Hội làng với các làng quê Việt Nam là một thời điểm mạnh bởi vì chính người dân được thăng hoa, được hưởng thụ những khoái cảm, thẩm mỹ, mặt khác trong ngày lễ hội sợi dây gắn kết giữa c
Trang 1Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o bé v¨n ho¸, thÓ thao vμ du lÞch
Tr−êng §¹i häc v¨n ho¸ Hμ Néi
NguyÔn thÞ thanh t©m
LÔ héi trß tr¸m ë tø x∙ l©m thao - phó thä
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn cao học với đề tài Lễ hội Trò Trám ở Tứ Xã -
Lâm Thao – Phú Thọ là công trình sưu tầm, nghiên cứu được thực hiện
nghiêm túc, chân thực, bằng chính nỗ lực của bản thân Các tư liệu được sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Nguyễn Thị Thanh Tâm
Trang 3
Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
đến TS Nguyễn Quang Lê và nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Nguyễn Hữu Nhàn đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình làm luận văn
Nhân đây tác giả cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, ban Quản lý di tích tỉnh Phú Thọ và ủy ban Nhân dân xã Tứ Xã, các bạn đồng nghiệp tại Th− viện tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thâm nhập địa bàn và thu thập t− liệu
Tác giả
A
Trang 438
Trang 52.3 So sánh lễ hội phồn thực tại Tứ Xã với một số lễ hội phồn thực ở địa phương khác
59
Chương 3: Sự biến đổi văn hoá lễ hội vμ vấn đề đặt ra
67
3.1 Sự biến đổi văn hoá của lễ hội Trò Trám 67
3.2.1 Hoàn cảnh xã hội, chính sách văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng 71
Trang 6Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội dân gian truyền thống là một hình thức sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của người dân đất Việt Từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống văn hoá tinh thần của cư dân nông nghiệp nước ta Vì vậy, ngày nay trên bất cứ một làng quê nào chúng ta cũng
có thể gặp các lễ hội đang diễn ra rất sôi động Hội làng xưa là một nét sinh hoạt văn hoá tổng hợp của người nông dân ở khắp các làng xã Việt Nam cổ truyền Đến dự lễ hội là dịp người dân được hoà mình vào không khí đông vui nhộn nhịp, cùng chơi, ăn uống và tiến hành các hoạt động tín ngưỡng phong tục Có thể nói đây chính là nét đặc sắc trong văn hoá dân gian Trong lễ hội con người không có khoảng cách, mọi tài năng, ước vọng được bùng lên, ai ai cũng được hoá thân trong không khí ngày hội Hội làng với các làng quê Việt Nam là một thời điểm mạnh bởi vì chính người dân được thăng hoa, được hưởng thụ những khoái cảm, thẩm mỹ, mặt khác trong ngày lễ hội sợi dây gắn kết giữa các cá nhân trong cộng đồng ngày càng được thắt chặt hơn Chính vì
lễ hội thiêng liêng, trang trọng, và vui vẻ nên ngày hội thường lắng đọng trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam Có thể nói rằng lễ hội ngày một mang tính xã hội sâu sắc Việc bảo tồn cũng như phát huy các giá trị văn hoá của hoạt
động lễ hội ngày càng được các nhà quản lí văn hoá lưu tâm Nhất là trong thời đại ngày nay khi mà Việt Nam đã hội nhập với thế giới việc bảo tồn những yếu tố văn hoá truyền thống ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Bảo tồn các di tích lễ hội cũng như giá trị văn hoá làng xã là động lực cho chúng ta phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững Tìm hiểu văn hoá làng xã, các yếu tố văn hoá dân gian, loại bỏ những mặt hạn chế cũng như hiểu không đúng về lễ hội đồng thời cũng đóng góp vào việc xây dựng bản sắc văn hoá trong thời kì đổi mới Đồng thời đề ra các giải pháp bảo tồn và phát huy
Trang 7các giá trị tốt đẹp của lễ hội trong công cuộc phát triển kinh tế nông thôn, nhất
là góp phần xây dựng đời sống văn hoá trong cộng đồng dân cư, góp phần phát triển du lịch, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đúng như nghị quyết trung ương 5 khoá VIII đã khẳng định
2 Lý do chọn đề tài
2.1 Di tích lễ hội Trò Trám gắn liền với tín ngưỡng phồn thực, một trong những tín ngưỡng dân gian cổ nhất của người Việt, tín ngưỡng thờ những vị thần phù hộ cho con người, mùa màng được sinh sôi nảy nở Trong một thời gian dài có nhiều khi còn hiểu chưa đúng về nó, còn cho rằng đó là
“tục tĩu” Thời gian gần đây với quan điểm bảo tồn và phát huy văn hoá dân gian mới được khôi phục lại, gắn liền với lễ hội này là các di tích như miếu Trò nơi diễn ra lễ hội hiện đang được đề nghị xếp hạng di tích cũng bị xuống cấp và cần được bảo tồn, tôn tạo, nhưng chưa có căn cứ khoa học để bảo tồn nguyên gốc và phát huy các giá trị đích thực của văn hoá truyền thống Do đó làm sai lệch hoặc bị biến dạng các di sản văn hoá theo hướng “hiện đại hoá” các di tích lịch sử và lễ hội Điều này cũng đòi hỏi sự nghiên cứu chi tiết và
đầy đủ nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của tín ngưỡng đặc sắc này, nên việc tìm hiểu, tập hợp và xử lí các nguồn tư liệu liên quan một cách
hệ thống là hết sức cần thiết, nhằm ghi nhận những biến thái của hoạt động văn hoá này theo thời gian lịch sử
2.2 Tín ngưỡng phồn thực có một vị trí khá đặc sắc trong hệ tín ngưỡng dân gian đa thần của người Việt, đặc biệt lễ hội Trò Trám với biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực được diễn ra ở Tứ Xã, một nơi có thể coi là cái nôi phát sinh ra nghề trồng lúa nước Do vậy việc nghiên cứu hình thức tín ngưỡng dân gian này ở lễ hội làng Tứ Xã sẽ có tác dụng làm rõ hơn tính đặc sắc của hiện tượng này
2.3 Nghiên cứu lễ hội làng Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ nhằm góp phần tìm hiểu, lý giải nguồn gốc, hiện tượng và bản chất của tín ngưỡng phồn thực
Trang 8và các trò diễn trong lễ hội Trò Trám, hơn nữa cũng giúp chúng ta trong việc tìm ra các giá trị văn hoá dân gian truyền thống tiềm ẩn trong lễ hội, giúp chúng ta bảo lưu và gìn giữ hình thức tín ngưỡng dân gian này trong cuộc sống đương đại, góp phần cho việc nghiên cứu về tín ngưỡng, lễ hội nói chung
và tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội nói riêng đạt nhiều thành tựu mới
2.4 Sự tác động của kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội hiện nay đã làm cho lễ hội nói chung và lễ hội ở làng quê nói riêng có những biến đổi theo cả hai xu hướng tích cực và tiêu cực Lễ hội Trò Trám cũng nằm trong tình trạng
đó Nghiên cứu lễ hội này, nhằm tìm ra những giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá của nó trong đời sống xã hội hiện đại là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc “bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể” ở địa phương
Từ những yêu cầu cấp thiết trên phương diện thực tiễn và lý luận trong việc sưu tầm, nghiên cứu lễ hội nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: Lễ hội Trò Trám ở Tứ Xã - Lâm Thao – Phú Thọ làm đề tài luận văn cao học
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Tình hình nghiên cứu
Từ lâu đề tài “lễ hội” đã được nghiên cứu khá nhiều dưới nhiều góc độ
và những quan điểm khác nhau Tín ngưỡng phồn thực với những ý nghĩa và giá trị văn hoá nhất định đã được phổ biến và tồn tại rất lâu trong đời sống dân cư đồng bằng Bắc Bộ không còn là vấn đề mới mẻ, và đã được đề cập đến trong các nghiên cứu sau
* Nhóm công trình nghiên cứu chung về lễ hội
+ Các cuốn chuyên luận và chuyên khảo về lễ hội như Nếp cũ – Hội hè
đình đám (1991, 2 tập) của Toan ánh, Việt Nam phong tục (1992) của Phan
Kế Bính, Lễ hội truyền thống và hiện đại (1984) của Thu Linh và Đặng Văn
Trang 9Lung, Hội hè Việt Nam (1990) của Trương Thìn, Lễ hội một nét đẹp sinh hoạt
văn hoá cộng đồng (1998) của Hồ Hoàng Hoa, Lễ hội truyền thống trong đời sống hiện đại (1994) của Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng chủ biên, Kho tàng
lễ hội cổ truyền (2000) của nhiều tác giả, Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ (2001) của Nguyễn Quang Lê
chủ biên
+ Các bài chuyên luận đăng trên các tạp chí Văn hoá dân gian như
Nghiên cứu về hội làng cổ truyền của người Việt (1984) của Lê Thị Nhâm
