Trải qua những biến thiên của lịch sử, các thế hệ người các dòng họ ở đây đã cùng chung lưng đấu cật tạo lập nên làng xóm, với những đặc điểm nổi bật của một làng quê ven sông của xứ Kin
Trang 1
1
Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O Bé V¡N HO¸, THÓ THAO Vµ DU LÞCH
TR¦êNG §¹I HäC V¡N HO¸ Hµ NéI
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÒNG HỌ VÀ VỀ LÀNG THỤY HÀ 11
1.1 Tổng quan về văn hóa dòng họ 11
1.2 Vài nét về làng Thụy Hà 14
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư 14
1.2.2 Điều kiện kinh tế 17
1.2.3 Cơ cấu tổ chức của làng 18
1.2.4 Các di tích thờ cúng của làng 26
1.2.5 Các lễ thức trong năm 32
Chương 2: DIỆN MẠO VĂN HÓA CÁC DÒNG HỌ NGUYỄN LÀNG THỤY HÀ 36 2 1 Sơ bộ về các dòng họ làng Thụy Hà 36
2.1.1 Lịch sử tụ cư của các dòng họ 36
2.2 Các yếu tố vật thể trong văn hóa các dòng họ làng Thụy Hà 45
2.2.1 Nhà thờ các dòng họ và các yếu tố có liên quan 45
2.2.2 Mộ tổ các dòng họ 55
2.2.3 Ruộng và quỹ họ 56
2.3 Yếu tố phi vật thể trong văn hóa các dòng họ Nguyễn làng Thụy Hà 58 2.3.1 Giỗ họ, họp họ, chạp họ 58
2.3.2 Ý thức cội nguồn và niềm tự hào của các dòng họ 61
Trang 32.4 Lễ rước các vị tổ họ trong hội làng- nét độc đáo của văn hóa các
dòng họ làng Thụy Hà 64
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU VĂN HÓA CÁC DÒNG HỌ NGUYỄN LÀNG THỤY HÀ 73
3.1 Biến đổi văn hóa các dòng họ làng Thụy Hà trong giai đoạn hiện nay 73
3.2 Một vài nhận xét về văn hóa các dòng họ làng Thụy Hà 86
3.3 Những vấn đề đặt ra về việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dòng họ làng Thụy Hà 90
3.3.1 Kế thừa các mặt tích cực trong văn hóa dòng họ 90
3.3.2 Một số kiến nghị cụ thể 92
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 103
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống làng xã người Việt, dòng họ có một vai trò rất to lớn, là nhân tố quan trọng để cố kết các cộng đồng cư dân trong khai hoang lập làng, phát triển sản xuất (làm nông nghiệp, làm nghề thủ công…), ổn định đời sống những khi gặp thiên tai địch họa Dòng họ còn có vai trò to lớn trong việc hình thành các mối quan hệ xã hội, tổ chức khuyến học Ở một số nơi, dòng
họ đảm nhiệm việc tổ chức các sinh hoạt tín ngưỡng, hoạt động thờ cúng và hội làng, đặc biệt là việc trao truyền các giá trị văn hoá cho thế hệ sau Một số làng có những lễ thức riêng của một dòng họ như là một yếu tố của hội như hội của dòng họ Nguyễn Quý làng Đại Mỗ (huyện Từ Liêm) hoặc lễ “Ăn xạc”
(1)
của các dòng họ ở Bát Tràng (huyện Gia Lâm) cùng thuộc thành phố Hà Nội, hội Tiên công của các làng xã khu Hà Nam (thị xã Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) v v Tóm lại, trong quá trình tồn tại và phát triển, mỗi dòng họ tạo ra những dáng nét văn hóa cùng các giá trị văn hóa riêng, rất dễ nhận biết
Nghiên cứu văn hóa dòng họ không chỉ làm rõ thêm đặc điểm, vai trò của tổ chức tập hợp người theo huyết thống trong đời sống ở nông thôn, mà còn tạo ra cơ sở khoa học cho việc phát huy vai trò của dòng họ trong đời sống văn hóa các cộng đồng dân cư hiện nay
Làng Thụy Hà (xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội), là một làng quê thuộc xứ Kinh Bắc xưa, có 6 dòng họ cùng mang họ Nguyễn tụ
cư lâu đời ven sông Cà Lồ Trải qua những biến thiên của lịch sử, các thế hệ người các dòng họ ở đây đã cùng chung lưng đấu cật tạo lập nên làng xóm, với những đặc điểm nổi bật của một làng quê ven sông của xứ Kinh Bắc, với các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể, trong đó nổi bật là hội làng với nghi
lễ “Rước đám rậm” và “Rước nồi hương” do các dòng họ tổ chức
Trang 5
5
Nghiên cứu các dạng thức văn hóa của các dòng họ làng Thụy Hà góp phần làm rõ hơn tính đặc thù của thiết chế tập hợp người theo huyết thống đối
với làng xã Chính vì vậy, tôi chọn đề tài Văn hóa các dòng họ Nguyễn, làng
Thụy Hà, xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội làm luận văn
tốt nghiệp bậc Cao học
2 Tình hình nghiên cứu
Các dòng họ và làng xã của người Việt từ lâu đã được một số học giả trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Đến nay, đã có một số lượng lớn các công trình về dòng họ được công bố, gồm các sách, các đề tài khoa học, các luận văn, luận án, các bài tạp chí Có thể chia các công trình nghiên cứu thành bốn nhóm như sau:
1 Các công trình nghiên cứu về dòng họ trong mối quan hệ với cơ cấu
tổ chức làng xã và với văn hóa Việt, tiêu biểu là các tác phẩm: Việt Nam
phong tục của Phan Kế Bính (1916), Người nông dân châu thổ Bắc Bộ của
Pierre Gourou (1936), Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (1938),
Xã thôn Viêt Nam của Nguyễn Hồng Phong (1959), Nếp cũ - làng xóm Việt Nam của Toan Ánh (1968), Nông thôn Việt Nam trong lịch sử của Viện Sử
học (1977-1978), Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ của Trần Từ (1984), Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII của In ChonYu (1994), Làng Việt Nam- một số vấn đề kinh tế - xã hội- văn hóa của Phan Đại Doãn (2000), Hành trình về làng Việt cổ của Bùi Xuân Đính (2008)… Gần đây nhất, cuốn Bát Tràng - làng nghề, làng văn do Bùi Xuân
Đính chủ biên (Nxb Hà Nội, 2013) đề cập khá chi tiết về đời sống của các dòng họ ở làng quê chuyên nghề làm gốm, có nhiều nét khác biệt này
2 Các công trình nghiên cứu về lịch sử dòng họ và các đặc điểm của
dòng họ nói chung: Họ và tên người Việt Nam của Lê Trung Hoa (1992); Một
lối chép gia phả thật đơn giản của Nguyễn Đức Dụ (1993), Nxb thành phố
Trang 6
6
Hồ Chí Minh; Dòng họ và đời sống làng xã ở Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ
qua tư liệu ở một số xã, huyện Thạch Thất, Hà Tây (Luận án tiến sĩ của Phan
Chí Thành, 2006), …và hàng loạt các bài trên các tạp chí khoa học chuyên
ngành: Dân tộc học, Xã hội học…
3 Các công trình nghiên cứu về các dòng họ cụ thể, gồm có cuốn sách
viết về các dòng họ như: Lịch sử họ Ngô Việt Nam của Ngô Đức Thắng (1990), Họ Đỗ Việt Nam; các luận văn, hoặc các thông tin về các dòng họ xuất bản trong những năm gần đây, như: Họ Bùi Việt Nam, Họ Vũ Việt Nam,
Họ Trịnh Việt Nam…
4 Các công trình nghiên cứu về dòng họ trong điều kiện của xã hội
hiện nay như: Văn hóa các dòng họ ở Nghệ An với sự nghiệp thực hiện chiến
lược con người Việt Nam đầu thế kỉ XIX (Kỷ yếu hội thảo khoa học, 1997), Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng của Mai Văn Hai, Phan Đại Doãn
(2000), Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng
của Tô Duy Hợp (2000)…
Tuy có một số lượng lớn các công trình về dòng họ, song nhìn chung, các công trình đó có các đặc điểm cơ bản:
- Một là, chủ yếu nhìn nhận các công trình về dòng họ dưới góc độ Sử học, trong đó nhấn mạnh đế yếu tố xã hội của dòng họ, ít nghiên cứu dưới góc
độ Văn hóa học và Nhân học cùng yếu tố văn hóa trong dòng họ,
