Trong những năm gần đây, cùng với sự quan tâm của toàn xã hội, việc thực hiện Chương trình bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em 2001 - 2010, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Công ước
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ - THÔNG TIN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
Trang 24 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG VĂN
1.1 Tầm quan trọng và chức năng hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí
đối với trẻ em
8
1.1.1 Khái niệm “Văn hoá” và “Hoạt động văn hoá”
8 1.1.2 Khái niệm vui “Chơi”
10 1.1.3 Đặc trưng các hoạt động vui chơi
12 1.1.4 Các chức năng của hoạt động chơi
18 1.1.5 Phân loại trò chơi
28 1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam – Tư tưởng Hồ Chí Minh
về tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em 32
1.3.1 Quan điểm chung
32
1.3.2 Các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh về tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em trong
thời kỳ đổi mới
34
Trang 31.4 Nhà thiếu nhi – Môi trường thực tiễn của hoạt động văn hoá, vui
chơi giải trí giúp cho trẻ em hình thành và phát triển nhân cách 36
1.4.1 Khái niệm Nhà thiếu nhi
36 1.4.2 Nội dung và hình thức hoạt động của các Nhà thiếu nhi
37
1.4.3 Cơ cấu tổ chức của Nhà thiếu nhi
39 1.4.4 Đặc điểm hoạt động của Nhà thiếu nhi
40 1.4.5 Phương pháp hoạt động của Nhà thiếu nhi
2.1 Một số điều kiện tự nhiên – xã hội của Hà Nội ảnh hưởng tới hoạt
2.1.1 Một vài đặc điểm về địa lý tự nhiên
48 2.1.2 Một số nét về tình hình trẻ em của Thủ đô Hà Nội hiện nay
49
Trang 42.2 Thực trạng tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em ở
2.2.1 Các hoạt động văn hoá, khoa học kỹ thuật
52 2.2.2 Các hoạt động ca múa nhạc và sân khấu
57 2.2.3 Hoạt động Mỹ thuật
61 2.2.4 Hoạt động Thể dục thể thao
64 2.2.5 Hoạt động vui chơi giải trí
65
2.3 Thực trạng nguyện vọng về hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí
2.3.1 Sơ lược yêu cầu của cuộc khảo sát
68 2.3.2 Nhận thức của trẻ em về vị trí, ý nghĩa của Cung, Nhà thiếu nhi
và hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em 69
2.3.3 Nhận thức và nguyện vọng của các bậc cha mẹ
76 2.3.4 Đánh giá thực trạng hoạt động của các nhà thiếu nhi theo ý kiến
của cán bộ quản lý, giáo viên, nhà hoạt động xã hội 83
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG
VĂN HOÁ, VUI CHƠI GIẢI TRÍ HỆ THỐNG NHÀ THIẾU NHI
HÀ NỘI
88
3.1 Một số nguyên tắc xác định phương hướng đổi mới phương thức hoạt
động văn hoá, vui chơi giải trí ở các Nhà thiếu nhi Hà Nội 88
Trang 53.1.1 Hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí tại Nhà thiếu nhi phải góp
phần thực hiện mục tiêu giáo dục con người Việt Nam thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
88
3.1.2 Những giải pháp đổi mới phương thức hoạt động phải tác động
đồng bộ vào các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động văn hoá,
vui chơi giải trí
89
3.2 Đổi mới công tác quản lý, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục của
3.3 Một số phương hướng đổi mới phương thức hoạt động văn hoá,
vui chơi giải trí cho trẻ em trong các Nhà thiếu nhi ở Hà Nội 97
3.3.1 Điều chỉnh mục tiêu, nội dung chương trình, xây dựng các hoạt
động phù hợp với yêu cầu mới của xã hội 97 3.3.2 Phương hướng đổi mới chương trình, nội dung hoạt động
98 3.3.3 Mở rộng phạm vi, nâng cấp trang thiết bị nhằm đáp ứng nhu
cầu hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí của trẻ em 98 3.3.4 Giải pháp bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ nghiệp vụ và
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước luôn quan tâm chăm lo Trong những năm gần đây, cùng với sự quan tâm của toàn xã hội, việc thực hiện Chương trình bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em
2001 - 2010, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Công ước quốc tế quyền trẻ em… đã thu được những kết quả tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho đông đảo trẻ em được tham gia, trong đó, việc tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí luôn được các cấp coi trọng, bởi vì đó là yêu cầu quan trọng không thể thiếu trong việc nâng cao thể lực, trí tuệ của các em
Chúng ta có thể khẳng định trẻ em là một con người trong đời sống xã hội, đời sống bao giờ cũng diễn ra trên hai phương diện xã hội và cá nhân
Đứng trên phương diện xã hội thì xã hội bao giờ cũng phải xã hội hoá cá nhân và ngược lại, cá nhân nào cũng phải xã hội hoá cá nhân và ngược lại cá nhân cũng phải tự xã hội hoá mình cho phù hợp với xã hội Quá trình xã hội hoá
và tự xã hội hoá đó là quá trình giáo dục và tự giaó dục, đối với trẻ em thì quá trình này bắt đầu từ hoạt động giáo dục chịu sự chi phối của người lớn nhưng trong quá trình phát triển thì ngoài giáo dục nhu cầu hoạt động văn hoá vui chơi giải trí là vô cùng quan trọng đối với trẻ em chúng ta khẳng định vui chơi quan trong như nước uống, thức ăn hàng ngày và qua vui chơi trẻ em sẽ phát triển hình thành nhân cách của con người
Điều 17 Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em nước Cộng hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định “ Trẻ em có quyền vui chơi giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi”
Trang 7Nhận rõ tầm quan trọng của hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ
em ngày 24/01/2000 Thủ tướng chính phủ đã ra chỉ thị số 03/2000/CT-TTg “Về việc đẩy mạnh các hoạt động văn hoá vui chơi giải trí cho trẻ em”, đây là một
chỉ thị quan trọng để chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về chủ trương xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Nhận thức vấn đề tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải vui chơi giải trí là một trong những vấn đề hết sức quan trọng với trẻ em những chủ nhân
tương lai của đất nước chúng tôi chọn đề tài “ Tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em trong các Nhà thiếu nhi ở Thủ đô Hà Nội hiện nay”
2 MỤC ĐÍCH VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Luận văn tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản:
- Xây dựng lý thuyết cơ bản về hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em, khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động vui chơi giải trí có tầm quan trọng và là nhu cầu không thể thiếu được của trẻ em, nêu bật được vị trí , vai trò của Nhà thiếu nhi đối với việc tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em
- Nghiên cứu tình cảm, tâm lý, tư duy của trẻ em thông qua hoạt động văn hoá, vui chơi, giải trí
- Đánh giá thực trạng vấn đề tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em ở trong hệ thống Nhà thiếu nhi và nhu cầu của trẻ em Thủ đô Hà Nội giai đoạn từ năm 2000 đến nay
- Xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao, mở rộng công tác tổ chức và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em của các Nhà thiếu nhi trong giai đoạn hiện nay
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Trang 8- Tập hợp và hệ thống các lý thuyết về hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí, các vấn đề cơ bản của hoạt động Nhà thiếu nhi nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí của trẻ em
- Đánh giá thực trạng tình hình tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí của trẻ em tại các Nhà thiếu nhi
- Đưa ra được những kiến nghị, giải pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho thiếu nhi
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn giới hạn:
+ Lứa tuổi thiếu niên , nhi đồng từ 6 đến 16 tuổi
+ Không gian: Nhà thiếu nhi ở Thủ đô Hà Nội
+ Thời gian : từ năm 2000 đến nay
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp phân tích tài liệu và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan
- Khảo sát xã hội học (Định tính) phỏng vấn sâu những đối tượng liên quan
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn sẽ có những đóng góp sau:
- Khẳng định các hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí có tầm quan trọng đặc biệt đối với trẻ em đặc biệt là lứa tuổi từ 6 - 16 tuổi
Trang 9- Nêu bật được sự quan tâm của Đảng, nhà nước, các tổ chức Đoàn thể đặc biệt là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh trong việc bảo
vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em
- Đưa ra thực trạng tình hình tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em
- Xây dựng những giải pháp đẩy mạnh, nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em ở Thủ đô Hà Nội trong thời gian tới
7 BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Không kể phần mở đầu và kết luận, Luận văn được chia làm ba chương với nội dung như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận nghiên cứu hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí của trẻ em
Chương 2 Thực trạng tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi, giải trí của các Nhà thiếu nhi ở Thủ Đô Hà Nội
Chương 3 Giải pháp đổi mới phương thức tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí ở hệ thống Nhà thiếu nhi Hà Nội
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ, VUI
CHƠI GIẢI TRÍ CỦA TRẺ EM 1.1 TẦM QUAN TRỌNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ, VUI CHƠI GIẢI TRÍ ĐỐI VỚI TRẺ EM
1.1.1 Khái niệm văn hoá và hoạt động văn hoá cho trẻ em:
Định nghĩa hay khái niệm về văn hoá đến nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau, cũng chưa ai có thống kê một cách đầy đủ về các khái niệm của Văn hoá Đứng ở góc độ xã hội học, triết học, văn hoá được hiểu là khái niệm có nội
hàm rộng nhất Theo Từ điển Triết học “Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần” do loài người sáng tạo trong quá trình lịch sử của mình Văn
hoá là một hiện tượng xã hội tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đạt được trong từng giai đoạn lịch sử nhất định: tiến bộ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và lao động, học vấn, giáo dục, khoa học, văn hoá, nghệ thuật và những tổ chức thích
ứng với những cái đó Văn hoá là toàn bộ các hình thức của đời sống tinh thần của xã hội, của con người và loài người Những hình thức đó phát sinh và phát
triển trên cơ sở của phương thức sản xuất của cải vật chất, phương thức sản xuất
đã hình thành trong quá trình lịch sử Cho nên ta có thể hiểu văn hoá là trình độ phát triển mà xã hội đã đạt được về các mặt: học vấn, khoa học, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức và về các tổ chức thích ứng với những cái đó Trong những chỉ tiêu quan trọng nhất về trình độ văn hoá trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, cần phải được chú ý đó là trình độ sử dụng những cải tiến kỹ thuật và những phát hiện khoa học trong sản xuất xã hội, trình độ văn hoá và kỹ thuật của những người sản xuất ra của cải vật chất, cũng như phải chú ý đến trình độ phổ cập giáo dục, văn học và nghệ thuật trong nhân dân Theo nghĩa này văn hoá thuộc ý thức xã hội - thuộc thượng tầng kiến trúc
Khái niệm văn hoá, theo nghĩa hẹp còn là trình độ học vấn và thường
Trang 11dùng trong đời sống hàng ngày, ví dụ: trình độ văn hoá, học hết lớp mấy, cấp mấy
Trong luận này, chúng tôi sử dụng khái niệm văn hoá với ý nghĩa là các giá trị tinh thần và vật chất như khái niệm “Văn hoá “ mà nguyên Tổng giám
đốc UNESCO Federic Mayor đã từng phát biểu “ Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại, qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.”
