Trong diễn văn khai mạc, thay mặt nước chủ nhà, nguyên chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết nói: Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc được tổ chức tại Việt Nam là
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH HẢO
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 Tổng quan về Phật giáo và về thời đại Lý - Trần ở Việt Nam 12
1.1 Phật giáo và Phật giáo ở Đại Việt từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV (thời đại Lý - Trần) 12
1.1.1 Phật giáo - một thực thể văn hóa 12
1.1.2 Sự xâm nhập của Phật giáo vào đời sống người Việt và quá trình phát triển của Phật giáo thời đại Lý - Trần 19
1.2 Thời đại Lý - Trần ở Việt Nam 26
1.2.1 Khái lược về lịch sử 26
1.2.2 Đặc điểm chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa 26
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 Tác động của Phật giáo đến văn hóa Việt Nam trong thời đại Lý - Trần 37
2.1 Quan niệm văn hóa nghệ thuật và văn hóa nghệ thuật thời đại Lý - Trần 37
2.1.1 Quan niệm về văn hóa nghệ thuật 37
2.1.2 Văn hóa nghệ thuật thời đại Lý - Trần 39
2.2 Phật giáo thời đại Lý - Trần với văn hóa nghệ thuật 42
2.2.1 Phật giáo với văn chương (văn học) 43
2.2.2 Phật giáo với hội họa, kiến trúc, điêu khắc 59
2.2.3 Phật giáo với nghệ thuật biểu diễn 75
Trang 3Tiểu kết chương 2 81
Chương 3 Phát huy tác động tích cực của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam hiện nay từ bài học ở thời đại Lý - Trần 83
3.1 Sự tương đồng giữa thời đại Lý - Trần và thời đại ngày nay ở nước ta83 3.1.1 Sự tương đồng về mục tiêu phục hưng dân tộc, xây dựng đất nước 83
3.1.2 Sự tương đồng về mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc 85
3.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước về kế thừa, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo 88
3.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh 88
3.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước 90
3.3 Các nhóm giải pháp 91
3.3.1 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về kế thừa và phát huy vai trò của Phật giáo 92
3.3.2 Nhóm giải pháp giáo dục 97
3.3.3 Nhóm giải pháp bảo tồn những hoạt động văn hóa của Phật giáo 103
Tiểu kết chương 3 113
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 126
Bản tổng hợp danh sách tác giả 127
Bản tổng hợp các công trình nghệ thuật Phật giáo thời đại Lý - Trần 131
Một số hình ảnh về nhân vật tiêu biểu và di sản văn hóa Phật giáo thời đại Lý - Trần 133
Trang 410 United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization
UNESCO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo Quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc” trong Nghị quyết Trung ương năm, khóa VIII đã đề ra
nhiệm vụ xây dựng “Chính sách văn hóa đối với tôn giáo” Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ IX, lần thứ X và lần thứ XI của Đảng đều khẳng định quan
điểm “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”
Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo; về quyền tự do tín ngưỡng; đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân; về mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có định hướng đúng, tạo điều kiện thuận lợi cho Phật giáo tồn tại cùng các tín ngưỡng, các tôn giáo khác
Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc năm 2008 lần đầu tiên được tổ chức tại thủ đô Hà Nội ngày 14/ 5 là sự kiện trọng đại đánh dấu ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống xã hội Trong diễn văn khai mạc, thay mặt nước chủ nhà, nguyên chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết nói:
Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc được tổ chức tại Việt Nam là sự khẳng định nhà nước Việt Nam tôn trọng và ủng hộ quyết định đúng đắn của Liên Hợp quốc chọn ngày Tam hợp Đức Phật là ngày văn hóa tôn giáo thế giới, đồng thời khẳng định Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và tôn trọng những giá trị đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo mang lại cho đời sống xã hội, trong đó có Phật giáo [58, tr 4]
Trang 6Trải dài trong lịch sử dựng nước và giữ nước đạo Phật đã có một một vị trí đặc biệt đối với xã hội Việt Nam Với bản lĩnh dân tộc, trên tinh thần “cởi mở” và “khai phóng”, người Việt tiếp nhận Phật giáo như sự bổ sung cho truyền thống cộng đồng, nhân ái vốn có của dân tộc Ở những giai đoạn hiểm nghèo của đất nước, trước họa xâm lăng, nhiều vị thiền sư của Phật giáo, đông đảo các tăng ni, Phật tử đã đồng sức, đồng lòng, đấu tranh cho độc lập
và tự do
Từ lâu, Phật giáo đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần không những của nhiều triệu người theo đạo Phật mà còn thu hút sự chú ý của hàng chục triệu người quan tâm và nghiên cứu Phật giáo dưới nhiều góc độ Trong quá khứ và hiện tại, Phật giáo cùng tôn giáo thờ thánh thần bản địa đã góp phần tạo nên bản sắc riêng cho văn hóa Việt Nam và là một vấn đề không thể bỏ qua khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, văn hóa, đạo đức, … của dân tộc Trên con đường phát triển, văn hóa nghệ thuật Việt Nam ít nhiều đã chịu sự tác động, chi phối của Phật giáo Văn hóa nghệ thuật Việt Nam thời đại Lý - Trần là một giai đoạn phát triển rực rỡ trong lịch sử văn hóa nghệ thuật dân tộc, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, để lại cho chúng ta những giá trị thẩm mĩ, giá trị nhân văn cao đẹp
Nhìn lại lịch sử dân tộc, bước đầu tìm hiểu về văn hóa nghệ thuật Việt Nam thời đại Lý - Trần với những dấu ấn sâu đậm của Phật giáo sẽ giúp chúng ta phần nào hiểu được Phật giáo, hiểu được ông cha ta qua những bài học quý giá về việc nhà nước phong kiến sử dụng các giá trị văn hóa Phật giáo vào xây dựng và phát triển đất nước, phát triển xã hội và con người Từ
đó, chúng ta hiểu được đất nước Việt Nam, con người Việt Nam, vững bước trong dựng xây, trong hội nhập và trong phát triển đất nước, phát triển xã hội
và con người Việt Nam hiện nay
Với ý nghĩa đó, học viên chọn vấn đề “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với
văn hóa nghệ thuật Việt Nam thời đại Lý - Trần” làm đề tài luận văn tốt
Trang 7nghiệp hệ Cao học chuyên ngành Văn hóa học Bước đầu nghiên cứu lí luận
và lịch sử văn hóa Việt Nam, một lĩnh vực không thể thiếu vắng trong nghiên cứu văn hóa nước nhà với mong muốn góp tiếng nói chung trong sự bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống để xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc, hiện đại và nhân văn trong thời đại ngày nay Trong khuôn khổ của một bản luận văn, các lĩnh vực ảnh hưởng khác của Phật giáo tới văn hóa Việt Nam ở thời đại Lý - Trần sẽ được tiếp cận mang tính gợi mở
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các tác giả trên thế giới
Tác giả Đỗ Quang Hưng cho rằng để hiểu tôn giáo cần có những tiếp cận
về tâm lí học, lịch sử, xã hội học Trên thực tế, khoa học về tôn giáo đã dần dần phát triển, đặc biệt từ cuối thế kỉ XIX với sự ra đời của ngành xã hội học tôn giáo Rất nhiều nhà nghiên cứu, rất nhiều học giả đã nghiên cứu về tôn
giáo nói chung và Phật giáo nói riêng Có thể kể đến Ninian Smart với Tôn
giáo của thế giới, Sabino Acquavina với Xã hội học tôn giáo, John Naisbitt và
Patricia Aburdene với Các xu hướng lớn trên thế giới, O O Rozenberg với
Phật giáo những vấn đề triết học, Junjiro Takakusu với Các tông phái của đạo Phật Đặc biệt là Léopold Cadière với các công trình đa dạng, phong phú
trên dưới 250 thiên khảo cứu hoặc tham luận về văn hóa, về tín ngưỡng, gia
đình Việt Nam thuộc lĩnh vực dân tộc và xã hội học tôn giáo ví dụ như Các
tôn giáo ở Việt Nam, Nhân sinh quan dân gian người Việt, Tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người Việt vùng quanh Huế, vv
2.2 Các tác giả ở Việt Nam
2.2.1 Về Phật giáo nói chung
Có hàng chục đầu sách chuyên khảo đã viết về lịch sử Phật giáo ở Việt
Nam Một trong những tập lịch sử tôn giáo biên soạn sớm nhất là bộ sách Việt
Trang 8Nam Phật giáo sử lược của tác giả Thích Mật Thể xuất bản năm 1942, Lịch
