Việc xử lý những kết quả điều tra xã hội học trên nhiều phương diện, từ nhiều góc độ với những biểu hiện của lối sống sinh viên đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống sẽ cho th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ THÔNG TIN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS ĐINH THỊ VÂN CHI
HÀ NỘI - 2006
Trang 21.1.3 Một số khái niệm liên quan đến lối sống 18
1 2 Lối sống sinh viên - 20
1.2.1 Khái niệm sinh viên - 20 1.2.2 Khái niệm lối sống sinh viên 22
1.2.3 Sự thay đổi hoàn cảnh - Nhân tố quan trọng tác động đến sự hình thành lối sống
sinh viên 30
1.3 Nội dung xây dựng lối sống sinh viên trong giai đoạn hiện nay - 33
1.3.1.Xây dựng ý thức và mục đích học tập - 33 1.3.2 Xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên - 34 1.3.3 Xây dựng ý thức sinh hoạt và kế hoạch sử dụng thời gian rỗi
cho sinh viên - 35
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HIỆN NAY - 38
2.1 Thực trạng lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông
Vận tải
hiện nay - 38
2.1.1 Biểu hiện lối sống của sinh viên qua hoạt động học tập 39 2.1.2 Biểu hiện lối sống của sinh viên qua các hoạt động khác - 49
Trang 32.1.3 Biểu hiện lối sống của sinh viên thông qua sinh hoạt và sử dụng
thời gian rỗi - 55
2.2 Đánh giá lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải - 62
2.2.1 Mặt tích cực - 62
2.2.2 Mặt tiêu cực - 66
2.3 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải hiện
- 67
2.3.1 Ảnh hưởng của cơ chế thị trường - 67
2.3.2 Ảnh hưởng của môi trường xã hội - 70
2.3.3 Đặc điểm của tâm lý lứa tuổi - 74
Chương 3: MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HOÁ CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI - - 76
3 1 Một số yêu cầu của việc xây dựng lối sống văn hoá cho sinh viên - 76
3.1.1 Dựa trên cơ sở tâm lý, nhu cầu của tuổi trẻ - 76
3.1.2 Dựa trên định hướng giá trị - 77
3.1.3 Đảm bảo những điều kiện ổn định xã hội về mọi mặt - 78
3.1.4 Xây dựng lối sống văn hoá cho sinh viên là trách nhiệm của toàn xã hội - 78
3.2 Một số giải pháp xây dựng lối sống văn hoá cho sinh viên - 79
3.2.1 Đối với nhà nước - 79
3.2.2 Đối với nhà trường - -81
3.2.3.Đối với gia đình - 87
Trang 43.2.4 Đối với bản thân sinh viên - 90 KẾT LUẬN - 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO - 94 PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Phiếu trưng cầu ý kiến - 01 Phụ lục 2 Hình ảnh minh họa 07
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1: Kết quả học tập năm học 2004 - 2005 hệ
chính quy tại HN - 42
2 Bảng 2.2: Kết quả thi Olympic - 43
3 Bảng 2.3: Động cơ học đại học của sinh viên -44
4 Bảng 2.4: Đánh giá của sv về một số biểu hiện lệch chuẩn trong học tập -46
5 Bảng 2.5: Ý thức của sv tham gia các hoạt động đoàn thể -55
6 Bảng 2.6: Kết quả học tập của sinh viên -64
7 Bảng 2.7: Kết quả nghiên cứu khoa học -65
8 Bảng 2.8 Tổng số sinh viên được kết nạp đảng - 64
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1: Mức độ hứng thú với các hình thức học tập
của sinh viên -48
2 Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ sinh viên học thêm -50
3 Biểu đồ 2.3: Tình hình làm thêm của sinh viên trường
ĐH GTVT -51
4 Biểu đồ 2.4: Việc phấn đấu vào Đoàn, vào Đảng của
sinh viên - 53
5 Biểu đồ 2.5: Mục đích vào Đoàn, vào Đảng của sinh viên -54
6 Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ sinh viên tham gia các đội công tác xã hội
của trường ĐHGTVT -55
7 Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ sinh viên giành thời gian trong ngày cho
hoạt động giải trí -60
Trang 8MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ khi ra đời và trong suốt qua trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta luôn coi văn hoá là một lĩnh vực quan trọng của sự nghiệp gìn giữ và phát triển đất nước Tại Hội nghị TW 5 (khoá VIII), Đảng ta đã xác định: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội Hội nghị đã đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đội ngũ sinh viên là một bộ phận quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của dân tộc Vì vậy, phát triển giáo dục và đào tạo
là một trong những yêu cầu cấp thiết để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Giáo dục đào tạo có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ trí thức phục vụ công cuộc đổi mới của đất nước Ở đây, một trong những nhiệm vụ trọng yếu, nền tảng của chương trình giáo dục đại học là xây dựng một đôị ngũ trí thức có đạo đức tốt, có lối sống văn hoá, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, khoẻ mạnh về thể chất để xây dựng
và bảo vệ tổ quốc ta ngày thêm giàu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh Giáo dục cho mỗi con người có lối sống tốt sẽ tạo ra hệ điều chỉnh bên trong, phát huy tính tự giác, tự nguyện Đây là yếu tố kích thích tính tích cực trong mỗi con người, giúp họ biết giải quyết, ứng xử hài hoà các mối quan hệ trong xã hội, góp phần khắc phục sự mất cân đối trong quá trình phát triển con người dưới tác động mạnh
mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và cơ chế thị trường hiện nay
Việt Nam sau 20 năm đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường đã có những bước phát triển đáng tự hào Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng tạo cơ hội cho những yếu tố tiêu cực phát triển, khiến cho nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị lung lay Giới thanh niên, trong đó một bộ phận không nhỏ là sinh viên, là đối tượng chịu tác động của cơ chế thị trường nhiều nhất và thực tế đã có một số
Trang 9sinh viên suy thoái đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, thực dụng, thiếu hoài bão lập thân lập nghiệp vì tương lai bản thân, tiền đồ đất nước
Ở các quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng, sinh viên luôn là lực lượng nòng cốt của xã hội Họ có mặt ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng của đất nước Họ không chỉ là lực lượng năng động và nhạy cảm trong xã hội đương đại,
mà còn có nhiều đóng góp to lớn và hiệu quả đối với sự định hướng phát triển của tương lai.Với vai trò quan trọng như vậy trong sự nghiệp cách mạng của đất nước, vấn đề đạo đức, lối sống, giá trị tinh thần của thanh niên- sinh viên trở thành điểm nóng cần được quan tâm Với góc độ xã hội học, tâm lý học hay văn hoá học thì lối sống của một con người, một nhóm xã hội, một dân tộc đều có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực đời sống xã hội Lối sống của sinh viên có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập cuộc sống và sự nghiệp của họ Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài "Lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải giai đoạn hiện nay"
Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng lối sống của sinh viên nói chung và sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải nói riêng và đề xuất những giải pháp phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tiêu cực của lối sống đó là một yêu cầu cấp thiết
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong tình hình hiện nay, việc rèn luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên trở thành một vấn đề đặc biệt quan trọng Sinh viên là chủ nhân tương lai của đất nước, là những đại diện cho nền giáo dục của xã hội, bộ mặt văn hoá của xã hội Trong tương lai, Việt Nam phát triển ra sao, có vị thế như thế nào trên trường quốc tế; nền văn hoá của chúng ta sẽ được kế thừa, phát huy và nâng lên tầm cao mới cho phù hợp với xã hội hiện đại như thế nào, phụ thuộc rất nhiều vào thế hệ sinh viên ngày nay Đó là vinh dự và là trách nhiệm của các trường đại học và cao đẳng, các tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội và bản thân mỗi sinh viên Vì vậy, việc nghiên cứu lối sống nói chung đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm từ nhiều góc độ tâm lý học, xã hội học, văn hoá học nhưng hầu hết các công trình mới chỉ dừng lại ở góc độ lý luận Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Trang 10- Lê Thanh: Văn hoá và lối sống - Nhà xuất bản Thanh niên - Hà Nội 1998
- Thanh Lê (chủ biên): Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hoá- Nhà xuất bản Khoa học Xã hội - Hà Nội 2001
- Lê Như Hoa: Bản sắc dân tộc trong lối sống - Viện văn hoá và Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin - Hà Nội 2003
- Phong Châu, Nguyễn Trọng Thụ : Về lối sống mới của chúng ta - Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội 1983
- G.E.Gledoman, M.N.Rutkevich, X.X Vitsonhepxki b.s: Lối sống xã hội chủ nghĩa - Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội 1983
Trong các tác phẩm nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến lối sống nói trên, lối sống được biểu hiện ở rất nhiều phương diện Tuy nhiên, khía cạnh lối sống của sinh viên trong thời kỳ đổi mới chưa phải là nội dung quan tâm nhiều trong các tác phẩm nghiên cứu của họ Một vài năm gần đây, vấn đề lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông vận tải mới chỉ được đề cập ở các bài viết, bài báo, những ý kiến riêng rẽ của một số tác giả chứ chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề này Trong tình hình đó, đề tài của chúng tôi xác định mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích thực trạng lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng lối sống văn hoá cho đối tượng này, bằng cách đó góp phần vào việc việc xây dựng con người mới trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu lý luận nhằm xác định rõ khái niệm lối sống, các khái niệm liên quan đến lối sống