Trong các hoạt động văn hoá dành cho trẻ em hiện nay, các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại các thiết chế văn hoá nói chung, các Nhà thiếu nhi nói riêng có sự khác nhau về mục tiêu, mục tiêu dạy học các môn học ở trường phổ thông là cung cấp những kiến thức cơ bản, phổ thông theo một mặt bằng chung, phù hợp với trình độ học sinh và đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn diện của cấp học Còn mục tiêu của cung thiếu nhi và các nhà thiếu nhi là phát triển năng khiếu, hứng thú, sự đam mê của các em trên cơ sở vận dụng những kiến thức tiếp thu ở nhà trường và trong cuộc sống Thông qua các hình thức hoạt động đa dạng, sinh động, các kiến thức trên được mở rộng, phát triển sâu hơn, đặc biệt là các kỹ năng tìm tòi, ứng dụng vào thực tế và phát triển óc sáng tạo, sự ham mê với khoa học kỹ thuật Có thể nói mục tiêu, nội dung hoạt động văn hoá ở cung, nhà thiếu nhi là một phương thức hỗ trợ, làm phong phú,
bổ sung cho chương trình dạy học chính khoá tại nhà trường phổ thông Các hình thức hoạt động văn hoá của nhà thiếu nhi, cung thiếu nhi không phải là một chương trình dạy học đại trà mà nhằm đáp ứng nhu cầu được tham gia các lĩnh vực văn hoá, vui chơi giải trí tuỳ theo sở thích và năng khiếu của mỗi em Với ý nghĩa đó khái niệm hoạt động văn hoá cho tẻ em trong luận văn này có nội hàm như sau:
Hoạt động văn hoá chotrẻ em là một quá trình tổ chức hoạt động giáo dục có mục đích, chương trình nội dung được cấu trúc theo một hệ thống logic
Trang 12chặt chẽ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp nhằm trang bị cho con người (ở đây trọng tâm là trẻ em) những giá trị tinh thần mà loài người đã sáng tạo
ra, đó là kiến thức về các lĩnh vực: khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, đạo đức, triết học, kinh tế Hoạt động văn hoá còn trang bị cho trẻ em kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất, giao tiếp ứng xử và kinh nghiệm hoạt động trên các lĩnh vực của cuộc sống của xã hội loài người
1.1.2 Khái niệm vui "chơi"
Hoạt động vui chơi là một bộ phận cấu thành trong hoạt động sống của
xã hội và con người Không có lĩnh vực hoạt động này sẽ không có con người
cá nhân, sẽ không thành xã hội người nói chung
Xưa nay chúng ta thường nói nhiều về trò chơi cho trẻ em Quả là trẻ em không thể thành người lớn nếu thiếu trò chơi Trò chơi ở đây được hiểu như là một phương tiện để trẻ em tìm hiểu, học hỏi về văn hóa tạo điều kiện cho chúng thực hiện quá trình xã hội hoá văn hoá và trở thành thành viên xã hội Thông qua trò chơi, đứa trẻ thực hiện các vai trò xã hội, nhập thân các hệ giá trị văn hoá, chiếm lĩnh các phương tiện giao tiếp và ứng xử xã hội
Trong cuộc sống của con người, vui chơi là mảng hoạt động không thể thiếu Trò chơi là sự tổng hợp những thao tác, vận động mà chính nó gây hứng thú trực tiếp cho con người Trong khi chơi, con người bước vào một tình huống giả định độc đáo bước vào một độ "lệch chuẩn" nhất định, nghĩa là người chơi vượt ra ngoài phạm vi những cơ chế, những nguyên tắc ứng xử thường ngày Quan hệ bạn chơi không trùng khít với quan hệ chức phận xã hội trong đời sống thực tế Chính sự "lệch chuẩn", sự đổi vai và bước ra ngoài chức phận xã hội này cũng là một nhu cầu, một hứng thú tinh thần không thể thiếu được của con người Trò chơi tạo cho con người điều kiện tự thể hiện mình, mở rộng các quan
hệ giao tiếp đáp ứng "nhu cầu về người khác", mang lại trạng thái cân bằng tâm sinh lý, sự phát triển hài hoà phong phú của cá nhân, kích thích tính năng động sáng tạo, hứng thú giao tiếp và hoạt động xã hội của họ
Trang 13Như vậy, chơi là phương thức thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người
Nó là một dạng hoạt động không thể thiếu trong quá trình hình thành và phát triển của con người xã hội
Ở nước ta, việc nghiên cứu hoạt động vui chơi , giải trí chưa được đầu tư nhiều Ở một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, đời sống vật chất của tuyệt đại bộ phận dân cư còn khó khăn, lại trải qua những năm tháng chiến tranh liên miên
và khốc liệt, tất nhiên, chiến đấu và sản xuất là vấn đề sống còn của dân tộc Huy động tổng lực sức người sức của vì nền độc lập dân tộc, chống lại giặc ngoại xâm và giặc đói đã là những vấn đề cơ bản, thường trực và cấp bách Do vậy hoạt động vui chơi chưa nổi lên như một vấn đề quan thiết cũng là lẽ thường tình Nhưng điều đó không có nghĩa là xã hôi và con người không cần
nó hoặc không có nó Nó vẫn tồn tại như một bộ phận trong hệ thống hữu cơ trong các hoạt động sống của mỗi con người và toàn xã hội
Bước vào thế kỷ 21, cuộc sống đã thay đổi nhiều, bát cơm manh áo không còn là nỗi ám ảnh thường trực và choán hết phần lớn quỹ thời gian của con người Công cuộc đổi mới cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đem lại một nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân được cải thiện và nâng cao, nhu cầu hoạt động tiêu dùng một cách hữu ích của con người trong xã hội hiện đại ngày càng phong phú, đa dạng Vấn đề tổ chức hoạt động vui chơi giải trí cho trẻ em ngày càng có tầm quan trọng Nó không chỉ là vấn đề của trẻ em mà còn là đòi hỏi của từng gia đình, từng cộng động và toàn
xã hội Vui chơi giải trí là phương thức hoạt động cần thiết để phòng ngừa và ngăn chặn một cách tích cực các tệ nạn xã hội Những tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, đua xe, cờ bạc không chỉ ở những nước phát triển, nơi có mức sống cao mà hoành hành khắp mọi quốc gia không phân biệt giàu nghèo là một thực
tế cho thấy vấn đề thời gian hoạt động chơi không chỉ có ý nghĩa lý luận trong khoa học giáo dục và văn hoá, mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn
Trang 14Tóm lại” Chơi” là một trong những thành tố trong hệ thống hữu cơ các hoạt động sống của con người, là hoạt động giải trí - tái sáng tạo đem lại cho con người sự sảng khoái tinh thần , bồi dưỡng những phẩm chất đức, trí, thể,
mỹ, nhằm tái tạo sức lao động với chất lượng cao hơn
1.1.3 Đặc trưng của hoạt động vui chơi:
1.1.3.1 Chơi là lĩnh vực của giao tiếp tự do
Các nhà văn hoá học thường phân chia hoạt động giao tiếp của con người thành 3 loại hình cơ bản, đó là giao tiếp truyền thống, giao tiếp chức năng và giao tiếp tự do
Giao tiếp truyền thống là giao tiếp trên cơ sở các mối quan hệ giữa người với người và hình thành lâu dài trong quá trình phát triển xã hội Đó là giao tiếp giữa ông bà, cha mẹ, anh em, con cái, cháu chắt trong quan hệ huyết thống gia đình, họ hàng Đó cũng là giao tiếp giữa những người thân trong quan hệ hàng xóm láng giềng Nơi mọi người đều quen biết nhau, vai trò cá nhân trong tiếp xúc giao lưu và và mặc nhiên quy định rõ ràng, ngôn gữ giao tiếp đã hình thành lâu dài trở thành phong tục tập quán Tất cả những điều ấy quy định và điều chỉnh quá trình trao đổi thông tin trong mọi hình thức giao tiếp
Ta hãy phân tích cụ thể hơn để khu biệt đặc trưng của các loại hình giao tiếp: Cùng một nội dung câu chuyện, nhưng khi anh em đưa ra trao đổi trong gia đình để tham khảo ý kiến bố mẹ, anh chị thì từ mục đích, cách trình bày, cách ứng xử phải khác khi anh tranh luận với cấp trên hay đồng nghiệp trong cơ quan, cũng lại rất khác khi anh tâm sự với bạn bè hay ai đó để giải toả căng thẳng vào những ngày nghỉ cuối tuần Giao tiếp truyền thống không phải là nghĩa vụ xã hội bắt buộc, không đòi hỏi những khuôn mẫu có tính pháp lý, nhưng là bổn phận xã hội, nó có những "chuẩn" nhất định được hình thành theo tập quán, trở thành truyền thống Mỗi thành viên có thể có một độ "lệch" nhất định, nhưng không phải không có giới hạn trong từng môi trường xã hội cụ thể,
