, với đầy đủ tiện nghi mà người ta hay gọi là chung cư cao cấp, thì người thu nhập thấp cũng có cơ hội sở hữu một căn hộ chung cư bình dân Tuy nhiên, thực tế hiện nay sống trong chung cư ở Việt Nam lại đặt

ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đó là sự ứng xử, ý thức giữ gìn không gian sống, cung cách kinh doanh của chủ đầu tư… mà nếu nhìn ở khía cạnh văn hóa, nó hãy còn là sự bề bộn có thể dẫn đến xung đột gay gắt

Hà Nội là một trong những thành phố đang xây dựng các khu nhà ở chung cư tập trung lớn về số lượng và phong phú về loại hình, kiểu dáng kiến trúc, với nhiều chủ đầu tư khác nhau và hình thức quản lý khác nhau… Do vậy, nghiên cứu các giải pháp xây dựng văn hóa ứng xử cho người dân khu nhà ở chung cư Hà Nội có thể ứng dụng cho các đô thị khác có điều kiện tương tự

Mặt khác, chung cư cao tầng hiện nay thường bị yếu tố kinh tế, lợi nhuận chi phối Có thể trong thiết kế và xây dựng, người ta đã tính đến vấn đề văn hóa, nhưng do giá cả, thị trường mà yếu tố văn hóa không được quan tâm, dịch vụ văn hóa (nhận thức, giáo dục ) bị thiếu hoặc không đồng bộ Ngoài

ra, tâm lý, thị hiếu, những thói quen và các nhu cầu khác của những người sống trong chung cư rất ít được quan tâm, không có sự nghiên cứu sâu sắc nhằm đưa ra các dịch vụ phù hợp và tiện ích Dường như chỉ lo bán được chung cư, còn việc các cư dân sống ra sao chưa được quan tâm thoả đáng Đối với nhiều người chuyển đến khu chung cư thì chung cư là một không gian văn hóa mới, môi trường mới, họ chưa dễ thích ứng, nếu không có hướng dẫn cũng như điều kiện để hoà nhập, cư dân sẽ không biết ứng xử như thế nào

“Láng giềng” trong chung cư khác với láng giềng trong làng xóm Lối sống làng xã với tất cả mặt tích cực và tiêu cực của nó không phù hợp với lối sống

Trang 11

của cộng đồng chung cư, bất cập nhất là lối sống tiểu nông được “bê” vào văn hóa ứng xử ở môi trường chung cư cao tầng

Đặc biệt, trong thời gian gần đây, tại các chung cư Hà Nội đã xảy ra những

sự cố đáng tiếc như cháy, kẹt cầu thang, mâu thuẫn giữa người quản lý và cư dân xung quanh dịch vụ và phí dịch vụ… phải chăng có nguyên nhân từ văn hoá tổ chức đời sống cộng đồng trong khu chung cư đang có những bất cập

Những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn như vậy cần được nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện mới có thể đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao đời sống vất chất và tinh thần của cư dân trong các căn hộ nhà cao tầng mà người

ta quen gọi là căn hộ chung cư cao cấp hiện nay Với thực trạng đó, việc nghiên cứu văn hoá ứng xử trong môi trường chung cư cao tầng tại Hà Nội là hết sức cần

thiết Và tôi chọn đề tài: “Văn hóa ứng xử của cư dân trong chung cư cao tầng tại

Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học

2 Lịch sử vấn đề

Về chung cư và văn hóa chung cư

Vấn đề nhà ở đô thị từ lâu đã trở thành một đối tượng lớn trong kiến trúc, xây dựng, các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, lối sống Song hành với sự phát triển của xã hội loài người nên nhà ở đô thị nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:

Dưới góc độ kiến trúc, cuốn Tìm hiểu lịch sử kiến trúc Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin dày hơn 1300 trang GS KTS Ngô Huy Quỳnh viết đã khái

quát sự phát triển của kiến trúc Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến 1998 Tác giả đã sưu tầm và vẽ, ghi một số công trình kiến trúc dân gian Việt Nam và kiến trúc cổ Việt Nam Cuốn sách được viết vào những năm 60 và được bổ sung trên cơ sở những tư liệu sưu tầm được sau khi giải phóng Miền Nam và thống nhất toàn vẹn tổ quốc “Nhằm phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội trên cả nước, tiến tới một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có tính hiện đại,

Trang 12

tính dân tộc”, cuốn sách này đã cố gắng khái quát và sơ bộ đánh giá vốn truyền thống và giá trị văn hóa dân tộc và nghệ thuật kiến trúc theo tinh thần: học xưa là vì nay, học cũ để làm mới, không phải quay lại thời xưa hoặc dẫm chân tại chỗ Đây cũng là cơ sở khoa học để luận văn thống kê lịch sử phát triển của loại hình chung cư tại Việt Nam và Hà Nội trong chương 1

Cũng ở góc độ kiến trúc, cuốn Kiến trúc dân dụng và công nghiệp, NXB Đại học XD và Nhà ở công cộng, NXB Khoa học kỹ thuật, tác giả Phạm

Ngọc Đăng đã tập trung nghiên cứu các vấn đề: Lịch sử kiến trúc và nguyên

lý thiết kế kiến trúc, cấu tạo nhà dân dụng, vật lý kiến trúc, quy hoạch thị trấn

và khu xí nghiệp, nhà ở, nhà công cộng, kiến trúc nhà công nghiệp Quan trọng cuốn sách đã nêu ra những khái niệm về chung cư, chung cư cao tầng

mà luận văn sẽ tham khảo

Cùng với một số luận án TS kiến trúc của TS Vũ An Khánh (Nghiên cứu cải tạo nâng cấp các khu nhà chung cư cũ nhiều tầng xây dựng tại Hà Nội giai đoạn 1960 – 1986), và PGS TS KTS Nguyễn Tố Lăng (Vấn đề quy hoạch cải tạo không gian khu ở tại Hà Nội theo khuynh hướng phát triển bền vững) đã tìm hiểu về kiến trúc chung cư một cách cụ thể Các công trình tập

trung nghiên cứu về hiện trạng các khu nhà ở chung cư cũ tại Hà Nội; các cơ

sở khoa học để xác định hướng giải pháp toàn diện và hệ thống cho cải tạo nâng cấp khu nhà ở chung cư cũ; đề xuất các nguyên tắc và giải pháp quy hoạch, về từng dạng kiểu công trình điển hình kết hợp cải tạo nâng cấp và xây mới các khu nhà ở chung cư phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Hà Nội hiện đại Dù không đề cập đến vấn đề văn hóa nhưng hai công trình trên đã giúp chúng tôi thấy được sự phát triển của chung cư ở Hà Nội, sự thay đổi và những biện pháp cụ thể để giúp chung cư thích nghi với sự thay đổi ấy Và đây cũng là một trong những cứ liệu mà luận văn đã phân tích để tìm ra mối liên hệ giữa cư dân chung cư với môi trường tự nhiên và những nét văn hóa ứng xử cụ thể, những giải pháp khả thi và thiết thực nhất

Trang 13

Dưới góc độ xã hội học, nổi bật là báo cáo đề tài cấp viện Xã hội học

của PGS TS Trần Cao Sơn: Chung cư cao tầng, loại hình nhà ở mới Hà Nội, những vấn đề cần xem xét, cụ thể là thông qua trường hợp nghiên cứu khu

chung cư cao tầng Bắc Linh Đàm - Hà Nội, kết quả báo cáo dựa trên phương pháp khảo sát thực địa, điều tra chọn mẫu 30 trường hợp, kết hợp phỏng vấn sâu 10 trường hợp, từ đó cần dựa vào một số vấn đề cần điều chỉnh, bổ khuyết trong việc hoàn thiện chung cư cao tầng sao cho phù hợp với nhu cầu người dân Tuy nhiên những vấn đề mà báo cáo xem xét mang tính xã hội, khá rộng Đặc biệt, vẫn chưa đưa ra được mối liên hệ cụ thể giữa cư dân chung cư với môi trường sống mới

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu dưới góc độ xã hội học cũng đã đề cập đến vấn đề nhà ở chung cư và đời sống, lối sống của người

dân đô thị trong mô hình nhà ở nói như trên Xã hội học đô thị, và Nơi ở và cuộc sống của cư dân Hà Nội ( tập 1, 2, NXB Văn hóa thông tin), đều do TS

