Đặc biệt phải kể đến thành cổ Diên Khánh, ở đó hiện nay vẫn còn lưu lại những chứng tích của một công trình kiến trúc chính trị - quân sự, đã được cha ông ta xây dựng khi bắt đầu hình th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
-[ \ -
PH¹M THÞ H¦¥NG GIANG
DI TÝCH THμNH Cæ DI£N KH¸NH
(HUYÖN DI£N KH¸NH – TØNH KH¸NH HßA)
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60 31 70
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS.d¦¥NG V¡N S¸U
HÀ NỘI – 2012
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chương 1: THÀNH CỔ DIÊN KHÁNH TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ KHÁNH HÒA 14
1.1 Tổng quan về Khánh Hòa 14
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 14
1.1.2 Điều kiện văn hóa - xã hội 20
1.1.3 Khái quát đặc điểm kinh tế Khánh Hòa 28
1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của thành cổ Diên Khánh 32
1.2.1 Những tiền đề về chính trị, lịch sử, xã hội cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX 32
1.2.2 Khái quát lịch sử xây dựng thành cổ Diên Khánh 34
1.2.3 Qui mô thành cổ Diên Khánh trong lịch sử qua các nguồn tư liệu 36 1.2.4 Hiện trạng thành cổ Diên Khánh 37
Tiểu kết 38
Chương 2: GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA DI TÍCH THÀNH CỔ DIÊN KHÁNH 41
2.1 Giá trị chính trị - quân sự của di tích thành cổ Diên Khánh trong lịch sử 41
2.1.1 Những sự kiện chính trị, quân sự nổi bật có liên quan đến thành cổ Diên Khánh 41
2.1.2 Vai trò của thành cổ Diên Khánh trong lịch sử Khánh Hòa 53
2.2 Giá trị lịch sử - văn hóa của di tích thành cổ Diên Khánh 54
2.2.1 Giá trị lịch sử 54
2.2.2 Giá trị văn hoá, nghệ thuật của thành cổ Diên Khánh và các di tích khác có liên quan 56
Trang 32.3 Mối tương quan giữa thành cổ Diên Khánh với một số thành ở Việt
Nam cùng thời Nguyễn 68
2.3.1 Về thời gian ra đời 68
2.3.2 Về vị trí xây dựng 68
2.3.3 Về qui mô xây dựng trong quá khứ và hiện trạng 70
2.3.4 Về vật liệu, kỹ thuật kiến trúc xây dựng 70
Tiểu kết 73
Chương 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA DI TÍCH THÀNH CỔ DIÊN KHÁNH 75
3.1 Hiện trạng công tác quản lý di tích thành cổ Diên Khánh 75
3.1.1 Những quy định của pháp luật có liên quan đến công tác quản lý di tích thành cổ Diên Khánh 75
3.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý di tích thành cổ Diên Khánh hiện nay 76 3.1.3 Thực trạng di tích thành cổ Diên Khánh 76
3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý, bảo tồn và khai thác giá trị của thành cổ Diên Khánh 77
3.2.1 Những thuận lợi cơ bản 77
3.2.2 Những khó khăn trước mắt 80
3.3 Những giải pháp trong công tác quản lý, bảo tồn di tích thành cổ Diên Khánh 81
3.3.1 Khảo sát, nghiên cứu, khai quật khảo cổ học tổng thể khu di tích 81 3.3.2 Điều tra xã hội học, đánh giá vai trò của di tích thành cổ trong đời sống của cư dân Khánh hòa 81
3.3.3 Lập hồ sơ và tiến hành thủ tục để thành cổ Diên Khánh được công nhận là di tích cấp quốc gia đặc biệt 82
3.3.4 Tiến hành tu bổ tôn tạo theo đúng luật định và yêu cầu thực tế 82 3.3.5 Qui hoạch, điều tiết dân cư và các cơ quan công sở phù hợp 85
Trang 43.4 Giải pháp phát huy giá trị của di tích thành cổ Diên Khánh trong giai
đoạn hiện nay 86
3.4.1 Thành lập bộ máy tổ chức quản lý phù hợp với chức năng và yêu cầu nhiệm vụ 86
3.4.2 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực để quản lý, khai thác di tích thành cổ Diên Khánh 87
3.4.3 Xúc tiến đầu tư, qui hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng tốt, đáp ứng yêu cầu thực tế 88
3.4.4 Tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý thức giữ gìn di sản văn hóa cho người dân 88
3.4.5 Xây dựng sản phẩm du lịch, liên kết, xúc tiến du lịch, tạo dựng thương hiệu điểm đến du lịch cho thành cổ Diên Khánh 89
3.4.6 Thiết kế tuyến du lịch hợp lý, tổ chức hướng dẫn tham quan cho khách du lịch có chất lượng 92
Tiểu kết 93
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 102
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng và để lại cho hậu thế một nền văn hóa với những giá trị độc đáo của mình trên mọi lĩnh vực của cuộc sống như: văn học, hội họa, mỹ thuật, kiến trúc, âm nhạc, tất cả đã tạo nên một bức tranh sống động, đầy màu sắc về lịch sử văn hóa dân tộc Đồng hành cùng với lịch sử dân tộc, văn hóa Việt Nam cũng trải qua những bước thăng trầm, song vượt lên tất cả, chúng
đã cho thấy vai trò của mình trong quá trình đưa đất nước vững bước tiến vào tương lai
1.2 Văn hóa góp phần hình thành tâm hồn, khí phách, bản lĩnh của dân tộc, luôn luôn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; quá trình phát triển đi lên của đất nước, sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, kết cấu