sử Phật giáo của tác giả Trần Trọng Kim xuất bản năm 1950, Lược khảo lịch
sử Phật giáo Việt Nam của tác giả Vân Thanh xuất bản năm 1974, Lịch sử Phật giáo Việt Nam của tập thể tác giả thuộc Viện Triết học - Ủy ban Khoa
học xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) xuất bản năm
1991, bộ Lịch sử tư tưởng Việt Nam do Nguyễn Tài Thư chủ biên xuất bản năm 1993, Lược sử Phật giáo Việt Nam của tác giả Thích Minh Tuệ xuất bản năm 1993, tập Tư tưởng Phật giáo Việt Nam xuất bản năm 1999 của tác giả Nguyễn Duy Hinh, bộ Việt Nam Phật giáo sử luận (tập I, tập II, tập III) của
tác giả Nguyễn Lang xuất bản năm 2000, … Có thể điểm qua một số tác giả, một số đầu sách viết về Phật giáo được xuất bản trong những năm gần đây:
Thiền sư Đinh Lực và cư sĩ Nhất Tâm trong cuốn Phật giáo Việt Nam và
thế giới của bộ sách Tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại do Nxb Văn hóa
- Thông tin xuất bản năm 2003 đã mô tả Phật giáo, đưa ra những vấn đề cơ bản của Phật pháp và thiền học Ở phần một cuốn sách, các tác giả đã nêu một
số vấn đề chung về Phật giáo Việt Nam, về ảnh hưởng của đạo Phật trong đời sống người Việt
Nhà xuất bản Lao động năm 2006 ra mắt bạn đọc cuốn Danh nhân văn
hóa Phật giáo Việt Nam đương đại - chân dung và đối thoại do Minh Mẫn
chủ biên nhân dịp lễ Phật Thích Ca thành đạo mang ý niệm tôn vinh những cống hiến của các vị tu sĩ Phật giáo trong thời đại mới, tôn vinh những người
đã thể hiện trọn vẹn một nhân cách sống, nhiệt thành cống hiến trí tuệ, công sức cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Vì vậy, cuốn sách cũng là bài học quý cho những ai có tinh thần dân tộc, những ai đang hướng tới
những giá trị tốt đẹp: chân - thiện - mĩ Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam năm 2007 xuất bản Một số bài viết về tôn
giáo học của Nguyễn Duy Hinh có phần nói riêng về Phật giáo: Về hai đặc
Trang 9điểm Phật giáo Việt Nam, Phật pháp, Suy nghĩ khoa học về Phật giáo nước ta hiện nay, Vấn đề hiện đại hóa Việt Nam, vv
Bên cạnh những cuốn sách là những bài viết về Phật giáo trên các báo, các tạp chí Đáng chú ý là các bài viết được đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo của Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam:
Một vài đóng góp của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam của Lê Đức Hạnh
(số 35/ 2005), Nhận diện để phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam của Đặng Văn Bài (số 59/ 2008), Nghiên cứu và ứng dụng các giá trị văn hóa
Phật giáo trong xã hội hiện nay của Nguyễn Hồng Dương (số 59/ 2008), Đạo Phật và hòa bình của Mộng Đắc in trong mục thường thức tôn giáo (số 82/
2010)
Ngoài ra còn có các luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Văn hóa
học khóa 2006 - 2009 Chùa và đời sống văn hóa làng (thông qua nghiên cứu
chùa và làng Dương Đình, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội) của học
viên Quách Thu Trang, Tìm hiểu biểu tượng Phật giáo trong một số chùa tiêu
biểu ở Hà Nội của Nguyễn Như Hảo, học viên Cao học chuyên ngành Văn
hóa học khóa 2007 - 2010
2.2.2 Về Phật giáo và văn hóa Việt Nam thời đại Lý - Trần
Về Phật giáo thời đại Lý - Trần, năm 1989, Phật giáo và văn hóa dân tộc được Thư viện Phật học xuất bản tập hợp bài biết của nhiều tác giả trong đó
có những bài viết về thời đại Lý - Trần Thích Đồng Bổn năm 2006 có cuốn
Vai trò của các tăng sĩ Phật giáo ở thời đại Lý - Trần do Nxb Tôn giáo, Hà
Nội in bằng hai thứ tiếng Việt và Anh
Về văn hóa Việt Nam thời đại Lý - Trần có Văn hóa Lý Trần nghệ thuật
kiến trúc và điêu khắc chùa tháp do Hoàng Văn Khoán chủ biên được Nxb
Văn hóa - Thông tin xuất bản năm 2000, Vương triều Lý trong văn hóa Việt
Nam của Nguyễn Bích Ngọc do Nxb Văn hóa - Thông tin xuất bản năm 2006
Trang 10Một số bài viết được đăng trên các diễn đàn, các tạp chí như Lực lượng
sáng tác văn học Phật giáo thời Lý - Trần của Lý Thị Mai ở Hội Khoa học
Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, Những nét đẹp của Phật giáo thời Lý Trần của hòa thượng Thích Trí Quảng, Vài nét về Phật giáo Lý - Trần của Thuần
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thời đại Lý - Trần và Phật giáo Việt Nam thời đại Lý - Trần
- Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa nghệ thuật Việt Nam thời đại Lý
- Trần
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tác động của Phật giáo đối với văn hóa nghệ thuật người Việt thời đại
Lý - Trần (chủ yếu diễn ra trong không gian Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ)
- Phật giáo và văn hóa Đại Việt thời đại Lý -Trần qua sử liệu, văn chương, nghệ thuật (các tác phẩm hội họa, công trình kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật biểu diễn)
Trang 11- Nguồn tư liệu để nghiên cứu, phân tích chủ yếu từ thư tịch cổ, các di sản văn hóa Phật giáo, tư liệu điền dã, văn hóa dân gian, …
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những tác động của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam thời đại Lý - Trần trong văn hóa nghệ thuật
- Rút ra những bài học kinh nghiệm để phát huy vai trò tích cực của Phật giáo trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử macxit vừa là cơ sở lí luận vừa là cơ sở phương pháp luận
- Các phương pháp logic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; đối chiếu và
so sánh; phương pháp điền dã thu thập tài liệu thực tế; …
- Kết hợp các phương pháp liên ngành/ đa ngành: sử dụng kết quả, phương pháp, các phạm trù của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn như Dân tộc học, Xã hội học, Văn học, Nghệ thuật học, Tôn giáo học, Folklore học, …
6 Những đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu, đánh giá những ảnh hưởng tích cực của Phật giáo trong quá trình tác động đến văn hóa nghệ thuật Việt Nam thời đại Lý - Trần
- Rút ra bài học kinh nghiệm để phát huy vai trò tích cực của Phật giáo trong phát triển đất nước và văn hóa dân tộc Góp phần củng cố niềm tin vào định hướng của Đảng, Nhà nước trong chính sách dân tộc và tôn giáo hiện nay
- Làm tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy về Phật giáo và văn hóa Việt Nam
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Trang 12Chương 1: Tổng quan về Phật giáo và về thời đại Lý - Trần ở Việt Nam Chương 2: Tác động của Phật giáo đến văn hóa nghệ thuật thời đại Lý - Trần
Chương 3: Phát huy tác động tích cực của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam hiện nay từ bài học ở thời đại Lý - Trần
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO
VÀ VỀ THỜI ĐẠI LÝ - TRẦN Ở VIỆT NAM
1.1 Phật giáo và Phật giáo ở Đại Việt từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV (thời đại Lý - Trần)
1.1.1 Phật giáo - một thực thể văn hóa
Văn hóa bao gồm toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Trên thế giới, văn hóa được hiểu theo nghĩa nhân văn rất rộng dựa trên định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng nên có hàng trăm, hàng nghìn con số không thống kê được chính xác các khái niệm về văn hóa Chúng tôi mượn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới đưa ra quan niệm về văn hóa:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về
ăn, mặc, ở, các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh, đó tức là văn hóa [37, tr 43]
Như vậy, tôn giáo vừa là hình thái ý thức xã hội vừa là thực thể văn hóa, hay nói một cách khác tôn giáo là một thành tố, một lĩnh vực của văn hóa
Về Phật giáo, chúng ta không có Phật giáo Việt Nam như một tôn giáo dân tộc, giống đạo Cao Đài hay đạo Hòa Hảo và một số tôn giáo khác Song Phật giáo vào Việt Nam đã trên hai ngàn năm, tồn tại và phát triển trên nền cảnh văn hóa dân tộc, cho nên ít nhiều mang đặc điểm riêng của văn hóa Việt Nam Nói đến Phật giáo Việt Nam là nói đến Phật giáo của người Việt Nam,
Trang 14nói đến đặc điểm, tính chất Việt Nam của Phật giáo Việt Nam Ngược trở lại, Phật giáo ở Việt Nam cũng tác động đến văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa nghệ thuật Việt Nam nói riêng
1.1.1.1 Sự ra đời của Phật giáo
Sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của Bà La Môn và vấn đề giải thoát con người mang tính chất đặc ân, đặc quyền dẫn đến nguyên nhân thúc đẩy sự xuất hiện của trường phái triết học chống lại Bà La Môn, dẫn đến sự ra đời của Phật giáo ở Ấn Độ thời cổ đại
Đức Phật Thích Ca, thủy tổ Phật giáo, tên thật là Tất Đạt Đa (Sidharta) thuộc bộ tộc Thích Ca (Sakya) sinh tại miền Bắc Ấn Độ cổ, họ Cồ Đàm (Gautama), con vua Tịnh Phạn (Suddhohana) quốc vương tiểu vương quốc Gia Tỉ La (Kapila) đóng đô ở Ca Tì La Vệ (Kapilavastu) nay thuộc Nêpan Phật giáo Bắc Tông theo thư tịch Trung Quốc cho rằng Tất Đạt Đa sinh vào ngày mùng tám tháng tư âm lịch, năm thứ 9 đời Chu Trang Vương (năm 668 tCn.) Phật giáo Nam Tông cho rằng Tất Đạt Đa sinh vào ngày trăng tròn tháng Vaisakha năm 623 tCn nên lấy ngày rằm tháng tư làm ngày Phật đản Sau khi lấy vợ và sinh một con trai, năm 29 tuổi Tất Đạt Đa bất mãn với chế
độ giai cấp chủng tính đương thời, thấy cuộc đời con người có những nỗi khổ
vì sinh, lão, bệnh tử, từ bỏ cha mẹ, vợ con, bỏ giàu sang chốn cung đình vào Tuyết Sơn đi tu Đắc đạo năm 36 tuổi, Tất Đạt Đa chu du khắp các nước ở lưu vực sông Hằng để truyền giáo thuyết pháp trong 40 năm và tịch năm 80 tuổi
Tu luyện thành Phật, Buddha - Vô Thượng Phật Đà (Đấng Giác Ngộ) là danh hiệu do Tất Đạt Đa tự xưng Các đệ tử quy y Tất Đạt Đa gọi Tất Đạt Đa là Thế Tôn (Bhagavat), là Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) Ở Trung Quốc và Việt Nam các cao tăng thường lấy pháp danh có chữ Thích đứng đầu để chỉ
Trang 15dòng họ Thích, theo quan niệm huyết thống Tất Đạt Đa là con người có thật
và Thích Ca Mâu Ni (nhà thông thái họ Thích Ca) là vị Phật lịch sử
Thế giới quan Phật giáo kế thừa truyền thống của triết học Ấn Độ giải thích thế giới được tạo thành từ sự kết hợp các nguyên tử Phật giáo đưa thêm các vật hàm không màu, không mùi, không vị và cho rằng các nguyên tử kết hợp do sự vận động nội tại của các nguyên tử Sự hợp tan giữa các nguyên tử theo quy luật nhất định Phật gọi đó là luật nhân quả, nhân duyên Luật nhân quả, nhân duyên quy định sự tồn tại, biến đổi, hủy diệt của các sự vật, hiện tượng trên thế giới
Phật giáo có chữ nghiệp, tiếng Ấn Độ là karma Nghiệp có nghĩa gốc là
nghề Nghề gì cũng phải thực hành Do đó, nghiệp chuyển sang nghĩa là hành, hành động Theo quan điểm của đạo Phật, mỗi hành động của con người ta trong xã hội đều có mục đích “ác” hay “thiện” Làm việc thiện sẽ sinh kết quả thiện, và ngược lại, làm việc ác sẽ sinh kết quả ác Báo ứng nhân quả gọi là
quả báo: “Dục tri tiền thế nhân, kim tri thụ giả thị Dục tri lai thế giả, kim
sinh tác giả thị” (Muốn biết cái nhân ở đời trước phải xem cái mà mình chịu
đựng ở đời này Muốn biết cái quả đời sau, phải xem cái nhân ở đời này) Quả báo có thể xấu mà cũng có thể tốt
Ba nguyên lí nhà Phật chỉ ra cái khổ, chỉ ra tam độc là tham, sân, si và đề cao vị thế con người Kết hợp với từ bi và thiền, Phật chỉ ra Niết Bàn
(Nibbãna), một trạng thái tinh thần, một khoảnh khắc, khả năng siêu tận của
một nhà tu hành tự có, tự chứng để chuyển từ có sang không
1.1.1.2 Cơ cấu của Phật giáo
Dựa vào hai quan niệm về Phật giáo: Phật giáo là một hình thái ý thức xã hội và Phật giáo là một lĩnh vực văn hóa chúng tôi trình bày cơ cấu của Phật giáo như sau:
Trang 16Quan niệm thứ nhất, Phật giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội
bao gồm hệ thống các quan điểm triết học về nhân sinh quan, xã hội quan; là
hệ thống lí luận của đạo Phật về thế gian, về thế giới hay vũ trụ, về sự giải thoát con người với ba bộ phận:
+ Kinh tạng: tập hợp các bài giảng của Phật về con người và xã hội; + Luật tạng: còn gọi là giới luật, luật pháp, quy định của đạo Phật;
+ Luận tạng: phát triển triết thuyết của Phật do các học trò của Thích Ca Mâu Ni xây dựng nên
Về phương diện nhân sinh quan, triết học Phật giáo đề cập tới hai yếu tố
cơ bản: Brahman và Atman Brahman được xem như tinh thần của xã hội, của thế giới Atman là sự biểu hiện của tính cá thể Thế giới là một chuỗi vô cùng
tận của các chu kì sinh - trụ - dị - diệt Diệt là tiền đề tạo ra sự sinh, tạo ra chu
kì mới Khoảnh khắc chỉ là đơn vị thời gian ngắn Thế giới là vô thường, không có gì là vĩnh hằng và bất biến, không có khởi đầu cũng không có kết thúc Không có ai tạo tác nên thế giới có thêm đặc tính vô tạo giả Sự vật, hiện tượng vừa là nó vừa không phải là nó, là sự biến đổi sắc và không Con người
do ngũ uẩn kết hợp mà thành Trong ngũ uẩn, sắc là biểu thị của yếu tố vật chất (bao gồm tứ đại: đất, nước, lửa, không khí); danh là yếu tố tinh thần; sự cảm thụ xuất hiện khi có tác động bên ngoài; tưởng (ấn tượng) và hành bao gồm các hoạt động của tư duy dẫn đến sự hình thành ý thức của con người Quay trở lại, con người tạo thành ngũ uẩn Năm yếu tố này hợp tan, tan hợp nên không có cái tôi, không có cái bản ngã đích thực dẫn đến con người là vô ngã
Từ cơ sở nhận thức về thế giới như vậy, khổ đau của con người được Phật giáo tuyệt đối hóa Đích cuối cùng của con người là thoát khỏi kiếp trầm
luân, thoát khỏi nghiệp Thuyết để giải thoát là Tứ diệu đế Tứ diệu đế như
bốn chân lí kì diệu luôn liên quan đến chúng sinh, đến từng con người, giúp
con người đi đến giải thoát gồm Khổ đế, Nhân đế, Diệt đế và Đạo đế
Trang 17Mục đích lớn lao của đạo Phật là sự giải thoát ra ngoài vòng luân hồi
không có sinh tử Bát chính đạo là phương pháp, là 8 con đường chính Từ Bát chính đạo nhà Phật quy về Tam học Tam học gồm Giới, Định, Tuệ Giới
nhằm điều chế phong thái bên ngoài Định và Tuệ gắn liền nhau, cùng Giới có khả năng phá bỏ Vô minh đạt đến Giác ngộ
Quan niệm thứ hai, Phật giáo với tư cách là một thực thể văn hóa, thuộc
lĩnh vực tinh thần:
Nhà tôn giáo học Trung Quốc Trác Tân Bình chia cơ tầng văn hóa thành
ba tầng diện: tầng diện vật chất, tầng diện kết cấu và tầng diện tinh thần Theo
đó, tầng diện tinh thần của văn hóa gồm tín ngưỡng, tôn giáo, chuẩn mực đạo đức, quan niệm giá trị, hứng thú thẩm mĩ, phương thức tư duy Tầng diện tinh thần là tầng diện sâu nhất trong văn hóa Đặc trưng bản chất của văn hóa được quyết định tương quan bởi tầng diện tinh thần
Việc chia cơ tầng văn hóa thành ba tầng diện cho ta một cách nhìn mới
về cấu trúc của văn hóa vì trước đây văn hóa thường được biểu hiện là một vòng tròn Trong vòng tròn đó có tín ngưỡng tôn giáo với tính “hai mang”
Tác giả Nguyễn Hồng Dương luận giải: “Là sản phẩm của tinh thần nhưng
khi biểu hiện “bằng xương bằng thịt”, tôn giáo lại “tỏ bày” dưới cả dạng vật thể và phi vật thể đến mức có dạng khó phân biệt đâu là chính đâu là phụ” [5,
tr 31] Thuộc về lĩnh vực tinh thần của văn hóa, tôn giáo vừa là thành tố, vừa
là sản phẩm của văn hóa Văn hóa sản sinh ra tôn giáo, điều chỉnh tôn giáo theo quỹ đạo của nền văn hóa Ngược trở lại, tôn giáo tác động sâu sắc tới văn hóa, chi phối nhiều mặt của văn hóa, tạo nên những đặc điểm văn hóa của nhiều cộng đồng, nhiều khu vực khác nhau trên thế giới Trong mỗi khu vực lại có sự đan xen, ảnh hưởng của các tôn giáo khác nhau, thậm chí sự đan xen
đó có thể diễn ra tại một quốc gia
Trang 18Phật giáo tồn tại với tư cách một thực thể văn hóa trên cơ sở bao gồm các yếu tố: giáo lí, giáo luật; giáo đoàn; giáo phẩm và giáo thức
Giáo lí, giáo luật là toàn bộ kinh điển của Phật giáo Sau khi cảm nhận
được giáo lí trong kinh Hoa Nghiêm của mình khó hiểu, Đức Thích Ca chuyển sang thuyết Hữu (có), gắn nội dung kinh với đời sống con người, với những điều đã thấy, đã biết, đã cảm nhận Kinh A Hàm nâng hiểu biết của đệ
tử vào chân lí của Phật, hướng mọi người hiểu được nội dung kinh Hoa
Nghiêm vào giáo lí giải thoát giác ngộ Kinh Phương Đẳng, Lăng Già, Lăng
Nghiêm, Viên Giác, … được thuyết trong nhiều năm, quay về ý tưởng ban đầu
của kinh Hoa Nghiêm Khi nảy sinh sự thiên kiến, mê chấp giữa hai hướng tu hành Tiểu Thừa và Đại Thừa, thuyết điều của Đức Thích Ca được các học trò
kết tập thành kinh Bát Nhã, mang nội dung và màu sắc siêu hình cao, hướng
các đệ tử vào không gian có những thuộc tính khác nhau và con đường tùy
