Giá trị văn hóa của âm nhạc và các hình thức diễn xướng dân gian trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc .... Với ưu thế vốn có về cảnh quan lịch sử và thiên nhiên hùng vĩ, con người hiền hoà, s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGA
ÂM NHẠC VÀ DIỄN XƯỚNG DÂN GIAN TRONG LỄ HỘI
CÔN SƠN- KIẾP BẠC
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS PHẠM MINH KHANG
HÀ NỘI – 2008
Trang 2Mục lục
Trang
Mở đầu 2
Chương 1: Không gian văn hóa lễ hội côn sơn – kiếp bạc 9
1.1 Sơ lược vị trí địa lý và không gian văn hóa tỉnh Hải Dương 9
1.2 Nguồn gốc lịch sử lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc 10
1.2.1 Nguồn gốc lịch sử lễ hội Đền Kiếp Bạc 10
1.2.2 Nguồn gốc lịch sử lễ hội Côn Sơn 20
Chương 2: Âm Nhạc vμ các hình thức diễn xướng dân gian trong tiến trình lễ hội 30
2.1 Âm nhạc trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc 30
2.1.1 Cơ sở lý luận 30
2.1.2 Vai trò của âm nhạc trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc 32
2.1.3 Vai trò và tính năng các nhạc cụ truyền thống trong lễ hội 37
2.1.4 Âm nhạc trong đám rước và trong lễ Đại tế 43
2.2 Các hình thức diễn xướng dân gian trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc 54
2.2.1 Các trò diễn về thần tích và truyền thuyết dân gian 55
2.2.2 Diễn xướng gắn với tín ngưỡng tâm linh – Diễn xướng Hầu Thánh 64
2.2.3 Diễn xướng dân gian mang tính chất nghệ thuật sân khấu 76
Chương 3: Bảo tồn vμ phát huy vai trò của âm nhạc vμ diễn xướng dân gian trong lễ hội côn sơn – kiếp bạc 86
3.1 Giá trị văn hóa của lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc 86
3.2 Giá trị văn hóa của âm nhạc và các hình thức diễn xướng dân gian trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc 87
3.2.1 Giá trị văn hóa của âm nhạc lễ hội 87
3.2.2 Giá trị văn hóa của các hình thức diễn xướng dân gian 88
3.3 Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị âm nhạc và diễn xướng dân gian trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc 89
3.4 Những kiến nghị và giải pháp 94
Kết luận .97
Tμi liệu tham khảo .102
Phụ lục 107
Trang 3độc đáo…Âm nhạc truyền thống của chúng ta đã thể hiện được tiếng nói, tâm tư và tình cảm của người Việt Nam, nó không bị hoà lẫn và lai căng với âm nhạc của các nước khác trên thế giới Giữa âm nhạc và các hình thức diễn xướng dân gian luôn luôn có mối quan hệ bền chặt với nhau Nó ăn sâu vào tiềm thức của cộng đồng dân cư ở khắp nơi trên đất nước ta, nó bắt nguồn từ trong lao động sản xuất và trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, là sản phẩm của những con người biết yêu và trân trọng giá trị của cuộc sống, yêu chuộng hoà bình tự do và thiên nhiên tươi đẹp Một trong các yếu tố đặc biệt làm nên bản sắc của người Việt Nam là lễ hội truyền thống của cư dân các địa phương trên đất nước ta Âm nhạc và các hình thức diễn xướng dân gian tham gia trực tiếp và hoà quyện cùng các thành tố khác của một lễ hội, làm tăng không khí và tăng sức hấp dẫn của lễ hội Không chỉ dừng lại ở đó, âm nhạc
đặc biệt tạo yếu tố thiêng và có thể coi là “linh hồn” trong các nghi thức tế, lễ, rước Âm nhạc và diễn xướng dân gian góp một phần không nhỏ làm nên thành công của một lễ hội
Nằm trong vùng văn hoá của khu vực đồng bằng Bắc bộ, Hải Dương một tỉnh có bề dầy về truyền thống văn hoá, nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng Tuy bị chiến tranh, thiên tai và những biến động xã hội tàn phá nặng nề, nhưng nhờ ý thức tôn trọng các giá trị truyền thống của nhân dân địa phương, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nay Hải Dương còn giữ được hàng ngàn di tích có giá trị, gần 100 di tích được xếp hạng
Trang 4quốc gia Đây là tài sản vô giá, là niềm tự hào trong đời sống văn hoá tâm linh của cư dân Kinh Đông từ bao đời nay
Nói đến Hải Dương người ta nghĩ ngay đến di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, một vùng địa linh nhân kiệt, đây là một quần thể di tích và danh thắng đặc biệt quan trọng của quốc gia Hai di tích này gắn liền với thân thế và sự nghiệp của các nhân vật lừng danh trong lịch sử, đã có công lao to lớn trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ chủ quyền dân tộc và sự trường tồn của đất nước Đặc biệt là hình ảnh tiêu biểu của người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và anh hùng dân tộc – danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi Lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc có quy mô rộng lớn, ăn sâu vào đời sống văn hoá của cư dân vùng Đông bắc Tổ Quốc từ vài trăm năm nay Được Đảng và Nhà nước quan tâm, năm 2006 lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc được nâng lên thành nghi thức Quốc lễ để tương xứng với tầm vóc và công lao to lớn của hai danh nhân tiêu biểu bậc nhất của dân tộc Lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc có cùng thời gian tổ chức, mọi người dân từ khắp nơi về trẩy hội và lấy việc lễ bái làm trọng, nhưng họ còn xem hội, chơi hội… Các hoạt động văn hoá tâm linh
được diễn ra linh đình và trọng thể như rước lễ, tế lễ, diễn trò và nhiều hình thức vui chơi xung quanh lễ hội Người Hải Dương vốn quý trọng các giá trị văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc của quê hương, trọng nghĩa tình và giàu lòng mến khách Lễ hội là dịp mọi người bày tỏ lòng thành kính và biết ơn sâu sắc của mình đối với những danh nhân tiêu biểu của đất nước Những con người
đã gắn bó cuộc đời và sự nghiệp của mình tại vùng đất lịch sử và làm nên những chiến công hiển hách cho dân tộc, đồng thời ôn lại truyền thống yêu nước, ý chí độc lập tự cường và lòng tự hào dân tộc Với ưu thế vốn có về cảnh quan lịch sử và thiên nhiên hùng vĩ, con người hiền hoà, say mê và trân trọng các giá trị văn hoá nghệ thuật truyền thống, lễ hội Côn Sơn đang và sẽ trở thành lễ hội truyền thống của cả nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân và du khách từ khắp mọi miền đất nước về dự lễ hội
Trang 5Với lý do trên tôi chọn đề tài: “Âm nhạc và diễn xướng dân gian trong
lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc”, với lòng yêu mến và tôn trọng các giá trị văn hoá
của quê hương, muốn tìm hiểu nghiên cứu và sưu tầm các thành tố âm nhạc và diễn xướng dân gian thông qua lễ hội Góp phần lưu giữ và phát triển những giá trị văn hoá đó, nhất là trong thời kỳ hội nhập và phát triển nền công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước ta hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống Côn Sơn – Kiếp Bạc, đền Kiếp Bạc từ lâu đã trở thành điển tích của lịch sử, làm xúc động lòng người nhớ về một thời oanh liệt và gắn với tên tuổi người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo Với khu danh thắng Côn Sơn – di tích lịch sử đã gắn với tên tuổi người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, đã in dấu trên sử sách từ hơn 7 thế kỷ trước Có công trình lý luận, có công trình nghiên cứu thực địa, có công trình nghiên cứu tổng thể hoặc nghiên cứu riêng từng đề tài về lễ hội, qua các công trình này, điều mà các nhà nghiên cứu quan tâm là:
Tìm hiểu thiên nhiên, cảnh quan, danh nhân có liên quan đến di tích Thông qua các công trình nghiên cứu khảo cổ học đã tìm thấy nhiều hiện vật liên quan đến cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông đời nhà Trần, những di tích liên quan đến vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược Các công trình nghiên cứu tín ngưỡng tâm linh của người Việt thông qua việc thờ phụng đức Thánh Trần
Trong cuốn “Lịch triều hiến chương loại chí” [9] của Phan Huy Chú năm 2006
do nhà xuất bản giáo dục, trong phần nói về địa danh Chí Linh mô tả cảnh quan thiên nhiên và địa danh Thanh Hư Động của Côn Sơn, khái quát về cuộc đời các danh nhân tiêu biểu triều Trần và triều Lê đã từng sống tại Côn Sơn
Cuốn Nguyễn Phi Khanh – Thanh Hư Động ký – Thơ văn Lý Trần tập 3 [25] nhà xuất bản khoa học xã hội năm1978 mô tả thiên nhiên và cuộc đời Tư đồ Trần Nguyên Đán cùng các vua Trần về vãn cảnh tại Thanh Hư Động- Côn Sơn
Trang 6Các công trình nghiên cứu về “Đề án nâng cấp Lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc năm 2006 và năm 2007” [5] của Uỷ ban Nhân tỉnh Hải Dương và sở Văn
hoá thông tin Hải Dương, đề tài nghiên cứu về các mô hình và nâng cấp quy mô của Lễ hội
Cuốn Hải Dương di tích và danh thắng [19] của tác giả Tăng Bá Hoành
do sở Văn hoá thông tin Hải Dương phát hành năm 1999, đã tìm hiểu, nghiên cứu về cuộc đời sự nghiệp của hai danh nhân tiêu biểu Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi có liên quan đến hai di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc Bài viết trên báo quân đội nói về hội đền Kiếp Bạc [20] năm 1985 của tác giả Tăng Bá Hoành
Ngoài ra còn có các đề tài như: “Tìm hiểu nghi thức tế lễ đền Kiếp Bạc”
[11] của Nguyễn Văn Cường ban quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc năm 2006
