1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các địa danh ở mường lò, tỉnh yên bái liên quan đến lịch sử văn hóa của người thái đen

107 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 668,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa danh Mường Lò đã quen thuộc trong câu “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Tấc, tứ Than” và gần đây đã được các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng đây là một trong những trung tâm cư trú của người Thái

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ THÔNG TIN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

HOÀNG THỊ VÂN MAI

CÁC ĐỊA DANH Ở MƯỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI LIÊN

QUAN ĐẾN LỊCH SỬ VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN

Chuyên ngành : Văn hóa học

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HOÁ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÂM BÁ NAM

HÀ NỘI – 2007

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô khoa Sau đại học trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã giúp đỡ tôi tận tình trong suốt khoá học vừa qua Đặc biệt tôi cảm ơn sâu sắc sự chỉ bảo của PGS TS Lâm Bá Nam - người hướng dẫn trực tiếp tôi thực hiện luận văn này

Phòng Văn hoá huyện Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ, bảo tàng tỉnh Yên Bái và các nghệ nhân ở các thôn bản vùng Mường Lò đã hỗ trợ tác giả trong quá trình triển khai và hoàn thiện luận văn Qua đây tôi cũng chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cơ quan, đồng nghiệp, gia đình, người thân là những người đã luôn bên tôi ủng hộ, động viên về vật chất, tinh thần

để tôi có đủ điều kiện, thời gian hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin được cảm ơn các thầy cô khoa Lịch Sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội những người đã cho tôi niềm say mê, kiến thức từ trong giảng đường đại học để nghiên cứu trong lĩnh vực này

Hà Nội ngày 15 tháng 8 năm 2007

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Vân Mai

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MƯỜNG LÒ VÀ NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI 10

1.1 KHÁI QUÁT VỀ MƯỜNG LÒ 10

1.1.1 Mường Lò trong quá trình lịch sử 10

1.1.2 Mường Lò hiện nay 13

1.2 NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI 15

1.2.1 Dân số và sự phân bố dân cư 15

1.2.2 Quá trình lịch sử tộc người 15

1.2.3 Đặc điểm kinh tế - văn hoá xã hội 17

1.2.3.1 Đặc điểm kinh tế 17

1.2.3.2 Đặc điểm văn hoá xã hội 19

CHƯƠNG 2: CÁC ĐỊA DANH Ở MƯỜNG LÒ 30

2.1 QUAN NIỆM VỀ ĐỊA DANH 30

2.2 CÁC ĐỊA DANH Ở MƯỜNG LÒ 31

2.2.1 Địa danh liên quan đến môi trường cảnh quan 31

2.2.1.1 Tên suối, thác nước, ao 32

2.2.1.2 Tên núi 38

2.2.1.3 Tên hang 40

2.2.1.4 Tên khe 44

2.2.1.5 Tên rừng 45

2.2.2 Địa danh liên quan đến đời sống xã hội 46

2.2.2.1 Tên bản 46

2.2.2.2 Tên ruộng, cánh đồng 65

Trang 4

CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HOÁ CỦA CÁC ĐỊA DANH Ở MƯỜNG

68

3.1 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HOÁ CỦA CÁC ĐỊA DANH Ở MƯỜNG LÒ 68 3.1.1 Địa danh ở Mường Lò phản ánh lịch sử tộc người 73

3.1.2 Địa danh ở Mường Lò phản ánh hoạt động kinh tế - sản xuất cư trú và xã hội tộc người 76

3.1.3 Địa danh ở Mường Lò phản ánh văn hoá của người Thái Đen 80

3.1.3.1 Địa danh phản ánh văn hoá vật chất 80

3.1.3.2 Địa danh phản ánh kho tàng văn học dân gian 81

3.1.3.3 Địa danh phản ánh sinh hoạt tín ngưỡng 85

3.1.3.4 Địa danh phản ánh sự giao thoa văn hoá 87

3.2 BẢO TỒN ĐỊA DANH Ở MƯỜNG LÒ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI HIỆN NAY 89

3.2.1 Địa danh truyền thống và sự phân chia đơn vị hành chính Nhà nước89 3.2.2 Địa danh trong đời sống văn hoá của người Thái Đen 92

3.2.3 Địa danh với sự phát triển du lịch 94

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, tộc người Thái đứng thứ ba về dân

số sau người Việt (Kinh) và người Tày Theo số liệu tổng điều tra dân số đến ngày

1 - 4 - 1999, dân số của người Thái có 1.328.725 người, sinh sống khắp vùng miền Tây và Tây Bắc Việt Nam

Việc nghiên cứu về người Thái đã trở thành mối quan tâm lớn không chỉ với một quốc gia (như Việt Nam) mà còn được các quốc gia trong khu vực và trên thế giới cùng quan tâm Những cuộc Hội thảo quốc tế về Thái học đã chứng minh rõ điều đó

Những đặc trưng về lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hoá của người Thái ở Việt Nam đã được tái hiện khá phong phú trong những công trình ấy Tuy vậy, phạm vi nghiên cứu thường tập trung ở một số khu vực như Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu), Bắc Trung Bộ (Thanh Hoá, Nghệ An) mà ít chú ý đến những nơi khác có người Thái cư trú

Ở tỉnh Yên Bái, người Thái (cả Thái Đen và Thái Trắng) chiếm 6% dân số toàn tỉnh (đến ngày 1/4/1999 có 34.553 nhân khẩu, 6.684 hộ) tập trung đông nhất ở huyện Văn Chấn, thị xã Nghĩa Lộ, huyện Trạm Tấu, huyện Mù Cang Chải Đặc biệt người Thái Đen tập trung đông tại cánh đồng Mường Lò rộng 2.300 ha

Địa danh Mường Lò đã quen thuộc trong câu “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Tấc,

tứ Than” và gần đây đã được các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng đây là một trong những trung tâm cư trú của người Thái Đen ở Việt Nam Qua quá trình lịch sử Mường Lò hiện nay không còn dáng dấp của hình thức cơ cấu xã hội cổ truyền của người Thái nữa Nhưng Mường Lò vẫn là một vùng đất thấm đẫm những dấu ấn về lịch sử, văn hoá của người Thái còn đang được lưu giữ trong từng tên đất, tên bản, tên khe, tên suối…

Trang 6

Với mục đích tìm lại những dấu ấn đó trong những địa danh ở Mường Lò, tôi hi vọng sẽ dựng lên bức tranh về lịch sử - văn hoá của người Thái Đen nơi đây bằng việc giải mã các địa danh thông qua vốn ngôn ngữ Thái của mình Mặt khác, tiếp cận lịch sử, văn hoá của người Thái Đen qua các địa danh sẽ là những cứ liệu xác thực bổ sung cho nguồn tư liệu về người Thái ở Việt Nam nói chung và người Thái ở Yên Bái nói riêng Là một người con của quê hương Yên Bái, tôi mong muốn được hiểu rõ hơn về quê hương mình và giúp những người quan tâm đến Yên Bái được hiểu biết thêm, đồng thời góp phần nhỏ bé trong phát triển du lịch tỉnh Yên Bái - một ngành kinh tế có nhiều tiềm năng nhưng chưa được khai thác và

sử dụng triệt để

Xuất phát từ những lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Các địa danh ở Mường Lò

tỉnh Yên Bái liên quan đến lịch sử - văn hoá của người Thái Đen” làm luận văn

thạc sĩ khoa học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề lịch sử - văn hoá của người Thái ở Việt Nam đã được sưu tầm,

nghiên cứu từ rất lâu nay với những tác phẩm như “Người Thái ở Tây Bắc Việt

Nam” của Cầm Trọng; “Văn hoá Thái Việt Nam” - (Cầm Trọng, Phan Hữu Dật)

hay “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” của Lã

Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn và những kỷ yếu của các Hội thảo quốc tế về Thái học.v.v Những công trình này đã cung cấp khá toàn diện về người Thái ở Việt Nam và được coi là những “cẩm nang” về dân tộc Thái, trong đó đều nhắc đến Mường Lò với tư cách là một vùng cư trú của người Thái Đen

Một số đề tài, luận văn, luận án cũng đã đề cập đến các khía cạnh về trang phục, hôn nhân gia đình, lễ hội, ẩm thực, tín ngưỡng của người Thái nhưng chủ yếu ở các địa phương khác Gần đây một công trình của Hội Văn nghệ Dân gian

Việt Nam: “Tìm hiểu một số tục cúng vía của người Thái Đen ở Mường Lò” của

Trang 7

nhóm tác giả Hoàng Thị Hạnh - Lò Văn Biến - Nguyễn Mạnh Hùng cũng đề cập đến một vài địa danh ở Mường Lò nhưng nhìn chung còn hết sức sơ lược

Hai áng sử thi của người Thái là “Quắm tố mương” (kể chuyện bản mường)

và “Táy Pú Xấc” (dõi theo bước đường chinh chiến của cha ông) là hai tác phẩm

đã dựng nên quá trình di cư - tụ cư và sinh sống của người Thái Đen mà đặc biệt là

đã tái hiện bằng những địa danh cụ thể Trong đó Mường Lò được nhắc đến là nơi

Lò Lạng Chượng - ông tổ người Thái Đen ở Tây Bắc Việt Nam bắt đầu sự nghiệp của mình Đồng thời những sự kiện đó cũng được thuật lại khá sinh động trong áng

mo “Mo khuôn” (mo hồn) và “Lời tang lễ dân tộc Thái” mới được xuất bản gần

đây Cả hai tác phẩm này đều nhắc đến việc hồn người chết trước khi lên Mường

Trời phải đến “Nậm tốc tát” - thác nước lớn - nay ở xã Thạch Lương - Mường Lò

Ngoài ra không thấy nhắc gì đến những địa danh khác ở Mường Lò

Từ những tác phẩm trên cùng với những kết quả nghiên cứu đã được công

bố của các tác giả: Hoàng Lương, Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng và các tác giả sưu tầm văn hoá dân gian ở địa phương như Lò Văn Biến, Hoàng Việt Quân… đều khẳng định vai trò, vị trí, ý nghĩa của Mường Lò với lịch sử - văn hoá của người Thái Đen Đó là những cơ sở khoa học quan trọng nhằm định hướng cho luận văn của chúng tôi

Có thể nói, người Thái ở Mường Lò đã bước đầu được nghiên cứu, tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào chuyên sâu nghiên cứu về địa danh ở Mường Lò cũng như những dấu ấn lịch sử văn hoá của người Thái nơi đây qua những địa danh ấy

3 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các địa danh ở Mường Lò nhưng tập trung sưu tầm

về tên bản, tên ruộng, tên suối, tên thác, ao, tên khe, tên hang, tên núi, các cánh rừng gọi theo tiếng Thái

