Miền Trung nước ta là vùng có nhiều sông, suối và từ xa xưa người dân luôn sống dựa vào sông nước nên các lễ hội đua thuyền truyền thống đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời s
Trang 1Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o Bé v¨n ho¸, thÓ thao vμ du lÞch
Tr−êng §¹i häc V¨n ho¸ Hμ Néi
Trang 2MỤC LỤC
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ LỄ HỘI Ở HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH 9
1.1 Khái quát về huyện Lệ Thủy 9
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển huyện Lệ Thủy 12
1.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 15
1.1.4 Truyền thống lịch sử văn hóa huyện Lệ Thủy 19
1.2 Một số lễ hội tiêu biểu ở huyện Lệ Thủy 34
1.2.1.Lễ hội bái vọng Thành hoàng làng Thượng Phong 34
1.2.2 Lễ hội tát vung Đại Phong 34
1.2.3 Lễ hội phát mộc làng Quảng Cư 35
1.2.4 Lễ hội cầu ngư của dân vùng biển 36
1.2.5 Lễ hội đua thuyền 37
Tiểu kết 37
CHƯƠNG 2: LỄ HỘI ĐUA THUYỀN Ở LỆ THỦY XƯA VÀ NAY 39
2.1 Những vấn đề chung về lý luận và quản lý lễ hội 39
2.2 Sông Kiến Giang - nơi diễn ra lễ hội đua thuyền 42
2.3 Nguồn gốc và lịch sử lễ hội đua thuyền ở huyện Lệ Thủy 47
2.4 Lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy xưa 52
2.4.1 Quá trình chuẩn bị và tổ chức lễ hội 52
2.4.2 Các sự tích, câu chuyện xung quanh lễ hội đua thuyền 62
2.5 Lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy ngày nay 65
2.5.1 Công việc chuẩn bị cho lễ hội đua thuyền 65
2.5.2 Diễn trình lễ hội đua thuyền ở Lệ Thuỷ 71
2.6 Vài nét so sánh lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy và lễ hội đua thuyền ở một số địa phương khác 82
2.7 Giá trị của lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy đối với đời sống cộng đồng 87
Tiểu kết chương 2 90
Trang 3CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI
ĐUA THUYỀN Ở LỆ THỦY TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI 92
3.1 Nhu cầu của cuộc sống hiện đại đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy 92
3.1.1 Lễ hội đua thuyền với sinh hoạt văn hóa cộng đồng 92
3.1.2 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về văn hoá và vấn đề bảo tồn, phát huy lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy đối với đời sống tinh thần của cư dân vùng sông Kiến Giang 95
3.2 Một số giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy 100
3.2.1 Bảo vệ và khai thác tối đa những giá trị của lễ hội đua thuyền 100
3.2.2 Phát huy vai trò của cộng đồng cư dân vùng sông Kiến Giang với việc tổ chức lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy 103
3.2.3 Nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, quản lý nhà nước và hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy 108
3.2.4 Tăng cường những điều kiện về tài chính, vật chất kỹ thuật để bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy 115
3.2.5 Đẩy mạnh phát triển du lịch ở địa phương, gắn lễ hội đua thuyền vào chuỗi các lễ hội, địa danh tham quan du lịch 117
3.2.6 Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá và xuất bản các ấn phẩm có liên quan đến lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy 122
Tiểu kết chương 3 124
KẾT LUẬN 126
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
PHỤ LỤC 133
Trang 4BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CTQG : Chính trị Quốc gia
GD : Giáo dục
HA : Héc ta KHXH : Khoa học Xã hội
Km : Kilomet
NXB : Nhà xuất bản VHTT : Văn hoá Thông tin VHDT : Văn hoá Dân tộc UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 5Lời cảm ơn
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS-TS Đỗ Thị Hảo, người đã luôn tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Kính chúc cô luôn mạnh khỏe để tiếp tục thành công trên con đường nghiên cứu khoa học và công tác của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Sau đại học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt 3 năm học tập tại trường
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị Phòng Công thương, Phòng Văn hóa thể thao và du lịch thị xã Sơn Tây, Ban quản lý di tích làng cổ Đường Lâm, UBND phường Phú Thịnh đã nhiệt tình cung cấp tư liệu để tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Văn Sơn- Trưởng Ban văn hóa phường Phú Thịnh, Bác Kiều Huấn cùng nhiều gia đình hiện đang sinh sống tại làng Phú Nhi, đã luôn nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ tôi khi nghiên cứu luận văn
Cuối cùng tôi xin cảm ơn người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài luận văn: “Văn hóa làng nghề bánh tẻ Phú Nhi, (phường Phú Thịnh, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội)”
Mặc dù đã thực sự cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, vậy tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến và lượng thứ của quý thầy cô, độc giả
Hà Nội, tháng 04 năm 2011
Trang 6PhÇn më ®Çu
1 Lý do chọn đề tài
Con thuyền là biểu tượng gắn bó với đời sống sinh hoạt tinh thần và lễ hội của người Việt Nam từ cổ xưa đến nay Văn hoá vùng sông, biển với những tục lệ lâu đời đã trở thành phong tục đặc sắc tạo nên vốn quý trong kho tàng văn hoá dân gian bản địa cổ truyền Miền Trung nước ta là vùng có nhiều sông, suối và từ xa xưa người dân luôn sống dựa vào sông nước nên các lễ hội đua thuyền truyền thống đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của nhân dân
Là vùng đất đã một thời là ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài,
là điểm giao thoa hội tụ của nhiều luồng văn hóa, là chiến trường ác liệt trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ Quốc, Quảng Bình ngày nay còn giữ được nhiều di tích lịch sử, văn hóa của nhiều thời đại khác nhau Nằm trên dải đất hẹp của miền Trung, Quảng Bình mang những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa khu vực này Đặc trưng văn hóa đó được xuất phát từ điều kiện tự nhiên, bởi lẽ Quảng Bình là tỉnh có tỉ lệ tiếp giáp biển khá dài và một hệ thống sông ngòi rất phong phú, đa dạng Hình ảnh của sông nước đã gắn liền
và in đậm dấu ấn trong đời sống văn hóa của con người nơi đây Chính trên những dòng sông, vùng ven biển đã diễn ra nhiều nghi lễ, lễ hội như đua thuyền, cầu ngư, bơi trải, hò khoan,…
Trong số những hoạt động văn hóa trên thì lễ hội đua thuyền trên sông Kiến Giang ở Lệ Thủy là một lễ hội lớn, xuất hiện từ lâu và được đông đảo nhân dân tham gia Tương truyền, ngày xửa ngày xưa cái xứ “nhất Đồng Nai, nhì hai huyện” này không được sầm uất, trù phú như bây giờ bởi thiên tai khắc nghiệt nên nhân dân thường cầu trời ’’lấy nước để uống, lấy ruộng để
Trang 7cày’’ Mùa hạn, dân làng cúng lễ và ’’hô huầy’’ đẩy thuyền xuống sông Lâu dần tục lệ đã biến thành ngày hội chung của cả huyện Lệ Thủy
Trong xã hội hiện đại ngày nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đem đến cho đất nước ta những cơ hội mới để phát triển nhưng cũng vì thế mà có nhiều yếu tố truyền thống đang ngày càng bị mai một Vì thế, nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng đã đặt ra vấn
đề xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Một trong những đối tượng được chú ý nhiều nhất trong thời gian gần đây là các hoạt động tìm hiểu, khôi phục, kế thừa các sinh hoạt lễ hội truyền thống
Đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy
đủ, hoàn chỉnh về lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy - Quảng Bình Cho nên, thông qua việc nghiên cứu về lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy, luận văn góp phần khảo sát
và khẳng định giá trị văn hóa cổ truyền của cư dân vùng sông nước Kiến Giang Không những vậy, luận văn còn mong muốn khơi gợi, truyền tải đến những người con yêu dấu của Lệ Thủy nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung lòng yêu quý, trân trọng những giá trị tinh thần cao đẹp của cha ông để lại
Lễ hội ở Việt Nam là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức
đa dạng và phong phú, sự kết hợp giữa lễ hội và di tích lịch sử - văn hóa đã tạo nên sức hấp dẫn kỳ diệu gắn liền với phong tục tập quán, tín ngưỡng của người dân Việt Nam Có thể nói, di tích lịch sử - văn hóa chính là những công trình, hiện vật, dấu tích tồn tại dưới dạng vật chất trong khi đó lễ hội lại là những giá trị văn hóa phi vật thể, giá trị văn hóa tinh thần, cái hồn nhằm truyền tải những nét đẹp truyền thống tới muôn đời sau Là người con của quê
hương Quảng Bình, tôi chọn đề tài luận văn là Lễ hội đua thuyền ở huyện Lệ
Thủy, tỉnh Quảng Bình để từ đó tìm hiểu về đời sống tâm linh, phong tục tập
quán, tôn giáo, tín ngưỡng của người dân biểu hiện qua lễ hội đua thuyền nhằm bảo vệ tốt di sản văn hóa dân tộc trong cuộc sống hiện đại
Trang 82 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tìm hiểu về lễ hội đua thuyền trên sông Kiến Giang ở Lệ Thủy, Quảng Bình, chúng tôi bước đầu được biết đã có một số công trình sau:
Tác phẩm Ô châu cận lục [1] của Dương Văn An viết năm 1553 có đề
cập đến lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy, Quảng Bình;
Các tác phẩm như: Quảng Bình non nước huyền diệu [32]; Quảng Bình
quê tôi [33]; Kiến Giang [31], Lệ Thuỷ quê tôi [25], Địa chí huyện Lệ Thuỷ
[43] đều miêu tả về lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy, Quảng Bình
Tác giả Đức Nguyễn có bài bình luận Hội đua thuyền Quảng Bình đăng trên tạp chí Du lịch Việt Nam [29]
Nghiên cứu về lễ hội này còn có bài viết Về Lệ Thủy xem lễ hội đua
thuyền của tác giả Duy Hưng đăng trên Tạp chí Người Cao tuổi [19]
Nhìn chung các tác giả trên khi tìm hiểu về lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy đã sơ bộ miêu tả quá trình diễn ra lễ hội cùng với không khí phấn khởi, hào hứng của nhân dân và khẳng định tính thượng võ của lễ hội này Đồng thời, các tác giả cũng phản ánh hình ảnh đẹp của lễ hội với mục đích quảng bá
để thu hút người xem Tuy nhiên, các bài viết trên chưa đi sâu phân tích đời sống tâm linh, tính ngưỡng của người dân thể hiện trong lễ hội và chưa khái quát được nét văn hóa đặc sắc của lễ hội này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chủ yếu nghiên cứu về lễ hội đua thuyền diễn ra trên sông Kiến Giang ở huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình Bên cạnh đó, đề tài cũng cố gắng tìm hiểu thêm về lễ hội đua thuyền ở một số địa phương lân cận để phân tích những điểm tương đồng và khác biệt so với lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy
Trang 9* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu nét văn hóa truyền thống đặc sắc biểu hiện trong lễ hội đua thuyền về phong tục tập quán, đời sống tâm linh tính ngưỡng, về trang phục, về văn hóa nghệ thuật, về cách thức tổ chức
lễ hội cộng đồng của người dân ở huyện Lệ Thủy
4 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, khảo sát lễ hội đua thuyền trên sông Kiến Giang
ở Lệ Thủy nhằm làm rõ nét văn hóa đặc sắc của lễ hội này;
Xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của các giá trị văn hóa biểu hiện trong lễ hội đua thuyền đối với người dân Lệ Thủy nói riêng và nhân dân Quảng Bình nói chung;
Giới thiệu cho du khách thấy được nét văn hóa độc đáo của miền quê ở vùng sông nước
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu của luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận là: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa dân tộc
* Phương pháp cụ thể
Luận văn dựa trên các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp tư liệu;
- Phương pháp quan sát trực tiếp;
- Phương pháp mô tả;
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp điều tra xã hội học;
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
Trang 106 Đóng góp của luận văn
Với việc nghiên cứu lễ hội, luận văn sẽ góp phần khảo tả, phân tích, đánh giá lễ hội đua thuyền trên sông Kiến Giang ở Lệ Thủy - Quảng Bình Thông qua lễ hội giúp cho độc giả hiểu thêm những nét đẹp trong phong tục tập quán cũng như trong đời sống văn hóa, đặc biệt là văn hóa tâm linh của người dân Lệ Thủy - Quảng Bình
Đánh giá vai trò, giá trị của lễ hội đua thuyền trong đời sống tinh thần của người dân ở Lệ Thủy nói riêng và ở Quảng Bình nói chung
Xây dựng một số giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội đua thuyền trong đời sống đương đại
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về
lễ hội đua thuyền, từ đó hiểu sâu về đời sống văn hoá tinh thần của người dân
Lệ Thủy
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về vùng đất và lễ hội ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Chương 2: Lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy xưa và nay
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội đua thuyền ở Lệ Thủy trong đời sống đương đại
Trang 11Chương 1
Khái quát về vùng đất vμ lễ hội
ở huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN LỆ THỦY
1.1.1 Điều kiện tự nhiờn
1.1.1.1 Địa hỡnh và hệ sinh thỏi huyện Lệ Thuỷ
Địa bàn huyện Lệ Thuỷ là phần đất phớa nam của tỉnh Quảng Bỡnh, cú toạ độ 17005 vĩ độ Bắc, 106025 kinh độ Đụng Phớa tõy Lệ Thuỷ giỏp với địa giới hành chớnh tỉnh Khăm Muộn nước Cộng hoà Dõn chủ nhõn dõn Lào; phớa nam giỏp với tỉnh Quảng Trị, phớa bắc giỏp với huyện Quảng Ninh; phớa đụng giỏp với biển Đụng, cú đường bờ biển dài 32 km
Đặc điểm chung của địa hỡnh Quảng Bỡnh là hẹp, nơi hẹp nhất theo chiều đụng - tõy và cũng là nơi hẹp nhất ở phần rỡa phớa nam huyện Lệ Thuỷ, chỉ xấp xỉ 50 km
Về hỡnh thỏi địa hỡnh, trong khi địa bàn phớa bắc Quảng Bỡnh dốc dần theo hướng từ tõy sang đụng thỡ ngược lại tại địa bàn Lệ Thuỷ địa hỡnh thấp dần theo hướng tõy nam - đụng bắc Địa bàn huyện Lệ Thuỷ cú tổng diện tớch 141.600 ha, được chia làm 4 vựng rừ rệt là cỏc vựng rừng nỳi, gũ đồi, đồng bằng và dải cỏt ven biển
Vựng rừng nỳi huyện Lệ Thuỷ cú tổng diện tớch trờn 109.457 ha (gồm đất rừng sản xuất và đất rừng phũng hộ), được chia thành 3 loại: vựng nỳi cao, vựng nỳi trung bỡnh và vựng nỳi thấp Trong khu vực rừng nỳi phớa tõy huyện
Lệ Thuỷ, hệ thống cỏc khối nỳi nằm xen kẽ lẫn nhau, cú rất nhiều khe suối uốn lượn quanh co trong phạm vi cỏc khối nỳi trước khi hội tụ về thượng
Trang 12nguồn các con sông Kiến Giang, Mỹ Đức và Long Đại Vì vậy, khu vực rừng núi phía tây Lệ Thuỷ có hệ sinh thái nhiệt đới điển hình, tiềm chứa nguồn tài nguyên rất phong phú và đa dạng [43, tr 85-87]
Vùng sinh thái gò đồi huyện Lệ Thuỷ có diện tích 27.663 ha Địa hình vùng gò đồi hẹp và dốc, dòng chảy các sông đều chạy theo hướng cắt ngang nên có địa hình phức tạp và bị chia cắt tương đối mạnh Nhìn chung, trên diện tích gò đồi Lệ Thuỷ tài nguyên nghèo nàn cả về thảm thực vật lẫn quần thể động vật
Khu vực đồng bằng với cánh đồng thẳng cánh cò bay, đã giữ cho Lệ Thuỷ trường tồn trong cái vị trí là vựa lúa của Quảng Bình và vùng phụ cận
Hệ sinh thái vùng đồng bằng có thay đổi ít nhiều do quá trình tác động của điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết, các chương trình đầu tư như cải tạo đồng ruộng, xây dựng hạ tầng thuỷ lợi và giao thông Tuy nhiên, hình ảnh và dấu
ấn của một miền quê sông nước hữu tình vẫn còn đó trong không gian sinh tồn của cộng đồng cư dân khu vực đồng bằng
Biển Lệ Thuỷ nằm trong vùng chuyển tiếp giữa hai khu vực giàu nguồn lợi thuỷ sản là Bắc Bộ và Trung Trung bộ nên hải sản khu vực vùng biển Lệ Thuỷ rất đa dạng
Trong những thế kỷ trước, bốn vùng sinh thái trên địa bàn Lệ Thuỷ gần như biệt lập nhau Các mối quan hệ giữa các nhóm dân cư trên 4 vùng sinh thái chủ yếu thông qua trao đổi, buôn bán các tài nguyên sản phẩm của mỗi vùng, các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội gần như biệt lập nhau Trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng còn có khoảng cách Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đã tác động đến hầu khắp các địa bàn trong huyện Nhịp độ phát triển kinh tế - văn
Trang 13hoá cân bằng hơn, giao thương giữa các vùng được tăng cường, cảnh quan sinh thái phát triển ngày càng phong phú thêm [43, tr.109]
1.1.1.2 Khí hậu và thuỷ văn
Cũng như địa bàn tỉnh Quảng Bình, đặc điểm chung của khí hậu Lệ Thuỷ là khí hậu nhiệt đới, gió mùa, có mùa hè nóng, khô và mưa muộn Nhiệt