+ Trình bày đặc điểm của lối sống sinh viên
+ Phân tích thực trạng lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải trong giai đoạn hiện nay dựa trên các kết quả điều tra xã hội học và chỉ ra những nhân tố cơ bản tác động tới lối sống đó
Trang 11+ Phân tích nguyên nhân tình hình và đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng lối sống văn hoá cho sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải
4 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Lối sống là phạm trù có nội hàm rộng lớn Trong đề tài này, chúng tôi chọn
đối tượng nghiên cứu là lối sống, giới hạn phạm vi nghiên cứu là ở Trường Đại học Giao thông Vận tải trong giai đoạn hiện nay, nghiên cứu lối sống chủ yếu
trên bình diện xã hội học vì với khuân khổ của một luận văn thạc sĩ thì không thể nghiên cứu được hết những biểu hiện của lối sống trong xã hội Thực tế cho thấy, tầng lớp sinh viên nói chung đã bao gồm rất nhiều dân tộc, vùng miền, giới tính, khác nhau nên sẽ có những cách cư xử không giống nhau do ảnh hưởng của phong tục, tập quán, môi trường địa lý, điều kiện kinh tế, văn hoá, giáo dục từ nhiều vùng miền Tuy nhiên, với một trình độ học vấn như nhau, dưới tác động của nhiều yếu tố, sinh viên sẽ có những định hướng và những sở thích, lối sống giống nhau ở nhiều lĩnh vực Do vậy, trong luận văn này, chúng
tôi chọn khách thể nghiên cứu là sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Chúng tôi sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải tronggiai đoạn hiện nay, luận văn sẽ đưa ra:
- Đánh giá lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải dưới tác động của điều kiện sống hiện đại, nhất là của nền kinh tế thị trường
- Những yếu tố tác động tích cực và tiêu cực tới sự hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức và lối sống của sinh viên hiện nay Điều đó cũng chỉ ra
Trang 12rằng khi chúng ta xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì cũng đồng thời cần đặt lại vai trò và trọng tâm của văn hoá trong
xã hội hiện nay
- Một số yêu cầu và giải pháp nhằm xây dựng lối sống văn hoá trong sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải giai đoạn hiện nay
Việc xử lý những kết quả điều tra xã hội học trên nhiều phương diện, từ nhiều góc độ với những biểu hiện của lối sống sinh viên đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống sẽ cho thấy sự biến động, chuyển đổi của nhiều giá trị, chuẩn mực khi so sánh văn hoá lối sống của sinh viên ở giai đoạn trước khi đất nước đổi mới và giai đoạn từ khi đất nước đổi mới đến nay
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung Luận văn được
chia làm ba chương
Chương 1: Lối sống và lối sống của sinh viên
Chương 2: Lối sống của sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải trong giai đoạn hiện nay
Chương 3: Một số yêu cầu và giải pháp nhằm xây dựng lối sống văn hoá trong sinh viên Trường Đại học Giao thông Vận tải
Trang 13Chương 1
LỐI SỐNG VÀ LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN
1.1 KHÁI NIỆM LỐI SỐNG VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1.Khái niệm lối sống
1.1.1.1.Khái niệm lối sống theo triết học
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, khi nói về mối quan hệ giữa lối sống và phương thức sản xuất, C.Mác và Ăngghen đã viết: "Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân Mà hơn thế, nó là phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động đời sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ" [32, t3, tr.30]
Như vậy, có thể hiểu đoạn trích trên với 3 ý sau:
1 Con người muốn sống được trước hết phải sản xuất
2 Phương thức sản xuất là một hình thức hoạt động của con người, thông qua hoạt động đó mà con người biểu hiện bản thân mình
3 Phương thức sản xuất là một phương thức sinh sống nhất định của con người, là mặt cơ bản của lối sống
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin chúng ta cần tìm hiểu lối sống trước hết từ phương thức hoạt động sản xuất của con người ở cả mặt quan hệ với thiên nhiên (lực lượng sản xuất) và quan hệ xã hội (quan hệ sản xuất)
"Phương thức sản xuất là điều kiện kinh tế - xã hội của lối sống, là cơ sở đầu tiên để chúng ta tìm hiểu lối sống Tuy nhiên không thể đồng nhất phương thức sản xuất và lối sống vì những lẽ sau đây:
- Trong xã hội có giai cấp, không thể có một lối sống cho tất cả mọi người, lối sống hoàn toàn khác nhau giữa hai giai cấp đối lập trong cùng một phương thức
Trang 14sản xuất: khác nhau giữa chủ nô và nô lệ, giữa phong kiến và nông dân, giữa tư sản
và vô sản
- Phạm vi lối sống rộng hơn phạm vi của phương thức sản xuất Ngoài hoạt động sản xuất con người còn nhiều hoạt động phong phú khác: hoạt động xã hội, hoạt động chính trị, hoạt động tư tưởng văn hoá và hoạt động rèn luyện sức khoẻ
- Phạm vi lối sống có thể tương ứng với phạm vi của hình thái kinh tế xã hội, hình thái xã hội gắn liền với hoạt động của con người Ngược lại lối sống phản ánh hoạt động của chủ thể, bao gồm nhận thức, tình cảm, thái độ, động cơ trong mọi hoạt động của bản thân con người" [38, tr.8]
Lối sống cũng như phương thức sản xuất được quyết định một mặt bởi quan
hệ thực tiễn của con người đối với tự nhiên, bởi trình độ quan hệ kỹ thuật và năng suất lao động của họ, và mặt khác, bởi tính chất quan hệ sản xuất, chế độ kinh tế của xã hội, cơ sở của toàn bộ hệ thống quan hệ sản xuất
Việc xác định lối sống không chỉ là điểm xuất phát để hiểu những đặc trưng hoạt động sống của con người trong xã hội này hoặc trong xã hội khác, mà còn cho phép hiểu rõ cơ sở chung và những nhân tố chủ yếu của sự hình thành, phát triển
và thay đổi lối sống của con người
Trong lịch sử loài người, mỗi lối sống đều được hình thành trên những quan
hệ sản xuất nhất định và có những cơ sở kinh tế nhất định của nó Trong những hình thức hoạt động quan trọng nhất của con người thì hoạt động lao động đương nhiên chiếm hàng đầu, không có lao động thì không thể có ngay cả sự tồn tại của
xã hội
Khi nghiên cứu về lối sống, tiến sĩ triết học V.I Tolstykh đã phân tích khái niệm lối sống theo quan điểm triết học trong tác phẩm Lối sống (khái niệm, hiện thực, các vấn đề) Ông cho rằng định nghĩa về lối sống có thể được sử dụng trong những công trình nghiên cứu riêng theo góc độ khác nhau nhưng phải giữ được bản chất của hiện tượng ấy Tính tất yếu của đời sống là điều kiện chung cho toàn bộ
Trang 15lịch sử xã hội, thì vấn đề con người sống trong thực tế như thế nào - tức là vấn đề lối sống của nó - được giải quyết theo những hoàn cảnh cụ thể
V.I.Tolstykh định nghĩa lối sống là: "Những hình thức cố định (điển hình
đối với những quan hệ xã hội cụ thể) của hoạt động sống cá nhân và tập đoàn của con người, những hình thức ấy nói lên những đặc điểm về sự giao tiếp hành
vi và nếp nghĩ của họ trong các lĩnh vực lao động, hoạt động xã hội - chính trị, sinh hoạt và giải trí" [47, tr.6]
Bởi thế, lối sống phải được hiểu như là một tổng thể các hình thức hoạt động liên hệ với nhau trong sự thống nhất không thể chia cắt với các điều kiện hoạt động
ấy Điều kiện hoạt động ở đây có thể chia thành điều kiện vật chất và tinh thần vì lối sống là một phạm trù hết sức rộng và phổ biến
1.1.1.2 Khái niệm lối sống theo xã hội học
Các nhà nghiên cứu xã hội học Việt Nam đã đưa ra những khái niệm rất khác nhau về lối sống Từ những phạm vi rộng lớn của lối sống, tác giả Đặng Quang Thành đã đưa ra định nghĩa về lối sống như sau:
"Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: Trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hoá" [38, tr 9]
Tác giả Lê Như Hoa đã nêu: "Lối sống" là một khái niệm có tính chất đồng
bộ và tổng hợp Nó bao gồm các mối quan hệ kinh tế xã hội, tư tưởng, tâm lý, đạo đức và các mối quan hệ khác của con người, đặc trưng sinh hoạt của họ trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Lối sống có liên quan tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá và sinh hoạt của con người, của các tập đoàn, giai cấp và của xã hội Vì vậy nó trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau [20, tr.17]
Trang 16M.N Rutkevich, viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô trước đây, nhà xã hội học nổi tiếng, đã coi lối sống là một phạm trù xã hội học Ông cũng xuất phát từ di sản lý luận của các nhà kinh điển Mác - Lê nin về vấn đề này nên cho rằng lối sống là một hiện tượng xã hội chỉ có thể được xem xét tổng hợp trong
sự thống nhất và trong mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa các mặt khác nhau của đời sống xã hội Theo ông, lối sống được quyết định một mặt bởi quan hệ thực tiễn của con người với tự nhiên, bởi trình độ trang bị kỹ thuật và năng suất lao động của họ (tức là trạng thái lực lượng sản xuất) và mặt khác bởi tính chất của quan hệ sản xuất, bởi chế độ kinh tế của xã hội, cơ sở của toàn bộ hệ thống quan hệ sản xuất Trong khái niệm lối sống "phương thức hoạt động được nhấn mạnh" nhưng mặt khác, lối sống không chỉ nói lên khía cạnh kinh tế của đời sống, hoạt động lao động của con người, mà còn nói lên hoạt động ngoài sản xuất của họ, những đặc điểm cơ bản về sinh hoạt, văn hoá, đời sống chính trị, đạo đức Vì vậy, khái niệm lối sống có liên quan chặt chẽ với khái niệm hình thái kinh tế - xã hội, hình thái kinh tế xã hội nào lối sống ấy [21, tr 12]