- Hai là, tập trung nghiên cứu chung về dòng họ, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về các dòng họ ở các làng quê cụ thể, nhất là ở các làng quê
có những nét độc đáo về văn hóa và các đòng họ có bề dày truyền thống lịch
sử văn hóa
- Ba là, đối với vai trò của dòng họ trong tổ chức các hoạt động văn hóa thờ cúng, lễ hội, đến nay mới chỉ có một số công trình đề cập đến, như các luận văn Thạc sĩ Văn hóa học tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, như
Trang 7
7
Văn hóa dòng họ Nguyễn Quý làng Đại Mỗ (huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội) của Đỗ Thị Phương Anh (2006), Văn hóa các dòng họ Ngô xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh của Phạm Thị Quế Liên (2007), Văn hóa dòng họ Mạc làng Long Động (xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) của Phan Thị Luyến (2011), Văn hóa dòng họ Bùi (thôn Bùi Đông - Giáp Nhị, phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) của Lê
Thị Thu Hà (2011)…
Đối với làng Thụy Hà, đến nay mới chỉ có bài viết “Hội làng Thụy Hà” trong cuốn Lễ hội Thăng Long do Lê Trung Vũ (Chủ biên, 2001) và được in lại trong cuốn Đông Anh với nghìn năm Thăng Long - Hà Nội (2010) do Bùi
Xuân Đính chủ biên, giới thiệu sơ bộ về hội của làng trong mối quan hệ với các dòng họ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ diện mạo văn hóa các dòng họ làng Thụy Hà (gồm yếu
tố văn hóa vật thể và phi vật thể) Luận văn đồng thời nêu bật vai trò của các dòng họ ở Thụy Hà đối với việc tổ chức các hoạt động tín ngưỡng và văn hóa của làng từ trước tới nay (cơ sở kinh tế - xã hội, tín ngưỡng để các dòng họ đứng ra tổ chức và cách thức tổ chức các hoạt động văn hóa, tâm linh )
Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các ý kiến nhằm phát huy vai trò của dòng họ trong tổ chức các hoạt động văn hóa và bảo tồn các giá trị văn hóa dòng họ trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thu thập các nguồn tài liệu, phân tích các biểu hiện cụ thể về văn hóa và vai trò của dòng họ với việc tổ chức sinh hoạt văn hóa và những biến đổi của các yếu tố truyền thống trong điều kiện hiện nay
Trang 8
8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các dạng thức biểu hiện, vai trò của các dòng họ ở làng Thụy Hà trong việc tổ chức các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng của làng từ trước đến nay
Tuy có tiêu đề là “Văn hoá các dòng họ Nguyễn làng Thụy Hà, xã
Bắc Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”, song luận văn khảo sát
văn hóa của tất cả các dòng họ trong làng này Điều này có lý do khách quan
Đó là, khi tiếp cận ban đầu về làng Thụy Hà, chúng tôi thấy các tư liệu, bài viết đều chép tất cả các dòng họ của làng này đều mang họ Nguyễn Đến tháng 12 năm 2012, chúng tôi mới về khảo sát sâu về làng và khi đó, mới phát hiện làng còn có họ Dương Ngoài ra còn có họ Thịnh, hiện có những lý giải khác nhau về nguồn gốc, song theo chúng tôi vẫn là một họ Nguyễn Hai họ này từ xa xưa luôn gắn kết với các họ Nguyễn thành một khối thống nhất trên tất cả các mặt đời sống, nhất là trong tổ chức các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội Song khi đó, đã quá thời hạn điều chỉnh tên đề tài luận văn Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn được mở rộng đến văn hóa các họ Dương và Thịnh để hợp thành một chỉnh thể về văn hóa các dòng họ trong bức tranh chung về văn hóa làng Thụy Hà
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về không gian: luận văn nghiên cứu tại làng Thụy Hà (xã Bắc Hồng,
huyện Đông Anh), có so sánh với tư liệu về tổ chức các hoạt động văn hóa, tâm linh của một số dòng họ ở một số làng khác, như các dòng họ ở làng Bát Tràng (huyện Gia Lâm)… cùng thuộc thành phố Hà Nội
- Về thời gian: luận văn nghiên cứu các dạng thức biểu hiện của văn
hóa và vai trò của các dòng họ Nguyễn làng Thụy Hà hình thành từ truyền thống (trước Cách mạng Tháng Tám 1945) đến hiện nay
Trang 9
9
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các thao tác của phương pháp điền dã Dân tộc học như quan sát, phỏng vấn, điều tra hồi cố, nghiên cứu tham dự, thảo luận nhóm… để thu thập các nguồn tư liệu
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn hoá học, Dân tộc học, phương pháp lịch sử, chú trọng sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, hệ thống để làm rõ các vấn đề được nêu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề văn hóa; về nông thôn, nông nghiệp và nông dân
6 Nguồn tư liệu của luận văn
Luận văn sử dụng nguồn tư liệu chính là tư liệu điền dã, gồm :
- Tư liệu thành văn, gồm các bản gia phả (nguyên bản chữ Hán và bản dịch tiếng Việt), bia ký và bảng khắc gỗ trong nhà thờ các dòng họ), thần phả, sắc phong và các văn bản Hán Nôm khác còn lưu trong đình làng; các tài liệu viết của các bậc cao niên về một số khía cạnh lịch sử - văn hóa của làng; các báo cáo tổng kết và các số liệu thống kê của làng Thụy Hà và xã Bắc Hồng
- Tư liệu phỏng vấn các bậc cao niên, ban đại diện các dòng họ; tư liệu từ các cuộc trao đổi với lãnh đạo thôn Thụy Hà và xã Bắc Hồng
Luận văn còn khai thác các tư liệu còn lưu tại Viện Thông tin KHXH, gồm bản khai thần tích thần sắc (năm 1938), bản hương ước bằng chữ Nôm lập năm Khải Định thứ bảy (năm 1922)
Luận văn kế thừa các kết quả nghiên cứu về làng xã, về dòng họ người Việt được công bố từ trước đến nay,
Trang 10
10
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về văn hóa dòng họ và về làng Thụy Hà
Chương 2: Diện mạo văn hóa các dòng họ Nguyễn làng Thụy Hà Chương 3: Một số vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu văn hóa các dòng
họ Nguyễn làng Thụy Hà
Trang 11
11
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DÒNG HỌ
VÀ VỀ LÀNG THỤY HÀ
1.1 Tổng quan về văn hóa dòng họ
Để làm rõ những nét lớn và tiêu biểu nhất về văn hóa các dòng họ ở làng Thụy Hà, cần xem xét cơ sở lý luận và thực tiễn về văn hóa dòng họ của người Việt Điều này liên quan đến các khái niệm có liên quan
Trước hết là khái niệm dòng họ Họ (tông tộc), là một đơn vị huyết
thống lớn, là tập hợp các gia đình có chung một ông tổ, có những đặc điểm
chung về sinh học (gien) mang tính di truyền cao, được dân gian đúc kết “Con
nhà tông không giống lông cũng giống cánh” hay “giỏ nhà ai, quai nhà nấy”;
về văn hóa và có ý thức cao về nguồn gốc của mình
Cần phân biệt họ với tên họ Có nhiều người cùng mang tên họ Nguyễn, họ Lê, họ Bùi , đấy chỉ là sự trùng tên họ, không cùng huyết thống, hay cùng ông tổ Trên thực tế, có nhiều trường hợp tên họ không đồng nghĩa với huyết thống, do bị (hoặc được) đổi họ vì những lý do sau (bị truy nã, trả thù; do trùng tên với tên vua, hoàng hậu hoặc miếu hiệu của vua; để khỏi bị dân chính cư chèn ép )
Họ của người Việt được tổ chức theo hai nguyên tắc cơ bản:
- Nguyên tắc trưởng - đích: ngôi trưởng (trưởng họ, hoặc trưởng chi,
hoặc con trưởng trong gia đình) và ngành đích (con của người vợ cả) mang tính cha truyền con nối, là đại diện chính thức của gia đình, dòng họ trên các phương diện Trường hợp ngành trưởng và ngành đích không có con trai hoặc
có nhưng không đảm đương được nhiệm vụ (như bị bệnh tâm thần, hoặc mắc tội bất hiếu bị cả họ lên án), ngành thứ mới được thay thế
- Nguyên tắc cửu tộc (9 đời): lấy một người nam giới làm "mốc" (Êgô)
Trang 12
12
thì trên người đó có 4 đời là Cao (tiếng Việt là Kỵ) - Tằng (Cụ)- Tổ (Ông)-
Phụ (Cha) và dưới người đó có 4 đời: Tử (Con)- Tôn (Cháu) - Tằng tôn (Chắt)
- Huyền tôn (Chút) Tất cả mọi người được sinh ra từ cụ tổ (trong Gia phả ghi
là Thủy tổ, hoặc Tiên tổ, Khởi tổ, Triệu tổ, Tỵ tổ ) đến đời thứ chín đều được
coi như có quan hệ thân thuộc vể dòng máu, nên phải cư xử với nhau trên tinh
thần "Cửu đại hơn ngoại nhân" (họ chín đời hơn người dưng) hay "Giọt máu
đào hơn ao nước lã" Con cháu trong phạm vi chín đời về nguyên tắc không
được kết hôn với nhau
Mỗi họ có hội đồng gia tộc điều hành, gồm trưởng tộc, các trưởng chi
và những người già am hiểu, có uy tín
Họ của người Việt tuy không còn là đơn vị kinh tế (vĩ đã chia thành nhiều gia đình nhỏ với thân phận kinh tế - xã hội riêng) song có sức cố kết rất lớn về tâm lý và tình cảm, nhờ ý thức chung về cội nguồn (có chung ông tổ), được củng cố bởi mộ tổ, gia phả (tộc phả), nhà thờ họ (hay chi họ), ngày giỗ
tổ; tạo ra tâm lý gắn kết dòng họ (Họ chín đời hơn người dưng, Cửu đại hơn
ngoại nhân) Ý thức, tâm lý cố kết này mang nhiều ý nghĩa tích cực, giúp cho
người trong họ giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn, có công to việc lớn (ma chay, cưới xin ), trong tổ chức khai hoang, phát triển sản xuất, khuyến học, đánh giặc, cả hoạt động cách mạng sau này Song ý thức, tâm lý cố kết trên cũng đem lại nhiều tác động tiêu cực như tâm lý cục bộ dòng họ, sự đố
kỵ và mâu thuẫn giữa các cặp dòng họ trong làng (họ đa đinh - ít đinh; họ chính cư - ngụ cư; họ đến trước - đến sau, họ quyền thế - bạch đinh) Ngày nay, các ảnh hưởng tiêu cực này vẫn còn rất đậm nét (chi bộ dòng họ, chính quyền dòng họ)
Về khái niệm “Văn hóa”, đến nay đã có vài trăm định nghĩa Trong luận văn của chúng tôi, văn hóa được hiểu là tất cả những gì do con người sáng tạo ra để đảm bảo cuộc sống cho mình Trước đây, có nhiều cách phân
Trang 13
13
loại các thành tố của văn hóa Ngày nay, văn hóa được chia thành hai thành
tố cơ bản là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Đương nhiên, sự phân chia đó chỉ mang tính chất tương đối, vì mỗi thành tố đều có các yếu tố của thành tố kia
Văn hóa dòng họ được hiểu là tất cả những gì do một cộng đồng huyết
thống tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của cộng đồng mình và để phân biệt với các dòng họ khác Văn hóa dòng họ gồm các thành tố :
- Văn hóa vật thể gồm nhà thờ họ (hoặc chi họ) gắn với các di vật, cổ vật bên trong, mộ tổ, ruộng họ, quỹ họ, tộc phả (hay gia phả)
- Văn hóa phi vật thể gồm ý thức chung về cội nguồn dòng họ, sự cố kết trong dòng họ, các truyền thống mà dòng họ tạo dựng trong quá trình sinh tồn (truyền thống lao động sản xuất, truyền thống học hành, truyền thống đánh giặc giữ nước )
Văn hóa dòng họ được hình thành trên cơ sở môi trường cảnh quan mà dòng họ cư trú, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, vào hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, hệ tư tưởng và văn hóa của đất nước qua mỗi thời kỳ
Văn hóa dòng họ là một thành tố của văn hóa làng, vì mỗi làng gồm nhiều dòng họ, hay các họ tập hợp lại thành làng Văn hóa làng là môi trường
để nuôi dưỡng và phát triển văn hóa dòng họ Đến lượt mình, văn hóa dòng
họ góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hoá truyền thống làng xã
Văn hóa dòng họ như là một thành tố không tách rời với văn hóa tộc người, mà ở đó dòng họ trải qua quá trình hình thành và phát triển đã sản sinh
ra các giá trị, như sự cố kết cộng đồng, ứng xử cá nhân, giáo dục nhân cách, các biểu trưng, phong tục, lễ nghi, sự trao truyền và nhập thân văn hóa giữa các thế hệ…và được gọi chung là “gia phong”
Trang 14
14
1.2 Vài nét về làng Thụy Hà
1.2.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Làng Thụy Hà nay thuộc xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Từ trung tâm thành phố, đi theo đê sông Hồng, qua cầu Thăng Long, theo đường Bắc Thăng Long - Nội Bài khoảng 3 km, tới ngã tư Nam Hồng rẽ phải vào đường 23B, đến chợ Vân Trì rẽ trái theo đường liên xã, đến trụ sở UBND xã Bắc Hồng, lại rẽ trái theo đường liên thôn là vào địa phận làng
Xã Bắc Hồng nằm ở phía Tây Bắc huyện Đông Anh, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 25 km, tiếp giáp với 5 xã
- Phía Bắc giáp sông Cà Lồ, bên kia sông là các xã Phú Minh, Phú Cường thuộc huyện Sóc Sơn
- Phía Nam giáp các xã Nam Hồng, Vân Nội cùng thuộc huyện Đông Anh
- Phía Đông giáp xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh
- Phía Tây giáp thị trấn Quang Minh (huyện Mê Linh)
Trên địa bàn xã có khoảng 3 km của tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai chạy qua; có các tuyến đường liên xã với tổng chiều dài các tuyến đường liên
xã là 8 km; có sông Cà Lồ chạy qua về phía Bắc với tổng chiều dài 5 km; giúp ích cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp của nhân dân trong xã, đặc biệt là vào mùa mưa lũ giúp thoát nước tốt ở những cánh đồng thấp, và là nơi để dự trữ nước tưới cho cây rau mầu vào mùa khô
Với vị trí và địa thế trên, có thể coi Bắc Hồng là cửa ngõ của Tây phần Đông Anh Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, đây là hành lang nối với vùng tự do Ngày nay, đây là cầu nối giữa sân bay Quốc tế Nội Bài với nội thành Hà Nội
Trang 15
15
Trừ mặt Bắc giáp sông Cà Lồ, ba mặt còn lại của làng Thụy Hà giáp canh, giáp cư với các làng khác đều nằm trong xã Bắc Hồng Cụ thể:
- Phía Đông làng giáp thôn Bến Trung
- Phía Tây là cánh đồng Dừa, giáp làng Đồng, xã Quang Minh, huyện Sóc Sơn
- Phía Nam là cánh đồng Rộc, giáp làng Phù Liễn, xã Bắc Hồng
Địa hình của làng cao từ phía Tây đổ về phía Đông làng, phía Tây làng
có đình và chùa, theo các cụ trong làng đây là nơi cao nhất của làng, có hình con rồng nên là vị trí đẹp để đặt chùa và đình
1.2.1.2 Lịch sử hình thành làng Thụy Hà
Từ thuở xa xưa, dòng sông Nguyệt Đức (sông Cà Lồ hiện nay) được hình thành mang phù sa từ đầm Vạt chân núi Tam Đảo đổ về chảy uốn quanh một dãy đồi thấp tạo thành một khu đất lầy lội, vùng này được gọi là Vùng Lầm Sáo Dãy đồi thấp có hình thù tựa một con rồng cuốn, trên đồi có hàng trăm cây thông cổ thụ nổi bật trên rừng rậm, và trên các ngọn cây thông có hàng ngàn con hạc trắng bay về đậu