Tuyết, Lễ hội một các nhìn tổng thể (1986) của Trần Quốc Vượng, Hội làng –
Hội lễ (1984) của Lê Trung Vũ, Một số suy nghĩ về nguồn gốc và bản chất của lễ hội cổ truyền dân tộc (1992) của Nguyễn Quang Lê, Vài nét về hội làng trên đất tổ và những yếu tố văn hoá Hùng Vương (1984) của Nguyễn Khắc
Xương, Một số vấn đề về lễ hội cổ truyền trong cuộc sống hôm nay (2001)
của Nguyễn Chí Bền
* Nhóm các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng và tín ngưỡng phồn thực nói chung
Quang, Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam (2001) của Ngô Đức Thịnh chủ biên, Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam (1994) của Nguyễn Minh San, Từ điển lễ tục (1996) của nhiều tác giả, Nếp cũ tín ngưỡng Việt
Nam (1991, 2 tập) của Toan ánh, Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam (2001) của Nguyễn Đăng Duy
* Nhóm các công trình nghiên cứu về lễ hội Trò Trám
Gồm các cuốn như 60 lễ hội truyền thống Việt Nam (1995) của Thạch Phương và Lê Trung Vũ, Lễ hội cổ truyền (1992) của nhiều tác giả, Lễ hội
truyền thống vùng đất tổ (tái bản 2006) của Sở Văn hoá Thông tin Phú Thọ,
Trang 10Tổng tập văn hoá dân gian đất tổ (tập 2) của Sở VH - TT Phú Thọ, Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam (1997) của Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo
Các cuốn đề cập đến Trò Trám chủ yếu dừng lại ở miêu thuật hay điểm luận lễ hội Trò Trám Tuy nhiên lễ hội Trò Trám là một lễ hội truyền thống
đã tồn tại lâu đời chứa đựng những giá trị văn hoá dân gian đặc sắc đến nay vẫn chưa phải là một đối tượng nghiên cứu chính của một đề tài nào
Các bài viết và công trình nêu trên đã giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu lễ hội và tín ngưỡng ở Việt Nam, hơn nữa cũng tạo nền tảng lý luận cho việc thực hiện đề tài này Tuy nhiên, do hiểu biết và nguồn tài liệu còn hạn chế nên luận văn này mới chỉ là nghiên cứu bước đầu
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các yếu tố, hiện tượng văn hoá liên quan đến lễ hội Trò Trám của làng Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ được
tổ chức hàng năm vào ngày 11 và 12 tháng giêng Bao gồm cả quần thể di tích
có liên quan đến tín ngưỡng thờ phồn thực ở lễ hội này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn của đề tài này là lễ hội Trò Trám làng Tứ Xã với hai trọng tâm chính một là các di tích, thần tích có liên quan tới lễ hội Trò Trám cụ thể là miếu Trò Trám và điếm Trám, khảo sát và mô tả lễ hội diễn ra trong một thời
điểm cụ thể, xem xét yếu tố phồn thực trong lễ hội, có so sánh với một số lễ hội có yếu tố phồn thực ở Phú Thọ và các tỉnh khác ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ
5 Mục đích nghiên cứu
Từ góc độ văn hoá, trên cơ sở khảo sát tiến trình lễ hội và di tích liên quan, luận văn sẽ làm sáng tỏ cội nguồn, bản chất và những giá trị văn hoá
Trang 11truyền thống của lễ hội Trò Trám giúp nhân dân địa phương hiểu đúng đắn bản chất của lễ hội, nâng cao ý thức ứng xử và lòng tự hào về quê hương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá quý báu của địa phương mình
Nghiên cứu thực trạng và những biến đổi của lễ hội Trò Trám từ xưa
đến nay trong không gian văn hoá làng Tứ Xã đồng thời tìm ra hướng khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác tổ chức, quản lí lễ hội trên cơ sở đó
đưa ra một số đề xuất cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của lễ hội này trong xã hội hiện nay
- Sử dụng các thiết bị nghe nhìn hiện đại như máy chụp ảnh, camera, ghi
âm để phục vụ công tác nghiên cứu
Ngoài ra chúng tôi còn áp dụng các phương pháp cụ thể như: thống kê, miêu tả vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong đó kế thừa các kết quả nghiên cứu của ngành lịch sử học, dân tộc học, khảo cổ học, văn hoá dân gian học và văn hoá học để xử lí các nguồn tư liệu khi viết luận văn
7 Đóng góp của luận văn
- Bước đầu hệ thống hoá tư liệu về lễ hội Trò Trám và những tư liệu có liên quan đến di tích còn lưu tại Tứ Xã, đặc biệt về miếu thờ và điếm Trám có liên quan đến tín ngưỡng lễ hội Trò Trám
Trang 12- Nghiên cứu và tìm hiểu về nguồn gốc truyền thuyết miếu thờ và tín ngưỡng cũng như mô tả chi tiết nhằm tái hiện lại lễ hội tín ngưỡng phồn thực cũng như bước đầu đánh giá giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội này
- So sánh tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội làng Tứ Xã với một số lễ hội có yếu tố phồn thực ở Phú Thọ và các địa phương khác ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ để thấy được những nét tương đồng và khác biệt
- Nghiên cứu phân tích những giá trị của lễ hội làng Tứ Xã như một hoạt động thiết thực góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống trong chiến lược phát triển kinh tế, văn hoá, du lịch vùng
- Phân tích những tồn tại và hạn chế trong công tác tổ chức và quản lý
lễ hội, bước đầu đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của lễ hội làng Tứ Xã
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương, có kết cấu như sau:
Chương 1: Tổng quan về làng cổ Tứ Xã
Chương 2: Tín ngưỡng và Lễ hội Trò Trám ở Tứ Xã
Chương 3: Sự biến đổi văn hoá lễ hội và vấn đề đặt ra
Trang 13Đến Tứ Xã đi theo các phương tiện đường bộ và đường thuỷ đều thuận tiện
Đường bộ: từ Việt Trì theo quốc lộ số 2 lên đê sông Hồng theo đường 312C đến địa phận thôn Dục Mỹ – xã Cao Xá, rẽ trái theo đường 324 đến địa phận xã Tứ Xã
Đường thuỷ: Đi theo các phương tiện tàu thuyền xuôi ngược theo sông Hồng đến địa phận Bản Nguyên rẽ phải lên bến đò Lời theo đường 324 khoảng 200m đến Tứ Xã
1.1.2 Môi trường tự nhiên
Làng Tứ Xã nay là xã Tứ Xã với diện tích đất tự nhiên là 815,6 ha, trong đó đất nông nghiệp có 612 ha, đất thổ cư chuyên dùng có 203,6 ha Toàn bộ xã trải dài trên 4 km Chiều rộng từ Tây sang Đông mặt bằng diện tích là 2.039 km
Là một xã thuộc vùng trung du Bắc Bộ, trước đây thuộc tỉnh Vĩnh Phú, nay tách ra trở về tên cũ là Phú Thọ Trong lịch sử con sông Hồng luôn luôn
có sự biến đổi dòng chảy, vì thế có lúc dòng sông chảy sát làng Tứ Xã Khi ấy làng là một vùng gò bãi nổi Phù sa sông Hồng ngày một bồi đắp những chỗ trũng cao dần lên Vì thế Tứ Xã có chênh lệch độ cao giữa gò và đồng hầu như
Trang 14không đáng kể Làng nằm trong vùng đất thuộc quốc gia Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước, có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, trước kia tuy bị ngập nước song đất ở đây rất tốt, mặt khác lại có nhiều sản vật, tôm cá nên sớm có người Việt cổ đến định cư và sinh sống
Khí hậu ở đây mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa, với bốn mùa rõ rệt Xuân – Hạ - Thu - Đông Chế độ mưa nắng, nhiệt độ, độ ẩm diễn biến theo chu
kỳ khép kín của bốn mùa đó Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600ml, nhiệt độ 23 độ Với khí hậu và độ ẩm thích hợp cho thực vật phát triển
1.2 Lịch sử lμng Tứ X∙
Các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kim Biên đã chứng minh rằng đất
tổ Hùng Vương, Phú Thọ là trung tâm sinh tụ của người Việt cổ, là địa bàn gốc của các vua Hùng với Kinh đô Văn Lang nằm tại ngã ba sông Hồng, sông Lô và sông Đà [4, tr.6] Chính tại địa bàn này, ngay từ rất sớm từ buổi đầu bình minh lịch sử đã hình thành một nền nông nghiệp lúa nước Cũng từ đó một nền văn hoá cổ truyền với các phong tục lễ hội dân gian đầy sức sống và bản sắc ra đời, trải qua các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và chống thiên tai lũ lụt (gần như là thường xuyên trong lịch sử dân tộc) chỉ càng thêm được củng cố và phát triển
Vào thời Hùng Vương, làng Tứ Xã thuộc bộ Văn Lang có tên là Ko Lang, tiếng Việt lúc ban đầu chưa có thanh điệu (chưa có dấu như bây giờ) thì âm Lang, Láng, Làng đều chỉ vị trí cư trú gần nước Cho đến bây giờ làng Tứ Xã vẫn còn những nơi gọi là Láng như Láng Cả, Láng Thờ, Láng Vòi, Láng Thủm…