Trang 8

Phạm vi nghiên cứu là vùng đất Mường Lò (bao gồm huyện Văn Chấn - thị

xã Nghĩa Lộ) và có so sánh với Mường Lò trong lịch sử

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Bổ sung tư liệu về lịch sử - văn hoá của người Thái ở Việt Nam nói chung

và người Thái Đen ở Yên Bái nói riêng

- Dựng nên bản đồ địa danh phục vụ cho công tác hướng dẫn tham quan du lịch

- Làm rõ mối quan hệ giữa người Thái Đen và các tộc người khác sinh sống

ở Mường Lò

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tiến hành bằng nhiều phương pháp cụ thể

- Thu thập tài liệu thành văn

- Phương pháp điền dã dân tộc học và xã hội học tộc người Đây là hai “công cụ” cơ bản được sử dụng triệt để trong quá trình thu thập thông tin

- Phương pháp tổng hợp - hệ thống - phân tích được áp dụng trong việc xử lý thông tin

- Phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm, nhằm khai thác thêm thông tin phục vụ mục đích nghiên cứu

- Phương pháp địa danh học nhằm tìm ra những quy tắc trong việc thành lập địa danh

Trang 9

- Phương pháp so sánh ngôn ngữ để thấy được sự giao thoa văn hoá tộc người

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được chia làm 3 chương chính như sau:

Chương 1: Khái quát về Mường Lò và người Thái Đen ở Mường Lò tỉnh

Yên Bái

Chương 2: Các địa danh ở Mường Lò

Chương 3: Giá trị lịch sử văn hoá của các địa danh ở Mường Lò

Trang 10

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MƯỜNG LÒ

VÀ NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI

1.1 KHÁI QUÁT VỀ MƯỜNG LÒ

1.1.1 Mường Lò trong quá trình lịch sử

Theo những nghiên cứu của các nhà khoa học về sự thiên di của các ngành Thái ở Tây Bắc Việt Nam, về người Thái ở Tây Bắc Việt Nam …., đặc biệt qua hai cuốn sử thi của người Thái Đen: “Quắm tố mương” và “Táy pú xấc”, vào khoảng thế kỷ XI- XII ngành Thái Đen do Tạo Xuông và Tạo Ngần dẫn đường di cư từ Mường Ôm, Mường Ai đến Mường Lò cư trú Đoàn người đặt chân đầu tiên tới Mường Min (nay là vùng xã Gia Hội, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái) rồi vào vùng lòng chảo Mường Lò rộng lớn Thuở ấy, Mường Lò còn là vùng đất mênh mông, hoang vắng Tổ tiên người Thái Đen đã dừng lại đây sinh sống và cùng nhau khai phá thành ruộng đồng [17], [27], [28], [32], [34], [35]

Tạo Xuông, Tạo Ngần xuống dựng Mường Lò Luông Cùng theo có các họ Lò, Lường, Quàng, Tòng, Lèo Những họ này tôn họ Lò làm chủ ….Xây dựng xong Mường Lò, Tạo Ngần về Mường Bỏ Té Còn Tạo Xuông ở lại, lấy vợ ở đó sinh con là Tạo Lò Tạo Lò lấy vợ sinh

ra bẩy người con trai là: Ta Đúc, Ta Đẩu, Lặp Li, Lò Li, Lạng Ngạng, Lạng Quang và Lạng Chượng… Tạo Lò chia đất cho các con đi làm chúa Ta Đúc ăn Lò Luông; Ta Đẩu ăn Lò Cha; Lặp Li ăn Lò Gia; Lò

Li ăn Mường Min; Lạng Ngạng ăn Mường Vân, Mường Vành, Lạng Quang ăn Xí xam bản Lọm…Riêng Lạng Chượng là con út tạo Lò không có mường để “ăn”… Chúa Lạng Chượng… triệu tập binh tướng, dân chúng, kéo nhau đi tìm mường…[34, tr.56]

Như vậy khi người Thái Đen xuất hiện ở Mường Lò, vùng lòng chảo này đã được chia làm ba vùng: Mường Lò Luông (tức Mường Lò lớn là vùng trung tâm);

Trang 11

Mường Lò Gia gọi tắt là Mường Gia và Mường Lò Cha gọi tắt là Mường Cha Do

đó Mường Lò là mường xam lò (mường ba lò) Ngoài phạm vi vùng lòng chảo, Mường Lò còn gồm những mường nhỏ khác như mường Hồng, mường Hằng (nay

là huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái); mường Nặm, mường Piu (nay là xã Thượng Bằng La, huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái); mường Pục, mường Mẻng (nay là xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn); mường Min (nay là xã Gia Hội huyện Văn Chấn); mường Lùng (nay là xã Tú Lệ huyện Văn Chấn) [27, tr.313- 314]

Trong lịch sử của người Thái Đen, Mường Lò là nơi sinh quán của Lò Lạng Chượng - người sau này dẫn dắt người Thái Đen đi chinh phục những vùng đất mới: vùng sông Đà, sông Mã và xâm nhập sâu hơn nữa đất đai miền Tây Bắc, kết thúc bằng việc dựng mường trung tâm ở cánh đồng mường Thanh (Điện Biên ngày nay), biến nơi đây thành nơi thu hút người Thái từ nhiều miền về hội cư Và bây giờ, người Thái Đen vẫn giữ tập tục mỗi khi cha mẹ, ông bà qua đời đều đưa hồn người chết trở lại Mường Lò quê tổ rồi mới tiếp tục về với Đẳm (tổ tiên) ở cõi trời [27, tr 52]

Các tác phẩm của người Việt như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Đại Việt sử

ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, hay những tác phẩm

về địa dư như: Địa danh và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ; Tên làng xã và địa

dư các tỉnh Bắc Kỳ…đều không nhắc tới địa danh Mường Lò Nhà nghiên cứu Cầm Trọng xác nhận Mường Lò còn có tên là Văn Chấn [27] Đinh Xuân Vịnh lại cho rằng Mường Lò là thổ âm của châu Văn Chấn tỉnh Hưng hoá xưa [36] Như vậy Mường Lò có liên quan đến một địa danh hành chính nhà nước là Văn Chấn

Văn Chấn xưa thuộc đất Đăng Châu thời Lý Đến đời Trần gọi là đạo Đà Giang Năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông lại đổi làm trấn Thiên Hưng Thời thuộc Minh lại thuộc đất hai châu trực lệ là Gia Hưng và Quy Hoá Sau khi đánh đuổi giặc Minh, khôi phục độc lập dân tộc Lê Lợi chia cả nước thành

Trang 12

5 đạo và chia các lộ, trấn, phủ, châu, huyện lệ thuộc vào các đạo Đến năm Quang Thuận thứ 7 (1446), để tăng cường sự thống nhất về hành chính, Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên Năm 1469 thì định lại bản đồ cả nước để thống nhất cả phủ, huyện vào các đạo thừa tuyên Lúc này huyện Văn Chấn cùng các huyện Trấn Yên, châu Văn Bàn nằm trong địa phận phủ Quy Hoá, đạo thừa tuyên Hưng Hoá Năm 1490, đạo thừa tuyên Hưng Hoá đổi thành xứ Hưng Hoá Sang đời Hồng Thuận (1509-1516) đổi thành trấn Hưng Hoá Lê Quý Đôn trong

“Kiến văn tiểu lục” lại nhắc đến Văn Chấn là một huyện thuộc trấn Hưng Hoá [7, tr.367-368] Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) lại đổi thành tỉnh Hưng Hoá Huyện Văn Chấn nằm trong địa giới phủ Quy Hoá Thời thuộc Pháp, châu Văn Chấn thuộc hạt Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai Năm 1900 (khi Pháp thành lập tỉnh Yên Bái), châu Văn Chấn trở thành một huyện của tỉnh Yên Bái gồm bốn tổng như sau: Hạnh Sơn (Hạnh Sơn, Thanh Lương, Trạm Tấu); Phù Nham (Phù Nham, Nghĩa Lộ, Sơn Bục, Suối Bu, Suối Quyền, Suối Buông, Suối Giàng); Sơn A (Sơn A, Gia Hội, Tú

Lệ, Nậm Mười, Nậm Lỉnh, Nậm Giỏng, Bạch Tú Sơn, Cao Phạ, Bản San); Đại Lịch (Đại Lịch, Đồng Bách, Thượng Bằng La, Hạ Bằng Ca, Khe Bố, Đá Giẽ, Hắc

Tú Sơn) Đến năm 1954 địa dư và các đơn vị hành chính này không thay đổi Năm

1955, huyện Văn Chấn cùng huyện Than Uyên, Phong Thổ thuộc khu tự trị Thái Mèo (Theo sắc lệnh số 231 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà) Tháng

10 năm 1962, Quốc hội quyết định đổi tên khu tự trị Thái Mèo thành khu tự trị Tây Bắc (gồm ba tỉnh Lào Cai, Sơn La, Nghĩa Lộ), huyện Văn Chấn lúc này nằm trong địa giới tỉnh Nghĩa Lộ Ngày 3- 01- 1976, ba tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Nghĩa Lộ sát nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn Năm 1978 thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn được hợp nhất thành một đơn vị hành chính lấy tên là huyện Văn Chấn Thị xã Nghĩa Lộ chuyển xuống thành thị trấn Nghĩa Lộ thuộc huyện Văn Chấn Năm 1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn được chia thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai Tỉnh Yên Bái gồm 8 đơn vị hành chính là thị xã Yên Bái và 7

Trang 13

huyện: Mù Căng Chải, Trạm Tâú, Văn Chấn, Yên Bình, Trấn Yên, Văn Yên và Lục Yên Năm 1995, thị xã Nghĩa Lộ được thành lập thuộc tỉnh Yên Bái trên cơ sở thị trấn Nghĩa Lộ và một phần thuộc huyện Văn Chấn Huyện Văn Chấn tách khỏi thị xã Nghĩa Lộ và xây dựng trung tâm huyện tại khu vực xã Sơn Thịnh [1], [6], [25], [36]

Qua quá trình lịch sử và các lần thay đổi địa dư hành chính, Mường Lò nằm trong địa giới huyện Văn Chấn và sau này lại thuộc cả hai đơn vị hành chính là thị

xã Nghĩa Lộ (thuộc tỉnh Yên Bái) và huyện Văn Chấn

1.1.2 Mường Lò hiện nay

Mường Lò thuộc phía Tây của tỉnh Yên Bái là nơi có địa hình đa dạng với nhiều con suối, ngòi, mương

Vùng lòng chảo này được hình thành do sự chênh lệch về độ cao của các dãy núi và sự chia cắt đột ngột của dãy Hoàng Liên Sơn từ Nghĩa

Lộ đến đèo Lũng Lô - nơi có đường Yên Bái – Sơn La chạy qua - để lại một vùng đồi thấp và núi thấp toả rộng từ hữu ngạn sông Hồng tới

tả ngạn sông Đà tạo ra những thung lũng và bồn địa được phù sa bồi đắp khá rộng ở Tú Lệ, Gia Hội và Mường Lò [25, tr.14]