Ngoài hoạt động sản xuất, con người còn nhiều hoạt động phong phú khác Lối sống còn bao gồm nhận thức, tình cảm, thái độ , động cơ trong mỗi hoạt động, mang tính chủ quan của bản thân con người Từ phân tích trên Rutkevich đã đưa ra
định nghĩa về lối sống như sau: "Lối sống là tập hợp hệ thống những nét căn bản
nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái xã hội - kinh tế nhất định" [21, tr 12]
Rutkevich cho rằng lối sống là tập hợp những hình thức hoạt động của con người nằm trong sự thống nhất với những điều kiện của hoạt động ấy Không thể đối lập các điều kiện hoạt động với lối sống Cần phải đặc biệt nhấn mạnh rằng những điều kiện hoạt động của con người bao gồm cả chế độ xã hội, hệ thống quan
hệ sản xuất Rutkevich đã bác bỏ một quan niệm cực đoan chủ trương loại bỏ hoàn toàn mọi điều kiện, kể cả những điều kiện xã hội (tức là những quan hệ xã hội) ra khỏi lối sống Như vậy, có thể bổ sung định nghĩa về lối sống trên như sau: lối
Trang 17sống là tập hợp những hình thức hoạt động sống cơ bản tuỳ theo những điều kiện hoạt động và những nhu cầu của con người do điều kiện ấy quyết định
Dù tiếp cận lối sống ở nhiều góc độ khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất ở những điểm sau:
- Xuất phát từ luận điểm của C.Mác và Ăngghen gắn liền lối sống với phương thức sản xuất và hình thái kinh tế xã hội
- Coi lối sống là một tập hợp của những quan hệ xã hội, của con người trong lĩnh vực sản xuất, bao hàm mọi lĩnh vực hoạt động sống cơ bản của con người
- Nhấn mạnh những nét căn bản, mang tính bản chất của nó Cái điển hình, cái chung của phương thức hoạt động sống được coi là có ý nghĩa quyết định nhất của lối sống
Như vậy, lối sống với tư cách là một khái niệm xã hội học nói lên hoạt động sống của con người trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Nó mang các thuộc tính về cả lượng và chất, bởi vì nó được quy định bởi toàn bộ phương thức sản xuất nói chung, tức là không chỉ bởi tính chất của quan hệ sản xuất mà còn bởi trình độ của lực lượng sản xuất Nói cách khác, không thể hiểu được lối sống của con người nếu không biết họ sản xuất và tiêu dùng như thế nào, với số lượng bao nhiêu, bằng phương tiện gì
1.1.1.3 Khái niệm lối sống dưới góc độ kinh tế học
Nghiên cứu lối sống ở góc độ kinh tế học, tác giả Thanh Lê cho rằng : "Lối
sống với tư cách là một phạm trù xã hội - kinh tế, không thể hoàn toàn thuộc về những hiện tượng cơ sở hay kiến trúc thượng tầng Nó tổng hợp ảnh hưởng của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Nó tổng hợp ảnh hưởng của lực lượng sản xuất , quan hệ sản xuất và kiến của tất cả các quan hệ xã hội - kinh tế trong xã hội của nền văn hoá xã hội đối với con người" [31, tr.22]
Trang 18N.I Kapustin đã phân tích sự khác nhau và mối liên hệ lẫn nhau giữa khái niệm "lối sống" và "mức sống" Theo ông: "Cái chủ yếu trong khái niệm lối sống
là những khía cạnh xã hội như sự hài lòng về lao động; không khí tâm lý trong các tập thể sản xuất; hành vi con người trong tập thể sản xuất, trong sinh hoạt, trong gia đình, và tất nhiên, cả thái độ đối với xã hội, đối với tổ quốc; những lý tưởng sống mà các thành viên xã hội tự lựa chọn lấy cũng như những phương pháp đạt tới những lý tưởng ấy; đời sống tinh thần của con người" [47, tr.9] Ông cho rằng, lối sống là kết quả tác dụng tổng hợp của toàn bộ các quan hệ xã hội, kinh tế trong một xã hội, của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng của xã hội đối với con người
Tuy nhiên, lối sống không đồng nhất với mức sống Nghĩa là không phải người có mức sống cao thì đã có lối sống đẹp Mục tiêu cao nhất đặt ra là chất lượng sống có sự kết hợp hài hoà giữa mức sống và lối sống để mỗi con người ngày càng vươn tới những chuẩn mực giá trị: Chân - Thiện - Mĩ trong xã hội
Trong đời sống, lối sống thể hiện ở hành vi của con người và trong sinh hoạt, trong khi làm việc và nghỉ ngơi Lối sống được phản ánh qua những mục đích sống của con người, những lợi ích vật chất và tinh thần của họ
Khái niệm "lối sống" chỉ bao gồm cái điển hình, cái tiêu biểu cho hành vi con người trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, vào một giai đoạn phát triển nhất định, tức là những nét đặc biệt tiêu biểu cho hành vi của những người cùng trong một tập đoàn xã hội, một giai cấp, một vùng, miền, một dân tộc
Theo quan điểm kinh tế học, khi nghiên cứu lối sống các tác giả thường quan tâm đến những khía cạnh sau:
- Những nhu cầu tiêu biểu nhất cho một lối sống nhất định của con người, thái độ đối với lao động và mức độ hài lòng về kết quả lao động, tính chất và nội dung lao động, những mối liên hệ và quan hệ của con người trong sản xuất, những
Trang 19định hướng mục đích, những nhân tố kích thích kinh tế đối với hoạt động của con người
- Điều kiện kinh tế, là cơ sở phát sinh và phát triển của một lối sống
- Những biện pháp và phương pháp tác động tới kinh tế của xã hội, của các giai cấp quản lý xã hội đối với sự hình thành một lối sống thích hợp với một chế độ nhất định [47, tr.11]
Viện sĩ E.I Kapustin nghiên cứu lối sống theo góc độ kinh tế học cho rằng: Lối sống với tư cách là một phạm trù xã hội- kinh tế, không thể hoàn toàn thuộc về những hiện tượng cơ sở hay kiến trúc thượng tầng Nó chịu ảnh hưởng của các yếu
tố như: Quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng của tất cả các quan hệ xã hội - kinh tế trong xã hội, của nền văn hoá xã hội đối với con người Ông nhấn mạnh rằng, xét cho cùng, lối sống do phương thức sản xuất quyết định Nhưng mối liên hệ giữa phương thức sản xuất và lối sống không phải là mối liên
hệ trực tiếp Mặc dù chịu sự tác động của phương thức sản xuất, lối sống không phải là kết quả thụ động của ảnh hưởng ấy Lối sống có tác động khá tích cực đối với sự phát triển của phương thức sản xuất Như vậy, ảnh hưởng của các quan hệ
xã hội, các quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất cũng được thông qua lối sống ấy
Từ những định nghĩa của các ngành khoa học, chúng ta có thể định nghĩa:
Lối sống là phương thức hoạt động đã được xác định của cá nhân hay nhóm xã hội, thể hiện ở sự lựa chọn các hoạt động và cách thức tiến hành các hoạt động trong những điều kiện chủ quan và khách quan nhất định
Lối sống có những đặc trưng sau:
- Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Trang 20- Lối sống là một thể thống nhất các hoạt động của con người và các điều kiện của hoạt động ấy Các điều kiện này quy định lối sống và đi vào nội dung của
nó trong chừng mực mà chúng là một yếu tố trong hoạt động thực tiễn của con người
- Lối sống bị quy định bởi hoàn cảnh khách quan của xã hội, bởi những điều kiện sống của các giai cấp, các dân tộc không có nghĩa là loại trừ khả năng lựa chọn của con người đối với một hình thức hoạt động nào đó Những phương hướng
có mục đích rõ ràng, những định hướng giá trị của con người tạo nên mặt chủ quan của lối sống
- Lối sống của con người phải được hiểu trong sự thống nhất giữa mặt lượng
và mặt chất Nhân tố quyết định mặt chất của lối sống là tính chất của chế độ xã hội, địa vị giai cấp trong hệ thống các quan hệ kinh tế và chính trị Các nhân tố quyết định mặt lượng là trình độ phát triển của sức sản xuất và tiêu dùng, thể hiện trước hết ở mức sống và một số chỉ tiêu khác
Có thể nói, lối sống cũng như một dòng sông chảy mãi không ngừng về phía trước Đó là quá trình tiến hoá của lối sống gạt bỏ những mặt thấp kém, lạc hậu, cải tạo cái cũ, phát huy những mặt tốt đẹp, bổ sung những mặt mới - mặt tiến tiến, nâng cao lối sống theo hướng văn minh, hiện đại Như vậy, lối sống là kiểu hoạt động, quan hệ ứng xử nhất định của con người và cộng đồng người trong lịch sử, phù hợp với sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội nhất định Cụ thể hơn, lối sống gồm: Phương thức làm việc; phương thức sinh hoạt, phương thức quan hệ ứng xử; lề lối đi lại, ăn ở, vui chơi, giải trí Lối sống là một lĩnh vực rộng lớn như
là phương thức sinh hoạt đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người Lối sống như vậy thật sự là một phạm trù văn hoá thể hiện tập trung bản chất giá trị làm người
1.1 2 Cơ cấu của lối sống
Trang 21Trong cuộc sống, con người phải lao động, tham gia các hoạt động xã hội, sinh hoạt trong gia đình, vui chơi giải trí nên theo chúng tôi, cơ cấu lối sống gồm có:
- Phương thức làm việc
- Phương thức tham gia các hoạt động xã hội
- Phương thức sinh hoạt và hoạt động giải trí
Biểu hiện của lối sống trước hết ở sự lựa chọn các hoạt động (các dạng hoạt động) khác nhau của các cá nhân hay nhóm Cuộc sống là những dòng hoạt động (bao gồm cả các quan hệ, giao tiếp) đan xen vô cùng phức tạp đa dạng Xuất phát
từ nhu cầu tồn tại và phát triển của mình, các cá nhân hay mỗi nhóm xã hội sẽ ưu tiên lựa chọn các hoạt động này hay hoạt động khác
Trong lối sống, con người không chỉ lựa chọn hoạt động nào là chủ yếu mà còn lựa chọn cách thức thể hiện (cách tiến hành) hoạt động đó C Mác cho rằng: phương thức lao động khác nhau không chỉ ở cái mà họ làm ra mà còn ở cách làm
ra sản phẩm đó
Vì vậy, khi nói đến hoạt động cụ thể được tiến hành trong điều kiện cụ thể thì đó chính là phương thức hoạt động, vì lúc đó nó vừa cho chúng ta biết con người làm gì vừa cho biết họ làm như thế nào?