Trang 15từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, từng nhóm xã hội khác nhau tuỳ thuộc vào tộc người, địa phương, giai cấp, nghề nghiệp, giới tính rõ nét trong giao tiếp truyền thống Ví dụ như người Nhật Bản khi giao tiếp họ thường cúi đầu chào nhau trong đó người trẻ tuổi hơn hoặc có vị trí xã hội hơn thường cúi đầu thấp hơn
Thứ hai là giao tiếp chức năng, là giao tiếp giữa người và người trong quan hệ công việc, trong thời gian thực hiện những chức phận xã hội Loại giao tiếp này có tính chất chuyên môn hoá, ngôn ngữ giao tiếp được hình thức hoá tuỳ thuộc vào vị thế , vai trò của các cá nhân và nhóm xã hội Đó là kiểu ngôn ngữ cho phép mọi người khác nhau, không cần thiết phải quen biết nhau, nhưng khi thực hiện cũng với những vai trò xã hội nhất định thì đều sử dụng và tuân thủ kiểu giao tiếp như vậy Chẳng hạn, đó là giao tiếp trong công việc giữa thủ trưởng và nhân viên, giữa người bán và người mua, giữa thầy giáo và học trò, giữa bác sỹ và bệnh nhân, giữa các đối tác trong làm ăn với nhau
Giao tiếp chức năng cho thấy rõ vị thế và vai trò xã hội của mỗi người Anh ta phải ứng xử theo đúng những khuôn mẫu đã được quy định có tính chất bắt buộc Trong xã hội hiện đại, những khuôn mẫu ấy được hợp thức hoá thành điều luật, thành nội quy, về nguyên tắc không cho phép được lệnh chuẩn Thông qua hành vi ứng xử trong giao tiếp chức năng, chúng ta có thể nhận ra một viên chức mẫn cán, một nhà giáo mô phạm, một người lính hay sĩ quan cảnh sát mẫu mực, nhưng không thể nhận biết được anh ta thuộc dân tộc nào, địa phương nào,
cá tính ra sao Tất cả những thông tin này không xuất hiện trong giao tiếp chức năng, nhưng lại là nội dung chính yếu trong giao tiếp tự do
Giao tiếp tự do là loại hình giao tiếp mang nhiều đường nét văn hoá cá nhân của người giao tiếp, được cảm thụ chủ quan như một giá trị tự tại, như mục đích tự nó Hoàn toàn khác với giao tiếp chức năng, những quy tắc và mục đích giao tiếp không được định trước như những khuôn mẫu, mà xuất hiện ngay trong quá trình tiếp xúc, tuỳ theo sự tiến triển của các mối quan hệ giao tiếp Giao tiếp tự do đòi hỏi tính chủ động cá nhân, tự chủ, tự giác, tự nguyện, nó cần
Trang 16thiết trong quá trình nhập thân văn hoá và phát triển các mặt tình cảm đạo đức, làm thức tỉnh những hứng thú tâm lý tình cảm sâu sắc và đồng thời giải toả xung đột, thoả mãn các nhu cầu tình cảm và nhu cầu trao đổi thông tin Nói tóm lại, giao tiếp tự do là một bộ phận quan trọng của hoạt động người nhằm đáp ứng các nhu cầu văn hoá
Để hiểu sâu hơn vấn đề, chúng ta sẽ tham khảo công trình của L Kagan
và V Buôcsuer "Nhu cầu văn hoá và hoạt động văn hoá" Khi phân tích những đặc điểm tất yếu chung của các hoạt động có quan hệ với sự thoả mãn các nhu cầu tinh thần, hai ông cho rằng cái xác định đặc điểm của nhu cầu tinh thần, và
về nhiều mặt phân biệt nó với nhu cầu vật chất, là ở chỗ, đối với nhu cầu tinh thần hợp lý, của cải không phải là mục đích tự thân, mà là phương tiện thoả mãn nhu cầu về người khác Marx và Engel cũng đã chỉ ra rằng, sự vật với sự tư cách
là tồn tại đối với con người, với tư cách là tồn tại sự vật của con người, đồng thời cũng là tồn tại thực tế của con người đối với người khác Vì vậy, chẳng hạn đối với người đọc, cuốn sách không phải là mục đích tự thân, mà là phương tiện giao tiếp với nhà văn hoá, nhà triết học, nhà bác học, là việc nhận thức được thế giới tinh thần của họ, là sự giao tiếp gián tiếp với họ Cũng có thể nói như vậy
về bức tranh, pho tượng, bài báo, bộ phim tóm lại, là về bất kỳ giá trị tinh thần nào
Vì vậy, rút cục lại, bản chất của nhu cầu tinh thần luôn luôn là nhu cầu về người khác, nhu cầu giao tiếp phổ biến của con người Xét theo bản chất của nó, một hoạt động văn hoá tương ứng không phải cái gì khác hơn là hoạt động giao tiếp, là sự trao đổi những năng lực chủ yếu giữa con người với nhau Nhờ ở hoạt động này mà cá nhân được nâng lên trình độ chung, tạo nên một trong những chức năng chủ yếu của văn hoá"
Luận điểm coi bản chất sâu xa của nhu cầu văn hoá như là nhu cầu về người khác, nhu cầu giao tiếp phổ biến, không bị hạn chế bởi thời gian và không
Trang 17gian của con người cho thấy vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng của giao tiếp
tự do trong đời sống xã hội và hoạt động văn hoá
Chơi chính là giao tiếp tự do Những gì thu hoạch được trong quá trình chơi chỉ là sự thoả mãn các nhu cầu tinh thần Tức là nhu cầu văn hoá Bước vào cuộc chơi, con người trút bỏ mọi vướng bận thường nhật, trút bỏ mọi ràng buộc chức phận xã hội, bước ra ngoài những chuẩn mực ứng xử có tính chất bắt buộc để chỉ còn lại một tư cách duy nhất, thực sự bình đẳng và tự do, tư cách bạn chơi Dù là chơi cờ hay chơi bài, chơi bóng hay chơi kéo co, chơi nhạc hay diễn kịch, mỗi thành viên tham gia đều đổi vai theo trình thức của trò chơi, đặt
ra một bên các quan hệ xã hội vốn có như thủ trưởng và nhân viên, thầy và trò,
bố và con Chính sự đổi vai này cũng là một nhu cầu tinh thần của con người giao tiếp tự do phát lộ cho con người những phương diện, những góc cạnh, những cấp độ và những mẫu vẻ khác nhau của phẩm chất cá nhân, của văn hoá
cá nhân, đáp ứng "nhu cầu người khác" một cách phong phú nhất, đồng thời cũng là phương thức tự bộc lộ, tự thể hiện mình một cách tự do, tự giác nhất
1.1.3.2 Chơi là hoạt động có mục đích tự thân
Khi nghiên cứu các hình thái hành vi của con người, các nhà tâm lý học thường đề cập đến ba hình thái cơ bản mà sự phân tách được quy định liên quan đến tâm thế của chủ thể hành vi Khái niệm tâm thế cho phép hiểu vì sao hành
vi có tính mục đích và có ý, tức là cùng một một lúc có tính đến cả chủ thể lẫn thực tại của một đối tượng nào đó, tương ứng với cái này lẫn cái kia: Khái niệm
ấy cho phép hiểu vì sao trong các lực lượng tham gia vào hành vi có tính đến một đối tượng nhất định, và trong trường hợp có đối tượng, các lực ấy thúc đẩy chúng ta hành động Trong công trình "các hình thái hành vi người" Viện sĩ Đ
N Udơnatde, cha đẻ của thuyết "tâm thế" trong tâm lý học ở Liên Xô trước đây
đã phân tích sâu sắc và phân biệt rạch ròi hành vi "lao động" và hành vi "chơi" như là hai hình thái hành vi cơ bản của con người có nguồn gốc bên ngoài và nguồn gốc bên trong
Trang 18Nếu cơ sở hành vi là tâm thế nảy sinh trên cơ sở của một nhu cầu nhất định và làm thoả mãn nhu cầu ấy, thì phải dựa vào tâm thế đó để phân biệt các hình thái hành vi của chúng ta
Khi tâm thế của hành vi, được quy định bởi đối tượng nào mà nhu cầu về
nó thúc đẩy con người hoạt động, thì hành vi nhận được xung lực tựa như từ ngoài vào (từ đối tượng) và được tâm thế từ bên ngoài quy định Hành vi ấy có thể gọi là hành vi có nguồn gốc bên ngoài Tâm thế nảy sinh trong từng trường hợp riêng lẻ do kết quả tác động của hoàn cảnh; trong trường hợp này hành vi diễn biến theo hoàn cảnh đó, và do vậy cũng có thể gọi là hành vi có nguồn gốc bên ngoài Lao động là một hình thái chủ yếu của hành vi có nguồn gốc bên ngoài
Mặt khác, tâm thế đã nảy sinh trong quá khứ, nhưng chưa được thực hiện, hay đã được ghi giữ lại, trong trường hợp này có thể gọi là hành vi có nguồn gốc bên trong Khái niệm tâm thế cũng cho ta hiểu rằng, chức năng, lực nội tại
có thể được tích cực hoá không phải chỉ dưới áp lực của nhu cầu, mà còn có thể độc lập, tự trị Trong trường hợp đó, đối tượng quy định hành động của một trong các lực lượng ấy, đối tượng ấy được đề ra cho chủ thể hay các lực của nó không phải là từ ngoài ép buộc vào, mà là nội tại, tự nó Trò chơi phải xếp vào phạm trù hành có nguồn gốc bên trong của con người Trong quá trình chơi, không phải do áp lực tức thì của một nhu cầu có nội dung vật hoá nào đó, mà do xung lực nội tại bản thân biến các lực nội tại thành hành động Trong trò chơi có thể thấy tất cả các hình thái hành vi sống của con người, dưới tất cả các biến dạng của chúng; cả tiêu dùng, cả phục vụ, cả lao động, cả việc làm Nhưng chúng được tạo ra không phải sự cần thiết đáp ứng các nhu cầu vật hoá tương ứng, mà bởi sự hiện diện thực tế của các tổ hợp các xung lực nhất định ở người tham gia trò chơi, và bởi xung lực ở xu thế chức năng của chúng Chính vì thế trò chơi có một ý nghĩa khách quan to lớn