Cánh đồng Mường Lò hiện nay rộng khoảng 2300 ha, địa thế dốc dần từ phía nam xuống phía bắc Độ cao tuyệt đối so với mực nước biển từ 260 đến 280 mét Cao nhất của vùng lòng chảo là địa bàn xã Phúc Sơn, Thạch Lương (thuộc huyện Văn Chấn), thấp nhất là xã Sơn A, Sơn Lương Mường Lò có các con suối chảy vào các cánh đồng như Nậm Xia, Nậm Nhì, Nậm Đông, Nậm Tăng, Nậm Min…Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản

và là nguồn trữ năng phát triển thuỷ điện nhỏ trong vùng Đất đai ở Mường Lò vì thế chủ yếu là đất phù sa Khí hậu mang tính chất á nhiệt đới Trong năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (thường gây lũ lụt), mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (lượng mưa ít, thời tiết khô hanh do đó mùa đông ở

Trang 14

đây lạnh nhưng không ẩm ướt) Cũng do địa thế của vùng lòng chảo nên ít có bão lớn mà chỉ có lốc cục bộ họăc lũ quét Cư dân sinh sống tập trung chủ yếu quanh vùng lòng chảo Mường Lò nhưng thuộc địa phận hành chính của huyện Văn Chấn

và thị xã Nghĩa Lộ Huyện Văn Chấn thuộc phía Tây Nam của tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp huyện Mù Căng Chải, phía đông giáp huyện Văn Yên, phía tây giáp huyện Trấn Yên, phía Tây Nam giáp huyện Trạm Tấu, phía nam giáp huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ và huyện Phù Yên tỉnh Sơn La Huyện Văn Chấn có diện tích tự nhiên 122.390,6 ha, dân số trên 145.000 người với 13 dân tộc cùng sinh sống (trong đó dân tộc Kinh chiếm 42%, Thái chiếm 23%, dân tộc Tày chiếm 15% ngoài ra còn người Mường, Dao, Hmông, Hoa v.v) Huyện Văn Chấn gồm 31 đơn

vị hành chính (28 xã và 3 thị trấn), 351 thôn, bản, tổ dân phố Văn Chấn được chia làm hai tiểu vùng: vùng ngoài (gồm 8 xã) và vùng trong (23 xã- thị trấn) lấy Đèo Ách làm ranh giới Người Thái Đen sinh sống tại một số xã của huyện Văn Chấn quanh cánh đồng Mường Lò như: Phù Nham, Sơn Thịnh, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Sơn Lương, Sơn A, Thạch Lương, Gia Hội Một phần còn lại của lòng chảo Mường Lò thuộc địa giới của thị xã Nghĩa Lộ Nghĩa Lộ là thị xã miền núi, là trung tâm kinh tế văn hoá xã hội vùng phía tây của tỉnh Yên Bái Thị xã có diện tích 2966,6 ha, dân số 25.486 người cư trú trên địa bàn 4 phường (Trung Tâm, Cầu Thia, Pú Chạng, Tân An) và 3 xã (Nghĩa An, Nghĩa Phúc, Nghĩa Lợi) Thị xã có 17 dân tộc anh em cùng chung sống trong đó dân tộc Thái chiếm 44,57%, dân tộc Kinh chiếm 43,35%

Như vậy, nói đến Văn Chấn- Nghĩa Lộ là nói đến Mường Lò Mường Lò trở thành điểm kết nối, hội tụ văn hoá của người Thái Đen ở Yên Bái nói riêng và là trung tâm văn hoá của miền tây Yên Bái nói chung

Trang 15

1.2 NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI

1.2.1 Dân số và sự phân bố dân cư

Người Thái ở Yên Bái có khoảng 41.000 người chiếm 6,1% dân số toàn tỉnh thuộc hai nhóm ngành là Thái trắng và Thái Đen Riêng Mường Lò tập trung khoảng 90% tổng số người Thái ở Yên Bái, một số ít còn lại ở huyện Trạm Tấu và huyện Mù Căng Chải

Người Thái Đen sống tập trung tại các bản xung quanh cánh đồng Mường

Lò men theo những con suối, thuộc địa giới hành chính của một số xã vùng trong của huyện Văn Chấn và địa bàn của thị xã Nghĩa Lộ (như đã nói ở trên) Người Thái ở Mường Lò cũng sống xen kẽ với một số dân tộc khác như Hmông, Dao, Hoa, Mường, Khơ Mú, Kinh (Việt)… do đó cũng chịu sự tác động và ảnh hưởng qua lại nhất định về văn hoá, kinh tế, xã hội Mặt khác một số bộ phận người Thái Đen sinh sống ở khu vực thị xã Nghĩa Lộ, đặc biệt ở các phường và khu trung tâm gần các trục đường giao thông chính, đã ít nhiều bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hoá Tuy vậy, đa số người dân Thái Đen nơi đây vẫn giữ được những nét văn hoá

cơ bản của dân tộc mình và bảo tồn chúng trong những nếp nhà sàn, trong từng thiết chế thôn bản

Người Thái Đen - theo những truyền thuyết và ký ức của những người cao tuổi - đã sinh sống ở Mường Lò luôn tự hào về địa bàn cư trú lâu đời của tổ tiên mình Hiện nay các nhà khoa học đã đúc kết từ những hiểu biết mới về hệ thống

Trang 16

tâm linh của người Thái để tìm được cội nguồn văn hoá, lịch sử của tộc người Thái nói chung Đồng thời đã khẳng định người Thái Đen ở Tây Bắc Việt Nam là kết quả của cuộc thiên di mạnh mẽ vào Tây Bắc khoảng đầu thiên kỷ thứ II sau công

nguyên Cuộc thiên di như Đặng Nghiêm Vạn đã nói “nằm trong cuộc thiên di lớn

của tổ tiên người Thái vào Đông Dương, là một diễn biến lịch sử lớn lao, làm đảo lộn toàn bộ tình hình phân bố dân cư miền Tây Bắc Việt Nam cũng như trên bán đảo Đông dương…” [35, tr.403]

Và trong bối cảnh lịch sử như vậy, người Thái Đen phải tiếp xúc với mọi loại hình ngôn ngữ, văn hoá của các dân tộc khác mình Do vậy họ vừa bảo lưu gìn giữ những yếu tố cơ bản đặc trưng nhất của mình vừa có sự tiếp thu chọn lọc những yếu tố khác Chính từ đó - theo nhà nghiên cứu Cầm Trọng- đã hình thành quy luật phổ biến về sự phát triển văn hoá lịch sử của tất cả người thuộc nhóm

tiếng Thái: “từ một cội nguồn chung ngôn ngữ, văn hoá dần vỡ ra để tạo thành

từng luồng lan toả đi khắp nơi Đến khi ngưng tụ tại nơi nào đó thì địa văn hoá mang màu sắc Thái xuất hiện” [30, tr 43]

Người Thái Đen ở Mường Lò cũng không nằm ngoài quy luật trên Chỉ có một điểm khác Mường Lò là địa điểm cư trú đầu tiên ở Việt Nam và từ đây họ tiếp tục chiếm lĩnh toàn bộ vùng Tây Bắc, sau đó tràn xuống lưu vực sông Mã qua Lào vào vùng Thanh, Nghệ Do vậy, Mường Lò là quê tổ của người Thái Đen ở Tây

Bắc Trong dân gian người Thái Đen luôn nói “pay Mường Lò” - đi về Mường Lò

là với nghĩa hướng về quê tổ Điều này càng làm cho “màu sắc địa văn hoá” của vùng đất này thêm đậm nét (các tài liệu trình bày về lịch sử tộc người đã nói rõ ở phần 1.1.1) Tuy nhiên, dù khẳng định thời gian đến sinh sống tại Mường Lò của người Thái Đen từ rất sớm (khoảng thế kỷ XI- XII) nhưng họ lại không phải là cư dân đầu tiên có mặt ở Mường Lò Các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ trước khi người Thái Đen đến nơi đây đã có người Xá chủ yếu là Xá Khao (các cư dân Môn - Khơ me) là dân tộc chủ thể ở Tây Bắc cư trú khắp ba tỉnh Sơn La, Lai Châu, Nghĩa Lộ

Trang 17

và một phần những người Xá này đã hoà hợp với dân tộc Thái sau này [35, tr 406]

Như vậy lịch sử cư trú của người Thái Đen ở Mường Lò không chỉ bó hẹp trong phạm vi tộc người mà có sự liên quan mật thiết đến những tộc người khác Chỉ có điều với sức mạnh về dân số, về tổ chức bản mường chặt chẽ, người Thái Đen đã nổi bật lên ở Mường Lò với tư cách là cư dân chủ thể Mặt khác do đặc điểm đa dạng về địa hình nên đã tạo ra đặc điểm về sự xen kẽ của các dân tộc khác nhau ở Việt Nam nói chung cũng như ở Mường Lò nói riêng Người Thái Đen như

đã trình bày trong mục 1.2.1 về sự phân bố dân cư, sống xen kẽ với các tộc người khác và đã có những giao lưu văn hoá nhất định với tộc người Khơ Mú, Mường, Giáy…Điều đó cũng là những tác động đến lịch sử tộc người ở nơi đây

1.2.3 Đặc điểm kinh tế - văn hoá xã hội

1.2.3.1 Đặc điểm kinh tế

Người Thái Đen từ lâu đã có câu ca: “Muốn ăn gạo trắng nước trong/ Vượt

qua đèo Ách vào trong Mường Lò’’ Mường Lò là một trong bốn cánh đồng rộng

lớn của Tây Bắc, là nơi nổi tiếng về sản xuất nông nghiệp và những loại gạo ngon Đây cũng là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc tụ cư, định cư và sinh sống lâu đời của đồng bào Thái Đen cũng như một số tộc người khác Vì vậy cũng giống như tổ tiên của mình, người Thái Đen ở Mường Lò vẫn canh tác nông nghiệp lúa nước và coi đây là hoạt động kinh tế chủ đạo Bên cạnh sự ưu ái về điều kiện địa hình và nguồn nước dồi dào, người dân nơi đây từ lâu đã có kỹ thuật cao trong việc thâm canh tăng vụ, xây dựng hệ thống thuỷ lợi phù hợp Trước đây đồng bào chỉ trồng lúa nếp một năm một vụ Nhưng sau này đồng bào học theo người Kinh, đã

trồng lúa tẻ và chuyển từ một vụ lên hai vụ một năm Hệ thống “mương, phai, lái,

lin” vẫn được duy trì ở Mường Lò nhưng không phải là chủ đạo nữa Bởi hiện nay

hệ thống thuỷ lợi đã được xây dựng kiên cố với các trạm bơm và mương bê tông hoá Điều đó càng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúa nước trên

Trang 18

cánh đồng Mường Lò Ngoài ra người Thái Đen cũng thực hiện việc xen canh với những loại cây ngắn ngày như khoai lang, ngô vừa làm lương thực trong những ngày giáp hạt vừa làm thức ăn cho gia súc [11, tr 12]