Đề tài “Tìm hiểu phong tục tập quán khu vực Kiếp Bạc” [33] của Lê
Duy Mạnh và Vũ Đại Dương ban quản lý di tích Côn Sơn Kiếp Bạc năm 2006, tìm hiểu về cảnh quan thiên nhiên, lịch sử kháng chiến chống quân Nguyên Mông và phong tục tập quán của người dân vùng Kiếp Bạc
Đề tài “Tìm hiểu Đạo nội thờ Đức Thánh Trần và nghi lễ hầu bóng đền Kiếp Bạc” [31] của Nguyễn Thị Thuỳ Liên- Ban quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp
Bạc năm 2006, đề tài nghiên cứu về Đạo Nội Đức Thánh Trần và diễn xướng hầu bóng tại đền Kiếp Bạc
Cuốn “Kho tàng lễ hội cổ truyền” Hải Yến có bài viết “Lễ hội đền Kiếp Bạc”[55] năm 2000
Ngoài ra rất nhiều bài viết nói về di tích, danh thắng cảnh quan và con người có liên quan đến di tích và lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc đăng trên các tạp chí Văn hoá thông tin, tạp chí Văn học nghệ thuật của tỉnh Hải Dương
Đề tài nghiên cứu về:
“âm nhạc và diễn xướng dân gian trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc”
hiện đang còn bỏ ngỏ
Trang 73 Mục đích nghiên cứu
Nêu bật vai trò, ý nghĩa của lễ hội truyền thống Côn Sơn – Kiếp Bạc, tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của hai danh nhân Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi, tư tưởng, đạo đức, nhân cách, đặc biệt những đóng góp to lớn của các ông trong lịch sử chống kẻ thù xâm lược bảo vệ đất nước Qua đó giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí độc lập tự cường của dân tộc, giáo dục về ý nghĩa lịch sử thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn trong các thế
hệ mai sau thông qua các nghi lễ truyền thống, các hoạt động văn hoá giàu bản sắc trong lễ hội truyền thống Côn Sơn – Kiếp Bạc
Tìm hiểu, nghiên cứu một cách có hệ thống và mang tính khoa học về các giá trị văn hoá phi vật thể trong lễ hội Luận văn tiếp cận theo hướng văn hoá học, nêu bật vai trò, vị trí, đặc thù của âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung, và những đóng góp của âm nhạc và truyền thống địa phương nói riêng Những thành tố âm nhạc, hệ thống các loại nhạc khí dân tộc của địa phương được diễn tấu trong lễ hội
Tìm hiểu các trò diễn xướng dân gian gắn với tín ngưỡng tâm linh, các trò chơi truyền thống gắn với phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống của địa phương được biểu diễn trong lễ hội
Nêu bật các giá trị văn hoá của âm nhạc và diễn xướng dân gian trong lễ hội truyền thống Côn Sơn – Kiếp Bạc Kiến nghị và đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò của âm nhạc, hệ thống các nhạc cụ và các hình thức diễn xướng dân gian trong lễ hội Đặc biệt có một số loại hình nghệ thuật giàu bản sắc dân tộc nhưng có nguy cơ mai nột theo thời gian, trong cơ chế thị trường đã bị các trò chơi hiện đại lấn át, không phù hợp với một lễ hội truyền thống có bề dày lịch sử vài trăm năm nay
Xây dựng các mô hình hoạt động văn hoá sao cho phù hợp với đời sống văn hoá tinh thần, những phong tục tập quán của người dân địa phương, nhưng vẫn mang màu sắc của một lễ hội truyền thống, phù hợp với một lễ hội truyền thống có qui mô rộng lớn và mang tầm cỡ quốc gia
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Âm nhạc và diễn xướng dân gian trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc, trong đó tập trung nghiên cứu vai trò, chức năng của âm nhạc được sử dụng trong lễ hội Hệ thống nhạc cụ và bài bản được sử dụng trong diễn trình nhạc
lễ, nhạc hội trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc
- Nghiên cứu, tìm hiểu và sưu tầm các hình thức diễn xướng dân gian, các loại hình biểu diễn nghệ thuật truyền thống tiêu biểu tại lễ hội, các trò chơi dân gian đặc sắc bắt nguồn từ trong đời sống lao động sản xuất của nhân dân lao
động Đặc biệt các trò diễn có liên quan đến cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược Nguyên Mông ở thế kỷ XIII diễn ra tại lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hoá và xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hoá học, sử học, dân tộc học, xã hội học và dân tộc nhạc học
Trang 9Điền dã, quan sát và khảo tả chi tiết, nghiên cứu, sưu tầm, tập hợp so sánh và dựa vào các tài liệu của Trung ương và địa phương, của các tác giả trong và ngoài tỉnh
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp thêm nguồn tư liệu về loại hình âm nhạc dân gian của người Việt nói chung, của Hải Dương nói riêng Nêu lên vai trò của nó trong lễ hội truyền thống gắn với hai nhân vật tiêu biểu trong lịch sử của dân tộc Giới thiệu tính năng các loại nhạc cụ được diễn tấu trong lễ hội Các trò diễn xướng dân gian gắn với tín ngưỡng văn hoá tâm linh của con người, các trò chơi dân gian đặc sắc liên quan đến lịch sử di tích, các loại hình biểu diễn nghệ thuật truyền thống của Hải Dương
Luận văn đưa ra những nhận xét và đánh giá khách quan về giá trị của
âm nhạc truyền thống và các hình thức diễn xướng dân gian trong lễ hội, về việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá đó Những yếu tố khách quan và chủ quan trong việc tổ chức lễ hội được vui tươi lành mạnh nhưng không làm mất đi vẻ đẹp cổ truyền vốn có của nó, đặc biệt thu hút ngày càng đồng đảo du khách từ mọi miền về trẩy hội Côn Sơn – Kiếp Bạc Một lễ hội có một vị trí
đặc biệt, giáo dục truyền thống yêu nước, tôn trọng lịch sử cho các thế hệ mai sau, nâng tầm quy mô và chất lượng của lễ hội sao cho tương xứng với tầm vóc của các anh hùng dân tộc đã lập những chiến công hiển hách cho dân tộc
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần tham khảo, phụ lục ảnh, luận văn
được phân chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Không gian văn hoá lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc Chương 2: Âm nhạc vμ các hình thức diễn xướng dân gian
trong tiến trình lễ hội
Chương 3: Bảo tồn vμ phát huy vai trò của âm nhạc vμ
diễn xướng dân gian trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc
Trang 10Chương 1 Không gian văn hoá lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc
1.1 Sơ lược vị trí địa lý và không gian văn hoá tỉnh Hải Dương
Hải Dương là tỉnh thuộc miền đồng bằng Duyên Hải, nằm phía Đông Bắc của Tổ Quốc, diện tích là 1651,1 km2, mật độ dân số xấp xỉ 1.723.200 người Hải Dương là một vùng đất trù phú, cảnh quan đa dạng, nơi có nhiều di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh Phần lớn đất đai Hải Dương thuộc đồng bằng Bắc Bộ, phía Đông Bắc có hai huyện miền núi Chí Linh và Kinh Môn, tuy không rộng lớn nhưng cảnh quan xanh mát và đẹp thầm kín Vùng Chí Linh với diện tích 281,9km2, núi đồi trùng điệp cao không quá 700m, có rừng cây xanh tốt, cách đây hàng nghìn năm dân tộc ta đã quan tâm
đến vùng dịa linh nhân kiệt này Không những vậy, Hải Dương còn là nơi phát tích và là nơi mai danh ẩn tích của nhiều nhân vật lừng danh trong các giai
đoạn lịch sử Việt Nam, nơi có truyền thống văn hiến, khoa bảng, đã sinh ra và nuôi dưỡng nhiều những đại biểu lỗi lạc là các nhà nho học, là tỉnh có hơn 500 tiến sĩ nho học, một trong hai tỉnh có số Tiến sĩ nho học đứng đầu trong cả nước, từng mệnh danh là “Lò Tiến sĩ xứ Đông” Các tên tuổi nổi danh và làm rạng rỡ cho dân tộc như: Danh y Tuệ Tĩnh, Vũ Hữu (nhà toán học), Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Duệ – người con gái đầu tiên đỗ Tiến sĩ quê Chí Linh Cùng nhiều tên tuổi như Phạm Trấn, Nguyễn Quý Tân (tức Nghè Tân) huyện Gia Lộc, Phạm Duy Quyết, Phạm Sư Mạnh…
Hải Dương với điều kiện thiên nhiên thuận lợi, cộng với sức lao động cần cù và sáng tạo của nhân dân sẽ góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế quốc dân Nói đến Hải Dương người ta nghĩ ngay tới vùng Côn Sơn – Kiếp Bạc, vùng đất đã đi vào lịch sử như một huyền thoại, nơi đây còn ghi bao dấu ấn trong các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, gắn với tên tuổi các danh nhân thuở trước, mãi mãi ghi danh cho muôn đời
Trang 111.2 Nguồn gốc lịch sử lễ hội Côn sơn – Kiếp Bạc
1.2.1 Nguồn gốc lịch sử lễ hội Đền Kiếp Bạc
1.2.1.1 Trần Hưng Đạo và di tích Kiếp Bạc
Kiếp Bạc từ lâu đã trở thành điển tích của lịch sử và mỗi khi nhắc đến
đều làm xúc động lòng người nhớ về một thời oanh liệt Nói tới Kiếp Bạc chúng ta lại nhớ về một anh hùng dân tộc văn võ song toàn, ông là linh hồn của ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông vào thế kỷ XIII Dưới thời nhà trần, Kiếp Bạc thuộc hương Vạn kiếp, lộ Lạng Giang, đến thời Nguyễn, Kiếp Bạc thuộc địa phận của hai xã: Vạn Yên (Làng Kiếp) thuộc tổng trạm Điền, và xã Dược Sơn (làng Bạc) thuộc tổng Chi Ngại Hiện nay Kiếp Bạc thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Kiếp Bạc có dãy núi rồng hình tay ngai bao lấy một thung lũng xanh mát với nhiều di tích có giá trị và những câu chuyện vừa có tính chất lịch sử, vừa mang tính huyền thoại ly kỳ về Trần Hưng Đạo Phía Đông Nam kiếp Bạc tiếp giáp với vùng núi Phả Lại, Phượng Hoàng, Côn Sơn, đây là nơi có nhiều vết tích lịch sử nổi tiếng từ triều Lý – Trần, cùng những danh lam thắng cảnh