Nhiều nhà khoa học cho rằng Tứ Xã là một trong những làng cổ nhất của Phú Thọ Qua các chứng tích có thể khẳng định được Tứ Xã từng là cái nôi của người Việt cổ ở đây đã khai quật được các di chỉ khảo cổ Gò Mun có niên đại trên dưới ba ngàn năm, tương đương với giai đoạn văn hoá được mang tên chính nó là Văn hoá Gò Mun Các địa điểm khảo cổ khác như Đồng Đậu
Trang 15Con, mang dấu ấn của nền văn hoá Đồng Đậu, địa điểm Gò Chiền, Gót Rẽ mang những dấu ấn phát triển cao hơn của nền văn hoá Đông Sơn Tại xóm Liên Minh người ta đã phát hiện ra di chỉ khảo cổ Đông Sơn tương ứng với thời kỳ ra đời nhà nước Văn Lang cách đây khoảng trên dưới 2500 năm Qua các di chỉ khảo cổ ấy cũng đủ thấy Tứ Xã từng đã là địa bàn cư trú liên tục của người Việt từ mấy nghìn năm trở lại đây
Dòng Nậm Tao (Sông Thao) xa xưa luôn đổi dòng trên đồng đất Tứ Xã dân làng vì thế cũng phải nhiều lần rời làng lên những gò đất cao không lụt lội
và tiện lợi cho việc làm ruộng nước và đánh bắt cá cua, làng một thời ở khu
Đồng Trong Theo thần tích ở chùa Tổng thì thời á Hồng Bàng cha con ông Ngô Quang Điện đã rời làng từ Đồng Trong về làng hiện nay [28] Xa xưa làng này thuộc về phủ Tam Đới rồi trấn Sơn Tây Có thời làng nằm trong huyện Sơn Vi Đến thời Nguyễn làng mới thuộc địa dư của tỉnh Hưng Hoá và sau này là tỉnh Phú Thọ Địa hình Phú Thọ trước kia bị chia cắt bởi núi và đầm lầy, vùng hạ huyện Lâm Thao và Việt Trì khi chưa có các công trình thuỷ lợi việc canh tác trên các ruộng sình lầy rất khó khăn, và vì vậy giao thông cũng rất trở ngại, từ Thăng Long lên mạn Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang ngoài đường thuỷ có lẽ chỉ có một con đường bộ đi qua Kẻ Gáp Đoạn
đường Thiên Lý đi qua địa phận của làng Kẻ Gáp cũng được gọi là bờ Thiên
Lý Do vị trí quan trọng như vậy nên nơi đây đã từng diễn ra nhiều trận đánh quan trọng chống quân xâm lược phương Bắc sang thôn tính nước ta Thời Trần có tướng quân Lân Hổ giúp nhà Trần đánh thắng quân Nguyên Mông Ngày nay còn di tích thờ vị tướng này ở ngay trên Đồng Dọc, sát cầu Đồng Dọc [41, tr.142]
Khi triều đình phong kiến lập sổ bộ để kiểm kê đất đai và thống nhất ghi tên các địa danh thì tên làng Kẻ Gáp được phiên theo âm Hán – Việt gọi
là làng Thạch Cáp, viết theo chữ nôm là làng Lỗ Cáp Tất cả các tên gọi Kẻ
Trang 16Gáp – Thạch Cáp – Lỗ Cáp mặc dù có khác nhau ở âm sắc nhưng đều có chung một nghĩa đó là nơi gặp gỡ
Ban đầu làng chỉ có một làng Kẻ Gáp (thôn Gáp, xã Gáp) theo mô hìmh
“nhất xã, nhất thôn”, tổ chức làng xã còn khá đơn giản với không khí sinh hoạt thân tình, gần gũi, quan hệ mang tính chất bình đẳng Tiếp đó trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc người dân Tứ Xã phải đấu tranh chống lại sự đô hộ
và sự đồng hoá của kẻ thù phương Bắc, các thành viên trong làng phải đoàn kết nhau lại duy trì mối quan hệ cộng đồng sẵn có với bản năng tự vệ “co lại
để kháng” Sức mạnh tinh thần cố kết dân làng đó chính là các vị thần linh, Thành hoàng làng, các phong tục tập quán, truyền thống trong lao động sản xuất đã được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước “Sau một nghìn năm Bắc thuộc các làng xã ở thung lũng sông Hồng và dọc theo bờ biển vẫn do một dân tộc về bản chất không hề bị thay đổi và đồng bằng hoá bằng cư trú ở đó…” [23, tr.19]
Thế kỷ thứ 10, sau khi giành độc lập dân tộc bộ mặt làng Tứ Xã đã có nhiều thay đổi, cũng như nhiều các làng xã Việt Nam lúc bấy giờ đời sống làng xã Tứ Xã bị thế lực nhà nước can thiệp Năm 907 vào thời Khúc Hạo ở làng Tứ Xã đã có các chức chánh, tá lệnh trưởng, quản giáp, phó chi giáp Thời nhà Trần các làng xã Việt Nam nói chung và Tứ Xã nói riêng đã được nhà vua bổ nhiệm các chức đại tư xã, tiểu tư xã cùng các xã chính, xã sử, xã giám Vua Trần Nhân Tông đã trao cho các xã quan nhiệm vụ “khai báo nhân khẩu gọi là đơn số” Cũng từ đây trong làng Tứ Xã bắt đầu xuất hiện một tỷ lệ nhỏ của mầm mống chế độ tư hữu về ruộng đất, làm tiền đề cho việc phân hoá giai cấp trong làng về sau này [41, tr.219]
Thời kỳ đầu làng Gáp chỉ có một xã là xã Thạch Cáp, nhưng quá trình phát triển dân số một ngày càng đông lên do sự phát triển dân số cũng như có một số dân ở nơi khác di cư tới làm ăn sinh sống ở Tứ Xã ngoài dân có gốc ở
Trang 17đây còn có dân khác gọi là dân ngụ cư hay dân ngoại tịch Thường thì số dân ngụ cư bị phân biệt đối xử khá nặng nề, họ phải lao động vất vả, phải đi lao dịch trong nội bộ làng hoặc đi làm thuê làm mướn cho các dân chính cư trong việc đi phu phen tạp dịch cho nhà nước Chính vì vậy nên mâu thuẫn trong làng tăng, nạn cá lớn nuốt cá bé và nạn hương đảng lôi kéo một bộ phận dân cư Tứ Xã rủ nhau xây dựng thêm ngôi đình Trân Vĩ và tấu trình lên triều đình xin phép thành lập nên xã mới cùng có tên với ngôi đình là Trân Vĩ Từ đó làng Tứ Xã có hai xã là Tứ Xã và Trân Vĩ
Quá trình phát triển tiếp theo có sự phân tách từ hai xã thành bốn xã Lần phân tách cuối cùng làng Tứ Xã được chia làm năm xã, còn gọi là Ngũ Xá Nhưng vì trong lúc giải quy để thành lập xã Đông Thịnh (hay Ngũ Xá, xã thứ năm) thì cách mạng tháng Tám nổ ra, triều đình nhà Nguyễn chưa kịp ghi tên xã Đông Thịnh vào sổ đăng ký danh bạ nên xã Đông Thịnh chưa được chính quyền mới công nhận Do vậy tính đến trước cách mạng tháng Tám làng
Tứ Xã có bốn xã được tạo thành đó là làng Gáp, làng Trân Vĩ, làng Hùng Lãm, làng Vân Cáp Trong quá trình sắp xếp lại tổ chức của bộ máy hành chính theo cơ cấu bốn cấp từ Trung ương – Tỉnh (Thành phố tương đương) – Huyện – Xã làng Tứ Xã đã sát nhập bốn xã lại thành tên gọi Tứ Xã và duy trì cho đến ngày nay [39, tr.32]
Trang 18nhà nghiên cứu có cho rằng vào thế kỷ XIV- XV một số tù binh Chàm bị triều
đình đem về giam giữ tại Tứ Xã, tù binh của cuộc chiến tranh giữa nhà Trần thời Đại Việt với quốc gia Chăm Pa Sau khi mãn hạn tù họ không trở về quê hương mà ở lại sinh sống rồi lấy vợ sinh con, đẻ cái và truyền bá văn hoá Chăm Pa, gây tác động biến đổi tính bản địa của nền văn hoá truyền thống của làng cổ Tứ Xã Tuy nhiên giả thiết này khó được chấp nhận bởi lẽ Đây là các
tù binh của cuộc chiến tranh giữa nhà Trần và nhà nước Chăm Pa Họ bị nhà Trần giam giữ chứ không phải tự nhiên di cư tự do đến đây làm ăn, sinh sống
Do vậy ảnh hưởng của văn hoá Chàm do số người này mang theo là rất nhỏ, không đủ để tác động đến nền văn hoá gốc Tứ Xã Quy luật của sự đồng hoá văn hoá cũng giống như quy luật dòng chảy tự nhiên của con sông, đó là nền văn hoá cao hơn sẽ tác động và đồng hoá nền văn hoá thấp hơn Chính các phong tục tập quán lâu đời được hình thành nơi đây đã tác động và đồng hoá
họ để thích ứng và hoà hợp với văn hoá bản địa Các nhà nghiên cứu về vấn đề trên đã thống nhất nhận định rằng: tổ chức xã hội, đời sống kinh tế, văn hoá bản địa làng Tứ Xã vẫn không hề thay đổi trước việc tù binh Chăm bị giam giữ
ở làng hồi thế kỷ XIV- XV Nhìn chung dân cư ở đây có chung một hình thái kinh tế, một không gian văn hoá, một trục văn hoá có từ thời Hùng Vương dựng nước hoàn toàn giữ được yếu tố bản sắc riêng biệt không bị pha tạp, ảnh hưởng của các vùng văn hoá khác
+ Tổ chức làng x∙
Ngay từ khi hình thành làng cổ Tứ Xã đã có một số dòng họ đến sinh sống và cư trú Một số dòng họ đến cư trú ngay từ những buổi đầu lập làng như họ Nguyễn, họ Văn, họ Bùi, họ Hoàng, họ Dương, họ Khổng và một số
đến sau như họ Ngô, họ Đinh, họ Chử Đến nay có thêm rất nhiều các dòng
họ khác đến sinh cơ, lập nghiệp tại đây Theo thống kê sơ bộ hiện nay làng có khoảng gần 40 dòng họ sinh sống Những dòng họ lớn ở Tứ Xã đã có thời gian cư trú hàng ngàn năm nay Có những dòng họ sống ngụ cư ở đây đã hàng trăm
Trang 19năm nay và đã trở thành dân chính cư, họ cũng không còn nhớ nguồn gốc của
họ từ đâu tới nữa