Ngoài hoạt động kinh tế nông nghiệp, người Thái Đen vẫn duy trì hoạt động săn bắn, hái lượm và đánh cá nhằm cải thiện đời sống Những cánh rừng quanh Mường Lò tuy không còn nhiều như trước kia song đồng bào vẫn tìm kiếm được những nguồn thực phẩm từ rừng như các loại măng, mộc nhĩ, rau rừng thậm chí thú rừng…Những thực phẩm này vẫn là một phần quan trọng đối với cuộc sống của người dân mặc dù họ đã trồng rau và mua thêm ở chợ Lối sống định cư gắn bó với những dòng chảy tự nhiên đã tạo nên một nghề kiếm sống quan trọng: nghề đánh cá Người Thái Đen rất coi trọng việc đánh cá ở các con suối Những con suối như Nậm Thia, Nậm Đông, Nậm Nhì…đã mang lại cho người dân nguồn lợi thuỷ sản lớn và làm nên những món ăn truyền thống mang màu sắc văn hoá riêng của vùng Mường Lò Đồng bào vẫn sử dụng những công cụ như chài, vó, lưới, câu để đánh bắt cá Ngoài ra họ còn tận dụng diện tích ao, hồ ruộng để thả cá Đặc biệt, thả cá xen lúa là tập quán có từ lâu đời của người Thái Nó có tác dụng làm cho lúa đạt năng suất cao do có cá làm sục bùn, diệt sâu bọ cung cấp khoáng chất… Như vậy trên một mảnh ruộng người dân đã kết hợp thâm canh, xen vụ trồng lúa, trồng cây màu vụ đông, nuôi cá… làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống kinh tế và tham gia tích cực vào giải quyết việc làm cho người dân

Bên cạnh hoạt động kinh tế nông nghiệp và khai thác tự nhiên người Thái cũng chú trọng phát triển chăn nuôi và các nghề thủ công truyền thống Trong đó hình thức chăn nuôi đã có sự thay đổi so với trước kia - từ chỗ thả rông sang nuôi trong chuồng- Người dân chủ yếu nuôi trâu, bò để tận dụng sức kéo (từ 2 đến 3 con, thậm chí có gia đình khá giả nuôi tới 6 - 7 con); nuôi gà vịt với số lượng lớn Hầu hết các gia đình người Thái đều nuôi vịt trong điều kiện diện tích nước ao hồ nhiều (từ vịt giống, vịt đẻ hoặc vịt để thịt) [11, tr.14] Hình thức nuôi lợn cũng phổ

Trang 19

biến song số lượng chưa nhiều, chưa đem lại thu nhập cao cho người dân Nghề chăn nuôi nhìn chung đã đóng góp một vai trò đáng kể trong đời sống sinh hoạt của người dân Thái Đen ở Mường Lò Điều đó thể hiện rõ rệt trong việc tăng thu nhập và từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu trong gia đình, người dân đã biến những sản phẩm của mình thành hàng hoá Thực tế này thấy rõ trong các buổi chợ ở chợ Mường Lò - nơi buôn bán tập trung lớn nhất ở thị xã Nghĩa Lộ nói riêng và vùng Mường Lò nói chung Ở đây bán tất cả các sản phẩm mà người Thái kiếm được (từ

tự nhiên: các loại rau rừng, củ quả…) đến những gì họ chăn nuôi, làm ra được Qua

đó cũng cho thấy sự chuyển mình rõ rệt trong đời sống kinh tế của người dân Thái Đen Các nghề thủ công truyền thống cũng ở trong tình trạng tương tự Một trong những nghề gắn bó từ lâu đời đó là nghề trồng bông dệt vải Bông được trồng trên nương và thu hoạch vào khoảng tháng 10, tháng 11 Từ xưa đến nay công việc dệt vải đều do nữ giới đảm nhiệm Bằng sự khéo léo và óc thẩm mỹ, các cô gái Thái đã tạo ra nhiều loại vải khác nhau và những sản phẩm như váy, khăn…độc đáo, tạo nên một thương hiệu nhất định trên thị trường Ngoài ra các sản phẩm chăn, đệm bông lau cũng do bàn tay người phụ nữ làm ra và mang nhiều ý nghĩa văn hoá truyền thống (chăn đệm mang về nhà chồng trong lễ cưới; cho khách đến nhà để họ

được “ngủ đệm đắp chăn”) Các nghề khác như đan lát, nghề mộc, nghề rèn đúc

chủ yếu phục vụ nhu cầu trong gia đình, ít có sự trao đổi buôn bán Tuy vậy nó vẫn

có sự gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân

1.2.3.2 Đặc điểm văn hoá xã hội

* Văn hoá vật thể

+ Nhà ở

Người Thái Đen ở Mường Lò ở nhà sàn, thuộc loại nhà sàn gỗ, trước kia mái của các ngôi nhà lợp bằng ván thông hoặc gỗ pơmu (một loại gỗ quý ở Yên Bái, mái có hình con rùa) Nhưng hiện nay do điều kiện kinh tế, các gia đình đều lợp

Trang 20

bằng tấm lợp prô- ximăng hoặc nhiều hộ đã chuyển sang ở nhà đất Về cơ bản, cơ cấu của ngôi nhà sàn người Thái Đen nơi đây giống như những nơi khác song vẫn

có sự khác biệt Đó là nhà chỉ có một cầu thang dành chung cho cả nam và nữ;

“khau cut” - một vật trang trí ở đầu hồi nhà đã không còn thấy nữa Tầng dưới hay gầm sàn không có tường vách bao quanh, trước kia đây là nơi ở của gia súc, bây giờ đồng bào chỉ để rơm rạ hoặc củi, thậm chí còn lát gạch sạch sẽ làm nơi dệt vải hoặc trò chuyện thân tình khi có khách đến Trước nhà, phần lớn người dân xây sân gạch để phơi lương thực Gần nhà tuỳ mỗi gia đình bố trí là chuồng lợn, chuồng gà, chuồng trâu, nơi thờ ma họ ngoại và thờ thổ công

Cũng như những gia đình người Thái ở nơi khác, nhà của người Thái ở Mường Lò được dựng gần nguồn nước, ven theo chân núi và nhìn ra cánh đồng Chính điều này đã làm nên cảnh quan văn hoá rất đặc trưng Khi bước chân lên cầu thang để vào nhà của người Thái ở đây chúng ta cũng bắt gặp sự giống nhau trong cách sắp xếp Ngôi nhà được chia làm ba phần Từ cầu thang đi lên, phía đầu

nhà sàn là nơi đựng nước, phơi quần áo và chuẩn bị thức ăn, nơi này gọi là “táng

chan” Bước vào phía trong của ngôi nhà ta thấy có sự phân đôi khoang lòng nhà

theo chiều đòn nóc thành hai phần Nửa phía trên là nơi ngủ của gia đình và là nơi cất giấu đồ đạc quý trong các hòm quả, nơi để chăn đệm cho khách Nửa dưới gần cửa ra vào là nơi để các đồ dùng sinh hoạt của gia đình như chạn bát, nồi niêu, gạo thóc… Đối diện sang nửa phía dưới là gian bếp chính nấu nướng hàng ngày Nửa phía dưới của gian giữa là nơi tiếp khách và không gian hóng mát Gian cuối của

ngôi nhà được tính từ cây cột chính (cột thiêng) “xau hẹ” - sát nơi ngủ của ông chủ

nhà- ngược lên Ở phía bên tay phải (theo hướng từ cửa chính) là gian thờ tổ tiên

(colohoóng) “Khác với người Việt và một số tộc người khác, người Thái không lập

bàn thờ, đặt bát hương cúng bái mà để gian thờ trong khoảng không tựa như một cõi “hoang sơ” thu nhỏ” [30, tr.122] Trong đó chỉ đặt hai ống tre dùng để cắm

hương và một vài cái chén nhỏ Bên ngoài có che một tấm mành Ngôi nhà của

Trang 21

người Thái Đen ở Mường Lò tuy đã bị thay đổi nhiều về vật liệu, cấu trúc song về

cơ bản cách bố trí sắp xếp trong ngôi nhà vẫn mang những nét truyền thống

+ Mặc

Trang phục của các nhóm ngành Thái về cơ bản là giống nhau Với người Thái Đen ở Mường Lò, trang phục của phụ nữ được phân biệt với nhóm Thái trắng Bộ trang phục của phụ nữ Thái Đen gồm áo xửa cỏm, váy, piêu, thắt lưng và các đồ trang sức như vòng tay, vòng cổ, xà tích…Trong đó chiếc áo xửa cỏm là loại áo ngắn có tay, nẹp áo trước ngực là hai hàng khuy bạc hình con bướm (mak pém - một bên là con đực, một bên là con cái, số lượng các cặp thường là số lẻ, phụ

nữ có chồng là số chẵn) Riêng cổ áo vẫn là cổ tròn có chân (khoảng 2- 3cm), ôm khít với cổ của người mặc Đây chính là một đặc điểm phân biệt giữa phụ nữ Thái Đen với Thái Trắng (cổ áo của phụ nữ Thái Trắng lượn xuống ngực hình chữ V) Cùng với áo xửa cỏm là chiếc váy đen nhuộm chàm quen thuộc Nối liền giữa váy

và áo là một dải thắt lưng dài một sải và một khuỷu tay (theo cách đo của người Thái), thường được dệt màu xanh và quấn quanh eo người phụ nữ tạo nên một

điểm nhấn duyên dáng Ngoài ra, piêu (khăn) là một phần không thể thiếu trong bộ

trang phục Piêu là một dải vải nhuộm chàm màu đen đậm, có khổ rộng khoảng 40

cm và dài bằng một sải tay Piêu được các cô gái Thái đội trong các dịp lễ hội hay các sinh hoạt cộng đồng khác Khi không vấn khăn, với phụ nữ chưa chồng, tóc

được búi ra đằng sau sát gáy Phụ nữ đã có chồng thì búi tóc lên đỉnh đầu (tằng cẩu

- phụ nữ Thái Trắng không đội piêu, không tằng cẩu) Đi kèm với bộ trang phục là

những đồ trang sức làm bằng bạc hay nhôm Đó là vòng tay, vòng cổ, chiếc trâm cài đầu (với phụ nữ đã có chồng), dây sài ẻo - xà tích [29], [30] Có thể nói bộ trang phục của phụ nữ Thái Đen ở Mường Lò vẫn mang đậm yếu tố truyền thống của cộng đồng người Bằng chứng là khi đến bất kỳ một gia đình, một bản nào ở nơi đây chúng ta đều thấy sự xuất hiện của bộ trang phục nữ giới, họ vẫn mặc váy khi đi chợ, làm đồng, đi chơi…Điều này ngược lại với nam giới Họ ít sử dụng