Trịnh Duy Luân chủ biên Cuốn sách viết về người dân Hà Nội đang sống như thế nào, về môi trường sống của họ cũng như những nhân tố kinh tế xã hội đang hình thành và làm biến đổi môi trường sống này Trong cuốn sách, các tác giả đã đưa ra một số nghiên cứu tập trung vào những kiểu loại môi trường sống chủ yếu ở Hà Nội, như các khu tập thể cao tầng theo mô hình chủ nghĩa xã hội, các ngôi nhà được xây dựng bất quy tắc, rồi môi trường sống nông thôn– đô thị Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở phân tích sâu góc độ

xã hội học, còn góc văn hóa ứng xử của cư dân thì vẫn chỉ là khái quát hoặc chung chung

Dưới góc độ văn hóa, đề tài: Văn hóa chung cư (trường hợp Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), luận văn thạc sĩ văn hóa học của Nguyễn Thị Hà

Thanh (trường Đại học KHXHNV Hồ Chí Minh) đã chỉ ra được khái niệm va chạm trong văn hóa chung cư Sự va chạm thể hiện ra bên ngoài ở tâm lý bực

Trang 14

bội ức chế trong đời sống hàng ngày của cư dân chung cư Bên cạnh đó, luận văn đã bước đầu tìm hiểu những đặc trưng văn hóa chung cư trong giai đoạn chuyển đổi, tham gia nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, do triển khai theo hướng tổng hợp, khái quát nên tác giả đã không đưa ra dẫn chứng cụ thể, chưa đánh giá sâu sắc và đưa ra những phương hướng giải quyết cho những vấn đề đặt ra.

Về văn hóa ứng xử

Khác với vấn đề chung cư và văn hóa chung cư, vấn đề ứng xử lại được các nhà khoa học tiếp cận và phân tích từ nhiều góc độ, tùy lĩnh vực, chuyên môn

Các nhà tâm lý học khá tập trung vào vấn đề này và cho ra đời nhiều

công trình nghiên cứu, tiêu biểu là cuốn Tâm lý học ứng xử, NXB Giáo dục,

2000 do PGS.TS Lê Thị Bừng chủ biên Trong cuốn sách, những vấn đề cơ

bản như khái niệm ứng xử, bản chất, phân loại… được tập hợp, đề cập một cách cụ thể, hệ thống và khoa học, trên cơ sở đó làm nền tảng cho việc vận dụng vấn đề ứng cử trong các mối quan hệ người - người Và trong phần II của cuốn sách, tác giả đã đưa ra một số tình huống trong giao tiếp thường gặp trong các mối quan hệ ở gia đình, nơi công sở, trường học, ngoài đường phố Mỗi tình huống có gợi ý một số cách ứng xử có tính giả định gợi ý Mặc dù là cuốn sách đầu tiên bàn về một vấn đề rất phức tạp trong các mối quan hệ người về giao tiếp- ứng xử cả lý luận lẫn thực tiễn, nhưng phạm vi nghiên cứu khá rộng (gia đình, nhà trường, cơ quan, xí nghiệp, nơi công cộng), chưa thực

sự đi sâu vào một đối tượng cụ thể Hơn nữa các vấn đề mà cuốn sách đề cập đều được tác giả nhìn dưới lăng kính tâm lý ứng xử, nét văn hóa ít đề cập hoặc chưa rõ

Còn với các nhà văn hóa, trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục của GS Trần Ngọc Thêm, hệ thống văn hóa Việt Nam được xem xét một

cách đồng đại theo bốn thành tố, nhưng trong mỗi thành tố, một bộ phận của

Trang 15

thành tố lại chú trọng tới tính lịch đại của nó Tiến trình văn hóa Việt Nam không chỉ được phác thảo trong chương 1, mà còn bao trùm lên toàn bộ cuốn sách: Khởi đầu từ các điều kiện vật chất quy định và định vị văn hóa Việt Nam chương 1, ta thu được cái tinh thần là văn hóa nhận thức và văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng (chương 2- 4), để rồi cái tinh thần đó lại tác động trở lại đời sống vật chất (chương 5: ăn- mặc- ở- đi lại), cũng như cách thức ứng xử và thành quả giao lưu với môi trường xã hội (chương 6) Từ quá khứ (văn hóa bản địa và giao lưu với khu vực), chúng ta đã đi dần đến hiện lại (giao lưu với phương Tây), để rồi cuối cùng kết thúc bằng việc xem xét cuộc "đối mặt" đang diễn ra giữa văn hóa cổ truyền với nền kinh tế thị trường và sự thâm nhập của văn minh

phương Tây hiện đại Hay cuốn Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay, NXB Từ điển Bách Khoa và Viện văn hóa của PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn, tác giả cho

chúng ta cái nhìn toàn cảnh hơn về văn hóa ứng xử của người Việt Nam trong quá trình hội nhập hiện nay Hai cuốn sách đã chỉ ra văn hóa ứng xử dưới một cái nhìn dưới cái nhìn tổng quát, nhưng còn thiếu cái nhìn cụ thể đối với từng đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu là đô thị Hà Nội, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

Người Hà Nội thanh lịch của Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội (1974), Nxb

Hà Nội Công trình tập trung phân tích đánh giá những giá trị văn hóa và biểu hiện

chất thanh lịch ở người Hà Nội trong lịch sử và trong cuộc sống hàng ngày lúc đó Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh nét đẹp thanh lịch trong cuộc sống tập thể

Văn hóa Thủ đô hôm nay và ngày mai, Vũ Khiêu, Nguyễn Vĩnh Cát

(1991), Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội Thông qua việc phân tích, đánh giá văn hóa Thủ đô qua 45 năm xây dựng và phát triển (1945 - 1990), nhất là mục

“Bộ mặt Thủ đô qua nếp sống ngày nay”, các tác giả đã làm rõ sự biến đổi cách thức ứng xử trong sinh hoạt vật chất, tinh thần và cuộc vận động xây

Trang 16

dựng Nếp sống văn minh- Gia đình văn hóa khi mới bước vào đổi mới Các tác giả dự báo xu hướng phát triển nếp sống văn hóa tiếp theo qua mối quan

hệ ứng xử trong gia đình, giao tiếp xã hội và sinh hoạt cá nhân; tức là những nội dung cơ bản trong văn hóa ứng xử với môi trường xã hội và với bản thân

Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên của TS Nguyễn Viết Chức (2002) Viện Văn hóa và Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội

Công trình đã phân tích và trình bày hệ thống lý luận hiện đại và gắn với môi trường thiên nhiên cụ thể của Hà Nội từ truyền thống đến hôm nay, trình bày mối quan hệ nhiều chiều giữa con người với thiên nhiên nói chung, thiên nhiên Việt Nam, thiên nhiên Hà Nội nói riêng, từ đó xây dựng một quy chuẩn ứng xử văn hóa đối với thiên nhiên và những vấn đề quan trọng nhất về văn hóa ứng xử của người Hà Nội đối với thiên nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước thách thức của toàn cầu hóa Khi làm rõ văn hóa ứng

xử với môi trường thiên nhiên của người Hà Nội, tác giả đã nhắc đến mối liên

hệ phổ biến giữa thiên nhiên - xã hội - văn hóa, cũng như không tách rời văn hóa Hà Nội với văn hóa của cả nước vì mục tiêu phát triển bền vững Bài viết:

Văn hóa đô thị với nếp sống người Hà Nội, Phan Đăng Long, tạp chí Văn hóa nghệ thuật, tác giả đã tập trung so sánh, tìm ra những nét đặc trưng của văn

hóa đô thị so với nông thôn cũng như cách thức ứng xử của cư dân Trên nền

đó, tác giả cũng chỉ ra những nét văn hóa và lối sống đặc trưng của người Hà

Nội xưa và nay có gì thay đổi Hay bài viết: Ứng xử của người dân đô thị với thiên nhiên, tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hồ Sĩ Vịnh, tác giả đã phân tích và

chỉ ra việc ứng xử của người dân ở đô thị đối với thiên nhiên, những điểm được và chưa được Qua bài viết, tác giả có đề cập đến một số nguyên nhân dẫn đến việc ứng xử ấy và cũng đưa ra một số giải pháp cụ thể Dù không nói đến văn hóa ứng xử của người Hà Nội trong trong môi trường chung cư cụ thể, nhưng các công trình đã cho chúng tôi những cái nhìn rõ ràng về văn hóa