độ bình quân hàng năm dao động từ 24 đến 250C, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối
là 41,60C (tháng 5/1992), nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 5,50C (tháng 1/1993) Lượng mưa trung bình hằng năm nằm trong giới hạn 2.000 đến 3.000mm
Mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 với gió tây – nam khô nóng, gây nên tình trạng oi bức, ngột ngạt, nền nhiệt khá cao và đó là nguyên nhân gây nên những trận hạn hán làm thất bát mùa màng trong nhiều năm ở Lệ Thủy
Mùa đông ở Lệ Thuỷ kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, cũng chính là mùa mưa rét bởi thời gian này thường xuyên có gió mùa đông - bắc Trong khoảng thời gian giao mùa đáng lưu ý là từ giữa tháng 3 đến tháng 4 âm lịch (mùa xuân chuyển sang mùa hè) và giữa tháng 7 đến tháng 9 (mùa hè chuyển sang mùa thu), các yếu tố khí hậu thay đổi đột ngột, khiến đang nắng gay gắt có thể chuyển thành mưa bão hoặc đang ở trong cái mưa gió đột nhiên hửng nắng và tiếp liền sau đó là những ngày nắng gắt
Tìm hiểu về miền quê sông nước Lệ Thuỷ không thể không nói đến bão
và lũ lụt Bước sang tháng 7 âm lịch – “tháng bảy nước nhảy vào bờ”, người dân Lệ Thuỷ lại chờ mong để đón cơn lũ về, dù đó là một cơn lũ nhẹ đủ để cấp nước cho cánh đồng đang khô cạn hay một cơn lũ lớn ngập tràn hết thảy ruộng đồng Người Lệ Thuỷ coi lũ lụt như một thông lệ không thể thiếu về mặt vật chất và đồng thời như một thứ văn hoá tinh thần Vào mùa lũ, nước sông tràn về ngập trắng hết thảy các cánh đồng trong huyện Trong mùa lũ lụt,
từ người dân chài lưới đến người làm ruộng đều ra đồng đánh bắt thuỷ sản,
Trang 14chủ yếu là các loại cá, họ bắt cá bằng những công cụ tự chế tạo Không khí đón lũ và đánh bắt thuỷ sản đồng nội trong những ngày lũ rất vui, nhộn nhịp không khác gì ngày hội mùa Đối với người dân sông nước Lệ Thuỷ, săn chim, đánh cá vừa là một sinh kế đòi hỏi phải có tài năng nhưng cũng là một thú vui mà ai ai cũng đam mê [43, tr.111 - 114]
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển huyện Lệ Thủy
Theo thư tịch cũ, vào đầu thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên, khi các cộng đồng dân cư của các vùng lãnh thổ trên đất nước Việt Nam ngày nay trong quá trình phát triển đã hình thành nhà nước nguyên sơ Vùng đất Quảng Bình nói chung và Lệ Thuỷ nói riêng thuộc địa phận Việt Thường (kéo dài từ Nghệ An đến Phú Yên ngày nay) Sau khi đế chế Việt Thường tan rã, nhà nước Văn Lang ở phương Bắc đã mở rộng cương vực vào vùng đất phía Nam Vùng đất Quảng Bình nói chung và Lệ Thuỷ nói riêng trở thành một bộ phận của quốc gia này
Nhà nước Văn Lang, đứng đầu là vua Hùng đã chia đất nước ra làm 15
bộ, vùng lãnh thổ Việt Thường xưa, nay thuộc về Văn Lang được giữ lại tên
cũ và đặt thành bộ Việt Thường Dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc, chúng chia đất nước ta thành nhiều châu, quận
Từ thế kỷ II đến thế kỷ XI, vùng đất Lệ Thuỷ thuộc vào vương quốc Chăm Pa Vương quốc này có địa phận từ đèo Ngang đến Thuận Hải Đến thời Lý năm 1069, để loại trừ mối nguy hiểm từ phía nam và để phá tan âm mưu cấu kết của phong kiến phương Bắc (nhà Tống) với vương quốc Chăm
Pa đánh Đại Việt từ hai phía; vua Lý Thánh Tông cử một đạo quân do Lý Thường Kiệt chỉ huy đánh vào kinh thành Chăm Pa bắt được vua Chế Củ xin đổi ba châu: Ma Linh, Bố Chính, Địa Lý (Lệ Thuỷ thuộc châu này) cho nước Đại Việt để chuộc tội
Trang 15Thời Lý - Trần, do hoàn cảnh lịch sử, ba châu này thường xuyên xảy ra tranh giành lẫn nhau giữa Chăm Pa và Đại Việt Năm 1306, vua Chế Mân đất nước Chiêm Thành sai sứ sang dâng biểu cầu hôn Vua nhà Trần xuống chiếu đem Huyền Trân công chúa gã cho Chế Mân Vua nước Chiêm Thành đem hai châu: châu Ô và châu Lý làm vật cưới Từ đó, vùng đất này trở thành một
bộ phận khăng khít của đất nước Đại Việt
Đến thời Lê (1428 - 1527), năm Quang Thuận thứ 10 tức năm Kỷ Sửu (1469), vua Lê Thánh Tông lập bản đồ trong cả nước, phủ Tân Bình gồm hai
huyện và hai châu, hai huyện là huyện Lệ Thuỷ và Khang Lộc (vùng đất hai
huyện này chính là Lệ Thuỷ ngày nay); hai châu là Minh Linh và Bố Chính Như vậy, khi danh xưng huyện Lệ Thuỷ ra đời thì địa bàn hành chính của huyện Lệ Thuỷ chỉ mới là phần đất hữu ngạn sông Kiến Giang Phần còn lại của địa bàn huyện Lệ Thuỷ ngày nay còn bao gồm cả phần lãnh thổ huyện Khang Lộc
Dưới thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn, Lệ Thuỷ đã có những biến đổi về mặt hành chính Vào năm 1604, Nguyễn Hoàng đã cải phủ Tân Bình cũ
thành phủ Quảng Bình Cho nên, sau sự xuất hiện của danh xưng Lệ Thuỷ vào
năm 1469 thì đến năm 1604, xuất hiện danh xưng Quảng Bình, đơn vị hành chính cấp trên trực tiếp của hai huyện Lệ Thuỷ và Khang Lộc
Đại Nam nhất thống chí đã miêu tả:
Huyện Lệ Thuỷ ở phía đông nam phủ Quảng Ninh 42 dặm, đông
và tây cách nhau 42 dặm, nam bắc cách nhau 57 dặm, phía đông đến địa giới huyện Minh Linh (thuộc phủ Thừa Thiên) 32 dặm, phía tây đến địa giới huyện Phong Lộc 10 dặm, phía nam đến địa giới huyện Phong Đăng 12 dặm, phía bắc đến biển giáp địa giới huyện Phong Lộc 45 dặm Đời Lý thuộc phủ Lâm Bình, đời Trần
Trang 16đặt huyện Nha Nghi; thời thuộc Minh vẫn theo như thế; đời Lê đổi tên hiện nay Đầu bản triều do phủ Quảng Bình thống hạt, năm Minh Mệnh thứ 12 đổi phủ Quảng Bình làm phủ Quảng Ninh, huyện này do phủ Quảng Ninh thống hạt [10, tr.10 -11]
Đến năm 1939, huyện Lệ Thuỷ chia làm 7 tổng với 69 làng, thôn, xã,
ấp, phường
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhà nước điều chỉnh địa giới hành chính một số địa phương, đến đây, danh xưng Lệ Thuỷ bao trọn phần lãnh thổ huyện Lệ Thuỷ ngày nay
Vào năm 1947, Lệ Thuỷ được chia làm 12 xã, mỗi xã mang tên một nhân vật anh hùng trong lịch sử, sẵn sàng đối phó với thực dân Pháp Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, năm 1956, Lệ Thuỷ chia làm 22 xã
Sau khi thống nhất đất nước, năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định hợp nhất 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và khu vực Vĩnh Linh thành một tỉnh mới có tên Bình Trị Thiên Lệ Thuỷ là huyện thuộc tỉnh Bình Trị Thiên
Đến tháng 3/1977, hai huyện Lệ Thuỷ và Quảng Ninh hợp nhất thành
một đơn vị hành chính mới là huyện Lệ Ninh
Năm 1989, Nhà nước quyết định chia tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế theo ranh giới đã có trước khi sát nhập Để phù hợp với khả năng quản lý và tổ chức các hoạt động kinh tế, xã hội và quốc phòng – an ninh trong thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới, tháng 7/1990, huyện Lệ Ninh được chia thành hai huyện Lệ Thuỷ và Quảng Ninh theo địa giới hành chính đã thiết lập trước năm 1977, từ đó danh xưng và địa giới hành chính huyện Lệ Thuỷ đã ổn định Đến nay, huyện Lệ Thuỷ bao gồm
2 thị trấn (Kiến Giang và Lệ Ninh), 26 xã, 210 thôn, bản
Trang 171.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
* Nông nghiệp
Từ xưa đến nay, Lệ Thuỷ luôn được coi là vùng trọng điểm nông nghiệp của tỉnh Quảng Bình, bởi đây là địa bàn có tài nguyên nông nghiệp phong phú, đa dạng Lệ Thuỷ có diện tích đất nông nghiệp là 126.399 ha (chiếm 89,2% diện tích đất tự nhiên trên địa bàn) Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng bức xạ nhiệt phong phú, nền nhiệt độ cao, thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi phát triển, làm phong phú nền nông nghiệp của Lệ Thuỷ Đối với nông nghiệp Lệ Thuỷ, tài nguyên nước đóng vai trò hết sức quan trọng Con sông Kiến Giang bắt nguồn từ các núi cao phía tây – nam chảy qua các địa hình rừng núi, gò đồi và đồng bằng, trải rộng trên hầu hết diện tích các vùng nông nghiệp chủ yếu của Lệ Thuỷ
Trên vùng đất Lệ Thuỷ hội đủ cả các dạng địa hình vùng núi, gò đồi, đồng bằng, dải cát nội đồng ven biển, nhưng từ hàng nghìn năm nay, về cơ bản, người dân Lệ Thuỷ vẫn lấy cây lúa làm đối tượng sản xuất chính Lệ Thuỷ là vùng trọng điểm lúa của tỉnh
Ngoài trồng lúa thì người dân Lệ Thuỷ cũng rất chú trọng đến việc trồng các loại cây công nghiệp, cây hoa màu, cây lấy quả, cây lấy củ và cây
rau màu