Trang 22

trang phục truyền thống mà thích dùng những loại quần áo bán sẵn trên thị trường Chỉ khi nào vào dịp lễ tết hoặc cúng bái họ mới mặc chiếc áo ngắn bằng thổ cẩm, nhuộm chàm, có đính cúc hoặc khuy tết bằng dây vải, hai bên cạnh sườn có đường

xẻ để thân áo không bị bó sát vào người Ngoài những dịp này họ mặc giống như người Kinh

+ Ăn - Uống - Hút

Trước kia người Thái Đen chỉ ăn cơm nếp Sau này học tập theo lối canh tác hai vụ của người Kinh và trồng lúa tẻ, họ đã đã ăn cơm tẻ và lấy gạo tẻ làm lương thực chính Gạo nếp chỉ được dùng trong các dịp cúng bái, lễ tết bằng cách đồ xôi hay làm các loại bánh Ngoài ra họ cũng ăn phụ các loại sắn, ngô khoai trong lúc giáp hạt Cơ cấu bữa ăn của người Thái Đen chủ yếu là cơm - rau - cá Cách chế biến các món ăn cũng rất độc đáo Những món ăn ngày thường chủ yếu được đồ (sôi) như rau sôi, cá sôi hoặc nướng hay làm nộm, ăn ghém… Ngoài ra trong dịp lễ tết có một số các món ăn được chế biến cầu kỳ hơn như: nhựa cạy mọ (thịt gà sôi),

pa khính pỉnh tộp (cá xỉnh cặp nướng), cay hin pho (rêu đá vùi than)… Đặc biệt từ các loại rau rừng, côn trùng (bọ xít, dế…) người dân đều có cách chế biến thành những món ăn lạ

Đồ uống chủ yếu của người Thái Đen là uống nước trắng hoặc nước chè Rượu là thức uống trong các dịp vui, buồn và trong các nghi thức Với ý nghĩa nào

đó, đồng bào xem rượu như một thứ cần thiết ngang tầm với cơm Đây là thức uống phổ biến được dùng khi khách đến nhà hay trong bất kỳ sự kiện nào của gia đình, họ tộc, thôn bản Ngoài ra người dân cũng có thói quen hút thuốc lào (với nam giới) và ăn trầu (với phụ nữ)

* Văn hoá phi vật thể

+ Ngôn ngữ và văn tự

Tiếng Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái và nằm trong ngữ hệ Thái - Kađai Theo các tài liệu còn lại, chữ Thái xuất hiện vào khoảng thế kỷ XI khi tổ

Trang 23

tiên của người Thái khai phá vùng Mường Lò, thiết lập xã hội người Thái, định ra

luật tục… các mo mường đã ghi chép lại những sự việc này “Do cùng chung một

cội nguồn, ngôn ngữ nhóm người nói tiếng Thái có tỷ lệ thống nhất cao Đó là đặc điểm nổi bật khi tiếp ai cũng nhận thấy ” [30, tr.193] Trong đó tiếng Thái ở vùng

Tây Bắc mà Mường Lò là một bộ phận được coi như một sinh ngữ - nó đã có thể diễn đạt tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở một số chuyên ngành của văn học, nghệ thuật, lịch sử và dân tộc học ở trình độ đại học và trên đại học [30] Hiện nay

ở Mường Lò do quá trình tiếp xúc với ngôn ngữ của người Kinh nên ngôn ngữ của người Thái Đen cũng đã có nhiều thay đổi Đó là việc bổ sung thêm một số từ vựng mới Mặt khác ngôn ngữ của người Thái cũng lại ảnh hưởng đến một số tộc người khác như người Mường, Khơ mú… Hàng ngày vào buổi sáng và buổi chiều, chương trình phát thanh bằng tiếng Thái luôn được đồng bào đón nghe Điều đó cho thấy sự quan tâm của các cấp lãnh đạo nhằm bảo tồn ngôn ngữ của cộng đồng tộc người này

Về chữ viết, cũng giống như các nhóm Thái khác, chữ Thái ở Mường Lò cũng theo hệ thống chữ pa li (chữ phạn) Đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ và chữ viết Thái là đơn âm tiết và có thanh điệu Tuy nhiên người dân ở đây hầu như không phân biệt phát âm một số phụ âm đầu như lẫn lộn [b] với [v]: “bin”=”vin” (bay); “bá”=”vá”(đồ cơm), hay [d] với [l]: “đảu”=”lảu” (rượu); “đe”= “le” (đĩa)… Mặc dù tiếng Thái đơn âm lấy thanh điệu của âm tiết để phân biệt ý nghĩa của từ nhưng chữ Thái lại không đáp ứng được sự thể hiện đó Ví dụ với mỗi phụ âm

thanh điệu thấp một ký hiệu đọc thành 3 từ mang ý nghĩa khác nhau: “ma”có ba cách đọc: “ma - là chó”; “má - là ngâm”; “mả - là đạn” [26], [30] Điều này gây

nhiều khó khăn trong việc học chữ Thái - nhất là chữ Thái cổ Vì vậy ở Mường Lò hiện nay số người đọc chữ Thái cổ rất ít (chỉ một số cụ già cao tuổi như cụ Lò Văn Tâm ở bản Chao Hạ 1, xã Nghĩa Lợi, thị xã Nghĩa Lộ hay cụ Lò Văn Biến ở bản Cang Nà, phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ còn đọc và dịch được các mẫu tự

Trang 24

tiếng Thái) và số người biết chữ Thái cũng không nhiều Đây là một thực tế cần được đánh giá nghiêm túc bởi nếu không có chương trình dạy - học chữ Thái thì Mường Lò sẽ nhanh chóng mất đi vốn văn hoá tộc người

Trong những tháng đầu năm 2007, chương trình bảo tồn chữ Thái cổ dành cho đối tượng cán bộ lãnh đạo của xã, phường, trưởng bản, bí thư chi bộ của thị

xã Nghĩa Lộ đã được thực hiện với số lượng học viên là 57 người Đây là chương trình do Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ tổ chức Nguồn kinh phí

do Quỹ Ford tài trợ Chương trình là một hoạt động tích cực nhằm duy trì và phổ biến chữ Thái cổ cũng như duy trì và phục hồi văn hoá Thái

Cũng từ thực tế này, những tác phẩm văn học cổ của người Thái Đen ở Mường Lò như Quắm Tố Mương (kể chuyện bản Mường), Táy pú xấc, Cầm Hánh tạp sớc klương (Cầm Hánh đánh giặc Cờ Vàng)… chỉ được biết đến khi được dịch

ra tiếng Việt Các tác phẩm văn học dân gian như câu đố, tục ngữ, những câu chuyện cổ đã được các nhà nghiên cứu sưu tầm văn hóa dân gian giới thiệu Điều

đó cho thấy kho tàng văn học dân gian của người Thái Đen ở Mường Lò rất phong phú và đa dạng nhưng cũng chưa được khai thác triệt để

+ Tôn giáo, tín ngưỡng

Đời sống tâm linh tín ngưỡng của người Thái Đen khá đơn giản không mang màu sắc tôn giáo Tuy vậy, do họ là cư dân nông nghiệp nên tín ngưỡng của họ mang nhiều nét tương đồng với tín ngưỡng của các tộc người khác đồng thời phản ánh rõ nét đời sống gắn bó với thiên nhiên Trước hết người Thái Đen tin rằng trong thiên nhiên có những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận của họ Đó là Then luông ở trên trời, cai quản các vị thần Họ còn tin rằng ở bất kỳ nơi nào: đồi, núi, suối, rừng… đều có “phi” hay ma cai quản Do vậy khi muốn lập bản, phát nương khai phá ruộng đều phải xin các ma cho phép Chính vì vậy, hàng năm ở

Mường Lò, đồng bào Thái Đen tổ chức lễ “xên mương” - cúng mường để cầu xin

thần thánh, chẩu mường (người đứng đầu mường), các phi phù hộ cho mưa thuận

Trang 25

gió hoà, mùa màng tốt tươi, bảo vệ cho cả mường không bị tai ương, bệnh dịch;

trong phạm vi bản có lễ “xên bản”- cúng bản thường được tổ chức sau lễ xên mương; trong phạm vi gia đình có lễ “xên hươn”- cúng ma nhà Ngoài ra từ ngày

10 đến ngày 13 tháng 7 âm lịch hàng năm, mỗi bản cũng tổ chức lễ “xên đông” -

cúng thần rừng tại một cây cổ thụ trong một khu rừng của bản (trước kia mỗi bản đều có khu rừng cấm riêng) - để cầu cho cây cối được xanh tốt, sinh sôi nảy nở, bảo vệ cho bản và đem lại cho bản những nguồn lợi

Một hình thức tín ngưỡng khác khá phổ biến trong các gia đình người Thái Đen ở Mường Lò là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Đây là hình thức nhằm củng cố trật tự trong phạm vi gia đình và củng cố mối liên kết ruột thịt giữa những người cùng máu mủ Mặt khác thông qua việc thờ cúng tổ tiên, uy thế, vai trò của người chủ gia đình (người đàn ông) được đề cao và củng cố Chỉ có người này mới có quyền thay mặt gia đình cúng tổ tiên, làm chủ lễ “xên hươn”, báo cáo tình hình với

tổ tiên và xin tổ tiên phù hộ cho con cháu Người Thái Đen thờ tổ tiên họ bên nội

tại colohoóng (xem thêm phần nhà ở tr 16) Khi trong nhà có người chết, con cháu

trong nhà sẽ làm các thủ tục cần thiết và thi hài người chết sẽ được đem đi hoả táng Sau đó toàn bộ số tro sẽ đem chôn ở nghĩa địa Ba ngày sau khi chôn, thầy

cúng mời hồn người chết về gian nhà để thờ tức colohoóng Khi đã thờ ở đây thì

không làm lễ cúng giỗ đầu, giỗ hết cũng không cúng 49 ngày, một trăm ngày như các dân tộc khác Với mồ mả tổ tiên họ cũng không chăm sóc, cũng không có tục giữ mồ mả tổ tiên trong nhiều đời [13], [14] Vì vậy người Thái Đen chỉ cúng ở

colohoóng vào một số dịp như Tết nguyên đán, lễ cúng ma nhà “xên hươn”, khi gia

đình tổ chức lễ cúng vía cho người ốm hoặc trong gia đình, họ hàng có người chết

Ngoài việc thờ cúng tổ tiên họ nội tại colohoóng, người Thái Đen ở Mường Lò còn

có tục thờ bố mẹ vợ đã qua đời (ở bên nhà con rể) gọi là hươn sờ ải tà êm nai Nếu

như người Kinh và một số dân tộc khác khi con gái đã đi lấy chồng, t gia đình nhà chồng không làm bàn thờ riêng để thờ bố mẹ đẻ của con dâu thì người Thái Đen