xã hội, nhu cầu tăng nhanh về văn hóa của các tầng lớp dân cư, quá trình dân chủ hóa xã hội v.v là những yếu tố làm thay đổi nhiều mặt đời sống văn hóa
dân tộc Như nhà thơ Ấn độ Tagor đã viết: “Trách nhiệm của mỗi dân tộc là
thể hiện bản sắc của mình trước thế giới”, mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội
để đất nước ta tiếp thu những thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Để thực hiện hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta, Nghị quyết lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã đề ra mục tiêu “xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc…” Nghị quyết được coi như là một trong những “bệ đỡ” cho sự phát triển vững mạnh về mọi mặt và hướng tới hội nhập với cộng đồng quốc tế
1.3 Thực tế cho thấy, những truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại cho thế hệ sau được ẩn chứa những giá trị văn hóa của dân tộc Chúng
Trang 6được biểu hiện qua những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mà rõ nét nhất chính là ở các loại hình di tích lịch sử văn hóa như đình, đền, chùa, lăng tẩm, thành quách… Song, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp ấy đến nay vẫn chưa được nhìn nhận, đánh giá đúng mực, đôi khi bị lãng quên Mặt khác, trải qua thời gian lịch sử, sự khốc liệt của chiến tranh đã làm cho mảnh đất hình chữ S này luôn luôn có nhiều biến động Quá trình
đó đã làm cho nhiều di tích lịch sử văn hóa đang xuống cấp hay dần trở thành những phế tích Trước tình hình đó, cần phải có những biện pháp bảo tồn, tôn tạo cũng như phát huy giá trị của di sản văn hóa này
1.4 Nằm ở cực Nam Trung Bộ, có tuyến đường quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua; có sân bay Cam Ranh, cảng biển Nha Trang,
Ba Ngòi, Cam Ranh và đường biển ra hải phận quốc tế thuận tiện, Khánh Hòa thực sự là điểm hội nhập, trung chuyển kinh tế - văn hóa bao đời nay của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á Ngược dòng thời gian, Khánh Hòa
là vùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa Những di sản văn hóa phi vật thể nằm trong dòng chảy văn hóa của dân tộc Việt mà tiêu biểu là truyền thuyết
về nữ thần Ponagar - Bà mẹ Xứ sở… cùng với đó là các di sản văn hóa vật thể, những công trình kiến trúc đồ sộ, nguy nga Đặc biệt phải kể đến thành
cổ Diên Khánh, ở đó hiện nay vẫn còn lưu lại những chứng tích của một công trình kiến trúc chính trị - quân sự, đã được cha ông ta xây dựng khi bắt đầu hình thành phủ Thái Khang và Diên Ninh, với nhiệm vụ trấn giữ vùng trọng yếu của Nam Trung Bộ, đồng thời tạo điều kiện cho dân cư khai điền, lập ấp, mở rộng bờ cõi về phương Nam
1.5 Thành cổ Diên Khánh - một quần thể kiến trúc quân sự theo kiểu Vauband nhưng vẫn mang kiến trúc truyền thống phương Đông là một di tích lịch sử - văn hóa ở thị trấn Diên Khánh, là nơi đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng Công trình này được vua Gia Long cho xây dựng từ năm 1793 khi
Trang 7Ông chưa lên ngôi vua Nơi đây đã diễn ra nhiều trận chiến đấu ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân của các chúa Nguyễn từ năm 1793 đến 1795 Đồng thời, nó cũng gắn với cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân Khánh Hòa như trong phong trào Cần Vương; cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Ngoài ra, nơi đây còn chứng kiến biết bao sự kiện đầy bi thương mà oanh liệt của phong trào yêu nước ở Khánh Hòa
Ngày nay, thành cổ Diên Khánh là một trong những tòa thành còn lưu giữ được một số đặc trưng cơ bản ở nước ta, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam Những hình ảnh và truyền thuyết về tòa thành cổ này vẫn còn in đậm trong tâm trí của những người dân địa phương Trong tương lai không xa, thành cổ Diên Khánh sẽ là một trong những điểm đến hấp dẫn du khách khi đến với Khánh Hòa Với ý nghĩa to lớn về mặt lịch sử - văn hóa và khoa học của di tích thành cổ Diên Khánh, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định số 1288/QĐ-VHTT, ngày 16/11/1988 xếp hạng là di tích cấp Quốc gia
Để góp phần vào công cuộc nghiên cứu, tìm hiểu thêm nhằm làm rõ những giá trị tiêu biểu của thành cổ Diên Khánh, góp phần vào việc bảo tồn, tôn tạo và đưa vào khai thác di tích thành cổ Diên Khánh với tư cách là một
điểm đến của du lịch Khánh Hòa, tôi đã quyết định chọn đề tài “Di tích
thành cổ Diên Khánh (huyện Diên Khánh - tỉnh Khánh Hòa)” làm luận
văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Văn hóa học