đẹp và thơ mộng Bên bờ vựng Trần Xá xưa kia là nơi vua Trần hội nghị Bình Than cùng các quan triều đình nhà Trần bàn kế sách giữ nước vào tháng 11 năm 1282 Phía tây Kiếp Bạc giáp với sông Thương, đây là một nhánh của sông Lục Đầu mà thời Trần có tên là sông Bình Than (dải sông này là nơi hội
tụ của 6 dòng sông: Sông Cầu, sông Đuống, sông Thương, sông Lục Nam, sông Kinh Thầy, sông Bình Than) Giữa sông có một dải đất hẹp và dài nổi lên tục gọi là Cồn Kiếm, dân gian cho rằng đó là thanh kiếm của Trần Hưng Đạo sau khi dẹp xong giặc ngoại xâm đặt lại đấy để nhắc nhở đời sau luôn cảnh giác trước mối hoạ xâm lăng Phía Bắc là thung lũng Vạn Yên rộng lớn, giữa thung lũng có sông Vang với bề mặt nhỏ nhưng rất sâu, tạo điều kiện cho thuyền bè tập kết vào sát tới chân núi Nơi đây xưa kia đã từng diễn ra trận
đánh lớn chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai (1285), ở đó chôn
Trang 12vùi hàng vạn quân chủ lực của tướng Thoát Hoan kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ hai Hai nhánh núi rồng tiến sát vào dòng sông, nhánh phía bắc gọi là núi Bắc Đẩu, nhánh phía nam gọi là núi Nam Tào, trên mỗi đỉnh núi đều có một ngôi chùa cổ kính thờ hai vị tướng quân của Trần Hưng Đạo Rừng Kiếp Bạc xưa rất rậm rạp có nhiều cây gỗ to và quý hàng trăm tuổi như: Lim, sến, táu… cùng thông trúc quanh năm xanh tốt, sông Lục Đầu chứa nhiều tôm cá, trai hến, làm cho ngư dân ở đây thoả sức quăng chài thả lưới Người dân nơi
đây giàu tinh thần thượng võ, từng đóng góp nhiều nhân tài vật lực cho cuộc kháng chiến Từ Kiếp Bạc có 6 đường sông và đường bộ, ngược xuôi đều thuận tiện Tại đây, thuyền bè có thể xuôi về thành Thăng Long chỉ nửa ngày
đường, ngược lên biên ải phía bắc hay xuống miền đồng bằng đều thuận tiện Các thung lũng nối liền với sông Lục Đầu có khả năng tập kết hàng chục vạn quân thuỷ và bộ cùng hàng nghìn thuyền chiến Từ đỉnh Nam Tào và Bắc Đẩu
ta có thể quan sát một miền rộng lớn bao la, tàu thuyền ngược xuôi tấp nập, vậy nên Kiếp Bạc không chỉ là một cảnh quan hùng vĩ mà còn là một vị trí quân sự quan trọng, một vùng đất giàu có của đất nước Trần Hưng Đạo đã có một tầm nhìn chiến lược nên ông đã lập phủ đệ và quân doanh ở đây sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sinh năm 1228(?) trong một gia
đình quý tộc nguyên quán ở hương Tức Mặc (Nam Định) Cha là An Sinh Vương Trần Liễu, anh ruột Trần Cảnh tức vua Trần Thái Tôn, vua đầu tiên của triều Trần Từ nhỏ Quốc Tuấn đã được rèn luyện và giáo dục toàn diện sớm có chí lớn, văn võ song toàn Trong ký ức của người Việt ông là một người con trung hiếu vẹn toàn, là vị anh hùng kiệt xuất của dân tộc, một danh nhân văn hoá Việt Nam
Quân Nguyên xuất sứ là người Mông Cổ, đó là một dân tộc hung hãn nhất thời đó, chúng đã đánh chiếm nước Tàu, xâm lấn hết vùng Trung á, Ba Tư, kéo quân tới tận Đông Bắc Âu châu ở Bắc á chúng đánh chiếm Tây Hạ
Trang 13rồi tràn sang Triều Tiên, tung vó ngựa khắp lục địa á- Âu, đánh giết phá hoại nhiều nước Vó ngựa của chúng đi tới đâu huỷ hoại cuộc sống con người tới
đó, thế nhưng ba lần xâm lược nước ta chúng đều bị quân và dân nhà Trần
chống trả quyết liệt, không lần nào trụ nổi 6 tháng, chúng liên tục bị tổn thất quân binh, hao phí lương thực và khí giới Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi đã làm chặn đứng làn sóng xâm lược của giặc xuống
Đông Nam á, che chở cho nhiều dân tộc thoát khỏi hoạ xâm lăng
Quân ta đánh thắng là nhờ tài mưu lược quân sự và sự điều khiển binh tướng tài tình của Trần Hưng Đạo, chiến thắng này làm rạng rỡ cho dân tộc
ta, chấn động cả địa cầu Nhắc tới Hưng Đạo Vương ngày nay là nhắc tới lòng tự hào dân tộc với những trang sử vẻ vang của người Việt Trong Đại Nam quốc sử diễn ca, có ghi lại đoạn sử oai hùng đó bằng những vần thơ sau đây:
…Rợ Nguyên đem thói hung tàn
Cõi ngoài gấm ghé những toan tranh giành Phong ba gây việc bất bình
Giả điều sang đánh Chiên Thành lấn ta Bóng cờ tiếng trống xa xa
Quân 50 vạn kéo ra đầy đường Vạn toàn nhờ dưới miếu đường Quân dân một dạ hầu vương đồng lòng Sắc sai Hưng Đạo tổng binh
Với Trần Quang Khải các dinh tiến vào Chương Dương một trận phong đào Kìa ai cướp giáo ra vào có công Hàm quan một trận ruổi rong Kìa ai bắt giặc uy phong còn truyền Giặc Nguyên còn muốn báo đền
Trang 14Mượn đường hộ tống binh thuyền lại sang Bặch Đằng một cõi chiến tràng
Xương bay trắng đất, máu vàng đỏ sông Trần Hưng Đạo đã anh hùng
Mà Trần Nhật Duật kể công cũng nhiều Hèn như Dã Tượng, Yết Kiêu
Vững gan vàng đá cũng theo giúp thầy Thân Vương lắm kẻ ra tay
Hoài văn tuổi trẻ chí cao
Cờ đề sáu chữ quyết vào lập công Trần Bình Trọng cũng là trung
Đành làm Nam quỷ không lồng Bắc Vương… [8, tr 272]
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất (1258) Trần Hưng Đạo chỉ huy quân thuỷ bộ chặn giặc ở biên giới Năm 1283, ông được phong chức Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ lực lượng quân sự Tháng giêng năm 1285, ông tập hợp 20 vạn quân ở Vạn kiếp, tháng 6 năm ấy đánh tan đạo quân của tướng Thoát Hoan, quân giặc thua liểng xiểng khiến Thoát Hoan một tên khét tiếng phải chui vào ống đồng mới thoát được mũi tên của quân ta để chạy về nước Là người tổng chỉ huy có nhiều mưu trí và dũng cảm,
ông có công to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ
ba (1288)
Với gần bốn mươi năm nằm gai nếm mật, đồng cam cộng khổ cùng quân và dân nhà Trần để đánh trả quân xâm lược hung ác, có thể nói ông là một vị tướng hội tụ những phẩm chất cao quý nhất của bậc quân vương,
“Nhân – Trí – Dũng vẹn toàn” “Thiên tài của ông được khẳng định trên hai phương diện: Lý luận và thực tiễn, ông là người nắm vững tri thức quân sự
đương thời, có tầm nhìn chiến lược sâu sắc, phát huy cao độ truyền thống
đánh giặc giữ nước của dân tộc, cùng với triều đình phát động thành công
Trang 15cuộc chiến tranh nhân dân, đánh bại đội quân thiện chiến, hùng mạnh cùng những tướng lĩnh tài ba, sừng sỏ nhất thế giới lúc đó, đè bẹp mưu đồ xâm lược của quân thù” [19, tr.11]
Ông viết các tác phẩm: “Binh thư yếu lược”, “Vạn Kiếp tông bí truyền thư”, “Hịch tướng sĩ” - Những áng thiên cổ hùng văn bất hủ Ngoài ra ông
còn là nhà khoa học, giỏi nghiên cứu, sưu tầm và trồng các cây thuốc nam để chữa bệnh cho quân lính và nhân dân Lúc đất nước lâm nguy ông nhận trách nhiệm về mình, kiên quyết và tự tin, đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân, đối với quân sĩ như cha với con Nhiều gia thần môn khách của ông làm nên sự nghiệp lớn như: Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực…Ông nhận thấy vai trò vĩ đại của quần chúng và
đã từng nói: “Chim hồng hộc bay cao được là nhờ sáu trụ xương cánh, nếu không có thì cũng như chim thường thôi” [19, tr.11]
Vua Trần Tôn trọng tài năng và đức độ của người tướng già từng trải, có công lao to lớn với đất nước và triều đình nhà Trần, ngay lúc sinh thời, ông đã
được lập đền thờ gọi là sinh từ tại Vạn kiếp
Sau kháng chiến chống quân Nguyên, ông sống những năm tháng thanh bình tại Vạn Kiếp, vua thường đến thăm phủ đệ của ông và hỏi kế sách giữ nước Trước khi mất ông còn lo đến vận mệnh quốc gia, ông nói với vua Trần:
“Có thu dụng quân lính như cha với con mới dùng được, vả lại khoan thư sức dân làm kế sâu gốc, bền rễ, đó là thượng sách giữ nước” [19, tr.11] Ngày 20 tháng 8 năm Hưng Long thứ tám (1300) trái tim người anh hùng dân tộc ngừng đập tại nhà riêng ở Vạn kiếp Sau khi mất ông được triều đình phong tặng : Thái sư thượng phụ quốc công - Nhân võ Hưng Đạo Đại Vương, vua Trần Thánh Tôn tự soạn văn bia ca ngợi công đức của ông, dựng tại Sinh từ,
đền thờ của ông được tôn tạo tại một khu đất ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc Qua các triều đại Trần, Lê, Nguyễn, đền thờ ông vẫn tôn nghiêm, tháng 2 năm 1427, cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược đang ở giai đoạn
Trang 16quyết liệt, Lê Lợi đã cho Dương Thái Nhất sửa chữa đền và cấm chặt cây ở miếu Qua nhiều thế kỷ, gió mưa nhiệt đới và chiến tranh đã dần dần huỷ hoại các công trình kiến trúc thời Trần, Lê ở Kiếp Bạc, hiện nay đền đã được khôi phục lại vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Trong kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954) giặc Pháp đã đốt phá Trung Từ, dỡ hành lang, dỡ chùa Nam Tào, Bắc Đẩu để xây dựng đồn bốt, chúng còn chặt phá cây cổ thụ, cướp di nhiều đồ tế tự quý giá Mấy chục năm qua, Nhà nước đã xếp hạng bảo vệ di tích Kiếp Bạc, đầu tư kinh phí, dân nhân địa phương và đồng bào cả nước đã
đóng góp nhiều công của đắp đê phòng lụt, tu sửa tôn tạo khu di tích Một số công trình tiếp tục được khôi phục theo dáng dấp kiến trúc đời Trần, làm cho
đền Kiếp Bạc xứng với sự ngưỡng mộ của nhân dân