Với truyền thống của ngành nông nghiệp, ngoài việc trồng trọt, người dân đã biết kết hợp chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm để tạo ra nguồn thực phẩm dinh dưỡng bổ sung cho các bữa ăn hàng ngày Nhờ biết đúc rút kinh nghiệm và tận dụng các thế mạnh về nguồn lương thực dồi dào cũng như điều kiện đất đai ruộng đồng, rừng núi phù hợp mà ngành chăn nuôi ở Lệ Thuỷ ngày càng phát triển cả về số lượng, chất lượng và chủng loại
Trang 18* Lâm nghiệp
Trong suốt chiều dài lịch sử, rừng có vai trò hết sức quan trọng đối với
sự tồn tại và phát triển của cộng đồng cư dân trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ Từ bao đời nay, người dân Lệ Thuỷ nhờ vào khai thác tài nguyên rừng để phục
vụ cho nhu cầu của cuộc sống hàng ngày Ở Lệ Thuỷ xuất hiện các nghề khai thác tài nguyên rừng như: nghề khai thác gỗ để xây dựng các công trình cộng đồng làng xã (đình, đền, chùa, miếu, chợ, nhà ở,…), các công trình phục vụ sản xuất và các công cụ lao động Ngoài ra, rừng Lệ Thủy còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành nghề thủ công cổ truyền như nghề mộc, nghề đan lát, nghề làm nón,… Rừng cung cấp cho cộng đồng dân cư nhiều sản vật quý, bổ sung vào nguồn thức ăn của cộng đồng dân cư như các loại động vật, cây trái, các loại cây thuốc,… Vì thế, khai thác lâm sản nói chung và khai thác gỗ nói riêng đã trở thành nghề truyền thống từ rất lâu đời ở Lệ Thuỷ
* Ngư nghiệp
Vùng biển Lệ Thủy nằm trong khu vực giao tiếp giữa các dòng hải lưu nóng và lạnh Sự giao hoà giữa các dòng hải lưu nóng, lạnh, sự trộn lẫn giữa nước mặt và nước tầng đáy, giữa nước mặt và nước ngọt của biển đã tạo nên khu vực sinh thái hỗn hợp, là điều kiện hết sức thuận lợi cho các sinh vật biển phát triển Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các làng biển đã không ngừng phát triển Các nghề đánh bắt hải sản chủ yếu ở Lệ Thuỷ như: nghề đánh cá đèn, nghề câu mực ống, nghề câu cá ảo, nghề câu vướng, nghề bủa câu vàng, nghề lưới hai, nghề lưới ba, nghề lưới mực, nghề bủa xăm, nghề dã ruốc,… Ngày nay, vùng biển đã trở thành khu vực dân cư sầm uất, nghề cá biển đang có những vận hội mới để phát triển và góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trên quê hương Lệ Thuỷ
Trang 19* Các ngành nghề thủ công nghiệp cổ truyền
Nghề thủ công truyền thống ở Lệ Thuỷ xuất hiện khá sớm Khi nhà nước Lâm Ấp ra đời và sau đó là quá trình hỗn dung văn hoá giữa cộng đồng
cư dân bản địa với người Chăm thì tinh hoa về nghề thủ công cổ truyền của người Chăm cũng được truyền vào vùng đất Lệ Thuỷ, trong đó nổi tiếng nhất vẫn là các nghề: rèn, đúc, mộc, gốm,… Ngoài những nghề có lịch sử hình thành và ra đời sớm trên đất Lệ Thuỷ như làm chiếu, ươm tơ, dệt vải, rèn, mộc, sản xuất đồ gốm,… thì một số nghề được coi là nghề truyền thống của
Lệ Thuỷ như: làm nón, đan áo tơi lá, đan mây tre, làm hương, làm giấy, nấu rượu, chế biến nước mắm, ruốc biển, ruốc tép, ép dầu lạc, dầu mè, nấu tinh dầu tràm, nấu mạch nha, kẹo mè xững, làm các loại bánh, bún,… Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp, nông thôn và các điều kiện lịch sử nên các ngành nghề thủ công dường như đều tập trung ở một số vùng nhất định Việc truyền nghề, bí quyết nghề đều mang đậm sắc thái địa phương, gia đình
Bước sang thời kỳ kinh tế thị trường, nhiều mặt hàng có chất lượng cao
và mẫu mã đẹp, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng như các sản phẩm cơ khí, đồ nhựa tổng hợp từ nước ngoài tràn ngập thị trường nội địa Trước sự cạnh tranh quyết liệt, nhiều mặt hàng thủ công thông dụng không còn chỗ đứng Ngoại trừ một số sản phẩm thủ công mang tính truyền thống như làm nón, dệt chiếu, mộc
mỹ nghệ,… vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội huyện, đồng thời còn vươn ra thị trường trong và ngoài tỉnh Những năm gần đây đã xuất hiện nhiều nghề mới như sửa chữa cơ khí, điện tử, gò hàn, sản xuất sản phẩm kim loại
* Giao thương – buôn bán
Trong xã hội phong kiến, trên cơ sở nông nghiệp phát triển, nhất là lúa gạo và nông thổ sản, lại có vị trí thuận lợi về đường sông nước, Lệ Thuỷ là nơi trù phú giàu có nổi tiếng thời bấy giờ, trước hết là vùng trung tâm huyện
lỵ Trong tác phẩm Ô Châu cận lục Dương Văn An đã mô tả “Chợ hai xã Đại
Trang 20Phúc, Tuy Phúc huyện Lệ Thuỷ gần sông gần rạch, có cầu, có chùa Ngã ba, ngã bảy, đường sá thênh thang, nghìn rạch trăm ngòi, thuyền bè tấp nập đáng
là một nơi đô hội của Thổ Châu Rí vậy” [1, tr 66]
Nhìn chung hoạt động thương mại ở vùng thôn quê đều thông qua chợ Chợ ở Lệ Thuỷ hình thành và phát triển sớm gắn liền với văn hoá làng, xã từ thời mở trang lập ấp Không biết từ bao giờ ở Lệ Thuỷ đã lưu truyền bài vè dân gian giới thiệu những sản vật tiêu biểu của các làng quê trong huyện thông qua các chợ:
“Trâu, chè, thơm, mít: Chợ Động Tôm, cua, cá bống: Chợ Chè Cam, quýt, đậu, mè: Chợ Trạm Chim, cá, ốc, hến, rạm: Chợ Thùi Nông, lâm, hải sản tràn đầy: Chợ Tréo
Cá biển ngồi khắp nẻo: Chợ Tuy Thu, ngừ, mực nuốt, chi chi: Chợ Cưởi Khoai, sắn, mật ong, thị, ổi: Chợ Mỹ Đức
Ai về Lệ Thuỷ mặc sức tiêu tiền”
Sau này khi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã phát triển, việc buôn bán giao lưu sản phẩm giữa các làng, vùng trong huyện có sự phát triển tương ứng Bước vào thời kỳ đổi mới, sản xuất hàng hoá phát triển với nhiều thành phần kinh tế, chợ được mở ra khắp nơi, ngày càng đáp ứng nhu cầu buôn bán và mua sắm của nhân dân trong và ngoài huyện, tạo nên động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành giao thương – buôn bán ở huyện Lệ Thủy
Tóm lại, kinh tế huyện Lệ Thuỷ trong những năm qua đã có thay đổi đáng
tự hào, phát triển nông - lâm - ngư nghiệp tăng bình quân là 5,7%; năm 2008, tổng sản lượng lương thực Lệ Thuỷ ước đạt 82.000 tấn góp phần đảm bảo lương
Trang 21thực và cuộc sống cho người dân; các ngành khác như công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng - dịch vụ đều có những bước tăng trưởng vượt bậc
Các mặt giáo dục, y tế cũng được chú trọng đầu tư và từng bước đạt hiệu quả Việc phổ cập giáo dục cho trẻ em đến cấp Trung học cơ sở cũng đã được triển khai trên hầu hết các xã, thị trấn; tỷ lệ người dân nông thôn dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đến nay cũng đạt được gần 70%; các cơ sở y tế đạt chuẩn quốc gia phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe người dân đã được phủ rộng trên địa bàn với tỷ lệ khoảng gần 60% Nhiều công trình trọng điểm lớn của huyện những năm vừa qua đã được hoàn thành, tạo nên niềm tin và sự phấn khởi của nhân dân về phát triển kinh tế, xã hội của địa phương [43]
1.1.4 Truyền thống lịch sử văn hóa huyện Lệ Thủy
1.1.4.1 Truyền thống khoa bảng
Người Lệ Thuỷ sớm có tiếng là hiếu học và học giỏi Kể từ khi Nhà nước phong kiến Việt Nam tổ chức các kỳ thi cử đầu tiên, Lệ Thuỷ đã có nhiều người học hành và đỗ đạt cao Trên cơ sở tổng hợp số liệu cho thấy:
Dưới thời phong kiến có tám vị đỗ tiến sĩ gồm: Dương Văn An (Tuy Lộc) tiến sỹ 1547; Lê Đa Năng (An Xá) tiến sỹ 1565; Phạm Đại Kháng (An Xá) tiến sỹ 1592; Nguyễn Đăng Hành (Phù Chánh) tiến sỹ 1848; Vũ Xuân Xán (Hoà Luật) tiến
sỹ 1848; Lê Đại (Phan Xá) tiến sỹ 1869; Phan Văn Khải (Tả Thắng) tiến sỹ 1889;
Võ Khắc Triển (Mỹ Lộc) tiến sỹ 1919
Bên cạnh đó, dưới thời phong kiến đồng thời cũng có bảy phó bảng gồm: Lê Lượng (Thạch Bàn) phó bảng 1865; Nguyễn Lê Kháng (Thạch Xá) phó bảng 1879; Trần Khánh Hội (Đại Phong) phó bảng 1879; Hoàng Đại Bỉnh (Xuân Lai) phó bảng 1901, Nguyễn Đăng Cư (Phù Chánh) phó bảng 1919; Nguyễn Hữu Trường (Hoàng Công) đậu giải nguyên năm 1838
Trang 22Dưới triều Nguyễn, huyện Lệ Thuỷ có 12 xã, thôn có 14 vị đỗ phó bảng, trong đó: Phù Chánh (2 vị), Hoàng Công (1 vị), Hoà Luật (1 vị), Tuy Lộc (1 vị), Thạch Bàn (1 vị), Phan Xá (1 vị), Thạch Xá (1 vị), Đại Phong (1 vị), Tả Thắng (1 vị), Xuân Lai (1 vị), Mỹ Lộc (1 vị), An Xá (2 vị)