2 Tình hình nghiên cứu
Là một trong những vị trí trọng yếu trên nhiều phương diện chính trị, quân
sự, văn hóa – xã hội của các phủ Thái Khang và Diên Ninh xưa, tỉnh Khánh Hòa ngày nay nên thành cổ Diên Khánh đã được nhiều tài liệu nhắc tới trong các công trình nghiên cứu của các sử gia cũng như của Quốc sử quán triều Nguyễn Những
Trang 8tập hợp và thống kê bước đầu cho thấy, có một số công trình nghiên cứu ở nước ta
từ trước đến nay đã đề cập về khu di tích thành cổ Diên Khánh như sau:
Sách “Đại Nam nhất thống chí" của Quốc sử quán triều Nguyễn đã viết
về Thành tỉnh Khánh Hòa:
Chu vi 636 trượng 7 thước 4 tấc, cao 7 thước 5 tấc, mở 4 cửa, hào rộng 4 trượng, sâu 6 thước, xây bằng đất ở địa phận hai xã Phú Mỹ và Phúc Thịnh huyện Phúc Điền Trước kia lỵ sở của dinh ở địa phận xã Đa Phúc huyện Quảng Phúc, sau dời đến chỗ hiện nay, tức là thành Diên Khánh cũ – Xét: Thành Diên Khánh trước là thủ sở Nha Trang, năm Quý Sửu (1793) quân nhà vua tiến đánh Quy Nhơn, lúc trở về, xa giá dừng ở Diên Khánh, xem xét thế đất, sau nhân bảo cũ Hoa Bông đắp thành bằng đất Thành mở sáu cửa, đều có nhà lầu, bốn góc thành có núi đất, ngoài thành đào hào, ngoài hào có trại; các cửa đều có cầu treo
để qua hào, trước sau có núi sông bao bọc, thật là nơi thiên hiểm, nay bỏ bớt hai cửa Pháo đài và núi đất vẫn còn, phía bắc thành dựa lưng vào sông cái, thường bị nước lũ xói vào nên năm Minh Mệnh thứ 4 đắp đê chắn ngang sông, lại đào cừ để dẫn nước về phía bắc [49, tr.93]
Theo “Phương Đình dư địa chí" của tác giả Nguyễn Văn Siêu viết:
“Năm Quý Sửu vua Thế tổ Cao Hoàng đế lấy lại đất ấy vẫn gọi là Bình Khang doanh (đặt chức thỉ lưu, cai bạ, ký lục) lại đắp thành Diên Khánh ở thú sở Nha Trang, núi sông thật là thiên hiểm, tục gọi là Nha Trang thành”
[52, tr.265]
Theo “Việt sử xứ Đàng Trong” của tác giả Phan Khoang viết:
Thành Diên Khánh do hoàng tử Cảnh trực tiếp trông coi việc xây dựng, nhân lực để đắp thành gồm 3.000 quân Bình Thuận, 100
Trang 9dân Thuận Thành và trong hơn một tháng thì xong Thành Diên Khánh là nơi tích trữ lương tiền ở Gia Định, Bình Thuận chở ra
để dùng cho quân đội bắc phạt nên nhiều lần bị quân Tây Sơn vào đánh [28, tr.541]
Theo sách “Việt Nam Sử lược" của tác giả Trần Trọng Kim có viết:
Năm 1792, vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) băng hà, nội bộ nhà Tây Sơn lủng củng, quân Nguyễn Ánh nhân cơ hội này ra sức phản công nhằm lập lại triều đại Tháng 3 năm Quý Sửu, Nguyễn Ánh đem bộ binh đánh Phan Rí Đến tháng 5 thì thuyền của Nguyễn Vương vào cửa bể Nha Trang rồi lên đánh lấy phủ Diên Khánh và phủ Bình Khang Đến tháng 7, quân Nguyễn Ánh đã chiếm được hai phủ Diên Khánh và Bình Khang Sau khi xem xét phủ sở Diên Khánh, Nguyễn Ánh thấy đây là một vị trí chiến lược, với vị trí giao thông thuận tiện đường thủy (sông Cái) và đường bộ từ Bắc vào Nam, lại gần cửa biển Nha Trang, nên đã cho xây dựng thành Diên Khánh làm căn cứ quân sự kiên cố để binh chiến lâu dài với quân Tây Sơn [29, tr.421]
Theo sách “Địa chí Khánh Hòa” do tác giả Nguyễn Văn Khánh và
Giang Nam đồng chủ biên có viết về địa giới hành chính của huyện Diên Khánh và mô tả thành cổ Diên Khánh như sau:
Thành Diên Khánh có diện tích khoảng 36.000m2, có sáu đoạn tường thành với chiều dài: tường Tây là 406,5m, tường Nam là 410,5m, tường Đông Nam là 402m, tường Đông 400m và tường Bắc là 730m Tường thành chạy uốn khúc theo hình lục giác, dài khoảng 2.694m, xây cao chừng 3,5m Mặt ngoài Thành được đắp hơi thẳng đứng, mặt trong được đắp thoai thoải, hai bên cổng có các bậc thang dùng làm đường lên xuống [16, tr.314-315]
Trang 10Tác giả Nguyễn Công Bằng với bài viết “Bước đầu tìm hiểu phong trào
hiểu giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống Khánh Hòa 350 năm” đã viết về
trận đánh giữa quân chúa Nguyễn và quân Tây Sơn như sau:
Tháng Giêng năm Ất Mão (1795) Trần Quang Diệu lại đem quân vào đánh Diên Khánh Võ Tánh báo về, Nguyễn Ánh sai Chưởng Hữu quân là Nguyễn Hoàng Đức, tiên phong là Nguyễn Văn Thành điều bát quân bộ tiến ra Phan Rang làm tiếp ứng xa cho thành Diên Khánh Tuy nhiên, quân Tây Sơn tấn công rất mạnh trên nhiều hướng Trần Quang Diệu sai Tư lễ Lê Trung chặn đường quân Bình Thuận ở Du Lai (Du Lâm, cách huyện Vĩnh Xương 53 dặm về phía Nam khiến cho quân của Nguyễn Hoàng Đức không thể tiến ra, trong lúc ấy, việc công thành Diên Khánh diễn ra rất quyết liệt Diệu dẫn quân tuyệt đường kín nước ở trong thành Tính sai quân các chi tiến du, tiến kích đánh được quân của Diệu, giặc chen sát nhau để lên thành, lại nhân lúc giặc sơ hở đánh