Trang 19Chơi là một tổng hợp thao tác, vận động và chính nó được người ta thích, gây khoái thú trực tiếp chứ không phải là kết quả sau khi chơi Nói cách khác, chơi là hoạt động có mục đích tự thân, vừa là phương tiện vừa là mục đích Chơi là sự tiêu tốn nhiều mặt: tốn thời gian, tốn tiền của và tốn sức lực Nhưng nếu trong lao động sự tốn kém này là phương tiện, còn hiệu quả của nó, giá trị thu nhập sau đó mới là mục đích thì trong chơi, tất cả là một Có thể nói đến tiết kiệm thời gian, tiền của, sức lực trong lao động, nhưng hiệu quả của sự chơi thì
có khác Chơi mà nhàn nhã, nửa vời thì không là chơi Đã chơi là hết mình, hết công suất, hiệu quả của nó là sự thoả mãn tâm sinh lý, là hứng thú tinh thần, là nhu cầu văn hoá tinh thần được đáp ứng Chơi mà lấy thu hoạch sau khi chơi làm mục đích, biến nó thành phương tiện thì không còn là chơi nữa, nó là sự lao động, thậm chí là sự đầy ải Tuy nhiên hậu quả của ăn chơi là rất lớn, dù hậu quả này thường mang tính gián tiếp Đây là chỗ phân biệt, ví dụ như người công nhân, người nông dân tham gia câu lạc bộ văn nghệ quần chúng khác với tính chất lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ trên sàn diễn Đây cũng là chỗ phân biệt giữa chơi như một hoạt động văn hoá với "chơi bời" phi văn hoá, phản văn hoá, dẫn đến những hành gây mất trật tự trị an, những tệ nạn xã hội cần phên phán nghiêm khắc
1.1.4 Các chức năng của hoạt động chơi
Có thể phân tích nhiều chức năng, nhưng tựu trung hoạt động chơi thực hiện hai chức năng cơ bản, đó là giải trí và giáo dục
1.1.4.1 Chức năng giải trí
Trong chuyên khảo "Trò chơi và đời sống" nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc viết:
"Sự chơi nói chung và sự chơi bằng trò chơi là do nhu cầu gì thúc đẩy?
Ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào, con người làm việc đều cần nghỉ ngơi; nghỉ ngơi để lấy lại năng lượng đã bị tiêu hao trong lao động bằng các hoạt động ăn
Trang 20uống, ngủ, ngồi hay nằm nghỉ Nghỉ ngơi để lấy lại thăng bằng tâm hồn thì được thực hành bằng chuyển trạng thái hoạt động, từ hoạt động lao động sang hoạt động giải trí, tức là hoạt động sản xuất hoặc tiêu thụ tác phẩm văn hoá trong thì giờ rỗi, trong đó có các trò chơi Lấy lại năng lượng bị tiêu hao và thăng bằng tâm thần là thuộc phương diện sinh học của nhu cầu giải trí, một trong sáu nhu cầu xã hội căn bản"
Tuy nhiên con người không giải trí theo cách vô thường, tức người ta không giải trí bằng bất kỳ giá nào Các hoạt động rỗi chỉ có hiệu quả giải trí cho công chúng khi có một nội dung thẩm mỹ nhất định Nội dung thẩm mỹ càng sâu sắc thì cường độ giải trí càng lớn lao Thực tế cho thấy một vở kịch, một bài hát hay, một bức tranh đẹp, càng đem lại cho người thưởng thức niềm sảng khoái lớn hơn Và do đó sự giải trí càng đầy đủ, mỹ mãn Ngược lại, sự hời hợt, nông cạn của hoạt động rỗi làm người ta mệt mỏi thêm Sự trường tồn bất chấp thời gian của những tác phẩm văn hoá có nội dung thẩm mỹ cao, sự chết nhanh chóng của các tác phẩm văn hoá tầm thường nói nên điều ấy một cách không bàn cãi Nhưng dường như khó khăn là ở chỗ xác định tính sâu sắc của một hoạt động giải trí
Sự thật là, mọi hình thái giải trí, mọi trò chơi vốn xuất phát từ đời sống thực tế; đến lượt nó đều chuyên chở vào đời sống xã hội những giá trị luận lý, chính trị, và thẩm mỹ của một xã hội theo một phương thức đặc thù là phương thức thẩm mỹ (tức là theo cách gây khoái cảm) Các giá trị ấy không phải cái gì khác là những nhận thức về hiện thực mà một xã hội hoạch đắc theo cách thường xuyên liên tục trong tiến trình lịch sử của nó Có thể gọi là tái nhận thức môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và chính bản thân con người Các trò chơi là một thành phần trong tổng thể văn hoá mà mỗi cộng đồng người đã sáng tạo và tích luỹ trong quá trình lịch sử Nội dung của trò chơi càng giúp công chúng tiếp nhận được bản chất của các hiện tự nhiên, xã hội sâu sắc bao nhiêu, thì càng hấp dẫn người chơi bấy nhiêu, bởi như vậy nó giúp người ta nâng cao
Trang 21năng lực tái tổ chức đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân cũng như của cộng động
Mục đích của chơi hiển nhiên trước hết là để giải trí Nhưng cơ chế giải trí ấy như thế nào? Có thể phân tích trên ba bình diện; đổi phương thức hoạt động, đổi vai trò, ướm thử và thể hiện những năng lực cá nhân
Đổi phương thức hoạt động là một cách giải trí phổ biến Trong công việc hàng ngày mỗi người phải huy động chủ yếu một phương diện sức lực nhất định, tạo ra sự mệt mỏi cả thể chất và tinh thần Khi bước vào trò chơi, họ thường chọn những trò chơi phát huy những năng lực chưa được bộc lộ Có thể nhận xét rằng hoạt động thể thao và hoạt động nghệ thuật là hai lĩnh vực thích hợp với nhiều đối tượng Tuy nhiên, giới nghệ sĩ hẳn sẽ chọn thể thao, giới vận động viên hẳn sẽ chọn nghệ thuật làm phương thức hoạt động giải trí
Đổi vai trò cũng là một phương thức hoạt động gây hưng phấn cho con người Bước vào trò chơi, con người bước vào một tình huống giả nghị độc đáo, cho phép con người vượt ra ngoài phạm những nguyên tắc, những khuân mẫu ứng xử thường ngày Quan hệ ở đây hoàn toàn không trùng khít với quan hệ trong đời sống thực tế
Trong trò chơi, thủ trưởng có thể là lính hầu, nhân viên có thể làm quan, hai người bạn có thể là vợ chồng Cơ sở của mọi trò chơi đều là tái dựng thông quá trí tưởng tượng sáng tạo một cảnh huống vốn đã từng có thật trong cuộc sống Tuy nhiên phải có biến đổi, phải nâng cao, cách điệu khác cái thường ngày và đặt con người vào những tình huống độc đái, hấp dẫn hơn Chính sự đổi vai trò, ướm thử những vài trò khác, trút bỏ vai trò thường nhật tạo cho con người giải toả bức xúc, tìm nguồn hứng khởi trong các quan hệ tự nguyện, tự do vốn không phải nhất thành bất biến
1.1.4.2 Chức năng giáo dục
Trang 22Chơi là lĩnh vực hoạt động giúp cho con người nhập thân văn hoá toàn diện nhất Hoàn toàn có lý khi các nhà tâm lý học xem "chơi là hình thái hành vi khái quát nhất Trong ấy không những các tổ hợp đã được tổ chức thành một hình thái hành vi nào đó, mà cả các tổ hợp liên chức năng tương ứng với tất cả các hình thái hành vi còn lại đều hoạt động"
Phân tích cả trên phương diện tâm lý học và phương tiện văn hoá học đều làm sáng tỏ công chức "chơi mà học, học mà chơi", vai trò giáo dục to lớn và hiệu quả của hoạt động chơi
Thông qua trò chơi, con người có thể được bồi dưỡng về nhiều mặt, cả Đức, Trí, Thể, Mỹ
Một nội dung quan trọng trong bản chất xã hội của sự chơi là bồi dưỡng văn hoá đạo đức, hình thành ý thức, hành vi quan hệ đạo đức mới
Chơi cũng giúp chúng ta học được nhiều thứ mà các kênh hoạt động khác không có, giúp ta rèn luyện hoặc phát triển trí lực Có những trò chơi cho ta mở mang hiểu biết, nắm được những công thức, những nguyên tắc, trình tự thao tác
để vượt qua trở ngại dành chiến thắng sau khi chơi cũng là bài học kinh nghiệm
có thể vận dụng trong đời thường Có trò chơi giúp chúng ra rèn luyện óc thông minh sáng tạo, tính linh hoạt, sự khéo léo tài tình, hay, sự suy đoán mưu lược Thậm chí có không ít trò chơi cung cấp cho ta nhiều kiến thức cần thiết, rất hữu ích cho trong cuộc sống hàng ngày, mà nếu học hành bài bản thì khó thuộc, nhưng học mà chơi, chơi mà học lại rất dễ nhớ, dễ làm
Chơi để rèn luyện thể lực đã trở thành nhu cầu xã hội Ngay trong xã hội nông nghiệp cổ truyền đã có rất nhiều loại trò chơi đáp ứng nhu cầu này Có những trò chơi rèn luyện sức bền cơ thể, khả năng chịu đựng dẻo dai, có trò chơi rèn luyện nhanh tay, nhanh mắt, có trò chơi rèn luyện sức khoẻ cơ bắp, phát huy sức mạnh tổng lực Vấn đề là ở chỗ tổ chức và quản lý như thế nào để