Cùng với sự phát triển và biến đổi có sự xen cư giữa các dòng họ với nhau và cũng gắn bó với nhau thân thiết trên cơ sở “Tình làng nghĩa xóm” tạo nên mối quan hệ xã hội làng xã rất chặt chẽ Ngoài tình cảm họ hàng mang tính chất dòng họ, người dân Tứ Xã còn gắn bó với nhau bằng tình cảm xóm giềng tạo nên mối quan hệ tổng hoà “Trong họ, ngoài làng” khăng khít, là chỗ dựa tinh thần vững chắc của dân làng cổ Tứ Xã mà người ngoài khó có thể phá
vỡ được
Cũng giống như quan hệ của các dòng họ ở các nơi khác, quan hệ dòng
họ ở Tứ Xã cũng rất chặt chẽ, tôn ti trật tự, trên dưới phân biệt theo các chi trên, chi dưới theo niêm luật khá chặt chẽ “Bé bằng củ khoai cứ vai mà gọi” Quan hệ dòng họ có nhiều yếu tố tích cực góp phần cho các dòng họ phát triển trên cơ sở giúp đỡ, cưu mang nhau trong lao động sản xuất Các dòng họ lớn ở
Tứ Xã đều có nhà thờ họ “Từ đường” chính vì vậy mà các thành viên trong dòng họ luôn phải nêu cao tinh thần đoàn kết trong nội bộ dòng họ, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần “Lá lành đùm lá rách” Truyền thống của người dân ở Tứ Xã vốn trọng những gia đình lớn có sự cộng cư của nhiều thế
hệ trong một ngôi nhà, đề cao những gia đình “Tứ đại đồng đường”, “Ngũ đại
đồng đường” cùng sinh sống Bởi theo họ, những gia đình này thường có lịch
sử cư trú lâu đời ở làng, hơn thế đó là những gia đình có bề dày truyền thống
và giữ vững được những giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam
Một hình thức tổ chức quan trọng của làng Tứ Xã xưa kia là xóm, ngõ Mọi người dân đều phải sinh hoạt trong tổ chức xóm thuộc địa bàn cư trú của mình Trước cách mạng tháng Tám làng Tứ Xã có tất cả 32 xóm Với tổ chức xóm khá dày đặc đã tạo nên bộ mặt sầm uất, trù phú của làng cổ Tứ Xã và sự gắn bó mật thiết giữa các xóm dân cư với nhau, làm nên tình cảm xóm làng
Trang 20thân thiết láng giềng đầm ấm Cùng với việc tổ chức các sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng mang đậm yếu tố cộng đồng chính là nhân tố quan trọng tạo nên nguồn sức mạnh tổng hợp giúp cho làng Tứ Xã tồn tại và phát triển cùng lịch
sử dựng nước và giữ nước trên quê hương đất tổ trong suốt mấy nghìn năm Dân chủ làng xã cổ truyền được duy trì tốt ở Tứ Xã Các cụ già làng kể lại rằng các làng lân cận bị bọn kỳ hào đè đầu cưỡi cổ dân như lý trưởng làng Thanh Mai bắt dân làng khiêng kiệu mình khi đi lại, hay như một quan quận công làng Dòng bắt dân làng phá lệ khi cầu tế, nếu hắn chưa ra đình thì không
được nổi chiêng trống và cầu tế Một lần, dân làng chờ hắn quá lâu, một ông đồ nho thầy dạy viên quan này bảo dân làng cứ làm để ông chịu trách nhiệm khi ra
đình viên quan đã chém thầy đồ đó… Nhưng ở Tứ Xã do dân đen xã này ở kề
lý trưởng xã kia nên không ai bắt nạt được ai, nhiều người tài lý sự đã đánh đổ bọn lý dịch Thậm chí chánh tổng cũng bị dân thường kiện mất chức Dân trong hội “ném quân” ném gãy chân ngựa quan huyện cũng vô tội Làng có ông chánh Trành là dân thường nhưng tài lý sự đến kỳ hào chức dịch phải sợ
Một tổ chức xã hội tương đối chặt chẽ ở Tứ Xã đó là Giáp Giáp là một
tổ chức tự quản của đàn ông đã có từ lâu đời và khá bền chặt Từ trẻ em ẵm ngửa cho đến cụ già đều phải đăng ký vào tổ chức giáp theo gia đình Bố ở giáp nào thì con ở giáp ấy, khi sinh con trai người bố có cơi trầu đến xin cho con được vọng giáp và được ghi tên vào sổ hương ẩm Sau thủ tục này đứa trẻ
đã có đủ tư cách tham gia các việc của giáp Tuy nhiên nó tồn tại đến trước cách mạng tháng Tám rồi cũng dần bị mai một Ngoài ra cũng phải kể đến một số tổ chức của các ngành nghề như Phe, Phường Chặng, Phường Chèo, Phường Trâu…
Phe là một tổ chức mang tính nghề nghiệp nhằm giúp đỡ nhau thực hiện các công việc của ngành nghề sao cho thuận tiện và kết quả nhất Làng Tứ Xã
đã nổi tiếng có nghề mộc được ra đời từ rất sớm khi ra đời các khu dân cư
Trang 21cùng với nhu cầu xây dựng các ngôi nhà, đình, chùa…ở Tứ Xã đã từ lâu truyền nhau câu ca dao: “Thợ mộc Tứ Xã, thợ ngoã Sơn Vi” Những người làm thợ mộc ở đây lập ra các phường nghề mộc gọi là phe Phe là tổ chức nghề nghiệp rất quan trọng đối với những người thợ mộc vì phe gắn kết những người cùng nghề với nhau mang tính cộng đồng, tạo “công ăn, việc làm”, giúp
đỡ tương trợ lẫn nhau về nghề nghiệp và trong cuộc sống
Phường Trâu: là tổ chức của những người buôn trâu trong phạm vi làng
Tứ Xã Những người chuyên làn nghề buôn trâu dùng làm sức kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp và trâu phế canh dùng để giết thịt làm thực phẩm bán trong các phiên chợ làng Đây là tổ chức mang tính chất nghề nghiệp buôn bán, do vậy họ cần phải liên kết với nhau để giúp đỡ nhau trong việc tìm nguồn hàng
và nơi tiêu thụ
Tương tự như thế ở Tứ Xã có tổ chức mang tính nghề nghiệp khá điển hình đó là Phường Chèo, tập hợp những người biết hát chèo thành một tổ chức
và do một người có trình độ chuyên môn cao nhất làm chùm phường để lãnh
đạo các thành viên hoạt động Họ đi diễn khi thời vụ đã vãn, từ trong làng ra ngoài làng, cho đến các vùng lân cận khác Những người tham gia phường chèo không sống bằng nghề diễn Họ hoạt động vì say nghề Còn một số tổ chức khác như hội Tư văn, hội Bản binh hàng đội, hội Đồng môn, Đồng tuế Hiện nay theo mô hình tổ chức hành chính mới, xã Tứ Xã được chia theo các khu dân cư Toàn xã được phân thành 23 khu hành chính dưới sự quản lý của chính quyền xã, cùng với các tổ chức, đoàn thể như Đảng, Đoàn, các hội như hội Phụ nữ, hội Người cao tuổi, hội Cựu chiến binh…
Như vậy, chúng ta thấy cơ cấu tổ chức ở làng cổ Tứ Xã với các hình thức rất đa dạng, vừa bảo lưu cơ cấu xã hội làng xã cổ truyền Việt Nam (dòng
họ, giáp, làng) vừa hình thành những mô thức mới (Phường, Phe, Hội) theo
Trang 22nhu cầu phát triển sản xuất mới trong điều kiện môi trường tự nhiên và xã hội biến đổi
+ Đời sống kinh tế
Xưa kia làng là vùng chiêm trũng, đồng ruộng cấy một vụ chiêm Sau cách mạng nhờ có hệ thống thuỷ lợi với kênh Lâm Hạc và trạm bơm hút Trịnh Xá đồng làng đã trở thành hai vụ, nay thành ba vụ Giống như nhiều làng người Việt khác nhân dân Tứ Xã lấy nghề nông trồng lúa nước là chính Ngoài
ra làng còn có nghề mộc (nghề phụ) Các sản phẩm mộc do người dân Tứ Xã làm ra ở nửa làng phía trên, còn nửa làng phía dưới có nghề đánh bắt tôm cá Làng cũng còn có nghề dệt vải Vải Tứ Xã bán khắp các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai…
Ngày nay kinh tế làng Tứ Xã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, làng vẫn thuộc một trong những làng giàu mạnh nhất của vùng đất tổ Song song với việc tăng cường phát triển sản xuất nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi Để đẩy mạnh phát triển kinh tế Tứ Xã thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế như phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản theo quy mô lớn và có năng suất, chất lượng cao Là một vùng chiêm trũng, nên hàng năm xã chỉ cấy được khoảng 70% diện tích hai vụ lúa ăn chắc còn lại là diện tích cấy một vụ nhưng cũng bấp bênh, chính quyền đã chỉ đạo chuyển những khu đồng trũng cấy lúa không hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản cho thu nhập cao gấp nhiều lần so với trồng lúa [22, tr.184]
Mặc dù là một xã thuần nông song chính quyền xã đã khuyến khích động viên nhân dân mở rộng phát triển các ngành nghề, dịch vụ thương mại Toàn xã
có hơn 100 hộ sản xuất và chế biến đồ mộc, 7- 8 hộ sản xuất cơ khí, nhiều hộ có máy xay sát, hoạt động dịch vụ vận tải với 16 xe công nông, 17 ô tô các loại… Doanh thu từ các ngành dịch vụ tăng lên đáng kể, tỷ trọng chiếm 54,4%, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp giảm còn 45,6% Đời sống nhân dân ngày một thay đổi, số
Trang 23hộ khá và giàu tăng, số hộ nghèo giảm (theo tiêu chí mới) chỉ còn 6,66%, bình quân giá trị thu nhập đạt 9,6 triệu đồng / người / năm [48] Các công trình phúc lợi công cộng như điện, đường, trường, trạm đều được nâng cấp, đầu tư theo hướng kiên cố khang trang, tiến tới mục tiêu chuẩn quốc gia