Cũng dưới triều Nguyễn, Lệ Thuỷ có 23 xã, thôn có 51 vị hương khoa (cử nhân), trong đó: Phù Chánh (6 vị), Đại Phong (5 vị), Mỹ Lộc (5 vị), Lộc An (5 vị), Xuân Hồi (3 vị), Thạch Bàn (3 vị), Thạch Xá (3 vị), Hoàng Công (2 vị), Kim Định (2 vị), Hoà Luật (2 vị), Thuận Trạch (2 vị), Cổ Liễu (2 vị), Phù Việt (1 vị), Mỹ Trạch (1 vị), Tả Thắng (1 vị), Hương Am (1 vị), Xuân Lai (1 vị), Mỹ Duyệt (1 vị), Tuy Lộc (1 vị), Tây Luật (1 vị), Ba Ngoạt (1 vị), Phan Xá (1 vị), Thuỷ Cầm (1 vị) [43, tr 526 - 530]
Vậy là, tuy Lệ Thuỷ là vùng đất mà ở bất kỳ thời kỳ lịch sử nào cũng đều ở
xa các trung tâm chính trị, văn hoá lớn của đất nước, lại là vùng đất “phên dậu” của
tổ quốc, thường xảy ra các cuộc tranh chấp quyết liệt giữa các thế lực phong kiến, thế nhưng, dưới triều đại nào Lệ Thuỷ cũng có nhiều người đi học và nhiều người
đỗ đạt cao, điều đó đã chứng tỏ người Lệ Thuỷ không những ham học từ rất sớm
mà có nhiều người học giỏi
1.1.4.2 Các di tích lịch sử văn hóa
* Di tích liên quan đến dấu ấn của người Chăm
Sự hội nhập của văn hoá, các hình thái hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo, việc xây dựng các thiết chế phục vụ các nghi lễ tôn giáo và tín ngưỡng
đã làm xuất hiện những công trình kiến thúc cộng đồng đầu tiên trên đất Lệ Thuỷ, đó là hệ thống các đền tháp và chùa chiền Tuy nhiên, do quá trình chiến tranh, tranh chấp các tập đoàn phong kiến và sự tàn phá của thiên nhiên, những công trình kiến trúc chịu ảnh hưởng của văn hoá Chăm trên đất Lệ Thuỷ bị tàn phá, hiện chỉ còn là những dấu tích
Trang 23- Thành Ninh Viễn
Mặc dù tồn tại qua rất nhiều tên gọi (thành Lồi, thành Chàm, thành Uẩn
Áo, Ninh Viễn thành,…) nhưng tên gọi phổ biến là thành Ninh Viễn và đây cũng là thành luỹ lớn nhất của người Chăm
“Các thư tịch cổ đều ghi chép Ninh Viễn thành được xây dựng bên nhánh sông Ngô Giang ở cách huyện Lệ Thủy 10 dặm về phía Nam” [43, tr 319] Đây là khu thành mà các cuộc nam chinh thời Lý, Trần, Lê thường hạ trại trú quân Toà thành nằm trong phạm vi làng Uẩn Áo (xã Liên Thuỷ, Lệ Thuỷ), phía tây – bắc giáp làng Cổ Liễu, phía nam giáp làng Trạm (Mỹ Trạch, Thuận
Trạch), phía đông là cánh đồng lúa, phía tây – nam là sông Ngô Giang Sách Ô
Châu cận lục đã mô tả:
Thành ở xã Uẩn Áo huyện Lệ Thuỷ, sông Bình Giang chảy phía trước, sông Ngô Giang chẹn phía sau, hai bên giòng đầy Tây - Bắc lại hợp làm một Ba mặt có sông, một mặt giáp núi, chính là nơi hiểm yếu của nước nhà, phên - giậu của Hoa – thành vậy Cửa nam có tấm đá khắc ba chữ “Ninh Viễn thành” Vệ Trấn Bình đóng ở đó [1, tr 65]
Có nhiều giả thuyết về chức năng và vai trò của Ninh Viễn thành trong quá trình bành trướng của đế chế nhà Hán và sự tranh chấp của vương quốc Lâm
Ấp Dù chưa có sử liệu để làm sáng tỏ vai trò chủ nhân của toà thành trong từng giai đoạn lịch sử nhưng sự tồn tại của Ninh Viễn thành qua hàng nghìn năm đã ghi dấu ấn văn hoá một thời của người Chăm trên mảnh đất Lệ Thuỷ
- Kiến trúc đền tháp Chăm ở Mỹ Đức
Mỹ Đức được xem là di tích Phật giáo quan trọng trên đất Quảng Bình, nơi đã tìm thấy những mẫu tượng Chàm đẹp nhất Tại đây, trong một đợt khai quật năm 1918, các nhà khảo cổ học người Pháp đã tìm thấy hai pho tượng tròn bằng sa thạch, vài tượng Phật nhỏ bằng kim loại, gạch bông và một
Trang 24miếng văn bia tiếng Sankrit Chiến tranh và sự phong hoá của thiên nhiên đã tàn phá hầu hết các công trình kiến trúc Phật giáo nơi đây nhưng những dấu tích nền móng và vật liệu xây dựng vẫn còn lại ở thôn Mỹ Đức, đặc biệt là
một số di vật văn hoá đã được phát hiện như: Tượng Bồ tát LokeÌvara, dấu
tích đền tháp và tượng “Phật lồi” ở Quảng Cư
* Di tích liên quan đến sự kiện lịch sử - văn hoá và danh nhân thời cổ trung đại
- Lăng mộ Hoàng Hối Khanh
Hoàng Hối Khanh sinh vào giữa thế kỷ 14 tại Yên Định, Thanh Hoá Năm 1384, ông thi đỗ tiến sỹ và được bổ làm quan Thứ sử ở cung Bảo Hoà triều Trần Một năm sau, Hoàng Hối Khanh được bổ làm tri huyện huyện Nha Nghi (nay là vùng đất Lệ Thuỷ) Vào nhận chức ở vùng đất chưa được khai phá nhiều, ông nhận thấy đây là vùng đất thuận lợi về nhiều mặt và cũng có thể là nơi làm ra nhiều cái ăn nuôi sống con người Hoàng Hối Khanh liền lên đường trở ra Châu Hoan, Châu Ái (nay là Thanh, Nghệ) tuyển mộ dân đinh của 12 dòng họ vào huyện Nha Nghi khai canh lập ấp
Để thuận tiện cho việc quản lý, Hoàng Hối Khanh đã đặt tên cho mỗi thái ấp, điền trang và có từ đầu tiên là “kẻ” hay “nhà” (nhà Vàng (Hoàng Giang), nhà Ngo (Uẩn Áo), nhà Phan (Phan Xá), kẻ Tuy (Phúc Tuy – Tuy Lộc), kẻ Đợi (Đại Phúc Lộc - Đại Phong), kẻ Tiểu (Tiểu Phúc Lộc - Thượng Phong),…) Trong thời gian Hoàng Hối Khanh cai quản huyện Nha Nghi đã góp phần phát triển sản xuất và bảo đảm an ninh trật tự của xóm làng
Với công trạng ấy, năm 1391 vua Trần đã quyết định thăng chức Chính hình viên đại phu cho Hoàng Hối Khanh và cử ông trấn giữ vùng biên giới phía Nam Đến đây, ông đã có công đóng góp trong việc mở mang bờ cõi vùng Quảng Nam Chưa đầy một năm sau, nhà vua lại điều Hoàng Hối Khanh
Trang 25ra làm An Phủ sứ ở Tam Đái (Vĩnh Phú ngày nay) trấn giữ phía Bắc chuẩn bị chống quân Minh Năm 1405, Hoàng Hối Khanh được cử làm Cát địa sứ (nhà ngoại giao) dẫn đầu phái đoàn nhà Hồ sang hội đàm với nhà Minh
Hoàng Hối Khanh đã có nhiều đóng góp rất lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao Ông được coi là vị tiền khai khẩn làng Tiểu Phúc Lộc - tức làng Thượng Phong, được nhân dân suy tôn là Thành Hoàng, ông cũng là người có nhiều công lao to lớn khai phá vùng đồng bằng Lệ Thuỷ
Hàng năm, ngày 5 tháng 6 âm lịch đã trở thành ngày giỗ vị khai khẩn làng Kẻ Tiểu - Tiểu Phúc Lộc - Thượng Phong – Hoàng Hối Khanh, vì theo tương truyền Hoàng Hối Khanh tạ thế vào ngày 6 tháng 6 âm lịch (thuộc năm dương lịch 1407)
Lăng mộ và bia táng của Hoàng Hối Khanh đặt tại phường Tiểu, thuộc phần đất làng Tiểu Phúc Lộc (từ sau Cách mạng Tháng Tám, phường Tiểu thuộc thôn Đại Giang, xã Trường Thuỷ) Miếu thờ Hoàng Hối Khanh được xây kiên cố và uy nghiêm tại cuối thôn Hà Thanh làng Tiểu Phúc Lộc Cả hai công trình kiến trúc này đều được xây dựng từ đời vua Thiệu Trị thứ 6 (năm 1845)
Tháng 7 năm 1998, Bộ Văn hoá – Thông tin đã cấp bằng công nhận lăng
mộ và miếu thờ cụ Hoàng Hối Khanh là một di tích lịch sử văn hoá đời Trần
Hồ Nhân dân làng Thượng Phong đã đón rước tấm bằng vinh dự này vào dịp
tổ chức lễ hội cúng giỗ ông vào ngày 18/7/1999 Tháng 4 năm 2003 khánh thành khu tưởng niệm danh tướng Hoàng Hối Khanh tại làng Thượng Phong [43, tr 478 - 481]
- Lăng mộ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh
Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh sinh năm 1650 tại Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc, nay là xã An Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình Ông là một vị tướng quốc, một bậc đại công thần thời chúa
Trang 26Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725) Ông nội của Nguyễn Hữu Cảnh là quan tham tướng Nguyễn Triều Văn, vì bất mãn với chúa Trịnh chiếm quyền vua
Lê nên theo phò chúa Nguyễn Hoàng vào Đàng Trong Nguyễn Triều Văn đã cho gia đình dừng chân tại huyện Phong Lộc, tức huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình ngày nay
Nguyễn Hữu Cảnh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh nước nhà lâm vào nạn Trịnh - Nguyễn phân tranh Vốn thuộc dòng dõi danh tướng, Nguyễn Hữu Cảnh đã sớm có ý chí tu dưỡng rèn luyện và trở thành một trang võ nghệ siêu quần ở tuổi thiếu niên Ông được chúa trọng dụng và ban cho tước Lễ Thành Hầu và đựơc giữ chức Cai Cơ khi còn rất trẻ Tháng 8 năm Nhâm Thân (1692), Nguyễn Hữu Cảnh được điều vào dinh Bình Khang đánh dẹp loạn lạc
do phần tử chống đối nổi lên Ngoài việc trấn an được xã tắc, Nguyễn Hữu Cảnh đã thành lập được Trấn Thuận Thành (tức Ninh Thuận và Bình Thuận bây giờ) Với thành tích nói trên, Nguyễn Hữu Cảnh được thăng chức Chưởng
Cơ và làm trấn thủ Dinh Bình Khang Tên tuổi của Nguyễn Hữu Cảnh gắn liền với vùng đất và con người Nam Bộ
Trong thời gian ba năm (1698 - 1700), Nguyễn Hữu Cảnh đã dựng nên