Trang 23phát huy đầy đủ chức năng giáo dục tích cực của chúng, hạn chế những mặt tiêu cực không thể tránh trong trò chơi
Một phương diện đặc biệt quan trọng của hoạt động chơi là phát triển năng lực thẩm mỹ, bồi dưỡng văn hoá thẩm mỹ, điều chỉnh và hình thành thị hiếu nghệ thuật lành mạnh, tiến bộ
Có những trò chơi là điều kiện để ta tiếp xúc với nghệ thuật, học được những gì ta muốn học, hoặc điều kiện để ta thể hiện và phát huy những khả năng nghệ thuật tiềm ẩn của mình Thông qua những trò chơi này chính ta trưởng thành lên rất nhiều, cả ý thức, tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ Tuy nhiên, vấn đề giáo dục thẩm mỹ ở đây không chỉ nói đến các trò chơi nghệ thuật, mà nói chung về hoạt động chơi Trò chơi nào cũng yêu cầu chơi đẹp Cái đẹp là tiêu chuẩn rốt ráo của trò chơi Như trên kia đã nói tới, “Đẹp” ở đây là đẹp của hành vi ứng xử, của văn hoá cá nhân và văn hoá cộng đồng, của nhân cách và lối sống Giáo dục thẩm mỹ chính là giáo dục cái đẹp trong quan hệ giữa người với người trong trò chơi, và từ trò chơi đến cuộc sống thường ngày, trong lao động, học tập và mọi môi trường khác
Biết chơi, xét về mặt giáo dục văn hoá, là biết sử dụng thời gian chơi hiệu quả nhất cho việc bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn, đạo đức cao thượng là lối sống đẹp của con người, mỗi thành viên và cả cộng đồng
1.1.5 Phân loại trò chơi
Đây là vấn đề rất phức tạp mà trong giới hạn yêu cầu cảu luận văn này chúng tôi không đi sâu Giống như nhiều hiện tượng văn hoá khác, sự phân loại trò chơi gặp nhiều khó khăn vì tính đan xen phức tạp của chúng Vả chăng, sự phân loại tuỳ thuộc vào hướng tiếp cận của người nghiên cứu, và đối với ngành văn hoá học của nước ta, đây cĩng là vấn đề chưa được nhiều người lưu tâm
Tâm lý học đã đề xuất những cách phân loại gắn liền với lứa tuổi người chơi, do vậy, những phân loại ấy thiên về phân loại các giai đoạn phát triển tâm
Trang 24lý người hơn là phân loại trò chơi Roger Cailois, nhà văn hiện đại Pháp (1913)
là người quan tâm nhiều đến các trò chơi đã phân tách bốn loại trò chơi tùy theo chỗ trong trò chơi, yếu tố nào trong bốn yếu tố say đây chiếm ưu thế:
- Sự ganh đua (Agôn, tiếng Latinh), thí dụ các trò chơi võ thuật như: đấu kiếm, đấu vật
- Sự may rủi (Alea) thí dụ các trò chơi bài lá, chơi cờ đặt người chơi vào những cơ hội như nhau khi bắt đầu cuộc chơi
- Sự giả đò (Mimicry) như những trò chơi đóng vai của người lớn, trò làm
mẹ, làm chị của trẻ em, làm chú công an, hay là ca sỹ
- Sự say sưa ngây ngất (Ilinx) như trò chơi phi ngựa vòng, hay đu bay Trong sách phân loại nêu trên, có thể chia thành loại không quy tắc (Giả
đò, say sưa ngây ngất) và loại quy tắc (Ganh đua, may rủi), tác giả chú ý đến đặc điểm hình thái, mà không chú ý đến hiệu quả, tức là nhưnbx tương quan văn hoá của trò chơi
Tác giả Đoàn Văn Chúc trong công trình "văn hoá học" phân trò chơi thành ba loại tổng quát:
- Trò chơi thể lực
+ Sức khoẻ là chính
+ Khéo léo là chính + Vừa sức khoẻ vừa khéo léo
- Trò chơi trí tuệ
+ Sáng kiến là chính + Kiến thức là chính
+ Tính toán là chính
- Trò chơi tính cách
Trang 25ưu thế cần khai thác như đơn giản, không tốn kém nhiều về phương tiện chơi,
nó mang tính cộng đồng, tính tập thể cao, chơi luôn luôn gắn với hội, dễ trở thành ngày hội quần chúng
Trò chơi hiện đại: lại có những ưu thế khác Nó phát huy năng lực, tài trí
cá nhân, nó đòi hỏi người chơ tiếp cận với những thành tựu của nền văn minh hiện đại Phát triển trò chơi hiện đại cũng có nghĩa là phát triển cả một ngành công nghiệp sản xuất đồ chơi, phát triển những ngành dịch vụ có vai trì quan trọng trong nền kinh tế quốc dân hiện nay
Phân loại và phân tích trò chơi phải chú ý đến ba thành tố chính yếu của
nó là: người trực tiếp chơi (vận động viên), quần chúng than gia (cổ động viên),
và đồ chơi (cơ sở vật chất, trang thiết bị)
1.2 VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ, VUI CHƠI GIẢI TRÍ ĐỐI VỚI TRẺ EM
1.2.1 Lợi ích của hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí đối với trẻ em
Về lợi ích của hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí đối với trẻ em, chúng tôi xin trích dẫn một câu nói quen thuộc sau: "Vui chơi giải trí đối với trẻ em là
sự lớn lên, là sự vươn tới cuộc sống Còn đối với người lớn, đó là sáng tạo, là sự đổi mới muộc sống" Như vậy, giải trí không đơn thuần chỉ là giải toả căng
Trang 26thẳng trí não và thể chất, lấy lại sự cân bằng cho cơ thể, như đã phân tích ở trên Giải trí thực sự đổi mới cuộc sống nhàm chán thường nhật
Hoạt động vui chơi giải trí không chỉ giúp con người thư giãn, hưng phấn, mà còn xây dựng nên cho họ một thế giới mới Khi giải trí, luật lệ của các trò chơi tạo điều kiện cho mọi người tham gia đều được hưởng sự bình đẳng như nhau, không ai được phép có đặc quyền đặc lợi hơn người khác Xét về khía cạnh công bằng xã hội, thế giới của các trò chơi là một thế giới thực sự bình đẳng và trật tự Trong cái thế giới bình đẳng và trật tự đó, vị thế xã hội cao được dựa theo chuẩn mực khách quan và công bằng: khả năng thực sự của người tham gia Ở đây không có bè cánh, luồn lách, hay bất cứ tiêu cực nào khác của thế giới quyền lực mà chúng ta đang sống
Hoạt động vui chơi giải trí cũng là cơ hội hợp lý nhất để con người thể hiện mình ở khía cạnh khác, thay đổi vai trò xã hội cố hữu của mình, trở thành con người khác: Trong thể thao, một người kém năng lực công tác có thể là đội trưởng, điều hành cả một tập thể với một vị thế và uy tín cao, mà trong công việc anh ta không bao giờ đạt được điều đó Trong các trò chơi khác, một nhân viên lại có thể là người chỉ dẫn cho "sếp" của mình, mà trong giờ làm việc thì vai trò của họ là ngược lại Những điều đó tạo cho con người khả năng thể hiện mình ở các chiều cạnh khác nhau, một cách đa dạng và toàn diện Những gì không thể đạt được trong cuộc sống thực thì người ta có thể đạt được trong cuộc sống của thế giới trò chơi: ra quyết định xử lý tình huống, thậm chí điều hành một tập thể Điều đó giúp họ cân bằng tư tưởng, tạo sự tự tin, rèn luyện bản lĩnh, và giúp họ hứng thú hơn với cuộc sống thực của mình
Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học thế giới chỉ cho thấy: Ngoài gia đình và nhà trường, hoạt động vui chơi là sự quan tâm lớn nhất của phần lớn trẻ
em vị thành niên và được coi như một trong những hoạt động hứng thú nhất trong cuộc sống của họ Thực ra, điều này không chỉ đúng với trẻ em vị thành
Trang 27niên, mà với mọi người Có điều, người trưởng thành ít có điều kiện vui chơi hơn trẻ em mà thôi
Hoạt động vui chơi giúp trẻ em hình thành và hoàn thiện nhân cách thông qua việc rèn luyện nhữg đức tính tốt đẹp: Nhiều trò chơi như bóng bàn, cầu lông, đòi hỏi người chơi phải khéo léo, nhanh nhẹn, phản xạ tốt Nhiều trò khác như cờ tường, cờ vua, lại cần tới khả năng phân tích, phán đoán, suy luận Có những trò như chơi bài, chơi cờ lại yêu cầu một trí nhớ anh minh, rành rẽ Trong khi đó, những hoạt động thể thao tập thể như bóng đá, cướp cờ, kéo co, rèn cho người chơi cách phối hợp hoạt động trong một tập thể, sự đoàn kết hỗ trợ và boả
vệ lẫn nhau để dành chiến thắng Với những trò chơi này, mọi sự "chơi trội", cá nhân chủ nghĩa, ỷ lại, đều không thể tìm được chỗ đứng Trò chơi luôn rèn cho con người những đức tính quý Một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng hoạt động vui chơi là nội dung cơ bản của sự khám phá về cái Tôi, là thành tố trung tâm trong
