1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

144 58 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 520,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Đại hội IX và Đại hội X của Đảng cũng đã chỉ rõ: “nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình lối sống văn hóa, làm cho gia đình

Trang 1

Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o Bé v¨n ho¸, thÓ thao vμ du lÞch

Tr−êng §¹i häc V¨n ho¸ Hμ Néi

Trang 2

Mục lục

1 Văn hóa và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội 5

1.2 Vai trò của văn hoá đối với phát triển 8

2.2 Gia đình ở Việt Nam - một thể chế xã hội, 12 một dạng cộng đồng đặc biệt

3 Văn hóa gia đình, giá trị cấu trúc và giá trị chức năng của gia đình 15

3.2 Giá trị cấu trúc của văn hóa gia đình 16 3.3 Giá trị chức năng của văn hóa gia đình 21

4 Khái niệm nhân cách và sự hình thành nhân cách 24

Trang 3

4.3 Những yếu tố hình thành nhân cách 30

4.4 Một số quy luật cơ bản của sự phát triển nhân cách 32

5 Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước 33

về gia đình và trẻ em

Chương II: Văn hoá gia đình đối với việc 36

hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

qua khảo sát tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

1 Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước tiến hành 36

công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1 Sự chuyển tiếp từ văn hóa gia đình truyền thống 37

đến văn hoá gia đình hiện đại ở Việt Nam

1.2 Chức năng của gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa 40

1.3 Những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam 43

trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2 Thực trạng những ảnh hưởng của văn hóa gia đình tới 45

sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

(qua khảo sát tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội)

2.1 Một vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội 45

của quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

đối với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

3 Sự lệch chuẩn văn hoá gia đình và suy thoái nhân cách của trẻ em 96

3.1 Trẻ em làm trái pháp luật - một trong những 96

biểu hiện rõ nét nhất của sự suy thoái nhân cách trẻ em

3.2 Lệch chuẩn văn hoá gia đình - nguyên nhân 99

của sự suy thoái nhân cách trẻ em

Trang 4

Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm phát huy 109 vai trò của gia đình đối với việc

hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

1.1 Cần xây dựng và hoàn thiện các chính sách và văn bản pháp luật 109

về gia đình, xây dựng các chương trình và kế hoạch

hoạt động cụ thể để triển khai việc thực hiện chiến lược gia đình

1.2 Xây dựng một cơ chế thống nhất nhằm phát huy được sức mạnh 109 của toàn xã hội cho công tác xây dựng và phát triển gia đình

1.3 Đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền, vận động về 110 gia đình, nâng cao vị thế, vai trò của gia đình trong đời sống xã hội

1.4 Đẩy mạnh những nghiên cứu về gia đình, tổng kết thực tiễn các 110 mô hình gia đình Việt Nam hiện đại, trên cơ sở đó, so sánh với

những nhu cầu thực tiễn trong quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa

để xác định những luận cứ khoa học cho việc xây dựng

các kế hoạch phát triển gia đình

1.5 Tiếp tục thực hiện sâu rộng phong trào xây dựng gia đình 110 văn hóa, toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

1.6 Tiếp tục tuyên truyền, thực hiện sâu rộng trong các tầng lớp 113 nhân dân công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em

2.1 Củng cố và nâng cao hệ giá trị gia đình 116

vật chất và tinh thần cơ bản cho gia đình

2.3 Phát huy các giá trị truyền thống để nâng cao 119

vị trí và vai trò của gia đình trong xã hội hiện đại

2.4 Củng cố và xây dựng các chuẩn mực mới 125

về văn hóa gia đình Việt Nam

Trang 5

2.5 Tăng cường truyền thông về trách nhiệm và nghĩa vụ 125 của các bậc cha mẹ đối với việc chăm sóc, giáo dục trẻ em

Trang 6

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Gia đình là một vấn đề lớn của đời sống xã hội, cho nên đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong nước và thế giới

Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, và sự tác

động của xu thế toàn cầu hóa trong những thập kỉ gần đây, vấn đề gia đình nổi lên như một mối quan tâm đặc biệt của nhiều người, nhiều quốc gia

Từ văn hóa gia đình truyền thống đến văn hóa gia đình hiện đại đã có sự biến đổi lớn, đặc biệt là đối với nước ta đang trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường, bên cạnh các yếu tố tích cực, cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực do những mặt trái của nó đã ảnh hưởng trực tiếp và có nguy cơ làm băng hoại các giá trị văn hóa gia đình truyền thống Việt Nam

Từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc xây dựng gia

đình Gần đây, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương

Đảng (khóa VIII) đã nhấn mạnh đến trách nhiệm của gia đình:“giữ gìn và phát huy những đạo lí tốt đẹp của gia đình Việt Nam, nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ, coi trọng xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng mối quan

hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội” Nghị quyết Đại hội IX và

Đại hội X của Đảng cũng đã chỉ rõ: “nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”; "tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và đạo đức"

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, mở cửa và hội nhập với khu vực và quốc tế, gia đình Việt Nam cũng nảy sinh những vấn đề phức tạp và bức xúc như tệ nạn xã hội, tình trạng ly hôn, trẻ em hư, trẻ em bỏ học, tranh chấp tài sản, làm ăn bất chính Những biểu hiện về

Trang 7

sự sa sút đạo đức, lỏng lẻo của trật tự và kỉ cương gia đình cần được quan tâm,

đánh giá một cách nghiêm túc

Cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta đã tiến hành được trong suốt một thời gian dài Bên cạnh những mặt đã đạt được, cũng rất cần

được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để có những định hướng kịp thời góp phần

tổ chức, triển khai cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn cả nước thực sự có hiệu quả hơn trong thời gian tới

Với những lí do và ý nghĩa như trên, việc nghiên cứu “văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em” là quan trọng và cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề gia đình đã được nhiều công trình nghiên cứu ở cả trong và

ngoài nước đề cập đến Tác phẩm nổi tiếng của ăngghen “Nguồn gốc của gia

đình, của chế độ tư hữu và nhà nước” là tác phẩm đầu tiên đặt nền móng cho

việc nghiên cứu về gia đình và văn hóa gia đình

ở Việt Nam, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia đã có nhiều nghiên cứu về đề tài gia đình Năm 1990, Trung tâm đã xuất bản công

trình “Một vài nét nghiên cứu về gia đình Việt Nam”, đề cập tới một số vấn đề

lí luận về vị trí, vai trò của gia đình trong xã hội Năm 1991, công trình

“Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam” của tập thể tác giả Viện

Xã hội học đã tiến hành khảo sát thực tiễn ở nhiều tỉnh thành trong cả nước về

đặc điểm gia đình Việt Nam trước những năm 1990 Năm 1992, trong công

trình nghiên cứu của mình “Xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta hiện nay”,

Viện sĩ Nguyễn Duy Quí và Giáo sư Đỗ Huy cũng đã đề cập tới một số vấn đề

về văn hóa gia đình ở nước ta

Ngoài ra, có thể kể đến đề tài cấp nhà nước KX 06/11 do nhà nghiên

cứu Lê Minh làm chủ nhiệm; cuốn Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội

hóa (1998); cuốn Văn hóa gia đình của Lê Trọng Khánh và Bùi Đình Châu

Trang 8

(2002) và “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của Giáo sư

Lê Thi Trong các công trình này, các tác giả đã đề cập tới những vấn đề lí luận và thực tiễn về văn hóa gia đình, những vấn đề của gia đình Việt Nam

hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ hơn những vấn đề lí luận và thực tiễn về văn hóa gia

đình, vai trò của gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, luận văn đi sâu khảo sát, đánh giá thực trạng gia đình và trẻ em tại quận Cầu Giấy (thành phố Hà Nội) hiện nay, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm

đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa ở Hà Nội trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

4 Nội dung nghiên cứu

- Làm sáng tỏ những vấn đề lí luận cơ bản về gia đình, văn hóa gia đình

và gia đình văn hóa, vai trò của gia đình và văn hóa gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em;

- Phân tích thực trạng của gia đình trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện

đại hóa đất nước, để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của gia đình trong việc giáo dục hình thành nhân cách trẻ em

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1.Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề của văn hóa gia đình trong việc hình thành nhân cách trẻ

em

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận, khảo sát một số gia đình tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và từ thực tiễn xây dựng gia đình văn hóa của Hà Nội trong khoảng 10 năm trở lại đây

Trang 9

Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia

đình đối với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 10

Chương I

Những vấn đề lí luận về văn hóa, gia đình,

văn hóa gia đình vμ nhân cách trẻ em

1 Văn hoá và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển xã hội

1.1 Khái niệm văn hóa

Thuật ngữ văn hóa xuất hiện trong ngôn ngữ nhân loại từ rất sớm Ngay

từ thời La Mã cổ đại, trong tiếng Latinh, đã xuất hiện từ “văn hóa” (cultus)