nghi giải thoát, Đức Phật thuyết kinh Pháp Hoa (còn có tên, Diệu Pháp Liên
Hoa Kinh) với nội dung nói về thực tướng (bản thể là thực) mà chúng sinh có thể lạc vào, đọa vào Thuyết xong kinh Pháp Hoa, trước lúc nhập diệt, Đức
Thích Ca giảng những vấn đề sau này trở thành kinh Niết Bàn Đạo của Đức
Thích Ca là hành, là tu, phải đạt được bằng tự chứng vừa là một hệ thống triết
lí, vừa là một hình trạng tôn giáo hoàn chỉnh với sự kết hợp hài hòa giữa tín điều và tín lí
Giáo đoàn là các tăng đoàn (tổ chức) Phật giáo Theo luật, cứ ba hoặc
bốn tu sĩ trở lên tập hợp lại, cùng sinh hoạt và tu học tại một nơi thì gọi là Tăng già hay Tăng chúng Ở mỗi nước Phật giáo chia ra thành nhiều tông phái như Nam Tông (Tiểu Thừa), Bắc Tông (Đại Thừa) và các chi nhánh Mật Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, … Các nhà tu hành và tín đồ của mỗi tông phái họp lại thành các giáo đoàn (thiết chế) để sinh hoạt và mở rộng ảnh
Trang 19hưởng của mình Mỗi giáo đoàn quy tụ tại một ngôi chùa chính nơi các vị tổ chủ trì Các giáo đoàn này có những quy định của mình về tu luyện, thực hành giáo lí và giáo luật ít nhiều khác nhau
Giáo phẩm là các phẩm cấp, chức sắc như đại đức, thượng tọa, hòa
thượng, … tùy theo phẩm hạnh và tuổi hạ Đội ngũ chức sắc là nòng cốt, giữ vai trò vị trí quan trọng trong quá trình hành đạo, quản đạo và truyền đạo, giữ vai trò chủ yếu trong mối quan hệ giữa Phật giáo với nhà nước, với xã hội và các giáo hội khác Phẩm cấp, chức sắc đánh giá phẩm chất, nhân cách của nhà
tu hành và các tín đồ Theo quan niệm nhà Phật, đi tu là để báo đáp tứ trọng
ân, là để thực hiện lí tưởng cao cả và thiêng liêng: trên cầu thành Phật, dưới hóa độ chúng sinh Nhân cách người tu sĩ được xây dựng và hình thành do các thành tố phẩm chất cơ bản của tâm ý, cách ứng xử, phẩm hạnh đạo đức, lòng khiêm tốn, tính bao dung Người tu đạo là chiếc cầu tượng trưng, tiêu biểu giữa Phật giáo và cuộc đời thường, giữa hàng xuất gia và quần chúng
Giáo thức là hình thức bên ngoài của tôn giáo cũng như Phật giáo Phật
giáo thông qua hệ thống ngoại hiện như chùa, tháp, tranh, tượng, bi kí, văn chương, nghi trượng, nghi thức, … thể hiện tôn chỉ, mục đích, tư tưởng của đạo Phật
Ở luận văn này chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa nghệ thuật Lý - Trần dựa vào cách chia cơ cấu Phật giáo trên Song chủ yếu nói đến ảnh hưởng của tư tưởng, triết lí và quan niệm của Phật giáo thông qua sự sáng tạo văn chương, nghệ thuật của các nhà tu hành, các tín đồ
là cơ bản Tất nhiên, khi phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa nghệ thuật không thể đi sâu vào mọi yếu tố của văn hóa nghệ thuật mà chỉ nói đến những yếu tố chính Bởi ảnh hưởng của Phật giáo vào các lĩnh vực của văn hóa nghệ thuật cũng không giống nhau Đối với văn chương có thể đi sâu
Trang 20hơn vào các yếu tố tác giả, tác phẩm và nội dung còn đối với hội họa, kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật biểu diễn thì chỉ phân tích sự tác động một cách chung nhất Quá trình tìm hiểu chúng tôi thấy do sự hạn chế của lịch sử, ở lĩnh vực văn chương tư liệu cổ để lại có sự ghi chép rõ ràng, đầy đủ trong khi
ở lĩnh vực nghệ thuật không có được sự ghi chép cụ thể về tác giả, về xuất xứ của tác phẩm
1.1.2 Sự xâm nhập của Phật giáo vào đời sống người Việt và quá trình phát triển của Phật giáo thời đại Lý - Trần
Phật giáo là một hiện tượng văn hóa nước ngoài truyền vào Việt Nam, được nhân dân ta tiếp thu, vận dụng vào đời sống đã có những đóng góp nhất định trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Lịch sử Phật giáo, vì thế trở thành một bộ phận của lịch sử dân tộc Các nhà nghiên cứu đã chia lịch sử Phật giáo Việt Nam ra thành 5 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn thứ nhất, từ khi du nhập đến thế kỉ VI (544);
- Giai đoạn thứ hai, từ thế kỉ VI đến thế kỉ X;
- Giai đoạn thứ ba, từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV;
- Giai đoạn thứ tư, từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX;
- Giai đoạn thứ năm, từ thế kỉ XX đến nay
Trong năm giai đoạn phát triển của Phật giáo ở Việt Nam, chúng tôi thấy
cần nhấn mạnh hai nội dung sau đây gắn với vấn đề nghiên cứu của luận văn:
1.1.2.1 Sự xâm nhập của Phật giáo vào đời sống người Việt
Nhiều ý kiến cho rằng Phật giáo du nhập vào nước ta từ thời Hùng Vương với câu chuyện Chử Đồng Tử, Tiên Dung làm bằng chứng Theo học
giả Lê Mạnh Thát, Nhất Dạ Trạch của Lĩnh Nam chích quái đã ghi lại việc
Chử Đồng Tử được nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên truyền dạy giáo lí Phật giáo Nhà sư Phật Quang có thể là người Chiêm Thành, có thể là người
Trang 21Ấn Độ đang tìm cách truyền bá Phật giáo vào Việt Nam Vì vậy, Lê Mạnh Thát cho rằng Chử Đồng Tử là người Việt Nam tiếp xúc với nhà sư và trở thành Phật tử Việt Nam đầu tiên được ghi lại tên tuổi Truyền thống Phật giáo quyền năng mà Chử Đồng Tử tiếp thu xuất hiện trong Mâu Tử cũng như trong Khương Tăng Hội, tồn tại cho đến khi truyền thống Phật giáo thiền của Pháp Vân ra đời
Lý Thời Trân (1518 - 1593) trong Bản thảo cương mục 14, tờ 69b4 - 5 có
nhắc đến việc trồng Uất kim hương để cúng Phật, xác nhận khoảng năm 100 sCn đã có một bộ phận người Việt theo Phật giáo Đây có thể coi là chứng cứ đầu tiên cho việc xuất hiện Phật giáo ở Việt Nam
Chứng cứ thứ hai là câu viết của Lưu Hân Kỳ trong Giao Châu kí:
“Thành Nê Lê ở phía đông nam huyện Định An, cách sông bảy dặm, tháp và
giảng đường do vua A Dục dựng vẫn còn Những người đốn hái củi gọi là kim tượng” Tên huyện An Định xuất hiện sớm nhất trong Tiền Hán thư 28 hạ, tờ
10b9 - 11a25 là một trong mười huyện thuộc quận Giao Chỉ Rất có thể chùa Địa Ngục sau đổi thành Tây Thiên chính là thành Nê Lê của huyện An Định xưa, liên quan đến cuộc kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ ba của vua Asoka
từ Ấn Độ
Thiền uyển tập anh chép truyện Quốc sư thông biện có chi tiết hoàng hậu
Ỷ Lan hỏi về đạo Phật được pháp sư Đàm Thiên tâu: “Xứ Giao Châu có
đường thông với Thiên Trúc, khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có tới hai mươi ngôi bảo tháp độ được hơn năm trăm vị tăng
và dịch được mười lăm quyển kinh rồi” [22, tr 133] cũng đã xác nhận sự có
mặt sớm của Phật giáo tại Việt Nam
Nhiều công trình nghiên cứu đã đi đến thống nhất chỉ có hai con đường truyền Phật giáo ra ngoài Ấn Độ: Bắc truyền lên phía Bắc, Nam truyền xuống
Trang 22phía Nam Trên hai con đường truyền đó đều truyền cả hai kinh bản Tiểu
Thừa và Đại Thừa Nguyễn Duy Hinh cho rằng: “Phật giáo Việt Nam thuộc
Nam truyền, trực tiếp với Ấn Độ qua đường hàng hải quốc tế Tây - Đông, sau
đó lại ngược lên Giang Nam hội ngộ với dòng Bắc truyền” [16, tr 312]
Các nhà nghiên cứu ở Viện Triết học thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng các thương nhân xuất phát từ vùng Trung Ấn có thể dùng tuyến đường bộ sang đèo Ba Chùa và theo sông Kanburri xuống châu thổ Mênam
Từ Mênam tới vùng Bassak ở trung lưu sông Mêkông, địa bàn của vương quốc Kambijan Vương quốc này có thể do những di dân Ấn Độ thành lập tCn Rất có thể các tăng sĩ Ấn Độ đã theo con đường này mà đến đất Lào, vượt Trường Sơn sang Thanh Hóa hay Nghệ An
Về thời điểm du nhập của Phật giáo vào Việt Nam các nhà nghiên cứu chưa đi đến thống nhất, song đại đa số cho rằng Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam khoảng đầu Công nguyên khi Việt Nam còn là Giao Châu Trung tâm Phật giáo sớm nhất ở Giao Châu là Luy Lâu, tức vùng Dâu, nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh
Cũng như các tôn giáo khác, Phật giáo đã thế tục hóa ở Việt Nam từ cách thể hiện nghi thức tôn kính đến danh xưng giáo chủ Người Việt đổi Buddha trong tiếng Phạn chỉ Đức Phật thành Bụt Bụt xuất hiện và đã hóa thân trong nền văn hóa dân gian Việt Nam luôn hiện lên hiền từ, cứu khổ, cứu nạn Ngay từ sơ kì du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã kịp thời hội nhập một cách sâu sắc với văn hóa dân tộc, bắt đầu xây dựng nền tảng tinh thần như một vũ khí chống lại ách nô dịch đồng hóa văn hóa của phương Bắc Thông