sự phát triển của cái Tôi Hoạt động vui chơi giải trí có thể giúp người ta tự nhận diện mình một cách đúng đắn thông qua những hoạt động đòi hỏi sự nỗ lực, niềm say mê , những thứ được coi là có liên quan tới sự thành công trong công việc sau này Đối với lứa tuổi đang hình thành nhân cách như thiếu niên, hoạt động vui chơi giải trí là điều kiện để họ rèn luyện sự tự tin, học cách hoạt động tập thể, xử lý các tình huống và ra quyết định Nó chính là môi trường để học xã hội hoá bản thân, thể nghiệm quá trình lớn lên và trưởng thành, là nơi họ học cách tự điều khiển thế giới riêng của mình chứ không đơn thuần chỉ để lấp đầy thời gian rỗi
Vui chơi giải trí làm tăng hứng thú làm việc và hiệu quả của công việc: Một số công trình nghiên cứu của các nhà xã hội học Mỹ đã chứng minh tác động tích cực của giải trí đối với sự hài lòng về công việc Công việc thường ngày đều đều nhàm chán, dễ gây ức chế, khiến con người mệt mỏi, chán chường Mối quan hệ công việc thường khô cứng và buồn tẻ, ít để lại ấn tượng
và khó tạo sự gắn bó giữa các đồng nghiệp Ngược lại, hoạt động vui chơi giải
Trang 28trí là điều kiện để những con người khô khan và đứng mức đó giao tiếp, phát hiện ra nhau ở những khía cạnh khác Đây đồng thời là nơi thuận tiện để những quan hệ tình cảm nảy sinh, tự sự gắn bó giữa các cá nhân và toàn tập thể
Hoạt động vui chơi giải trí tăng chất lượng cuộc sống tinh thần và sự hài lòng đối với cuộc sống: các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người sẽ thấy hài lòng hơn, yêu đời, cảm nhận về cuộc sống thú vị hơn khi được tham gia các hoạt động giải trí theo ý thích Một số thuyết như Thuyết Hoạt động (Activity theory) của Havighurst, Neugarten và Bengtson, Thuyết Tiếp diễn (Continuity theory) của Atchley đều giải thích mối quan hệ chặt chẽ giữa giải trí với chất lượng cuộc sống tâm lý của chủ thể Các thuyết này đều đưa ra minh chứng khẳng định mối quan hệ giữa những thay đổi trong việc tham gia các hoạt động chơi với chất lượng cuộc sống tâm lý của con người Nó chỉ rõ: Những người có tham gia các hoạt động giải trí sẽ thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn so với những người không tham gia Thậm chí những người chỉ vừa mới tham gia những hoạt động giải trí đó cũng thấy tác dụng tích cực, trong khi những người đã từng tham gia nhưng nay không tham gia nữa thì sự hài lòng cũng giảm thiểu Kết luận này luôn đúng trong các trường hợp nghiên cứu
Tham gia thường xuyên các dạng hoạt động giải trí không chỉ là sự đảm bảo tốt nhất cho sức khỏe mà còn làm con người ta thêm yêu đời, ít bị tổn thương, giảm bệnh tật Theo các chuyên gia công nghiệp Mỹ và Canada thì các chương trình rèn luyện sức khỏe giúp tăng năng suất lao động, giảm thời gian nghỉ, giảm chi phí y tế và sự chăm sóc của bác sĩ Chính giải trí là một trong những nhân tố giữ ổn định, thậm chí nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của con người
Hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí có đóng góp đáng kể làm nên chất lượng cuộc sống của con người, là một thành tố không thể thiếu của cộng đồng Thậm chí, chơi còn là một quyền không thể tách rời của con người và là ấn tượng có giá trị nhất về sự tự do Ngay cả những người khuyết tật nếu tham gia
Trang 29hoạt động giải trí cũng thấy yêu đời hơn những người không tham gia Họ dễ quên mặc cảm và hòa đồng hơn với mọi người, thậm chí quên rằng mình là người khuyết tật khi chơi
1.2.2 Lợi ích của hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí đối với xã hội
Hoạt động vui chơi giải trí có vai trò quan trọng không chỉ đối với bản thân trẻ em mà còn mang lại lợi ích to lớn cho xã hội trên nhiều phương diện khác nhau, như kinh tế, y tế, an sinh - xã hội
Trang 301.2.2.1 Lợi ích kinh tế
Ở phương Tây, công nghệ giải trí, công nghệ chơi không chỉ là một ngành lớn, mà chơi là một trong những ngành kinh tế lớn nhất xét về lượng tiền mặt lưu thông, lợi nhuận và khả năng tạo việc làm Lữ hành và du lịch hiện nay đang là ngành công nghiệp lớn nhất về lượng tiền mặt lưu thông giữa các nước, lớn hơn cả tổng sản lượng nông nghiệp hay sản lượng công nghiệp chế tạo ôtô vốn là những người khổng lồ trên thị trường thế giới (Riêng ở Mỹ, công nghiệp giải trí gấp khoảng từ 5 tới 20 lần ngành công nghiệp ôtô) Ngoài ra, cũng tại
Mỹ, du lịch và lữ hành tạo việc làm cho hơn mười triệu người Có khoảng 1/4 triệu việc làm ở các Công ty quốc gia, nhà nước, trung ương và địa phương Nhưng không ai có thể phân loại chính xác những nghề liên quan tới giải trí và quy đổi chúng về những công việc chính thực được Đơn giản nhất là lấy số lượng chi phí cho giải trí rồi quy đổi thành số lượng việc làm Nếu như khoảng 40.000USD chi phí cho giải trí tương đương một chỗ làm đầy đủ (full time) thì
10 tỷ USD chi phí cho giải trí được quy đổi thành 25.000 chỗ làm, chiếm khoảng 1/4 tổng số việc làm năm ở Mỹ Chưa hết, mỗi việc làm phục vụ giải trí lại liên quan tới những việc làm hỗ trợ, nghĩa là khoảng nửa tổng số công việc tham gia vào các mắt xích phục vụ giải trí
Ở 1/5 trong số các bang của Mỹ, du lịch được xếp trong 3 ngành đứng đầu về thu nhập và (hoặc) số lao động: Du lịch với 521 tỷ USD tiêu dùng, y tế với 6604 tỷ USD và giáo dục với 331 tỷ USD
Chưa có những số liệu này đối với Việt Nam, nhưng chắc chắn rằng, theo quy luật phát triển khách quan, Việt Nam cũng không thể nằm ngoài guồng máy kinh tế toàn cầu Chúng tôi đã khảo sát một số diểm vui chơi giải trí tại Hà Nội cho thấy ví dụ như Cung thiếu nhi Hà Nội ngoài các hoạt động thường xuyên của chức năng đơn vị phục vụ thiếu nhi chúng ta thấy các khoản thu thường xuyên của Cung đặc biệt là trong dịp hè dù với mức đóng góp chưa cao cũng đạt
Trang 31khoảng 4 tỷ đồng/ Năm (Nguồn báo cáo kết quả hoạt động Cung thiếu nhi Hà Nôi)
Hoạt động vui chơi giải trí là nguồn động lực phát triển kinh tế Nhờ những hoạt động giải trí ngày càng đa dạng và phong phú mà kinh tế có nguồn động lực phát triển Chính giải trí tạo nên "Cầu" cho kinh tế vuơn lên cố gắng đáp ứng: Dụng cụ và quần áo thể thao, nhà nghỉ, khách sạn, các phương tiện và dịch vụ du lịch Các nhà nghiên cứu Mỹ cho biết 1/3 thời gian của chúng ta được dành cho giải trí; Người Mỹ chi tiêu khoảng 1/3 thu nhập của mình cho mục đích giải trí Đối với nước Mỹ, khi nhìn lại thế kỷ 20, có thể nói thành quả lớn nhất của công nghiệp Mỹ không phải là xe hơi hay máy bay, mà là công nghiệp giải trí Nó tạo ra những thế giới giải trí kỳ diệu như Disneyland và trò chơi điện tử Công nghiệp giải trí đã đem lại cho ngân sách quốc gia nh đã đem lại cho ngân sách quốc gia những khoản tiền khổng lồ, đẩy mạnh nền kinh tế địa phương, đưa những nhà kinh doanh trong lĩnh vực này lên hàng tỉ phú Trong đợt giao lưu giữa thanh niên Việt Nam tại Nhật Bản trong khoảng 1 tháng tại đất nước Nhật tôi đã có dịp tham quan nghiên cưú các mô hình vui chơi giải trí tại Nhật bản và thấy rằng nguồn thu kinh tế là vô vùng to lớn Với giá vé trung bình là khoảng 50USD cho một người vào tham quan, vui chơi tại công viên Dineyland ToKyo thu hút trung bình khoảng 50.000 người đến vui chơi giải trí vậy nhân lên con số này có lẽ khá hấp dẫn cho các nhà làm kinh doanh Ở Việt Nam, điều này chưa được thống kê, nhưng một điều không thể không nhận thấy
là nhu cầu giải trí của người Việt cũng có xu hướng được nâng cao và đa dạng hóa Nó cũng bắt đầu được xã hội lưu tâm đáp ứng với tư cách một nhu cầu khách quan Các công viên Đầm Sen, Suối Tiên, Công viên nước Hồ Tây, các điểm trẻ em đến sinh hoạt như các Nhà thiếu nhi cấp Quận của TP Hồ Chí Minh cũng có những nguồn thu đóng góp khá đáng kể cho ngân sách nhà nước
1.2.2.2 Lợi ích xã hội