ứng xử, để có thể triển phân tích nội dung luận văn được chính xác

Trang 17

Văn hóa ứng xử trong môi trường chung cư cao tầng ở Hà Nội, Trịnh Mai Phương, tác giả đã có cái nhìn ban đầu về văn hóa ứng xử trong chung

cư, đã phân tích được những thái độ, hành vi ứng xử của cư dân chung cư đối với hai môi trường tự nhiên và xã hội Đồng thời khóa luận cũng chỉ ra được một số trở ngại và đưa ra một số phương hướng nhằm xây dựng nếp ứng xử trong môi trường chung cư cao tầng ở Hà Nội Tuy nhiên, khóa luận còn thiếu cái nhìn cụ thể về đối tượng, và xuyên suốt tác phẩm là góc nhìn ảnh hưởng của sự thay đổi kiến trúc

Như vậy, theo thời gian, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về chung cư nhưng phần lớn dưới góc độ lịch sử, kiến trúc và xã hội học Các công trình nhìn dưới góc độ văn hóa cũng có, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về văn hóa ứng xử của cư dân sống trong chung cư cao tầng như một đối tượng riêng biệt Tuy nhiên, các công trình nêu ở trên là sự gợi ý và cung cấp một số cơ sở luận cứ, luận chứng để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài của luận văn Trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của những công trình trên, luận văn triển khai một đề tài mới: Văn hóa ứng xử của cư dân sống trong chung cư cao tầng tại Hà Nội

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là cư dân sống ở chung cư cao tầng tại Hà Nội

Đó là những người thuê nhà, mua nhà trong khu chung cư cao tầng Cụ thể là những cư dân sống trong khu chung cư tại ba khu đô thị: Linh Đàm, Trung Hòa - Nhân Chính và Nam Trung Yên Các đối tượng được lựa chọn đa dạng về độ tuổi, nghề nghiệp, mục đích sinh sống Tuy nhiên tập trung vào các đối tượng trên 18 tuổi và các đối tượng ở tầng 1 hoặc các tầng từ 6 trở lên tức là độ cao mà trước đây chưa xuất hiện trong các khu chung cư thấp tầng ở Hà Nội

Trang 18

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Hiện nay, trên đất nước Việt Nam có nhiều địa phương phát triển chung

cư, chúng tôi chỉ nghiên cứu ở Hà Nội Nhưng ngay ở Hà Nội cũng rất nhiều khu chung cư Do giới hạn một luận văn và điều kiện cho phép, chúng tôi tiến hành khảo sát nghiên cứu văn hóa ứng xử của cư dân sống tại chung cư cao tầng

ở Hà Nội tại 3 khu chung cư: Trung Hòa- Nhân Chính, Bắc Linh Đàm và Nam Trung Yên Đây là các khu chung cư cao tầng thuộc các khu đô thị mới, hiện đại của thành phố Hà Nội khi chưa mở rộng với Hà Tây và một số huyện của Hòa Bình, Vĩnh Phúc Ba khu chung cư này mang đầy đủ tính chất điển hình như thời gian chính thức đưa vào sử dụng, quy mô xây dựng, kiểu dáng kiến trúc, cư dân

đã hình thành cộng đồng sống tương đối ổn định Và ba khu chung chung cư này

đủ đại diện cho những chung cư cao tầng ở Hà Nội

Trong ba khu chung cư trên còn phân khu nhỏ hơn, tác giả chọn một số phân khu tiêu biểu để khảo sát, cụ thể:

+ Khu đô thị Linh Đàm: Khu chung cư CT4 - A và khu chung cư CT5 - X2 + Khu đô thị Trung Hòa- Nhân chính: Khu chung cư 34T và khu chung

cư N2E

+ Khu Nam Trung Yên: Tòa nhà B6b

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của luận văn là: nghiên cứu làm rõ quan niệm, đặc điểm, vai trò và thực trạng văn hóa ứng xử của cư dân trong chung cư cao tầng ở Hà Nội; từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp xây dựng chuẩn mực văn hóa ứng xử trong cộng đồng chung cư cao tầng ở Hà Nội nói riêng

và các đô thị khác trên cả nước nói chung

Trang 19

- Bước đầu khảo sát, mô tả, phân tích và đưa ra những đánh giá khách quan thực trạng văn hóa ứng xử của cư dân sinh sống tại chung cư cao tầng ở

Hà Nội

- Bước đầu tìm ra những nguyên nhân, những vấn đề nảy sinh đồng thời đưa ra phương hướng và giải pháp để xây dựng nếp ứng xử có văn hóa trong môi trường chung cư cao tầng tại Hà Nội cũng như đô thị khác ở nước ta

5 Phương pháp nghiên cứu

Để có cái nhìn khách quan và những đánh giá xác thực về thực trạng văn hóa ứng xử của cư dân trong môi trường chung cư cao tầng ở Hà Nội, luận văn

sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp luận Mác- Lênin, vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong xây dựng lối sống văn hóa trong thời kỳ kinh tế thị trường

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, tổng hợp và phân tích những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu thực địa

- Phương pháp điều tra xã hội học: Phát phiếu điều tra, phỏng vấn sâu

6 Tính mới của luận văn

Luận văn bước đầu nghiên cứu văn hóa ứng xử của cư dân chung cư cao tầng ở Hà Nội một cách toàn diện và cụ thể Chỉ ra hình thức, nội dung,

Trang 20

cái chuẩn mực của văn hóa ứng xử của cư dân sống trong môi trường chung

cư cao tầng ở Hà Nội và đề xuất một số phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục xây dựng văn hóa ứng xử của cư dân trong chung cư cao tầng ở Hà Nội hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn

Để thực hiện tốt nhiệm vụ và đạt được mục đích luận văn đặt ra, ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai ở ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về văn hóa ứng xử trong môi trường

chung cư

Chương 2: Thực trạng văn hóa ứng xử của cư dân trong môi trường

chung cư cao tầng ở Hà Nội

Chương 3: Phương hướng, giải pháp xây dựng ứng xử văn hóa trong

chung cư cao tầng ở Hà Nội

Trang 21

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG MÔI TRƯỜNG CHUNG CƯ

1.1 Tổng quan về chung cư cao tầng ở Hà Nội

1.1.1 Khái niệm chung cư cao tầng

Nhà chung cư là nhà ở có nhiều tầng (từ 2 tầng trở lên gồm nhiều căn

hộ riêng biệt), có cấu trúc theo kiểu căn hộ, có cầu thang và lối đi chung

Khái niệm nhà chung cư được nhắc đến lần đầu tiên trong Luật Nhà ở

2005 (điều 70), trước đó nhà chung cư được gọi là nhà tập thể

Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân Nhà chung cư có phần sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân và phần sở hữu chung của tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà chung cư [24]

Theo cuốn Kiến trúc dân dụng, NXB Đại học xây dựng, “Chung cư là kiểu nhà ở tập thể của nhiều gia đình, mỗi gia đình có một căn hộ riêng, sống độc lập khép kín Những căn hộ này lại sử dụng chung nhiều bộ phận kiến trúc nên được gọi là chung cư” [18, tr.5]

Gần đây, theo xu hướng phát triển nhà đô thị, một số nhà ở chung cư cao tầng được xây dựng để bán và cho thuê, phổ biến là loại nhà ở chung cư

có số tầng từ 9 đến 12 tầng Tại điều 2 Nghị định 71/ 2001/ NĐ-CP ngày 05/ 10/ 2001 của Chính Phủ về “ưu đãi đầu tư xây dựng để bán và cho thuê” đã đưa ra khái niệm về nhà ở chung cư cao tầng: “nhà cao tầng (từ 5 tầng trở nên đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh); có cấu trúc kiểu căn hộ khép kín có cầu thang và lối đi chung” Từ đó khái niệm nhà ở chung cư cao tầng tại Hà Nội được hiểu như sau:

Trang 22

Nhà ở chung cư cao tầng là nhà ở có cấu trúc kiểu căn hộ khép kín, có cầu thang và lối đi chung, có số tầng nhà từ 7 trở lên và cần trang bị thang máy kết hợp thang bộ [1, tr.14]

Trên cơ sở các định nghĩa trên, ta có thể xác định phạm vi khái niệm

chung cư như sau: “Chung cư là thuật ngữ dùng để chỉ một dạng nhà ở xuất hiện nhiều ở các đô thị, bao gồm nhiều căn hộ riêng biệt, độc lập cho nhiều gia đình sinh sống Chủ sở hữu căn hộ có quyền sử dụng chung tất cả không gian công cộng trong khuôn viên chung cư”