qua các kinh sách, đạo Phật nhắc nhở “bỏ mình chớ không bỏ hạnh”, kêu gọi
toàn dân chống lại bộ máy đàn áp của người Hán, khẳng định cách thờ tự tốt
là đem đạo đức truyền cho nhau Trong nếp sống cá nhân, gia đình và xã hội,
Trang 23để cùng đạt tới đỉnh cao giác ngộ và giải thoát, hạnh phúc và tự do, Phật giáo khích lệ con người biết yêu thương Đạo Phật đánh giá: ta là Phật, chúng sinh
là Phật sẽ thành, tất cả đều thăng tiến trên lộ trình giác ngộ, tâm linh Phật giáo ở Việt Nam, vì vậy là một nền Phật giáo nhập thế Tác giả Lại Văn Hùng
xét trong tương quan biện chứng cho rằng “đạo Phật nhập thế và lại có ngay
thế nhập đạo Phật Đây là hai quá trình, nhiều lúc song hành, nhiều lúc là hỗn hợp, nhưng chắc chắn phải là liên tục” [13, tr 46]
Trong quá trình phát triển, đạo Phật tìm mọi cách hỗn dung với tín ngưỡng bản địa thông qua phương pháp truyền bá linh hoạt, mềm dẻo, phi
cưỡng bức “Tùy duyên bất biến”, Đức Phật dạy theo từng con người, trí não
sẽ giác ngộ con đường giải thoát Biến thái thứ nhất của giai đoạn Phật giáo trong quá trình bản địa hóa đòi hỏi phải có những vị Phật gần gũi với người Việt Thần Mây, thần Mưa, thần Sấm và thần Sét đã trở thành Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện Tính ngoại lai và tính bản địa được tập hợp lại như hai mặt trong một thể thống nhất Yếu tố mới không phủ nhận yếu tố
cũ mà hỗ trợ tăng cường lẫn nhau Nét truyền thống vẫn giữ được sắc thái trong khi tiếp nhận nội dung mới mang tính Phật giáo
Tiếp thu tinh thần và lí thuyết Phật giáo, các Phật tử ở Việt Nam đã có ý thức muốn có một nền Phật giáo riêng cho dân tộc mình Dù theo tông này hay theo phái khác họ vẫn tuân theo Đại Thừa, Tiểu Thừa hoặc những tông phái đã có, tự hình dung ra cách tiếp nhận và cách thể hiện các kinh, luật, luận một cách đại đồng tiểu dị, có thể gọi đó các thiền phái Việt Nam:
Phái Tì Ni Đa Lưu Chi có 18 đời với 29 vị thiền sư, người đầu tiên là
Pháp Hiền
Phái Vô Ngôn Thông có 15 đời và 40 thiền sư do nhà sư Vô Ngôn Thông
truyền vào, người đầu tiên là sư Cảm Thành
Trang 24Phái Thảo Đường ghi tên 19 vị Vua Lý Thánh Tông là vị tổ thứ hai Sau
đó có Lý Anh Tông và Lý Cao Tông Phái chỉ có 10 người xuất gia, 9 người
là cư sĩ Trong đó có Đỗ Đô được phái Trúc Lâm sau này nhận làm tiền sư dẫn dắt cho phái Hoàng Giang
Phái Trúc Lâm xuất hiện thời Trần, sau cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên Đây là thiền phái bộc lộ được nét riêng của Phật giáo ở Việt Nam
Phái Liễu Quán vốn thuộc dòng Lâm Tế ở Trung Quốc, được Việt hóa
và trở thành phổ biến ở Đàng Trong
Sang thế kỉ XX, Phật giáo vẫn được nhân dân tiếp nhận với thái độ khoan dung và tinh thần trọng thị Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được thành lập ngày 07/ 11/ 1981 sau Đại hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại tùng lâm Quán Sứ, Hà Nội nhằm thống nhất tất cả các hoạt động Phật giáo của tăng ni, Phật tử Việt Nam
1.1.2.2 Quá trình phát triển của Phật giáo thời đại Lý - Trần
Quá trình phát triển của Phật giáo thời đại Lý - Trần nằm trong giai đoạn thứ ba của Phật giáo ở Việt Nam Lịch sử dân tộc Việt Nam chưa bao giờ có
sự độc tôn Phật giáo nhưng rõ ràng Phật giáo là hệ ý thức được đề cao hàng đầu trong thời kì này
Thời Lý, lợi ích của Phật giáo hòa hợp hoàn toàn vào lợi ích dân tộc Phật giáo không thể phát triển bên ngoài dân tộc càng không thể hưng thịnh khi dân tộc không có chủ quyền Lý Công Uẩn khi mới lên ngôi đã cho xây dựng chùa Các vua Lý - Trần bên cạnh việc coi trọng Nho giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian đã hết sức ủng hộ Phật giáo, dựa vào Phật giáo để xây dựng chế độ thống trị Chính từ các tư tưởng này, các triều Lý - Trần đã thu hút được đông đảo tín đồ và nhân dân để từ đó củng cố, bảo vệ, xây dựng đất nước, tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển
Trang 25Phật giáo phát triển đến đỉnh cao Các vua nhà Lý đều tôn sùng đạo Phật Vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông đều đã tu Phật Nhiều quan lại và quý tộc mộ Phật, điển hình là thái úy
Lý Thường Kiệt Nhiều nhà sư có thành phần xuất thân từ tầng lớp quý tộc như sư Viên Chiếu là con của anh trai thái hậu Linh Cảm (mẹ vua Lý Thánh Tông), sư Quảng Trí là anh trai bà hoàng phi Chiêu Phụng, vv
Điều đáng chú ý là thời Lý, số lượng sư tăng rất đông Ngay từ năm
1010, vua Lý Thái Tổ đã có lệnh độ dân làm sư Năm 1016, độ hơn một ngàn người ở Thăng Long làm tăng đạo Năm 1019, Lý Thái Tổ lại độ dân cả nước làm sư Phật giáo thời Lý có tiềm lực kinh tế khá mạnh Các chùa đều có nhiều ruộng đất Một số nhà sư như Vạn Hạnh, Đa Bảo Viên Thông được phép đàm đạo với các vua nhà Lý Hội lễ Phật giáo diễn ra thường xuyên Nhiều hội lớn do nhà vua đích thân tổ chức Hai phái thiền Tì Ni Đa Lưu Chi
và Vô Ngôn Thông tiếp tục phát triển Thêm vào đó là phái Thảo Đường thu hút một số vị vua và quan lại có chức tước tồn tại qua năm thế hệ Từ sự ủng
hộ nhiệt thành của vua chúa, quý tộc quan liêu, Phật giáo thời Lý có vị trí lớn trong xã hội, đến với mọi miền đất nước, trong đông đảo mọi tầng lớp nhân dân
Sự nghiệp của nhà Lý đối với đạo Phật đã ảnh hưởng đến nhà Trần Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đều là những Phật tử thuần thành Trần Nhân Tông được xem là vua Phật Các nhà vua trên đều là những người uyên thâm về lí luận Phật giáo, là những người vận dụng nhiều tư tưởng của Phật giáo vào việc trị vì thiên hạ
Cũng như thời Lý, mọi chính sách thể hiện tư tưởng nhân đạo thời Trần đều có nguồn gốc sâu xa từ Phật giáo Mặc dù tình hình xã hội có nhiều biến đổi nhưng dung hòa với Nho giáo, Phật giáo vẫn thịnh vượng gần suốt trong
thời Trần Ngay từ khi mới nắm quyền lực nhà Trần đã ra lệnh: “Trong nước,
Trang 26hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng Phật để thờ” [47, tr 11] Nếu ở
thời Lý triều đình nhờ cậy vào sự giúp rập của các thiền sư thì sang thời Trần, Phật giáo tác động vào chính sự chủ yếu bởi hệ tư tưởng Nhằm cố kết nhân tâm, thống nhất tư tưởng trị nước mà hệ tư tưởng chủ yếu được chắt lọc từ Phật giáo, dưới ảnh hưởng lớn lao của Trần Nhân Tông và Tuệ Trung thượng
sĩ, ba thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường thống nhất làm một Thời Trần vì thế được gọi là thời đại Phật giáo nhất tông
Phật giáo thời Trần tạo ra tư tưởng khoan hòa nhân ái trong nội trị và ngoại giao nhưng đồng thời cũng tạo ra nội lực cho dân tộc ta ba lần đánh tan giặc Mông - Nguyên Vào thế kỉ XIV, Nho thần Lê Quát nhận xét về sự phát triển của Phật giáo thời Trần:
Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ có bố thí vào việc nhà Phật thì dẫu hết tiền của cũng không sẻn tiếc Nếu ngày nay gửi gắm vào chùa, tháp thì mừng rỡ như nắm được khoán ước để lấy quả báo ngày sau Cho nên trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ cho tới thôn cùng, ngõ hẻm, không mệnh lệnh mà người ta vẫn theo, không thề thốt mà người ta vẫn tin Chỗ nào có người ở, tất có chùa Phật, bỏ rồi lại xây, hỏng rồi lại sửa, chuông trống lâu đài chiếm nửa phần so với dân cư Đạo Phật hưng thịnh rất dễ mà được rất mực tôn sùng [47, tr 262]
Rõ ràng, ở những mức độ khác nhau, Phật giáo đã thực thi một tinh thần khoan dung, độ lượng Những điều này không những làm cho Phật giáo đứng
ở trung tâm của hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội giai đoạn thế kỉ XI - XIV
mà còn góp phần tạo nên bản sắc văn hóa, chính trị, dân tộc trong giai đoạn lịch sử này Sự đi xuống của Phật giáo sau đó, từ nửa sau thế kỉ XIV hoàn toàn hợp tính quy luật khi hệ tư tưởng tôn giáo không còn sự ủng hộ của quyền lực thế tục Phật giáo nơi cung đình lui dần về chốn dân gian Nhưng
Trang 27dù vậy, tinh thần hòa hợp Phật giáo - dân tộc đó mãi mãi là một trong những trang sử đậm nét của dân tộc ta
Tồn tại và phát triển trong một giai đoạn rực rỡ của văn minh Đại Việt, Phật giáo Việt Nam thời đại Lý - Trần đã có những đóng góp quan trọng thể hiện trên các lĩnh vực, trong đó có văn hóa nghệ thuật
1.2 Thời đại Lý - Trần ở Việt Nam
1.2.1 Khái lược về lịch sử