Trang 32Hoạt động vui chơi giải trí làm tăng tính tự hào về cộng đồng và sự thỏa mãn tính cộng đồng của trẻ em (Ví dụ: Cộng đồng tự hào về đội bóng/ đội văn nghệ của mình ) Chúng ta có thể thấy biểu hiện của lòng tự hào dân tộc được thể hiện rõ ràng và đáng xúc động, trong Giải bóng đá mà có đội tuyển Việt Nam tham gia và được tổ chức tại Việt Nam cho thấy cả sân vận động cùng hát Quốc ca với đội bóng của mình Có lẽ đó là một trong những lúc người ta cảm nhận rõ nhất sự liên kết với những người xung quanh và tự hào rằng: Chúng ta
là người Việt Nam Chính những hoạt động giải trí như bóng đá có khả năng đáng ngạc nhiên trong tạo dựng sự liên kết giữa cá thành viên xã hội Nó có thể xóa nhòa mọi khác biệt về lứa tuổi, nghề nghiệp, quan điểm sống, định hướng giá trị, thậm chí cả mâu thuẫn trước đó của các cá nhân, cuốn hút họ vào một đam mê chung (thưởng thức bóng đá), với mục đích chung (cổ vũ cho đội bóng yêu thích) Chính niềm say mê đó tạo nên sự đồng cảm, tăng mối liên hệ, tương tác giữa các cá nhân, xây dựng nên những quan hệ xã hội mới chắc chắn tốt và đẹp hơn
Những hình thức vui chơi giải trí còn góp phần củng cố cơ cấu gia đình, làm xuất hiện nhiều dạng thức quan hệ nội bộ, tăng ý nghĩa cuộc sống chung Không chỉ các hình thức giải trí tại gia, mà rất nhiều hoạt động giải trí công cộng ngày nay cũng cho phép cả gia đình cùng tham gia bở họ hiểu rất nhiều người coi giải trí cùng gia đình là hình thức giải trí tốt nhất Điều này đã được khẳng định bằng cuộc khảo sát của Kimberly J Shinew và Laura Valerius thuộc ĐHTH Hlinois của Urbana - Champaign năm 1996 Kết quả khảo sát cho thấy: nhìn chung, hầu hết những người được hỏi đều cho biết phần lớn các hoạt động vui chơi giải trí của họ được thực hiện cùng các thành viên của gia đình Ưitt and Goodale (1981) cũng khẳng định tầm quan trọng và giải trí gia đình như là phương tiện giao tiếp và thư giãn, và là nhân tố thúc đẩy sự trưởng thành của các thành viên cũng như sự bền vững của gia đình Kraus (1984) thậm chí còn
đi xa hơn khi tuyên bố nguyên nhân quan trọng của tội phạm vị thành niên
Trang 33chính là sự thiếu vắng lực gắn kết và mong muốn giải trí cùng nhau giữa cha mẹ
và con cái Cơ sở của tuyên bố đó là kết quả cuộc nghiên cứu về mối quan hệ giữa giải trí và tình trạng sử dụng ma túy, mà theo đó, những thanh niên tham gia tích cực các hoạt động giải trí cùng gia đình thường không sử dụng (hoặc sử dụng rất ít) và mối quan hệ này là tỷ lệ nghịch
Hoạt động vui chơi giải trí nằm ở mục đích sự phát triển xã hội: Xã hội phát triển là xã hội giải phóng con người khỏi những cực nhọc của lao động, biến lao động thành quá trình sáng tạo, kéo dài thời gian rỗi cho con người để đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của họ, trong đó giải trí là nhu cầu không thể thiếu,
để đảm bảo sự phát triển toàn diện
1.2.2.3 Lợi ích y tế
Vui chơi giải trí là một trong những phương pháp tốt nhất làm giảm thiểu chi phí y tế đang ngày càng tăng Đó chính là sự đầu tư tốt nhất cho sức khỏe và cuộc sống Theo Viện nghiên cứu sức khỏe Walnut Creek - California - thì chi phí dự tính cho việc chăm sức khỏe ở Mỹ có thể giảm nhờ đầu tư cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và cuộc sống lành mạnh nhiều hơn cho chữa bệnh Theo các nhà nghiên cứu Australia và Canada, vui chơi giải trí có thể giảm chi phí bảo hiểm sức khỏe quốc gia Điều này càng đúng với Việt Nam, nơi mà chi phí
y tế bình quân đầu người chỉ có 4USD/người/năm Sức khỏe của con người cần nhờ cậy vào tập luyện thể dục thể thao và giải trí thường xuyên
Hoạt động vui chơi giúp con người hình thành và hoàn thiện nhân cách
Sự hình thành và phát triển nhân cách được diễn ra thông qua ba dạng hoạt động chính của con người là lao động, giao tiếp và tự ý thức Trong ba dạng hoạt động này, giao tiếp (bao gồm cả giao tiếp giải trí) tạo cho cá nhân có dịp tiếp xúc với các cá nhân khác, có cơ hội để quan sát hoạt động của họ, lĩnh hội những chuẩn mực và giải trí xã hội được thể hiện trong các lĩnh vực đời sống Đây đồng thời cũng chính là lĩnh vực để cá nhân tự khẳng định mình, thể hiện cái tôi của mình với những người xung quanh
Trang 34Hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí là một trong những tiêu chí của cuộc sống hạnh phúc và phát triển toàn diện của con người
1.3 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ, VUI CHƠI GIẢI TRÍ CHO TRẺ EM
1.3.1 Quan điểm chung
Chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ là truyền thống của dân tộc Việt Nam Ngay
từ khi mới ra đời, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến công tác thiếu niên nhi đồng Trong quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng đã đưa lực lượng thiếu nhi tham gia vào bồi dưỡng thiếu nhi trở thành đội ngũ kế cận Năm 1925 Bác Hồ đã chọn tám thiếu niên đưa sang Quảng Châu đào tạo trở thành hạt nhân của Đoàn Thanh niên sau này
Tháng 5/1941, hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng đã chủ trương lập Hội Nhi đồng cứu quốc - tiền thân của Hội thiếu niên tiền phong ngày nay, với mục đích tổ chức các em tham gia đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập cho nước nhà bằng những hoạt động như: làm giao thông liên lạc, đưa đón, bảo vệ cán bộ, canh gác các cuộc họp của Đảng
Trong công tác giáo dục thiếu niên nhi đồng, Bác Hồ luôn nhắc nhở:
"Tuổi nhỏ làm việc nhỏ Tùy theo sức của mình Đề tham gia kháng chiến Để gìn giữ Hoà Bình" Ngoài việc học tập, Bác Hồ còn khuyên nhủ "Ngoài giờ học
ở trường các cháu nên tham gia vào Hội Nhi đồng Cứu quốc để tập luyện cho quen với đời sống chiến sỹ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc giữ gìn đất nước"
Từ sau Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người" Đảng và Bác Hồ đã dành những tình cảm lớm lao và sự
Trang 35ân cần, dạy bảo lớp thiếu niên nhi đồng từng bước trưởng thành, có những cống hiến xứng đáng cho sự nghiệp cách mạng
Trong Chỉ thị số 197/CT/TW, ngày 19/3/1960 Ban Bí Thư Trung Ương Đảng (khoá III) nêu rõ: "Các em thiếu niên nhi đồng ngày nay sẽ là lớp người xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Quan tâm đến thiếu niên nhi đồng là quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới, không những phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay mà còn chính là cho
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản sau này Mục đích của chúng ta là đào tạo các em thiếu nhi thành những người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có sức khoẻ, có văn hoá, hết lòng phục vụ sự nghiệp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động "
Chỉ thị của Ban Bí thư Trung Ương Đảng là văn kiện rất có ý nghĩa đối với công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng, mang đến một nhận thức mới, những việc làm và hành động cụ thể
Trên cơ sở của chỉ thị mà nhiều địa phương đã hình thành Câu lạc bộ thiếu nhi và sau đó là các Nhà thiếu nhi, các Cung thiếu nhi tạo điều kiện cho các em có nơi vui chơi, sinh hoạt, tham gia các hoạt động tập thể, ca, múa, nhạc kịch, học đàn, học vẽ
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Đảng và nhà nước luôn quán triệt sâu sắc quan điểm chăm sóc, bảo vệ và giáo dục thiếu niên nhi đồng nên đã có nhiều chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật về trẻ em
Việc Liên hiệp quốc lấy năm 1979 làm năm quốc tế thiếu nhi, đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện công tác chăm sóc, bảo vệ thiếu nhi
ở nước ta Các cơ quan tuyên truyền, xuất bản ở Trung ương và địa phương đã tích cực chăm lo cho trẻ em Hầu hết các thành phố, thị xã đều mở các lớp năng khiếu về vẽ, nhạc, ca hát, thể dục thể thao thu hút nhiều em tham gia
Trang 36Ở Thủ đô Hà Nội, Thành ủy, Uỷ ban nhân dân có chủ trương thành lập các sân chơi cho thiếu nhi tại Nhà thiếu nhi và các điểm vui chơi tại các trung tâm văn hoá Quận, Huyện, chọn những ngôi nhà đẹp, có sân rộng để thiếu nhi đến hoạt động