Cùng với việc phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân địa phương cũng được chú trọng phát triển và thu được những kết quả rất khả quan Gần đây đã có hai em học sinh của Tứ Xã đạt giải quốc tế về hoá học và toán học, một em tham gia giải Robotcom quốc tế Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao được đẩy mạnh Phong trào xây dựng gia đình, khu dân cư văn hoá, làng xã văn hoá đạt kết quả tốt Xã đã xây dựng được quy ước về thực hiện nếp sống văn hoá mới Công tác thông tin, tuyên truyền được tăng cường qua hệ thống truyền thanh, truyền hình, báo chí, bản tin… đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá tinh thần của nhân dân
1.3.2 Phong tục, tập quán
Về cơ bản các phong tục ở Tứ Xã cũng không có gì đặc biệt Các phong tục giống như các làng quê Phú Thọ nói chung Chủ yếu là theo phong tục thờ cúng tổ tiên, nên gia đình nào cũng có bàn thờ gia tiên Mỗi dòng họ có một nhà thờ họ ở Tứ Xã không có dòng họ nào có nhà Từ đường xây riêng biệt, chủ yếu kết hợp với ngôi nhà của gia đình Nhà Từ đường của dòng họ thường
đặt ở gian giữa của nhà trưởng họ, gian này được coi là thiêng liêng nhất trong ngôi nhà, nên mọi người trong gia đình và dòng họ rất có ý tự giác trong việc giữ gìn sự ngăn nắp chung Ông trưởng họ có trách nhiệm đăng cai những buổi họp họ hoặc giỗ tết, cúng tế tổ tiên Trước kia, họ nào cũng có ruộng công gọi là ruộng họ để cày cấy thu hoa lợi vào công quỹ chung của họ để chi phí cho những công việc chung như giỗ chạp hay giúp đỡ những người trong
họ gặp khó khăn, rủi ro bất ngờ
Trang 24Có một chút khác biệt trong tục lệ cưới hỏi khi xưa Mỗi năm có một ngày các già làng ngồi chứng kiến trong miếu thiêng Con trai tìm vợ cầm cần câu quăng dây câu vào cô gái mà mình thích Cô gái nếu ưng thì cầm dây (ăn mồi) rồi lôi vào miếu để sau đó mới được làm các bước dạm hỏi cưới xin Có khi bị cô gái mình không ưa cướp được thì anh con trai phải kéo cho đứt dây
để ngày này năm sau mới đi “câu vợ” lại Có lẽ từ tục này mà trước đây con trai mới nói đi câu cô nọ cô kia
Đám cưới thông thường cũng được tiến hành theo các bước: lễ dạm mặt,
lễ ăn hỏi, lễ xin cưới, lễ cưới Sau đám cưới còn có lễ lại mặt, sau ba ngày vợ chồng mới cưới về thăm bố mẹ vợ theo phong tục Bữa ăn thường được tổ chức rất to nên người ta nói “lại mặt mà to hơn ăn cưới”
Tang ma cũng là một trong ba việc quan trọng nhất (sinh đẻ, lễ cưới, lễ tang) đối với người dân Tứ Xã Mọi việc ma chay, giỗ chạp đều được lo toan chu đáo Người chịu trách nhiện chính là ông quản Giáp Quản Giáp hỏi ý kiến của gia đình xem ngôi mộ để đâu thì phái một số trai tráng đi đào huyệt, một số khác chuẩn bị đòn, trống, cờ phướn chuẩn bị sẵn sàng Lễ giáo xưa quy
định các con trai người qua đời khi đưa đám phải đội mũ kết bằng bẹ chuối khô, mặc áo xô trắng, ngang lưng thắt dây chuối tết, tay chống gậy (cha tre,
mẹ vông) đi giật lùi trước linh cữu Con gái đội bồ đài xô, áo xô thắt dây chuối, đi chân đất [4, tr.275] Trong thời gian để tang ba năm các con trai, con gái không được dựng vợ gả chồng cũng như tham gia các sinh hoạt hội hè Lễ tưởng nhớ theo tập tục là: cúng 3 ngày, 49 ngày và 100 ngày Sau 100 ngày làm lễ bỏ bàn thờ phụ, đồng thời khấn cáo tổ tiên rằng nhà có ma mới, xin
đồng hưởng lễ vật với các bậc tiền bối Xưa kia, hủ tục nặng nề, cứ mỗi dịp tang là một dịp xóm làng có ăn uống Ngày nay, dân làng đã được bỏ lệ đó
Tinh thần kính trọng người già cả được biểu hiện ở tục “lên lão” hoặc còn gọi là “vào lão”, “vào nóc lão” [26, tr.282] Trong làng các cụ từ 50 tuổi
Trang 25trở lên được xếp vào hàng lão, được coi là thọ, được mọi người kính trọng với câu nói cửa miệng “kính già, già để tuổi cho” Sáu mươi tuổi được coi là trung thọ Bảy mươi tuổi là thượng thọ Tám mươi tuổi là thượng thượng thọ Trước kia, khi vào tuổi thọ các cụ phải sửa một lễ gọi là lễ trình làng, cáo thần linh ở
đình làng Lễ thường là có trầu cau, rượu, có thể thêm ván xôi gà tuỳ vào gia cảnh Từ lúc này các cụ được thừa nhận là lão làng, được xếp chỗ ngồi ở đình,
có phần xôi thịt riêng trong tiệc làng
Một tục thường thấy trong các làng quê Phú Thọ trong đó có Tứ Xã, đó
là tục “kết chạ” hay “kết nước nghĩa” Theo tục này, có thể kết chạ anh em giữa hai, ba làng có khi bốn làng hoặc nhiều hơn nữa Một nguyên tắc phổ cập
và chặt chẽ của tục kết chạ, đó là hai làng kết nghĩa với nhau anh em thì trai làng này không được lấy gái làng kia và ngược lại Làng Tứ Xã có tục kết chạ với làng Đồng Bảng, Hà Tây Do vậy các cô gái Tứ Xã không thể lấy trai làng
Đồng Bảng Đó chính là tục cấm kỵ hôn nhân của các thị tộc nguyên thuỷ, nó
đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá của làng quê Phú Thọ xưa kia
Nói chung làng cổ Tứ Xã vẫn gìn giữ được vốn văn hoá truyền thống của mình, một miền đất “giàu mạnh” nhất vùng đất tổ cả về vật chất lẫn tinh thần đúng như nhận xét của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn về Tứ Xã: Vì giàu mạnh nên mới bản lĩnh đến mức bảo thủ để giữ gìn phong tục [29]
1.3.3 Tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội, lễ tết theo phong tục cổ truyền
+ Tôn giáo tín ngưỡng
Tín ngưỡng thờ các Quan Thần Linh thổ công bản thổ (thổ Thần, thổ
Địa) được ra đời rất sớm ở Tứ Xã qua hệ thống miếu thờ, từ trước khi xuất hiện đình Kiến trúc ban đầu của miếu còn thô sơ, chủ yếu bằng các nguyên vật liệu tự nhiên như tranh, tre, nứa lá… sau khi nghề mộc phát triển thì được làm bằng gỗ, lợp bằng ngói âm và bên trong có xây bệ thờ Sau này nghề ngoã phát triển thì các ngôi miếu được xây khá công phu bằng vôi, cát, đá ong, mật
Trang 26mía… có thể kể đến như miếu Bù Nụ, miếu Trò, miếu Bà, miếu Mun, miếu
On Nhưng nay phần lớn các ngôi miếu đó đã bị mất không còn nữa
Đến thế kỉ XV, với sự ra đời của ngôi đình làng tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, thờ thần được di chuyển từ ngôi chùa đến ngôi đình, tạo nên một cuộc cách mạng giữa tín ngưỡng với tôn giáo
Cũng từ đây ra đời một loạt các ngôi đình, mỗi làng có một ngôi đình để thờ Thành hoàng làng, cụ thể đình Thạch Cáp (hay còn gọi là đình Đài) là ngôi
đình được xây dựng sớm nhất tại Tứ Xã Hàng năm mọi công việc tế lễ Thành hoàng làng, dâng sao giải hạn… đều được dân làng góp lễ vật để tiến hành các nghi thức cúng lễ rất trang nghiêm Ngoài ra còn có đình Hùng là nơi thờ tự của làng Hùng Lãm, đình Trân là nơi thờ tự của làng Trân Vĩ, đình Vân là nơi thờ
tự của làng Vân Cáp, đình Đông là nơi thờ tự của làng Đông Thịnh
Tín ngưỡng Thành hoàng làng ở Tứ Xã là đặc trưng cho làng Việt lấy nông vi bản: các tổ sư nghề không được thờ ở đình, Thành hoàng các đình là các nhân vật thời Hùng Vương, Hai Bà Trưng Vì thế tổ sư nghề mộc của làng là Lỗ Ban chỉ thờ ở Sở Tranh (tranh vẽ Lỗ Ban) Tổ sư nghề học chỉ thờ ở văn chỉ (Khổng Tử) Bà Ngô Thị Thanh dạy dân làng làm Trò Trám chỉ thờ ở miếu Trò
Ông Lân Hổ một danh tướng nhà Trần hy sinh ở đây được thờ ở đền Xa Lộc…
Có thể nói tôn giáo thờ Phật được du nhập vào địa bàn Tứ Xã từ rất sớm (khoảng những thế kỉ đầu Công nguyên) và được phát triển khá cường thịnh cùng với các ngôi chùa được xây dựng Với sự du nhập của Phật giáo dễ dàng
được hoà nhập với tín ngưỡng dân gian tạo nên sự hoà đồng giữa tín ngưỡng với tôn giáo Nó trở thành chỗ dựa tinh thần không thể thiếu được đối với các thế hệ người dân Tứ Xã Hiện tại làng còn tồn tại ngôi chùa Tổng là ngôi chùa thờ Phật lớn và cổ nhất Chùa nằm ở khu cuối chợ Tứ Xã được tu bổ khá khang trang trở thành trung tâm sinh hoạt tôn giáo thờ Phật của làng, ngoài ra còn một số ngôi chùa khác như chùa Vắp của làng Trân Vỹ thời kháng chiến
Trang 27chống Pháp chùa bị tiêu thổ kháng chiến đến nay chùa được gia đình ông Nguyễn Văn Liên cung tiến tiền của, cùng dân làng tôn tạo lại khá khang trang trên nền chùa cũ Một ngôi chùa nữa hiện vẫn còn và cũng được tu bổ đó
là chùa Vân, chùa này là nơi sinh hoạt của hội chư Bà ở nửa làng dưới Với
đạo Phật có thể nói hiện nay vẫn là tôn giáo có ảnh hưởng mạnh nhất, các bà, các cụ vẫn thường vào hội các vãi để thường xuyên đi lễ chùa