Vào cuối thời Hùng Vương thứ 18, tướng Cao Sơn đã dựa vào rừng rậm của vùng Lầm Sáo để dùng kế hoả công diệt giặc ngoại xâm, nơi ấy được gọi là Đám Rậm (nay gọi là cánh đồng Rộc) Sau trận đánh và trận cháy lớn
ấy, đám hạc trắng trên ngọn thông lần lượt bay xuống khu Cổ Loa Vì thế, Thục Phán về sau mới chọn Cổ Loa làm Kinh đô của nước Âu Lạc
Từ đó trở đi, khu rừng rậm ở vùng Lầm Sáo có đủ mọi thứ cây phát triển, nhiều nhất là thông, thị (dân trong vùng thường gọi là “cây thụy”) và khu rừng này đã trở thành nơi cư trú của hàng ngàn con quạ đen Chính vì vậy, khi con người đến đây sinh cơ lập nghiệp, phát triển, làng ấy được gọi là làng Ô Oa (quạ đen) Hàng ngàn năm dưới thời Bắc thuộc, làng Ô Oa thuộc
xã Sùng Lão, bộ Vũ Ninh, quận Giao Chỉ Năm 966, trong loạn mười hai sứ
Trang 16là rừng cây thị ở ven sông) Do vậy bài diễn ca trong Gia phả của dòng họ Nguyễn Dương ở làng Thụy Hà có câu:
Làng ta vốn chuyện xưa nay
Xã là Sùng Lão, thôn này Ô Oa Kiều cư quan ở Kim Hoa
Đổi làm biệt xã Thụy Hà danh thơm
Cuối thời Lê đầu thời Nguyễn, theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế
kỷ XIX, Thụy Hà thuộc một xã thuộc tổng Đông Đồ, huyện Kim Hoa, phủ Bắc
Hà, trấn Kinh Bắc (đến năm Minh Mạng thứ ba - 1822, trấn này đổi thành trấn Bắc Ninh; năm thứ 12-1831, đổi thành tỉnh Bắc Ninh)
Tháng Chín(2) năm Bính Tý niên hiệu Tự Đức (tháng 10 năm 1876), làng Thụy Hà cùng các làng xã trong tổng Đông Đồ được cắt về huyện Đông Anh mới được thành lập, thuộc phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (năm 1901 huyện này được cắt về tỉnh Phúc Yên)
Theo sách Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn, vào
năm 1926, làng Thụy Hà có 1073 nhân khẩu Đây là làng có số dân trên trung bình của một làng ở Bắc Bộ [34, tr 460]
Năm 1946, làng Thụy Hà nhập với các làng thuộc xã Chu Lão cũ và thôn Mỹ Nội thuộc xã Sơn Du thành xã Tuyên Nghĩa Năm 1948 sáp nhập các
Trang 17Từ tháng 5 năm 1961, Bắc Hồng cùng các xã trong huyện Đông Anh được cắt chuyển từ tỉnh Vĩnh Phúc về thành phố Hà Nội
Ngày nay, xã Bắc Hồng có tổng diện tích đất tự nhiên là 709,95 ha, dân
số là 11.808 người (dân số tính đến ngày 31/12/2009) Riêng làng Thụy Hà hiện có tổng diện tích là 144,7 ha với 819 hộ, và 3600 khẩu
1.2.2 Điều kiện kinh tế
1.2.2.1 Sản xuất nông nghiệp
Từ xưa, người làng Thụy Hà chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp là chính Trước công cuộc hợp tác hóa những năm 60 của thế kỷ trước, phần lớn diện tích đồng ruộng chỉ cấy được một vụ lúa và làm một vụ mầu Cánh đồng xưa không có hệ thống thủy lợi, nên mùa vụ phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, chưa nắng đã hạn, chưa mưa đã úng nên năng suất lúa rất thấp (thường chỉ đạt 60 - 70 kg /sào) đời sống nhân dân khó khăn
Thụy Hà xưa kia có 36 xứ đồng gồm có: cánh đồng Khanh, đồng Hàn, đồng Rộc, đồng Cửa Bia, đồng Hành, đồng Giải Phướn, đồng Cáo, đồng Quạ, đồng Giếng Ngọc, đồng Xe , các cánh đồng này bao quanh ba phía làng là phía Nam, phía Tây và phía Bắc Do địa hình làng cao từ phía Tây đổ về Đông vì vậy hầu hết các xứ đồng phía Tây đều cao hơn các xứ đồng còn lại
Hiện nay, ở các cánh đồng trũng, dân làng tiếp tục duy trì trồng lúa nước hai vụ một năm; các xứ đồng cao, đất đẹp người dân đã tận dụng trồng
Trang 18Hiện nay, ngoài các hộ kinh doanh các mặt hàng là đồ dùng sinh hoạt thông dụng, truyền thống (lương thực thực phẩm, hàng tạp hóa), trong làng có một số hộ kinh doanh các mặt hàng mới, như đồ gỗ (10 hộ), gas, các dịch vụ cưới xin…
1.2.3 Cơ cấu tổ chức của làng
Trang 19
19
chia thành các xóm, mà chỉ gọi là khu, chỉ có tính chất xác định địa điểm của một gia đình, một di tích trong làng, không có người đứng đầu Trong các thiết chế, giáp - thiết chế đinh nam của các xóm, các họ làm đơn vị tổ chức thực hiện các công việc của cộng đồng
Theo bản hương ước lập lại năm Khải Định thứ bảy (năm Nhâm Tuất, 1922), cũng như theo các bậc cao niên trong làng, trai đinh của 7 dòng họ và được chia làm 4 giáp, mỗi giáp chịu trách nhiệm một góc đình
- Giáp Đông có họ Nguyễn Đức chi trên, họ Nguyễn Duy chi trên, và một số gia đình họ Nguyễn Tiến
- Giáp Tây ban đầu gồm có họ Phạm nhưng do số nhân đinh ít nên khi khởi nghĩa nổ ra thì không còn duy trì được và phải kết hợp với giáp Nam, vì vậy được gọi là giáp Công Tây Nam
- Giáp Nam gồm có các họ Nguyễn Đức chi dưới, Nguyễn Thế, họ Thịnh, một số hộ họ Nguyễn Tiến và một số hộ họ Phạm
- Giáp Bắc gồm các họ Dương, Nguyễn Văn, Nguyễn Duy chi dưới
Theo lệ, con trai được sinh ra phải “đóng đầu đinh” tức làm lễ nhập
giáp Lễ chỉ gồm 1 cân thóc, phải đóng trước ngày mồng 10 tháng Mười Nếu không đóng hoặc đóng chậm sẽ không được ghi tên trong sổ hàng giáp, chưa được hưởng các quyền lợi Ngoài được dự các bữa tiệc của giáp, còn được đi
ăn cỗ lệ ở các đám ma ở các giáp khác Giáp nào có người mất sẽ phải lo hậu
sự và 3 giáp còn lại được ăn cỗ lệ Cỗ lệ thường ngồi 4 người, cỗ gồm có 4 miếng thịt lợn, 4 miếng dồi lợn, 4 miếng lòng, rau chuối, tương và cút rượu, đặc biệt không thể thiếu 4 đồng xu của 4 người
Các giáp phải luân thứ để lo việc làng theo thứ tự liên năm là Đông - Tây - Nam - Bắc Mỗi giáp phải giữ đương cai cho làng một năm, từ 25 tháng
Trang 20
20
Chạp năm trước đến cùng thời điểm đó của năm sau Mỗi giáp có quyển sổ riêng để biên chép các công việc, tục lệ của giáp
Trai đinh của giáp từ 50 tuổi trở lên được gọi là cụ lão, mỗi năm một
lần, vào ngày Kỳ yên tháng Hai, mỗi cụ lão sửa một cỗ trai bàn, làng chiết can lấy mỗi cụ 5 hào để thay cho việc sửa lễ ấy Cứ đầu tháng Hai phải nạp tiền
Dưới tuổi lão chọn 4 đinh nam, gọi là lềnh để lo việc tế tự hoặc rước,
sửa soạn các lễ vật ở đình Giáp nào gánh đương cai thì lấy người lềnh nhất
phải đảm nhiệm đương cai để làm các việc: viết văn tế, các ngày tế tự văn ấy;
giữ đồ công của làng, cùng các lềnh khác của giáp lo các việc của làng giao cho; phải sửa lễ vật cho các lễ Thường tân, lễ tế Thần nông (Hạ điền), lễ Thượng điền (lên đồng), mỗi lễ một cân gà, một cân xôi, cùng trầu rượu Đương cai được cày ruộng, song phải xuất tiền mỗi thứ ruộng năm đồng bạc ngay từ ngày nhận ruộng
Trong các người lềnh của giáp đương cai, chọn một người làm cai đám,
giữ việc đèn nhang ngày đêm suốt năm ở đình, miếu, nhất là dịp làng vào đám Cai đám được làng cấp năm đồng bạc
Dưới bốn người lềnh có 18 người chạ, lo việc rước sách các đồ công
của làng Họ chịu sự kiểm soát của người đương cai giáp Lễ (hội Tư văn) Người ấy phải điểm chuông trống các tuần tế, các người ở điều này những tuần tế tối được hưởng lộc thánh, mỗi cỗ là một cân gà, một cân xôi, dầu rượu tùy lễ ấy
Khi làng vào đám, mỗi giáp phải chọn 2 người, từ người cao tuổi nhất
trở xuống để phụng sự đương trực, giữ việc tế tự ngày nhập tịch, gọi là quan
viên nội Nếu gọi xuống đến tuổi 18 mà không ai nhận, thì bốn người lềnh ở