Từ “văn hóa” lúc đầu có nghĩa là cày xới đất hoang, vun trồng cây cối, dần chuyển sang nghĩa vun trồng trí tuệ, vun trồng tinh thần, giáo dục con người Theo nghĩa Hán-Việt, văn là vẻ đẹp, hóa là làm cho đẹp hơn Và như vậy, theo quan niệm của cả người phương Đông và người phương Tây, văn hóa đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn; bản chất của văn hóa là sự sáng tạo hướng tới những giá trị nhân văn

Từ trước đến nay có nhiều cách hiểu xuất phát từ các góc độ tiếp cận khác nhau trong việc xác định khái niệm văn hóa, như:

Hướng tiếp cận xã hội học: “văn hóa là cách ứng xử mà các thành viên, xã hội đã học được” (F Merrile) Theo hướng này, văn hóa được hiểu là toàn

bộ những cách thức, khuôn mẫu ứng xử, thể chế xã hội, giá trị tinh thần biểu thị những phẩm chất xã hội trong con người và diện mạo, tính chất của một xã hội nhất định

Hướng tiếp cận tâm lí học cho rằng, văn hóa gắn với đời sống tinh thần của con người, được tạo thành từ những hoạt động sáng tạo của con người do

sự thúc đẩy của những nhu cầu tâm lí nảy sinh từ mối quan hệ của con người với thiên nhiên và với xã hội Ví dụ, ở phương Tây, nhu cầu về sự ấm áp do thời tiết lạnh đã thúc đẩy hoạt động của con người sáng tạo ra những công

Trang 11

trình kiến trúc nhà cửa kiểu khép kín, thông khí, điều hòa nhiệt độ ; ở Việt Nam, điều kiện tự nhiên và đặc điểm xã hội đã hình thành tâm lí về sự cố kết cộng đồng, ý thức về độc lập dân tộc và quốc gia có chủ quyền

Theo hướng tiếp cận mĩ học và nghệ thuật học, văn hóa được hiểu đồng nhất với thế giới các biểu tượng Ví dụ, hệ thống kí hiệu ngôn ngữ, những hình

ảnh biểu trưng như quốc kì, quốc huy, cánh chim, vòng nguyệt quế

Hướng tiếp cận sử học cho rằng: văn hóa là tất cả những gì con người

đã đạt được, sáng tạo ra trong suốt chiều dài lịch sử; văn hóa là sự tái hiện tất cả những diễn biến của lịch sử, là những điểm mốc đánh dấu từng giai đoạn trong tiến trình lịch sử đã đi qua

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, có định nghĩa về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hoá” [25, tr.431] Nhà nghiên cứu Abraham Molès (người Pháp) cho rằng: “Văn hoá đó là chiều cạnh trí tuệ của môi trường nhân tạo, do con người xây dựng nên trong tiến trình đời sống xã hội văn minh”[41, tr.83]

Theo Tổng thư ký Tổ chức Giáo dục-Văn hóa-Khoa học của Liên hợp quốc-UNESCO, Federico Mayor, thì: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt

động trong quá khứ và trong hiện tại Qua nhiều thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy

đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [30, tr.23]

Còn có thể dẫn ra rất nhiều định nghĩa văn hoá khác nữa của các nhà văn hoá học Dựa theo cách phân nhóm định nghĩa của nhà xã hội học Sta-e-rơ-man, giáo sư Hoàng Vinh trong công trình “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta” đã tóm lược và giới thiệu các nhóm định nghĩa

Trang 12

văn hoá Đó là các định nghĩa mang tính chất miêu tả, tính chất lịch sử, nhấn mạnh vào nếp sống xã hội, vào sự thích ứng của con người với môi trường tự nhiên, vào tính chất di truyền xã hội tức khả năng học tập của con người, vào phương thức ứng xử, vào khía cạnh tư tưởng của văn hoá, vào phương diện giá trị của văn hoá, vào hoạt động sáng tạo trong lịch sử, vào mô hình các thể chế xã hội, vào ý nghĩa biểu trưng của văn hoá và cuối cùng là định nghĩa mang tính chất điều khiển học [35, tr.33]

Các nhóm định nghĩa văn hoá khác nhau trên đây được đặt ra trên cơ sở phương pháp tiếp cận, xuất phát từ mục tiêu và lợi ích nghiên cứu của các nhà xã hội học

Trong chương trình chọn cách tiếp cận khái niệm văn hoá, Jean Ladrière cho rằng, văn hoá là một tổng thể gồm bốn bộ phận hợp thành:

- Các hệ thống ý kiến, gồm tập hợp khái niệm và biểu tượng dựa vào đó các nhóm khác nhau tìm cách tự lý giải mình và giải thích thế giới thông qua triết học, khoa học, tôn giáo, tín ngưỡng

- Các hệ thống, chuẩn mực liên quan đến các giá trị cho phép đánh giá, phân biệt đúng sai trong đó các tình huống, hành động cụ thể Các hệ thống

đó còn bao gồm các quy tắc giúp tổ chức các hệ thống hành động

- Các hệ thống biểu hiện bao gồm các thể thức và hình thức qua đó các ý niệm, chuẩn mực được biểu hiện cụ thể ở mức cảm nhận Hệ thống biểu hiện quan trọng nhất là hệ thống các nghệ thuật

- Các hệ thống hành động bao gồm các trung gian kỹ thuật cho phép làm chủ ở mức độ nào đó môi trường tự nhiên và các trung gian xã hội dựa vào đó cộng đồng tự tổ chức và quản lý số phận của mình

Trong mô hình cấu trúc trên, khoa học có thể coi là một hệ thống riêng của các ý niệm, các biểu tượng và công nghệ như là một hệ thống riêng của hành động Như vậy, khoa học là một thành phần hữu cơ của văn hoá Khoa học và công nghệ không phải chỉ là một lực lượng sản xuất trực tiếp có tác

Trang 13

dụng to lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn là một hệ thống giá trị văn hoá đặc sắc Nghệ thuật là một hệ thống biểu hiện gây khoái cảm, mỹ cảm nhưng nội dung biểu hiện của nghệ thuật là các ý niệm, các biểu tượng, các chuẩn mực đạo đức và lối sống, các hành động của con người Nghệ thuật là

mỹ, nhưng cũng là thiện và chân Cũng như vậy, khoa học khám phá các quy luật của tự nhiên và xã hội, đó là chân, nhưng khoa học cũng như các năng lực của con người cải tạo thế giới nhằm thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội, đồng thời tự cải tạo bản thân mình Như vậy, khoa học không chỉ là chân mà còn là thiện và mỹ

Vậy, văn hoá mang tính tổng thể, nó là con người, là nhân hoá, là sáng tạo; hoạt động văn hoá là hoạt động sáng tạo của con người” [28, tr.3]

1.2 Vai trò của văn hoá đối với phát triển

Chưa bao giờ vai trò của văn hoá được đề cập đến nhiều như ngày nay Trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, ngay cả quân sự, nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế trong và ngoài hệ thống Liên hiệp quốc đều đã đề cập

đến nhân tố văn hoá, thừa nhận văn hoá vừa là động lực vừa là mục tiêu của phát triển, đó là một hiện tượng mà trước đây rất ít thấy Ngày nay, trong các chương trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc cũng như toàn thế giới, người ta không chỉ chú trọng đến chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn quan tâm thích đáng đến tầm quan trọng của nhân tố văn hoá và nhân tố con người trong chiến lược phát triển Tuyên bố chung của Hội nghị toàn cầu về chính sách văn hoá tại Mê-hi-cô năm 1982 đã nêu rõ: “Chỉ có thể bảo đảm một sự phát triển cân đối trên cơ sở liên kết và đưa các nhân tố văn hoá vào các chiến lược phát triển quốc gia, hay nói một cách rõ hơn, những kế hoạch và chiến lược phát triển phải được xây dựng căn cứ vào bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hoá của từng nước”

Trong thời đại phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và tiến bộ xã hội ngày nay, việc nhận thức về nội hàm khái niệm văn hoá cần được vận

Trang 14

dụng vào cuộc sống thực tế, do đó, các thành viên của Uỷ ban quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá đã nhất trí với ý kiến cho rằng cần tiếp cận khái niệm văn hoá từ hệ thống các yếu tố cấu thành của nó, xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

Theo cách tiếp cận ấy, “Yếu tố hàng đầu của văn hoá là sự hiểu biết, bao gồm cả tri thức khoa học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan tích luỹ được trong quá trình học tập, lao động sản xuất và đấu tranh để duy trì và phát triển cuộc sống của các cộng đồng người Nhưng chỉ riêng sự hiểu biết không thôi chưa làm nên văn hoá Sự hiểu biết chỉ trở thành văn hoá khi nó làm nền và