+ Lễ hội
Có thể nói Tứ Xã là nơi có rất nhiều các hoạt động lễ hội diễn ra hàng năm Cứ vào ngày tết vui vẻ thường vào ngày 3 tháng giêng trở đi cũng là lúc
nhân dân hai xã Tứ Xã và Sơn Dương tổ chức Hội đánh quân Mương Gáp
Nguồn gốc của hội đánh quân Mương Gáp được phản ánh từ tín ngưỡng của cư dân Tứ Xã và Sơn Dương là hai xã giáp nhau cùng lấy nghề trồng lúa nước
là chủ đạo nên rất cần có sự bình yên và may mắn Nhân dân hai xã quan niệm rằng đất nằm trên lưng “Con hoả”, địa hình xen lẫn ruộng rộc lại là nơi từng kinh qua rất nhiều trận đánh nào là Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, Tản Viên đánh vua Thục, thời Đại Việt nhà Trần kháng chiến chống quân Nguyên, Lê Lợi đánh giặc Minh v.v… Tuy quân ta thắng nhưng quân giặc chết nhiều cùng trở thành
ma thiêng nước độc Nên phải tổ chức ngày hội đánh quân để biểu dương sức mạnh trần gian tránh những tai hoạ do ma quái gây ra Từ lâu trong dân gian
đã lưu truyền câu ca dao :
Từ lâu để một lời nguyền Phải rầm rộ thế mới yên ổn làng
Ngày hội còn là hoạt động mang ý nghĩa kỉ niệm những ngày đóng quân và rèn luyện quân của thần Tản Viên Ngoài ra nó cũng còn phản ánh một thực tế lịch sử tranh chấp địa giới giữa hai làng trước kia Giữa hai làng từng có bất đồng về gianh giới, đã xảy ra đánh nhau nhiều lần và trở thành tục
lệ Một nguyên nhân khác dẫn đến có hội đánh quân là do có sự tranh chấp
Trang 28Long ngai thần ở đền Xa Lộc Trước kia Tứ Xã có ngôi đền thờ Lân Hổ ở gần cầu Xa Lộc Dân xã Sơn Dương thấy có nhiều linh ứng nên mới nảy ra ý định lấy trộm ngai về thờ trên đất của xã mình Vào một buổi tối tháng 3, (không rõ năm nào diễn ra sự việc ấy) Quả là linh ứng, do có sự báo mộng của thần đền
Xa Lộc nên dân làng đã tổ chức đánh lại dân làng Sơn Dương Không bên nào chịu thua bên nào, bên Gáp giành được đầu, bên Mương cướp được tay long ngai Cả hai bên đều thấy không đành thờ phụng long ngai khiếm khuyết như vậy, đang phân vân như vậy thì thần Xa Lộc ứng khẩu vào một cụ già đứng ra dàn xếp: cả hai làng cùng thờ chung và kết nghĩa anh em với nhau Ngày nay hội đánh quân Mương Gáp đã bị mai một không tổ chức được Nhưng trong trí nhớ của nhiều người vẫn không quên được không khí sôi nổi, hào hứng của ngày hội, nó phản ánh những biến động lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển của làng cổ Tứ Xã
Một trong những lễ hội không kém phần quan trọng đó là Lễ cầu tế ở
đền Xa Lộc Đền Xa Lộc có vị trí ở ngay đầu làng Thạch Cáp, thờ đức thánh
Lân Hổ Hầu là một vị tướng có công giúp nhà Trần dẹp giặc Nguyên Truyền thuyết kể lại rằng sau một trận giao chiến với giặc tại khu rừng Xa Lộc đầu làng Thạch Cáp tuy thắng lớn nhưng không may Đức thánh Lân Hổ bị trọng thương Người vẫn ngồi trên lưng ngựa dốc chiến Giặc tan rồi, Người mới ung dung đi đến xã Dục Mỹ, ở đây có một hàng cháo kê, Người xuống ngựa vào hàng “Bà có thấy ai như tôi thế này mà sống được không?” Bà hàng đến xem
kĩ thì Đức Thánh bị chém đứt cổ, chỉ còn dính cái họng Bà lập tức đi lấy nước rửa Rửa xong thì Người hoá [41, tr.200]
Trong năm có bốn ngày lễ: ngày Thánh hoá (10/1 âm lịch), ngày Xuân
tế (15/2 âm lịch), ngày Thu tế (15/8) âm lịch, ngày đánh cá thờ (11/12 âm lịch) Quan trong nhất là ngày Thánh hoá, vui nhất là ngày đánh cá thờ Ngoài
ra nếu trời hạn hán thì có lễ cầu mưa Các vật làm lễ tại đền Xa Lộc rất được coi trọng, đảm bảo các nghi thức cổ truyền Đáng chú ý nhất là việc nuôi lợn
Trang 29thờ, lợn phải đen tuyền, dùng thịt chín chứ không dùng thịt sống Làng báo trước cho gia đình nào được nuôi thì phải chọn vợ chồng song toàn, con cái có cả trai lẫn gái và không có đại tang Với những năm được mùa lớn thì làng sắm đủ các lễ vật “Tam sinh” có đủ cả lợn, trâu, dê Nếu mất mùa đói kém thì
chỉ cần sắm lễ chay như oản, chè kho, chuối Tiếp theo là Lễ tảo lăng ở làng
Dục Mỹ Lăng Lân Hổ được xây tại làng Dục Mỹ xã Cao Xá, cách đền Xa Lộc
khoảng 1 km tính theo đường chim bay Đây là nơi xây cất thờ cả Đức Thánh Trần nên hàng năm vào ngày 10 tháng chạp âm lịch làng Dục Mỹ tiến hành nghi lễ Tảo Lăng, thường làng Thạch Cáp xã Tứ Xã cử đại biểu sang dự lễ
Hội đánh cá Láng thờ là một lễ hội nghề, có quy mô và diễn ra hết sức
vui vẻ Giữa làng Tứ Xã có một khu láng (hồ nước) nối dài từ Gò Vòi ra Gò Hồi, chiều rộng từ Gò Đồng Đậu con đến Gò Tép diện tích khoảng 7.200 m2 Tại đây có rất nhiều cá Hàng năm cứ đến tối ngày mùng 10 rạng ngày 11 tháng chạp người dân lại mở hội đánh cá Láng Thờ Với sự tham gia của toàn thể dân làng Tứ Xã Số người tham gia chủ yếu là dân Tứ Xã nhưng vì mục
đích của hội đánh cá Láng Thờ là chọn được người đánh được con cá to nhất làm lễ vật dâng lên đền thờ Lân Hổ, nên người dân các xã có đền thờ Lân Hổ như Đồng Thái, Sơn Dương, Cao Xá cũng được tham dự Các ngư cụ làng không quy định, ai có thứ gì dùng thứ đó Trước khi xuống đồng bắt cá phải chờ hiệu lệnh là ba hồi chuông ở chùa Tổng và một tràng pháo ở Gò Đồng
Đậu, khi có hiệu lệnh mọi người phải đem cá về dự thi Các “Nậu” các “Giáp” mang những con cá to nhất dâng lên sân đền để chọn ra 3 giải, mỗi giải kèm theo tiền thưởng Cả ba con cá được giải đều được mang về chế biến thành gỏi cá làm lễ cúng tế ở đền Xa Lộc (Theo tục hèm truyền thống)
Cuối cùng là Lễ cúng tế thờ nghề mộc ở đền Công Mộc Đây chính là
nghi lễ thờ cúng ông Tổ nghề mộc có tên là Lỗ Ban Tiên Thánh Hàng năm cứ
đến ngày 11,12, 13 tháng giêng âm lịch tất cả những người làm nghề mộc đều
Trang 30đến đền Công Mộc hay còn gọi là đền Sở Tranh để giỗ tổ Trong đền có ba ban thờ, tục gọi là ba giò Bàn giữa thờ ông Lỗ Ban, hai bên thờ tả hữu tiên hiền là những người thợ mộc giỏi ở địa phương Lễ hội bao gồm những nội dung: Phong tranh Lỗ Ban tiên thánh, lễ được tổ chức ngày 11 tháng giêng âm lịch Trong ngày này mọi người sửa sang, lau chùi và xếp đặt nội, ngoại thất của đền để chuẩn bị lễ chính vào ngày hôm sau Ngày và đêm 12 tháng giêng
lễ Tế Ba Giò được tổ chức Gọi là lễ tế Ba Giò vì có ba mệnh bái, ba bồi tế, 12 chấp sự , 2 đông xướng, 2 tây xướng, 6 người trong vai thủ từ Tất cả có 28 người tham gia buổi tế Khi vào tế thì phe nào việc ấy, mọi người đứng vào vị trí mình được phân công để tránh lộn xộn, chồng chéo lẫn nhau Tất cả phải nghe theo sự điều hành của chủ xướng và nhạc hiệu Trừ 6 ông từ sau khi quán tẩy xong thì được tự do vào trong hương án không cần phải xướng Chủ tế tiến hành đọc bài xướng và tiến hành các nghi lễ Làm lễ thánh xong mọi người phe nào về phe ấy tổ chức thụ lộc thánh và bàn bạc công việc liên quan đến phát triển nghề mộc trong thời gian tới với hy vọng một năm làm ăn tốt đẹp
+ Lễ tết theo phong tục cổ truyền
Ngoài các tục lệ ăn rằm tháng Giêng, ăn tết Đoan Ngọ, rằm tháng Tám, giỗ tổ vào dịp cuối năm Đối với người dân nơi đây ngày tết quan trọng nhất
trong năm là ngày tết Nguyên đán Có thể nói đây là cái tết chung của cư dân
làm nông nghiệp cấy lúa nước, tính thời tiết theo lịch mặt trăng (âm lịch) Vào ngày này con em của làng Tứ Xã đi làm ăn ở khắp nơi cũng cố gắng về xum họp gia đình Ngoài các tục lệ như sắm tết, gói bánh chưng, mổ lợn hay vài gia đình có “ăn đụng” một con lợn ra dịp này thường mỗi gia đình thường có một lễ để dâng lên tổ tiên, thường là đem đến nhà ông trưởng họ Chiều ba mươi tết mỗi gia đình đều có một mâm cỗ cúng gia tiên, cúng khấn để mời hương hồn các cụ về ăn tết với con cháu Cũng là dịp để mọi người trong gia
đình đoàn tụ bên mâm cơm thân mật, tổng kết một năm làm ăn của mình Sáng sớm ngày mùng một tết, tại các gia đình người ta đều có lễ cúng gia tiên
Trang 31và Thổ công Sau buổi cúng đầu năm này, con cháu đi chúc tết ông bà cha mẹ Trong những ngày tết ngoài việc chúc tết thăm hỏi bà con nội, ngoại tộc, bà con dân làng còn đến nhà gặp gỡ, chúc nhau những điều tốt đẹp nhất, một năm mới làm ăn thịnh v−ợng Hết ba ngày tết là lễ cúng hoá vàng Bao nhiêu vàng mã đã cúng trong dịp tết đều đ−ợc đem hoá sau tuần cúng tiễn các cụ