hệ thống hành chính cho Sài Gòn, Gia Định, Nam Bộ được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ đó Mùa hạ năm 1700, triều đình cử Nguyễn Hữu Cảnh đi dẹp yên biên cương với chức Thống binh Với chính sách ôn hoà, đem nhân tâm thu phục lòng người nên công cuộc an định biên cương nhanh chóng thành công Khi về đến ngã ba Tiền Giang - Rạch Gầm, ông bỗng lâm trọng bệnh và mất đột ngột vào ngày 9 tháng 5 năm Canh Thìn (1700) Linh cửu của ông được đưa về đình cửu cạnh Dinh Trấn Biên, Đồng Nai (Cù Lao phố) Chúa Nguyễn Phúc Chu ban sắc truy tặng “Hiệp tán công thần, đặc tấn chưởng dinh Vĩnh An Hầu” cho Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh Vua Minh Mạng cũng truy tặng
Trang 27Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là “khai quốc công thần tráng võ tướng quân Vĩnh An Hầu”
Dòng họ của Nguyễn Hữu Cảnh ở Quảng Bình, từ ông nội, cha, anh trai cho đến Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đều có lăng mộ toạ lạc dọc theo chân núi An Mã (dãy Trường Sơn)
Tháng 5 năm 1995, một số hậu duệ của Nguyễn Hữu Cảnh ở Phúc Tín, Quảng Ninh cùng các nhà nghiên cứu ở Quảng Bình trong quá trình tìm kiếm
đã phát hiện ra phần mộ của Khai quốc công thần Nguyễn Hữu Cảnh nằm ở đầu nguồn con sông Kiến Giang, dưới chân núi An Mã, bên thác Ro thuộc thôn Đại Thuỷ, xã Trường Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ Vùng lãnh địa này cũng là nơi chôn cất của nhiều danh gia vọng tộc Mộ của ông đặt theo hướng đông tây trên một ngọn đồi, bao quanh là một khe nước Ngôi mộ đắp bằng đất sỏi
đỏ, mặc dù bị bào mòn nhiều nhưng vẫn có quy mô lớn, đường kính gần hai mét Ngay trước mộ còn y nguyên một bia đá xanh được khắc chạm rất tinh
vi, sắc sảo Bia được đặt trên bệ đá xanh cao 30 phân Cả hai mặt bia đều
được ghi khắc bằng chữ Hán (xem ảnh số 02 phần Phụ lục)
Sau khi phát hiện ra ngôi mộ, tỉnh Quảng Bình cho xây dựng ngay trên khu đất có ngôi mộ của Nguyễn Hữu Cảnh một khu di tích lăng mộ khang trang và uy nghiêm Khu lăng mộ Lễ Thành Hầu Thượng đẳng thần Nguyễn Hữu Cảnh đã được Bộ Văn hoá -Thông tin công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 24/01/1998 [43, tr 482 - 487]
- Lăng mộ và bia Võ Xuân Cẩn
Võ Xuân Cẩn sinh năm 1771, người làng Hoà Luật, xã Cam Thuỷ Vào năm Tân Dậu, Thế tổ cao hoàng đế lấy lại thành Phú Xuân, ông là cống sĩ, vào yết kiến ở cửa quân Gia Long năm thứ nhất (1802), ông được bổ vào
Trang 28viện Hàn lâm, năm thứ hai bổ làm Tham Hiệp trấn Hưng Hoá, rồi tiếp đó làm Cai bạ ở Bình Định
Buổi đầu năm Minh Mạng, ông được thăng làm Hiệp trấn Sơn Nam Sau
đó, được triều đình triệu về làm tả tham tri Bộ Hình Minh Mạng năm thứ 5 (1824) ra làm Hiệp trấn Nghệ An Năm Minh Mạng thứ 14 (1833), Võ Xuân Cẩn được bổ làm Tổng đốc Bình Phú Trong thời gian làm Tổng đốc, ông đã có công trong việc cải cách điền địa, được thăng làm Hiệp biện Đại học sĩ, gia hàm Thái tử thiếu bảo và được triệu về kinh lãnh chức Đại Tư Khấu (Thượng thư Bộ Hình) kiêm quản viện Đô sát sung Thực lục tổng tài
Thiệu Trị năm thứ 1 (1841), Võ Xuân Cẩn cho rằng mình đã đến tuổi thất tuần nên dâng sớ xin thôi việc Vua bảo rằng: Nước có bề tôi già là điềm hay của thịnh triều nên đã không cho ông nghỉ và tấn phong cho ông chức:
“Thự Đông Các Đại học sĩ gia hàm Thái Bảo”, quản lý công việc bộ lại Năm Thiệu Trị thứ 2, vua đi tuần tra miền Bắc, ông được sung chức Khâm sai đốc
lý tra biện các việc án Năm thứ 6 (1846) ông được ban thẻ bài Ngọc, chạm 4 chữ vàng: “Ngự tiền đại thần”
Tự Đức năm thứ 5 (1852), Võ Xuân Cẩn lấy cớ tuổi già cố xin về, dù rất luyến tiếc sự ra đi của ông nhưng vua cũng phải đồng ý cho ông về quê Ngày Võ Xuân Cẩn về, vua còn ban chế thêm thẻ bài “Thái Bảo” và cho được hưởng lương Trong thời gian 50 năm làm quan dưới 4 triều vua (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), ông luôn thể hiện là một con người trung can, cần mẫn, thông thạo trong việc chọn người, âm thầm tiến cử người tài cho đất nước
Tháng 4 – 1852, Võ Xuân Cẩn mất, thọ 81 tuổi Vua thương tiếc ban sắc hậu, sai bộ lễ đem bài thơ và bài minh ở bia của vua làm cho khắc vào đá dựng ở chỗ làng Hoà Luật, nhan đề rằng: “Tứ triều nguyên lão” (Ông lão có đức vọng lớn ở bốn triều) Hiện nay, lăng mộ Võ Xuân Cẩn được đặt ở thôn
Trang 29Trung Lực, xã Tân Thuỷ Bia “Tứ triều nguyên lão”hiện vẫn còn ở làng Hoà Luật, xã Cam Thuỷ [43, tr 488 - 490]
* Một số di tích trong thời kỳ đấu tranh cách mạng, bảo vệ và xây dựng đất nước trong thời kỳ hiện đại
- Miếu Thành hoàng Mỹ Thổ
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, miếu Thành hoàng Mỹ Thổ
là nơi được dùng để bồi dưỡng và giác ngộ cách mạng cho những thanh niên cốt cán ở Lệ Thuỷ Miếu Thành hoàng là ngôi miếu rất kín đáo và linh thiêng, ít người lui tới, nhất là về ban đêm Tại đây, vào tháng 11/1931 chi bộ đảng Mỹ Trung đã được thành lập
Như vậy, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Lệ Thuỷ đã được thành lập rất sớm và miếu Thành hoàng trở thành một nơi chứng kiến sự kiện quan trọng vào bậc nhất của lịch sử cách mạng huyện Lệ Thuỷ
Miếu Thành hoàng ngày nay không chỉ là nơi thờ cúng linh thiêng của
bà con Mỹ Thổ - Trung Lực mà còn là nơi vọng tưởng của nhân dân toàn huyện Lệ Thuỷ đối với chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện nhà
- Chùa An Xá
Chùa An Xá nằm trên địa bàn làng An Xá, ngày nay thuộc xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình
Ngay trong thời gian 1929 – 1930, khi ở các làng Thạch Bàn, Phú Thọ,
An Xá xuất hiện các nhóm thanh niên yêu nước, tìm đọc sách báo tiến bộ, gây dựng những cơ sở cách mạng đầu tiên trong huyện đã từng lấy chùa An Xá - một nơi thâm nghiêm, vắng vẻ để làm liên lạc
Ngày 02 tháng 7 năm 1945, tại chùa An Xá, một hội nghị của cán bộ Đảng trong tỉnh Quảng Bình đã được tổ chức Dưới sự chủ trì của đồng chí
Trang 30Trần Hữu Dực, hội nghị có 13 đồng chí đại diện cho các tổ chức đảng trong tỉnh Hội nghị tại chùa An Xá có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị giành chính quyền về tay nhân dân ở Quảng Bình
Trong kháng chiến chống Pháp, chùa An Xá bị giặc Pháp đốt phá vì cho rằng chùa là nơi ẩn náu, tụ họp của Việt Minh Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, nhân dân địa phương đã tiến hành tu sữa lại chùa Thế nhưng, chùa lại tiếp tục bị đế quốc Mỹ nhiều lần ném bom, biến chùa thành phế tích Ngày nay, chùa An Xá đã được trùng tu, tôn tạo
Chùa An Xá đã được nhiều đồng chí cộng sản tiền bối như Võ Nguyên Giáp, Đoàn Khuê, Trần Hữu Dực,… về thăm nhiều lần Ngày 02/12/1992, Bộ Văn hoá – Thông tin đã ra quyết định công nhận chùa An Xá là di tích lịch sử
văn hoá cấp quốc gia (xem ảnh số 03 phần Phụ lục)
- Nhà đại tướng Võ Nguyên Giáp ở làng An Xá
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, thân sinh của cụ là cụ
Võ Nguyên Thân, một nhà nho nghèo yêu nước, dòng dõi khoa bảng
Khi mới 14 tuổi, ông đã bắt đầu hoạt động cách mạng và trở thành học trò xuất sắc của lãnh tụ Hồ Chí Minh Ngày 20/01/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong ông làm Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam Tháng 6/1950, có Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành lập Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, ông giữ chức phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh, Tổng Chính
uỷ, Bí thư Quân uỷ Trung ương Ông liên tục đảm nhiệm những chức vụ trên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Ông là một vị tướng kiệt xuất, đã có nhiều đóng góp trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trang 31Hiện nay, ngôi nhà của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được khôi phục, tôn tạo trên vị trí cũ tại làng An Xá, xã Lộc Thuỷ Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp có cấu trúc theo kiểu nhà rường đơn giản, phổ biến ở vùng chiêm trũng huyện Lệ Thuỷ Nhà lưu niệm trở thành một điểm đến không chỉ
là của người dân Quảng Bình mà còn là điểm đến của nhân dân cả nước và
bạn bè quốc tế (xem ảnh số 04 phần Phụ lục)
Ngoài ra, ở Lệ Thuỷ còn có những di tích nổi tiếng trong thời kỳ cách
mạng như: di tích đình làng Quy Hậu là cơ sở sản xuất vũ khí phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; di tích chiến thắng Xuân Bồ (20/5/1950) đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc gia; di tích A72 nằm