Hiện nay, thuật ngữ “ nhà chung cư” còn có tác dụng thay thế thuật ngữ

“nhà tập thể” mà người Việt Nam thời kỳ trước thường dùng Chính vì vậy

luận văn cũng sử dụng 2 thuật ngữ này với ý nghĩa tương đương nhau

Nhà ở chung cư cao tầng tại Hà Nội bao gồm nhà ở chung cư cao tầng thuộc sở hữu nhà nước và nhà ở chung cư cao tầng thuộc khu đô thị mới

Thứ nhất, Nhà ở chung cư cao tầng thuộc sở hữu nhà nước tại Hà Nội được nhà nước xây dựng chủ yếu trong thời kỳ thực hiện ở cơ chế bao cấp nhà ở Đây là giải pháp để giải quyết nhu cầu bức bách về chỗ ở cho người dân đô thị

Thứ hai, nhà ở chung cư cao tầng tại các dự án xây dựng khu đô thị mới để bán hoặc cho thuê Đây chính là phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trên thế giới, nhà ở cao tầng được phân loại như sau: loại I từ 9- 16 tầng, loại II từ 17- 25 tầng, loại III từ 26- 40 tầng, còn trên 40 tầng là nhà chọc trời Tại Việt Nam, việc phân loại nhà ở chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Hiện nay, việc phân loại nhà ở theo chiều cao chỉ là ước lượng ở 2 nhóm: nhà ở thấp tầng và nhiều tầng- đến 5 tầng- tức là loại không có thang máy và nhà ở cao tầng- trên 5 tầng [27, tr.8] Tiêu chuẩn phân loại trên cũng

là cơ sở để hình thành khái niệm chung cư nhiều tầng và chung cư cao tầng, trong đó:

Trang 23

Chung cư nhiều tầng: Những ngôi nhà có từ 4- 6 tầng nhà [1, tr.14] Chung cư cao tầng: Những ngôi nhà có số tầng từ 7 trở lên và cần trang

bị thang máy kết hợp thang bộ [1, tr.14] Theo điều 239 Bộ Luật dân sự thì nhà chung cư có các đặc điểm sau:

“Phần diện tích, trang thiết bị dùng chung trong nhà chung cư thuộc sở hữu chung của tất cả chủ sở hữu các căn hộ đó và không thể phân chia”

“Chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng phần diện tích và thiết bị chung “

“Trong trường hợp nhà chung cư bị tiêu huỷ, thì chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền sử dụng diện tích mặt đất của nhà chung cư theo quy định của pháp luật

1.1.2.Lịch sử phát triển của chung cư cao tầng tại Hà Nội

Trên thế giới, chung cư là loại hình nhà ở đại diện cho nền văn minh công nghiệp Khi chủ nghĩa tư bản ra đời, việc xây dựng chung cư trở nên phổ biến do áp lực về diện tích đất đai và dân số Ở những nước phát triển, sự bùng nổ mới đây của dạng thái đô thị nhà phố đã mang lại sự thay đổi trong nền văn hóa nhà ở thiên về căn hộ chung cư Cho đến nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới, lối sống chung cư đã định hình và tạo nên những bản sắc văn hóa riêng

Trong lịch sử phát triển nhà ở của người Việt, thì từ “chung cư” mới xuất hiện vào khoảng thập niên 40, 50 của thế kỷ XX cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hóa, cùng sự du nhập của kỹ thuật phương Tây Còn trước

đó, ở miền Bắc, người ta chỉ biết đến khái niệm “nhà ở tập thể”, loại nhà do Nhà nước xây dựng hàng loạt từ 1 tầng đến 5 - 6 tầng để phân phối cho gia đình cán bộ công nhân viên chức trong biên chế Chính vì vậy, có thể nói Khu

cư xá Lareygnere được phép xây dựng nhằm phục vụ giới công chức Pháp, nằm trên đường phố Sài Gòn (khoảng những năm 50) đã đánh dấu sự xuất hiện của công trình nhà chung cư đầu tiên ở Việt Nam [29, tr.353]

Trang 24

Có thể nói, chung cư tại Việt Nam có một lịch sử phát triển non trẻ và không liên tục trong chuỗi tiến hoá của đô thị Việt Nam Trong thời kỳ đầu của đô thị Việt Nam, tại miền Bắc chung cư Việt Nam chịu ảnh hưởng của kiến trúc và đô thị của Liên Xô (cũ) và Cuba Trong khi đó tại miền Nam, kiến trúc chung cư chịu ảnh hưởng từ tư duy đô thị thuộc địa của Pháp và đặc biệt Mỹ sau đó

Chung cư xuất hiện tại Hà Nội vào khoảng những năm 1950, và cho đến nay chung cư bắt đầu có những bước phát triển và tiến hoá với nhiều cung bậc khác nhau và đang trở thành một sự lựa chọn về không gian sống của của nhiều người dân Dựa trên quá trình quy hoạch nhà ở của Hà Nội, và theo những bước tiến bộ về số lượng, chất lượng chung cư và quan điểm thiết kế, luận văn đã

phân kỳ quá trình hình thành, phát triển của chung cư và chung cư cao tầng tại

Hà Nội theo 2 giai đoạn chính: Từ năm 1954 đến năm 1986, và từ năm 1986 đến

nay Việc phân kỳ như trên cũng kết hợp với việc thống kê một số công trình chung cư tiêu biểu để thấy rõ lõ lộ trình biến chuyển của chung cư Hà Nội từ chung cư thấp tầng đến chung cư cao tầng về cả 3 mặt: kiến trúc- kỹ thuật xây dựng, mục đích xây dựng, và đối tượng sinh sống

1.1.2.1 Giai đoạn chung cư đầu tiên (Từ năm 1954 đến năm 1986)

Từ sau khi nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, quân dân miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng đã xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt nhiều thành tích đáng khích lệ Kiến trúc cũng góp phần nhất định trong sự nghiệp lớn lao đó

Ngay từ Đại hội Hội Kiến trúc sư lần thứ I năm 1948 được nhóm họp trong rừng sâu Việt Bắc, Bác Hồ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến trúc:

“Trong 4 điều quan trọng nhất của dân sinh- ở và đi lại là 2 vấn đề cũng cần thiết như ăn và mặc Vì vậy việc kiến trúc cũng là một việc rất quan hệ”

Trang 25

Cùng với việc mở rộng xây dựng, địa giới Hà Nội cũng ngày một lớn hơn Diện tích Hà Nội năm 1954 là 1.200 ha, đến năm 1959 đã mở rộng tới 2.000 ha, và dân số Hà Nội năm 1960 là 638.000 người

Trong 40 năm của thời kỳ 1945- 1985 thì có tới 30 năm nước ta ở trong tình trạng chiến tranh, trong đó có những thời kỳ Mỹ mở rộng đánh phá ra Hà Nội hết sức ác liệt Rất nhiều cơ sở vật chất thuộc lĩnh vực kiến trúc, xây dựng của Hà Nội bị tàn phá và hậu quả chiến tranh nặng nề còn kéo dài cả sau ngày đất nước thống nhất Trong giai đoạn này, được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, đã bước đầu nghiên cứu và đưa ra một sơ phác “Quy hoạch xây dựng thủ đô Hà Nội” Mặc dầu mới chỉ ở dạng sơ đồ nhưng phương án này đã có một số điểm đáng chú ý Tuy không trở thành hiện thực nhưng những điểm hay trong đó được đưa ra tham khảo cho quy hoạch tổng thể thủ đô sau này như: hướng phát triển thành phố chủ yếu nên hướng về hướng Tây, Tây Nam và phía Đông (có nghĩa là mở rộng Gia Lâm), trung tâm thành phố cần đặt vòng theo Hồ Tây vòng xuống khu vực Ba Đình và Hồ Gươm

Thời kỳ này những thành tựu đáng khích lệ thuộc về lĩnh vực kiến trúc nhà ở Giai đoạn này Hà Nội đã đưa vào sử dụng một số khu nhà ở một tầng như những khu nhà ở An Dương, Phúc Xá, Mai Hương, Đại La và 2 khu nhà ở hai tầng ở đường Bờ Sông Đặc điểm của những khu nhà ở này là thành phần công năng của căn hộ đơn giản, nhà chỉ gồm một số dãy nhà chính cho nhiều căn phòng xếp cạnh nhau, mỗi nhà chính có thể có dãy nhà phụ phía sau hoặc ở 2 đầu hồi đặt bếp, vệ sinh Những khu nhà này đã có tác dụng nhất định trong việc ổn định chỗ ở cho công nhân và nhân dân lao động Theo số liệu thống kê, từ năm 1961 đến 1963, Hà Nội đã xây dựng được 99.700 m2nhà ở (dự kiến trong 5 năm, sẽ cố gắng xây dựng được 160.000 m2)