Trang 32Tiểu kết chương 1
Tứ Xã là một làng cổ có quá trình hình thành và phát triển từ rất sớm, gắn liền với quá trình hình thành đất nước Văn Lang do các vua Hùng khởi nghiệp trong buổi đầu bình minh lịch sử Qua các chứng cứ khảo cổ học được phát hiện tại Xóm Kiếu, Mả Guộc, Gót Rẽ… chúng ta có thể nhận định về sự
tụ cư, sinh sống của người Việt cổ từ hàng nghìn năm trước đây để tạo nên diện mạo của một điểm dân cư mang đặc trưng vùng đất trung du xen lẫn những dải đất phù sa tạo thành Dân cư nơi đây chủ yếu là người Kinh, phần lớn họ sinh sống bằng nghề nông nghiệp với nghề trồng lúa nước là chủ đạo Vì thế Tứ Xã là làng có bề dày về truyền thống văn hoá dân gian thể hiện qua các di sản văn hoá phi vật thể như lễ hội truyền thống, các phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo… Chính nền văn hoá dân gian phong phú ấy đã tạo nên nét đặc sắc của một làng cổ vùng trung du Phú Thọ và là chỗ dựa tinh thần cho bao thế hệ người dân nơi đây bám trụ để “sinh cơ lập nghiệp” và phát triển Điều đặc biệt là rất nhiều tín ngưỡng, lễ hội dân gian cho tới ngày nay vẫn được bảo lưu và giữ được nét độc đáo trong đó có tín ngưỡng nông nghiệp sơ khai nguyên thuỷ “Lễ hội Trò Trám”
Làng cổ Tứ Xã vẫn trên đà phát triển mạnh mẽ, là một trong những làng giàu có, trù phú của Phú Thọ vẫn tiếp tục bảo lưu và phát huy truyền thống văn hoá vốn có của mình
Trang 33về việc cầu mong cho mọi sự sinh sôi nảy nở là rất lớn Họ chỉ còn biết trông chờ vào một sức mạnh siêu hình đó là thần linh Từ đó hình thành nên các nghi thức, tín ngưỡng tôn thờ lực lượng siêu nhiên quyết định sự sinh sôi nảy
nở của vạn vật, xuất hiện các lễ nghi ma thuật gắn với nông nghiệp Gắn với từng hoạt động sản xuất của con người đều có những hình thức tín ngưỡng tương ứng Với những cư dân nông nghiệp lúa nước lễ nghi nông nghiệp diễn
ra hầu hết ở các công đoạn trồng trọt, canh tác
Tín ngưỡng phồn thực (Culte de fécondité) ra đời cùng các nghi lễ và trò diễn đặc trưng Hình thức tín ngưỡng này đã có mặt ở Việt Nam cách ngày nay 3000 năm [14, tr.173], thông qua sự liên tưởng đến cơ quan sinh sản của
Trang 34con người và sự sinh sôi nảy nở của cây trồng và vật nuôi, phồn thực (phồn = nhiều, thực = nảy nở) cùng với quan niệm của người xưa cho rằng mọi thứ có
được là do sự giao hoà kết hợp giữa âm và dương, nguồn gốc sản sinh ra con người và vạn vật trong vũ trụ
Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam có nét đặc thù là biểu hiện thông
qua hình tượng sinh thực khí và hành động tính giao nam nữ Các nghi lễ
được thực hiện rất đa dạng nhưng đều được xoay quanh trục giao phối nam nữ, hoà hợp âm dương và biểu tượng là hình tượng “giống” của đàn ông và
đàn bà mà thuật ngữ được các nhà khoa học trên thế giới gọi là linga và yoni hay trước kia dân gian thường gọi là nõ và nường và cả một cặp được gọi là kén [phụ lục 5, ảnh 3]
Trước hết nói về việc thờ sinh thực khí của người Việt Việc thờ cơ quan
sinh dục nam nữ được gọi là thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ), là biểu tượng của năng lượng thiêng sinh ra muôn loài Đối tượng
được thờ tuy cùng là cơ quan sinh dục (âm vật, dương vật) nhưng được biểu hiện dưới các vật dạng khác nhau, theo một nguyên tắc chung “vật tượng trưng cho sinh thực khí luôn có hình khối trụ, tròn hoặc dài và mang tính
động Những vật tượng trưng cho sinh thực khí nữ thì hoặc có dáng bẹt (như
mo nang hoặc đan bằng tre, nứa) hình vuông hay tròn hoặc ở dạng lỗ…, rãnh, hốc, khe, kẽ nứt… và mang tính tĩnh” [32] Tuy nhiên hiện nay chúng ta khó tìm thấy các vật thờ này ở dạng nguyên sơ, thô như các linga – yoni Chàm
Mà thường gặp hơn cả là những bóng dáng của nó hoặc nó đã được cách điệu
do nhu cầu thẩm mỹ, hoặc biến dạng bởi các lớp phủ văn hoá - tôn giáo khác [40, tr.69] Các hình tượng như cột đá chùa Dạm (Hà Bắc) niên đại thế kỷ XII
là biểu tượng của dương vật, hay như bánh dày (biểu tượng âm vật) và bánh cuốn (dương vật) được coi là vật thiêng làm vật dâng cúng trong lễ hội ở làng Sơn Đông, Hà Tây được mở hàng năm vào ngày 6 tháng 2 âm lịch Trong rất
Trang 35nhiều các lễ hội của cư dân người Việt ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ chúng
ta thấy sự hiện diện của các kiểu sinh thực khí này Đó là trái cầu, trái phết (biểu trưng cho sinh thực khí nam) được đánh vào những cái lỗ có hình tròn hoặc hình vuông được đào ở giữa hoặc hai góc phía Đông và Tây của sân đánh phết như trong lễ hội Hiền Quan, lễ hội thôn Đông Viên, lễ hội Sơn Vi, Trương Xá (Phú Thọ) Đình Tang Châu, Sông Thao thờ trên thượng cung một cặp nõ nường bằng gỗ, âm vật có khía ở giữa Khi làm lễ ông Từ cầm nõ, chủ
tế cầm nường chọc vào nhau ba lần cũng hát câu:
Tao có cái mũi yếm cày Tao chẳng cho mày tao lại cho ai
Đặc biệt trong lễ hội làng Khúc Lạc và Dị Nậu thuộc tỉnh Phú Thọ, trong nghi thức lễ đình trên ban thờ ngoài các lễ vật thường thấy, còn có 36 sinh thực khí (trong đó có 18 dương vật và 18 âm vật) Trong đám rước các chàng trai và các cô gái mỗi người cầm trên tay một sinh thực khí vừa chọc vào nhau sau mỗi câu hát đối đáp Sau đám rước diễn ra trò tranh cướp sinh thực khí, ai bắt được sẽ may mắn, lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái
Tục thờ sinh thực khí của người Việt chúng ta còn thấy trong các trò chơi dân gian thường thấy như tục ném còn, trong đó vòng tròn dán giấy là biểu tượng của âm vật, quả còn có tua màu đỏ là biểu tượng của dương vật Người nào ném được quả còn qua vòng tròn đó thì sẽ được may mắn Trò chơi phồn thực này thường không thể thiếu được trong những ngày đầu xuân năm mới Tục rước nõ nường ở làng Đức Bác (Lập Thạch, Phú Thọ), người ta lấy khúc gỗ vông làm nõ (dương vật), và mo cau làm nường (âm vật) do trai tân, gái trinh cầm rước Sau mỗi câu hát “tinh, tinh, tinh, phoọc” nõ và nường lại dí vào nhau Tan rước ai có khước cướp được thì sẽ may mắn trong cả năm đó Hay tiêu biểu như trong một số dịp lễ hội đền Hùng xưa kia có diễn lại trò
“tùng dí” Thanh niên nam nữ múa từng đôi, mỗi người cầm trong tay một vật
Trang 36biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ, mỗi khi nghe tiếng đánh trống tùng
họ lại giơ hai vật đó chọc vào nhau (dí), cứ như thế nhiều lần
Một biểu hiện nữa của tín ngưỡng phồn thực đó là việc thờ các hành vi
giao phối Trên thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) phát hiện vào năm 1960, bốn
góc nắp thạp có bốn khối tượng nam nữ đang giao hợp Người đàn ông nằm chồng lên người đàn bà, tư thế mặt đối mặt rất tiêu biểu của con người Hay như từ xa xưa, chày và cối, những công cụ thiết thân của người nông nghiệp
đã là những vật tượng trưng cho sinh thực khí nam và nữ còn việc giã gạo là tượng trưng cho hành động giao phối Ngày nay chúng ta con thấy trên các trống đồng khắc rất nhiều những hình tượng nam nữ giã gạo từng đôi Không thấy mối liên hệ giữa việc giã gạo sẽ không hiểu được tục “giã cối đón dâu” [33, tr.131] Xưa kia có tục nhà trai bày cối trước cổng, đến khi rước dâu về thì nhà trai giã không vào cối mấy chày Đó chính là nghi lễ cầu chúc cho đôi
vợ chồng trẻ sẽ có nhiều con, nhiều cháu Sách “Thái bình hoàn vũ ký” chép
về tục “dạ bạc” của người Việt trong ngày hội mùa thu: trai, gái mặc đẹp, thổi kèn tình tự cho đến canh hai thì từng cặp dắt nhau tìm chỗ tương hợp, đến sáng mới chia tay [11] Trong hội xuân trước kia ở một số làng cho phép trai gái tự do sờ soạng nhau trong khoảng thời gian tắt đuốc như sau lễ mật ở lễ hội Trò Trám, hội chen ở Nga Hoàng (Hà Bắc), trong hang núi hội Chùa Thầy, thậm chí được quan hệ trong đêm rã đám như hội làng La:
Bơi Dăm, rước Giá, hội Thầy Vui thì vui thật chẳng tày rã La
Theo phong tục thì những đứa con hoang sinh ra trong hoàn cảnh này không những không bị làng bắt vạ mà người mẹ còn được chu cấp tiền, gạo để nuôi con vì họ tin rằng đứa bé sẽ đem lại thịnh vượng cho làng