Nghiên cứu lối sống là nghiên cứu "phương thức hoạt động đã được xác định", nghĩa là nghiên cứu cả sự lựa chọn hoạt động lẫn cách thức thực hiện những hoạt động cơ bản của cá nhân hay nhóm xã hội trong điều kiện sống cụ thể của họ
Sự lựa chọn các phương thức hoạt động được điều chỉnh bởi những nội dung tâm lý bên trong của chủ thể như: nhu cầu, hứng thú, quan điểm sống, lý tưởng sống, niềm tin những cái mà chủ thể cho rằng có ý nghĩa, có giá trị là động cơ thúc đẩy đối với cá nhân và nhóm xã hội Đồng thời sự lựa chọn đó còn căn cứ
Trang 22vào khả năng, tập quán, thói quen của chủ thể cũng như điều kiện khách quan cho phép khi thực hiện hoạt động đó Vì thế , khi nghiên cứu lối sống cần phải xuất phát từ việc quan sát, điều tra, phân tích các phương thức hoạt động đã xác định của họ để hiểu được tâm tư nguyện vọng (chính là lẽ sống hay lý tưởng sống)
từ đó có sự định hướng điều chỉnh cụ thể phù hợp đối với mỗi cá nhân trong từng giai đoạn nhất định
Điều chỉnh từ bên trong sự lựa chọn lối sống của chủ thể là điều kiện chủ quan của lối sống, đồng thời sự lựa chọn và tiến hành hoạt động có kết quả phải phù hợp với điều kiện khách quan Vì nếu chỉ xuất phát từ điều kiện chủ quan để tiến hành hoạt động thì sẽ rơi vào duy ý chí; hoặc đành bó mình trước điều kiện khách quan sẽ là lối sống thụ động, trì trệ, bảo thụ Sự năng động chủ quan của mỗi con người sẽ khiến người ta dám nghĩ, dám làm, cải tạo, thay đổi điều kiện khách quan
Phương thức sinh hoạt, làm việc là một hình thức hoạt động sinh sống nhất định của mỗi con người, là mặt cơ bản của lối sống, thông qua đó mà con người biểu hiện đời sống của mình, biểu hiện bản thân mình Ở đây chúng ta tìm hiểu lối sống trước hết từ phương thức hoạt động sản xuất của con người ở cả mặt quan hệ với tự nhiên và quan hệ với con người (quan hệ sản xuất)
Phương thức lao động là cơ sở vất chất của lối sống , là điều kiện quyết định nhất để hình thành lối sống.Tuy nhiên, không thể đồng nhất phương thức lao động với lối sống Ngoài hoạt động sản xuất con người còn có nhiều hoạt động xã hội khác như hoạt động văn hoá, chính trị , thể dục thể thao để rèn luyện sức khoẻ và rèn luyện phẩm chất cá nhân
Phương thức tham gia hoạt động xã hội chính là cách thức con người lựa chọn tham gia các hoạt động xã hội và mục đích của hoạt động đó Có người thích tham gia các hoạt động văn hoá như giao lưu, văn nghệ để thư giãn, vui chơi, mở rộng quan hệ, đảm bảo sức khoẻ cho cơ thể, qua đó có thể sống hoà đồng với mọi người hơn Nhưng cũng có những người thích tham gia những hoạt động tình
Trang 23nguyện hoặc hoạt động từ thiện để chia sẻ giúp đỡ và mang lại niềm vui cho người khác Qua cách lựa chọn các hoạt động chúng ta cũng sẽ hiểu được phần nào về lối sống của họ
Khi nghiên cứu lối sống không thể không tìm hiểu xem cá nhân hoặc nhóm người nào đó đã lựa chọn hoạt động giải trí gì trong thời gian rỗi Họ lựa chọn trang phục như thế nào cho môi trường nhất định Có người thích đi picnic nhưng
số khác lại thích đi xem phim, ca nhạc, truy cập Internet, xem hoặc tham gia các hoạt động thể thao với nhiều lý do khác nhau Lối sống cũng biểu hiện rất nhiều
ở sự lựa chọn trang phục phù hợp với điều kiện kinh tế , hoặc trang phục phải hợp mốt, đắt tiền Thực tế trong xã hội cũng có không ít người có lối sống xa hoa hoặc
có người thích tham gia vào các hoạt động tiêu cực để tìm những thú vui tầm thường dẫn đến bệnh hoạn và tội lỗi
1.1.3 Một số khái niệm liên quan đến lối sống
1.1.3.1 Lối sống và nếp sống
Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi nghiên cứu về "lối sống" và "nếp sống" Lối sống gồm nhiều hệ thống hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống Nếp sống bao gồm những cách thức đã trở thành thói quen như phong tục, tập quán, đạo đức trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt hàng ngày, trong tổ chức đời sống xã hội Nếp sống chính là mặt ổn định của lối sống Nhờ có nếp sống mà con người không phải đi đường vòng, không phải bắt đầu lại những quá trình lịch sử đã qua
Và cũng nhờ đó mà các giá trị truyền thống, kinh nghiệm lịch sử được lưu truyền
và phát triển Cho nên, khi nói đến nếp sống tức là nói đến một lối sống nhất định
Vì vậy không thể tách rời nếp sống ra khỏi lối sống Lối sống định hướng hành động của con người có tính biến đổi từ chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác Nếp sống với tư cách là biểu hiện của lối sống lại thể hiện ở tính cụ thể, ở những chuẩn mực, khuôn mẫu ứng xử của cả xã hội mà mỗi cá nhân đã tự ý thức, tự biến đổi bản tính của mình trong những hoạt động ổn định So với lối sống, nếp sống có
Trang 24tính ổn định, bền vững hơn, nhưng không có nghĩa là không biến đổi Nếp sống và lối sống có những điều kiện khác nhau
Theo Mạc Văn Trang: " Lối sống năng động hơn, còn nếp sống là mặt ổn định của lối sống, là những đặc điểm biểu hiện của lối sống đã được hình thành nền nếp, thói quen của cá nhân (như nét tính cách), của gia đình (nếp nhà), của xã hội (phong tục, tập quán, lề thói) Lối sống được nảy sinh, hình thành và phát triển,
và đến một mức độ củng cố, định hình mới thành nếp sống, nếp sống và lối sống không tách rời nhau." [41, tr 20]
Theo chúng tôi: Nếp sống là phương thức hoạt động, hành vi giao tiếp
ứng xử của con người được lặp đi lặp lại thành thói quen trong sinh hoạt, phong tục, tập quán, hành vi đạo đức Nếp sống là biểu hiện một mặt nào đó của lối sống, chẳng hạn lối sống của sinh viên biểu hiện qua nền nếp học tập, sinh hoạt; nếp sống ở KTX, nhà trọ
1.1.3.2.Mức sống và lối sống
Mức sống là một chỉ báo về lối sống, nói lên trình độ sinh hoạt vật chất của con người Mức sống phản ánh trình độ con người đã đạt được về mặt sản xuất Khi các ngành công nghiệp phát triển, sản xuất được tiến hành trên các phương tiện kỹ thuật hiện đại đem lại hiệu quả tốt dẫn tới đời sống vật chất ngày càng được nâng cao Mức sống nâng cao là điều kiện vật chất cần thiết để con người có thể tăng cường thể chất, phát triển tài năng, tổ chức cuộc sống tốt hơn Khái niệm mức sống xác định mức độ đáp ứng những nhu cầu vật chất của xã hội mà những chỉ tiêu của nó là mức thu nhập và tiêu dùng thực tế của con người
Mức sống không đồng nhất với lối sống Sự phân biệt trên giúp cho chúng ta
có một thái độ khoa học trong việc vừa không ngừng nâng cao mức sống của con người vừa phải phấn đấu cho một lối sống đẹp Trong thực tế không phải tất cả những người có mức sống cao đều có lối sống đẹp, ngược lại có thể có lối sống đẹp
Trang 25mà mức sống chưa cao Điều này thấy rõ nhất trong sinh viên, mức sống của họ có thể giống nhau nhưng nếp sống, lối sống của họ lại khác nhau
1.1.3.3 Lẽ sống và lối sống
Lẽ sống là sự lựa chọn chủ quan của con người đối với một lối sống Có thể nói, lẽ sống là sự khẳng định một lối sống Nó liên quan tới mục đích, ý nghĩa, lý tưởng của cuộc sống; là hướng phấn đấu, là ý chí, khát vọng của con người Lẽ sống giải đáp câu hỏi "sống để làm gì?" Nó định hướng cho cuộc sống, phản ánh mục đích của lối sống
Xây dựng lối sống là hướng cho con người đến một lẽ sống đẹp Vì lẽ sống
là đạo đức, đạo lý và tri thức của mỗi con người Lẽ sống gắn liền với hệ tư tưởng, thế giới quan, niềm tin vào cuộc sống Do đó, lẽ sống dẫn đường cho lối sống, xác định nguyên tắc, xác định "chất" của lối sống và xây dựng bản lĩnh trong cuộc sống Lẽ sống sẽ biểu hiện ra quan điểm sống, mục đích sống, động cơ, thái độ lựa chọn các hoạt động và các mối quan hệ trong cuộc sống Đối với việc giáo dục sinh viên, lẽ sống và lối sống không tách rời nhau, ngoài việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho sinh viên, còn cần phải làm gương cho họ Khi sinh viên hướng tới một lẽ sống cao đẹp thì lối sống cũng được dẫn dắt theo hướng lành mạnh