Với nhãn quan chính trị sáng suốt, với tài năng thi ca, Vạn Hạnh là người
có công đầu cùng các thế lực Phật giáo và sự ủng hộ của các triều thần đưa Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tháng mười một, ngày Quý Sửu, năm Kỉ Dậu tức ngày 21/ 11/ 1009, khai sáng ra vương triều Lý (1009 - 1225) Nhà Lý đến đời vua Lý Nhân Tông đạt tới đỉnh cao của sự thịnh trị Từ đời vua Lý Anh Tông
về sau, chính sự dần dần sút kém Suốt 14 năm trị vì của vua Lý Huệ Tông đất nước luôn loạn lạc, giặc cướp hoành hành khắp nơi Họ Trần hưng khởi, tập đoàn quý tộc họ Trần khôn khéo, từng bước nắm chính quyền một cách nhanh gọn, mở ra một thời kì tiếp tục phát triển cao hơn của Đại Việt Nhà Trần (1225 - 1400) trong thế kỉ XIII, vững vàng, năng động đã tạo ra một chính quyền của quý tộc, thống nhất và ổn định đất nước cho đến giữa thế kỉ XIV Như vậy, thời đại Lý - Trần kéo dài suốt bốn thế kỉ, từ thế kỉ XI đến thế
kỉ XIV Quốc gia Đại Việt, hình thành trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ thế kỉ X sau ba triều đại Ngô - Đinh - tiền Lê phấn khởi bước vào thời
kì xây dựng nền độc lập tự chủ, phục hưng văn hóa dân tộc
1.2.2 Đặc điểm chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa
1.2.2.1 Chính trị
Thắng lợi oanh liệt trong cuộc chiến đấu do Ngô Quyền lãnh đạo đã đưa người Việt thoát khỏi ách đô hộ hơn mười thế kỉ của các đế chế phương Bắc,
Trang 28trở thành dân của một quốc gia độc lập, tự chủ trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, … Lý Thái Tổ và các vị vua tiếp theo đều dùng các biện pháp tăng cường quý tộc hóa và quan liêu hóa dòng họ Lý, tạo ra một hoàng tộc lớn để nắm giữ các chức vụ chủ chốt của chính quyền Sau nội loạn
ba vương, Lý Thái Tông tăng cường thêm võ quan Những bầy tôi thân tín như Lê Phụng Hiểu, Lý Nhân Nghĩa được giữ các chức vụ chủ chốt trong triều Người thân của các hoàng hậu vào nắm chính quyền như một lực lượng của nội tộc họ Lý
Chính quyền địa phương các cấp đã có sự cải tổ trên quy mô lớn, góp phần quan trọng trong công cuộc quản lí toàn diện đất nước, tạo sức mạnh cho nhà nước họ Lý, cho quốc gia Đại Việt
Cuộc thay đổi triều đại, chuyển chính quyền từ họ Lý sang họ Trần diễn
ra trong hoàng cung và triều đình không gây xáo trộn xã hội Nhà Trần liên
kết dòng họ nắm quyền “Tông tử duy thành” như một nguyên tắc mà các vua
Trần cố gắng thực hiện Hầu hết các chức vụ quan trọng trong triều đình, ở các địa phương lộ, phủ đều do tông thất nắm giữ Theo quy chế quý tộc hóa, hoàng tử cả được phong tước vương Họ hàng xa được phong thượng vị hầu Các vương hầu ngoài việc nắm giữ chức vụ quan trọng trong triều đình còn được phái đi trấn trị các lộ phủ quan trọng Để quyền lợi thêm vững vàng, lâu bền, ngoài chế độ kế thừa quyền lợi và quan chức nhà Trần còn áp dụng lối kết hôn nội tộc
Bộ máy hành chính nhà Trần theo xu hướng quan liêu, những năm đầu
duy trì bộ máy chính quyền cũ Năm 1230, nhà Trần ra bộ Quốc triều thông
chế “xét các lệ của triều trước, định làm thông chế của quốc triều” quy định
bộ máy của nhà nước có kỉ cương hơn, hoàn chỉnh hơn, phù hợp với tình hình mới Việc phân chia bộ phận trung khu gồm tể tướng, á tướng, các quan chức
ở khu mật viện, hành khiển môn hạ sảnh tách khỏi và đứng trên các cơ quan
Trang 29chức năng là bước phát triển trong kết cấu và cơ chế của bộ máy nhà nước thời Trần
Nhà Trần thay nhà Lý, một sức bật mới nhanh chóng ổn định trật tự xã hội, sắp xếp chính quyền, đồng thời tăng cường lực lượng quân sự đủ sức đưa đất nước vượt qua các trở ngại, bảo vệ độc lập dân tộc
Khác với thời Lý, quan lại thời Trần có lương bổng Việc xét thành tích quan lại để thăng thưởng cũng được quy định cụ thể Nhà nước phong kiến thời Trần được xây dựng chủ yếu trên hai cơ sở xã hội là quý tộc họ Trần và
Nhà Trần rất coi trọng binh pháp và kỉ luật quân sự Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên đã chứng tỏ sự đúng đắn, sáng tạo của tổ chức quân đội và chính sách xây dựng lực lượng vũ trang nhà Trần trong thế
kỉ XIII Hàng loạt chiến thắng ở Đông Bộ Đầu (1258), Hàm Tử, Tây Kết (1285) và đặc biệt là chiến thắng Bạch Đằng (1288) trở thành hình ảnh tiêu biểu của quân đội Đại Việt thời Trần
Lực lượng Phật giáo thời Lý rất lớn, càng về sau càng phát triển Phật giáo đã đông người lại có ruộng đất riêng, tham gia công việc của chính quyền ở trung ương và các địa phương Trong xã hội thời Trần, lễ giáo, đẳng cấp nho học trong nông thôn chưa sâu sắc lắm, ý thức về tông tộc, tông pháp trong dân gian vẫn còn mờ nhạt, phong tục tập quán (ma chay, tang tế) vẫn
Trang 30giữ tính bản địa Một thời gian dài, tín ngưỡng dân gian cổ truyền vẫn giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh người Việt trong khi Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo được truyền vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc
Quan hệ với Trung Quốc thời kì này không phải là luôn thân thiện, nhiều vua chúa Chăm nuôi dưỡng ý đồ xâm lược song kết quả nước Đại Việt trước sau vẫn nguyên vẹn và quyền tự chủ của Việt Nam đã được thừa nhận, bờ cõi được mở mang về phía Nam Các triều đại thời Lý - Trần đã góp phần trực tiếp vào sinh hoạt tín ngưỡng và tôn giáo của nhân dân, Phật giáo sớm được phổ cập và đạt mức cực thịnh ở các thế kỉ từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIII
1.2.2.2 Kinh tế
Sang thế kỷ XI với vương triều Lý, nhà nước trung ương tập quyền hoàn toàn thắng thế, liên tục phá Tống bình Chiêm, đưa uy tín nước Đại Việt lên đỉnh cao Đối với dân tộc, nhà Lý đóng vai trò rất tích cực, có nhiều chính sách toàn diện để xây dựng một quốc gia độc lập vững chắc Các công trình nghiên cứu khẳng định xã hội Việt Nam trong giai đoạn này là một xã hội
không thuần nhất về mặt hình thái Đây “là giai đoạn chuyển biến từ hình thái
kinh tế xã hội châu Á tiền phong kiến đến hình thái châu Á phong kiến hóa mạnh mẽ” [56, tr 293] Đầu thế kỉ XI, thành phần kinh tế tư nhân trở thành bộ
phận hữu cơ của nền kinh tế Giữa thế kỉ XIII, nhà Trần cho bán công điền thành tư điền Sự tác động của kiến trúc thượng tầng như điều kiện đủ cuối cùng cho việc xuất hiện kết cấu kinh tế xã hội mới: kinh tế xã hội phong kiến Chế độ sở hữu công xã, cơ sở để thiết lập một chế độ sở hữu nhà nước đã sản sinh ra một quốc gia thống nhất, một chính quyền tập trung, vững mạnh
Việc sở hữu ruộng đất thời Lý - Trần có “quốc khố điền và thác đao
điền” Quốc khố điền là ruộng của nhà nước mà hoa lợi thu hoạch sẽ được dự
trữ trong kho triều đình để dùng riêng cho nhà vua và hoàng cung Đồn điền
Trang 31là tổ chức khai hoang ở các vùng ven sông, ven biển thuộc đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Lam Tù binh trong chiến tranh là lực lượng chủ yếu làm trong các đồn điền khai hoang Ruộng tịch điền vẫn được duy trì và kế thừa Ruộng sơn lăng là loại ruộng dùng vào việc thờ phụng tổ tiên dòng họ nhà vua Chính sách ngụ binh ư nông của nhà Lý và nhà Trần với nội dung là các ngoại binh không phát lương mà thay phiên về làm ruộng cũng phản ánh
sự tồn tại phổ biến ruộng đất công làng xã được chia cho nông dân
Ruộng thác đao là ruộng nhà Lý ban cấp để thưởng công Hình thức ban cấp thực ấp và đất phong là đặc trưng của thời Lý Thời Trần, kiểu ban cấp này không còn, ruộng đất công triều đình chiếm một bộ phận lớn, chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân đã phổ biến và phát triển
Những thành tựu trong các chính sách nông nghiệp nhà Lý về trị thủy và thủy lợi, về bảo vệ con người - sức lao động, bảo vệ trâu bò - sức kéo nông nghiệp đã thể hiện tính tích cực của nhà nước thời Lý trong thế kỉ XI - XII Nhờ đó, trong hai thế kỉ này đời sống của nhân dân tương đối ổn định, là cơ
sở vật chất cho những thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống, bảo vệ Tổ quốc
Vào thời Lý, nước ta có nhiều nghề thủ công nghiệp như dệt, đồ gốm, đúc đồng, … Nghề in bản gỗ cũng đã xuất hiện Nhiều nghề có tác dụng quyết định đến sự nghiệp xây dựng các công trình kiến trúc cũng như trong nghệ thuật trang trí, tạo hình