úp, bắt được đô đốc của giặc là Định Giặc đánh càng kíp, trong thành có ít muối tướng sĩ kiếm ăn rất khó khăn… Tính mộ trong thành có người nào dám liều chết nhân ban đêm phá vỡ vây chạy báo ở Gia Định thì có đội trưởng chấp kích là Nguyễn Văn Công ứng mộ, mang tờ biểu lẻn ra để tâu vua biết [26, tr.120-121] Ngoài ra còn một số tài liệu khác như:
Trong cuốn sách “Lịch sử đấu tranh cách mạng huyện Diên Khánh”
(1930 -1975), ( 1995), Huyện ủy huyện Diên Khánh
Tác giả Nguyễn Văn Khánh (chủ biên) với cuốn sách “Tìm hiểu giá trị
lịch sử và văn hóa truyền thống Khánh Hòa 350 năm” (2003), Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trang 11Hồ sơ Lý lịch khoa học di tích thành cổ Diên Khánh do Trung tâm quản
lý Di tích và Danh lam thắng cảnh tỉnh Khánh Hòa lập năm 1981, trong hồ sơ bao gồm các nội dung liên quan đến di tích này như: đường đến di tích, không gian tồn tại; niên đại, đặc trưng kiến trúc di tích, có ảnh chụp và các bản vẽ minh họa… Đặc biệt trong hồ sơ này đã có giới thiệu một cách khái lược về di tích thành cổ Diên Khánh trong quá trình lịch sử
Những tập hợp và phân tích trên đây có thể xác định được rằng, cho đến nay hiện chưa có một công trình nghiên cứu chuyên khảo nào về di tích thành cổ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là di tích thành cổ Diên Khánh với lịch sử hình thành và phát triển cũng như hiện trạng của di tích hôm nay Luận văn cũng đồng thời đặt thành cổ này trong việc so sánh với các tòa thành xây dựng dưới thời Nguyễn ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khánh, tỉnh Khánh Hòa và có mở rộng so sánh với thành cổ khác
- Về thời gian: Nghiên cứu di tích thành cổ Diên Khánh từ khi xây
dựng cho đến ngày nay Tập trung nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển cũng như hiện trạng của di tích
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách toàn diện về di tích thành cổ Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, chỉ ra những giá trị cơ bản, nổi bật của di tích thành cổ Diên Khánh
Trang 12Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy tác dụng những giá trị của di tích thành cổ Diên Khánh, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Khánh Hòa hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm không gian văn hóa tỉnh Khánh Hòa
- Tập hợp và phân tích các tư liệu đã viết trước đây về di tích thành Diên Khánh nhằm đem đến một cái nhìn toàn cảnh và đầy đủ nhất về tòa thành cổ này
- Phân tích, đánh giá các giá trị lịch sử - văn hóa của di tích thành cổ
Diên Khánh
- Mở rộng nghiên cứu đến một số thành cổ khác để so sánh và tìm ra những tương đồng và khác biệt của các tòa thành xây dựng dưới thời Nguyễn
ở Việt Nam
- Đánh giá hiện trạng của di tích này một cách khách quan, toàn diện nhất
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị tiêu biểu của di tích thành cổ Diên Khánh trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học như:
sử liệu học, mỹ thuật học, văn hóa học, bảo tàng học, xã hội học…
- Sử dụng phương pháp khảo sát điền dã: quan sát, miêu tả, đo vẽ, chụp ảnh, phỏng vấn…
- Tập hợp, hệ thống hóa những tư liệu liên quan đến đề tài để phân tích, đánh giá, so sánh và đối chiếu…
Trang 136 Đóng góp của luận văn
- Tập hợp các nguồn tư liệu của các tác giả đi trước có liên quan đến di tích thành cổ Diên Khánh cũng như các vấn đề liên quan trong luận văn
- Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống những giá trị của di tích thành Diên Khánh
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp nhất định vào hệ thống các tài liệu tham khảo về loại hình kiến trúc thành quách nói chung và di tích thành cổ Diên Khánh nói riêng
7 Bố cục chính của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Thành cổ Diên Khánh trong diễn trình lịch sử Khánh Hòa
Chương 2: Giá trị tiêu biểu của di tích thành cổ Diên Khánh
Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị của di tích thành cổ Diên Khánh
Trang 14
Chương 1
THÀNH CỔ DIÊN KHÁNH TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ KHÁNH HÒA
1.1 Tổng quan về Khánh Hòa
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý, diện tích, dân số
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ của nước ta, có phần
lãnh thổ trên đất liền nhô ra xa nhất về phía biển Đông Phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực bắc: 12052'15'' vĩ độ bắc Phía nam giáp tỉnh Ninh Thuận, điểm cực nam: 11042' 50'' vĩ độ bắc Phía tây giáp tỉnh Đăk Lắk, Lâm đồng, điểm cực tây: 108040’33'' kinh độ đông Phía đông giáp biển đông, điểm cực đông: 109027’55'' kinh độ đông; tại mũi Hòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm huyện Vạn Ninh, cũng chính là điểm cực đông trên đất liền của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Sách “Đại Nam nhất thống chí” có viết:
Đông tây cách nhau 58 dặm, nam bắc cách nhau 272 dặm linh; phía đông đến biển 21 dặm linh, phía tây đến Man động 37 dặm, phía nam đến địa giới tỉnh Bình Thuận 117 dặm, phía bắc đến địa giới tỉnh Bình Định 155 dặm, phía đông nam đến địa giới tỉnh Bình Thuận 89 dặm, phía tây nam đến Man động 71 dặm, phía đông bắc đến biển 91 dặm, phía tây bắc đến Man động 97 dặm; từ
tỉnh lị đi về phía bắc đến Kinh 1.011 dặm [49, tr.87]
Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền, tỉnh Khánh Hòa còn có vùng biển, vùng thềm lục địa, các đảo ven bờ và huyện đảo Trường Sa – một huyện đảo
có vị trí rất quan trọng về kinh tế, quốc phòng của cả nước Trên phần đất liền
và vùng lãnh hải là không phận của tỉnh Khánh Hòa Khánh Hoà nằm giữa hai
Trang 15thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, là các trọng điểm phát triển kinh tế của cả nước Trung tâm tỉnh lỵ Nha Trang cách thành phố Hồ Chí Minh 447 km và cách Thủ đô Hà Nội 1.278km đường bộ Với vị trí địa lý như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho Khánh Hoà phát triển sản xuất hàng hoá và
mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc tế
Vị trí địa lý của tỉnh Khánh Hòa với các yếu tố tự nhiên như: Thời tiết khí hậu, địa hình, sinh vật phong phú là những điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra tỉnh Khánh Hoà còn nằm gần đường hàng hải quốc
tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam Ranh và là cửa ngõ của Tây Nguyên thông ra biển Đông nên có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng
Do đặc điểm về địa lý tự nhiên, từ lâu mảnh đất này luôn được coi là một tiểu vùng của vùng văn hoá duyên hải nước ta, với những đặc trưng của văn hoá núi rừng, văn hoá đồng bằng, văn hoá biển đảo vì vậy vừa có nét chung của nền văn hoá Việt Nam, vừa mang bản sắc riêng biệt, độc đáo của
một vùng đất
Địa hình
Địa hình của tỉnh Khánh Hoà tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông với những dạng địa hình đặc trưng: Núi, đồi, đồng bằng, vùng ven biển
và biển khơi Phần phía tây là sườn đông dãy Trường Sơn, chủ yếu là núi thấp
và đồi, độ dốc lớn và địa hình bị chia cắt mạnh Tiếp đến là dạng địa hình núi thấp, đồi thấp xen kẽ bình nguyên và thung lũng, thỉnh thoảng có núi đá chạy
ra sát biển chia cắt dải đồng bằng ven biển thành những vùng đồng bằng nhỏ hẹp Với bờ biển dài, khúc khuỷu nên Khánh Hoà có điều kiện thuận lợi để hình thành các cảng nước sâu, nhiều vùng đất rộng thuận lợi để lập khu chế xuất và khu công nghiệp tập trung Có 8 cửa lạch, 10 đầm, vịnh, 2 bán đảo và trên 200 hòn đảo lớn, nhỏ với nhiều hình thù khác nhau Đặc điểm địa hình
Trang 16Khánh Hoà đã tạo ra những cảnh quan phong phú và đa dạng vừa mang tính đặc thù của mỗi tiểu vùng, vừa mang tính đan xen và hoà nhập
Hình dạng
Tỉnh Khánh Hòa có hình dạng thon hai đầu và phình ra ở giữa, ba mặt
là núi, phía đông giáp biển Nếu tính theo đường chim bay, chiều dài của tỉnh theo hướng bắc nam khoảng 160km, còn theo hướng đông tây, nơi rộng nhất khoảng 60km, nơi hẹp nhất từ 1 đến 2km ở phía bắc, còn ở phía nam từ 10 đến 15km
Diện tích
Diện tích của tỉnh Khánh Hòa là 5.197km2 (kể cả các đảo, quần đảo), đứng vào loại trung bình so với cả nước Vùng biển rộng gấp nhiều lần đất liền Bờ biển dài 385km, có khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo san hô trong quần đảo Trường Sa
Dân số
Trong nửa cuối thế kỷ XVII và hai thập kỷ đầu thế kỷ XVIII không có
số liệu cụ thể và chi tiết về tình hình dân số Khánh Hoà Tuy nhiên qua số liệu thống kê về số thuộc mới lập ở các phủ xứ Quảng Nam do ký lục chánh dinh Nguyễn Đăng Đệ vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu tiến hành vào năm 1762 nhằm định chức lệ cho các thuộc mới, chúng ta có thể hình dung phần nào tình hình phát triển dân cư ở hai phủ Bình Khang và Diên Ninh thuộc dinh Bình Khang (Khánh Hoà ngày nay): phủ Thăng Hoa có 15 thuộc, phủ Điện Bàn có 4 thuộc, phủ Quy Ninh có 13 thuộc, phủ Phú Yên có 38 thuộc, phủ Bình Khang có 20 thuộc, phủ Diên Ninh có 14 thuộc, phủ Bình Thuận có 20 thuộc Như vậy, có thể thấy các phủ Bình Khang, Diên Ninh, Bình Thuận đều
là những vùng đất mới cho nên có nhiều thuộc mới Dinh Bình Khang (Khánh Hoà ngày nay) có tất cả 34 thuộc mới vào thời điểm đó Điều đáng tiếc là số
Trang 17liệu thống kê nói trên không cho biết rõ số dân trong mỗi thuộc là bao nhiêu,