trên phải khéo cử từ những người nhiêu Quan viên nội không được về nhà trong những ngày hội Chủ tế được cắt cử từ những người quan viên nội này
Trang 21
21
Trong 6 ngày hội, giáp đương cai làm chủ tế các ngày mồng 8, mồng 9, ngày 13; giáp thứ hai ngày mồng 10, giáp thứ ba ngày 11, giáp thứ tư ngày 12 Những tuần tế nào có quan viên ngoại thì quan viên nội chỉ phải tế chủ và bồi bái Tuần tế nào không có quan viên ngoại thì quan viên nội phải giữ cả các việc như lệ thường Tối sớm mồng 8, quan viên nội phải cắt cử nhiêu vào rước bẩy cỗ hậu ra đình phối tế Tối hôm tống tịch lại phải rước về Từ sáng ngày mồng 9 đến tối ngày 12 mỗi ngày các quan viên nội được thừa huệ hai cân xôi, hai cân gà, dầu rượu tùy lễ ấy [28]
Các quy định trên được tuân thủ nghiêm ngặt Theo tục, ai làm sai sẽ bị phạt vạ bằng 1 cút rượu, 3 quả cau, 1 lá trầu, người trưởng họ phải ra làm lễ tạ lỗi xin cho người của họ mình về trước sự chứng kiến của dân làng Điều này cho thấy vai trò to lớn của người đứng đầu dòng họ, trưỏng tộc phải có trách
nhiệm nhắc nhở gìn giữ sự hoà thuận trong họ mình
Bộ máy quản lý thời phong kiến của làng Thụy Hà vẫn gồm hội đồng
kỳ mục và bộ máy chức dịch Thành viên đương chức của hội đồng kỳ mục được miễn tạp dịch và các thể lệ Lý trưởng, phó lý thi hành việc quan và coi xét công việc ở trong làng khi mãn lệ không mắc lỗi được ban ngôi cựu lý phó trưởng, tham gia hội đồng kỳ mục
Cũng như ở các làng quê Việt khác, trong làng Thụy Hà xưa còn có hội
Tư văn (dân làng gọi là giáp Lễ) - tổ chức của những người có trình độ Nho
học, đảm nhiệm các công việc trọng đại nhất của thờ thần, như soạn văn tế, tế
lễ Khi làng vào đám, người giáp Lễ được đi tế ở đám và các tuần tế tối, cùng tuần tế sáng ngày 13, gọi là quan viên ngoại Trong các dịp này, họ được thừa hưởng lộc thần là một cân gà, một cân xôi, trầu rượu
Ngoài ra còn có hội kèn trống đương chức, dân làng gọi là giáp Tân nhạc; hội kèn trống của những người không còn đảm nhiệm chức vụ, gọi là giáp Cựu nhạc Hai hội này chấp dịch khi làng vào đám chính tiệc
Trang 22
22
Về bảo vệ an ninh, theo bản hương ước nêu trên, giáp nào đương cai trong năm phải bầu lấy một người có gia sản để làm thủ phiên, tuần phòng nội hương ấp, ngoại đồng điền, mất đâu phải đền theo thời giá Thủ phiên chọn trai đinh trong làng làm tuần tráng Thủ phiên và các tuần tráng được làng cho mỗi năm 100 đồng bạc, trích từ tiền sương túc (mỗi sào ba tiền, mỗi nhà 7 tiền, nhà có trâu 2 hào 5 tiền, nhà có bò 1 hào 5 tiền) Số tiền sương ấy các gia đình, các chủ ruộng phải nạp trước cho làng Vụ tháng Năm (vụ chiêm) nạp 1 nửa, vụ tháng Mười (vụ mùa) nạp 1 nửa để làng phát cho thủ phiên mỗi tháng 5 đồng bạc, trừ vào sổ 100 bạc công ấy, đến cuối năm còn thiếu bao nhiêu thì làng phát cho cả Ngày nhận chức (ngày
11 tháng Giêng), đương thứ thủ phiên phải làm lễ trình thành hoàng ở đình
và phải đãi kỳ mục, quan viên nội; Khi mãn nhiệm được chu toàn các công việc, làng thưởng thêm 5 đồng bạc [28]
Hoạt động của các thiết chế tổ chức và các mặt khác trong làng được thể chế hóa trong hương ước Tại Thư viện Thông tin KHXH hiện còn lưu bản hương ước của làng, lập ngày 14 tháng Chín năm Khải Định thứ bảy (12 -
10 - 1922), viết bằng chữ Nôm, ký hiệu HƯN 886 Điều đáng lưu ý của bản hương ước này là, tuy được lập sau cuộc cải lương hương chính năm 1921, song văn bản không soạn theo mẫu của chính quyền bảo hộ Pháp, tức không
có phần “Chính trị”, mà chỉ có phần “Phong tục” Theo PGS TS Bùi Xuân Đính, hiện tượng này rất ít xảy ra, giống như trường hợp bản hương ước làng Trà Cổ (nay thuộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh), lập năm Bảo Đại thứ tư (năm 1929)
Văn bản hương ước gồm 29 trang, trong đó phần có nội dung các điều khoản từ trang 2 đến trang 19 (phần còn lại là danh sách những người ký tên) Nội dung tóm tắt các điều khoản như sau :
Trang 23
23
- Từ điều 1 đến điều 9: nói về tổ chức giáp
- Điều 10 quy định về bán “nhiêu” khi làng cần tiền để tu bổ đình chùa
- Điều 11, 12 quy định tiêu chuẩn của các kỳ mục, chức dịch
- Điều 13 về các loại ruộng đất công, các tài sản công của làng, số lượng và nguyên tắc sử dụng
- Từ điều 14 đến điều 27 quy định về các lễ tiết thờ cúng trong năm
- Các điều 28, 29 là điều khoản thi hành
Bên dưới là danh sách những người đứng tên, gồm các tộc biểu, các chức dịch, các lão nhiêu, đại diện các họ [28]
1.2.3.2 Về chế độ ruộng đất công và tài sản công của làng
Theo bản Hương ước năm Khải Định thứ bảy nêu trên, làng Thụy Hà còn một số lớn diện tích ruộng đất công và các tài sản khác Cụ thể như sau:
Về ruộng đất công, có các loại ruộng
- Ruộng lãnh (ruộng lính) 26 mảnh, cộng 3 mẫu 2 sào 8 thước ở địa
phận của làng; lại có 6 mảnh cộng 6 sào ở đồng làng Phù Liễn Làng cho đấu thầu dùng vào các việc chung
- Ruộng ngoài 1 khu phân cho bốn giáp cày cấy, người lềnh được cày, phải sửa lễ sóc vọng
- Các loại ruộng hậu gồm:
+ Ruộng hậu thần, 4 thửa, cộng 1 mẫu 10 thước; lại có 4 thửa cộng 6 sào ở đồng làng Phù Liễn
+ Ruộng hậu Nghĩa(3), 2 mảnh cộng 5 sào 2 thước
+ Ruộng hậu Trạc 4 mảnh cộng 9 sào 7 thước
+ Ruộng hậu Đồ 2 mảnh cộng 2 sào 7 thước
+ Ruộng hậu Cái 4 mảnh cộng 1 mẫu 2 thước
Trang 24
24
+ Ruộng hậu tự (ruộng của người đặt hậu chùa?) 2 mảnh cộng 3 sào 3 thước + Ruộng phối tự 1 mảnh 1 sào
+ Ruộng Phật đản 5 mảnh cộng 4 sào 10 thước 9 tấc
+ Ruộng kị tự (ruộng của người gửi giỗ ở chùa) 4 mảnh cộng 1 mẫu 1 sào 5 thước
+ Ruộng kỵ tự vào tháng Mười 1 mảnh 2 sào 2 thước
Các loại ruộng hậu trên đây làng cho đấu giá, đặt lễ mỗi sào cổ tiền 6 mạch; ai nhận thầu ruộng nào thì phải bỏ tiền sửa lễ ấy Các ngày lễ ấy có quyển thu riêng ở người đương cai giữ
- Các loại ruộng thờ thần, phục vụ các lễ tiết thờ cúng trong năm gồm: + Ruộng đèn nhang 6 mảnh, cộng 5 sào 14 thước và 1 mảnh ruộng ven sông 5 sào, hoa lợi chung ngọn đình cho người cai đám được ăn
+ Ruộng Thường tân (cho lễ cơm mới) 5 mảnh cộng 4 sào 3 thước, cho người đương cai cày, phải xuất tiền và sửa lễ đã nói điều thứ tư ở trên
+ Ruộng Triều y (dùng vào việc thay áo mũ cho thần) 1 mảnh 7 sào 5 thước cho người lềnh giáp đương cai cày, xuất tiền sửa lễ thờ, thể lệ đã có quyển thu riêng do người đương cai giữ
+ Ruộng sóc vọng (làm lễ các ngày mồng 1 và ngày Rằm hàng tháng) 7 mảnh cộng 3 sào 14 thước và ruộng ngòi đã nói ở trên, cho người lềnh bốn giáp cày, phải bỏ tiền sửa lễ sóc vọng, và lễ Nguyên đán trong năm, mỗi lễ sửa lễ chay, cùng lễ ngày 13 tháng Bảy giá 5 đồng bạc
+ Ruộng Bả lềnh (ruộng cho người gánh vai lềnh) 1 mảnh 2 sào, 5
thước cho người nhận ăn nhiêu, làng cho thêm tiền 2 đồng bạc nữa
+ Ruộng tự tăng (ruộng cấp cho nhà chùa) 32 mảnh cộng 3 mẫu 5 sào, cho người nhận làm tự tăng cúng Phật được cày
Trang 25- Ruộng của các giáp, các hội có :