1.2 LỐI SỐNG SINH VIÊN
1.2.1 Khái niệm sinh viên
Sinh viên là một bộ phận thanh niên chủ yếu ở lứa tuổi 17 - 18 đến 25 - 26 đang theo học tại các trường đại học và cao đẳng Họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong giai đoạn hoàn thiện và phát triển nhân cách; năng động, sáng tạo; chịu khó tìm kiếm và nghiên cứu; nhạy cảm với những cái mới và ham hiểu biết tích luỹ kiến thức; làm chủ các trang thiết bị kỹ thuật để trang bị cho hành trang vào đời của tầng lớp trí thức Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, sinh viên luôn là nguồn nhân lực được đào tạo với trình độ cao của xã hội Mỗi thế hệ thanh niên nói chung, sinh viên nói riêng đều thuộc về một nền văn hoá xã hội - lịch sử nhất định
Trang 26Lịch sử tạo cơ sở vật chất và tinh thần cho họ thực hiện vai trò và vị thế của mình trong xã hội , đồng thời họ cũng là lớp người có nhiều đóng góp tích cực cho sự nghiệp chung của đất nước
Sinh viên là lực lượng kế tiếp, bổ sung cho đội ngũ trí thức tương lai Họ là lớp người có văn hoá cao và có nhiều điều kiện để đón nhận những thông tin về tư tưởng, khoa học kỹ thuật, văn hoá và được tập trung ở những trung tâm kinh tế văn hoá của xã hội Sinh viên là bộ phận nhạy cảm của giới trí thức, là tầng lớp có trình
độ tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên Với tư cách là những trí thức tương lai, sinh viên có những quan điểm, nhu cầu và nguyện vọng riêng trong việc tiếp nhận những thay đổi của thời đại, của giáo dục và đào tạo Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế - xã hội hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của sự nghiệp giáo dục đại học, đội ngũ sinh viên có nhiều biến đổi về định hướng giá trị, lối sống, nhu cầu, nguyện vọng Đây là độ tuổi mà con người đã có những bước trưởng thành nhất định cả về tâm, sinh lý lẫn quan hệ xã hội Về mặt sinh học, đây
là giai đoạn phát triển gần như hoàn chỉnh về sức lực thể chất và tinh thần của mỗi
cá nhân Vì thế, sự phát triển sinh lý của sinh viên không chỉ đem lại tiền đề sinh lý tất yếu để họ sinh hoạt và học tập độc lập, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển tâm lý, khiến họ tăng cường cảm giác đã là người lớn, yêu cầu độc lập , tự chủ rất mạnh mẽ Sức lực của họ dồi dào, tinh thần hăng hái, muốn biểu thị năng lực của mình Ý thức giới tính thức tỉnh, sự phát triển sinh lý cũng đặt cơ sở cho sự phát triển của cuộc đời và hình thành nhân sinh quan Trên cơ sở phát triển sinh lý, tâm lý của sinh viên đi vào giai đoạn phát triển nhanh chóng nhưng lại chưa thành thục thực sự Vì thế , mặt phát triển tâm lý đã biểu hiện những đặc trưng chung này Phát triển trí năng đạt đến đỉnh cao, gồm nhiều mặt, trong đó năng lực nhận thức, năng lực tư duy và năng lực sáng tạo là trụ cột của trí năng, tăng cường hình thức tư duy logic trừu tượng
Trang 27Từ khi nhập học đến khi tốt nghiệp, sinh viên phải trải qua 4 - 5 năm học , phải đứng trước những vấn đề khác nhau Do đó, trạng thái tâm lý cũng biểu lộ những khuynh hướng phát triển và đặc trưng khác nhau để hoà nhập với môi trường mới
Giới sinh viên có vai trò, vị trí xã hội rõ rệt, là một tầng lớp tập hợp thành một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị Các tổ chức chính trị,
xã hội, gia đình đều có nhiều kỳ vọng đối với sinh viên Họ là những công dân thực thụ của đất nước có đủ quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật Xã hội coi họ
là những thành viên chính thức, những người trưởng thành Tuy nhiên, do còn phải học tập trên nhà trường, chưa tham gia trực tiếp làm ra của cải vật chất nên họ chưa hoàn toàn tự lập được về mọi mặt Đây là một đặc điểm quan trọng ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên
1.2.2 Khái niệm lối sống sinh viên
Hoạt động đặc trưng của sinh viên chính là hoạt động học tập, hoạt động xã hội và việc sử dụng thời gian rỗi trong cuộc sống của họ
Trong những năm gần đây một bộ phận thanh niên, trong đó có cả sinh viên, đang bị lên án vì đã tham gia vào các tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, thuốc lắc, đua xe, cờ bạc rượu chè, thi hộ Để giáo dục đạo đức lối sống cho sinh viên, năm
2005, TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã phát động cuộc vận động xây dựng lối sống đẹp trong sinh viên và triển khai đến các trường đại học, cao đẳng Một số trường đã thành lập các câu lạc bộ "Sống đẹp" do Đoàn thanh niên, Hội sinh viên
Trang 28của nhà trường phụ trách TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cũng đã thành lập trang web sống đẹp dành cho sinh viên Đặc biệt đã có nhiều diễn đàn với nội dung:
"Sống đẹp, sống có ích"; "Mãi mãi tuổi 20" để tuyên truyền giáo dục lối sống cho sinh viên noi gương 2 liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thuỳ Trâm Các tổ chức chính trị xã hội và các cơ quan đã giới thiệu và phát hành cuốn nhật ký của những liệt sĩ trẻ này Một số địa phương đã xây dựng bệnh viện Đặng Thuỳ Trâm để giáo dục lý tưởng sống tốt đẹp cho mọi người Những nghĩa cử cao đẹp của những người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho đất nước đã tạo một luồng khí mới cho tuổi trẻ cả nước với lý tưởng sống là để dâng hiến Vì vậy, nghiên cứu về lối sống sinh viên không thể không nghiên cứu lẽ sống của họ
1.2.2.2 Đặc điểm lối sống sinh viên
Khi nghiên cứu về đặc điểm lối sống sinh viên, trong luận văn này chúng tôi
sẽ nghiên cứu những vấn đề sau:
* Một số nội dung cơ bản của lối sống sinh viên
- Mục đích, động cơ học đại học của sinh viên
- Những hình thức học tập mà sinh viên hứng thú
- Quan niệm của sinh viên về việc vào Đảng, vào Đoàn
- Việc sử dụng thời gian rỗi và thời gian trong một ngày của sinh viên
- Các hình thức giải trí mà sinh viên lựa chọn
* Những biểu hiện của lối sống sinh viên
- Biểu hiện của lối sống sinh viên qua hoạt động học tập
- Biểu hiện của lối sống sinh viên qua các hoạt động xã hội
- Biểu hiện của lối sống sinh viên qua việc sinh hoạt và sử dụng thời gian rỗi
Trang 29Lối sống của sinh viên thể hiện chủ yếu ở chỗ sinh viên làm gì và bằng cách nào, giao tiếp hàng ngày với ai và giao tiếp như thế nào để tự tồn tại và khẳng định mình trong cuộc sống
Thông qua các hoạt động, qua cách thức sinh hoạt hàng ngày, sinh viên sẽ thể hiện lối sống của họ và tự khẳng định vị trí của mình trước những nhiệm vụ nặng nề mà xã hội kỳ vọng ở họ trong thời kỳ đổi mới - thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong cuộc sống hàng ngày, sinh viên tham gia nhiều hoạt động khác nhau: hoạt động học tập, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động lao động để tăng thêm thu nhập, hoạt động giao tiếp Nhưng hoạt động cơ bản và đặc trưng nhất của họ vẫn là học tập để chuẩn bị cho công việc trong tương lai Mục đích, động cơ của hoạt động đó chính là lý do tồn tại của họ ở trường đại học và họ phải tham gia các hoạt động của nhà trường và xã hội để khẳng định vai trò của mình trong xã hội nói chung và trong nhà trường nói riêng Tất cả các hoạt động khác, các mối quan hệ trong xã hội mà họ phải giao tiếp, xét cho cùng, chính là để tồn tại và phát triển trong những năm học tập ở trường với tư cách là sinh viên Đối với họ, học tập lĩnh hội các khoa học và giao tiếp ứng xử trong các quan hệ xã hội xen nhau trong mọi hoạt động đều có vai trò quyết định trong sự hình thành nhân cách và lối sống