chỉ biết rằng “định lệ về chức vụ lúc bấy giờ là 500 người trở lên thì đặt một
cai thuộc, 400 người trở xuống thì đặt một ký thuộc, 100 người trở xuống thì đặt một tướng thần” [28, tr.466]
Theo “Lịch Triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú thì: “huyện Quảng Phước có 65 xã, thôn; huyện Tân Định có 1 tổng, 1 trấn (hai huyện này thuộc phủ Bình Khang); huyện Phước Điền có 27 xã, thôn; huyện Vĩnh Xương có 17 xã, thôn; huyện Hoa Châu có 3 tổng, 1 trấn (ba huyện này thuộc phủ Diên Khánh tức Diên Ninh trước đó)” [11, tr.169]
Theo địa bạ Minh Mạng thì vào thời kỳ 1810 – 1830, trấn Bình Hoà (dinh Bình Khang cũ) có tất cả 2 phủ, 5 huyện, 18 tổng và thuộc, 275 làng (132 xã 130 thôn, 3 xóm, 3 ấp, 2 xứ, 1 phường, 1 lách, 3 lạch) và 15 làng mất địa bạ
Thống kê của Bộ Hộ năm Gia Long thứ 18 (1819) cho thấy“đời Gia
Long, thì số đinh hộ 5.000 người, nay 8.563 người” [49, tr.95]
Như vậy, qua số liệu trên có thể thấy dân số và làng xã vùng đất Khánh Hoà phát triển khá nhanh sau khi trở thành một bộ phận của lãnh thổ xứ Đàng Trong nước Đại Việt (tức Việt Nam ngày nay)
Khánh Hoà là một vùng đất giàu tiềm năng; cùng với việc tăng dân số
do quá trình sinh, việc tăng dân số cơ học cũng diễn ra mạnh mẽ do trong những năm đổi mới, nền kinh tế phát triển tương đối nhanh đã thu hút nhiều người từ các nơi khác đến
Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số tỉnh Khánh Hoà là 1.156.903 người, mật độ trung bình 222 người/km²
Trên địa bàn tỉnh có 32 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 983.590 người, chiếm 95,36% Các dân tộc thiểu số như dân tộc Rag Lai có 35.069
Trang 18người, chiếm 3,4%; dân tộc Hoa có 3.731 người, chiếm 0,36%; dân tộc Cơ
Ho có 3.506 người, chiếm 0,32%; dân tộc Ê Ðê có 2.563 người, chiếm 0,25%; dân tộc Tày chiếm 0,12%; dân tộc khác chiếm 0,15%
1.1.1.2 Khí hậu, thời tiết, thủy văn
Khí hậu – thời tiết
Giống như các tỉnh khác của nước ta, tỉnh Khánh Hoà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới – gió mùa Đông Nam Á Nhưng vì Khánh Hoà nằm ở vĩ độ thấp, gần về phía xích đạo (từ 11042’50’’ - 11052’15’’ vĩ độ bắc) nên có nền nhiệt cao hơn các tỉnh phía Bắc
Khánh Hòa là một tỉnh ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, song khí hậu Khánh Hòa có những nét độc đáo riêng biệt So với các tỉnh, thành phía Bắc từ Đèo Cả trở ra và phía Nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào, khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ôn hòa hơn do mang tính chất của khí hậu đại dương; thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào hai tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm, nhiệt độ thay đổi từ 20-27 °C (ở Nha Trang) và 20-
26 °C (ở Cam Ranh) Những tháng còn lại là mùa khô, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7 °C; riêng trên đỉnh núi Hòn Bà (cách Nha Trang 30 km đường chim bay)
có khí hậu như Đà Lạt và Sa Pa Độ ẩm tương đối cao khoảng 80,5%
Mùa khô từ khoảng tháng 1 đến tháng 8, thời tiết thay đổi dần Những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34 °C (ở Nha Trang) và 37-38 °C (ở Cam Ranh) Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ
Trang 19có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn bão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam, các trận bão được dự đoán sẽ đổ bộ vào Khánh Hòa trong những năm gần đây thường lệch hướng vào Nam hoặc tan ngay khi gần vào bờ
Sông ngòi
Sông ngòi ở Khánh Hòa nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40
con sông dài từ 10 km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày Hầu hết, các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía tây trong tỉnh và chảy xuống biển phía đông Do địa hình sông suối có độ dốc cao nên khi có bão kèm theo mưa lớn, làm nước dâng cao nhanh chóng, trong khi đó sóng bão và triều dâng lại cản đường nước rút ra biển, nên thường gây ra lũ lụt Dọc bờ biển, cứ khoảng 5-7 km có một cửa sông
Mặc dù hướng chảy cơ bản của các sông là hướng Tây - Đông, nhưng tùy theo hướng của mạch núi kiến tạo hoặc do địa hình cục bộ, dòng sông có thể uốn lượn theo các hướng khác nhau trước khi đổ ra biển Đông Đặc biệt là sông Tô Hạp, bắt nguồn từ dãy núi phía tây của huyện Khánh Sơn, chảy qua các xã Sơn Trung, Sơn Bình, Sơn Hiệp, Sơn Lâm, Thành Sơn rồi chảy về phía Ninh Thuận Đây là con sông duy nhất của tỉnh chảy ngược dòng về phía tây Hai con sông lớn nhất tỉnh là Sông Cái (Nha Trang) và sông Dinh (Ninh Hòa) Trong đó đặc biệt là Sông Cái – một trong những yếu tố tự nhiên đặc biệt quan trọng để Nguyễn Ánh quyết định xây dựng thành cổ Diên Khánh ở