trong hệ thống di tích lịch sử đường Trường Sơn (đường Hồ Chí Minh) đã
được xếp hạng là di tích cấp Quốc gia
1.1.4.3 Phong tục và tập quán
* Nghi lễ thờ phụng, cúng bái
Cũng như nhiều miền quê khác trên đất nước ta, ở Lệ Thuỷ, mỗi gia đình đều có gian thờ và bộ đồ thờ tổ tiên Tuỳ theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình mà có cách thờ phụng khác nhau nhưng hầu hết các gia đình đều bài trí điện thờ tiên tổ theo 3 cấp Trên cùng là 3 lư hương thờ bổn mạng gia chủ,
kế đến là lư hương và nếu gia đình khá giả thì có bộ tam sự, ngũ sự (lư trầm,
lư hương, chân đèn, và các loại vật linh khác) thờ tiên tổ và ngoài cùng là thờ đại đồng (gồm tất cả những người trong gia đình đã qua đời) Để thờ 3 cấp như vậy, thường trong mỗi gia đình có tran thờ 2 cấp để thờ bổn mạng và thờ tiên tổ, một bàn trong để đồ lễ và một hương án ngoài cùng để đặt bộ tam sự thờ đại đồng và cũng là để dọn hương hoa, trầm trà khi thờ cúng
Phía ngoài sân mỗi nhà thường xây hay trồng một bức bình phong chắn lối đi trực diện vào cổng và cũng là để dựng án thờ các vị chư thần trong khuôn
Trang 32viên mà ngôi nhà toạ lạc Người Lệ Thuỷ thường quan niệm ngoài gia tiên thì trong khuôn viên của họ có một số vị thần quan trọng, thường xuyên chi phối cuộc sống của họ là thổ thần, thần bếp, thần giữ cửa, thần giếng, thần tài và một
số chư vị thần linh khác tuỳ theo đặc điểm từng vùng dân cư
Có một bộ phận rất ít đồng bào Lệ Thuỷ theo Thiên chúa giáo (trước đây nay đã không còn) còn đại bộ phận vẫn theo phong tục thờ cúng tổ tiên ông bà Bất kể giàu hay nghèo, không ai quên ngày giỗ của tổ tiên, ông bà, cha mẹ Ngày giỗ, bà con anh em, họ hàng thân thích đều có chai rượu, thẻ nhang đến dự cúng kỵ
Thời xưa, ở huyện Lệ Thuỷ, hầu hết các làng tuy to nhỏ nhưng đều có một ngôi đình và một ngôi chùa Đình làng là nơi để thờ các vị thần của làng, thờ các vị có công với làng, với nước, để tổ chức các lễ tế, hội làng và hội họp của làng Ở đình làng mỗi năm có một lần tổ chức lễ bái và tuỳ khả năng của từng làng để làm cỗ kỵ
Lễ tế tại đình làng thường được tổ chức rất long trọng Có trống, chiêng, thanh la, não bạt với đội nhạc cổ cùng tấu lên rộn ràng giục giã cả một vùng làm già trẻ, gái trai đều náo nức
Chi phí tất cả lễ lạt trên đều do lấy từ số tiền cho thuê canh tác ruộng đất được làng trích ra hàng năm
Bên cạnh việc tế ở đình làng, Lệ Thuỷ xưa hầu hết các làng đều có dựng chùa thờ Phật Mỗi làng có cách tổ chức các điện thần khác nhau nhưng hầu hết các chùa đều có thờ theo quan niệm dân gian: tượng Phật ở gian giữa, phía sau thờ 3 vị: Tuyết sơn, Di lặc và Phật tổ Bên phải thờ đức Quan Công, bên trái thờ đức Phật bà, ở giữa gian (phía trước) thờ Phật Thích ca, hai bên
Trang 33Phật Thích ca (phía gần cửa) thờ một bên là ông Thiện, thờ một bên là ông
Ác Phía ngoài cửa có tượng hai ông “hộ pháp” để giữ chùa
Một điều đáng chú ý là ở huyện Lệ Thuỷ, các chùa đều không có sư trụ trì Dân làng cũng không có ai chuyên ăn chay niệm Phật Ở những ngôi chùa
to, làng có cử một người có tư cách, ăn ở phúc đức làm nhiệm vụ giữ chùa, lo hương khói chu tất trong ngày mùng một, ngày rằm hàng tháng
Ngoài việc khói hương hàng tháng, một năm một lần dân làng tổ chức cúng chùa bằng sự tự nguyện của mọi người Ngày tổ chức cúng bái tuỳ vào làng sắp xếp, chẳng hạn chùa ở làng Lộc An cúng vào ngày rằm tháng chạp Cùng với lễ cúng đình, cúng chùa, các làng còn có tục cúng Điện Miếu Điện Miếu là nơi thờ các Thánh như Đức Thánh Trần, có nơi thờ cả đức Khổng Tử, Lão Tử,… Lễ cúng điện thường tổ chức vào tiết thanh minh (tháng 3 âm lịch)
Hằng năm, ở Lệ Thuỷ xưa, ngoài ba lễ lớn ở đình, chùa, điện, làng còn
lo cúng Thành Hoàng (người khai khẩn nên làng), cúng miếu Bà Thổ, miếu
Bà Hoả, lễ khai canh, lễ xuống đồng, lễ khai sơn,…
* Các tết trong năm
Giống như những miền quê khác của Việt Nam, đời sống văn hoá của
cư dân Lệ Thuỷ cũng không thể thiếu những ngày lễ tết như: tết Nguyên đán, tết Thượng nguyên, tết Đoan ngọ, tết Trung nguyên, tết Hạ nguyên,…
* Hôn nhân
Cũng như nhiều nơi khác, hôn nhân truyền thống của người Lệ Thuỷ không phải chỉ là việc riêng nam nữ mà là việc hai họ dựng vợ gả chồng cho con cái Như vậy, việc hôn nhân giữa hai người lại kéo theo việc xác lập quan
hệ giữa hai gia tộc, cho nên điều đầu tiên chưa phải là lựa chọn một cá nhân
Trang 34cụ thể mà lựa chọn một dòng họ, một gia đình xem cửa nhà có tương xứng hay không, có môn đăng hộ đối không Bề ngoài các cụ thường nói:
“Kiếm nơi cây cả lá xanh Kiếm nơi đông chị đông anh mà nhờ”
Kỳ thực là các cụ rất quan tâm đến năng lực sinh sản của những người được kén chọn “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống” hay “mua heo chọn nái, lấy gái chọn dòng…” Không những thế, người con tương lai của gia đình còn có trách nhiệm làm lợi cho nhà mình Con gái phải đảm đang, tháo vát, con trai phải giỏi giang để đem lại nguồn lợi vật chất cho gia đình hai bên Hôn nhân ngày xưa cũng còn đáp ứng một số quyền lợi của làng xã, Lệ Thuỷ xưa cũng có quan niệm chọn vợ, chọn chồng cùng làng:
“Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng”
“Chồng trong làng như vàng trong tráp”
“Lấy chồng khó giữa làng hơn lấy chồng sang thiên hạ”
Ở Lệ Thuỷ xưa cũng có tục thách cưới nhưng không quá nặng nề như ở một số vùng khác Đối với đại đa số bà con nông dân lao động bình thường thì mâm lễ chủ yếu của nhà trai là mâm trầu gồm buồng cau trên trăm trái (105 trái) và trên trăm lá trầu (105 lá), ý là muốn cho hạnh phúc của đôi trẻ lâu dài hơn cả trăm năm Sau lễ xin cưới, hai gia đình tổ chức lễ cưới, thường thì bên nhà trai tổ chức riêng và nhà gái tổ chức riêng để mời quan viên hai
họ Trước khi rước dâu về nhà chồng, họ hàng nhà trai xem giờ lành, ngày tốt, sắm lễ xin dâu Lễ xin dâu thường đơn giản gồm có rượu một chai, trầu hai đĩa để dâng lên bàn thờ tổ tiên Tuy nhiên, những gia đình giàu có và quyền quý có thể sắm lễ sang trọng hơn
Việc đón và đưa dâu thường bố trí người song toàn (có đủ vợ chồng còn sống, con cái đông đúc, có đủ đại diện nội ngoại) Về với nhà chồng,
Trang 35người phụ nữ trở thành thành viên chính thức đảm trách công việc nhà chồng Tập quán và truyền thống người Lệ Thuỷ rất coi trọng vai trò của người con dâu trong gia đình
* Tang ma
Vì xem tang ma như việc đưa tiễn nên các cụ tuổi cao, thượng thọ, chết
ở tuổi già được coi là một sự mừng Người Lệ Thuỷ xưa, đại đa số đều có ý chuẩn bị cho cái chết của mình Các cụ đều lo sắm áo quan (gọi là cổ hậu sự,
cổ thọ) Áo quan được kê ngay dưới bàn thờ ông bà một cách bình thường, thậm chí được dùng để cất giữ đồ đạc, thóc lúa Có cụ kỹ hơn còn nhờ thầy địa đi coi đất để sau này xây mộ cho mình
Khi trong nhà có người chết, cư dân Lệ Thuỷ có tục gọi hồn, cho rằng người đã chết nhưng hồn vía vẫn còn lại Vì xót thương nên có tục khóc than,
kể lể thảm thiết, con cháu làm đồ tang bằng các loại vải thô như xô, gai Trong lúc đưa tang, con trai cả chống gậy, đi thụt lùi, con gái lăn ra đường, đội nón mê, nón rách,…
Ở Lệ Thuỷ có nhiều vùng có thế đất để quy tập mồ mã Các làng dọc theo bờ sông thì quen ngược sông Kiến Giang lên quy tập hai bên bờ vùng Rào Con, Rào Nậy, vùng động Lòi Chiêng, vùng đồi An Mã (Mai Thuỷ, Phú Thuỷ), vùng đồi Đại Giang (Văn Thuỷ, Trường Thuỷ) Phía Thạch Bàn, Phú Thọ, Tân
Lệ thì quy về vùng núi Mỹ Đức, động Cơn Trào (Sơn Thuỷ) Riêng có làng An
Xá thì đưa người quá cố ra giữa đồng - một cồn nổi bao la giáp làng Phú Việt, Thanh Thuỷ, không phải vì làng nghèo (An Xá vẫn là nơi nổi tiếng về sự no đủ: “lúa gạo An Xá, tôm cá Lộc An”) mà là do tập tục lâu đời
Trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ có một vùng đất dưới chân núi An Mã, trong vùng đồi Đại Giang được coi là có thế đất “tả thanh long, hữu bạch hổ”, nếu được an táng nơi đây thì phúc lộc vượng phát muôn đời Vì thế, trên vùng
Trang 36đất này, tập trung mồ mã của nhiều thế hệ cộng đồng cư dân Lệ Thuỷ trong