Sinh viên là một bộ phận thanh niên được tuyển chọn qua các kỳ thi quốc gia và được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, là tầng lớp người đang trưởng thành Tuy ngành học có thể khác nhau nhưng họ là bộ phận dân cư còn rất trẻ, là tầng lớp thanh niên được xã hội đào tạo theo hệ thống, cơ bản để trở thành những nhà quản lý xã hội, thành lực lượng sản xuất quan trọng trong tương lai Đây là bộ phận thanh niên đã qua tuổi vị thành niên, tự chịu trách nhiệm đối với bản thân, có thể sống tự lập
Nghiên cứu lối sống sinh viên, có thể nhận thấy những đặc điểm sau:
Trang 30+ Lối sống của sinh viên bị chi phối mạnh bởi đặc điểm tâm lý
lứa tuổi:
Ở lứa tuổi này, con người đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách Sự phát triển, hoàn thiện đó được biểu hiện trên cả hai mặt: mặt sinh học và mặt xã hội Mặt sinh học, cơ thể chưa phát triển hoàn toàn đầy đủ, đòi hỏi cao về chất dinh dưỡng và đi liền với nhu cầu vật chất ấy là nhu cầu hoạt động như một đòi hỏi cần thiết cho quá trình sống Vì thế, dễ dàng thấy đa số sinh viên tham gia các hoạt động tập thể rất nhiệt tình, thậm chí cả những hoạt động không phù hợp với bản thân họ Điều đó dẫn đến tình trạng có một số ít sinh viên hoạt động thiếu
ý thức, gây rối, có những biểu hiện lệch lạc trong cuộc sống Chúng ta, dù hiểu nguồn gốc của những hành động đó nhưng không thể mặc nhiên chấp nhận hoặc coi nhẹ tác hại của chúng Rõ ràng đó là những biểu hiện chưa hoàn chỉnh trong nhân cách đạo đức sinh viên
Vậy nguyên nhân là do đâu? Điều đáng chú ý là trong những nguyên nhân chủ quan từ sinh viên có nguyên nhân do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của họ Với đặc điểm trẻ trung, nhiệt tình sôi nổi, đầy nhiệt huyết nhưng còn chưa chín chắn trong nhận thức, chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế nên sinh viên còn chưa ý thức được đầy đủ trước khi hành động Cơ thể đang phát triển, tâm sinh lý chưa ổn định, sinh viên cũng dễ hành động bốc đồng hoặc bị những cảm xúc nhất thời chi phối nên không tránh khỏi mắc phải sai lầm dẫn đến những kết quả mà chính họ cũng không muốn hoặc không ngờ tới Khi có tác nhân đạo đức tích cực, đặc biệt là những tấm gương sáng về đạo đức, sinh viên sẽ phát triển theo hướng thuận lợi; ngược lại họ dễ bị suy thoái, bị lôi kéo trước tác nhân tiêu cực
Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển lối sống sinh viên Trên cơ sở những tố chất đạo đức đã hình thành ở tuổi vị thành niên, nhân cách sinh viên phát triển thêm những nét mới, những tố chất đạo đức mới khác biệt so với trước, thậm chí khác biệt dẫn đến sự trái ngược giữa yếu tố cũ và yếu tố mới Đây là quá trình phủ định biện chứng, cái
Trang 31mới ra đời trên cơ sở của cái cũ và cái mới ấy cũng là kết quả tác động của hoàn cảnh mới, phủ định cái cũ
+ Lối sống của sinh viên bị chi phối bởi hệ thống nhu cầu của họ:
Ngoài đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, hệ thống nhu cầu, lợi ích của sinh viên trong hoạt động học tập, nghiên cứu và hoạt động xã hội là nhân tố tác động tích cực trong việc hình thành và phát triển lối sống của họ
Ở sinh viên, hệ thống nhu cầu rất đa dạng Nó kém ổn định, ít năng động hơn so với hệ thống nhu cầu của các giai cấp, tầng lớp xã hội khác do tác động của tâm lý lứa tuổi Sinh viên đặc biệt đề cao hơn những tầng lớp xã hội khác về nhu cầu tinh thần; nhu cầu hiểu biết, tiếp thu những kiến thức mới; nhu cầu về tình bạn tình yêu, hôn nhân, gia đình Chính vì vậy, sinh viên tham gia nhiệt tình những hoạt động tập thể, hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, dù kinh phí cho những hoạt động này rất ít Ở sinh viên, nhu cầu tinh thần chiếm ưu thế nổi trội hơn so với những nhu cầu về vật chất Trong hệ thống nhu cầu tinh thần, nhu cầu về tình bạn đối với sinh viên rất quan trọng Tình bạn giúp họ luôn hướng tới tập thể, quan tâm giúp đỡ nhau, hình thành tình cảm đạo đức tốt đẹp Khi gặp điều khó khăn trong cuộc sống, có thể bạn bè là người đầu tiên họ cần tâm sự để sẻ chia những khó khăn vướng mắc đó Điều này cũng dễ hiểu vì đối với sinh niên, bạn bè là người cùng trang lứa, có cùng suy nghĩ, do đó dễ cảm thông và chia sẻ hơn Tình bạn là chiếc cầu nối giữa sinh viên với cộng đồng, với tập thể, tạo ra sự giao thoa tinh thần, góp phần hình thành và phát triển nhân cách đạo đức của họ
Do có trình độ học vấn cao, đa số sinh viên không tiếp thu các giá trị tinh thần một cách ồ ạt mà tiếp thu có chọn lọc Điều này giúp họ không những trân trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc mình mà còn tiếp cận với tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú tâm hồn tình cảm của họ Tuy vậy, có những sinh viên được gia đình chu cấp cho đầy đủ điều kiện vật chất nhưng lại có lối sống thấp kém, lệch lạc và sa vào các tệ nạn xã hội Ngược lại không ít sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng lại có ý chí phấn đấu vượt khó, vươn lên trong
Trang 32học tập, đạt kết quả cao và tích cực tham gia các hoạt động xã hội, biểu hiện lối sống đẹp của sinh viên Vì vậy, một nhân cách đạo đức tốt đẹp chỉ có thể được xây dựng trên một tâm hồn phong phú về tình cảm
Nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên có tác động tích cực đến sự phát triển nhân cách đạo đức của họ Hoạt động học tập và nghiên cứu giúp sinh viên nâng cao hiểu biết, trau dồi tri thức Cũng chính nó giúp hình thành lao động
tự giác và sáng tạo trong mỗi sinh viên, yếu tố cội nguồn của việc xây dựng lối sống mới, là động lực thúc đẩy họ nâng cao năng lực chuyên môn, tích lũy tri thức
về chính trị xã hội, về nghề nghiệp
+ Lối sống của sinh viên bị chi phối bởi điều kiện khách quan:
Điều kiện sống khách quan của sinh viên gồm rất nhiều yếu tố như: tình hình phát triển kinh tế, chính trị, khoa học chung của thế giới và đất nước; điều kiện kinh tế, văn hoá, chính trị; môi trường tâm lý - xã hội; môi trường hoạt động giao tiếp trong trường đại học cũng như điều kiện cụ thể của từng sinh viên Tuy vậy, không phải mọi yếu tố của điều kiện khách quan đều trực tiếp quy định lối sống,
mà do sự tác động giữa yếu tố chủ quan và khách quan quy định phương thức hoạt động sống của cá nhân, nhóm
Do đặc điểm riêng biệt của lứa tuổi, lối sống sinh viên luôn chịu ảnh hưởng,
và lệ thuộc nhiều vào hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chế độ chính trị xã hội của đất nước Họ là sản phẩm của sự kết hợp giáo dục giữa gia đình- nhà trường - xã hội
và sự tác động của các mối quan hệ bạn bè, tình yêu xung quanh Họ tiếp thu nhanh những giá trị đạo đức truyền thống và những giá trị đạo đức xã hội mới Khả năng thụ cảm, khát vọng vươn tới lý tưởng, lòng khao khát hiểu biết, khám phá là những đặc điểm chủ yếu của sinh viên Tuy nhiên, thế hệ trẻ còn bồng bột và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống, nhiều khi lẫn lộn lý tưởng với ảo tưởng Những va chạm trong cuộc sống nhiều khi khiến họ không đủ nghị lực để phấn đấu thực hiện
lý tưởng của mình Để giải quyết mâu thuẫn, lấp đầy hố ngăn cách thực tế giữa nguyện vọng, lý tưởng của bản thân với sự phức tạp của cuộc sống hàng ngày, họ
Trang 33dễ rơi vào chủ nghĩa hoài nghi bi quan hoặc chủ nghĩa hoài nghi lãnh đạm Trong trường hợp này sự định hướng giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội là hết sức quan trọng và cần thiết
Phương thức hoạt động đặc trưng của sinh viên là sự lựa chọn và cách thức tiến hành các hoạt động xác định trong thời gian đang học ở trường đại học Phương thức đó, một mặt được thể hiện ở sự lựa chọn của sinh viên đối với các hoạt động khác nhau (họ coi hoạt động nào là ưu thế, quan trọng hơn), mặt khác thể hiện cách thức tiến hành hoạt động như thế nào Trong các lĩnh vực hoạt động: học tập, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động văn hoá tinh thần, giao tiếp , học tập chuẩn bị nghề nghiệp tương lai có ý nghĩa quyết định