+ Ruộng giáp Đông 14 mảnh cộng 2 mẫu 7 sào 10 thước
+ Ruộng giáp Tây Nam 13 mảnh cộng 1 mẫu 6 sào 10 thước
+ Ruộng giáp Bắc 6 mảnh cộng 1 mẫu 1 sào
+ Ruộng giáp Lễ 11 mảnh cộng 3 mẫu 3 sào 2 thước
+ Ruộng tư văn hàng huyện 4 mảnh cộng 7 sào 7 thước
+ Ruộng giáp Tân nhạc 13 mảnh cộng 2 mẫu 5 sào 5 thước
+ Ruộng giáp Cựu nhạc 34 mảnh cộng 3 mẫu 9 sào 9 thước
Từ khoản này trở lên đến khoản thứ 28, làng bán công điền lấy mỗi sào
cổ tiền 2 quan, làng chi tiền lễ cho mỗi sào 8 mạch
Ngoài ra còn có 7 mảnh cộng 4 sào 12 thước cho người mõ làng được cày cấy [28]
Về các tài sản chung của làng có:
- Chằm để bán trương (đấu thầu), ba năm làm một hạn
- Rặng cây, người thủ phiên có trach nhiệm trông coi, không được cho
ai bẻ cành, đẵn cây, nếu cho ai bẻ lá đẵn cây, làng bắt tội thủ phiên
- Bãi hoang thổ để chăn trâu bò
- Bãi chùa Ngô để bán trương
- Ruộng ải (ven) sông, để bán trương 3 năm làm một hạn
- Bờ chân sông để bán trương 3 năm làm 1 hạn
- Bãi bên sông để bán trương 3 năm làm 1 hạn [28]
Trang 26
26
1.2.3.3 Cơ cấu tổ chức của làng hiện nay
Ngày nay, Thụy Hà là một thôn của xã Bắc Hồng Đây là thôn có dân
số đông thứ nhất và diện tích lớn nhất trong tổng số 6 thôn Cơ cấu tổ chức của làng tuân thủ những nguyên tắc chung của hệ thống chính trị, kết hợp một
số yếu tố truyền thống còn bảo lưu
Xóm: ngày nay làng chia làm 8 xóm, gọi theo số thứ tự, hình thành theo
đội sản xuất của hợp tác xã nông nghiệp cũ Mỗi đội có đội trưởng, thư ký
Cả làng (thôn) hiện có một chi bộ với 90 đảng viên Ban quản lý thôn gồm bí thư chi bộ phụ trách chung, trưởng thôn chịu trách nhiệm mọi công việc hành chính, một phó trưởng thôn kiêm công an viên và đội trưởng các đội sản xuất
1.2.4 Các di tích thờ cúng của làng
1.2.4.1 Đình làng
Trước năm 1948, làng Thụy Hà còn ngôi đình trên gò Phượng ở khu Tây của làng (trong khuôn viên trụ sở của thôn hiện nay) Đình nhìn hướng Nam Không rõ đình được dựng từ bao giờ, song theo một số văn bản chữ Việt ghi theo hồi ức của các bậc cao niên trước đây, thì đình được dựng từ đầu thế kỷ thứ VII Khoảng niên hiệu Khánh Đức (1649 - 1652), trong làng có một phụ nữ họ Thịnh (Trịnh) lấy chúa Trịnh, trở thành hoàng phi, Bà đã về quê bàn với các bậc kỳ lão trong làng cho chuyển đình về phía góc Tây Bắc làng Đình nhìn hướng Tây, ghé Tây Nam
Đến cuối thế kỷ thứ XVIII, đình nằm trên khu đất rộng khoảng hơn
3000 mét vuông, kết cấu chuôi vồ, gồm tiền tế và hậu cung Quanh đình có thành cao, hào sâu Cổng đình cao bề thế, cách xa hàng km vẫn thấy ngọn cột đồng trụ Trong đình và phía ngoài có nhiều cây cổ thụ to, hai người ôm không xuể
Trang 27
27
Cuối năm 1949, giặc Pháp chiếm đóng và bình định vùng Đông Anh,
để không cho địch lợi dụng đình làm chỗ trú quân, ngôi đình bị tiêu thổ
Năm 1951, dân làng dựng lại đình trên nền cũ, mái lợp tôn Song đến năm 1952, đình lại bị lính Pháp phá bỏ
Hòa bình lập lại, do không có điều kiện dựng lại đình nên khu đất đình được dùng vào các mục đích của tập thể Đến năm 1990, đình được dựng lại, song không phải trên khuôn viên cũ mà ở phía Đông của Bãi Chùa Đình nhìn hướng Tây, gồm tiền tế 5 gian và hậu cung Ngôi đình hoàn toàn mới song vẫn được xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2006
Đình Thụy Hà thờ 4 vị thành hoàng là Cao Sơn, Hỗn Độn, Áp Quán và
Tá Phụ Minh Thiên
Thần Cao Sơn, trong bản khai thần tích thần sắc năm 1938 của các chức dịch xã Thụy Hà chỉ có đoạn ngắn Ngài là nhân thần, không có bia hiệu
gì cả Ngày sinh, ngày hóa, ngày hiển thánh và công đức giúp dân, dẹp giặc
về đời nào, đều không có bia, sự tích [51]
Trên thực tế, Cao Sơn được thờ ở nhiều làng và hiện có nhiều thuyết khác nhau về lai lịch vị thần này:
- Đa số các truyền thuyết cho rằng Cao Sơn có tên là Nguyễn Hiền và
em ruột là Nguyễn Sùng (tức Quí Minh), là bộ tướng thời vua Hùng, là con chú con bác với Sơn Tinh, là người trang Thanh Uyên (nay là xã Thanh Uyên, huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú) Khi Thủy Tinh đem quân đi đánh Sơn Tinh
và tộc Âu vây đánh nhà nước Văn Lang của Vua Hùng, thần Cao Sơn đã có công lớn cùng Sơn Tinh đánh thắng thủy tặc, bảo vệ nhà nước Văn Lang
- Một truyền tích khác ghi nhận Cao Sơn là một thầy thuốc giỏi thời Hán trị bệnh cứu người, ông đã cứu độ chúng sinh, dập tắt được dịch bệnh và được nhân dân tôn vinh thờ cúng
Trang 28
28
- Thần Cao Sơn là con Lạc Long Quân và Âu Cơ và là một trong 50 người con theo cha lên núi, sau đó Cao Sơn trở thành thuộc tướng thân cận của Sơn Tinh (tức Thánh Tản Viên) Người đã cùng Sơn Tinh đánh lại Thuỷ Tinh và thủ lĩnh của tộc người Âu khi họ tấn công vào nước Văn Lang Do
có công với nước nên về sau Cao Sơn được thờ là vị thần thứ hai trong đền ở núi Tản Viên
Đến nay, các bậc cao niên làng Thụy Hà vẫn kể cho con cháu nghe truyền thuyết rằng, thời Hùng Vương khi nước Văn Lang bị thù trong giặc ngoài nhòm ngó, có vị Lạc tướng chuyên coi việc binh, thấy vị trí đất Thụy
Hà có nhiều điểm thuận lợi, nên đã chọn làm nơi đóng binh, ngày đêm luyện tập quân sĩ Rất đông trai làng theo ông đánh giặc Phía Nam làng Thụy Hà, tại khu Đồng Rộc diễn ra trận quyết chiến với giặc Vị Lạc tướng đã lợi dụng khu rừng rậm để dùng kế hỏa công Ông đã cùng quân sĩ bài binh bố trận đốt xung quanh, dồn giặc vào vị trí xung yếu để tiêu diệt Thắng trận lẫy lừng, ông khao thưởng quân sĩ và các dòng họ ở làng Thụy Hà Vị Lạc tướng đó là thần Cao Sơn Nhớ công lao một thuở giữ nước, dân làng tôn vinh ông làm
thành hoàng, về sau, thần được sắc phong là “Thượng đẳng thần” Vì vậy,
trong kỳ hội tháng Giêng, làng tổ chức trò “Đám rậm” diễn lại sự tích thành hoàng dẫn dân làng đi đánh giặc
Lưu truyền dân gian trên đây được khẳng định lại trong tấm bia còn lưu
ở đình, lập tháng Giêng năm Canh Thìn, niên hiệu Chính Hòa (tháng 2 năm
1700) Văn bia có đoạn “Năm Canh Thìn, xã Thụy Hà, huyện Kim Hoa ghi lại
sử làng, về vị Lạc tướng Cao Sơn có công trừ giặc Hán phương Bắc, tại địa danh cổ Ô Oa”[46]
Hỗn Độn và Áp Quán là hai bộ tướng của Cao Sơn, không rõ lai lịch Ngoài ba vị thần trên, đình Thụy Hà còn thờ Tá Phụ Minh Thiên là người ở thế kỉ thứ VI, thời Hậu Lý Nam Đế, khi nhà Lương sang xâm lược
Trang 29- Sắc ngày ngày 15 tháng Một năm Minh Mệnh thứ 21 ( 8 - 12 - 1840)
- Sắc ngày 13 tháng Chạp năm Thiệu Trị thứ sáu (29 - 01 - 1847)
- Sắc ngày 20 tháng Chạp năm Tự Đức thứ ba (21 - 01 - 1851)
- Sắc ngày 24 tháng Chạp năm Tự Đức thứ 33 (23 - 01 - 1881)
- Sắc ngày mồng một tháng Bảy năm Đồng Khánh thứ hai (19 - 8 - 1887)
Các sắc phong đều ghi thần được phong các mỹ tự là Hiệu linh, Đôn
tĩnh, Hùng tuấn, Trác vĩ, Cao Sơn Thượng đẳng thần [11]
2.1.4.2 Chùa làng (Tổ Long tự)
Từ xa xưa, ngôi chùa cổ làng Thụy Hà là miếu nhỏ, lợp tranh, tọa lạc ở phía trước đình khoảng 50m, ghé về phía Đông trước hội trường mới thành lập của thôn Thụy Hà hiện nay