định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở trình độ dân trí, tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu, thẩm mỹ, hành vi ) của mỗi cộng đồng dân tộc và các thành viên của nó hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với tự nhiên và với chỉnh bản thân

Là tổng hoà các yếu tố cấu thành kể trên, văn hoá không đứng ngoài phát triển Nó nằm bên trong, là nhân tố nội sinh, vừa là mục tiêu, vừa là động lực

và hệ điều tiết của phát triển” [27, tr.5]

Khác với tăng trưởng chỉ đề cập đến trong lĩnh vực kinh tế, phát triển đề cập tới cả kinh tế-xã hội, văn hoá, về mọi hoạt động của xã hội và về chất lượng cuộc sống Khái niệm phát triển theo đúng nghĩa của nó đã hàm chứa sự tiến bộ xã hội Trước đây, khi đánh giá trình độ phát triển một quốc gia, người

ta thường căn cứ vào chỉ tiêu kinh tế GDP và/hoặc GNP tính trên đầu người hàng năm của quốc gia đó Gần đây, Liên hiệp quốc đã đề ra chỉ tiêu đánh giá

có tính chất tổng hợp, gọi là chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index), trong đó, kết hợp thu nhập quốc dân tính theo sức mua thực tế, tuổi thọ và trình độ giáo dục

Tăng trưởng kinh tế luôn luôn là mục tiêu chiến lược của mọi quốc gia, nhưng chủ thể kinh tế lại là con người, mà thước đo trình độ con người lại là văn hoá Vì vậy, phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá Nếu phát

Trang 15

triển kinh tế mà không chú ý tới phát triển văn hoá thì dễ dẫn đến tình trạng

đánh mất bản sắc văn hoá của dân tộc mình Ngay cả một số học giả tiến bộ phương Tây cũng nhận thấy những tiến bộ về kinh tế làm tăng mức sống nhưng đôi khi lại làm rối loạn cuộc sống con người và môi trường Không phải

cứ của cải tăng lên là cuộc sống gia đình, hôn nhân, lối sống, lao động sẽ chỉ

có tốt đẹp hơn lên Tiến bộ kỹ thuật làm cho cuộc sống dễ dàng, có khi lại là nguyên nhân của nhiều rối loạn xã hội nghiêm trọng

Ngày nay, không ít nhà khoa học có đầu óc khách quan, thực tiễn trên thế giới đã cho rằng, nhân loại đã và đang phải đối mặt với những mô hình phát triển xấu:

- Tăng trưởng kinh tế nhưng việc làm ngày càng giảm đi Một tỷ lệ đáng

kể lao động xã hội, mà phần lớn trong số đó là thế hệ trẻ, bị rơi vào cảnh thất nghiệp, buộc phải sống qua ngày trong tình trạng mòn mỏi về vật chất và tha hoá về tinh thần

- Tăng trưởng kinh tế nhưng đa số dân chúng không có quyền làm chủ, vì

bị đè nén dưới chế độ độc tài quân phiệt, hoặc về hình thức có được hưởng một số quyền dân chủ, nhưng thực tế vẫn không thoát khỏi sự chuyên chế của các thế lực đồng tiền

- Tăng trưởng kinh tế nhưng suy thoái về văn hoá, đạo đức

- Tăng trưởng kinh tế nhưng môi trường ô nhiễm, làm cạn kiệt tài nguyên, dẫn đến nguy cơ của “một sự tàn sát toàn cầu” (Edgar Morin)

Văn hoá và phát triển gắn bó với nhau một cách hữu cơ, mọi sự phát triển của xã hội đều có cội nguồn từ văn hoá, trong văn hoá và văn hoá trở thành mục tiêu, động lực và hệ điều tiết của phát triển Chẳng phải ngẫu nhiên

mà UNESCO đã đưa ra luận điểm: “Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế và văn hoá, và tiềm năng

Trang 16

sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều Vì vậy, xét đến cùng, các trọng tâm, các động cơ và các mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hoá”

2 Khái niệm gia đình

2.1 Khái niệm gia đình

Ngày nay, gia đình là một vấn đề không những được quan tâm ở nước ta

mà còn ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, nhận thức về khái niệm gia đình trong nhiều trường hợp lại có sự khác nhau

Từ thực tiễn xã hội phương Tây, nơi mà gia đình đã giải phóng cá nhân khỏi sự kiểm soát chặt chẽ của cộng đồng, một số nhà xã hội học quan niệm gia đình là một nhóm người E.W.Burgess và H.J.Locke coi “gia đình là một nhóm người được thống nhất với nhau bởi những mối liên hệ hôn nhân, huyết thống, hoặc nhận con nuôi; tạo thành một hộ duy nhất, tác động qua lại và giao tiếp với nhau theo vai trò xã hội của riêng từng người trong số họ: là chồng và vợ, là mẹ và cha, anh trai và em gái; tạo thành một nền văn hoá chung”

Kingley Davis định nghĩa gia đình “là một nhóm người mà quan hệ của

họ với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi, và do đó, họ là họ hàng thân thích của nhau”

George Peter Murdock lại coi “gia đình là một nhóm xã hội có đặc

điểm là cư trú chung, hợp tác và tái sản xuất về kinh tế Nó bao gồm người lớn thuộc cả hai giới, ít nhất hai người trong số đó có quan hệ tình dục đã được tán thành về mặt xã hội, và một hoặc nhiều con, là con đẻ hoặc con nuôi, của những người lớn chung sống về mặt giới tính đó” [3, tr.14]

Dẫu cho các nhận thức và lí giải chung về khái niệm gia đình có khác nhau thì theo cách chung nhất, phần lớn mọi người vẫn có thể hiểu một cách

thông thường rằng: Gia đình là một thiết chế xã hội liên kết con người lại với

nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái Đó là những

Trang 17

sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân

và việc nhận con nuôi

2.2 Gia đình ở Việt Nam - một thể chế x∙ hội, một dạng cộng đồng đặc biệt

Khác hẳn với gia đình ở phương Tây, gia đình Việt Nam mang đậm tính chất cộng đồng, một dạng cộng đồng đặc biệt được hình thành và phát triển trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Tính chất cộng đồng thể hiện ở sự phụ thuộc của mỗi thành viên vào gia đình, mỗi cá nhân không còn tồn tại như một thực thể độc lập mà chịu sự thống trị, chi phối của gia đình, chi phối trong mối quan hệ có tính tôn ti trên dưới cha - con, anh - em, gắn bó trong mối quan hệ với họ, với làng, không có quyền tự

do cá nhân, mỗi cá nhân gắn bó và phụ thuộc vào gia đình; mọi ước vọng mong muốn riêng tư của mỗi cá nhân không thể không thoát khỏi mong muốn

và lợi ích của gia đình Tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá phẩm chất, hành vi của mỗi thành viên là có tuân theo nền nếp gia phong của gia đình hay không

và có được mọi người trong gia đình đồng tình ủng hộ hay không Sự khác biệt giữa gia đình Việt Nam và á Đông nói chung với gia đình phương Tây là ở chỗ: gia đình Việt Nam là nơi các thành viên gắn bó với cuộc sống cộng đồng

đặc biệt, tiếp nối nhau duy trì dòng giống, cùng chung lo xây dựng tổ ấm gia

đình; còn gia đình phương Tây thì sự ràng buộc lỏng lẻo, nặng về chăm sóc cá nhân trong một thời gian nhất định, tạo môi trường thích hợp nuôi dạy cá nhân, cho đến khi cá nhân đến tuổi trưởng thành, gia nhập đời sống xã hội thì gia đình coi như đã đạt được mục đích, đã làm tròn nghĩa vụ Chúng ta không lấy làm lạ khi ở các nước Âu, Mỹ diễn ra tình trạng người già cô đơn, bơ vơ không nơi nương tựa, bị con cháu ruồng bỏ; trẻ em thiếu cuộc sống gia đình

đầm ấm, sống lang thang, bất hạnh và cảnh thanh niên kết hôn và ly hôn một cách bừa bãi ở các nước Âu, Mỹ phát triển, kinh tế ngày càng tăng trưởng,

đời sống vật chất được nâng cao, con người có điều kiện tham gia vào nhiều thiết chế xã hội, tự do cá nhân được đề cao, nhưng lại thiếu đời sống tình cảm

Trang 18

phong phú, cảm thấy lạc lõng, cô đơn, nhiều lúc không cảm nhận được hạnh phúc gia đình