Thời Trần, sự thống trị trên phạm vi cả nước và uy quyền chuyên chế của
hoàng đế đã tạo thành quan niệm “đất của vua, chùa của Bụt” Quan niệm
này đã xác nhận sự tồn tại tự nhiên: chế độ sở hữu ruộng đất nhà nước phổ biến với hai bộ phận cấu thành: ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lí và ruộng đất công của thôn làng
Trang 32Nếu ở thời Lý “các quan trong, quan ngoài đều không được cấp bổng”
thì đến thời Trần định lệ cấp bổng cho các quan văn võ trong ngoài đã được thực hiện Ban cấp thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở
xã hội cho chính quyền nhà Trần Điền trang đáp ứng nhu cầu khẩn trương
mở rộng diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng củng cố thế lực của quý tộc Điều lệ điền trang năm 1266 đẩy mạnh sự phát triển sở hữu lớn của các quý tộc họ Trần, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ mở rộng cho hình thái kinh tế phong kiến Trước đó, năm 1254 là thời điểm quan trọng đánh dấu sự phát triển của ruộng đất tư hữu Ruộng đất trở thành hàng hóa mua bán, trao đổi đã tạo ra tầng lớp đặc biệt địa chủ thường hay địa chủ thứ dân và một tầng lớp tiểu nông tư hữu nhỏ trong xã hội
Ở thời Lý, việc trị thủy do các địa phương tự lo liệu Thời Trần, họ Trần vừa nắm chính quyền đã có biện pháp nhanh chóng phục hồi sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác, áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích nông nghiệp, trong đó có tổ chức làm thủy lợi trong phạm vi cả nước
Kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp được nhà Trần tiếp tục xây dựng và coi là thành phần kinh tế quan trọng Nhiều làng chuyên nghiệp rèn sắt được hình thành Nghề mộc và xây dựng cũng rất được quan tâm Sự phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và yêu cầu của văn thư hành chính đòi hỏi nghề làm giấy và khắc bản in ngày càng phải được mở rộng hơn so với thời
Lý
Khai thác tài nguyên trong lòng đất được cả hai triều đại đặc biệt lưu ý Hầu hết các mỏ được khai thác trong thời kì này ở miền núi phía Tây và phía Bắc Thư tịch cổ cho biết các phủ châu Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Hóa, Quảng Oai có các mỏ vàng, bạc, đồng, thiếc, chì, diêm tiêu Việc khai thác
mỏ nhằm thỏa mãn nhu cầu đúc tiền và các nông cụ cũng như đúc chuông, đúc tượng
Trang 33Trong thương nghiệp, đồng tiền đã được thông dụng Quan hệ tiền tệ đã xâm nhập vào đời sống chính trị và tín ngưỡng Tiền đồng Đường Tống của Trung Quốc vào Đại Việt chiếm một tỉ lệ lớn, thể hiện mối quan hệ buôn bán khá phát triển giữa Đại Việt và Trung Hoa
Hệ thống giao thông thủy bộ trong cả nước được nhà Trần quan tâm kiến tạo Các cửa biển Hội Thống, Cần Hải (Nghệ Tĩnh), Hội Triều (Thanh Hóa)
và Vân Đồn là những trung tâm buôn bán lớn với người nước ngoài
Kinh đô Thăng Long đến đời Trần, cơ bản vẫn giữ cấu trúc như đời Lý, trở thành trung tâm chính trị, văn hóa đồng thời cũng là trung tâm kinh tế lớn nhất và có ảnh hưởng tới các vùng xung quanh Sự mở rộng buôn bán với người nước ngoài khiến cho Thăng Long đời Trần mang dáng vẻ quốc tế của một đô thành với kết cấu từ một trung tâm chính trị mở rộng thành một trung tâm kinh tế - văn hóa Khu Tức Mặc - Thiên Trường được xây dựng nâng vị trí thành trung tâm chính trị, kinh tế xã hội đặc biệt từ năm 1239 Những hoạt động quân sự, chính trị, văn hóa giáo dục, kinh tế của Thăng Long và Tức Mặc tiêu biểu cho cả nền văn hóa chung ở thời kì này đã góp phần thúc đẩy
xã hội Đại Việt phát triển Cơ sở kinh tế ổn định là nền tảng cho sự phát triển
xã hội Ý thức dân tộc trưởng thành đã thôi thúc xây dựng một nền văn hóa nghệ thuật dân tộc đặc sắc và toàn diện
1.2.2.3 Xã hội
Sự phân hóa xã hội theo hướng phong kiến Trung Quốc từ thời Bắc thuộc đã diễn ra, được đẩy nhanh trong các thế kỉ XI - XIV thời đại Lý - Trần, dần dần hình thành những giai cấp chính của xã hội mới Giai cấp thống trị thời kì này bao gồm các vương hầu, quý tộc, quan lại cao cấp và một bộ phận địa chủ quan chức hóa Giai cấp bị trị bao gồm đông đảo nhân dân thuộc nhiều tầng lớp khác nhau như địa chủ, nông dân, thợ thủ công, thương nhân,
Trang 34nô tì, … Làng xã vẫn là tế bào kinh tế - xã hội cơ bản, mang trong mình khá nhiều tàn dư của xã hội nguyên thủy Giai cấp nông dân chiếm số lượng tuyệt đại đa số trong cư dân và là lực lượng sản xuất chủ yếu, gánh trên vai mọi trọng trách của xã hội: làm ruộng, đóng thuế, đi lính, lao dịch, chiến đấu bảo
vệ Tổ quốc Số lượng thợ thủ công không nhiều, vẫn gắn bó với ruộng đồng nhiều hơn Thương nhân ngày càng nhiều nhưng ít người chuyên buôn bán để sống Nhờ buôn bán với thương nhân nước ngoài hay buôn bán trong nước, giữa thế kỉ XIV xuất hiện nhiều nhà giàu có Trần Dụ Tông đã từng chiêu tập các nhà buôn giàu ở Đình Bảng (Bắc Ninh), Nga Đính (Hà Tây) vào cung
đánh bạc “có tiếng đặt gần 300 quan” Lớp địa chủ phi quan chức thuộc loại
“thứ nhân” dù đời sống kinh tế khá hơn vẫn bị trị như nông dân, thợ thủ công
và thương nhân Tầng lớp nô tì với những thân phận khác nhau của nhà nước, nhà chùa hay của tư nhân là tầng lớp thấp nhất trong xã hội
Thời Trần, trong chiến tranh giữ nước, gia nô, gia đồng của các quý tộc từng có nhiều đóng góp trong lực lượng quân sự Dưới sự tổ chức và lãnh đạo của triều Trần với những vị vua, những vị thượng hoàng anh minh như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, với những triều thần quyết đoán như Trần Thủ Độ, những tướng soái kiệt xuất như thiên tài quân sự Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, nước Đại Việt đã ba lần đánh thắng quân xâm lược Mông - Nguyên, ghi vào lịch sử dân tộc những chiến công hiển hách thể hiện hào khí Đông A Giữa thế kỉ XIV, nước Đại Việt gặp một số khó khăn do sự suy sụp của triều Trần Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến, trong khung cảnh hòa bình, tầng lớp quý tộc họ Trần có xu hướng ăn chơi, hưởng lạc trên sự bóc lột nhân dân Chế độ phong kiến trải qua một số biến động sâu sắc Sự oán giận, bất bình của nhân dân với triều Trần lên cao Mâu thuẫn xã hội phát triển đến mức độ bùng nổ thành bạo động của quần chúng
Do yêu cầu phát triển của chế độ quân chủ tập quyền, nhà Trần vừa tôn sùng
Trang 35đạo Phật, vừa dựa vào Nho giáo, phát triển chế độ khoa cử, đào tạo đội ngũ quan lại nho sĩ Một số quan liêu nho sĩ như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh đã phê phán Phật giáo, đòi hỏi cải cách song các vua Trần luôn chủ trương theo phép
cũ của tông tộc không có sự thay đổi, nhân danh truyền thống và tự chủ
1.2.2.4 Văn hóa
Sau chiến thắng Bạch Đằng (938), đất nước ta bước vào thời kì xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trên quy mô lớn, bước vào kỉ nguyên của văn minh Đại Việt, kỉ nguyên văn trị võ công rực rỡ thời Lý - Trần Đây chính bước chuyển mang tính đặc thù lịch sử Việt Nam từ thời Bắc thuộc sang thời kì độc lập và phục hưng dân tộc
Giai đoạn mở đầu nền độc lập, tự chủ giai cấp thống trị nội tộc muốn tìm một tôn giáo làm nền tảng cho việc xây dựng chế độ và cho sinh hoạt tâm linh người Việt, chưa chấp nhận ảnh hưởng của Nho giáo phương Bắc
Thế kỉ XIV, địa vị của Nho giáo dần dần được nâng cao Đạo giáo - một tôn giáo có mặt ở Việt Nam từ thời kì đầu Bắc thuộc, nhanh chóng hòa vào các tín ngưỡng cổ truyền của nhân dân, đến thời đại Lý - Trần đã cùng với Phật giáo, Nho giáo tạo nên quan niệm “tam giáo đồng nguyên”, chi phối đời sống tinh thần nhân dân Đại Việt Tam giáo đồng nguyên xuất hiện như một hình thức cụ thể của sự dung hợp tôn giáo
Về giáo dục, đầu thế kỉ XI, chữ Hán đã trở thành chữ viết chính thức nhưng số người biết chữ còn rất ít Các nhà sư là tầng lớp trí thức quan trọng bên cạnh các viên chi hậu, ngoại lang Năm 1076, nhà Lý mở kì thi viết, toán
và luật để chọn người làm lại viên; năm 1195, mở kì thi tam giáo Năm 1232, nhà Trần mở khoa thi Nho học đầu tiên của triều đại mình Trong nhân dân, Nho học cũng từng bước phát triển Ban đầu khi chưa có trường học, nhà chùa là nơi dạy chữ Nho, dạy các sách kinh sử Phật giáo, Nho giáo Sự phát