Trang 26

nơi đây lại lập bàn thờ riêng để thờ bố mẹ của cô dâu Bàn thờ này thường được dựng cạnh bàn thờ Thổ công, làm bằng tre có mái gianh, xung quanh có ba phên nứa, cách mặt đất khoảng một mét, trông như một túp lều nhỏ, mặt quay ra ngoài cổng nhà hoặc ở góc vườn Thiết nghĩ đây là một trong những tập quán biểu hiện

việc tôn trọng họ ông cậu (Lung ta) mà cốt lõi của vấn đề là biểu hiện phép ứng xử một cách hợp lý mối quan hệ giữa họ nhà trai, họ phía đàn ông hay họ nội (nhinh

xao) với họ ông cậu, họ phía đàn bà hay họ ngoại (lung ta) Hình thức gia đình phụ

hệ với vai trò quan trọng của người đàn ông - người chủ gia đình - chỉ là biểu hiện bên ngoài, sâu xa bên trong theo chúng tôi người Thái Đen còn bảo lưu nhiều nét tàn dư mẫu hệ mà trong đó bàn thờ họ ngoại là một bằng chứng cụ thể

Bên cạnh tín ngưỡng cụ thể như trên, người Thái Đen còn quan niệm mỗi người có 80 hồn, 50 hồn đằng trước, 30 hồn đằng sau và chia thành nhiều loại như hồn điều khiển hoạt động của cơ thể: hồn đầu, hồn trán, hồn mũi… Mỗi hồn điều khiển một chức năng của con người: cười, khóc, buồn, vui, suy nghĩ… Tất cả hồn họp thành một hồn tượng trưng ở chỏm xoáy tóc trên đầu gọi là hồn gốc Vì vậy khi người ta ốm đau hay chết là do hồn rời khỏi xác trong một thời gian hay vĩnh viễn hoặc do hồn hoảng sợ giật mình mà không ở trong người sống Do đó gia đình phải mời các thầy mo về cúng hồn vía, đưa hồn vía thất lạc trở về với người chủ Các hình thức cúng vía này được tiến hành với nhiều ý nghĩa khác nhau và gắn chặt với vòng đời con người Có thể nói các hình thức cúng vía chiếm một phần đáng kể trong các nghi thức tín ngưỡng dân gian của người Thái Đen ở Mường Lò Đây là một hình thức làm cho đời sống tinh thần của họ thêm phong phú, có vai trò tích cực thúc đẩy niềm tin và ý thức vượt qua khó khăn trong cuộc sống

+ Lễ hội, các trò chơi dân gian

Trong một năm với người Thái Đen có nhiều lễ hội như lễ hội gắn với sản xuất: lễ xuống đồng, hội đánh cá, hội săn bắn… hay gắn liền với các nghi lễ như xên mương, xên bản, xên hươn; gắn liền với các hiện tượng trong đời sống con

Trang 27

người như lễ cưới, lễ làm nhà mới; gắn liền với thời tiết trong năm như lễ hội rằm tháng Giêng, hội hoa ban (đầu xuân), tết síp xí (14-7 âm lịch), tết nguyên đán…Bất

kỳ lễ hội nào cũng thu hút đông đảo nhân dân tham gia và tổ chức vui chơi ca hát nhảy múa đồng thời tổ chức nhiều trò chơi dân gian Các trò chơi này là một phần không thể thiếu trong các lễ hội Đó là các trò ném còn, đánh én, tómak lẹ, kéo co, đua ngựa, đánh quay… Điều này cho thấy ẩn sau một cuộc sống bình lặng của người Thái Đen là tâm hồn lãng mạn, ham thích các sinh hoạt cộng đồng Người Thái Đen thường xuyên tổ chức các hoạt động như khắp báo xao (hát đối đáp), hạn khuống… làm phong phú hơn đời sống tinh thần của người dân nơi đây và là những hoạt động mang đậm dấu ấn văn hoá Thái

+ Các hình thức nghệ thuật

Người Thái Đen ở Mường Lò nổi tiếng với những điệu xoè, múa Đó là những hình thức múa dân gian có mặt từ bao đời nay và thường xuyên được tổ chức trong các sinh hoạt cộng đồng Ở Mường Lò hiện nay có những điệu xoè cổ

như: điệu “khắm khen mơi lảu - nâng khăn mời rượu” - để tỏ lòng hiếu khách; điệu

“phá xí - bổ bốn”; điệu “nhôm khăn - tung khăn” là điệu xoè tưng bừng nhất hay

dùng trong các đám cưới, lên nhà mới… Qua mỗi điệu xoè người ta gần gũi nhau

hơn, yêu đời hơn Chẳng thế mà người Thái có câu ca: “không xoè không tốt lúa,

không xoè thóc cạn bồ” [8, tr.125-127].

Ngoài ra ở Mường Lò cũng nổi tiếng với những nhạc cụ dân tộc như khèn

bè, các loại pí và các nghệ nhân dân gian: Hoàng Quyết, Lò Văn Biến… Các cô gái Thái là chủ nhân những điệu khắp quen thuộc như bài ca giao duyên - khắp báo xao, điệu hát khi làm ruộng - khắp lồng tồng… Khắp cùng với những điệu xoè, khèn bè, pí… là những hình thức nghệ thuật dân gian đặc trưng của người Thái nói chung và người Thái Đen ở Mường Lò nói riêng

+ Gia đình và xã hội

Trang 28

Gia đình của người Thái Đen ở Mường Lò hiện nay là tiểu gia đình phụ hệ hay gia đình hạt nhân gồm một cặp vợ chồng có thể đã, chưa hoặc không có con Nếu có thì chúng cũng chưa trưởng thành, chưa đủ điều kiện để lập gia đình riêng Tuy nhiên các gia đình hạt nhân này thường dựng nhà quây quần xung quanh nhà

bố mẹ đẻ (trừ các cô gái đi lấy chồng ở xa) Trong mỗi bản của người Thái có một vài họ cùng chung sống Những dòng họ chủ yếu ở Mường Lò như họ Lò, họ Lường, họ Vì, họ Hà, họ Hoàng… Cũng giống như người Thái ở các nơi khác mỗi

gia đình này có mối quan hệ ba chiều: ba họ Đó là họ tính theo dòng máu cha “ải

noọng”; họ ngoại “lung ta” và họ nội “nhinh xao”

Các hộ gia đình sống tập trung thành bản Đứng đầu là ông trưởng bản do dân bầu và được chính quyền công nhận Hiện nay bản của người Thái Đen tương đối ổn định Nó còn được nằm trong phường, phố… Số lượng dân cư ngày càng tăng dẫn đến tình trạng chia tách bản như Chao Hạ 1, Chao Hạ 2; Năm Hăn 1, Năm Hăn 2, 3… Một khái niệm khác “mường” vẫn tồn tại từ bao đời nay: Mường Lò nhưng bây giờ chỉ còn là một địa danh trong tâm thức của người dân Thái Đen nơi đây và các tộc người lân cận Các tổ chức hành chính trước kia cũng không còn tồn tại nữa và cũng ít ai biết được chúng

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Mường Lò là một địa danh tiêu biểu cho văn hoá Thái vùng miền tây của tỉnh Yên Bái Trong lịch sử, Mường Lò chưa bao giờ trở thành một đơn vị hành chính mà là một đơn vị xã hội Hiện nay khu vực này thuộc thị xã Nghĩa Lộ và một

số xã của huyện Văn Chấn Tuy vậy sự phân chia này cũng không làm mất đi ý nghĩa lịch sử, văn hoá vốn có của Mường Lò

Người Thái Đen ở Mường Lò là một bộ phận của nhóm Thái Tây Bắc, có lịch sử cư trú lâu đời ở vùng Mường Lò và là tổ tiên của nhóm Thái Đen ở Tây

Trang 29

Bắc Mặc dù hiện nay cư dân chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hoá song họ vẫn giữ được những nét văn hoá đặc trưng của tộc người nói chung và của khu vực Mường Lò nói riêng trong tư thế mở, giao thoa và phát triển

Nói đến Mường Lò là nói đến vùng cư trú tập trung nhất của người Thái Đen

ở Yên Bái Hơn nữa nó đã được hoà quyện và gắn bó chặt chẽ với đời sống kinh

tế, văn hoá, xã hội của người Thái Đen để làm nên văn hoá Thái ở vùng lòng chảo cũng như tạo nên môi trường địa văn hoá riêng biệt

Trong môi trường địa lý - lịch sử ấy, nhiều địa danh mang đậm dấu ấn văn hoá của người Thái Đen trong quá trình khai phá, tụ cư ở khu vực này

Trang 30

CHƯƠNG 2: CÁC ĐỊA DANH Ở MƯỜNG LÒ

2.1 QUAN NIỆM VỀ ĐỊA DANH

Theo từ điển tiếng Việt địa danh là tên những vùng đất, tên địa phương

“Địa danh còn hình thành một ngành khoa học - Địa danh học, chuyên nghiên cứu

tên các địa phương, các dân tộc ở các mặt từ nguyên, tính xã hội, quy luật cấu thành của nó” [21, tr 60] Dù thế nào, địa danh cũng gắn liền với yếu tố địa lý, dân

cư, xã hội bởi địa danh là sản phẩm của con người trong mối quan hệ với tự nhiên

Do đó nói tới địa danh các nhà nghiên cứu đã chỉ ra ba yếu tố gắn chặt với nhau: Ngôn ngữ, xã hội, địa lý Trong đó yếu tố địa lý đóng vai trò quan trọng ban đầu vì

dù cộng đồng xã hội nào, ngôn ngữ nào thì địa danh vẫn bám chặt vào đất mà tồn

tại Mặt khác “địa danh bao giờ cũng bắt nguồn từ ngôn ngữ của dân tộc đã hoặc

đang sinh sống ở vùng đất ấy nên khi giải mã chúng cần dựa vào yếu tố ngôn ngữ của cư dân sở tại hoặc cư dân ở trước” [22, tr.217]

Yếu tố xã hội hay nói cách khác con người - chủ thể sáng tạo ra địa danh cũng là một phần liên quan chặt chẽ trong mỗi địa danh Bởi địa danh phản ánh cách nhìn, suy nghĩ của con người trước sự vật, hiện tượng nào đó Điều đó cũng

có nghĩa là trong mỗi địa danh ẩn dấu yếu tố tâm lý, tình cảm, là nơi gửi gắm ước

mơ, nguyện vọng của con người, gắn liền với các tộc người trong quá trình lịch sử

và giao thoa văn hoá

Như vậy từ một địa danh nào đó, chúng ta sẽ biết được yếu tố thiên nhiên, yếu tố lịch sử, xã hội, văn hoá phản ánh trong nó Địa danh không đơn thuần là những từ vựng mà là dấu ấn của lịch sử - xã hội - tự nhiên

Đối với địa danh ở Mường Lò, các tên của bản, suối, hang đèo, núi, đồi… cũng không nằm ngoài quy luật trên