Lối sống được thể hiện qua phương thức học tập của sinh viên: Họ lựa chọn
và tích cực tham gia các hình thức học tập nào; ý thức chấp hành các quy định trong học tập của họ ra sao; cách thức giao tiếp với thầy cô và bạn bè trong quá trình học tập như thế nào
+ Một bộ phận sinh viên vượt lên hoàn cảnh khó khăn, tập trung vào học tập, rèn luyện chuẩn bị cho hành trang vào đời trong tương lai, có chí lập thân, lập nghiệp
+ Bộ phận thứ hai "trung bình chủ nghĩa", sinh hoạt theo ý thích cá nhân, thiếu nỗ lực và ý chí phấn đấu vượt qua các khó khăn của cuộc sống để học tập, thiếu rèn luyện vươn lên như gia đình, nhà trường và xã hội kỳ vọng
+ Bộ phận thứ ba, dù ít, mang danh sinh viên nhưng xa rời hoạt động học tập; mục đích, động cơ học tập bị lu mờ; không tham gia các hoạt động chính trị, văn hoá - văn nghệ - thể thao do nhà trường và các tổ chức chính trị xã hội tổ chức Tức là họ đã xa rời bản chất lối sống sinh viên
Trong mỗi nhóm trên lại có những phong cách, cách sống độc đáo riêng của mỗi sinh viên, làm cho lối sống sinh viên trở nên sinh động, phong phú, đa dạng
Trang 34Nhưng nhìn chung họ vẫn có những đặc điểm chung tạo nên nét đặc thù của lối sống sinh viên
Lối sống của sinh viên còn được thể hiện ở sự lựa chọn các hoạt động ngoài học tập chính khoá Trong các hoạt động không chính khoá của sinh viên có việc
làm thêm và học thêm - những hình thức mới xuất hiện trong cơ chế thị trường Mức độ tham gia vào các hình thức hoạt động này sẽ chỉ ra đặc trưng trong lối sống sinh viên
Sự lựa chọn các hoạt động và mức độ tham gia vào các hoạt động khác nhau xét tương quan với hoạt động học tập sẽ cho thấy phương thức hoạt động đặc trưng của các nhóm sinh viên khác nhau Đó chính là những kiểu sống khác nhau của sinh viên
Sự lựa chọn các hoạt động và cách thức tiến hành các hoạt động của sinh viên là biểu hiện của lối sống - được điều chỉnh bởi điều kiện tâm lý bên trong và phụ thuộc vào các điều kiện khách quan của hoàn cảnh sống cụ thể của họ Điều kiện chủ quan ở đây chính là mục đích học đại học của sinh viên: học để làm gì
và vì cái gì; hứng thú và kỳ vọng vào ngành nghề gì; dự định tiếp tục học tập, phấn đấu cũng như những tiêu chí lựa chọn việc làm sau khi tốt nghiệp ra sao Tất cả được thể hiện ở động cơ, thái độ, học tập; động cơ lựa chọn ngành nghề khi thi vào đại học và kế hoạch sống của sinh viên Các yếu tố chủ quan này có vai trò định hướng, thúc đẩy, điều chỉnh sự lựa chọn cách thức học tập của sinh viên Đó chính
là những điều kiện chủ quan của sinh viên làm cho lối sống của họ trở nên phong phú và đa dạng hơn
1.2.3 Sự thay đổi hoàn cảnh sống - Nhân tố quan trọng tác động đến sự hình thành lối sống sinh viên
Từ trung học lên đại học, sự thay đổi của hoàn cảnh là sự thực khách quan Nhưng không có nghĩa là nhận thức của sinh viên nhanh chóng theo kịp sự chuyển biến đó Mặc dù về mức độ khó khăn của sự thích ứng với hoàn cảnh có những khác biệt theo từng người, nhưng tất cả sinh viên đều phải thích ứng với sự biến đổi của hoàn cảnh khách quan, thích ứng với sự biến đổi của việc tự nhận thức, xác
Trang 35lập mục tiêu học tập và sinh hoạt mới Vì thế, sinh viên cần hiểu biết những biến đổi này, có sự điều chỉnh tương ứng, nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh mới, để quyết định bước đầu tiên vững chắc hay không, trong cuộc sống của họ
* Sự thay đổi hoàn cảnh :
So sánh cuộc sống đại học với cuộc sống trung học, đặc điểm rõ ràng nhất
là trường đại học yêu cầu sinh viên phải tự lập, tự chủ, bất luận ăn, mặc, đi lại hay học tập, quan hệ bạn bè, nhận thức về xã hội và cuộc đời, đều phải dựa ngày càng nhiều tri thức và năng lực của bản thân sinh viên để suy nghĩ, phán đoán, lựa chọn
và hành động
Trước hết là sự thay đổi của hoàn cảnh sinh hoạt Thay đổi hoàn cảnh
sinh hoạt thể hiện ở các mặt: phương thức sinh hoạt, thói quen sinh hoạt, phạm vi sinh hoạt Ở đại học là cuộc sống tập thể, nhiều sinh viên sống ở KTX, ăn tại nhà
ăn, mọi việc đều tự mình giải quyết Những thay đổi này đối với những sinh viên thiếu bản lĩnh hoặc phụ thuộc là một thử thách để hình thành lối sống độc lập của
họ
Thứ hai là sự biến đổi của hoạt động học tập Hoạt động học tập biến đổi
thể hiện chủ yếu ở các mặt: nhiệm vụ học tập, nội dung và phương pháp học tập Môi trường đại học là nơi bồi dưỡng nhân tài chuyên môn cao cấp, tức học tập tri
thức chuyên môn, nắm vững kỹ năng chuyên môn Về nội dung học tập, sinh viên
đại học không những phải học tri thức lý luận kinh điển cơ sở mà còn phải học tập những thành qủa mới nhất của sự phát triển khoa học kỹ thuật Nội dung học tập
nhiều, nhiệm vụ nặng, yêu cầu phạm vi rộng, cao Về phương pháp học tập, học
tập ở đại học nhấn mạnh phương pháp gợi mở, thời gian giảng bài ở trên lớp tương đối ít, thời gian tự học do sinh viên tự thu xếp, thời gian đọc tài liệu nghiên cứu tương đối nhiều Điều đó đã tạo cho sinh viên sự độc lập về suy nghĩ, thông hiểu
Trang 36mọi vấn đề, suy nghĩ sâu rộng Thực tế sự thay đổi về học tập ban đầu khiến nhiều sinh viên khó thích nghi
Thứ ba là sự thay đổi trong quan hệ với mọi người thể hiện chủ yếu ở
phương thức, đối tượng và yêu cầu quan hệ Lên đại học, bạn học từ các nơi đến, là người chưa quen biết, lại học cùng một lớp, ở cùng KTX; tính tình, thói quen không giống nhau nên thường khó thích ứng Quan hệ thầy trò cũng không mật thiết như thời học trung học, thời gian đầu sẽ rất bỡ ngỡ yêu cầu sinh viên phải nhanh chóng nâng cao năng lực thích nghi và hoà nhập với điều kiện hoàn cảnh mới Từ bản thân sinh viên khát vọng đối với tình bạn đã mạnh mẽ, nhưng do thiếu
sự khéo léo có khi còn làm nảy sinh xung đột trong quan hệ
Cuối cùng là sự thay đổi chế độ quản lý, thể hiện chủ yếu ở các mặt: quản
lý dạy học, phương pháp quản lý và hệ thống quản lý Sinh viên học theo học phần
nhưng họ vẫn có thể lên lớp và tốt nghiệp nếu chỉ nợ không quá số học phần quy
định Về phương pháp quản lý ở đại học thì sinh viên ít có điều kiện tiếp xúc với giáo viên chủ nhiệm hơn, có thể một tháng chỉ có một buổi sinh hoạt lớp có giáo viên chủ nhiệm, còn lại chủ yếu là sinh viên tự quản lý, tự giáo dục, tự phục vụ, đặc biệt phát huy vai trò của ban cán sự lớp, ban chấp hành chi đoàn Điều này khác với quản lý ở trung học tất cả đều thông qua giáo viên chủ nhiệm lớp Sự thay đổi quản lý ở đại học tạo cho sinh viên tính tự giác chủ động, sáng tạo, nhưng được tự do hơn Chế độ quản lý sinh viên ở đại học cũng tạo cho những sinh viên chưa có nhận thức đúng đắn dễ bị lôi cuốn vào những vấn đề tiêu cực của xã hội
Vì vậy, quản lý của đại học cần toàn diện hơn hơn, cần có sự kết hợp chặt chẽ của tất cả các đơn vị trong và ngoài trường như: ký túc xá, đào tạo, bảo vệ, công an, công tác chính trị để đảm bảo môi trường sống lành mạnh cho sinh viên
* Thích ứng hoàn cảnh:
Đối với đa số sinh viên, nhất là những sinh viên từ nông thôn hoặc từ những vùng xa xôi đến thành phố học tập , do hoàn cảnh của đại học khác xa với hoàn cảnh sinh hoạt trước đây của mình , áp lực của sự thích ứng với hoàn cảnh cũng
Trang 37khá mạnh Trong sự thích ứng với hoàn cảnh có thể xuất hiện mấy vấn đề chủ yếu sau:
Sự thay đổi vị trí dẫn đến sự đánh giá sai lệch Trong sinh viên có nhiều
người khi còn ở bậc phổ thông đã là tấm gương trong học tập, được thầy cô giáo, gia đình khen ngợi, bạn bè khâm phục Nhưng khi vào môi trường học tập ở đại học, do ở đây hội tụ nhân tài nhiều hơn, nên không ít người học yếu đi hay mất đi
ưu thế trong học tập, trở thành những người không có gì nổi bật Sự biến đổi vị thế
và sự hạ thấp về tâm lý nảy sinh sự tự đánh giá sai lệch trong cuộc sống của sinh viên