Tính cộng đồng của cơ cấu gia đình Việt Nam đã tạo nên nét đặc thù trong một chức năng hết sức quan trọng, chức năng xã hội hoá trẻ em, tức biến trẻ sơ sinh từng bước trở thành một con người thực thụ có thể tham gia vào mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội ở Việt Nam, sự ra đời của con cái chủ yếu nhằm đảm bảo sự tiếp nối gia đình, dòng dõi, đồng thời, còn bảo đảm bảo

vệ sự sống còn của những thành viên người lớn và người già trong gia đình

Tính cộng đồng của gia đình Việt Nam tạo nên nét đặc thù trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, do đó, chức năng xã hội hoá trẻ em có vai trò quan trọng Nếu như gia đình ở Mỹ “lấy con làm trung tâm” (child centred family), coi trọng việc bảo vệ con cái thì ở nước ta, đứa trẻ ra đời trong gia

đình có cơ cấu mở rộng hoặc mang hình thái gia đình gốc, là thuộc về cả gia

đình đông người, tiếp thu sự xã hội hoá của nhiều người, của một cộng đồng

đặc biệt Cộng đồng gia đình Việt Nam được tổ chức rất chặt chẽ, trong đó các thành viên đều được giáo dục phải đặt lợi ích gia đình lên địa vị tối cao, không

được vì lợi ích riêng tư mà tổn hại đến lợi ích gia đình Do đó, trong khi thực hiện chức năng xã hội hoá trẻ em, người ta không dạy trẻ em những gì cần thiết cho việc hình thành, phát triển nhân cách độc lập, tự chủ mà dạy những gì phù hợp với gia phong, chuẩn mực của cộng đồng

Tính cộng đồng của gia đình Việt Nam là sản phẩm của quá trình lịch

sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc và có quan hệ hữu cơ với tính cộng đồng của xã hội Việt Nam ở Việt Nam, trong điều kiện các hình thái xã hội không phát triển một cách đứt đoạn, trong các hình thái sau vẫn tồn tại, xen kẽ những tàn tích của hình thái trước, tính cộng đồng xã hội và tính cộng

đồng gia đình còn tồn tại lâu dài

Gia đình là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội Ph Ăngghen

đã chỉ rõ: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy cho

Trang 19

đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Một mặt là, sản xuất

ra tư liệu sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo và nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là, sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những thiết chế xã hội trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất đó quyết định; một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” [1, tr.26]

Gia đình là một thể chế đặc thù, có tính đa dạng không giống bất kỳ một thể chế xã hội nào “Tính chất thể chế của gia đình thể hiện ở chỗ nó ra

đời, tồn tại và phát triển trước hết nhờ xã hội thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, quy định trách nhiệm của họ đối với nhau và trách nhiệm quan tâm chăm sóc con cái họ Khi đôi nam nữ thanh niên yêu nhau, họ chưa có trách nhiệm gì, nhưng khi kết hôn, họ cần được xã hội phê chuẩn, công nhận bởi vì kể từ

đó, họ phải có trách nhiệm đối với nhau, đối với con cái và đối với xã hội Xã hội đặc biệt lưu tâm điều đó, bởi vì nói như V.I.Lênin, trong tình yêu có hai người, và xuất hiện cuộc đời mới, cuộc đời thứ ba Đây chính là điều quan tâm xã hội và xuất hiện trách nhiệm đối với tập thể” [4, tr.10]

Thể chế gia đình là một hệ thống quy tắc ổn định, xác định rõ mối quan

hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái nhằm thực hiện những chức năng xã hội nhất định; mặt khác, thể chế gia đình còn xác định mối liên hệ giữa gia

đình và xã hội trong sự tác động qua lại một cách biện chứng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Thế giới đã trải qua nhiều biến đổi với sự ra đời và kế tiếp của các nền văn minh nhân loại, do đó, gia đình cũng luôn biến đổi mạnh mẽ dưới tác

động của các yếu tố bên ngoài và những biến động bên trong các gia đình Vì vậy, gia đình là một thể chế mang tính toàn cầu Mỗi thời đại, mỗi xã hội xuất phát từ những quan niệm, ý thức và yêu cầu khác nhau mà đề ra những định hướng, đòi hỏi nhất định đối với gia đình Tuỳ theo những điều kiện về cư trú,

Trang 20

làm ăn sinh sống, tuỳ theo những điều kiện về cư trú, làm ăn sinh sống, tuỳ theo xu hướng, phong tục tập quán, truyền thống văn hoá mà các dân tộc quan niệm và xây dựng gia đình có đặc thù không giống với các thiết chế xã hội khác Trong tiến trình phát triển xã hội loài người từ thời trung cổ đến thời hiện đại, vai trò của gia đình trong đời sống xã hội cũng từng bước biến đổi, ngày càng giảm sút Xã hội càng phát triển trên con đường hiện đại, vai trò của cá nhân được đề cao và với tư cách chủ thể tham gia vào các tổ chức xã hội ngày càng phong phú, cá nhân càng thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình, trở thành nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá nhanh chóng hơn trước Xét về mặt lịch sử tiến hoá xã hội, đó là mặt tích cực, sự tiến

bộ vượt bậc Nhưng mặt khác, ngày nay thế giới cũng chứng kiến hiện tượng phổ biến tan rã gia đình, sự đổ vỡ của nền tảng gia đình, nhất là ở các nước

Âu, Mỹ - những xã hội đã lấy cá nhân làm đơn vị hay là gốc của sự phát triển xã hội Thực chất “đó là sản phẩm của một nền văn minh đại công nghiệp của thời đại computer và bùng nổ thông tin, của thời kỳ giải phóng sơ khai cá nhân - sản phẩm của nền văn minh như Alvin Toffer gọi là “văn minh của làn sóng thứ ba” [31, tr.4]

3 Văn hoá gia đình, giá trị cấu trúc và giá trị chức năng của gia đình

3.1 Khái niệm văn hoá gia đình

Khái niệm văn hoá gia đình có nội hàm rộng lớn, trong đó nổi lên các quan hệ đạo lý, chuẩn mực, khuôn phép trong sinh hoạt, ứng xử, các quan hệ

về tình cảm, việc chăm sóc giáo dục con cái, các tập quán về thờ phụng tổ tiên

Trước đây, khi đề cập đến những gia đình sống có nền nếp, gia giáo, sống thuận hoà, biết kính trên nhường dưới, con cháu học hành thành đạt, làm

ăn nên người , người ta thường gọi là có gia phong Có thể coi gia phong là khuôn khổ kỷ cương, trật tự của các quan hệ gia đình được hình thành trên cơ

sở những phép tắc, lề thói truyền thống, tập quán của gia đình Hay theo nghĩa

Trang 21

đơn giản hơn, gia phong là những quy củ, nền nếp ứng xử với bản thân, trong quan hệ gia đình và quan hệ xã hội mà mỗi thành viên trong gia đình được giáo dục, định hướng phải tuân theo từ thế hệ này đến thế hệ khác Trước đây, trong xã hội Việt Nam, văn hoá gia đình thường thể hiện ở gia phong (còn gọi

là nếp nhà) theo truyền thống gia đình, tộc họ

Văn hóa gia đình là một dạng văn hoá cộng đồng đặc thù, một môi trường văn hoá đặc thù, trong đó các hệ giá trị, chuẩn mực trở thành định hướng mà mỗi thành viên trong gia đình chấp nhận, tuân theo và có nghĩa vụ thực hiện

Mỗi gia đình được tồn tại và phát triển do các thành tố: cấu trúc gia

đình, các chức năng của gia đình, các mối quan hệ nội tại và môi trường gia

đình

3.2 Giá trị cấu trúc của văn hóa gia đình

Trong văn hoá gia đình, giá trị cấu trúc là giá trị tồn tại bên trong gia

đình thể hiện ở sự gắn bó giữa các thành viên của cộng đồng đặc biệt này Đó

là các giá trị biểu hiện trong các quan hệ cơ bản của gia đình: quan hệ giữa vợ

và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quan hệ giữa các anh chị em

Gia đình bắt đầu từ hôn nhân, từ quan hệ vợ - chồng đi đến sinh đẻ con cái và từ đó từng bước hình thành quan hệ cha mẹ - con cái và quan hệ anh -

em, chị - em Trong mối quan hệ đó, gia đình trở thành tổ ấm, chỗ dựa cho mỗi thành viên hình thành và phát triển nhân cách, gắn bó nhau trong cuộc sống tình cảm, thương yêu nhau và có nghĩa vụ, trách nhiệm cùng lo lắng, săn sóc nhau

Cùng với sự biến đổi của lịch sử xã hội và tuỳ theo điều kiện cụ thể về kinh tế-xã hội, phong tục tập quán của mỗi quốc gia dân tộc mà quan niệm về quan hệ vợ chồng có sự khác nhau Bàn về gia đình trong xã hội phong kiến,

Ph Ăngghen cho rằng: “Với gia đình gia trưởng người vợ trở thành người

đầy tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội” [2, tr.117]