Ngày nay khi tới đền, đứng trước cổng tam quan lớn chúng ta sẽ nhìn thấy có hai hàng chữ lớn: Hàng trên là dòng chữ:
Giữ thiên vô cực
(Sự nghiệp này tồn tại mãi mãi với trời đất)
Hàng dưới là dòng chữ:
Trần Hưng Đạo Vương Từ (Đền thờ Trần Hưng Đạo)
Tiếp đó là 2 câu đối:
Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí Lục Đầu vô thuỷ bất thu thanh
(Vạn Kiếp núi lồng hình kiếm dựng Lục Đầu vang dội tiếng quân reo) Hai câu đối ấy đã mô tả hào khí của núi sông vùng Kiếp Bạc, một vùng
đất hiểm trở rất thuận lợi cho việc dụng binh Đứng trên ngọn Nam Tào và Bắc Đẩu mà phóng tầm mắt về 4 phương 8 hướng ta mới thấy hình thế núi sông ở đây rộng lớn, làng mạc trù phú bao la, hợp thế phong thuỷ của các nhà
địa lý xưa Ngôi đền dựa vào núi, ngọn núi ở thế Thanh Long, Bạch Hổ, trước
Trang 17mặt có sông, vừa là cảnh quan ngoạn mục, vừa là địa thế hiểm yếu về quân sự,
điều đó cho thấy ông cha ta có một tầm nhìn chiến lược sâu sắc Cảnh quan đó không chỉ thiêng liêng, mà còn hấp dẫn du khách từ khắp mọi miền đất nước hành hương về đền…
Qua cổng Tam quan sẽ bước vào một sân rộng với những cây đa cổ thụ cao um tùm, hai bên là hai dãy nhà dài để khách thập phương dừng chân để chuẩn bị đồ lễ Sau đó sẽ bước vào một cửa tới một khuôn viên nhỏ có hồ, có hoa và non bộ, ở giữa có một bàn thờ nhỏ, tiếp đến sẽ tới hai nhà đại bái lớn
và hậu cung nằm liền nhau, được kiến trúc theo lối cổ xưa uy nghi cổ kính Nhà đại bái đầu tiên bước từ ngoài vào đặt một ban thờ lớn ở giữa, với nhiều
đồ tế tự và lư hương, tiếp đến là nhà đại bái phía trong ở giữa cũng đặt bàn thờ lớn, hai bên là 4 cỗ ngai thờ 4 người con trai của Hưng Đạo Vương là:
Trang 18Nghiêng trời lệch nước cuộc đao binh Việc nước an nguy hộ một mình Núi Kiếp bao phen quân Việt thắng Sông Đầu một trận giặc Nguyên kinh Rắp đem văn vũ tài vô địch
Nguyện rửa non sông tiếng bất bình Tháng tám dâng hương đền Kiếp Bạc Vẫn còn hiển hiện khí oai linh
1.2.1.2 Lễ hội đền Kiếp Bạc
Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, người đem tài đức cống hiến cho
đất nước, hàng năm cứ đến ngày 20 – 8 âm lịch, ngày giỗ Đức Hưng Đạo Vương, dân bốn phương về đây dâng lễ rất nhiều Hội đền chính vào 20 – 8, nhưng ngay từ đầu tháng 8 cửa đền đã mở đón khách hành hương tới lễ bái, ngay từ lúc mở cửa đền khách trẩy hội đã kéo đến rất đông từ kháp các nẻo
đường Dân chủ sự của lễ hội vẫn là người dân Vạn Yên và Dược Sơn, mọi công việc được phân đều cho hai bên, bên này đông xướng thì bên kia tây xướng, các chân khác cũng tương tự như vậy mà chia Quang cảnh lễ hội khi xưa được miêu tả:
Dưới sông những con tàu, những con thuyền chở khách từ từ ghé bến Những cảnh chen chúc của mọi người bên những chiếc tàu lớn thuyền to là những thuyền nan của những cô gái bán vàng mã, hương nến chèo ngược chèo xuôi để chào khách Trên mặt sông khách trẩy hội ai cũng trông thấy không biết bao nhiêu những khúc chuối cắm hương đốt nến và đặt vàng mã thả trôi khắp mặt nước, đấy là của người trẩy hội thả để xua đuổi tà ma đi nơi khác… Ban đêm những ngọn nến trên những khúc chuối này lập loè đầy sông xen vào giữa những đám thuyền bè chợp chờn như ma trơi, nhìn xa như những bóng sao phản chiếu dưới mặt nước Từ bến đò đi lên đông nghẹt người, làn sóng người dồn dập kẻ ra người vào, hết lớp nọ đến lớp kia, chen chân lấn bước đi
Trang 19thật khó khăn Hai bên lối đi la liệt những quán hàng bán hương hoa lễ phẩm
và những quán bán thức ăn cho khách hành hương [2, tr.135-136]
Nét đặc biệt nhất của lễ hội này là việc lễ bái cầu cúng để diệt tà ma, chữa bệnh Nhân dân khâm phục tài năng đức độ của ngài, họ đã huyền thoại hoá ông là người trời được cử xuống để đánh giặc cứu nước, họ tự tôn ông là
Đức Thánh Trần, kể cả những bệnh tật và ma tà bùa đảo cũng không tài nào trị nổi, nhưng nếu được các thứ đồ thờ trong đền đem về dắt vào chỗ người bệnh nằm thì sẽ diệt trừ được tà ma và chúng không dám quấy nhiễu nữa
Trước sân đền có nhiều người tìm đến đây để lên đồng, với những tà áo xanh đỏ tím vàng của những ông đồng bà bóng Trong đền người ta chen nhau dâng lễ vào đền và thắp hương khấn vái, có người còn xin áo dấu và mang vào
đền đặt lên bàn thờ cầu khẩn để xin Đức Thánh chứng giám cho Mọi người quan niệm rằng những áo dấu này mang về cho trẻ nhỏ mặc vào tà ma không dám trêu ghẹo và đứa trẻ sẽ mạnh khoẻ
Trước ngày hội chính (20 – 8) nhân dân hai làng Vạn Yên và Dược Sơn làm lễ rước, đám rước đầy đủ kiệu hoa, cờ quạt, nghi trượng, nhưng đặc biệt là
lễ vật Lễ vật có lợn quay, gà, xôi, bánh su sê, bánh tràng gừng, bánh trong bánh lọc và bánh ngũ sắc…Đây là các sản phẩm tự tay họ làm ra, và nó được chuẩn bị trong suốt một năm để thành kính dâng lên ngài Lễ hội đền Kiếp Bạc từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức không chỉ của riêng dân bản địa hoặc của vùng Đông Bắc, mà nó còn có quy mô rộng lớn trong vùng châu thổ sông Hồng, đặc biệt các tỉnh thành: Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang…
Có câu: “Tháng 8 giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” là để nói lên vị trí vai trò
của lễ hội truyền thống đền Kiếp Bạc và đền Bảo Lộc Nam Định để tưởng nhớ ngày mất của Trần Hưng Đạo Đại Vương Trong tiềm thức mọi người, ông
không chỉ là một tướng quân lỗi lạc, mà còn được tôn là “Cha”
Trang 201.2.1.3 Diễn trình lễ hội Đền Kiếp Bạc
Do nhân dân về dự lễ hội ngày một đông nên đền mở cửa sớm hơn khi xưa, hội đền thường làm trình tự các nghi thức như sau:
- Lễ cáo Yết: Tổ chức vào 10 – 8 âm lịch, là ngày mở cửa đền với ý
nghĩa xin phép vị thánh của đền cho dân làng được mở hội, lễ do ban khánh tiết hai làng Vạn Yên và Dược Sơn thực hiện, ban khánh tiết dâng lễ vật vào
đền Đội tế do hai làng đảm nhiệm, đội tế tổ chức 3 tuần tế, đọc bài văn tế Trần triều và làm lễ xin cho được mở lễ hội
Theo tín ngưỡng dân gian của người Việt cổ Hưng Đạo Vương là “Người Trời” hoá thân để giúp nhà Trần đánh giặc Nguyên Mông bảo vệ đất nước, nhân dân coi ông là thần chủ tín ngưỡng thần tiên, phái Thanh Đồng Hàng ngàn năm nay, người theo tín ngưỡng này vẫn luôn tôn thờ ông và biểu thị lòng tôn kính
ấy bằng hình thức diễn xướng hầu thánh
của Hưng Đạo Vương Hằng năm, do lòng sùng tín đối với ngài mà nhân dân mọi miền đất nước thường về đây cúng lễ, đồng thời xin ngài ban cho ấn để tránh quỷ, trừ tà làm ăn phát đạt, đặc biệt những người làn nghề chài lưới, đi sông đi biển thì mong ngài ban ấn để cầu an
- Lễ rước thuỷ và lễ rước bộ ngày 17 - 8
Rước thuỷ là sự tái hiện lịch sử của quân và dân Đại Việt dưới triều nhà Trần, biểu thị khí phách của nhà Trần nói chung và công lao của Trần Hưng
Đạo nói riêng, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho những lớp người sau, việc tái hiện lịch sử này làm cho lễ hội có bản sắc riêng
phối hợp với hội thuỷ quân và rước về đền Kiếp Bạc
- Lễ Đại tế: Buổi lễ diễn ra trang trọng, tìm hiểu về lịch sử của đền Kiếp
Bạc, tưởng niệm Hưng Đạo Vương, nêu lên công đức của ngài, là sự biểu thị
Trang 21và sự quan tâm của nhà nước với lễ hội truyền thống và tưởng nhớ công lao to lớn đối với các vị anh hùng đời nhà Trần
- Lễ tế tạ: Ngày 20 – 8 âm lịch, đây là nghi lễ truyền thống, nhằm báo
cáo với thần linh rằng mọi sự diễn ra trong lễ hội đều tốt đẹp, xin tạ ơn thần thánh
1.2.2 Nguồn gốc lịch sử lễ hội Côn Sơn
1.2.2.1 Côn Sơn di tích và danh thắng
Côn Sơn là một danh thắng và di tích lịch sử đã in dấu trên sử sách từ 7 thế kỷ trước, nhiều danh nhân đời Trần, Lê, Nguyễn đã từng đến đó và có người sống ở đây nhiều năm
Cuối thế kỷ XIII, Thiền phái Trúc lâm, một Thiền phái mang ý thức dân tộc tự chủ đã dựng liêu Kỳ Lân cho các tăng ni tu hành Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, ba vị tổ xác lập thiền phái này đã từng tu hành và thuyết pháp ở đây Huyền Quang trụ trì chùa Côn Sơn và mất tại đây vào ngày
23 tháng giêng năm Khai hựu thứ 6 (1334) Sau khi mất đệ tử dựng tháp xá lị
ở sau chùa, tháp có tên gọi là “Đăng Minh Bảo Tháp”, vì thế Côn Sơn được
gọi là chốn Phật tổ và hàng năm được mở hội dâng hương vào trung tuần tháng giêng Chùa Côn Sơn còn gọi là chùa Hun, khởi dựng vào cuối thế kỷ XIII Qua nhiều năm trùng tu mở rộng đến nay chùa trông khang trang, kiến trúc kiểu chữ công, có 385 pho tượng, có những tượng phật cỡ lớn từ 2 – 3 m, gồm 11 bia dựng thời Hậu Lê Xung quanh chùa là những văn bản ghi nhận những sự kiện quan trọng xảy ra trên mảnh đất này, đây cũng là những tác phẩm điêu khắc có giá trị Sau chùa là nhà thờ tổ, trong đó có tượng Trúc Lâm Tam tổ và tượng Trần Nguyên Đán
Trần Nguyên Đán tự là Băng Hồ, làm quan Tư Đồ thời Trần Nghệ Tông, ông là người có tâm huyết với đất nước, có tài văn võ, hiểu thời thế và nặng tình vị tha Con gái ông lấy Nguyễn ứng hiệu là Phi Khanh tiến sĩ cuối nhà Trần, năm 1380 sinh Nguyễn Trãi (hiệu là ức Trai), sau dời về thôn Ngọc