Trang 36triển của giáo dục Nho học đã góp phần phổ cập tư tưởng Nho giáo trong nhân dân với các quan niệm về tam cương, ngũ thường, trung quân
Một thành tựu lớn của thời kì này là sự sáng tạo ra chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán Chữ Nôm sau khi ra đời được hoàn thiện dần và được dùng trong sáng tác thơ văn Nhiều người dùng chữ Nôm trong sáng tác thơ văn nổi tiếng như Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Hồ Quý Ly, vv
Trong lĩnh vực khoa học - kĩ thuật, toán học đã được sử dụng Thiên văn học trở thành một bộ môn được quan tâm Cuối thế kỉ XIV, do nhu cầu quốc phòng, nhà chỉ huy quân sự Hồ Nguyên Trừng đã sáng chế ra các loại súng lớn nhỏ gọi là thần cơ và cùng các thợ thủ công đóng loại thuyền chiến có lầu Đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa thời kì này đã góp phần tạo nên một nền văn học phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc Một lịch sử văn chương Phật giáo được ra đời Với ý thức dân tộc, nhân dân Đại Việt không chỉ xây dựng cho mình một nền văn học phong phú mà còn xây dựng một nền nghệ thuật đặc sắc Chùa chiền được dựng lên khắp nơi và trở thành biểu tượng của nghệ thuật Phật giáo Các chùa thường có tháp lớn Hội họa, kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật biểu diễn đều phát triển Văn minh Đại Việt đương thời có sự đóng góp tích cực của văn hóa nghệ thuật nói chung và văn hóa nghệ thuật Phật giáo nói riêng
Tiểu kết chương 1
Chương 1 của luận văn đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về Phật giáo và thời đại Lý - Trần ở Việt Nam làm tiên đề nghiên cứu tác động của Phật giáo đến văn hóa nghệ thuật Việt Nam trong thời đại Lý - Trần ở phần tiếp theo
Ở tiết 1.1 chúng tôi đã trình bày một cách khái lược về nguồn gốc ra đời của Phật giáo, cơ cấu của Phật giáo và sự xâm nhập của Phật giáo vào Việt Nam từ trước, sau Công nguyên đến thời đại Lý - Trần Trong tiết này, chúng tôi muốn làm rõ vấn đề: Phật giáo như một thực thể văn hóa Phật giáo có thể
Trang 37nhìn từ khía cạnh triết học là một hình thái ý thức xã hội, có thể nhìn từ chiều cạnh văn hóa học là một lĩnh vực văn hóa tinh thần Đồng thời, chúng tôi cũng làm rõ kết cấu của Phật giáo để nhận thức sâu hơn về Phật giáo và làm
cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa nghệ thuật thời đại Lý
- Trần
Ở tiết 1.2 chúng tôi phác họa một cách sơ lược về thời đại Lý - Trần, nền cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa qua mối quan hệ giữa Phật giáo với văn hóa nghệ thuật Trong tiết này, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh tiền đề chính trị của thời đại Lý - Trần Đó là sự nghiệp phục hưng dân tộc, xây dựng quốc gia độc lập, tự chủ sau nghìn năm Bắc thuộc và sự nghiệp đấu tranh bảo
vệ nền độc lập tự chủ với những chiến công hiển hách: hai lần phá Tống, ba lần chống Mông - Nguyên và bình Chiêm thắng lợi Giai cấp phong kiến đại diện cho dân tộc có những quan điểm, đường lối xây dựng đất nước, phát triển văn hóa dân tộc tích cực, nhân dân hào hứng, vững bước xây dựng, bảo
vệ đất nước và cuộc sống của mình Đó là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Phật giáo và phát huy vai trò của Phật giáo trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa nghệ thuật
Trang 38Chương 2 TÁC ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
TRONG THỜI ĐẠI LÝ - TRẦN
2.1 Quan niệm văn hóa nghệ thuật và văn hóa nghệ thuật thời đại
Lý - Trần
2.1.1 Quan niệm về văn hóa nghệ thuật
Nghệ thuật là một yếu tố cơ bản của văn hóa, bao gồm văn chương, mĩ thuật, âm nhạc, diễn xướng, Ở Việt Nam, gần đây đã xuất hiện quan niệm
quý báu của dân tộc Việt Nam Trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa toàn quốc năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc tới cụm từ văn
hóa nghệ thuật và nhấn mạnh: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận Anh
chị em nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy” Khi bàn về văn hóa nghệ thuật,
tuy có nhiều ý kiến khác nhau nhưng những vấn đề cơ bản đã được thống
nhất Chúng tôi đồng tình với quan điểm của các tác giả “Giáo trình lí luận
văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng” thuộc Học viện chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh:
Văn hóa nghệ thuật là một bộ phận của văn hóa tinh thần, là thành tố trọng yếu nhất của văn hóa thẩm mĩ, tuân thủ những quy luật chung của văn hóa và văn hóa thẩm mĩ Tuy nhiên, sự biểu hiện của những quy luật chung
đó trong văn hóa nghệ thuật mang tính đặc thù riêng
Văn hóa nghệ thuật không chỉ bao gồm toàn bộ các giá trị nghệ thuật ở tất cả các loại hình, loại thể mà là tổ hợp những thành tố có mối liên hệ hữu
cơ quy định lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất Các thành tố đó là:
Trang 39+ Đội ngũ nghệ sĩ và quá trình sáng tạo nghệ thuật;
+ Các tổ chức, thiết chế đảm bảo việc đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng nghệ
sĩ, đảm bảo những điều kiện cho sáng tạo nghệ thuật;
+ Các giá trị nghệ thuật, những kết quả của sáng tạo nghệ thuật Các cơ quan nghệ thuật và các phương tiện phổ biến, nhân bản các giá trị nghệ thuật, nhằm đưa các tác phẩm nghệ thuật đến với công chúng;
+ Công chúng nghệ thuật và sự tiêu dùng nghệ thuật của công chúng; + Đội ngũ những người nghiên cứu lí luận và phê bình văn hóa nghệ thuật có nhiệm vụ hướng dẫn và hình thành sự sáng tạo nghệ thuật, hình thành
dư luận, góp phần giáo dục và phát triển thị hiếu nghệ thuật của công chúng; + Các cơ quan lãnh đạo và quản lí sự phát triển và vận hành của văn hóa nghệ thuật;
+ Nghệ thuật nghiệp dư của quần chúng với tất cả đội ngũ, hoạt động và thiết chế (kể cả sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian)
Nếu khái quát lại thì cấu trúc của văn hóa nghệ thuật bao gồm bốn thành
Các thành tố kể trên không tồn tại cô lập mà ở trong mối liên hệ hữu cơ ảnh hưởng quy định lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất Văn hóa nghệ thuật là sự phát triển những năng lực nghệ thuật của con người (nghệ sĩ
và công chúng), thể hiện ở hoạt động nghệ thuật nhằm sáng tạo và cảm thụ những giá trị nghệ thuật Khái niệm này cũng nhằm để chỉ cơ chế hoạt động
Trang 40của văn hóa nghệ thuật bao gồm quá trình sáng tạo, quá trình bảo quản và phân phối, quá trình phổ biến và tiêu thụ các giá trị nghệ thuật, cùng những cơ quan, tổ chức, thiết chế bảo đảm quá trình vận hành ấy
Văn hóa nghệ thuật thời đại Lý - Trần thuộc thời kì phong kiến chưa thể đạt đến sự hoàn chỉnh của cấu trúc kể trên
2.1.2 Văn hóa nghệ thuật thời đại Lý - Trần
Về tư tưởng thời Lý, Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ lâu, đã có vai trò đáng kể trong sinh hoạt tư tưởng và văn hóa của nhân dân, trở thành thế giới quan cho việc nhận thức, đánh giá những hiện tượng xã hội, những hành vi của con người Ba trào lưu này đã có sự tương
nhượng, dung hòa lẫn nhau trong tinh thần “tam giáo đồng nguyên” Chiếu
dời đô của Lý Thái Tổ biểu lộ sự tin chắc vào ảnh hưởng thần bí của đất theo
thuyết phong thủy, xuất phát từ Đạo giáo, từ lí “trên tuân mệnh trời, dưới theo
lòng dân để ngôi nước được dài lâu” và tư tưởng Thiên mệnh của Nho giáo
để tính việc muôn đời cho con cháu Cuối đời Lý, bước sang đời Trần, Phật giáo được phát triển thống nhất về một mối Đến thời Trần có thể được gọi là thời đại “Phật giáo nhất tông”, thời đại của một phái Phật giáo duy nhất
Trong dòng chảy văn hóa nghệ thuật,văn học Lý - Trần phản ánh những
tư tưởng và tình cảm của con người thời đại, nhìn chung mang nhiều yếu tố lạc quan, tích cực Thời kì này xuất hiện hai dòng văn học chính: văn học Phật giáo và văn học yêu nước, dân tộc Một số vị vua và quý tộc sùng Phật
đã biên soạn những tác phẩm về giáo lí nhà Phật, về lịch sử Phật giáo Một số cuốn sách, cùng với những bản kinh Phật giáo, đã được nhà nước cho đem khắc in và phổ biến Dòng thơ văn yêu nước, dân tộc cũng đã giữ một vị trí rất quan trọng trong thơ văn Lý - Trần, phản ánh tinh thần bất khuất, anh dũng chống giặc, lòng trung quân ái quốc cũng như lòng tự hào dân tộc qua những