Trang 22

Về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và ngoài xã hội, một số nhà xã hội học có sự đánh giá khác nhau

Có ý kiến cho rằng: về cơ bản, phụ nữ có địa vị bình đẳng với nam giới Trong nền văn minh lúa nước, cả vợ và chồng đều phải tham gia hoạt động sản xuất; mặt khác, trong hoàn cảnh đất nước thường xuyên có chiến tranh và chiến tranh kéo dài, người chồng luôn vắng nhà, công việc ở hậu phương và ở gia đình đều do người vợ đảm nhận Vai trò, vị trí của phụ nữ thật sự trở nên quan trọng

Một số ý kiến khác lại cho rằng: phụ nữ Việt Nam về cơ bản ở vào vị trí phụ thuộc người chồng và chịu sự bất bình đẳng ở trong gia đình và ngoài xã hội, do ảnh hưởng của Nho giáo đã tồn tại một thời gian dài ở nước ta Thông qua kết quả điều tra xã hội học, một số nhà nghiên cứu cho rằng, ở nước ta chưa có sự bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, trong gia đình phụ nữ có vị trí thấp kém so với nam giới, như người chồng nắm quyền chủ hộ, có quyền quyết định những công việc quan trọng trong gia đình và tình trạng người chồng sử dụng bạo lực đối với vợ còn khá phổ biến

Ngày nay, trong xu thế tiến bộ xã hội, quan hệ vợ - chồng được xây dựng trên cơ sở của tình yêu lứa đôi hoà hợp với lối sống và văn hoá gia đình

Đảng ta chủ trương “xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác ” [37, tr112] ở nước ta, quan hệ giữa vợ và chồng đã được Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 xác

định Về tình nghĩa vợ chồng, luật định rõ: vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, bình

đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Về bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa

vợ, chồng, luật quy định: vợ chồng bình đẳng nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình Ngoài ra, luật còn có những điều quy

Trang 23

định rõ việc tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng; việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ chồng; việc giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt

Việc xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở pháp luật nói trên có ý nghĩa

đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xoá bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình

Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ hai chiều: cha mẹ đối với con cái và con cái đối với cha mẹ Đó là mối quan hệ thấm nhuần tình thương

và trách nhiệm Cha mẹ dành cho con trọn vẹn tình thương yêu, chăm lo nuôi dưỡng giáo dục con nên người không chỉ bằng ý chí mà còn bằng những phương pháp khoa học và nghệ thuật Còn đối với cha mẹ, con cái luôn ghi nhớ công lao sinh thành dưỡng dục, kính trọng và chăm sóc, phụng dưỡng cha

mẹ, làm vui lòng cha mẹ từ thuở còn thơ ấu cho đến lúc trưởng thành

Ngày nay, ở nước ta, một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình đã được luật quy định là: cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cho mẹ ; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau

Quán triệt nguyên tắc trên, các điều cụ thể của Luật Hôn nhân và Gia

đình quy định nghĩa vụ và quyền của con: cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình; con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ

Trang 24

Quan hệ giữa anh - em, chị - em trong gia đình là quan hệ ruột thịt trong cùng một tổ ấm mà mỗi người đều có bổn phận và trách nhiệm đối với nhau Mối quan hệ đó cũng đã được định rõ trong luật hôn nhân và gia đình của nước ta hiện nay: anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con

Chúng ta đều rõ gia đình là cái gốc của con người, là cội nguồn của mọi tình cảm Con người từ khi mới sinh ra đã cảm nhận điều vô cùng thiêng liêng

là tấm lòng hy sinh cao cả của người mẹ cho con cái Giá trị văn hoá đầu tiên

ấy của con trẻ là dấu ấn tốt đẹp suốt cả đời người và trở thành nhân cách tiêu biểu trong các giá trị văn hoá gia đình và xã hội Và giá trị nhân cách của người mẹ trong việc sinh đẻ, nuôi dạy con cái càng được đề cao, tượng trưng cho những gì cao cả, tốt đẹp trong văn hoá gia đinh Coóc-trắc, nhà sư phạm người Ba Lan, nói: “Chức năng làm mẹ đã đề cao người phụ nữ và chỉ có khi làm mẹ người phụ nữ mới trưởng thành về mặt tâm hồn Đúng, chức năng làm

mẹ đã đặt ra những vấn đề nóng hổi bao quát toàn bộ các phương diện của thế giới bên trong và bên ngoài Nhờ một người nào đó cung cấp cho mình những tư tưởng có sẵn tức là giao phó cho một người phụ nữ khác đẻ con hộ mình Chỉ có những tư tưởng được nảy sinh ra trong đau khổ mới là những tư tưởng quý giá nhất Người mẹ kiêm nhà giáo dục chân chính luôn luôn cảm thấy rằng các con đã mang lại cho mình sự vui sướng và sự thoả mãn về tinh thần lớn lao như thế nào và đã nâng cao thêm các mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình như thế nào” [46, tr.134- tr.137]

Giá trị cấu trúc trên còn bị chi phối bởi quy mô, hình thức gia đình ở nước ta đã tồn tại ba hình thức gia đình:

- Hình thức gia đình lớn (gia đình truyền thống) (đại gia đình) thường có

ba, bốn thế hệ cùng chung sống với nhau trong một ngôi nhà, trong đó có

Trang 25

những cặp vợ chồng và con cái của họ Gia đình lớn trở thành tập thể chủ yếu

và là chỗ dựa tuyệt đối suốt cuộc đời mỗi người Con người bị ràng buộc trong tình nghĩa sâu nặng và trong khuôn phép chặt chẽ của gia đình, làng bản Hình thức gia đình lớn thường thấy ở các vùng dân tộc ít người như dân tộc Thái ở Tây Bắc, dân tộc Nùng, Xà Nhì, Sán Chỉ, Cao Lan, Lô Lô ở Đông Bắc, dân tộc

Êđê ở Tây Nguyên

- Hình thức gia đình phụ quyền gia trưởng thường gồm ba thế hệ: có một

cặp hôn nhân là hạt nhân, trên có cha mẹ và dưới là các con của họ Ngoài ra, còn có thể thêm các em gái chưa chồng, em trai chưa vợ của một trong hai vợ chồng cùng sinh sống Đặc điểm nổi bật của gia đình phụ quyền gia trưởng là

sự bất bình đẳng Người gia trưởng có quyền sở hữu tất cả tài sản, của cải của gia đình và quyết định mọi việc của gia đình

Ngày nay, cơ sở chủ yếu của cuộc sống gia đình hạt nhân không chỉ đặt

ra trong nội bộ gia đình mà còn quan hệ mật thiết với đời sống xã hội về mọi mặt Sự thay đổi về cơ sở kinh tế-xã hội đã làm biến đổi tính chất và kết cấu của gia đình phụ quyền, tạo điều kiện cho việc hình thành những mối quan hệ mới, tiến bộ hơn trong hôn nhân, trong vợ - chồng, trong cha mẹ - con cái, trong anh - chị - em và họ hàng

- Hình thức gia đình hạt nhân bao gồm hai thế hệ (cha mẹ và con cái

chưa lập gia đình) ở gia đình hạt nhân, sự hình thành lứa đôi dựa trên cơ sở tình yêu và tự nguyện, và do đó, quan hệ vợ chồng là quan hệ bình đẳng, dân chủ, yêu thương nhau, cùng có nghĩa vụ và trách nhiệm giúp đỡ nhau nuôi dạy con cái và tham gia các hoạt động vì lợi ích của xã hội

Đây là kiểu gia đình tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển đất nước trên con đường hiện đại hoá Nhưng đứng trước những biến đổi của xã hội, thách thức gay gắt của mặt trái của cơ chế thị trường và những tác động xấu từ bên ngoài, cơ cấu gia đình hạt nhân đòi hỏi không ngừng được củng cố, các thành viên trong gia đình cùng chung sức tạo lập cuộc sống gia đình hạnh phúc

Trang 26

3.3 Giá trị chức năng của văn hóa gia đình

Cùng với giá trị cấu trúc, giá trị chức năng cũng là thành tố cơ bản của

hệ giá trị văn hoá gia đình Các nhà xã hội học đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về các chức năng chính của gia đình Tuy nhiên, họ đều cho rằng cùng với phát triển của lịch sử, các chức năng của gia đình có thể biến đổi, chức năng này có thể giảm sút hoặc mất đi, chức năng khác lại nổi trội Từ khi xuất hiện gia đình, trải qua mọi thời đại, gia đình bao giờ cũng có hai chức năng chính: sinh đẻ và nuôi dạy con cái Nhưng cùng với biến thiên lịch sử và hoàn cảnh cụ thể khác nhau của các quốc gia, dân tộc, các chức năng chính của gia