Trang 37Tín ngưỡng phồn thực với biểu hiện cơ bản là thờ sinh thực khí và hành
vi giao phối nhưng sự phân chia đó chỉ có tính tương đối, trên thực tế chúng thường ở tình trạng lưỡng phân tương hợp Tục thờ sinh thực khí ở một số lễ hội thường gắn liền với các tín ngưỡng tính giao cũng như việc thực hiện nghi
lễ tín ngưỡng ở một số lễ hội biểu hiện bằng hoạt động tính giao đích thực trong các lễ hội xưa kia
2.1.2 Tín ngưỡng phồn thực trong các lễ hội ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ
Việc tôn thờ các hành vi giao phối và thực hiện các hành vi đó trong các
lễ hội cúng thần linh, người Việt tin rằng hành động đó có sức mạnh ma thuật truyền năng lượng cho cây cối tốt tươi, vạn vật nảy nở Do vậy việc thờ cúng sinh thực cũng như các nghi lễ phồn thực trước kia là phổ biến Tuy nhiên ở
đây cũng cần nhấn mạnh nghịch lý văn hoá của tín ngưỡng phồn thực người Việt Một mặt chịu sự chi phối của quan niệm vũ trụ luận âm dương, của các tín ngưỡng nguyên thuỷ dựa trên nguyên lí kết hợp hài hoà âm dương là nguồn gốc của sinh sản nảy nở thì mặt khác dân tộc Việt lại chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của đạo đức Khổng Mạnh về coi thường phụ nữ, về tách biệt nam nữ coi quan hệ bản năng giữa nam và nữ là xấu xa, cần phải ngăn cấm, xoá bỏ Chính
đó cũng là nghịch lý giữa cái vô thức và hữu thức của văn hoá người nông dân Việt Nam Với sự hoá giải cũng như sự khéo léo uyển chuyển vốn có người Việt đã giải quyết nghịch lý đó bằng các hình thức đặc thù đó là dưới dạng các
phong tục, những trò diễn, trò đùa mang tính phồn thực
Với cư dân người Việt thì tín ngưỡng phồn thực được biểu hiện khá
phong phú, trước hết là ở các nghi lễ Các nghi lễ này được diễn ra liên tục, ở
nhiều địa phương khác nhau, nhưng nhiều nhất vẫn là các lễ hội mùa xuân, mùa mở đầu cho một chu kỳ trồng trọt của một năm mới, mùa sinh sôi nảy nở
Trang 38của muôn loài Tiêu biểu nhất cho loại này là nghi lễ ông Đùng – bà Đà Ông
Đùng – bà Đà là vị thần Thành hoàng làng của làng An Xá, Hưng Yên được thờ phụng và mở hội từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 4 âm lịch Thường thì các vị thần này được biết đến như các vị Thành hoàng làng nhưng đến khi mở hội thì các vị này lại hoá thân vào các vị thần phồn thực Trong lễ hội này hành động
được dân gian cho phép thể hiện tính giao rõ rệt như ôm chầm lấy nhau một cách hoan lạc trong lễ rước hay trong đêm hội khi người ta tháo phần trên của tượng Ông gắn vào với thân dưới của tượng Bà [42] Khi để Ông và Bà thể hiện hành động giao phối ấy người ta tin rằng sẽ có một mùa màng tốt tươi và thậm chí đến con người cũng sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu gặp nhiều may mắn Các nghi thức và trò diễn mô tả lại hành động mang tính giao nam nữ bộc lộ công khai và nguyên hình cổ tục phồn thực dưới dạng nguyên thuỷ nhất thể hiện ước vọng của cư dân nông nghiệp vào mùa màng, an khang vật thịnh
Việc thờ cúng và các nghi lễ thờ phồn thực trước kia là khá điển hình, nhưng ngày nay không phổ biến, trong phong tục thì trò diễn và trò vui mang tính phồn thực phổ biến hơn nhiều, nhất là ở các lễ hội làng Một trong những
cổ tục chúng ta thấy ở nhiều địa phương đồng bằng Bắc Bộ hơn cả là tục tắt
đèn trong đêm mở hội Tuy các nguyên nhân được lý giải khác nhau nhưng
đều có một mục đích chung là khuyến khích quan hệ nam nữ có tính phong tục nhằm đạt tới ước muốn phồn thực Tại làng La Khê (Hoài Đức, Hà Tây) tục tắt đèn thường vào đêm rã hội ngày 7 tháng giêng hàng năm Đèn tắt trong khoảng một giờ để trai gái tha hồ đùa nghịch nhau, không kể già trẻ, có vợ có chồng hay chưa Người ta giải thích rằng thực hiện cảnh vụng trộm này để tưởng nhớ vị Thành hoàng “ăn trộm” của làng Tục tắt đèn của làng Niệm, Võ Giàng, Bắc Ninh lại được thực hiện khi hai giáp trong làng thổi xôi thi, lúc tắt
đèn cũng là lúc trai gái trong làng tranh thủ đùa nghịch, tình tự Tục này cũng
được diễn ra tại làng Đan Nhiễm, Hà Bắc thờ thần Hổ Nửa đêm, trong lúc tắt
Trang 39đèn, cọp nhảy ra vồ lấy ả đào Theo đó trai gái tự do vồ lấy nhau đùa nghịch Sau một hồi đèn sáng mọi người lại trở về trật tự như trước
Một phong tục nữa cũng thấy trong các lễ hội mang nghi lễ phồn thực,
đó là tục chen Điển hình là tục chen ở lễ hội làng Nga Hoàng, Bắc Ninh Với
mục đích là tạo cơ hội cho nam nữ có dịp gần nhau, đụng chạm vào nhau Người trong làng lẫn người ngoài làng đều tìm cách chen lấn, sờ soạng nhau không kể già trẻ, trai gái Ai cũng thầm khấn thần câu “Muôn tâu lạy ngài, xin ngài phù hộ cho dân chúng tôi, già mạnh khoẻ, trẻ bình an, của đồng làm ra của nhà làm nên” Tức nhân khang, vật thịnh Kết thúc đêm rã hội cũng là lúc cao trào cho các cặp trai gái đùa nghịch nhau, rất nhiều cặp đã nên vợ chồng sau lễ hội
Giống như tục chen, tục trai gái bắt trạch trong chum cũng là cũng là
trò chơi nghi lễ mang tính phồn thực chúng ta thấy trong hội làng huyện Văn Trưng, Vĩnh Phúc Hằng năm hội mở vào mùng 6 tháng giêng Dân làng đã có câu ca [30, tr.474]:
Bỏ con bỏ cháu, không bỏ mồng 6 hội Dưng
Vào hội trên sân đình người ta bày một hàng chum từ năm đến bảy cái, trong mỗi chum chứa 2/3 nước hoặc bùn loãng trong đó có thả cá trạch Sau một hồi chiêng trống nổi lên, từng đôi trai gái tham gia bắt trạch Tất cả phải tuân thủ theo luật là gái ôm ngang lưng trai, còn trai thì ôm ngực gái tức là một tay phải ôm nhau một tay bắt trạch trong chum Cùng một lúc vừa phải bắt trạch vừa phải đùa nghịch nhau trong tiếng reo hò cổ vũ của dân làng hết sức vui vẻ Trò chơi này cũng diễn ra trong hội làng ở một vài nơi khác như Quế Võ tỉnh Hà Bắc, Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phú Tuy có khác nhau ở một vài tình tiết song thi bắt trạch trong chum là một phong tục cổ, tượng trưng cho hoạt động tính giao gắn với tín ngưỡng phồn thực biểu hiện ước vọng sinh sôi nảy nở đông đúc của con người, vật nuôi và mùa màng
Trang 40Một trong những hình thức phổ biến nhất của tín ngưỡng phồn thực
tương đối thuần khiết, tế nhị thể hiện dưới dạng sân khấu hoá đó là tục hát
đối đáp giao duyên giữa nam và nữ trong lễ hội mùa xuân Một số nhà nghiên
cứu thì cho rằng ở một số tộc người, chẳng hạn như ở người Việt thì hát đối
đáp giao duyên nam nữ cũng đã từng gắn bó với đời sống tâm linh tín ngưỡng Rất có thể từ thuở xa xưa nó đã nảy sinh chính từ môi trường sinh hoạt văn hoá này trước khi nó trở thành một thể loại dân ca mang tính thế tục
ở người Việt hát giao duyên có nhiều thể loại như hát quan họ, hát ví, hát xoan, hát ghẹo, hát trống quân… Trong hát giao duyên nam nữ có thể
đứng thành hai phía để đối đáp với nhau theo hình thức một bên hỏi một bên
đáp, cũng có thể đối đáp theo từng cặp, từng đôi (đôi nam, đôi nữ) Người hát
đi kẻ đối lại cứ như vậy cuộc chơi có thể kéo dài từ ngày này qua ngày khác Khi hát như vậy hai bên có thể mời chào nhau, trao đổi tâm tình hay bày tỏ tình cảm với nhau Rất nhiều đôi nam nữ nên duyên sau những cuộc hát giao duyên này
Có thể nói tín ngưỡng phồn thực là loại hình tín ngưỡng đã ra đời từ rất lâu, tồn tại và được duy trì cho tới ngày nay dưới rất nhiều các hình thức thờ
và nghi lễ, trò diễn phồn thực phong phú Đó là hình thức thờ sinh thực khí, thờ hành vi giao phối của con người hay dân dã hơn cả là những trò diễn vui,
độc đáo trong các lễ hội làng quê thường thấy ở trung du và đồng bằng Bắc
Bộ Tín ngưỡng phồn thực đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của dân cư nông nghiệp xưa kia và ngày nay Nó góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người Việt nói riêng cũng như làm nên bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam nói chung Trong đó lễ hội Trò Trám với tín ngưỡng phồn thực là một nét độc đáo, có một vị trí nhất định trong hệ thống lễ hội mang tính phồn thực ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