Trang 31

2.2 CÁC ĐỊA DANH Ở MƯỜNG LÒ

2.2.1 Địa danh liên quan đến môi trường cảnh quan

Những địa danh liên quan đến môi trường cảnh quan ở Mường Lò hiện nay bao gồm suối, thác, ao, núi, hang, khe, rừng Theo thống kê ban đầu của chúng tôi, các địa danh này có những cách gọi và ý nghĩa cụ thể như sau:

Bảng 1: Những địa danh liên quan đến môi trường cảnh quan

THEO TIẾNG THÁI

TÊN GỌI THEO TIẾNG VIỆT

TÊN GỌI KHÁC

3 Nậm Tăng Suối Tăng

7 Nậm Đông Suối Lung

8 Nậm Tộc Suối Tộc Suối Đôi

Trang 32

2.2.1.1 Tên suối, thác nước, ao

Ở Mường Lò hiện nay có những con suối lớn và nhỏ Mỗi con suối đều có tên và ý nghĩa nhất định Không những vậy còn có những chuyện tích liên quan đến chúng.Trong đó lớn nhất là Nậm Xia (suối Thia) Nậm Xia dài 156 km bắt nguồn

từ núi Pú Luông huyện Trạm Tấu

Phần chảy vào vùng lòng chảo Mường Lò của Nậm Xia dài 20 km, bắt đầu từ xã Phúc Sơn và kết thúc tại xã Sơn Lương Đây là vùng phụ lưu cấp I của sông Hồng, bắt nguồn từ vùng núi Pú Luông chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, qua Văn Chấn đổ vào hữu ngạn sông Hồng tới Yên Hợp Văn Yên Độ cao bình quân lưu vực ngòi Thia tới 907m, nước lũ trên lưu vực ngòi Thia khá mạnh và dòng chảy lớn nhất gấp tới 480 lần [25, tr.22]

Vì vậy vào mùa lũ, con suối này là mối đe dọa đối với người dân sống ở ven suối Người dân cho biết hầu như năm nào con suối này cũng lấy đi một vài người,

Trang 33

nhà cửa, hoa màu, trâu bò Có lẽ vì lý do đó mà người Thái Đen đặt tên cho con

suối này là Xia với ý nghĩa “nước mất” Hiểm họa này trở thành tên con suối để

nhắc nhở mọi người phải cẩn thận và để nhớ những người đã bỏ mạng ở con suối này Như vậy Nậm Xia - ngoài những nguồn lợi mà nó đem đến và gắn bó với đời sống hàng ngày của người dân Thái Đen thì nó còn là sự nguy hiểm trong mùa mưa lũ Ngoài ra dòng Nậm Xia có một đặc điểm về dòng chảy Đó là khi dòng suối chảy đến khu vực bản Hẻo thì mất hút vào núi (vực Coóng Kéng) sau đó chảy sang bên kia núi là xã Yên Hợp huyện Văn Yên và chảy vào sông Hồng Theo cách giải thích của người dân địa phương đó cũng là một lý do mà dòng suối có tên như vậy

Đồng thời xung quanh Nậm Xia còn có những huyền tích và những đặc sản

riêng Chuyện về sự tích rêu đá “Cay húc Nậm Xia” như sau:

Ở dưới chân núi Trạm Tấu nay thuộc xã Phúc Sơn có một bản người Thái Nơi đây có anh trai bản yêu cô gái bản đẹp nhất vùng Anh trai bản vạm vỡ, khoẻ mạnh và giỏi săn bắn, tài thổi khèn Cô gái khéo dệt vải, hát múa hay Cả hai đều trẻ đẹp như trăng rằm, như hoa ban nở mùa xuân Đặc biệt cô gái có mái tóc mượt như tơ như lụa… Tình yêu của hai người rất trong sáng và say đắm Thời đó có tên chúa đất tìm mọi cách phá vỡ cuộc tình duyên ấy Cậy mình là chúa đất, hắn cho người bắt cô gái đẹp về nhà

- Mày làm kiềng bếp cho tao chứ?

- Không Tôi chỉ là cây hoa dại, đã có người nhận gối

- Không được Mày muốn không bằng tao muốn

Nói rồi chúa đất giữ cô gái ở lại làm nàng hầu Còn anh trai bản hắn đuổi đi nơi khác, cấm không được bén mảng tới

Nhờ có dân bản, cô gái đẹp trốn khỏi nhà chúa đất, tìm được người yêu Đôi bạn tình chỉ biết dắt tay nhau chạy miết vào rừng Họ chạy

Trang 34

mãi, chạy mãi Đêm tối mịt mùng, họ cũng không dừng lại Đến khi đôi trai gái trèo lên ngọn núi cao nhất thì trời hửng sáng Cả hai đều đói lả, kiệt sức Chẳng có dao để đào củ mài, không có lửa để nấu ngọn măng Họ đành dựa lưng vào nhau nhịn đói, nhịn khát mà than khóc Cô gái đẹp khóc nhiều, khóc đến nỗi nước mắt cô chảy ướt bảy cánh rừng rộng, ướt chín đỉnh núi cao Nước mắt biến thành dòng nước to đổ xuống chân đèo chảy thành suối lớn Thương cảm tấm lòng của người đẹp mà không biết làm sao hơn, anh trai bản sau những lời thề nguyền sống không lấy được nhau, chết sẽ mãi mãi bên nhau liền nhảy xuống dòng nước xanh biếc ấy trẫm mình Thân thể anh vừa chạm nước đã vỡ ra hoá thành trăm ngàn mảnh đá nằm sâu trong lòng nước Cô gái thấy vậy cũng buông mình xuống theo Mái tóc dài bung ra, mỗi sợi bám vào một hòn đá Tóc biến thành thứ rêu óng ả, lấp lánh như ánh nắng, xao động tựa như hàng vạn bàn tay vẫy gọi Thứ rêu này người Thái gọi là Cay niêu (rêu dẻo) Bà con lấy về làm món ăn thơm ngon đậm đà trong những bữa rượu hứa hôn Cũng

từ đó dòng suối chảy qua lòng chảo Mường Lò được gọi là Nậm Xia (nước mắt đôi bạn tình) [18, tr.10-12]

Một chuyện cổ khác “Suối nước mắt” lại kể rằng xưa ở vùng Mường Lò

trong một đêm trời mưa to sấm sét, tạo nên trận lũ làm đổi dòng con suối qua bản Dòng suối cũ trở thành suối cạn Có người bảo rằng đó là nước mắt người con gái

út của trời phạm tội chạm vào bàn tay một người con trai trần thế nên bị vua cha đẩy xuống hạ giới Do nhớ quê hương và những người thân yêu của mình nên nàng

đã khóc thâu đêm và nước mắt chảy thành suối lũ Ngày đó có vợ chồng ông tộc trưởng họ Cầm đã cao tuổi mà không có con, vậy mà đêm đó vợ ông trở dạ đẻ ra một cô con gái đặt tên là nàng Ban Nàng Ban lớn lên xinh đẹp nhất vùng nhưng nàng không để ý đến ai mà chỉ yêu thương chàng trai mồ côi nghèo khổ tên là

Trang 35

Sượi Hai người yêu nhau tha thiết khiến cho Hon - một tên nhà giàu hợm hĩnh lấy làm căm tức Hắn tìm mọi cách để thuyết phục Ban nhưng nàng không nghe Hắn rình bắn tên độc vào cổ chàng Sượi rồi lấy đá đập chết, lôi vào khe suối cạn lấp kín Nàng Ban linh tính có chuyện chẳng lành với người yêu liền bỏ nhà đi tìm Nàng đi mãi đến dòng suối cạn thì kiệt sức nằm thiếp đi Trong cơn mê, chàng Sượi báo tin mình đã chết Nàng đau khổ khóc suốt ba ngày đêm, nước mắt của nàng chảy thành một dòng thác, đổi dòng trở về bên suối cạn Thi thể chàng Sượi trôi về nơi Ban nằm khóc thì nàng cũng tắt thở Hai thi thể quyện vào nhau trôi nổi trên dòng suối, tóc hai người hoá thành những sợi rêu xanh mướt dưới suối, sau này người Thái vẫn vớt về ăn để giữ lòng chung thuỷ Còn dòng suối thì bà con đặt tên là Nậm Xia (suối nước mắt) [12, tr 45-52]

Cũng cốt chuyện về tình yêu chung thuỷ giữa chàng trai nghèo và cô gái con

nhà quan lang giàu có “Sự tích hoa Ban đỏ và dòng suối nước mắt” lại kể về

mối tình giữa chàng Ín mồ côi, nghèo khổ với nàng Ban xinh đẹp Cha mẹ nàng không đồng ý và gả nàng cho một quan lang khác Nàng nhất quyết không chịu Cha mẹ nàng nghĩ kế mở một cuộc chạy thi kén rể từ chân đèo đến đình đèo vì nghĩ rằng chàng Ín không thể thắng cuộc Được nàng Ban giúp đỡ chàng Ín đã thắng cuộc Nhưng lên đến đỉnh đèo chàng Ín bị gục ngã sau một cơn ho hộc máu rồi chết Nàng Ban khóc thương, nằm xuống bên chàng và cũng chết theo Máu chàng Ín thấm sâu vào lòng đất làm cho rừng ban trắng bỗng trở thành màu đỏ, gọi

là hoa ban đỏ Dòng nước mắt nàng Ban chảy thành một dòng suối trong hang gọi

là Nậm Xia [12, tr 18-24]

Qua tìm hiểu dưới góc độ ngôn ngữ chúng tôi cho rằng những câu chuyện

trên được bắt nguồn từ sự biến âm “Nậm Xia - nước mất” thành “Nước mắt” Theo

đó thời gian ra đời của những cốt truyện dân gian này là mới có

Con suối lớn thứ hai ở Mường Lò là Nậm Nhì “Nhì” là một từ không có

trong tiếng Thái mà có yếu tố Hán Việt có nghĩa là hai Sở dĩ có tên như vậy vì con

Trang 36

suối này được hợp bởi hai dòng suối: dòng Thác Hoa chảy từ Đồng Khê và dòng Bản Đông chảy từ Tà Xi Láng huyện Mù Căng Chải

Nậm Tăng là con suối chảy từ Huổi Cò Tăng (Huổi - con suối được chảy từ hai khe núi) “Cò Tăng” là một loài cây có nhựa để bẫy chim, được đồng bào sử

dụng khi đi săn bắn trong rừng và xung quanh nhà

Những con suối nhỏ chảy trong các bản được gọi là Hoong Hệ thống này

bao gồm: Hoong Pổi (Pổi - cây vối) do hai bên bờ có cây vối sinh sống Con suối này chảy từ bản Viềng Công của xã Hạnh Sơn đến xã Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Sơn

A

Hoong La là con suối chảy từ bản Pá Khết xuống gặp suối Thia ở đoạn bản Sang Thái của xã Nghĩa Lợi Theo tiếng Thái “La” có nghĩa là không có tôm cá gì