đình biến đổi Các chức năng chính có mối liên hệ, tác động lẫn nhau và cùng với các chức năng bổ trợ khác tạo thành hệ thống các chức năng bảo đảm cho gia đình tồn tại và phát triển

Từ thực tiễn phát triển xã hội và dưới góc độ văn hoá gia đình, có thể đề cập tới các chức năng chính sau đây:

- Chức năng sinh sản và tái sản xuất con người và xã hội Đây là một

chức năng quan trọng của gia đình vì nó tái sản xuất ra con người - sản phẩm quý nhất của xã hội Sinh con không chỉ nhằm thoả mãn mong ước, nhu cầu của người vợ, người chồng như nhiều người đã quan niệm, mà còn là vấn đề xã hội, vấn đề duy trì tính liên tục về mặt sinh học của xã hội bằng cách tạo ra những thành viên mới Gia đình tái sản xuất ra con người chính là điều kiện và

là nhân tố quan trọng để xã hội tồn tại và phát triển Trong hệ giá trị xã hội cũ, con người quan niệm có đông con là điều phúc, là đạt được giá trị xã hội lớn hơn bất cứ giá trị nào khác Ngày nay, gia đình không còn là một phạm trù riêng biệt mà quan hệ chặt chẽ với lợi ích xã hội: “Gia đình tốt thì xã hội mới

tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt” (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

- Chức năng xã hội hoá con cái Gia đình tái sinh sản con người không

chỉ vì lợi ích duy trì nòi giống mà còn vì lợi ích chung của xã hội Do đó, đi

đôi với chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục đóng vai trò rất quan trọng Tái

Trang 27

sản xuất con người về thể chất thôi không đủ, còn phải tái sản xuất con người

về mặt tinh thần thông qua giáo dục “Người ta sinh ra không phải đã là con người, mà chỉ trở thành con người trong quá trình giáo dục” (R.Parcơ -

R.E.Park) [4, tr.62]

Gia đình là trường học đầu tiên của mỗi cá nhân và cha mẹ là người thầy đầu tiên dạy cho con người những đức tính, tình cảm tốt đẹp theo truyền thống văn hoá của dân tộc Sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố giáo dục đóng vai trò quyết định Xã hội hoá con người chính là biến thực thể tự nhiên thành một thực thể xã hội, làm cho con người nhận thức và hành động theo yêu cầu phát triển xã hội và phát triển khả năng phục vụ lợi ích chung của xã hội Trong quá trình xã hội hoá, gia đình là tác nhân đầu tiên xã hội hoá con người, gây dựng thế hệ tương lai của đất nước

- Chức năng tình cảm Trên thực tế, gia đình không chỉ là chỗ dựa về mặt

vật chất mà còn là nơi nương tựa về mặt tinh thần Gia đình là một cộng đồng

đặc biệt mà đặc trưng là các thành viên của nó có quan hệ hôn nhân hoặc quan

hệ huyết thống Cũng do đặc trưng này mà những thành viên trong gia đình gắn bó nhau sâu sắc về mặt tình cảm, tình cảm trở thành nhu cầu không thể nào thiếu được Con người có thể có những quan hệ tình cảm với những người

và tổ chức ngoài phạm vi gia đình, nhưng không có người nào, tổ chức nào có thể mang lại tình cảm ấm áp, thiêng liêng bằng tổ ấm gia đình Chúng ta đều

rõ phần lớn gia đình được hình thành từ cái gốc của tình yêu đôi lứa Tình yêu thương mặn nồng của vợ chồng chính là ngọn nguồn của mọi tình cảm tốt đẹp lan toả trong các thành viên gia đình, tạo nên môi trường văn hoá gia đình giúp cho mỗi cá nhân cân bằng tâm - sinh lý, phát huy khả năng thực hiện các chức năng khác của gia đình Gia đình trở thành chỗ dựa tình cảm và tinh thần của mỗi thành viên, nơi con người có thể bộc lộ bản chất, cá tính của mình

Trang 28

đồng thời cũng nhận được sự quan tâm khích lệ, đùm bọc của cả cộng đồng

đặc biệt này

- Chức năng kinh tế Gia đình có trách nhiệm tổ chức cuộc sống vật chất

cho mỗi con người xã hội, bảo đảm cho sự hoạt động bình thường của họ Chức năng kinh tế của gia đình có hai mặt, vừa là sản xuất vừa là tiêu dùng Kinh tế gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu sinh sống của các thành viên Mặt khác, kinh tế gia đình còn hỗ trợ kinh tế đất nước Chức năng kinh tế gia đình biến đổi cùng với sự phát triển nền kinh tế chung của mỗi quốc gia Trong gia đình truyền thống, mỗi gia đình là một đơn vị sản xuất Các thành viên trong gia đình sống và làm việc cùng một nơi và cùng chia sẻ với nhau về kinh tế lẫn tình cảm Ngày nay, kinh tế gia đình đang tiếp cận nhanh chóng với công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại, không ít gia đình trở thành trọng tâm kinh tế được tín nhiệm, thực sự là nguồn lực góp phần phát

triển đất nước

Ngoài bốn chức năng cơ bản trên, hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu còn

đề cập tới chức năng cơ bản nữa của gia đình, đó là chức năng chăm sóc người

già Xã hội càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của mỗi người ngày

càng được cải thiện thì tuổi thọ của người dân ngày càng tăng Người già ngày càng nhiều, tuổi thọ trung bình ngày càng tăng cùng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc càng cho phép các gia đình thực hiện chức năng quan trọng này

Các giá trị cấu trúc và giá trị chức năng của gia đình gắn bó với nhau một cách hữu cơ và hợp thành hệ giá trị văn hoá gia đình, trong đó giá trị cấu trúc tương đối bền vững, còn giá trị chức năng có tính chất động hơn, dễ biến

đổi “Lịch sử xã hội đã kiểm chứng những thay đổi về hệ giá trị văn hoá gia

đình, thường bắt đầu từ những thay đổi của các giá trị chức năng Nhưng chỉ khi nào các giá trị cấu trúc thay đổi theo, thì khi đó hệ giá trị văn hoá gia đình mới thay đổi một cách triệt để ” [22, tr.20]

Trang 29

4 Khái niệm nhân cách và sự hình thành nhân cách

4.1 Khái niệm nhân cách

“Nhân cách” là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Trong tâm lý học, nhân cách và sự hình thành nhân cách là vấn đề trung tâm của hệ thống khoa học về con người, vừa có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn lớn lao Cùng với các khoa học khác, tâm lý học đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về bản chất tâm lý của nhân cách, cấu trúc nhân cách và sự hình thành nhân cách

Nhân cách là một khái niệm khá phức tạp và đa diện, một khái niệm mang tính lịch sử cụ thể, được hình thành và xác định bởi toàn bộ hệ thống các mối quan hệ xã hội thống trị trong xã hội, trước hết là do các mối quan hệ kinh tế-xã hội do lịch sử tạo ra, nó biến đổi và phát triển trong quá trình thay

đổi và phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế

Trước hết, cần phân biệt khái niệm nhân cách với các khái niệm gần gũi với nó như khái niệm về “con người”, “cá nhân”, “cá tính”

Con người là một thực thể tự nhiên và thực thể xã hội, có ý thức và năng lực nhận thức bản chất thế giới bên ngoài và bên trong, là thành viên của một cộng đồng, một xã hội hay nói rộng ra là một thực thể sinh vật-xã hội và văn hoá

Cá nhân là một con người cụ thể bao hàm trong đó cả phần sinh vật và phần xã hội, nhưng được xem xét một cách riêng lẻ, có ý phân biệt với nhóm người, tập thể, tập đoàn xã hội

Cá tính chỉ cái đơn nhất, cái riêng, cái độc đáo, cái đặc thù của mỗi cá nhân, là điểm nổi bật nào đó của cá nhân, không giống với mọi người khác Cá tính làm cho mỗi cá nhân được cụ thể hơn, chi tiết hơn và đầy đủ hơn

Về khái niệm nhân cách, ý kiến của các nhà tâm lý học mác-xít rất phong phú, song ít nhiều còn có tính chất tản mạn

Trang 30

Nhìn chung, tuy mỗi người nhấn mạnh một khía cạnh khác nhau của nhân cách, nhưng các luận điểm của các nhà tâm lý học Xô-viết trước đây không có tính chất chống đối, bài xích nhau mà ít nhiều góp phần bổ trợ, bổ sung lẫn nhau trong quá trình tìm hiểu bản chất của nhân cách Sở dĩ như vậy

là vì họ đều xuất phát từ luận điểm của C.Mác trong "Luận cương về bách" về con người: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của mỗi cá nhân riêng lẻ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là toàn bộ những quan hệ xã hội”