Trang 26

Những thể nghiệm đầu tiên trong việc xây dựng chung cư là vào cuối những năm 50 là khu Lương Yên (1957) ở quãng đường đê sông Hồng cũ, thường gọi là khu Lò Lợn (Abattoir) và khu Nguyễn Công Trứ (1959), ở nghĩa địa Tây cũ, đều ở nơi đông dân phía Nam nội thành Khu công nhân ở Lương Yên có 62 gian, làm bằng gạch và đất vách Khu Nguyễn Công Trứ cho cán bộ, khang trang hơn, gồm những dãy nhà song song, 4 tầng, mỗi tầng

có phòng riêng, và nhà bếp, nhà tắm chung, đúng tinh thần tập thể Cách ở như vậy là đã có điểm khác với truyền thống làng xã: sinh hoạt gia đình không hoàn toàn cách biệt nhau, ở theo chiều cao, bề dọc

Từ những năm 60, đã có những dự án xây dựng đô thị hóa tầm cỡ hơn

ở các ngoại ô xa hẳn, bao quanh thành phố Khu Kim Liên xây trong 10 năm(1960-1970) do KTS Đàm Trung Phường, Ngô Huy quỳnh phụ trách cùng sự giúp đỡ của các chuyên gia Triều Tiên Khu Kim Liên được xây dựng bằng phương pháp lắp ghép tấm nhỏ Chỉ trong vòng 2 năm rưỡi, các nhà xây dựng đã đưa vào sử dụng được 22 ngôi nhà ở 4 tầng với diện tích xây dựng là 17.350 m2 Nhà có mặt bằng kiểu hành lang bên (rộng 1,5 m), mỗi bên cầu thang (rộng 2,7 m) có 2 căn hộ (mỗi căn hộ 2 phòng có 1 khối bếp và 1 khối

vệ sinh ở khu vực cửa vào) Diện tích mỗi phòng thường là 18- 19 m2 Những kiểu nhà này bị lạc hậu theo thời gian khá nhanh Khoảng thời gian 1960-

1965, khi thiết kế chưa có nhiều loại căn hộ linh hoạt, diện tích phòng lớn mà tiêu chuẩn ở lại thấp nên tỉ lệ 2 gia đình chung một căn hộ rất lớn Việc chung khu phụ dẫn đến điều kiện vệ sinh kém, mức độ ô nhiễm ở lối vào tăng Từ những bài học này các nhà kiến trúc đã rút ra nguyên tắc thiết kế các căn hộ độc lập khép kín

Tóm lại, chung cư từ năm đầu này chưa giải quyết được nhiều vấn đề dân sinh và các khâu kỹ thuật như thoát khói, cấp thoát nước, xử lý rác Những mẫu nhà đầu tiên như khu Nguyên Công Trứ, khu Kim Liên không có ban công, chiều cao thấp, hình thức đơn điệu

Trang 27

Sau thập niên 70 (thế kỷ XX), cơ sở hạ tầng tại miền Bắc bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh Để đáp ứng nhu cầu cấp bách về chỗ ở của cư dân, các khu chung cư đã được nhà nước xây dựng với quy mô ngày càng lớn và chất lượng từng bước được nâng cao trong đó ưu tiên phân nhà ở cho cán bộ thuộc biên chế nhà nước, đặc biệt là người có chức quyền và người có học hàm học vị

Chính vì vậy mà thiết kế chung cư vào khoảng thập niên 70, 80 của thế

kỷ XX được thống nhất xây dựng theo phương pháp căn hộ độc lập, đơn nguyên, gồm 3 loại căn hộ: căn hộ 1 phòng, 2 phòng và 3 phòng, tiêu chuẩn 4m2/người Mẫu kiến trúc nhà chung cư được lựa chọn là mẫu căn hộ độc lập

và dung cả 3 phương pháp là xây gạch, lắp ghép khung và lắp ghép tấm lớn theo phương pháp công nghiệp hóa [14, tr.12]

Từ năm 1970 đến 1975 và nhiều năm sau này, mẫu nhà ở lắp ghép tấm lớn được đưa vào xây dựng ở các tiểu khu Khương Thượng, Trung Tự, Giảng

Võ, Vĩnh Hồ, Thành Công Căn hộ đã được tổ chức hợp lý hơn với diện tích phòng ở tương đối thích hợp (căn hai phòng thường 24- 28 m2) Tuy nhiên nhà có hành lang bên nên chưa bảo đảm điều kiện yên tĩnh cách ly, muốn vào nhà nọ phải đi qua trước mặt nhà kia Sau này mới có thêm mẫu nhà đơn nguyên với 4 căn hộ mỗi cầu thang được xây dựng ở khu Bách Khoa Thời kỳ

đó, do yêu cầu ưu tiên là đạt được một diện tích ở đòi hỏi gấp với phương châm “thích dụng, tiết kiệm, vững chắc, hợp với mỹ quan trong điều kiện có thể”, cho nên yêu cầu về thẩm mỹ chưa được chú ý Những khối nhà lắp ghép tập thể giống hệt nhau với bố cục không gian của quần thể đơn điệu, thường chỉ dùng kiểu sắp xếp song song, chạy dọc theo các đường trục Và điều dễ nhận thấy ở các khu chung cư lắp ghép này là việc đầu tư xây dựng không đồng bộ, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội không đầy đủ cũng như chất lượng xây dựng, chất lượng vật liệu và trang thiết bị đều rất kém nên

Trang 28

chóng hư hỏng và xuống cấp Đặc biệt khâu quản lý và bảo trì không được quan tâm càng làm cho khu ở nhanh chóng bị hủy hoại Trong điều kiện kinh

tế yếu kém, việc xây dựng nhà ở mới chỉ lo sao cho người dân có nhà với diện tích tối thiểu (3- 4 m2 cho một người tức vài ba chục m2 cho một hộ)

Diện tích nhà ở chung cư sau 1970 đã chiếm 1/10 quỹ đất thành phố, hàng chục nghìn cán bộ Hà Nội được phân nhà, giải quyết nhu cầu chỗ ở Đến năm 1978, Viện thiết kế đô thị- nông thôn và Viện Khoa Học Kỹ Thuật chỉ đạo xây dựng ba nhà chung cư 11 tầng tại Giảng Võ, đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên của mô hình nhà ở chung cư cao tầng ở Hà Nội, làm tiền đề cho sự phát triển của kiểu nhà ở chung cư cao tầng giai đoạn sau

Như vậy, giai đoạn chung cư trên vẫn được coi là hiện thân của lý tưởng của chủ nghĩa xã hội và của chủ nghĩa tập thể trên bình diện tổ chức các hình thức cư trú của cư dân đô thị Điều này được thể hiện trong cấu trúc các căn hộ và “tiểu khu”, ưu tiên đề cao tính tập thể thay vì đảm bảo tính riêng tư, cá nhân của cư dân sinh sống

1.1.2.2 Giai đoạn chung cư mới (từ 1986 đến nay)

Gần một thập kỷ sau chính sách đổi mới năm 1986, sự khuyến khích kinh tế theo xu hướng thị trường đã thúc đẩy Hà Nội phát triển vượt bậc vào đầu những năm 1990 Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng thị trường của đất nước, sự bùng nổ các hoạt động thương mại và dịch vụ góp phần tạo nên những nhu cầu mới về nhà ở đô thị

Điều đó đòi hỏi Hà Nội phải tập trung thiết lập cơ sở hạ tầng hiện đại nhằm hai mục tiêu: Mục tiêu trước mắt là đáp ứng nhu cầu nhà ở trong quá trình

đô thị hóa, mục tiêu lâu dài là nâng cao chất lượng môi trường đô thị, đảm bảo phát triển cân bằng và ổn định đô thị Với mật độ dân số ngày một cao, diện tích đất đô thị ngày một thu hẹp nên giải quyết chỗ ở cho dân đô thị không thể phát triển theo không gian chiều ngang, tức là xây nhà tự do, mà buộc phải phát triển theo chiều thẳng đứng với những khối nhà cao ốc, cao tầng

Trang 29

Mặt khác đô thị ngày một thiếu không gian tự nhiên, đa dạng các loại hình công trình nên công tác quy hoạch, mỹ quan đô thị không thể tùy tiện dựa vào ý thích xây nhà cá thể của mỗi chủ hộ mà buộc phải nằm trong những phương án cụ thể có tính toán khoa học và thẩm mỹ