Chùa tọa lạc trên khu đất hình một con rồng nằm ôm lấy làng Liền kề bên phía Bắc chùa là một bãi thoải (gọi là tóc rồng) Trước đây, là một rừng cây rậm rạp, cây to người ôm không xuể, phía dưới có vạt ruộng gọi là giếng mạch rồng phun nước cho dân làm ăn thuận lợi Hai bên chùa có giếng thiên gọi là (mắt rồng), từ đây có một đường hầm thông vào chính giữa chùa
Từ cửa chùa là bãi thoải, xuôi về phía Nam là thân rồng, dài khoảng 200m vòng uốn khúc về phía Đông đều là bãi nổi Từ xa nhìn vào, thấy hình một con rồng nổi cao hơn chừng 5m đang ôm lấy làng
Cánh đồng phía Nam trước chùa được gọi là đồng Phướn, có ý nghĩa là bóng ngọn phướn cả của chùa che mát cho dân Hương thôn thêm thịnh vượng Hiện nay, cánh đồng này vẫn mang tên đồng Giải phướn
Trang 302.1.4.3 Văn chỉ và truyền thống học hành, đỗ đạt của làng
Thụy Hà xưa cũng là làng có nhiều người đỗ đạt, có 1 tiến sĩ và nhiều người đỗ trung khoa, tiểu khoa
Vị tiến sĩ của làng Thụy Hà là Nguyễn Cơ (1678 - ?), đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu Vĩnh Thịnh đời Vua Lê Dụ Tông (năm 1712), làm quan đến chức Thừa chính sứ, Tự Khanh, được tặng hàm Triều liệt đại phu
Theo ghi chép của các bậc cao niên trong làng, Thụy Hà còn có 8 hương cống thời Lê (không rõ họ tên); 28 người là sinh đồ (tú tài), phủ sinh, song đều không có tên tuổi cụ thể
Trước đây, làng Thụy Hà có văn chỉ ở phía Tây Nam làng Đây vừa là văn chỉ làng, vừa là văn chỉ hàng huyện Theo một văn bản do các bậc cao niên ghi lại hiện còn lưu ở đình cho biết, vào năm Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị (năm 1843), huyện Kim Anh lập văn chỉ ở làng Thụy Hà để thờ thánh hiền và 17 vị tiến sĩ của huyện; đặt nghi lễ theo “quốc tế” Quốc Tử Giám Giám sinh Dương Hào là người hiến đất cho làng dựng văn chỉ Phần lớn những người công đức để hành lễ vào các dịp xuân thu nhị kì là những vị nho khoa trong làng gồm:
- Quốc Tử Giám Giám sinh họ Dương, tự là Thọ Sơn
- Bản phủ Phủ sinh, tự Thạch Nham, hiệu Hách Sư, họ Dương
- Quan viên phụ, tự Phúc Thiêm, hiệu Vô Ý, họ Nguyễn Duy
Trang 31- Tướng sĩ lang Giảng dụ, hiệu Chuyết Trai, họ Dương
- Tương sĩ lang, Thượng bảo tự, Tự thừa, họ Dương
- Tri huyện Hữu Lũng, hiệu Ước Đường, họ Dương
- Tương sĩ lang, Huấn đạo phủ Triệu Phong, hiệu Bác Đình, họ Dương
- Công bộ viên ngoại lang, hiệu Hoàn Vũ, họ Dương
- Nho sinh trúng thí, hiệu Phương Khê, họ Dương
- Cẩn sự lang, Thượng bảo Tự thừa, hiệu Trung Vũ, họ Nguyễn Duy Ngày mồng 3 tháng Ba năm đầu niên hiệu Mậu Thân (06 - 4 - 1848), tư văn hàng huyện họp tại văn chỉ Thụy Hà, lập điều lệ của hội, khắc bia ghi danh 17 vị tiến sĩ và 13 vị đỗ trung khoa, tiểu khoa đóng góp tiền của dựng văn chỉ Tú tài Nguyễn Tướng công phụng thảo văn bia
Ngày 21 tháng Hai năm Ất Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 18 ( - 3 - 1865), lập lại thể lệ tế lễ Văn bia do Tú tài Lê Văn Hải người Gia Thượng, Kim Anh soạn Theo đó, hai xã Phù Xá và Thạch Lỗi nhận tiền để sửa lễ
Theo các bậc cao niên, văn chỉ có kết cấu chữ “Nhị”, tòa chính thờ Khổng Tử, Chu Văn An và các vị tiến sĩ Tại đây có bệ đá, cùng với 5 bia đá (2 bia đá khắc tên các vị tiến sĩ được thờ, 1 bia khắc tên những người hiến ruộng cho văn chỉ, 2 bia ghi thể lệ cúng lễ) Đáng tiếc, các bia này không còn, sau khi văn chỉ bị phá vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước
Trang 32- Từ mồng 8 đến 13 tháng Giêng là kỳ hội chính của làng
- Ngày mồng 7 tháng Hai, lễ Kỳ yên và khám địa giới làng
- Ngày mồng 2 tháng Ba, kỳ phúc Hạ điền (xuống đồng), mở đầu
vụ làm mùa
- Ngày 13 tháng Bảy, kỳ phúc Thượng điền (lên đồng), kết thúc vụ
gieo cấy mùa
- Ngày 13 tháng Tám, kỳ phúc Cầu hòa
- Ngày 25 tháng Một, tiệc Chạp vua, mở đầu cho tháng các dòng
họ chạp mộ (sửa sang, đắp lại mồ mả, bốc mộ)
- Ngày 25 tháng Chạp, tiệc Tất niên, kết thúc năm cũ, chuẩn bị
đón năm mới [51]
Quan trọng nhất là lễ thức tháng Giêng, gắn với hội làng, tổ chức trong
5 ngày từ mồng 8 đến 13 tháng Giêng Nguyên do là Đức Cao Sơn dẹp giặc
và thắng trận tại cánh đồng Rộc (phía Nam làng) vào ngày mồng 8 tháng Giêng rồi đóng doanh trại lưu lại nơi đây 5 ngày để mở hội mừng công thắng trận và ổn định dân binh Đến ngày 13 tháng Giêng người cùng nghĩa quân rời Thụy Hà để lên đường
Công tác chuẩn bị hội của các dòng họ náo nức từ những ngày trước khi lễ hội diễn ra Các dòng tộc chọn người tập nghi thức tế lễ, chọn thanh niên rước kiệu, phân chia công việc cho từng thành viên Tất cả nhộn nhịp trong tiếng trống, tiếng chiêng tạo nên không khí rộn rã như kích thích thêm
sự hứng khởi của dân làng
Trang 33
33
Ngày mồng 7 tháng Giêng, làng tổ chức nghi thức “sản tước” (việc san
đường) để “rước đám rậm” Các trai đinh trong các họ tới tuổi 49 đều phải tham gia
Sáng mồng 8 tháng Giêng, sau lễ khai mạc, tiến hành lễ rước, khởi hành từ sân đình làng và đi theo thứ tự
- Đi đầu là cờ Tổ quốc, tiếp theo là 10 hàng cờ thần do các bà mặc áo dài đủ màu rước
- Sau đội cờ thần là đội 10 người cầm đồ tế khí gồm bát bửu, đại đao, dùi đồng, chấp kích
- Đi theo sau là đội nhạc lễ gồm: trống cái, chiêng (trống đi bên phải, chiêng đi bên trái)
- Tiếp theo là 8 người ở các giáp Đông, Tây, Nam, Bắc vác gươm trường
- Đi tiếp theo là 8 người nam giới rước kiệu bành, họ phải mặc áo nâu, thắt đai vàng
- Kiệu bát cống đi cuối cùng rước bài vị của thánh Cao Sơn
Đám rước ra đường lớn của làng, vòng quanh hồ, vào bãi đất rộng bên trong cánh đồng Rộc rồi hạ kiệu Đấy là đám Rậm, tục truyền là nơi xưa kia thần Cao Sơn chỉ huy quân sĩ đánh nhau với giặc Hán Kiệu thánh hạ bên trái (theo hướng Bắc), kiệu lễ hạ bên phải Các quan viên làm lễ thần và đọc văn
tế Làm lễ tế thần xong, là nghi thức cướp gươm diễn lại tích xưa, có 6 người chia làm hai đội, 3 người mặc áo vàng, vấn khăn đen (quân ta), 3 người mặc
áo đỏ quân địch Một quan viên tư văn đọc văn tế và lời xướng “đám rậm”
Khí trung quang nhạc
Đức phối càn khôn
Trang 34Xuất quân trừ tiếu
Cựu lệ thường niên
Dứt lời xướng, hai bên tổ chức múa gươm diễn lại tích xưa hay còn gọi
là “đánh rậm” Quân áo đỏ ở bên trái, quân áo vàng ở bên phải Ba hồi chiêng trống vang lên Hai đoàn quân đặt gươm trước bàn thờ thần và lễ thánh (lùi ba bước và vái hai lần) Dàn quân ra đấu theo ba hiệp, mỗi hiệp có các động tác vùng ngang gươm, giương gươm và chúc gươm Hết mỗi lần đoàn quân lại đuổi nhau
Đánh rậm xong lại rước về đình Người các họ trở về nhà thờ tổ để chuẩn bị cho đám rước bát hương của tổ họ ra đình Khắp làng trên xóm dưới tưng bừng nhộn nhịp
Buổi chiều, lễ rước bát hương các dòng họ diễn ra trong không khí tưng bừng, náo nhiệt và phấn khởi Nguồn gốc của tục rước thờ và diễn trình lễ
rước, chúng tôi trình bày ở Chương 2
Trang 35
35