Trang 22ổi xã Nhị Khê thường Tín Hà Sơn Bình Vào thời Long Khánh, Trần Nguyên
Đán dựng động Thanh Hư trên Côn Sơn để làm nơi lui nghỉ sau khi từ chức quan nhà Trần Động Thanh Hư là một tập hợp công trình kiến trúc trên núi, bao hàm nghĩa thanh tịnh và thoát tục Động làm xong, Duệ Tôn tặng 3 chữ
“Thanh Hư Động” khắc trên mặt bia, tấm bia hiện trước sân chùa Núi Kỳ Lân (tức Côn Sơn) cao gần 200m, dài trên 1km thuộc xã Chi Ngại huyện Phượng Nhỡn nay thuộc xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh Hải Dương, núi có hình con sư
tử khổng lồ Phía Bắc Côn Sơn giáp núi Ngũ Nhạc, trên đỉnh núi có miếu thờ (Ngũ Nhạc linh từ), phía tây tiếp nối với núi U Bò và một thung lũng xanh tươi, cách đó 5km là Kiếp Bạc, tương truyền khi Trần Nguyên Đán về đây ông trồng thông bà trồng giễ, tức bãi giễ ngày nay Xa hơn là thung lũng núi Phượng Hoàng, nơi Chu Văn An – một nhà giáo mẫu mực thời Trần lui triều dựng nhà dạy học Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, tục gọi là bàn cờ tiên, ở đây có di tích nền kiến trúc cổ, hình chữ công, từ đây có thể nhìn thấy toàn cảnh Côn Sơn và vùng núi lân cận, lên bàn cờ tiên có bậc đá xếp từ nhiều thế kỷ trước Rừng Côn sơn thông mã vĩ mọc bạt ngàn, có cây tuổi vài trăm năm, ngoài thông là trúc nứa, sim, mua, mẫu đơn, mỗi năm khi mùa xuân đến, Côn Sơn khoác trên mình tấm áo hoa tươi thắm Suối Côn sơn chảy rì rào quanh năm suốt tháng, bên suối có tảng đá bằng phẳng gọi là Thạch Bàn, còn gọi là hòn đá năm gian, đây là di tích được nhắc đến nhiều trong thơ văn cổ, suối Côn Sơn có cầu Thấu Ngọc, được các sử gia và thi nhân ca ngợi như một công trình tuyệt mỹ
Sáu thế kỷ trước, Côn sơn như cảnh thần tiên qua ngòi bút của Phi Khanh trong “Thanh Hư Động ký”: “Khói ngàn, ráng đỏ như gấm cuốn, như lụa giăng, cỏ rừng, hoa suối, hoặc màu biếc đung đưa, hoặc màu hồng rực rỡ Cảnh mát dịu, trong lành, thơm đến muốn nuốt, xinh đến muốn ăn Phàm những cái được gọi là hình trạng trong mát, tiếng vi vu, xa xa mà vắng không, sâu thẳm mà lặng lẽ, hợp với sự mong mỏi của tai mắt và tinh thần, đều hầu như đã hoà với bầu trời mênh mông mà vui chơi ra ngoài cõi vật” [25, tr 495]
Trang 23Hai vua Trần Duệ Tôn và Trần Nghệ Tôn cũng thường về vãn cảnh Côn sơn vì cảnh đẹp và không khí trong lành dịu mát nơi đây Với quan Tư Đồ
Trần Nguyên Đán Côn Sơn và Thanh Hư Động là nơi “nghỉ ngơi và ngẫm nghĩ” những điều mầu nhiệm của Đạo Thiền
Núi Phượng Hoàng phong cảnh cũng âm u tịch mịch, núi hơi ngả xuống, hai sườn núi như mở rộng ra hình như chim Phượng múa, có cung
điện của Chu An ở đó Thời nhà trần có làm ra cung Tử Cực, điện Lưu Quang ở
đó, Băng Hồ làm thơ :
“Bóng mặt trời mùa xuân buổi sớm chiều xế, bóng hoa lay động
Gió thu buổi chiều đưa tiếng hạc đến
Dưới Điện Lưu Quang có hàng nghìn cây tùng
Đều là những cây cao ngất trời, do một tay trồng ra”
Dưới núi thì đáy giếng có ngọc châu quý, mềm như bùn, phơi khô thì thấy ngọc” [9, tr 150] Trong con mắt của các vĩ nhân thì cảnh đẹp ở nơi đây như thần tiên, thanh trong và hư không, hợp với lòng người khi sống ở đó
Năm 1385, cháu ngoại là ức Trai theo mẹ về sống với ông ngoại tại
đây, năm 1390 ông ngoại qua đời, từ đó ông sống trong sự giáo dục của cha,
được cha rèn cặp từ nhỏ nên ông học cao hiểu rộng, tài giỏi hơn người, văn chương nổi tiếng, kinh sử bách gia, binh thư thao lược đều am hiểu cả Năm
1400, Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh, hai cha con cùng làm quan cho nhà Hồ, lúc đó ông mới 21 tuổi, ông làm chức Chính chưởng ở Đài Ngự sử Không bao lâu vào năm 1406, quân Minh mượn cớ phù Trần diệt Hồ sang xâm lược nước
ta, chúng bắt vua và cả triều đình nhà Hồ, cha ông cũng bị bắt, ông thoát
được, với sự căm hận quân giặc, ông luôn đau đáu nỗi niềm “rửa nhục cho nước, trả thù cho cha” Ông đã sớm tìm đến với nghĩa quân Lam Sơn dâng
“Bình Ngô sách”, và luôn được ở bên cạnh dự bàn việc quân Mùa xuân năm
1427 ông được thăng chức Triều liệt Đại phu, Nhập Nội hàng khiển, Thượng thư bộ lại, kiêm làm việc khu mật, các thư từ đi lại với người Minh và những
Trang 24bài hiểu dụ cho các Thành đều do ông soạn Khi vua thả quân Minh về nước
ông vâng mệnh soạn bài: “Bình Ngô Đại Cáo”, đây là một bản tuyên ngôn tái
xác nhận quyền tự chủ về chính trị, khẳng định chủ quyền quốc gia, đồng thời bao hàm ý nghĩa văn hoá của dân tộc, áng anh hùng ca tổng kết hết sức tài tình cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, nêu bật ý nghĩa lịch sử to lớn của
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn “Xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới”;
Toát lên niềm tự hào dân tộc sâu sắc, chủ nghĩa yêu nước và nhân đạo sáng
ngời “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” Khi
đất nước hoàn toàn giải phóng, Định Công ban thưởng ông được ban họ vua, mùa xuân 1443 ông vâng mệnh soạn bài văn bia Vĩnh Lăng, đầu đời Thiệu Bình Lê Thái Tông do không hợp ý với bọn quan hoạn Lương Đăng, bèn từ không dự việc nước, Nguyễn Trãi trở lại Côn Sơn và thỉnh thoảng vâng mệnh vào chầu Tuy làm quan triều đình nhưng phần lớn thời gian ông sống ở Côn Sơn, nơi cảnh tình hoà hợp với bao kỷ niệm sâu sắc nơi cố hương ông cha, với Nguyễn Trãi, Côn Sơn hữu tình và tha thiết:
Côn Sơn hữu tuyền
Kỳ thanh linh linh nhiên Ngô dĩ vi cầm huyền Côn Sơn hữu thạch
Vũ tẩy đài phô bích Ngô dĩ vi đạm tịch Côn Sơn hữu tùng Vạn cái thuý đồng đồng Ngô ư thị hồ yểu tức kỳ trung Côn Sơn hữu trúc
Thiên mẫu ấu hàn lục Ngô ư thi hồ khiếu vịnh kỳ trắc [9, tr148]
Trang 25Nghĩa: “Côn Sơn có suối, tiếng nước chảy róc rách, ta lấy đó làm tiếng
đàn, Côn Sơn có đá, mưa xuống rửa sạch rêu, phơi ra màu đá xanh, ta lấy đó làm chiếu đệm Côn Sơn có cây tùng, như muôn cái lọng xanh, ta nghỉ ngơi ở dưới bóng Côn Sơn có trúc nghìn mẫu in màu xanh ngắt, ta ngâm vịnh ở ngay bên cạnh”
ở đây ông đã sống một cuộc đời thanh bạch trong ngôi nhà “bốn vách xác xơ, chỉ có sách là giàu, ăn thì dù có dưa muối, áo mặc nài chi gấm thêu” nhưng rất ung dung thư thái: “Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh, áo bố quen cật vận xênh xang” Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Trãi vẫn “một lòng âu lo việc nước” và mong sao “Trong thôn cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận oán sầu” [43, tr 9] Cả cuộc đời của ông, khi đánh giặc cũng như khi xây dựng đất nước, hay sáng tác thơ văn, ông luôn nêu cao lòng nhân nghĩa, yêu nước thương dân, ông thường mong muốn “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cầy”
Núi rừng nơi đây đã chứng kiến những cảm xúc mạnh mẽ trong lòng vĩ nhân, những buồn vui, căm giận và yêu thương của vĩ nhân, ngược lại vĩ nhân cũng coi Côn Sơn như người bạn tri âm để biểu lộ tâm tình Nguyễn Trãi đã sống ở đây những ngày tháng cuối cùng của một cuộc đời “sáng như sao khuê”, tài mưu lược của ông làm rạng danh triều đình Cuộc đời Nguyễn Trãi
là tấm gương chói ngời chân lý đại nghĩa đại nhân, nhưng dưới chế độ phong kiên suy tàn, ông bị sát hại trong vụ án Lệ Chi Viên nhân cái chết của vua Lê Thái Tôn Suốt 22 năm sau, ông được nhà vua Lê Thánh Tông minh oan, nhà vua từng nói: “Lòng ức Trai sáng như sao Khuê, và nhà vua tự mình chú thích rằng: ức Trai tiên sinh đương lúc Thái Tổ mới sáng nghiệp theo về Lỗi Giang Trong thì bàn kế hoạch ở nơi màn Trướng, ngoài thì thảo văn thư dụ hàng các thành; văn chương tiên sinh làm vẻ vang cho đất nước, lại được vua yêu quý tôn trọng” [9, tr.277]
Nguyễn Trãi – Người anh hùng dân tộc kết tinh mọi truyền thống quý báu của dân tộc ở thế kỷ XV không những là nhà chính trị, quân sự tài ba mà
Trang 26còn là một danh nhân văn hoá thế giới, có tầm tư tưởng vượt lên nhiều thế kỷ Cuộc đời ông phần lớn đã gắn bó với Côn Sơn, Nguyễn Trãi – Côn Sơn mãi mãi là niềm tự hào của nhân dân Hải Dương và của dân tộc Việt Nam anh hùng
Với người dân Việt Nam, từ vài trăm năm nay, mỗi độ xuân về, mọi người từ khắp mọi miền lại náo nức về trẩy hội mùa xuân côn Sơn Ngay từ
đầu tháng giêng, từ khắp các ngả đường, du khách về dự lễ hội ngày một đông vui tấp nập, mọi người chen chân nhau mang lễ vào thắp hương, không phân biệt già trẻ, trai gái, giàu nghèo, nam hay nữ
Khu di tích Côn sơn có lễ hội truyền thống vào tháng giêng, còn gọi là
lễ hội mùa xuân Côn Sơn, nhằm tưởng niệm ngày mất của Thiền sư Huyền Quang – Vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm Tam tổ Nhưng lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc còn là nơi gắn bó với hai danh nhân tiêu biểu Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi Một sự trùng hợp hiếm có, bắt đầu lễ hội mùa thu Kiếp Bạc (16 – 8) thì đây cũng là kỷ niệm ngày mất của Nguyễn Trãi, vì vậy ở Côn Sơn cũng tiến hành lễ hội tưởng niệm ngày mất của Nguyễn Trãi tại đền thờ ức Trai Hội đền Kiếp Bạc kéo dài đến ngoài 20 – 8 âm lịch, nhằm tưởng niệm ngày mất của Trần Hưng Đạo (20 – 8 âm lịch) Do vị trí giữa hai khu di tích chỉ cách xa nhau gần 7km, giao thông thuận tiện nên hàng năm du khách trẩy hội mùa xuân Côn Sơn đều sang Kiếp Bạc, và ngược lại, vào tháng tám nhân dân đi trẩy hội đền Kiếp Bạc cũng trở lại Côn sơn làm lễ và tham quan đông