Chính vì vậy mà những khu chung cư cao tầng như Bắc Linh Đàm (hoàn thành năm 2000), khu đô thị Mỹ Đình (hoàn thành năm 2005), Nam Trung Yên (2007) đều là những khu chung cư có từ 18 đến 25 tầng, căn hộ được thiết kế độc lập khép kín Đặc biệt, khu Trung Hòa- Nhân Chính còn có điểm nhấn là khối cao tầng hỗn hợp (tầng dưới phục vụ nhu cầu sinh hoạt, thương mại, giao dịch… tầng trên là các căn hộ), khối cao tầng này sẽ cùng với công viên Mễ Trì tạo thành một tổ hợp kiến trúc hài hòa

Như vậy, Chung cư giai đoạn này đã giải quyết được đồng thời nhiều yếu tố: nhà ở, sinh thái, quy hoạch, mỹ quan đô thị, nếp sống đô thị

Việc xây dựng chung cư cao tầng còn được coi là một phương thức để tăng mật độ cư trú, bổ sung và giải cứu cho hình ảnh buồn tẻ của các khu dân

cư 4- 5 tầng được xây dựng trong thời kỳ trước đổi mới, làm đa dạng hóa hình ảnh kiến trúc của các khu dân cư nói riêng và của đô thị nói chung Không những thế, những thay đổi về luật Xây dựng, luật Đầu tư cùng các cải tiến trong quản lý hành chính đã thôi thúc việc tham gia xây dựng nhà ở của nhiều công ty trong và ngoài nước, tạo đà cho kiến trúc nhà ở Việt Nam phát triển

Từ năm 1994, khái niệm khu đô thị mới bắt đầu xuất hiện ở nước ta gắn liền với sự ra đời của một số khu đô thị điển hình như Định Công, Bắc Linh Đàm, Trung Yên Các khu đô thị mới trong thời kỳ này được xây dựng để giải quyết nhu cầu nhà ở của đông đảo người dân đô thị trong thời kỳ thành phố

Hà Nội phát triển vượt bậc sau đổi mới

Từ 1994 đến nay, hàng trăm khu đô thị mới đã và đang được xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội Qua nghiên cứu, khảo sát, có thể thấy mặc dù

Trang 30

rất khác nhau nhưng về cơ bản các khu đô thị mới ở Hà Nội có thể chia theo 2 cách như sau:

Phân chia theo chức năng:

Khu đô thị mới có chức năng tổng hợp (nhiều chức năng)

Khu đô thị mới có chức năng chuyên ngành (khu ở, làng sinh viên, khu tái định cư )

Phân chia theo đối tượng và cấp độ phục vụ:

Loại khu ở đạt chất lượng cao

Khu ở đạt chất lượng trung bình

Khu ở đạt chất lượng thấp

Trong đó, khu ở chất lượng cao là loại hình phổ biến để đáp ứng nhu cầu ở văn minh hiện đại của người dân thành phố, khu ở chất lượng trung bình chủ yếu đáp ứng nhu cầu cho thành phần cán bộ công nhân viên chức nhà nước, tiểu thương còn khu ở chất lượng thấp là những khu đô thị mới với quy mô nhỏ để phục vụ mục đích di dân giải phóng mặt bằng phục vụ các công trình và dự án trọng điểm của thành phố

Theo thống kê xã hội học, hiện nay, mật độ bố trí các khu chung cư ở

Hà Nội khá lớn (22,9% diện tích đất nhà ở năm 2007), trung bình 15- 20 ha/khu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xây dựng nhà ở và có vai trò không gian quan trọng trong quy hoạch Hà Nội Về địa điểm xây dựng, hầu hết các khu

đô thị mới ở Hà Nội đều được xây dựng cạnh các trục giao thông Có một số khu đô thị mới bám mặt đường quốc lộ hoặc tiếp giáp 2 đến 3 tuyến đường chính gây mất an toàn giao thông và làm ô nhiễm môi trường ở của cư dân

Về đặc điểm, phần lớn các chung cư đều là chung cư cao tầng, có thang máy, hầm hoặc nơi để xe riêng, căn hộ được thiết kế độc lập khép kín, đáp ứng yêu cầu ngày một cao của cư dân đô thị hiện đại

Trang 31

Vị trí khu đô thị mới có thể chia làm 3 nhóm: Khu đô thị mới có vị trí độc lập, xây dựng tại những khu vực có diện tích đất rộng rãi và xa khu vực trung tâm thành phố; khu đô thị mới xây dựng xen kẽ với các khu cũ với mục tiêu giãn dân và tái định cư tại chỗ; khu đô thị mới nằm ở vùng ven hoặc các khu vực đô thị mở rộng

Như vậy, trong thời gian qua thành phố Hà Nội đã phát triển được nhiều nhà ở chung cư cao tầng, giải quyết chỗ ở cho mọi bộ phận dân cư của thành phố với chất lượng và tiện nghi ngày càng tiến bộ hơn

1.1.3 Vai trò nhà chung cư trong tổ chức đời sống cộng đồng

Các khu nhà chung cư là một bộ phận quan trọng trong quá trình phát triển nhà ở trên phương diện quan điểm thiết kế, số lượng và công nghệ xây dựng tại các đô thị Miền bắc Việt Nam sau năm 1954, trong thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và cả những năm sau khi thống nhất Đất nước Các khu nhà ở chung cư theo kiểu “tiểu khu nhà ở” xuất hiện tại nhiều đô thị như Hà Nội, Vinh, Hải Phòng, Việt Trì … Thời kỳ này, chúng được coi là niềm tự hào của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội, căn hộ chung cư là niềm mơ ước, là tiêu chuẩn về tiện nghi ở cao của mọi người dân Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, các tòa nhà chung cư mọc lên ngày càng nhiều, chất lượng chung cư cũng tốt hơn thời kỳ trước Và đến thời điểm hiện tại thì chung cư đang trở thành vấn đề thời sự được nhiều người dân đô thị quan tâm do nhu cầu của cuộc sống hiện tại- luôn biến đổi đi lên

Hiện nay, Việt Nam là nước đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tốc độ đô thị hoá nhanh trong khi trình độ phát triển ở nông thôn rất chậm đã kéo theo các vấn đề xã hội, đặc biệt là vấn đề nhà ở đô thị Mặt khác, tốc độ tăng dân số nhanh làm cho quỹ đất ngày càng bị thu hẹp Chính vì vậy, nhà nước chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển

Trang 32

nhà ở đặc biệt là phát triển nhà ở chung cư cao tầng theo dự án Đến nay đã xuất hiện nhiều mô hình nhà chung cư mới, nhiều kiểu dần đáp ứng một phần nhu cầu ngày càng tăng lên về chất lượng của nhân dân Nhà ở chung cư cao tầng theo dự án được xây dựng đã tạo ra diện mạo mới cho đô thị văn minh với sự đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, với sự đồng bộ về cảnh quan môi trường nên đã được xã hội chấp nhận Hơn nữa, xây dựng nhà chung cư cũng hình thành nếp sống đô thị văn minh, hiện đại Đối với Việt Nam, chủ trương phát triển chung cư cao tầng sẽ tạo cơ hội cho các ngành xây dựng tiếp cận với tiến

bộ khoa học kỹ thuật, tạo nguồn ngân sách lớn cho nhà nước

Nhà ở là một nhu cầu không thể thiếu được trong sự tồn tại và phát triển của xã hội Tại các Thủ đô vấn đề nhà ở bao giờ cũng được đặt lên là nhiệm vụ trung tâm hàng đầu, thủ đô Hà Nội trong những năm trước đây mặc

dù kinh tế đất nước còn nghèo, nhưng Đảng, Nhà nước và Lãnh đạo thành phố cũng đã có sự quan tâm rất lớn tới vấn đề nhà ở Đặc biệt 5- 10 năm trở lại đây rất nhiều chung cư mới ra đời góp phần giải quyết nhu cầu nhà ở cho cán bộ, công nhân viên và nhân dân Hà Nội

Nhà chung cư là một bộ phận của nhà ở vì vậy nó có vai trò giống như nhà ở

Nhà chung cư ngoài mục đích để ở và tạo không gian để con người phục hồi sức khỏe nó còn là nơi tổ chức đời sống cộng đồng