Các ngày sau đó có các chầu tế, các trò chơi dân gian Buổi tối có các gánh hát (tuồng, chèo, ngày nay là Quan họ) do làng mời về hát phục vụ dân làng Ngày nay có thêm các trờ chơi, cả dân gian và hiện đại, đặc biệt là thi đá bóng giữa các dòng họ
Sau 5 ngày, đế chiều 5, sau chầu tế giã của quan viên, các dòng họ tổ chức rước bát hương tổ từ đình về nhà thờ dòng họ, kết thúc kỳ hội
Những tư liệu trên đây cho thấy, Thụy Hà là một trong sáu thôn thuộc
xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh, nằm về phía Bắc của Thủ đô và cũng là cửa ngõ phía Tây của huyện Đông Anh Đây cũng là mảnh đất nuôi dưỡng tinh thần hiếu học và yêu quê hương đất nước Đặc biệt Thụy Hà còn là nơi ghi dấu chiến công của thánh Cao Sơn cùng trai đinh trong các dòng họ, giết giặc bảo vệ làng xóm Tưởng nhớ công ơn của thánh và các vị tổ tiên, hằng năm làng tổ chức hội, diễn lại nghi thức đánh rậm, cũng là hình thức giáo dục cho các thế hệ con cháu sau này ý thức về cội nguồn Với nền kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong đời sống sinh hoạt, cùng với cơ cấu tổ chức làng xóm theo phe, giáp Bên cạnh đó là các giá trị văn hóa vật thể, các di tích vẫn còn được bảo lưu như: đình, chùa, văn chỉ, hương ước, gia phả ; đặc biệt là ý thức về cội nguồn ăn sâu trong tâm thức dân làng, mang lại một nét riêng của một làng quê Bắc Bộ Chính những điều này cho thấy văn hóa các dòng họ làng Thụy Hà được hình thành trên nền của văn hóa làng và quay lại bổ sung cho văn hóa làng
Trang 36
36
Chương 2 DIỆN MẠO VĂN HÓA CÁC DÒNG HỌ NGUYỄN LÀNG THỤY HÀ
2 1 Sơ bộ về các dòng họ làng Thụy Hà
2.1.1 Lịch sử tụ cư của các dòng họ
Làng Thụy Hà từ xưa là nơi sinh sống của 7 dòng họ, gồm 5 họ
cùng mang tên “Nguyễn” là Nguyễn Duy, Nguyễn Đức, Nguyễn Văn,
Nguyễn Thế, Nguyễn Tiến và hai họ Dương, Thịnh Họ Nguyễn Duy về sau lại chia thành hai họ Nguyễn Duy (chi Trên), Nguyễn Duy (chi Dưới)
Họ Nguyễn Duy
Gia phả dòng họ chép, cụ tổ là Phúc Lương, mất vào ngày mồng 10 tháng Bảy Cụ Lương sinh hai người con trai là Phúc Thịnh (con trưởng, giỗ ngày 11 tháng Giêng) và Phúc Mỹ (giỗ ngày 20 tháng Tám) Tuy là trưởng, nhưng cụ Phúc Thịnh lại sang làm con nuôi bà cô, không ở nhà của cha mẹ
mà để lại cho em là Phúc Mỹ Vì thế, về sau, người của hai chi này đều tôn nhau là anh (!) [38]
Trang 37+ Đời thứ 2: có cụ Phúc Thịnh (con trưởng, giỗ ngày 11 tháng Giêng),
cụ Phúc Mỹ (con thứ, giỗ ngày 20 tháng Tám)
+ Đời thứ 3: cụ Phúc Hiền, giỗ ngày 10 tháng Mười Một Cụ bà hiệu là
Từ Tiến
+ Đời thứ tư: cụ Pháp Trang, hiệu là Huyền Thông, giỗ ngày 20 tháng
Tư Cụ bà hiệu Từ Tập
+ Đời thứ 5: cụ Phúc Tùng, hiệu Năng Tùy, giỗ ngày 20 tháng Ba, cụ
bà hiệu Diệu Hảo
+ Đời thứ sáu: cụ Phúc Di, giỗ ngày 20 tháng Hai Cụ bà hiệu Thuần Tĩnh
+ Đời thứ 7: cụ Trân Tính, giỗ ngày 10 tháng Sáu Cụ bà là hiệu
Trang 38Giáp bảng liên danh, huynh cập đệ
Gia phong truyền kế, tử nhi tôn
(Bảng vàng nêu tên, anh em cùng đỗ đạt, Cháu con nối tiếp nếp gia phong)
Tuy nhiên, về sau, dòng họ này không phát triển, nhất là về mặt đinh
số, người trong họ coi là “kém nước” Có thời kỳ, rất ít đinh, nên phải huy động cả phụ nữ đi rước trong ngày rước bát hương tổ ra đình
Theo nghi lễ thờ tự, đến nay dòng họ Nguyễn Duy thờ cụ tổ là cụ Phúc Lương và cụ thân sinh ra cụ Nghè là cụ Văn Hội và cụ Phúc Thiêm
Tính tới năm 2012, dòng họ có 175 suất đinh
Họ Nguyễn Đức
Theo phả đồ dòng họ, vào thời Lê Trung Hưng, họ có chữ đệm là Nguyễn Đình, sau đó đổi lại là Nguyễn Đức Cụ tổ là Chánh Tín, quê gốc ở Thanh Hóa, đến đời thứ ba phân làm hai chi Ất và Bính
Hiện nay dòng họ có 9 chi, đến các con cháu hiện tại là đời thứ 19 + Đời thứ nhất là cụ tổ Chính Tín, cụ sinh năm Tân Mùi - 1571, là người xứ Thanh, giỗ ngày 17 tháng Mười
+ Đời thứ hai là cụ Phúc Lâm sinh năm 1601, giỗ ngày 18 tháng Năm
Trang 39
39
+ Đời thứ ba có hai hai cụ là cụ Phúc Lãnh sinh năm Nhâm Tuất -
1622, giỗ ngày 8 tháng Sáu và cụ Chân Thuận sinh năm Ất Sửu - 1625 Cụ Chân Thuận đỗ quan Chấn Nhất, được ghi danh tại Quốc Tử Giám (?) và được ban thưởng một chiếc chuông đồng
+ Đời thứ tư cụ Phúc Yên sinh năm Đinh Dậu -1657, giỗ ngày 17 tháng Một
+ Đời thứ năm cụ Phúc Đoan sinh năm Đinh Mão - 1687, giỗ ngày 10 tháng Chạp
+ Đời thứ sáu cụ Phúc Yêm là Tri huyện Hội Linh
+ Đời thứ bảy cụ Thẩm Tư là Tri huyện Vĩnh Khang, giỗ ngày 20 tháng Năm
Theo gia phả dòng họ và hương ước của làng, cụ Chính Tín được tôn thờ tại đình làng vào ngày hội [22]
Từ đời thứ nhất cho đến đời thứ tư của họ các cụ cành giáp chi các cụ đều là Võ quan chấn thủ phủ quan, võ nghệ cao cường chi Ất có cụ Phúc Đoan (đời thứ tư) được phong tước là “Mậu lang lâm, Hiến Quang điện, Thiếu bảo” Cụ đặt ra luật gia khuyến học trong họ, vì vậy các đời con cháu sau này đều học cao tài rộng, trong đó tiêu biểu như: cụ Hương cống Tĩnh Yêm được bổ làm Tri huyện Trung Sơn; cụ Thẩm Tư được bổ làm Tri huyện Vĩnh Khang Kế tiếp các đời trước tộc họ Nguyễn Đức còn có 13 cụ học và làm việc ở Tú lâm cục Các cụ dựng nhà thờ chi trông hướng Mão trông về Vườn Sách nên có nhiều đinh và nhiều người đỗ đạt…
Đời thứ chín, thứ mười nhiều cụ Đồ như Đồ Mã, Đồ Xưởng, Đồ Khanh, Đồ Miến, mang kiến thức truyền dạy cho con em trong họ và cả các con cháu của dòng họ trong làng
Hiện nay, toàn họ Nguyễn Đức có 517 suất đinh
Trang 40
40
Họ Nguyễn Văn
Theo bia Nguyễn Văn tộc từ đường và Lưu hương thiên cổ bi lập ngày
mồng 1 tháng Tư năm Bảo Đại thứ bảy (6 - 5 - 1932) còn lưu trong nhà thờ, dòng họ có ba chi
- Chỉ Giáp, thủy tổ là Nguyễn Công tự là Phúc Dậu, giỗ ngày 15 tháng Giêng, cụ bà hiệu là Từ Hạnh, giỗ ngày mồng 9 tháng Chín
- Chi Ất, tiên tổ là Nguyễn Công tên tự Phúc Ngưỡng, hiệu là Vi Liêm,
cụ bà hiệu là Diệu Trinh; cả hai cụ đều không rõ ngày giỗ
- Chí Bính, tiên tổ có tên tự là Thuần Cẩn, cụ bà hiệu là Diệu Ý; cả hai
cụ đều không rõ ngày giỗ [39]
Tục truyền, các bậc tiên tổ của họ đã dựng từ đường theo hướng Mão
án trước là vai con phượng (đầu rừng làng Thượng Phúc ngày nay, gò chính của Tam Thai) Bởi vậy, họ Nguyễn Văn phát về võ
Theo bia ký, họ Nguyễn Văn có ba cụ đỗ kỳ thi Hương là Tùy Ngộ, Tú Văn, Tú Vũ Năm Thiệu Trị thứ sáu (Bính Ngọ, 1846), dòng họ đã dựng từ đường thờ tổ, mong cầu cho dòng họ có nhiều người đỗ đạt [39]
Đến năm 2012, họ Nguyễn Văn có 180 suất đinh
Họ Nguyễn Thế
Theo bia gia phả Gia thạch bi ký (văn bia gia phả khắc trên đá) lập ngày Lành, tháng Ba năm Tự Đức thứ 25 (tháng 4 năm 1872 (và bản Giản chi
gia phả ký lập ngày 15 tháng Giêng năm Thành Thái 11 (24 - 02 - 1899), tiên
tổ dòng họ sinh hạ ba chi, trưởng chi Giáp thất lạc, còn trưởng chi Ất tên tự là Phúc Trực, trưởng chi Bình là Tiến Bảng, đến đời thứ chín gặp binh hỏa, người trong họ chạy đi khắp nơi [21]
Các bậc cao niên trong họ hiện nay cho biết thêm, tổ họ vốn họ Cao, có
ba anh em từ Thanh Hóa ra làng Phương Tiến, xã Trung Châu (nay thuộc