Phơ-Có thể nhận thấy hai luận điểm cơ bản mà các nhà tâm lý học nói trên

đã nhất trí, đó là:

- Những nét đặc trưng của nhân cách của mỗi người bao giờ cũng phải là những thuộc tính tâm lý tương đối ổn định, bền vững, không dễ dàng thay đổi trước những sự thay đổi không cơ bản của hoàn cảnh, của môi trường

- Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học nhân cách không phải là những thuộc tính riêng lẻ, những đặc trưng rời rạc, những phẩm chất biệt lập của nhân cách con người, mà là một chỉnh thể, một sự toàn vẹn, một sự thống nhất của nhân cách, một sự kết hợp hữu cơ giữa các thuộc tính, các đặc trưng, các phẩm chất tạo nên nhân cách mỗi người

Nói đến bản chất nhân cách, các nhà tâm lý học mác-xít đều xuất phát

từ luận điểm cơ bản của C.Mác về con người như đã dẫn ở trên Vì vậy, khi nói đến nhân cách, không thể không đề cập vấn đề con người với tư cách là chủ thể có ý thức Cũng vì thế, nhiều tác giả đã khẳng định rằng người mất trí, người điên không có nhân cách và đứa trẻ mới lọt lòng chỉ có mầm mống của nhân cách Những thuộc tính tạo nên nhân cách không phải là “nhất thành bất biến” mà có thể biến đổi theo chiều hướng tốt hoặc theo chiều hướng xấu Bởi vậy, một nhân cách biểu hiện lệch lạc có thể cải tạo thành tốt và ngược lại một nhân cách đã phát triển tốt, nếu không giáo dục và tự giáo dục tốt, không tự

Trang 31

làm chủ mình, thì khi gặp phải hoàn cảnh đòi hỏi sự thử thách, cũng có thể bị thoái hoá

Bên cạnh những quan niệm mác-xít về nhân cách nói trên, cũng còn có nhiều lý thuyết khác nhau về nhân cách trong khoa học tâm lý, như thuyết phân tâm, thuyết siêu đẳng và bù trừ, thuyết lo lắng, thuyết phát huy bản ngã, thuyết đặc trưng, thuyết nhu cầu tâm lý, thuyết tương tác xã hội, thuyết liên cá nhân, lý thuyết nhân cách

Lại còn có quan điểm sinh vật hoá nhân cách, coi bản chất nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể (Krestchmer), ở góc mặt (C.Lombrozo), ở thể tạng (Sheldon), ở bản năng vô thức (S Freud) Và có cả quan điểm xã hội học hoá nhân cách lấy các quan hệ xã hội (gia đình, họ hàng, làng xóm ) để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính tâm lý nhân cách

Vậy nhân cách là gì? Nhân cách là bộ mặt xã hội-tâm lý của mỗi người,

là một thành viên xã hội chịu sự chi phối của các mối quan hệ xã hội, đồng thời là một chủ thể hoạt động có ý thức của sự phát triển xã hội

Khái niệm nhân cách có nội hàm rộng lớn:

- Nhân cách là một thực thể xã hội, do đó, khi nói đến nhân cách của con người thì trước hết nói đến nhân tính của nó, có nghĩa là nhấn mạnh sự khác biệt, sự đối lập giữa con người và động vật

- Nhân cách bao gồm cái chung và cái riêng Cái chung phản ánh hoàn cảnh sống điển hình, trong đó bao gồm những đối tượng đặc biệt là những mối quan hệ chung cho nhiều người Cái riêng phản ánh hoàn cảnh sống riêng của từng người, trong đó bao gồm những đối tượng, những mối quan hệ mà người

đó tiếp xúc và chịu ảnh hưởng thông qua vai trò cụ thể của nó trong xã hội Cái chung và cái riêng quan hệ mật thiết với nhau Cái chung quy định cái riêng, cái riêng làm phong phú cái chung Cái riêng chính là cái chung tồn tại một cách cụ thể tạo nên một nhân cách, một đơn vị xã hội

Trang 32

- Nói đến nhân cách là nói đến cái “tôi”, nói đến ý thức con người Nhân cách là sản phẩm của sự phát triển tâm lý trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định Đứa trẻ mới ra đời chưa có nhân cách, chỉ đến một mức độ nhất

định của sự phát triển về mặt xã hội của tâm lý con người, tức là khi xuất hiện

ý thức bản ngã thì con người mới có nhân cách Các nhà tâm lý học cho rằng, trong xã hội ngày nay, với điều kiện phát triển bình thường trẻ em bước vào tuổi thứ ba, ý thức bản ngã đã bắt đầu nảy sinh và nhân cách của nó bắt đầu hình thành Nhưng phải trải qua một thời gian khá lâu dài cho đến đầu tuổi thanh niên, nhân cách đó mới định hình về cơ bản

- Nhân cách không chỉ phản ánh hoàn cảnh xã hội, chịu sự chi phối của các quan hệ xã hội, mà nhân cách còn là một chủ thể hoạt động của sự phát triển xã hội Chính trong hoạt động nhân cách con người được hình thành và phát triển Con người càng hoạt động tích cực để cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội thì nhân cách con người được hình thành và phát triển

- Trong xã hội, nhân cách của mỗi người đều được những người xung quanh nhận xét và đánh giá Giá trị của nhân cách phản ánh mối quan hệ giữa thực chất của nhân cách và những yêu cầu xã hội thông qua ý thức của người

Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc nhân cách:

Trang 33

- Quan điểm coi nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản: nhận thức (bao gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ), tình cảm (rung cảm, thái độ) và ý chí (phẩm chất ý chí, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen)

- Quan điểm coi cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt thống nhất với nhau

Đã từ lâu, các nhà tâm lý học mác-xít cho rằng: cấu trúc nhân cách bao gồm bốn mặt chủ yếu còn gọi là bốn cấu trúc hay bốn thuộc tính tâm lý phức tạp Đó là xu hướng, tính cách, năng lực và khí chất

Xu hướng nói lên chiều hướng phát triển của nhân cách Tính cách nói lên mặt động cơ, thái độ quan hệ của cá nhân giữa người với người Năng lực

nói lên khả năng của cá nhân trong hoạt động Khí chất nói lên sắc thái biểu

hiện cái mặt bên trong hành vi của cá nhân

Xu hướng của cá nhân là một cấu trúc tâm lý tương đối ổn định, nó thúc

đẩy cá nhân ấy hành động để vươn tới đối tượng mà cá nhân đó cho là nhu cầu, hứng thú và lý tưởng của mình

Trang 34

Tính cách là tổng hợp những thuộc tính tâm lý cơ bản của cá nhân, phản

ánh lịch sử tác động của những điều kiện sống và giáo dục, biểu hiện ở mỗi thái độ đặc thù của mỗi người đối với hiện thực khách quan, ở cách xử sự, ở những đặc điểm trong hành vi xã hội của người đó

Năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với

những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy

Các nhà tâm lý học thường chia năng lực thành 3 mức độ khác nhau: năng lực, tài năng, thiên tài

- Năng lực là một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó

- Tài năng là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành một cách sáng tạo một hoạt động nào đó

- Thiên tài là mức độ cao nhất của năng lực, biểu thị ở mức kiệt xuất, hoàn chỉnh nhất của những vĩ nhân trong lịch sử nhân loại

Năng lực có thể chia thành hai loại: năng lực chung và năng lực riêng biệt Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, về trí tuệ, là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả Năng lực riêng là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao, chẳng hạn năng lực toán học, năng lực hội họa, năng lực thể dục, thể thao

Hai loại năng lực chung và năng lực riêng bổ sung, hỗ trợ cho nhau

Khí chất là thuộc tính tâm lý cá nhân, biểu hiện sắc thái hoạt động tâm

lý của mỗi người về cường độ, tốc độ và nhịp độ, tạo nên bức tranh hành vi của cá nhân đó

Cơ sở sinh lý của khí chất là các kiểu hoạt động thần kinh cao cấp từ những đặc điểm (hay thuộc tính cơ bản của hai quá trình thần kinh là hưng

Trang 35

phấn và ức chế) về cường độ (mạnh hay yếu), về sự cân bằng (cân bằng hay không cân bằng) và về tính linh hoạt (linh hoạt hay ỳ)

Có bốn kiểu hoạt động thần kinh cao cấp điển hình:

- Kiểu mạnh, cân bằng, linh hoạt;

- Kiểu mạnh, cân bằng, không linh hoạt (hay ỳ);

Mặt tính cách (hay là “đức”) là tổng hợp các thuộc tính tâm lý nói lên

động cơ, thái độ, quan hệ của cá nhân với những người khác trong hoạt động của mình Mặt năng lực (hay là “tài”) là tổng hợp những thuộc tính phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của loại hoạt động năng lực hay loại hoạt động khác quy định nên hiệu quả hoạt động