Trước hết là những tiện nghi trong đời sống hiện đại của từng gia đình,

từ chiều dọc cao chuyển sang ngang

Trong môi trường chung cư không có không gian riêng biệt, từ đó tạo cho mỗi người ý thức tuân thủ, cái tôi trong cộng đồng, ý thức hợp tác với nhau… để mọi người có những mối quan hệ mật thiết với nhau, thân thiện và gần gũi nhau hơn Và tạo cho con người có ý thức xây dựng môi trường sống chung và giữ gìn của chung

Trang 33

Bên cạnh đó, chung cư còn có ý nghĩa giáo dục Môi trường chung cư giống như một trường học, dạy con người những kỹ năng hòa nhập với cộng đồng trong xã hội hiện đại, giúp con người kiềm chế những nhu cầu bất hợp

lý theo quy định, quy phạm

Và đặc biệt, với môi trường mới, chung cư sẽ tạo dựng một nét văn hóa ứng xử mới, nhận thức mới Đó là văn hóa đô thị phù hợp với đời sống xã hội hiện đại

1.2 Lý luận chung về văn hóa ứng xử trong môi trường chung cư

1.2.1 Khái niệm về văn hóa ứng xử

“Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”, để củng cố vững chắc nền tảng ấy thì những ứng xử văn hóa của từng người trong xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng Quan hệ người với người, một người với cộng đồng, và con người với môi trường xung quanh, tất cả tạo nên những chuẩn mực văn hóa ứng xử, để từ đó hình thành nếp sống, lối sống của cộng đồng, cái nền tảng để

tổ chức đời sống cộng đồng

Ở Việt Nam, mặc dù chưa có một định nghĩa văn hóa ứng xử cụ thể thống nhất, nhưng nhìn chung khái niệm văn hóa ứng xử đã được gián tiếp và

trực tiếp làm rõ qua nhiều công trình nghiên cứu ở những góc nhìn khác nhau

Văn hóa là từ Hán Một trong những người đầu tiên quan tâm đến khái niệm này là triết gia Lưu Hướng (thời Tây Hán) Theo ông văn là đẹp, hóa là giáo hóa Văn hóa – là dùng văn để hóa Văn hóa nghĩa là lấy cái đẹp để giáo

hóa con người Đến thời cận đại, xuất hiện thuật ngữ gốc la tinh (culture):

nghĩa đen là trồng trọt, cư trú, lưu tâm, quản lý, canh tác nông nghiệp, nghĩa bóng là canh tác tinh thần Đến thời hiện đại (giữa thế kỷ XIX đến nay), nhiều môn khoa học mới ra đời nên khái niệm văn hóa thay đổi bởi nội hàm quá rộng lớn Theo giáo sư Phan Ngọc, có đến trên 400 định nghĩa về văn hóa Nhưng chung quy lại, văn hóa có vai trò quan trọng trong đời sống con người,

Trang 34

là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại Văn hóa thể hiện khát vọng sống của một con người hướng về Chân– Thiện– Mỹ

Tác giả Đào Duy Anh (tác giả từ điển Hán Việt) có giải thích khái niệm “ứng xử” như sau :

Ứng : không chủ động hành vi giao tiếp đến với mình mà con người tìm thái độ, hành vi tích cực nhất đối với hiện thực xung quanh ; xử : chủ động với đời, giúp đời và làm việc với đời và có thái độ tùy thời để có hành vi với mình, cho dù thời thế có suy vong thì con người dùng tài, đức của mình

để cải tạo tình thế đó làm cho tình thế tốt (hơn) lên [2, tr.172]

Còn tác giả Phạm Minh Thảo (Từ điển học sinh sinh viên) lại định nghĩa :

“Ứng xử là biết cách ăn ở sao cho vừa lòng người Ứng xử là ứng biến, giải quyết công việc một cách kịp thời, hợp với tình hình và mọi điều kiện thay đổi bất ngờ, không lường trước được để hoàn thành nhiệm vụ khó khăn, phức tạp ” [32, tr.268] Như vậy, với cách chiết tự hóa, các tác giả trên đã hiểu “ứng

xử” là thái độ tích cực của con người tùy theo thời thế và hoàn cảnh

Dưới góc độ tâm lý học, khái niệm ứng xử được phát biểu:

Ứng xử là một từ ghép của hai từ ứng và xử… Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động giao tiếp mà chủ trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng- tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất [6, tr.11- 12]

Với định nghĩa này, những biểu hiện bên ngoài như thái độ, hành vi,

cử chỉ, cách nói năng, và nguồn gốc của sự ứng xử đã được làm rõ, đó là sự phản ứng có lựa chọn của con người Tuy nhiên, định nghĩa mới chỉ dừng lại

Trang 35

ở việc chỉ ra nguồn gốc đó là sự phản ứng của con người đối với sự tác động khác, nên nhìn chung phạm trù “ứng xử” vẫn chưa được phân tích đầy đủ

Đó là những công trình nghiên cứu với những góc tiếp cận khoa học khác nhau Trong những năm gần đây, cùng với quá trình xây dựng con người mới, đời sống văn hóa mới, các nhà nghiên cứu theo hướng tiếp cận văn hóa học cũng đã cho ra đời thuật ngữ “văn hóa ứng xử” Một số công trình tiêu biểu:

Đầu tiên, GS Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã

chỉ ra nội dung của văn hóa ứng xử là thái độ của cộng đồng với hai loại môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.Với mỗi loại môi trường, đều có thể có hai cách xử thế phù hợp: tận dụng và ứng phó với môi trường Với môi trường tự nhiên, có thể tận dụng để ăn uống, tạo ra các vật dụng hàng ngày ; đồng thời phải ứng phó với thiên tai, với khoảng cách, với thời tiết (quần áo, nhà cửa ) Với môi trường xã hội, bằng các quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụng những thành tựu của các dân tộc lân bang để làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình Đồng thời lại phải lo ứng phó với họ trên các mặt trận quân sự, ngoại giao [33, tr.16- 17]

Tiếp theo, trong cuốn “Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường tự nhiên” do TS Nguyễn Viết Chức chủ biên đã chỉ ra rằng: “Văn hóa ứng xử là phương thức văn hóa giao tiếp và tự bảo tồn của con người với mọi vật chung quanh và với nhau Phương thức ứng xử này đã được chọn lọc lâu đời bởi những cộng đồng người nhất định Văn hóa ứng xử được hình thành

từ quan điểm đạo đức và thẩm mỹ của con người theo quy luật giá trị và sự hài hòa giữa con người với xã hội” [8, tr.30] Như vậy tác giả đã xác nhận

văn hóa ứng xử là sự tác động giữa con người với con người, và giữa con người với thiên nhiên

Theo như TS Thế Hùng, văn hóa ứng xử là :

Trang 36

“Thế ứng xử, là sự thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng người trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ vi mô (gia đình) đến vĩ

mô (nhân gian)” [12, tr.17]

Văn hóa ứng xử là những quy định thành văn và bất thành văn trong tất cả xã hội Cách ứng xủ thể hiện trình độ văn hóa của mỗi người, mỗi dân tộc

Và theo ông, văn hóa ứng xử phải được nhìn ít nhất dưới 4 chiều kích của con người : Quan hệ với tự nhiên- Chiều cao ; Quan hệ với xã hội- Chiều rộng ; Quan hệ với chính mình- Chiều sâu ; Quan hệ với tổ tiên và con cháu mai sau- Chiều lịch sử

Văn hóa ứng xử là phương thức giao tiếp và tự bảo tồn của con người với mọi vật chung quanh và với nhau Phương thức ứng xử này đã được chọn lọc lâu đời bởi những cộng đồng người nhất định Văn hóa ứng xử luôn có tính lịch sử

cụ thể, tức là khi những điều kiện kinh tế- xã hội của thời đại thay đổi thì nó cũng có những sự điều chỉnh cần thiết cho thích hợp

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các tác giả, ta có thể đưa ra một định

nghĩa cơ bản về văn hóa ứng xử như sau : Văn hóa ứng xử là bao gồm cách thức quan hệ, thái độ và hành vi của cá nhân và cộng đồng người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, trên cơ sở những chuẩn mực văn hóa đạo đức xã hội nhất định và được cả cộng đồng công nhận

Xét về các giá trị tinh thần môi trường văn hóa thông thường có 4 hệ chuẩn mực: Hệ chuẩn mực đạo đức; hệ chuẩn mực luật pháp; hệ chuẩn mực thẩm mỹ và trí tuệ; hệ chuẩn mực về niềm tin Đây là những chuẩn mực phổ quát, mang tính lựa chọn phổ biến về cái thiện, cái ác; cái đúng, cái sai; cái đẹp, cái xấu; cái hợp lý, cái phi lý chi phối mọi ứng xử của con người trong một cộng đồng nhất định