đó có lăng mộ của nhiều danh nhân nổi tiếng như Lễ Thành hầu, Thượng đẳng thần Nguyễn Hữu Cảnh, tứ triều nguyên lão Võ Xuân Cẩn, Võ Khê Hầu, Khâm sai năm phủ Đặng Đại Độ, song thân Đại tướng Võ Nguyên Giáp
và tiền nhân của nhiều gia tộc quyền quý ở Lệ Thuỷ
1.2 MỘT SỐ LỄ HỘI TIÊU BIỂU Ở HUYỆN LỆ THỦY
1.2.1 Lễ hội bái vọng thành hoàng làng Thượng Phong
Ở Lệ Thuỷ không phải làng nào cũng có Thành hoàng, nhưng cũng có làng thờ 5 đến 7 vị Thành hoàng Các vị Thành hoàng được thờ thường là
“phúc thần” - vị thần giáng phúc cho dân Họ có thể là thiên thần hoặc nhân thần Với các nhân thần, nhiều làng thờ ngay người có công lập ra làng xã làm Thành hoàng Nói đến lễ hội thờ cúng Thành hoàng ở Lệ Thuỷ phải kể đến lễ hội thờ cúng Thành hoàng thôn Thượng Phong (xã Phong Thuỷ) – danh tướng Hoàng Hối Khanh Đây cũng có thể coi là Thành hoàng của hầu hết các làng phía hữu ngạn sông Kiến Giang trước đây
Lễ hội được tổ chức vào các dịp: Tết Nguyên đán, lễ Hạ nguyên (15/10
âm lịch) và ngày giỗ của Ngài (6/6 âm lịch) Mỗi dịp lễ hội kéo dài trong hai ngày và nhìn chung diễn ra rất rầm rộ, nhộn nhịp với các cuộc tế lễ, rước thần và sau đó là hội hè vui chơi (cờ người, chọi gà, hò khoan, biểu diễn võ dân tộc,…)
1.2.2 Lễ hội tát vung Đại Phong
Lễ hội này độc nhất chỉ có ở làng Đại Phúc (nay là thôn Đại Phong, huyện Lệ Thuỷ) Lễ hội không tổ chức hàng năm, mà chỉ tổ chức vào dịp tháng
2 âm lịch vào những năm lúa bị hạn chẹn đòng, mục đích lễ hội là làm náo động thiên cung để cầu mưa Lễ hội kéo dài hai ngày và được chia làm hai phần Ngày đầu tế lễ cầu “chẹn” tại đình làng Lễ vật cúng tế ngoài nhang, đèn, trầu, rượu còn có một nổi đồng (gọi là vung) có đường kính miệng 60 cm Sau
Trang 37phần lễ là hội thi tát nước của hai “thành” trong làng (làng lựa chọn trai tráng chia hai phe theo thôn, mỗi phe là một “thành”, gồm có 8 người) Địa điểm thi
là một đoạn hói nhà Mạc khoảng 200m, được ngăn bởi hai con đê hai đầu Ở giữa hói đặt nổi một chiếc vung được cố định bởi hai sợi dây, trong chứa 20 quan tiền đồng làm giải thưởng Trai thi ở trần, mặc quần đùi, buộc thắt lưng và đầu chít khăn cùng màu, tay cầm gàu sòng Bên nào tát nước nhanh, kéo theo dòng nước chảy mạnh khiến chiếc vung bị đứt dây trôi về phía mình thì thắng cuộc được nhận phần thưởng trong vung và được dân làng khao Hội thi diễn ra trong không khí tưng bừng của cờ quạt, chiêng trống
1.2.3 Lễ hội phát mộc làng Quảng Cư
Quảng Cư là làng có nhiều nghề thủ công cổ truyền như nghề mộc, nghề cưa xẻ, nghề chạm khắc, nghề cưa xẻ, nghề sơn tràng, nghề đan lát, nghề dệt may, nghề nấu rượu, làm bánh, bún,… song nghề mộc là nghề chiếm tỷ trọng cao hơn cả Nghề mộc Quảng Cư thiên về làm nhà, sản xuất các đồ chứa đựng lương thực và các loại đồ gia dụng Hàng năm, thường vào dịp tết Nguyên tiêu hoặc vào thời điểm khởi công công trình đầu năm, các phường mộc trong làng (mỗi phường thợ, thường gọi là “ty thợ” có khoảng 15 – 20 thợ) thường tổ chức lễ phát mộc Vào ngày lễ phát mộc, gia đình thợ cả chọn lợn tốt, mổ lấy thủ lợn cùng với mâm cỗ gồm xôi, bánh chưng, cơm tẻ, cá đồng cùng các hương vị khác làm mâm cơm tế thần Sau khi thợ cả thực hiện các nghi thức cúng tế, mâm cỗ được hạ xuống để chia lộc cho thợ chúng và thợ học việc theo thứ bậc, đồng thời dọn hết các thức ăn, đồ uống đã nấu sẵn cho tất cả các gia đình có người tham gia trong Ty thợ cùng dự tiệc Xong phần lễ, các thợ cùng con cháu tổ chức các trò chơi dân gian để vui chơi, cầu mong nghề nghiệp trong năm phát đạt
Trang 38Hiện nay, nghi lễ phát lộc vẫn còn nhưng lễ hội đã không tồn tại nữa bởi các phường nghề, ty thợ không còn tồn tại theo dạng phường hội thủ công nghiệp mà chuyển thành doanh nghiệp tư nhân hay tốp thợ riêng lẽ
1.2.4 Lễ hội cầu ngư của dân vùng biển
Vào dịp rằm tháng giêng, người dân vùng biển Lệ Thuỷ chuẩn bị một ít bánh trái, hoa quả dâng về bàn thờ làng để cúng Nhà nào có sản vật gì thì mang sản vật đó về bàn thờ chung của làng để đặt mâm cúng tế, như cách của người ta đi lễ chùa đầu năm vậy Người làng biển quan niệm rằng: Thần biển thì có một, còn người biển thì ngàn người Cư dân vùng biển Lệ Thuỷ cũng có tín ngưỡng thờ những loài cá như cá ngài, cá ông và họ xem đây chính là những vị thần linh hộ mệnh cho mình Việc cầu ngư của làng biển còn có thêm nhiều ý nghĩa khác Không chỉ cầu cho trời yên biển lặng, mùa màng may mắn
mà đây còn là dịp để cầu cho những oan hồn người đi biển không may bị sóng
to gió lớn phải bỏ mạng nơi biển khơi được an ủi phần nào Ngày nay, làng không tổ chức như vậy nữa và họ thống nhất đến rằm tháng hai âm lịch hàng năm là cúng biển cầu ngư Để chuẩn bị cho nghi lễ, nhà nào có đàn ông, con trai từ 18 tuổi trở lên được tính là “suất đinh” của làng và mỗi suất đinh như vậy vào ngày lễ ai cũng phải có mặt Ban quản lý thôn, các cụ cao niên và trai tráng trong làng tập trung cùng chung tay lo lắng lễ tế Lễ cầu ngư gồm có thủ lợn, móng giò, đuôi, một ít lòng, thịt ba chỉ luộc, bánh chưng, hoa quả, hương đèn và đặc biệt là rất nhiều giấy vàng, bạc, tiền địa phủ Cả làng cùng chung tay mổ lợn để làm vật cúng tế Sau lễ tế, những suất đinh trong làng được ngồi
để liên hoan, lấy lộc đầu năm
Tín ngưỡng tổ chức lễ tế cầu ngư của người dân vùng biển Lệ Thủy là một nét đẹp truyền thống được bảo lưu qua nhiều thế hệ Ngoài việc tế lễ trời
Trang 39đất và biển cả còn có ý nghĩa thắt chặt tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư để cùng nhau chống chọi với thiên nhiên, xây dựng cuộc sống ổn định hơn
1.2.5 Lễ hội đua thuyền
Trong số những lễ hội có mặt trên quê hương Lệ Thuỷ thì đua thuyền là
lễ hội có sức hấp dẫn nhất đối với mọi tầng lớp nhân dân từ người già đến trẻ
em, từ đàn ông đến phụ nữ Không chỉ có người dân Lệ Thủy, hàng nghìn người dân ở các nơi khác trong tỉnh như Ðồng Hới, Quảng Ninh, Quảng Trạch cũng náo nức đua nhau về Lệ Thủy để xem lễ hội đua thuyền Con
em quê hương Lệ Thủy làm ăn, công tác ở xa quê, vào dịp tổ chức lễ hội đua thuyền cũng thường tìm mọi cách để về dự lễ, bạn bè anh em có dịp gặp nhau sau một năm Vì vậy, ở Lệ Thủy có câu ca:
“Dù ai đi tây, về đông Mồng hai tháng chín cũng mong về nhà
Về nhà xem hội quê ta Dưới sông bơi trải, nhà nhà cờ bay”
Lễ hội đua thuyền sẽ được khám phá và khảo tả cụ thể hơn ở chương 2
Tiểu kết chương 1
Lệ Thuỷ là một huyện ở phía nam của tỉnh Quảng Bình, được nhân dân trong nước biết đến là một vùng trọng điểm về trồng lúa của tỉnh, một địa phương giàu truyền thống cách mạng, yêu nước, con người ở đây hiền lành, chịu thương, chịu khó và rất hiếu khách Ngày nay, hòa chung vào trào lưu đổi mới của cả nước, Lệ Thuỷ đang vươn mình trở dậy bằng tiềm năng du
lịch, dịch vụ
Lệ Thuỷ không chỉ nổi tiếng với những phong cảnh đẹp và tiềm năng
du lịch, mà Lệ Thuỷ còn nổi tiếng là vùng đất “địa linh, nhân kiệt” Nơi đây
Trang 40chính là quê hương của tiến sỹ Dương Văn An, của vị đại tướng lừng danh Võ Nguyên Giáp, và cũng chính là nơi chôn rau cắt rốn của những tấm gương học hành, đỗ đạt cao trong xã hội phong kiến
Do hoàn cảnh địa lý mà từ xưa đến nay, vùng đất Lệ Thủy luôn bị thiên tai uy hiếp Và cùng với lịch sử đấu tranh dựng nước giữ nước của dân tộc thì
Lệ Thuỷ cũng là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng vô cùng ác liệt của hai cuộc chiến tranh chống Pháp và đánh đuổi đế quốc Mỹ cứu nước Kháng chiến thắng lợi, Lệ Thuỷ có nhiều thành công trong sự nghiệp đổi mới
và xây dựng quê hương, làm cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới
Hoàn cảnh nói trên cũng đã tạo ra một nền văn hóa phong phú đa dạng,
đó là văn hóa lúa nước với làn điệu hò khoan sáu mái, lễ hội đua thuyền hấp dẫn và nhiều tác phẩm văn hóa - nghệ thuật có giá trị khác
Trên sông nước Kiến Giang, hàng năm những chiếc thuyền được đóng
để vận chuyển và những thuyền đua, trải bơi vẫn được hạ thuỷ để phục vụ đời sống dân sinh và sinh hoạt văn hoá truyền thống của một vùng quê sông nước Cùng với nhiều nét văn hoá độc đáo khác, lễ hội đua thuyền mãi mãi là niềm
tự hào, là phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân quê hương Lệ Thuỷ