1.3.2 Các Nghị Quyết, chính sách của Đảng, nhà nước và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh về tổ chức hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí cho trẻ em trong thời kỳ đổi mới
Chuẩn bị bước vào tương lai, cùng với đường lối phát triển kinh tế, Đảng
ta luôn xác định: "Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Mọi hoạt động văn hoá phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội"
Tháng 8/1991 Quốc hội khoá VII họp kỳ thứ 9 đã xem xét và thông qua Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Nhà nước cũng đã ký và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em Việt Nam là nước Châu Á đầu tiên và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em (1990) Các nội dung cơ bản của công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em đã được chính phủ đưa vào chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội của nước ta Các quyền trẻ em, được ghi nhận trong Hiến pháp (1992), trong luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (1991), luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991), luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân
Năm 2000, Bộ Chính Trị ra chỉ thị số 55/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng ở cơ sở với công tác Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 23/2001/QĐ-TTg về Chương trình Hành động Vì Trẻ em giai đoạn 2001 - 2010
Trang 37Năm 1998, Ban Bí thư Trung ương Đoàn khẳng định: "Việc xây dựng và phát triển Cung, Nhà thiếu nhi và các điểm vui chơi trẻ em là nhiệm vụ quan trọng của Đoàn Thanh niên nhằm ngày càng góp phần có hiệu quả việc chăm sóc, giáo dục thiếu nhi Nhà thiếu nhi và các điểm vui chơi là phương tiện quan trọng đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động của Đoàn với công tác thiếu niên nhi đồng "
Trong tình hình mới, Đoàn Thanh niên đã nhận thức cần phải đổi mới nội dung, phương thức hoạt động Đội Nghị quyết số 10 của Ban Chấp Hành Trung
Ương Đoàn đã nhấn mạnh: "Hệ thống hoá và hoàn thiện các loại hình giáo dục thiếu nhi, trên cơ sở đó xây dựng nội dung giáo dục phù hợp với lứa tuổi, đối tượng, vùng, miền, gắn với những chủ đề cụ thể, đồng thời tăng cường đổi mới các phương thức hoạt động thiếu nhi, góp phần tạo ra môi trường xã hội lành mạnh cho các em rèn luyện và phát triển toàn diện Cải tiến và đa dạng hoá các hoạt động Nhà thiếu nhi các cấp Chú trọng tổ chức tốt hình thức sinh hoạt Câu lạc bộ theo sở thích ở địa bàn dân cư "
1.4 NHÀ THIẾU NHI - MÔI TRƯỜNG THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ, VUI CHƠI GIẢI TRÍ GIÚP CHO TRẺ EM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
1.4.1 Khái niệm Nhà thiếu Nhi
Nhà thiếu nhi là cơ sở giáo dục của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và là trung tâm hoạt động của Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ở ngoài nhà trường, nhằm giúp cho thiếu nhi mở rộng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, bồi dưỡng tình cảm tập thể, để cùng với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà thiếu nhi nằm trong hệ thống giáo dục của nhà nước, do nhà nước thành lập và giao cho Đoàn Thanh niên quản lý, Nhà Thiếu Nhi có chức năng, nhiệm vụ sau:
a Chức năng:
Trang 38- Là Trung tâm giáo dục ngoài nhà trường cho trẻ em, tập hợp đông đảo thiếu nhi hoạt động văn hoá, vui chơi giải trí thông qua đó giáo dục lòng yêu nước, yêu xã hội chủ nghĩa cho các em, thông qua các hình thức tổ chức hoạt động và hoạt động chuyên môn, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho các em
- Nghiên cứu, tổng kết, bồi dưỡng và hướng dẫn phương pháp hoạt động Đội Thiếu niên ngoài giờ lên lớp và ngoài nhà trường
- Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, phát huy tính sáng tạo của thiếu nhi
b Nhiệm vụ:
- Thường xuyên tổ chức các hoạt động giáo dục, văn hoá, khoa học kỹ
thuật, thể dục thể thao, vui chơi bổ ích để thu hút và đáp ứng nhu cầu, sở thích của đông đảo thiếu nhi
- Tổ chức thực hiện và thể nghiệm các hoạt động trọng tâm theo chương trình của Đội TNTP để giáo dục các em tham gia trong Nhà thiếu nhi và tạo ra kinh nghiệm hướng dẫn phong trào
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu truyền thống cách mạng, các cuộc thi năng khiếu như văn nghệ, thể thao, khéo tay kỹ thuật, sáng taoh kỹ thuật
- Tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống thông qua các hình thức như nói chuyện, kể chuyện, sinh hoạt chính trị - xã hội, tiếp xúc với anh hùng, chiên sỹ, các nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ, các nhà khoa học
- Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng và phát hiện năng khiếu thiếu nhi thông qua việc mở các lớp ngắn hạn, dài hạn theo sở thích Hình thành các Câu lạc bộ, đội nhóm năng khiếu chuyên môn ở các lĩnh vực văn học, nghệ thuật,
âm nhạc, hội hoạ, TDTT, khoa học kỹ thuật
Trang 391.4.2 Nội dung - Hình thức hoạt động của các Nhà thiếu nhi
1.4.2.1 Nội dung hoạt động
- Tổ chức hoạt động tuyên truyền truyền thống dân tộc, lý tưởng cộng sản, giáo dục đạo đức cách mạng , hình thành trong các em những tư tưởng, tình cảm của con người mới xã hội chủ nghĩa theo 5 điều Bác Hồ dạy
- Hướng dẫn các em làm quen với nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau, nhằm củng cố và phát triển những kiến thức đã học trong trường phổ thông, rèn luyện kỹ năng lao động và thực hiện khoa học, nghiên cứu khoa học Xây dựng cho các em lòng yêu khoa học, tính say mê nghiên cứu, phát triển trí thông minh sáng tạo, tính tích cực chủ động
- Huớng trẻ em tìm hiểu cái Đẹp và yêu cái Đẹp chân chính trong lao động, trong tâm hồn, trong cuộc sống Biết kế thừa, giữ gìn và phát triển một cách sáng tạo nền văn hoá nghệ thuật dân tộc, biết tiếp thu một cách chọn lọc nền văn hoá hiện đại của thế giới Phát hiện và bồi dưỡng những em có năng khếu nghệ thuật, tạo điều kiện cho tài năng các em phát triển đúng hướng, bồi dưỡng các em trở thành những hạt nhân của phong trào văn nghệ thiếu nhi
- Tổ chức cho các em tham gia rèn luyện thể lực chung, qua đó phág hiện các em có năng khiếu vào tập luyện các bộ môn thể dục thể thao
- Tổ chức các hoạt động vui chơi cho các em, Nhà thiếu nhi là nơi điểm vui chơi lành mạnh, bổ ích, hấp dẫn trẻ em
1.4.2.2 Hình thức hoạt động chủ yếu của Nhà thiếu nhi
- Các lớp chuyên môn theo sở thích ngắn hạn, phổ cập, đáp ứng yêu cầu
sở thích cho đông đảo thiếu nhi trong khu vực
- Các lớp dài hạn, nâng cao, nhằm phát triển năng khiếu chuyên môn cho các em
- Các đội chuyên dành cho các em có năng khiếu
Trang 40- Các lớp bồi dưỡng cán bộ Đội, cán bộ phụ trách, các hội thảo, chuyên
đề bồi dưỡng cán bộ
- Xây dựng những đội mẫu, những mô hình mẫu giúp cho cơ sở và phong trào Đội như Đội nghi thức, đội tuyên truyền măng non, xây dựng góc, phòng truyền thống ở cơ sở
- Tổ chức các Câu Lạc Bộ thi đua tìm hiểu truyền thống cách mạng, các cuộc thi văn nghệ, thể thao, khéo tay hay làm, sáng tạo kỹ thuật cho tất cả thiếu thi trong khu vực
- Tổ chức nói chuyện, kể chuyện, sinh hoạt truyền thống, chính trị, xã hội Tiếp xúc với các anh hùng, chiến sỹ, các nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ, các nhà khoa học
1.4.3 Cơ cấu tổ chức của Nhà thiếu nhi
Cơ cấu tổ chức của Nhà thiếu nhi gồm:
* Bộ máy tự quản của thiếu nhi: Trong Nhà thiếu nhi thành lập một liên đội Thiếu Niên Tiền Phong tạm thời Mỗi lớp, đội chuyên môn thành lập một chi đội tạm thời
Ban chỉ huy các đội viên và liên đội do các em bầu ra, có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Đội ở Nhà thiếu nhi và kết hợp với các cơ sở Đội chính thức của đội viên để giáo dục đội viên
* Bộ máy quản lý gồm:
- Ban Giám đốc
- Các phòng quản trị, hành chính, tài chánh
- Các phòng chuyên môn, gồm:
+ Phương pháp công tác Đội
+ Phòng Bồi dưỡng phát hiện năng khiếu