Sự thích ứng không tốt với mọi người dẫn đến một số sinh viên có lối sống
cô độc, kìm nén, họ đi đâu, làm gì, quan hệ xã hội như thế nào không ai biết.Vì khi còn là học sinh họ ít có cơ hội giao lưu qua lại, sống chung với người khác, khi vào đại học họ phải đối diện với việc làm quen, kết bạn với người khác, xác lập các mối quan hệ với mọi người Sự thực, sinh viên thích ứng với quan hệ mới còn khó hơn với hoàn cảnh học tập và sinh hoạt mới Đặc biệt, trong quan hệ với bạn học xung quanh, một số sinh viên lo người khác coi thường mình hoặc cùng sống với người khác tính mà không dám quan hệ bạn bè với họ Số khác do tính cách hướng nội, không biết quan hệ đã tạo nên những khó khăn, dẫn đến một số sinh viên luôn cảm thấy bị dồn nén, ức chế hoặc cảm thấy khó khăn phiền phức Vì vậy, cần có sự quan tâm giáo dục sát sao hơn của cả gia đình, nhà trường và xã hội đối với cuộc sống mới của sinh viên
1.3 NỘI DUNG XÂY DỰNG LỐI SỐNG SINH VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1.3.1 Xây dựng ý thức và mục đích học tập
Sinh viên là những người may mắn có cơ hội tốt so với những người cùng tuổi để học tập và tu dưỡng Họ cần quý trọng cơ hội học tập này, từ đó xây dựng vững chắc mục tiêu học tập cho bản thân, để có thể đạt được kết quả tốt Học tập là nhiệm vụ chủ yếu của sinh viên Từ khi bước vào cổng trường đại học, mỗi sinh viên cần phải ý thức sâu sắc sự uỷ thác to lớn của Tổ quốc và nhân dân đối với bản
Trang 38thân, và cũng là ước vọng của chính mình thông qua sự tập trung sức lực và tinh thần để cố gắng học tập khiến bản thân nhanh chóng trở thành những người hữu ích cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước Vì thế, sinh viên cần phải thông qua quan hệ xã hội để kế tiếp các kinh nghiệm của người đi trước, cần nghiên cứu thêm tài liệu để học tốt Phải bồi dưỡng thói quen sinh hoạt có kỷ luật nghiêm khắc Phương pháp học tập và phương pháp sinh hoạt có quan hệ chặt chẽ với nhau Một người trong sinh hoạt nếu quá buông thả tuỳ tiện thì trong học tập cũng khó có sự nghiêm túc, cẩn thận, cho nên sinh viên cần rèn phải luyện thói quen , tính tự giác tuân thủ kỷ luật, nội quy trong sinh hoạt Điều này có lợi lớn cho
sự thúc đẩy học tập của bản thân, từ đó sẽ hình thành nếp sống tốt cho họ
Để đạt được thành công trong việc học tập ở trường, mỗi sinh viên cần phải xây dựng cho mình một phương pháp học phù hợp và thời gian biểu nhất định cho việc học chính khoá cũng như việc học thêm Phương pháp học tập khoa học là phương pháp phải phù hợp với yêu cầu khách quan của việc học tập và sinh hoạt ở đại học, tránh chủ quan tuỳ tiện Nội dung bao quát của vấn đề này rất quan trọng: phải tập trung nghe giảng trên lớp; chăm đọc sách, nghiên cứu tài liệu để nắm bắt thông tin một cách kỹ lưỡng; giải quyết tốt mối quan hệ giữa việc học tập nghiên
cứu và nghỉ ngơi thư giãn; và cần biết vận dụng thời gian một cách khoa học
Xây dựng mục đích học tập đúng đắn là khâu then chốt trong học tập và sinh hoạt của sinh viên Mục đích học tập là để có việc làm và thu nhập tốt, ổn định, có cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp Vì vậy học tập chi phối phương hướng nỗ lực của bản thân sinh viên, thể hiện cụ thể trong việc định hướng học tập
và sinh hoạt Do đó nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự thành tài trong cuộc sống của họ
1.3.2 Xây dựng ý thức pháp luật cho sinh viên
Trong cuộc sống không thể cho rằng một con người có lối sống tốt nếu chưa xét đến ý thức chấp hành luật pháp của người đó Thực tế cho thấy hiện nay đối tượng dễ bị sa ngã vào các tệ nạn xã hội nhất lại chính là giới thanh niên, sinh viên
Trang 39Những năm gần đây, đời sống đã ổn định và có phần dư thừa, nhiều thanh niên được sống trong điều kiện vật chất tốt nhưng lại không tu chí học hành mà lại tham gia vào các tệ nạn xã hội như: cổ vũ đua xe trái phép, tham gia vào các động lắc; hút, chích ma tuý; đánh bạc dưới nhiều hình thức; cá độ bóng đá Khi đã sa vào những tệ nạn này, hầu như họ đều bị những hậu quả không lường được cả về sức khoẻ, đời sống tinh thần và vật chất, uy tín của gia đình, sự nghiệp học hành, hoặc nặng hơn nữa là ảnh hưởng luôn đến tính mạng của bản thân Vậy, xây dựng lối sống trong sinh viên nhất định phải xây dựng ý thức chấp hành pháp luật cho họ Phải tuyên truyền giáo dục cho sinh viên biết những chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và nội quy của nhà trường; khuyến khích họ tích cực tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội Để làm tốt vấn đề này, ở các trường học đã có sự kết hợp của các đơn vị như phòng Công tác chính trị & sinh viên, Đoàn Thanh niên , Hội sinh viên Cần tổ chức nhiều chương trình văn nghệ có chất lượng tốt; thi tìm hiểu về luật giao thông đường bộ, thi lái xe giỏi; thi tìm hiểu kiến thức phòng chống HIV/ AIDS, tìm hiểu về tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ, thành lập các câu lạc bộ phòng chống các tệ nạn xã hội; tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề
và vận động sinh viên ký cam kết thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước; phát động các phong trào như "Sinh viên nói không với ma tuý", và tuyên truyền vận động để sinh viên không tham gia cổ vũ đua xe, gương mẫu trong tham gia giao thông Để làm tốt các vấn đề này cần phải có sự phối hợp tốt giữa các đơn vị chức năng trong xã hội và gia đình, nhà trường và sự tự nhận thức của sinh viên
1.3.3 Xây dựng ý thức sinh hoạt và kế hoạch sử dụng thời gian rỗi cho sinh viên
Sinh hoạt, vui chơi, giải trí cũng là nhu cầu thiết yếu của sinh viên Những hoạt động này góp phần tạo nên lối sống của sinh viên Vì vậy, xây dựng ý thức sinh hoạt và kế hoạch sử dụng thời gian rỗi cho sinh vên cũng là một yêu cầu cần thiết trong việc xây dựng lối sống văn hoá cho họ
Trang 40Ở môi trường đại học, tỷ lệ sinh viên ở ngoại tỉnh về học tập khá cao , nhưng
cơ sở vật chất của một số trường chưa đáp ứng được nhu cầu của họ về chỗ ở, trang thiết bị sinh hoạt , điện nước nên ngoài những sinh viên sống ở ký túc xá của nhà trường thì còn rất nhiều sinh viên vẫn đang ở trọ để học tập Vậy, vấn đề đặt ra ở đây là làm sao cho tất cả sinh viên, dù sống ở điều kiện hoàn cảnh nào, cũng luôn có ý thức sinh hoạt cá nhân và tập thể tốt như việc tự học, việc ăn, ngủ, tắm giặt, giao lưu bạn bè, tổ chức sinh nhật, đi học và tham gia các hoạt động xã hội luôn đúng giờ đầy đủ và nghiêm túc tự giác Đây là một việc làm rất khó, đặc biệt là đối với những sinh viên thuê nhà trọ, không có sự quản lý chặt chẽ của gia đình và nhà trường vì một phần trong số họ sống khá tự do, thường xuyên vui chơi quá khuya, đặc biệt là việc tổ chức sinh nhật: họ thường tụ tập ca hát, uống rượu, đánh bài, có khi còn dẫn đến đánh nhau, tai nạn do say rượu gây hậu quả buồn cho gia đình, nhà trường và bản thân các sinh viên đó, đồng thời họ cũng làm ảnh hưởng đến môi trường sống của những người xung quanh Mỗi gia đình và mỗi bậc học ở nhà trường cần phải có sự giáo dục về ý thức đạo đức cho sinh viên ngay
từ khi họ bắt đầu đi học, điều này sẽ tạo nên nếp sống văn minh cho họ nói riêng
và cho toàn xã hội nói chung
Phải chăng, một trong những nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện tiêu cực trong lối sống của sinh viên như đã trình bày ở trên là do họ chưa nhận thức được vai trò của việc sử dụng thời gian rỗi, tức là thời gian còn lại của con người sau khi lao động cá nhân và lao động xã hội (cũng có thể hiểu thời gian rỗi ở đây đồng nghĩa với thời gian tự do của mỗi con người)
Cơ cấu thời gian trung bình của sinh viên được tính ước lượng như sau:
Học trên lớp ≈ 5 giờ
Đi lại ≈1,5 giờ
Ngủ ≈ 9 giờ