Hoong Loốc ở xã Thanh Lương “Loốc” tiếng Thái có nghĩa là cối giã gạo

Do ở dòng suối này người ta đặt những cối giã gạo lợi dụng sức nước nên dòng suối mới có tên như vậy

Nậm Đông là con suối chảy từ một cánh rừng xuyên qua Ngọc Chiến - Sơn

La và chảy qua Pá Lầu của huyện Trạm Tấu rồi vào xã Nghĩa Sơn và chảy trong các thôn bản của phường Pú Chạng Theo tiếng Thái Nậm Đông hay Nậm Lông có nghĩa là suối lạc

Con suối Nậm Tộc (chảy trong địa phận xã Nghĩa Lộ) Theo tiếng Thái Nậm Tộc có nghĩa là suối Buồn Con suối này bắt nguồn từ bản Nậm Tộc xã Nghĩa Sơn huyện Văn Chấn và cũng là tên của một bản Khơ Mú ở xã này Theo truyền thuyết, người Khơ Mú xưa kia nghèo khổ phải đi làm phu phen hầu hạ cho tầng lớp quan lại phìa, tạo người Thái Nhà ở là lều lá vàng cheo leo trên vách núi Ngày ngày họ lang thang trong rừng kiếm cây báng, măng rừng thay bữa Vì thế đã có thời gian

họ bị gọi là Xá ton đương (Xá lá vàng) do họ chặt cây làm nương rẫy, lấy lá cây lợp nhà khi nào lá úa vàng thì họ lại ra đi tìm nơi khác để làm rẫy và nơi ở mới Ngày đó có hai mẹ con nhà nọ hái lượm ở hai bên núi bị lạc nhau Mẹ gọi con

Trang 37

khắp núi cao rừng thẳm, giọng đã khản đặc mà vẫn không thấy con Con cũng khóc tìm mẹ, mò mẫm bên khe suối, trên thác rồi chẳng may bị ngã xuống suối sâu mà chết Người mẹ tìm thấy con, chôn cất con ở mỏm núi ven suối rồi ở ngay mỏm núi Bà con dân bản thương bà mẹ và cùng đến ở, lập bản gọi là bản Nậm Tộc Con suối gọi là suối Tộc (suối buồn)

Ngoài ra người Khơ Mú cũng có một câu chuyện khác về sự tích dòng suối này Ngày xưa có một gia đình sinh được hai người con: người chị cả và người em trai, cha mẹ mất sớm hai chị em phải ở với nhau Nhưng do họ rất nghèo và xấu xí không ai lấy nên mỗi người một hướng đành bỏ bản ra đi Sau một thời gian hai người cũng lấy vợ lấy chồng nhưng cuối cùng phát hiện ra là hai chị em Người em

- chồng- ân hận bỏ đi Người chị - vợ - ở nhà than khóc nước mắt biến thành dòng suối gọi là Nậm Tộc (suối u buồn)

Từ câu chuyện cổ, người già ở các bản Khơ Mú thì kể rằng từ xửa xưa người Khơ Mú sống khổ cực phải đi cư lang bạt khắp rừng hoang Một đoàn người với những dòng họ đông nhất là họ Vì, rồi đến họ Lường, Lò, Mè, Hà đã đến khai phá rừng hoang ở Nghĩa Sơn (một dải rừng già nguyên thuỷ có nhiều dốc cao, đồi cỏ rậm, lắm muông thú) lập nên bản Nậm Tộc Vùng núi cao này xa nguồn nước, người dân phải sống rất vất vả, thường phải mang ống bương, ống tre xuống núi để múc nước suối Tộc cách xa bản hơn 1 km Sau này họ xuống núi cách nơi cũ 4 km lập nên thôn Nậm Tộc mới (Nay thôn Nậm Tộc 2 là trung tâm của xã Nghĩa Sơn) [20]

Thác nước ở xã Thạch Lương: Nậm Tốc Tát có nghĩa là nước suối đổ thác Thác nước có ý nghĩa với người dân Thái Đen nơi đây bởi là nơi hồn người chết lên trời Thác có ba vũng nước tương truyền là nơi tắm của các linh hồn theo thứ bậc: Người bình dân - tầng lớp trung lưu - tầng lớp phìa tạo, họ quý tộc

Trang 38

Ao: Ở Mường Lò hiện nay còn một cái ao mang tên Noong Dăm “Dăm” theo tiếng Thái có nghĩa là bí mật Hiện ao này là một bãi chằm ở bản Cóc, xã Sơn

A

Theo thống kê bước đầu của chúng tôi tên suối, thác nước, ao có 10 địa danh Ý nghĩa của chúng chủ yếu được giải thích dưới góc độ ngôn ngữ và quan niệm dân gian Trong đó có một số yếu tố của địa danh liên quan đến người Hoa, người Kinh (trường hợp của Nậm Xia, Nậm Nhì)

2.2.1.2 Tên núi

Cánh đồng Mường Lò được giới hạn bởi hệ thống núi vòng ngoài như sau:

Hệ thống núi Bu về phía Đông Bắc, núi Sà Phình về phía Nam, Tây Nam, hệ thống núi Tà Lòng về phía Tây - Tây Bắc

Đây là những núi bao bọc cánh đồng Mường Lò và là nơi người Hmông sinh sống nên người Thái không giải thích được ý nghĩa của chúng

Người Thái ở đây quen với những tên núi - đồi trong cánh đồng Mường Lò như sau:

Pú Chạng có nghĩa là núi con voi, hiện ở phía tây thị xã Nghĩa Lộ Ngọn núi này có nhiều cách giải thích khác nhau Có người cho rằng sở dĩ nó có tên là núi Voi vì trông hình thù giống con voi Một ý kiến khác cho rằng xưa kia trên núi đã từng có voi ở.v.v hay vì trên núi có một nguồn suối nước khoáng mà xưa kia voi thậm chí tê giác thường về đây để uống nước Dù tên gọi có ý nghĩa như thế nào thì Pú Chạng cũng là một địa danh thiêng vì từ khi Tạo Xuông đến Mường Lò mới

có voi đến ở (tương truyền gia đình nào làm nhà quay về hướng núi sẽ gặp nhiều may mắn) Truyền thuyết “Ải Lậc Cậc” - ông khổng lồ kể rằng vì trời lụt nên Then (Trời) cho một vị thần là Ải Lậc Cậc xuống để giúp dân Ông cùng người vợ to khỏe của mình dạy dân làm suối để tiêu nước, đắp bờ làm ruộng cấy lúa Ông đã khai phá những cánh đồng lớn ở Tây Bắc Một hôm ông đang cấy thì có một con voi lạ đến phá phách, dẫm đạp lên ruộng mạ của ông ở Mường Lò Ông tức giận

Trang 39

móc đất ném chết con voi Sau đó ông phủi tay móc đất trong móng tay tung xuôi theo người, những vụn đất trở thành những ụ cao, đồi nối đồi mấp mô thành vùng trung du như bây giờ Còn con voi chết nằm ở phía tây của Nghĩa Lộ là núi Pú Chạng ngày nay

Ngoài ra người Thái còn có chuyện “Ải Chạng Nọi” (chàng Con Voi) Đó là một chàng trai có sức khoẻ và mưu trí, chàng thu phục được ba chàng trai tài giỏi

là Ải Hua Lếch (chàng đầu sắt có tài dùng đầu đóng cọc), Ải Quái Luông (chàng Trâu Mộng, có tài vác trâu qua suối), Ải Khả Mi (chàng chuyên diệt gấu phá nương) Bốn chàng trai kết nghĩa anh em, tôn Ải Chạng Nọi làm anh cả Họ đi khắp nơi trổ tài và mưu lược, diệt bọn chúa đất giải phóng cho dân bản

Người già ở Mường Lò còn kể rằng: con voi theo nghĩa binh đánh giặc, lập nhiều công trạng Khi voi chết, hoá thành dáng núi, dân trong vùng gọi là núi con voi (Pú Chạng) [20]

Pú Lo là ngọn núi mang tên tạo Lò là con trai của Tạo Xuông Theo truyền thuyết khi Tạo Xuông và Tạo Ngần dẫn người Thái Đen đến Mường Lò Qua đoạn suối Tộc đến một mỏm đất rất bằng và rộng, Tạo đặt tên là Pú Lo để trùng với tên con trai của mình và để nhớ tới Mường Lò ở trên trời Địa danh này nay thuộc xã Nghĩa Phúc của thị xã Nghĩa Lộ

Pú Mon có nghĩa là núi mong ước Khi vợ chồng Tạo Lò chưa có con, một lần họ đi chơi trên núi và ở lại một đêm Sau đó bà vợ về mang thai và sinh con Từ

đó đặt tên núi là Mon có nghĩa là mong ước Địa danh này nay thuộc xã Hạnh Sơn

của huyện Văn Chấn

Pú Thấc Lạo là địa danh đầu tiên khi bắt đầu vào cánh đồng Mường Lò Dưới chân núi có một con dốc được người Việt (Kinh) gọi là dốc Thái Lão Nhưng con dốc này có đặc điểm là hút gió và rất nhiều gió xoáy Theo tiếng Thái “Thấc

Lạo” có nghĩa là con đực - xoáy hay gió đực Còn gió từ cánh đồng là “lốm pào

lốm lạo cók cáy” - gió cái , vặn cổ gà

Trang 40

Pú tre là nơi trước kia người Khơ Mú sinh sống và trồng tre ở đó

Pú Co Hón - “Co hón” theo tiếng Thái là loại quả giã cho vào mũi khi bị con nấc chui vào Dưới chân núi này cũng có dốc người Kinh gọi là dốc Bồ Hòn

Pú Ngàm Cha - theo tiếng Thái “Ngàm Cha”có nghĩa là núi Hội Ý Nay ở xã Gia Hội (Mường Min), giáp với xã Phong Dụ thuộc huyện Văn Yên

Chuyện kể rằng khi giặc Cờ Vàng sang xâm chiếm nước ta, một trong những mục tiêu là đánh vào Mường Lò vì đây là cánh đồng lớn của Tây Bắc Quân giặc Cờ Vàng đã chia làm hai ngả đánh úp vào Mường

Lò Một hướng từ Phong Dụ (huyện Văn Yên) vào Mường Min (xã Gia Hội ngày nay) Cánh quân thứ hai đánh từ Âu Lâu vào Mường

là núi Ngàm Cha (núi Hội Ý) [2, tr 96-97]

2.2.1.3 Tên hang

Ở Mường Lò có một quần thể hang động như Thẩm Han, Thẩm Thoóng, Thẩm Bu… xưa kia đây là nơi diễn ra những cuộc vui chơi của đồng bào Thái, Tày trong mỗi dịp xuân về Do đó câu chuyện về những cái hang cũng được lưu truyền

trong dân gian Thẩm Lé - “Lé” theo tiếng Thái là “liếc” đây là một hang động đẹp

Ngày đăng: 06/06/2021, 01:01

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w