Tính cách và năng lực là hai mặt cơ bản của nhân cách con người, có quan hệ mật thiết với nhau Tính cách là gốc, là cốt lõi của nhân cách, năng lực được coi là phương tiện để thực hiện mục đích của cuộc sống mà con người muốn vươn tới Tính cách và năng lực không đồng nhất nhưng thống nhất với nhau, chúng không tách biệt nhau mà in dấu vào nhau, những thuộc tính vừa nằm trong cấu trúc của tính cách, vừa nằm trong cấu trúc của năng lực và ngược lại

4.3 Những yếu tố hình thành nhân cách

Đứa trẻ mới ra đời chưa có nhân cách, nhân cách con người được hình thành trong một quá trình lâu dài dưới ảnh hưởng của các yếu tố sau đây:

Trang 36

- Yếu tố bẩm sinh và di truyền Bẩm sinh và di truyền là những đặc điểm

giải phẫu - sinh lý của cơ thể đã có ngay từ khi đứa trẻ ra đời, hoặc được truyền lại từ bố mẹ Bẩm sinh và di truyền chỉ mang tính chất sinh vật, là yếu

tố mầm mống, khả năng chứ chưa phải là hiện thực, chỉ là tiền đề vật chất cho

sự phát triển tâm lý cá nhân, không quyết định được những đặc điểm về nội dung và hình thức cho đời sống tâm lý con người

- Yếu tố môi trường (còn gọi là hoàn cảnh sống, điều kiện sống) Theo

nghĩa rộng, môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Còn theo nghĩa hẹp thì, môi trường là những điều kiện sống tác động một cách

tự phát đến con người Trong sự phát triển nhân cách con người, môi trường xã hội đóng vai trò quyết định Môi trường xã hội bao gồm những mối quan hệ xã hội như quan hệ sản xuất, quan hệ gia đình, quan hệ pháp quyền, quan hệ nghề nghiệp, quan hệ xóm làng

Con người nhập vào các mối quan hệ xã hội, tiếp thu nền văn hoá nhân loại mà hình thành nên nhân cách cho mình Có thể nói, môi trường xã hội là nguồn gốc, là nơi nảy sinh ra tâm lý người Thoát ra khỏi môi trường xã hội, nhân cách con người không thể hình thành và tồn tại được Môi trường xã hội tác động đến con người một cách tự phát, theo chiều hướng khác nhau, ảnh hưởng của nó đến mỗi người một khác và hiệu quả nằm ngoài ý thức con người Ngoài những tác động tự phát, còn có một loại tác động đặc biệt, có tổ chức, có mục đích, có sự tham gia của ý thức con người Đó là những tác động

có tính chất tự giác, còn gọi là sự giáo dục của xã hội đối với con người Giáo dục là một trong những bộ phận tiên tiến của ý thức xã hội có tác động rất mạnh mẽ và đóng vai trò chủ đạo đối với sự hình thành nhân cách

Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong sự hình thành nhân cách là vì:

- Giáo dục vạch phương hướng cho sự phát triển nhân cách, giáo dục có khả năng chọn lọc những tác động của xã hội đến con người, hạn chế những tác động tiêu cực và tăng cường những tác động tích cực

Trang 37

Giáo dục không chỉ hướng dẫn sự phát triển nhân cách sao cho phù hợp với những yêu cầu của đời sống hiện tại mà còn chuẩn bị cho trẻ con đáp ứng

được với những đòi hỏi của cuộc sống xã hội tương lai

- Giáo dục thúc đẩy sự phát triển nhân cách với một tốc độ nhanh chóng hơn sự phát triển nhân cách một cách tự phát

- Yếu tố hoạt động cá nhân Sự phát triển của mỗi cá nhân không phải do

sự tăng trưởng của cơ thể hay sự tác động của môi trường mà sự phát triển của

nó được thực hiện với sự tham gia tích cực của bản thân con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội Chính sự hoạt động tích cực của cá nhân là yếu

tố quyết định trực tiếp đối với sự hình thành nhân cách của nó Nhân cách chỉ hình thành và biểu hiện trong hoạt động Cho nên tổ chức hoạt động với nội dung, loại hình, phương thức, công cụ thích hợp với mục đích và phương pháp giáo dục chính là trực tiếp điều khiển sự hình thành nhân cách

- Yếu tố tự giáo dục Tự giáo dục là một hình thức hoạt động của con

người hướng về cải tạo chính bản thân nhân cách của mình Cùng với sự lớn lên của tuổi đời, sự tự phát triển dần trở thành có ý thức được thể hiện trong sự

tự giáo dục của nó Nhờ đó, nhân cách được hình thành nhanh chóng và vững vàng hơn Tự giáo dục tiếp sức cho giáo dục và là yếu tố bên trong của sự hình thành và phát triển nhân cách

Tóm lại, nhân cách được hình thành nhờ tác động qua lại giữa môi trường (hoàn cảnh sống - chủ yếu là hoàn cảnh xã hội) với hoạt động tích cực của mỗi người dựa trên một tiền đề thể chất nhất định và được sự chỉ đạo của giáo dục theo phương hướng mà xã hội yêu cầu

4.4 Một số quy luật cơ bản của sự phát triển nhân cách

Nhân cách, trong quá trình phát triển, thường tuân theo một số qui luật sau:

- Động lực của sự phát triển nhân cách là sự xuất hiện các mâu thuẫn giữa cái cũ, cái hiện có của cá nhân với những yêu cầu mới của hoạt động

Trang 38

Nhưng, không phải bất cứ sự mâu thuẫn nào cũng tạo ra sự phát triển mà chỉ những mâu thuẫn nào tương đối chín muồi mới có thể thúc đẩy sự phát triển

được

- Sự phát triển nhân cách diễn ra không đồng đều, biểu hiện ở: sự phát triển không đồng đều ở những nhân cách khác nhau về tốc độ và chiều hướng tuy cùng một độ tuổi; trong mỗi người cũng có những giai đoạn phát triển nhanh và những giai đoạn phát triển chậm về một số thuộc tính nhân cách nào

đó

- Những yếu tố tạo nên nhân cách không hình thành cùng một lúc mà xuất hiện cái trước, cái sau Cái trước xuất hiện làm điều kiện để cái sau nảy sinh Khi có yếu tố mới xuất hiện thì làm chuyển biến những yếu tố cũ và làm biến đổi toàn bộ nhân cách

- Những thuộc tính trong nhân cách không nằm riêng lẻ mà có xu hướng liên kết lại với nhau thành một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn của nhân cách

- Các thuộc tính của nhân cách luôn luôn biến đổi và có thể bù trừ lẫn nhau

5 Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về gia đình

và trẻ em

Gia đình có vai trò và chức năng to lớn đối với sự phát triển xã hội, đặc biệt là chức năng sản sinh ra con người, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách, cung cấp nguồn lực cho xã hội Trên bước đường đổi mới, Đảng ta rất quan tâm đến nguồn lực con người, lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững

“Nguồn lực con người là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [16, tr.7] Chăm sóc, bồi dưỡng, đào tạo, phát huy nguồn lực con người là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó gia đình đóng vai trò rất quan

Trang 39

trọng Xã hội càng phát triển, quan hệ kinh tế càng mở rộng thì quan hệ gia

đình càng gắn bó mật thiết với quan hệ xã hội

Đảng ta nhận rõ vai trò quan trọng của gia đình: “Gia đình là nơi duy trì nòi giống con người, luôn tái tạo ra thế hệ con cháu ngày càng hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, tinh thần, chuẩn bị hành trang cho cá nhân hoà nhập vào cộng

đồng xã hội Gia đình giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục con người, bảo tồn văn hoá truyền thống, chống lại các tệ nạn xã hội Gia đình tốt là yếu

tố đảm bảo cho dân giàu, nước mạnh, giữ cho xã hội lành mạnh và văn minh” [38, tr.15]

Từ khi đất nước đổi mới, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, nghị quyết về xây dựng gia đình

Nghị quyết Đại hội lần thứ VI nêu rõ: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng, chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hoá mới, đảm bảo hạnh phúc gia đình”

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình văn hoá mới có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch hoá dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hoá tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi người hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hoá”

Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII, nghị quyết lại chỉ rõ: “Xây dựng gia

đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mọi người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác”

Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định quan điểm đầu tiên của chiến lược

Trang 40

kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 là: “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo

vệ môi trường, trong đó có vấn đề tăng nhanh năng lực nội sinh về khoa học công nghệ, nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi người có thể phát huy hết tài năng, tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đặc biệt chăm lo sự phát triển

và tiến bộ của trẻ em”

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng khẳng

định: "tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và đạo đức"

Ngày đăng: 06/06/2021, 01:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w