Nhìn chung, văn hóa ứng xử là một bộ phận không tách rời của văn hóa nói chung, nó bao hàm cả phương thức ứng xử của con người với thiên nhiên,

Trang 37

ứng xử giữa con người với con người và văn hóa ứng xử của con người với môi trường xã hội Và văn hóa ứng xử của các cư dân chung cư đối với môi trường sống của mình cũng không nằm ngoài những chuẩn mực ấy, nội hàm ấy

1.2.2 Văn hóa ứng xử của cư dân trong môi trường chung cư

Văn hoá ứng xử nằm trong cấu trúc văn hoá ứng xử với môi trường thiên nhiên và văn hoá ứng xử với môi trường xã hội Và trong môi trường chung cư văn hoá ứng xử của con người là với môi trường xã hội và tự nhiên của chung cư ấy

Cho nên, việc tìm hiểu văn hóa ứng xử của cư dân ở chung cư cao tầng vì thế phải bắt đầu từ việc xác định môi trường mà con người tồn tại và tác động

Môi trường là khái niệm rất rộng, trong đó môi trường có hai lĩnh vực chủ yếu : Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Môi trường tự nhiên bao gồm thiên nhiên thuần túy: là thế giới vật chất, là vũ trụ với tất cả các hình thức biểu hiện muôn màu, từ các yếu tố vô cơ đến các sinh vật, con người và

xã hội loài người Môi trường xã hội là tự nhiên gắn với toàn bộ các thích nghi, các ứng xử, các biến đổi tự nhiên thông qua các hoạt động của con người Nói cách khác, môi trường xã hội chính là thiên nhiên có sự tác động của con người và do con người tạo ra một bản sao từ thiên nhiên thứ thuần túy

để làm thành một thế giới mới [8, tr.13- 14]

Như đã nói, môi trường có hai lĩnh vực chủ yếu: Đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Từ đó con người hình thành môi trường văn hóa Chính vì vậy mà theo quan điểm của các nhà khoa học nghiên cứu về lối sống

và môi trường mã số KX.06 – 13, đã nêu khái quát:

“Lối sống, trong một chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những người cụ thể của môi trường sống Môi trường là cái khách quan quy định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư ” [38, tr.13]

Trang 38

Những điều kiện của môi trường thiên nhiên vốn có và những điều kiện của môi trường xã hội là tiền đề, là cơ sở hình thành và định hướng sự phát triển của môi trường văn hóa Ngược lại môi trường văn hóa lại góp phần rất

to lớn và quan trọng vào việc tạo ra thế ứng xử, lối ứng xử hay văn hóa ứng

xử nói chung của con người trong việc không ngừng cải biến môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Vì thế nghiên cứu văn hóa ứng xử của chúng ta đối với môi trường sống không thể không nói đến những tác động qua lại, những nguyên nhân và kết quả của quá trình tác động ấy

Từ lý thuyết trên, có thể phân chia môi trường chung cư theo mô hình sau:

Văn hóa ứng xử của cư dân

Ứng xử với gia đình Ứng xử với cộng đồng

Ứng xử với trang thiết bị

kỹ thuật

và đồ dân dụng,

đồ trang trí

Ứng xử với sinh vật cảnh trong căn hộ

Ứng xử với các căn hộ khác

Ứng xử với cơ quan, đoàn hội ở chung

Ứng xử với cây xanh

Trang 39

Theo mô hình trên, ta có thể hiểu văn hóa ứng xử của cư dân trong môi trường chung cư cao tầng ở Hà Nội chính là văn hóa ứng xử của cư dân với môi trường tự nhiên và với môi trường xã hội của chung cư cao tầng trên địa bàn thành phố Hà Nội Mà cụ thể, đó là văn hóa ứng xử với không gian tự nhiên, không gian nhân tạo , với gia đình và với cộng đồng trong khu chung cư

Nếu như trước đây, các khu nhà tập thể chủ yếu là được phân, được cấp cho những người cùng cơ quan hoặc cùng nghề nghiệp Thì nay, các căn hộ chung cư cao tầng được lựa chọn tùy thuộc vào kinh tế của cư dân Bởi vậy,

cư dân của chung cư đa dạng cả về tuổi tác, trình độ và nghề nghiệp… Và khi cùng tồn tại trong một không gian mới hiện đại như thế có sự khác nhau thậm chí trái ngược về cách ứng xử Sự va chạm ấy đưa đến sự thay đổi lớn trong phong cách sống cũng như nếp nghĩ của mỗi cư dân, đồng thời tạo ra một nét văn hóa mới với những ưu nhược điểm rất riêng

Qua khảo sát, ta thấy sự khác nhau về điều kiện và nhu cầu về nhà ở, sự chênh lệch về thu nhập của cư dân có ảnh hưởng và chi phối cách họ giao tiếp ứng xử Với xuất phát điểm thành phần hộ gia đình cán bộ viên chức nhà nước, cuộc sống gia đình hoàn toàn dựa vào dồng lương hạn hẹp, ít chênh lệch, các chế độ phân phối lương thực bằng tem phiếu… Cuộc sống và thu nhập của cư dân dân chung cư cao tầng ở Hà Nội đã có chuyển hướng rõ rệt theo chiều hướng chuyển đổi nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường Thu nhập của cư dân làm ở những ngành kinh tế khác nhau, giữa các doanh nghiệp, cơ quan đã tỏ ra chênh lệch rõ rệt Sự phân hóa về thu nhập dẫn tới sự phân tầng xã hội và nó tác động tới nhu cầu, lối sống của các thành viên trong gia đình, khả năng đáp ứng những nhu cầu về thưởng thức văn hóa nghệ thuật thể thao… của cư dân chung cư cao tầng Đồng thời tác động mạnh mẽ, làm đa dạng hóa các hình thức tổ chức sử dụng không gian khu ở và căn hộ chung cư, đa dạng cách ứng xử với cộng đồng mà cư dân ấy giao tiếp

Trang 40

Môi trường chung cư không quyết định sự đổi thay của văn hóa ứng xử nhưng nó là ảnh hưởng, chi phối đến thái độ và hành vi của cư dân, là tác nhân để mỗi cư dân thể hiện phong cách, cá tính và hành động của mình Và kết quả của mỗi hành vi là phụ thuộc vào trình độ nhận thức, vào quan niệm

và thái độ sống của mỗi người

1.2.3 Vai trò của văn hóa ứng xử trong tổ chức đời sống cộng đồng

Văn hóa ứng xử của cư dân chung cư là một bộ phận không tách rời của văn hóa đô thị Tuy nhiên, do đặc điểm hình thành cư dân chung cư, nhất là trong thời gian gần đây cho ta thấy, cư dân chung cư không phải là cộng đồng thuần túy gốc văn hóa đô thị Họ có thể là thương gia hoặc con cháu thương gia thành đạt, cũng có thể là cư dân phố cổ dãn ra khu đô thị mới với nhiều lý do khác nhau, cũng có bộ phận là cư dân các tỉnh khác chuyển đến theo làn sóng nhập cư vào các đô thị lớn… Điều đó tạo nên cộng đồng cư dân chung cư có nhiều khác biệt về lối sống, nếp sống… từ nhận thận thức đến hành vi ứng xử Thêm vào đó, do tuổi tác khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, thư nhập khác nhau… cũng tạo nên sự khác biệt trong lối sống, nếp sống…và cách ứng xử văn hóa của mỗi thành viên trong cộng đồng Điều đó đòi hỏi mỗi thành viên

có sự điều chỉnh về văn hóa Sự điều chỉnh ấy với người này là không quá khó, nhưng đối với người khác có thể là một “cú sốc văn hóa” lớn

Môi trường chung cư là một môi trường văn hóa ứng xử rất đặc biệt của con người Là tiêu chuẩn để đánh giá sự thích nghi của mỗi người đối với môi trường sống mới

Cách ứng xử của người Việt Nam chúng ta khác xa với cách ứng xử

châu Âu Người Việt Nam ứng xử duy tình (nặng về tình cảm), một trăm cái

lý không bằng một tý cái tình, chín bỏ làm mười… Đó là đặc trưng của nền

văn hóa nông nghiệp, lúa nước, làng nghề thôn dã Họ trọng tình họ hàng, anh

em, tình làng, nghĩa xóm, nhà nọ sát cạnh nhà kia, nương dựa vào đời đời

Ngày đăng: 06/06/2021, 01:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w