Trang 27vui như trong ngày hội chính Vì thế, khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc một năm
có hai kỳ lễ hội, lâu nay người ta quen gọi là lễ hội “Xuân Thu nhị kỳ”
Đến với lễ hội Côn Sơn không chỉ đơn thuần là dịp mọi người đến thắp hương tại chùa Côn Sơn, đền thờ Trần Nguyên Đán và đền thờ Nguyễn Trãi
Đến với Côn Sơn, người ta có dịp thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên xinh đẹp, không khí thanh trong, thoát tục, làm thoả mãn thế giới tâm linh, gợi khí thiêng của chốn Phật tổ Đặc biệt lễ hội Côn Sơn còn mang nhiều yếu tố văn hoá khác, đó là nơi mọi người hiểu biết thêm về lịch sử về con người, về quê hương đất nước thông qua hàng loạt các hình ảnh, các biểu tượng, các yếu tố văn hoá vật thể của di tích
Cũng như lễ hội Kiếp Bạc, lễ hội truyền thống Côn Sơn có nhiều hình thái văn hoá phi vật thể đặc sắc được trình diễn như: Tế lễ, rước bộ, rước nước,
lễ mộc dục, lễ đàn Mông Sơn thí thực tại chùa Côn Sơn Tiếp đến là các trò chơi dân gian mang tính thần phong mỹ tục, góp phần làm nên bản sắc văn hoá đa dạng và độc đáo của cư dân đồng bằng Bắc Bộ Các nghi lễ trong lễ hội
được tổ chức trang trọng uy nghiêm và chủ yếu do nhân dân địa phương đảm nhiệm, đảm bảo tính hài hoà giữa phần lễ và phần hội, phù hợp với bản sắc văn hoá của một lễ hội truyền thống, phù hợp với phong tục tập quán của người dân bản địa, nhưng vẫn đảm bảo tính quy mô của một lễ hội có tầm cỡ quốc gia
1.2.2.3 Diễn trình lễ hội Côn Sơn
Lễ khai hội mùa xuân Côn Sơn chính thức thường tổ chức vào ngày 16 tháng giêng hàng năm, nhưng từ đầu tháng giêng du khách từ khắp nơi đã về đây thắp hương làm lễ và du xuân nơi có thắng cảnh thiên nhiên đẹp nổi tiếng Từ năm 2006 nâng lên thành quốc lễ, 5 năm một lần tổ chức theo nghi lễ quốc gia
- Lễ khai hội: Tổ chức vào ngày 16 tháng giêng, nghi lễ được tổ chức
long trọng do ban tổ chức và nhân dân địa phương thực hiện, ban tổ chức đọc diễn văn khai mạc lễ hội, tưởng niệm ngày mất của Thiền sư Huyền Quang,
Trang 28ngày mất của Nguyễn Trãi, nêu bật công lao của các vị và làm lễ tuyên bố khai hội mùa xuân Côn Sơn
- Lễ rước nước: Ngay từ sáng sớm tất ngày 16 tháng giêng, tất cả các
đoàn rước đã tập trung đông đủ, lễ rước nước diễn ra trong không khí trang nghiêm Đoàn rước cử hành lễ lấy nước từ đập Rừng Sành về, nước được lấy vào một bình sứ rồi đưa lên kiệu rước về chùa làm lễ Mộc dục (lễ tắm tượng)
- Lễ dâng hương: Sau lễ rước nước và lễ Mộc dục, ban tổ chức tiến hành
lễ dâng hương tại chùa Côn Sơn và đền thờ Trần Nguyên Đán và đền thờ Nguyễn Trãi
- Lễ tế Đức Thánh: Tiến hành sau khi làm lễ dâng hương tại Đền thờ
Trần nguyên Đán và Đền thờ Nguyễn Trãi Lễ tế do nhân dân địa phương đảm nhận, lễ tế diễn ra trong không khí trang nghiêm, nội dung nêu bật công trạng
và sự hy sinh to lớn của anh hùng dân tộc – danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi, cùng các danh nhân khác đã có công lao to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong lịch sử dân tộc
- Lễ Mông Sơn thí thực tại chùa Côn sơn: Do các nhà sư đảm nhiệm
- Phần hội: Sau các nghi thức tế lễ là phân hội; các trò diễn xướng
dân gian được tổ chức tại đây như: Đấu vật, cờ người, đi cầu thùm… các loại hình biểu diễn nghệ thuật như: Hát chèo, hát ca trù, hát đối đáp giao duyên, múa rối nước, hát quan họ, thư pháp…
* Tiểu kết
Hải Dương, vùng đất lịch sử có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng và
bề dầy truyền thống văn hoá Hải Dương là nơi sinh ra và nuôi dưỡng nhiều nhân tài cho đất nước Trong lịch sử Hải Dương là một vùng quê đứng đầu về thành tích khoa bảng và có nhiều tiến sĩ nho học và đỗ đầu trạng nguyên trong cả nước, từng mệnh danh là “Lò tiến sĩ xứ Đông” Hải Dương còn là nơi mai danh ẩn tích của các danh nhân trong các giai đoạn lịch sử của Việt Nam Nhắc đến Hải Dương, là nhắc đến Côn Sơn – Kiếp Bạc, vùng địa linh nhân
Trang 29kiệt, nơi đây gắn bó với tên tuổi của hai vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo
và Nguyễn Trãi với hai triều đại Trần và Lê, phần lớn cuộc đời các vị đã ở
đây Với Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người anh hùng dân tộc văn
võ song toàn, là tấm gương trung hiếu và đạo đức sáng ngời, tên tuổi của ông
đã gắn liền với lịch sử oai hùng của dân tộc Ông là linh hồn của ba lần đại thắng quân xâm lược Nguyên Mông, một nhà quân sự thiên tài cả hai lĩnh vực
lý luận và thực tiễn, ông được nhân dân tôn là Đức Thánh, là “cha” Những chiến công của quân và dân triều Trần đã in vào sử sách và muôn đời vẫn còn ghi dấu Nó là sức mạnh của tinh thần đoàn kết và truyền thống đấu tranh anh dũng của một dân tộc nhỏ bé nhưng có thể chiến thắng những kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần
Với anh hùng dân tộc – danh nhân Văn hoá thế giới Nguyên Trãi, một con người có tầm nhìn và tư tưởng vượt trên thời đại, nhà chính trị, quân sự lỗi lạc Ông có nhiều công lao trong việc phò giúp nhà Lê quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi, cuộc đời ông là tấm gương sáng chói về chân lý “Đại nhân, Đại nghĩa” Với lòng yêu nước sâu sắc, ông đã để lại cho đời những áng anh hùng
ca bất hủ, khẳng định chủ quyền chính trị và độc lập dân tộc Côn Sơn – Kiếp Bạc còn là một di tích lịch sử mang nhiều dấu ấn của các danh nhân kiệt xuất như: Trần Nguyên Đán, Trần Nguyên Hãn, Trần Khánh Dư, Nhà giáo Chu Văn An… mãi mãi được ghi danh trong sử sách Với di tích Côn Sơn Kiếp Bạc, chúng ta còn được chiêm ngưỡng những cảnh quan thiên nhiên xinh đẹp,
đây là một vùng non nước hữu tình đã được ca ngợi trong nhiều trong các áng văn thơ của nhiều tác giả Côn Sơn – Kiếp Bạc, một vùng thanh trong thoát tục, hội tụ nhiều khí thiêng của sông núi, vạn vật
Lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc là lễ hội truyền thống từ nhiều trăm năm nay Năm 2006 được nhà nước chính thức nâng lên thành nghi thức Quốc lễ,
tổ chức 5 năm một lần Lễ hội diễn ra trang trọng đầy đủ các các nghi thức tế,
lễ và rước, nêu bật tiểu sử và công lao to lớn của anh hùng dân tộc Trần
Trang 30Hưng Đạo và anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi Lễ hội diễn ra nhiều các hoạt động văn hoá văn nghệ, tạo nên phần hội có nhiều sức hấp dẫn
Lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt Đến với lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc là tìm về cội nguồn dân tộc, tiếp nối truyền thống yêu nước và đấu tranh anh dũng bảo vệ nền độc lập dân tộc của ông cha ta Côn Sơn – Kiếp Bạc không chỉ là niềm tự hào của nhân dân Hải Dương mà của cả dân tộc Việt Nam anh hùng
Trang 31Chương 2
Âm nhạc vμ các hình thức diễn xướng dân gian
trong tiến trình lễ hội
2.1 Âm nhạc trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc
2.1.1 Cơ sở lý luận
“Cách đây 4000 năm, trên dải đất Việt Nam, cùng với nền văn minh đồ
đồng Đông Sơn, đã xuất hiện và hình thành một nền âm nhạc phát triển Nền
âm nhạc đó có một hệ nhạc cụ phong phú thuộc các họ nhạc cụ hơi (kèn, sáo)
họ tự thân vang (trống đồng, chiêng cồng, chuông và có thể cả đàn đá nữa), họ nhạc cụ màng rung (trống bịt da) Nền âm nhạc đó đã có tính bài bản bè đơn,
bè kép, nhiều bè và chắc chắn có một hệ các bài ca với trình độ phát triển tương ứng” [45, tr.17] Có thể nói âm nhạc Việt Nam cùng với sự biến đổi của
đất nước và trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, từ nửa đầu thế kỷ
XV, âm nhạc Việt Nam đã đánh dấu một bước phát triển mới Sau khi đánh thắng giặc Minh, triều Lê đã xây dựng một chế độ chuyên chế của giai đoạn thịnh đạt, Lê Thái Tổ ra lệnh soạn quy chế âm nhạc cung đình: Âm nhạc Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX có thể nói đã hoàn thiện và phát triển phù hợp nhu cầu của xã hội lúc bấy giờ, đó là sự đáp ứng nhu cầu thưởng thức âm
nhạc với hai thành phần: Âm nhạc chuyên nghiệp và âm nhạc dân gian
Nền âm nhạc dân tộc cổ truyền của chúng ta là nền âm nhạc đa sắc tộc (54 thành phần dân tộc) Với sự phong phú và đa dạng về thể loại, cấu trúc và
âm sắc Mỗi dân tộc lại có những sắc thái văn hoá nghệ thuật khác nhau, thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người trong cộng đồng, nhưng có một điểm chung đó là âm nhạc; âm nhạc luôn là những giai điệu đẹp ngân lên tô điểm cho màu sắc cuộc sống thêm huyền diệu Tác giả của âm nhạc dân gian chính
là những con người lao động, đặc biệt những người nông dân hiền lành, yêu tự
Trang 32do và cuộc sống, chính vì vậy, âm nhạc phát triển từ trong cuộc sống lao động, sinh hoạt thường ngày Những làn điệu dân ca trữ tình, những điệu hò đằm thắm, những giai điệu cất lên từ các nhạc cụ dân gian đều bắt nguồn từ tình yêu quê hương đất nước, sự tôn vinh các anh hùng có công dựng nước và giữ nước, trong đó phải kể đến những con người đã sáng tạo ra văn hoá, đã làm nên một bản sắc riêng cho nền nghệ thuật truyền thống của dân tộc “Nhà nho coi tiếng đàn là một thứ tiếng nói cao thượng siêu việt, linh điệu” Tiếng đàn
“trong đục” nói lên cái “ trong đục” lòng người, tức là nói lên cái đạo đức, nhân phẩm của người đàn Tiếng đàn là như thế nên người nghe đàn cũng phải
có đạo đức nhân phẩm mới hiểu được cái “thần” của nhạc” [45, tr 60] Người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi khuyên vua “Hoà bình là gốc của nhạc Thanh
âm là văn của nhạc”, thể hiện tư tưởng: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” của Người đã từng nói
“Nước ta có cả một kho tàng nhạc cụ dân tộc vô cùng độc đáo, nhiều nhất là nhạc gõ, rất đa dạng về chất liệu phát âm và sắc thái âm thanh: Đồng, đá, gỗ, da thuộc, tre nứa, bầu, ốc, đất…nhạc gẩy – cũng khá nhiều chủng loại, trong đó có nhiều nhạc cụ ở vị thế độc tấu (đàn bầu, đàn
đáy, đàn nguyệt, đàn tranh…) Chưa kể các màu âm phong phú của nhạc thổi và nhạc kéo…”[13, tr.125]
Nền nhạc khí dân tộc của chúng ta còn tồn tại cho đến ngày nay và ngày càng được phát huy, trên thực tế nó đã được trải nghiệm qua một quá trình sàng lọc lâu dài Để phù hợp với những đặc tính cho từng nhạc cụ, ông cha ta lại phân chia theo chất liệu chế tác cũng như việc tạo ra nguồn âm như: Kim (Kim loại) là các loại trống đồng, chiêng cồng, chũm choẹ, thanh la Thạch (đá) như các loại khánh bằng đá, ti (Tơ) là các loại đàn mắc dây tơ, trúc, tre, nứa (các loại sáo, tiêu) Bào (bầu) như các loại khèn, thổ (đất nung) như các loại trống bịt da
Trang 33Đặc tính của âm thanh và cách phối khí 8 âm sắc ấy: Lê Quý Đôn viết trong mục âm tự, sách Vân đài loại ngữ như sau: “Trong bát âm chỉ có tiếng cách (da) và tiếng mộc (gỗ) là không lệ thuộc với luật (âm), còn 6 loại nhạc khí kia bào, thổ, thạch, kim, ti, trúc, tiếng trong hay đục, cao hay thấp phải so xét lại cho đều thì nhạc mới hoà Tổng quát các âm lại mà nói thì kim ứng với thạch, thạch ứng với ti, ti ứng với trúc, trúc ứng với bào, bào ứng với thổ là âm
8 nhạc khí khi ấy phải căn cứ ở hoàng chung, các nhạc khí tuy khác nhau
nhưng nó đều hoà hợp với nhau cả”[15, tr 8] Ngoài việc phối khí 8 âm sắc
của các nhạc cụ dân tộc các nhạc công còn hoà tấu theo các nhóm và tuỳ vào
từng loại hình nghệ thuật truyền thống và theo một nguyên tắc là: “Các nhạc
cụ đảm nhiệm một bè có tính độc lập tương đối, các bè của các nhạc cụ sẽ phối hợp với nhau trên cơ sở một giai điệu cơ bản gọi là lòng bản Các nhạc cụ thêm bớt, luyến láy tuỳ theo cách cấu tạo và tuỳ theo từng tính năng cho phép của mỗi loại nhạc cụ” [45, tr 64]
Nhạc cụ cổ truyền của người Việt Nam thật vô cùng độc đáo, các nhạc
cụ thuộc tất cả các họ các chi theo cách phân khoa học với nhiều dáng vẻ, nhiều chủng loại, tất cả đều được làm bằng những nguyên liệu của địa phương
và do bàn tay của người lao động chế tạo ra Hệ thống nhạc cụ dân tộc của đất nước ta đã gắn bó mật thiết với đời sống văn hoá tinh thần hàng ngày của người nông dân Với những âm sắc và âm thanh độc đáo, chúng đã tạo ra những khả năng biểu hiện muôn hình muôn vẻ Đặc biệt, trong các dịp lễ hội truyền thống của mọi miền đất nước, các nhạc cụ dân tộc đã góp phần không nhỏ vào trong những dàn nhạc để tạo ra không khí trang nghiêm và hoành tráng của lễ hội
2.1.2 Vai trò của âm nhạc trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm vùng châu thổ Sông Hồng, tiếp giáp các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên , Hải Phòng… Được ảnh hưởng và tiếp thu nền văn minh Sông Hồng và văn hoá
Trang 34Thăng Long, vùng đất này đã lưu giữ và hội tụ nhiều di sản văn hoá quý báu Người dân Hải Dương vốn chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, họ là chủ nhân sáng tạo ra nền âm nhạc và nền văn hoá dân gian từ bao đời nay, họ là những người nông dân lao động bình dị, với tình cảm chân thành, giàu lòng hiếu khách, ham học hỏi, họ đặc biệt quý trọng và nâng niu và gìn giữ vốn văn hoá cổ truyền dân tộc Những tinh hoa văn hoá được kết tinh trong suốt chiều dài lịch sử, ghi những dấu ấn đậm nét trong đời sống sinh hoạt, phản ánh tâm tư nguyện vọng và ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Bởi vậy âm nhạc
và các hình thức diễn xướng dân gian là những thành tố quan trọng không thể tách rời trong đời sống văn hoá của cộng đồng
Cũng như bao vùng quê khác, lễ hội là phần không thể thiếu được trong
đời sống văn hoá tâm linh của các cộng đồng dân cư Với người Hải Dương, lễ hội không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, linh thiêng, nơi con người muốn cầu nguyện những điều tốt đẹp cho cuộc sống mà còn là sự gặp gỡ, giao lưu và thể hiện nét văn hoá truyền thống Lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc, là hình ảnh cô
đọng nhất về ý thức con người nhớ về cội nguồn dân tộc, là nơi trao truyền về
ý thức dân tộc, giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau Trải qua hơn 7 thế kỷ, anh linh của các anh hùng dân tộc vẫn luôn toả sáng và làm
ấm áp cả một cùng quê thanh bình, nó có sức lan toả mạnh mẽ đến mọi miền quê khác, mọi người thường nhớ câu:
Dù ai buôn xa bán xa Nhớ ngày tháng tám giỗ cha thì về
Từ lâu trong tâm thức dân gian đã coi ngày mất của Trần Hưng Đạo là ngày giỗ cha, người cha thiêng liêng trong sự đối sánh với Mẹ – Mẫu Liễu
Hạnh Lại có câu “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” dường như đã trở nên
quen thuộc đối với mỗi người dân Việt Hoặc khi nhắc đến Côn Sơn, trong tâm thức mọi người nhớ ngay đến hình ảnh Nguyễn Trãi một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử dựng nước và giữ nước
Trang 35Trong lễ hội, các yếu tố ở phần lễ và phần hội luôn có sự hoà đồng với nhau Bên cạnh các loại hình văn hoá diễn ra phong phú và đa dạng trong lễ hội, phải kể đến yếu tố âm nhạc, nó có một vai trò quan trọng, có mặt xuyên suốt từ đầu đến khi kết thúc lễ hội Âm nhạc trong lễ hội là hiểu theo nghĩa hẹp, còn nghĩa rộng là toàn bộ thế giới âm thanh làm cho ngày hội ở đây trở nên hấp dẫn, trang trọng và linh thiêng hơn, trong đó có sự đóng góp to lớn của các nhạc cụ truyền thống Âm thanh của các nhạc khí vang lên từ lúc thông báo có hội làng, đến khi tham gia các cuộc tế lễ, đám rước, hay tham gia vào các hình thức diễn xướng dân gian trong lễ hội Dù to hay nhỏ, ít hay nhiều, các nhạc cụ dân gian tham gia vào dàn nhạc của những ngày lễ hội, là nét đặc trưng, là nhu cầu thiết yếu ở khắp nơi trên mọi miền đất nước Đất nước ta từ bao đời nay đã hình thành và phát triển một hệ thống lễ hội vô cùng phong phú đa dạng, mang rất nhiều sắc tố vùng miền khác nhau Bởi vậy, việc
tổ chức các ngày lễ hội hàng năm là tâm tư và nguyện vọng của các cư dân nông nghiệp nói chung, trong đó có Việt Nam Qua lễ hội, mọi tầng lớp nhân dân muốn biểu hiện lòng thành kính, lòng biết ơn đối với các chư vị thánh thần đã có công giúp dân giúp nước tiễu trừ giặc ngoại xâm, bảo vệ cuộc sống bình yên cho con người Do đó trong lễ hội, sự đóng góp của âm nhạc phải làm sao cho không khí thật trang nghiêm, oai phong, uy linh và hoành tráng, đây mới
là nguyện vọng khát khao của mọi tầng lớp trong cộng đồng
2.1.2.1 Âm nhạc như một tín hiệu thông báo hội làng
Đối với Côn Sơn – Kiếp Bạc, vùng đất để lại nhiều vết tích của lịch sử, những phong tục tập quán văn hoá dân gian luôn ăn sâu vào đời sống Một vùng quê yên tĩnh thanh bình với cuộc sống thường nhật, nhưng khi vào mùa
lễ hội thì âm nhạc nơi đây đã làm bừng sáng lên, âm thanh của âm nhạc lan toả khắp không gian, hoà quyện vào cảnh vật thiên nhiên, âm vang đến tận các quả đồi, vách núi, các dòng sông, con suối, từng thửa ruộng, bụi tre, gốc lúa…cho đến các đình làng, đánh thức cả một vùng quê với bao bộn bề lo toan
Trang 36trong cuộc sống bấy lâu Khi ấy phải nhắc tới các nhạc cụ dân tộc với tính năng đặc biệt của chúng đã tham gia một cách hữu hiệu vào việc thông báo cho dân làng biết một lễ hội truyền thống được bắt đầu, đó là tiếng trống cái, tiếng chiêng, những âm thanh lớn làm khuấy dộng lòng người, gọi dân làng từ già trẻ, trai gái, bạn bè gần xa về dự hội Ngay từ nửa đêm trước khi bắt đầu lễ hội chính thức, âm thanh của phường đồng văn đã gióng lên những âm điệu ròn rã của tiếng trống cái Phường đồng văn do dân làng hai xã Vạn Yên và Dược Sơn chọn ra, những người đã tham gia nhiều trong các hoạt động văn hoá của địa phương phải là những người có kinh nghiệm Mặc dầu vậy vẫn phải được tập luyện từ trước, hiểu những qui ước của âm nhạc trong các hình thức tế lễ cũng như khi phát huy vai trò của chúng trong ngày hội mà một ông cai đồng văn đảm nhiệm công việc này Tiếng trống cái thông báo ngày hội vô cùng quan trọng, với ba hồi chín tiếng dõng dạc, vang động càng tăng thêm sức hấp dẫn của lễ hội Người đánh trống và chiêng luôn có sự tập luyện và ăn khớp, âm thanh của chiêng trống hoà với nhau khiến mọi người cảm nhận được khí thế hào hùng, nhộn nhịp tưng bừng của ngày hội đang tới gần, khơi dậy những tình cảm thiêng liêng sâu lắng nhất của một lễ hội truyền thống
2.1.2.2 Âm nhạc trong lễ khai hội mùa xuân Côn Sơn
Những âm thanh mở màn thông báo một kỳ lễ hội đã rất quan trọng, và
nó càng quan trọng hơn khi tham gia trực tiếp vào lễ hội, có thể nói là linh hồn của buổi khai hội, buổi tế lễ, đám rước hay trong lễ Đại tế, là sự đóng góp của dàn nhạc dân tộc Tiếng trống khai hội mùa xuân Côn Sơn luôn được chú ý và
có sự chuẩn bị chu đáo, một giàn trống cái với hai chục người tham gia, âm thanh của chúng thật hoành tráng và hùng vĩ Quanh các tang trống được trang trí hoa văn hoạ tiết cầu kỳ trên một gam màu đỏ rực rỡ, những chiếc dùi trống của diễn viên cũng được trang trí đẹp mắt, khi người đánh trống giơ những chiếc dùi trống lên theo nhịp điệu trống ta có cảm giác như những cánh hoa
đang bay cùng nhịp trống Màn trống hội được các nghệ sĩ trong trang phục
Trang 37truyền thống biểu diễn, kết hợp với giàn trống hội là các nhạc cụ dân tộc khác cùng hoà những giai điệu vui tươi thánh thót, âm thanh vang động, thôi thúc,
tạo sự trang trọng linh thiêng
2.1.2.3 Âm nhạc trong lễ cáo Yết hội Đền Kiếp Bạc
Là nghi lễ mở cửa đền với một ý nghĩa là xin phép các vị chủ thánh cho dân làng mở hội, nghi lễ do hai làng Dược Sơn và Vạn Yên đảm nhiệm Từ lúc nửa đêm, ông thủ từ đánh lên ba hồi chín tiếng trống lớn, tiếp đó nhà đền sẽ ra
mở cửa đền Các lễ vật hương, hoa quả, bánh cổ truyền của dân làng được mang vào đền để làm lễ, sau đó là ba tuần tế Âm thanh của trống cái và chiêng làm nền cho buổi lễ, sau khi kết mỗi một phần văn tế, trống chiêng lại
điểm lên ba tiếng, ba tuần tế được kết thúc sau một giờ đồng hồ
Âm thanh âm nhạc của phường đồng văn và phường bát âm diễn ra trong lễ hội giữ vai trò quan trọng Âm nhạc trong đám rước và lễ Đại tế khác với âm thanh thông báo và âm thanh khai hội, nó mang tính chất trang nghiêm, có quy ước chặt chẽ, phải được tập luyện kỹ lưỡng trước khi vào lễ hội Đội nhạc tế do dân làng tự lập ra, đó là những người có năng khiếu về âm nhạc, sử dụng thành thạo các loại nhạc khí sử dụng trong các dịp hội hè, những người có trải nghiệm trong các sinh hoạt văn hoá văn nghệ của làng,
đặc biệt đã được tham dự trong các buổi tế lễ, trong các đám rước của lễ hội
Để khoá tế được thành công, cả đội tế và đội nhạc đều phải trải qua quá trình tập luyện trước đó một tháng, các nhạc cụ tham gia lễ hội gồm phường đồng văn và phường bát âm
Nhạc cụ trong phường đồng văn gồm: Trống khẩu, thanh la, sênh tiền, trống bản
Nhạc cụ tham gia trong phường bát âm bao gồm: Đàn bầu, nhị, kèn, trống, sênh tiền, thanh la, não bạt, sáo, hoặc tiêu
Việc tham gia của những nhạc khí dân tộc trong lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc đã mang lại những hiệu quả rõ rệt, làm cho không khí buổi lễ hoành tráng
Trang 38hơn, linh thiêng hơn, tạo niềm phấn chấn cho du khách khắp mọi nơi về dự lễ hội Để có được những âm thanh tuyệt vời ấy, những nhạc công trong dàn nhạc đã biết phát huy hết tính năng và khả năng diễn tấu của các loại nhạc cụ
độc đáo đó bằng sự biểu diễn thuần thục điêu luyện của mình Những khối âm thanh đẹp đẽ và độc đáo đó đã góp phần tạo nên một giai điệu mang đậm màu sắc dân gian, làm không gian của lễ hội thêm đầm ấm
Để hiểu rõ một cách khái quát về cấu tạo, tính năng và âm sắc của các nhạc cụ sử dụng trong phường đồng văn và phường bát âm, chúng tôi xin đưa
ra đôi điều giải thích một cách ngắn gọn như sau:
2.1.3 Vai trò và tính năng các nhạc cụ truyền thống trong lễ hội
2.1.3.1 Trống cái
Là loại nhạc khí to, không định âm, tang trống bằng gỗ, mặt trống bằng
da trâu hoặc da bò Trống cái có chiều cao từ 50 – 70 cm, đường kính từ 40 –
60 cm Tiếng trống cái từ lâu đã là hình ảnh rất quen thuộc với mọi người dân nơi đây, nó không chỉ được sử dụng trong lĩnh vực thông báo khi có việc đại
sự của dân làng, nó còn được thể hiện trong các lĩnh vực như cổ động cho các
đợt tuyên truyền về chính trị, quân sự, văn hoá… Hoặc có khi được dùng để
đánh chầu khen chê trong những trò chơi có nhiều người tham gia, hoặc người
đi cổ vũ Trống cái cũng được tham gia hoà tấu trong các dàn chiêng cồng của
đồng bào Tây Nguyên Âm thanh của trống cái trầm nhưng vang xa Tiếng trống cái thường đánh với tiết tấu chậm rãi để minh hoạ cho những động tác
đĩnh đạc, đường hoàng, với tiết tấu nhanh thì sôi nổi dồn dập, thúc bách Đánh trống cái người ta có thể dùng 1 hoặc 2 dùi tuỳ từng trường hợp, trong lễ hội, người đánh trống cái thường dùng 1 dùi để đánh
2.1.3.2 Chiêng
Tham gia đắc lực cùng trống cái là tiếng chiêng, loại nhạc khí được làm bằng kim loại đồng, được đúc rất công phu, có hình tròn Gờ mép cao chạy quanh gọi là thành chiêng, mặt chiêng không băng phẳng mà mặt giữa hơi
Trang 39phồng lên, ngoài ra loại chiêng còn có núm nổi lên ở giữa, trên thành có đục
lỗ xâu dây để xách hay treo Sử dụng chiêng to hay nhỏ là tuỳ thuộc vào quy mô của ngày lễ, nếu chiêng to sẽ do hai người khiêng hoặc treo trên giá Dùi chiêng làm bằng gỗ, đầu có núm, bọc vải hoặc da thú để đánh vào chiêng, có khi người ta dùng cùi tay để đánh Âm thanh của chiêng phát ra nghe rất êm tai, đặc biệt vang dội và ngân dài, âm thanh này càng hiệu quả hơn khi được hoà tấu cùng nhạc cụ khác Trong lễ hội có mầu âm của chiêng cồng ngân lên khiến người ta cảm nhận nét âm u cổ kính, đượm chất dân dã của núi rừng, gây khung cảnh huyền bí trang trọng, đặc biệt lễ hội tái diễn lịch sử
2.1.3.3 Đàn bầu
Là loại nhạc cụ độc đáo thuộc loại gẩy dây, đây là loại nhạc cụ truyền thống từ bao đời của ông cha ta sáng tạo nên Cấu tạo của đàn bầu đơn giản nhưng âm thanh lại rất phong phú, giầu biểu cảm, cây đàn bầu được dùng phổ biến trong nhân dân ta Tầm âm đàn bầu rất rộng, trên hai quãng tám, mầu âm của đàn bầu rất đẹp, âm thanh gần với giọng nói của con người, nhất là phù hợp với ngữ điệu của người Việt Nam Tiết tấu của đàn bầu chủ yếu được
đánh chậm, phù hợp với giai điệu trữ tình Trước đây đàn bầu chủ yếu dùng để
độc tấu hoặc đánh đệm cho người hát, ngày nay nó còn được diễn tấu trong các dàn nhạc lớn và nhỏ
Đàn bầu dáng hình hộp dài, đầu đàn hơi cao và thuôn, mặt đàn làm bằng gỗ, đáy kín nhưng có lỗ khoét ở cuối đàn lấy chỗ mắc và thoát âm Một trục gỗ xuyên ngang hai bên thành đàn phía cuối thân đàn mắc dây và lên dây Phía đầu đàn có một cọc tre cắm từ trên mặt đàn xuống đến đáy đó là vòi đàn,
đầu vòi nhỏ và uốn cong ra ngoài, trước khi cắm vòi đàn vào mặt đàn, người ta xuyên nó ngang qua một vỏ quả bầu nậm khô nên có tên gọi là đàn bầu Dây
đàn làm bằng kim loại, que đàn là một que nhỏ đầu được vót nhọn, đàn bầu chỉ có một dây nên gọi là độc huyền cầm Màu âm của đàn bầu rất đẹp, tiếng
đàn cao vút trong trẻo, tròn trịa và ngọt ngào nhu tiếng ru, âm thanh của nó
Trang 40trong dàn nhạc bát âm nổi bật lên thành giai điệu chính bởi độ ngân của nó khi rung lên véo von và êm ái
2.1.3.4 Đàn nhị
Một nhạc khí kéo dây bằng cung vĩ xuất hiện từ rất lâu trên đất nước ta,
đây là loại nhạc khí luôn luôn được sử dụng trong các sinh hoạt văn hoá của người Hải Dương Nó có vị trí quan trọng trong nhạc chèo và nhạc lễ hội, âm thanh của đàn nhị rất trong sáng, mượt mà Tham gia trong phường bát âm, giai điệu của đàn nhị cũng nổi bật bởi âm sắc đẹp gần giống với giọng hát con người, người nghe âm thanh của đàn nhị có thể nhận định rõ ràng khi nó đi bè giai điệu
Đàn nhị được cấu tạo trước hết là bát nhị, cần nhị đều làm bằng gỗ Đàn nhị gồm hai dây, thường làm bằng sợi tơ xe, cung vĩ làm bằng cành tre cũng có khi làm bằng gỗ, nó được mắc vào đó những sợi lông, những sợi lông này nằm giữa hai dây nhị để khi nhạc công kéo đẩy được dễ dàng, do khi có sự cọ sát vào dây làm phát ra âm thanh Âm sắc đàn nhị rất đẹp, du dương thánh thót, nó không thể thiếu vắng trong dàn bát âm được trình tấu trong phần lễ và trong phần hội
2.1.3.5 Thanh la
Là một nhạc cụ hình đĩa tròn có cạnh làm bằng kim loại đồng pha,
đường kính thường là 16cm, độ dầy khoảng 20mm, mép thành cao khoảng 1
đến 1,5cm Trên thành người ta dùi hai lỗ nhỏ để xỏ dây để thuận tiện trong khi sử dụng, có thể xách hay treo Thanh la đánh bằng dùi, dùi được làm bằng
gỗ hoặc tre vót tròn dài 20 cm Trên hình tròn mặt đĩa của thanh la là trung tâm phát ra âm thanh, độ vang của nó là nhờ vị trí trên thành đĩa, đó là loa nhân độ vang Nhân dân ta được gọi thanh la bằng cái tên mộc mạc là “beng beng” Khi sử dụng nhạc khí này trong lễ rước người ta dùng một tay cầm quai bằng dây buộc ở thanh la, tay kia cầm dùi đánh vào tâm đường kính của
nó để âm thanh vang và thanh thoát hơn Cũng có khi dùng các ngón tay để bịt làm âm thanh đục hơn, tạo âm thanh “cheng, chập hay beng, bập”