vị trí như hiện nay
Sông Cái (còn có tên là sông Phú Lộc, sông Cù, ở phần thượng lưu có tên
là sông Thác Ngựa) có độ dài 79 km, bắt nguồn từ hòn Gia Lê cao 1.812 m chảy
qua Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Nha Trang rồi đổ ra biển Theo sách “Đại Nam
nhất thống chí” thì:
Sông Phú Lộc: ở cách huyện Vĩnh Xương 100 trượng về phía bắc,
có ba nguồn: một nguồn từ ngã ba sông Cầu chảy về phía đông 21
Trang 20dặm qua thôn Xuân Mĩ, một nguồn từ trong động Man, chảy về phía đông nam 28 dặm đến xã Xuân Mĩ thì hợp nhau, rồi chảy về phía đông 21 dặm làm sông Phú Lộc; một nguồn từ Thạch Bích chảy về phía đông bắc 27 dặm, rồi vào sông Phú Lộc, qua phía bắc tỉnh thành, lại chảy về phía đông 12 dặm, qua xã Phú Xuân, rồi chia thành ba nhánh: một nhánh chảy về phía bắc chừng 12 dặm; một nhánh chảy về phía đông nam hơn 10 dặm, đều đổ ra cửa lớn Cù Huân, một nhánh từ thôn Hội An chảy chuyển sang phía nam 19 dặm đổ vào cửa bé Cù Huân, tục gọi sông Ngư Trường” [49, tr.103]
1.1.1.3 Hệ sinh thái tự nhiên
Khánh Hoà được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu thuận lợi, địa hình đa dạng; với nhiều đầm, vịnh, và các đảo tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các hệ sinh thái khác nhau như: Rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, cửa sông, đầm, vịnh Đây là những hệ sinh thái đặc trưng của vùng biển nhiệt đới, có tính đa dạng sinh học Có thể nói, ít có vùng biển nào trong cả nước cùng tồn tại đầy đủ các hệ sinh thái nói trên và những mối liên kết giữa chúng như ở Khánh Hoà Rừng ngập mặn, thảm cỏ biển đang thực hiện các chức năng và vai trò sinh thái quan trọng của vùng ven bờ như làm ổn định tầng đáy, chống xói lở bờ, cung cấp nơi trú ẩn, nơi sinh đẻ, tạo nguồn thức ăn
và là nơi ươm nuôi ấu trùng con non các loài hải sản có giá trị Nguồn lợi thuỷ sản khai thác trong rừng ngập mặn, thảm cỏ biển duy trì sinh kế và đời sống
bộ phận lớn cộng đồng dân cư trong khu vực phân bố của chúng
1.1.2 Điều kiện văn hóa - xã hội
1.1.2.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Khánh Hòa
Khánh Hòa là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, nơi đây đã từng tồn tại một nền văn hóa Xóm Cồn, có niên đại trước cả văn minh Sa Huỳnh
Trang 21Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” có ghi:
Xưa là nước ngoài cõi (khiếu ngoại) của Nhật Nam Hậu hán thư chép: các Man Di ở cõi Nhật Nam đều xưng là “Khiếu ngoại quốc” sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn dẫn Tống Bạch (tác giả sách Văn uyển anh hoa) nói: Mã Viện nhà Hán đánh Giao Chỉ, đi về phía đông hơn 400 dặm, đến Lâm Ấp, lại đi về phía Nam hơn 200 dặm, đến nước Tây Đồ Di Lại nói Tây Đồ Di sau bị Chiêm Thành gồm chiếm, sau là đất Chiêm Thành Nước
ta đời Lê, năm Hồng Đức thứ 1 (1470) Thánh Tông thân đi đánh Chiêm Thành; phá thành Chà Bàn, bắt được chúa Chiêm, tướng nước ấy là Bô Trì Trì chạy đến Phan Lung, chiếm cứ đất này xưng là Chiêm Thành, giữ được một phần năm đất đai cũ, nhà Lê phong cho để triều cống [50, tr.87-88]
Lời chú của Nguyễn Thư Hiên trong sách “Dư địa chí” của Nguyễn
Trãi nói: Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, mở đất đến núi Thạch Bi, đất bốn phủ trở vào Nam là địa giới Chiêm Thành Theo Minh Sử thì vua Chiêm Thành có sớ nói rằng: Từ xưa thổ địa nước ấy có 27 xứ, 4 phủ, 7 châu, 22 huyện, nay chỉ còn 5 xứ từ Bang Đô Lang đến Chân Lạp mà thôi Bang Đô Lang, Phan Định, Phan Lung ngờ là đất Phan Rang Năm xứ ngờ là đất các xứ Phan Ri, Phan Thiết, Phan Rang, Phố Hài, Phố Châm
Thông qua các nguồn sử liệu, đến nay người ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng Khánh Hòa (ngày nay) là một trong những trung tâm xứ Panduranga, sau đó Kauthara với tính chất là một cảng thị quan trọng có quan
hệ giao thương quốc tế khá rõ nét đồng thời là địa bàn hành chính cư trú chủ yếu của bộ tộc Cau, nơi phát tích Bà Mẹ Xứ Sở (Pô Inư Nagar) của dân tộc Chăm Từ Kauthara trở thành Phủ Thái Khang (1653)
Trang 22Năm 1653, lấy cớ vua Chiêm Thành là Bà Tấm quấy nhiễu dân Việt ở Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần bèn sai quan cai cơ Hùng Lộc đem 3000 quân sang đánh chiếm được vùng đất Phan Rang trở ra đến Phú Yên đặt dinh
Thái Khang gồm hai phủ là phủ Thái Khang và phủ Diên Ninh Sách “Ðại
Nam nhất thống chí” có viết:
Năm 1653 vua Chăm là Bà Tấm sai quân quấy nhiễu biên cảnh, chúa Nguyễn Phúc Tần sai cai cơ Hùng Lộc chống giữ, nhân đêm tối vượt núi Thạch Bi, tiến đến tận sông Phan Lang (Rang) Vua Chăm sai con mang thư hàng và xin dâng đất cho chúa từ phía Ðông sông Phan Rang trở ra đến Phú Yên Chúa Nguyễn chấp thuận, đặt dinh Thái Khang chia làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh gồm 5 huyện là Phước Diên, Hoa Châu, Vĩnh Xương (thuộc phủ Diên Ninh) ở phía Nam; huyện Tân Ðịnh, Quảng Phước (thuộc phủ Thái Khang), giao cho Hùng Lộc trấn thủ [50] Như vậy, với việc đặt dinh Thái Khang và phân chia các đơn vị hành chính, chúa Nguyễn đã đưa vùng đất Khánh Hoà ngày nay hội nhập vào lãnh thổ
Ðại Việt, và cũng là “cột mốc đánh dấu việc thiết lập chủ quyền của người Việt
trên vùng đất này” [16, tr.69] Sự kiện lịch sử này được coi là mốc thời gian mở
đầu cho sự hình thành địa phận hành chính tỉnh Khánh Hoà ngày nay
Tên tỉnh Khánh Hòa được xác lập dưới triều vua Minh Mạng Năm
1831 (năm Minh Mạng thứ 12), Vua Minh Mạng thành lập tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở trấn Bình Hòa (dinh Thái khang cũ), gồm 2 phủ, 4 huyện là: Phủ Diên Khánh gồm 2 huyện: Phước Ðiền, Vĩnh Xương; Phủ Ninh Hòa gồm 2 huyện: Quảng Phước và Tân Ðịnh Trải qua triều Nguyễn, thời thuộc Pháp, tỉnh lỵ đóng tại thành Diên Khánh Đến đầu năm 1945 chuyển về đóng tại thị
xã Nha Trang (nay là thành phố Nha Trang) cho đến nay
Từ đó có thể kết luận vùng đất Khánh Hoà được hình thành và phát triển qua 4 giai đoạn: là một trong những cội nguồn của văn hoá Sa Huỳnh; là
Trang 23vùng đất Kauthara thuộc vương quốc Chăm pa, Dinh Thái Khang thời nhà Nguyễn và tỉnh Khánh Hoà ngày nay
Trải qua bao nhiêu thời đại với bao đổi thay, ngày nay Khánh Hoà vẫn giữ vai trò là một tỉnh với vị thế quan trọng ở khu vực Nam Trung Bộ, là
vùng đất “hình thế trọng yếu ở một phương” như các sử gia nước nhà đã
khẳng định
đất Khánh Hòa
Dân cư
Cách đây 5000 năm, Khánh Hòa đã có cư dân sinh sống Bằng chứng về
sự cư trú lâu đời của những cư dân này là dựa vào các di chỉ khảo cổ được phát hiện gần đây ở các địa phương trong tỉnh như: Dốc Gạo (thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn), Xóm Cồn (phường Cam Linh, TP Cam Ranh), xã Diên Sơn (huyện Diên Khánh), đảo Hòn Tre (TP Nha Trang) và một số nơi khác đã tìm thấy dấu vết những cư dân đầu tiên sống cách đây khoảng từ 4.500 đến 5.000 năm
Theo dòng lịch sử, cư dân ở vùng đất Khánh Hòa được hình thành qua nhiều giai đoạn khác nhau và trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt Năm 1613, trước khi chết, chúa Nguyễn Hoàng có dặn con trai là chúa Nguyễn Phúc Nguyên rằng:
Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Hoành Sơn và sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và núi Thạch Bi vững bền, núi sẵn vàng sắt, biển sẵn có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng, nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với nhà Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời, còn nếu thế lực không ổn định thì cố giữ vững đất đai chờ cơ hội chứ đừng bỏ quên lời dặn của ta [14]
Trang 24Năm 1653, dinh Thái Khang được thành lập, có 2 phủ: Thái Khang và Diên Ninh Kể từ thời gian này, công cuộc khai hoang lập làng của người Việt cũng bắt đầu Cùng với việc cho thi hành một hành một số chính sách khá cởi
mở với nhiều ưu đãi cho những người đến định cư ở đây, Chúa Nguyễn cũng cho một số địa chủ giàu có người Việt chiêu mộ dân nghèo từ các tỉnh Quảng Nam đến Phú Yên vào khai khẩn đất hoang Vì thế sau khi mở cõi, đất Khánh Hòa đã nhanh chóng thu hút nhiều người dân của vùng Ngũ Quảng, Bình Định, Phú Yên vào đây lập nghiệp Họ đi chủ yếu bằng đường thủy và dừng chân lại
ở cửa sông, ven biển, là nơi thiên nhiên đã dành sẵn lộc trời cho những người con xa xứ để lập làng lập ấp Những làng biển ở Khánh Hòa vì vậy thường là những làng có lịch sử khai cơ lập nghiệp lâu đời hơn các làng nông nghiệp Nhóm cư dân thứ hai đến cư trú là những người bị tù tội, bị lưu đày, trốn thuế, hoặc những người trốn tránh binh dịch trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn
Công cuộc khai hoang lập làng được xúc tiến mạnh mẽ kể từ khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn chấm dứt vào cuối thế kỷ XVIII Thực chất cuộc di cư của người Việt từ phía Bắc vào chủ yếu là để kiếm kế sinh nhai, hoặc để thoát khói ách áp bức bóc lột quá hà khắc của các dòng họ phong kiến Trịnh, Nguyễn
Cùng với sự di dân của người Việt vào vùng đất mới là sự tháo lui của một số bộ phận người Chăm vào phía Nam sau khi Bà Tấm cắt đất cho Chúa Nguyễn Phúc Tần Một số cư dân người Chăm khác đi ngược về phía tây để cùng chung sống với những đồng bào bản địa; số còn lại đã cùng với người Việt chung sống và chăm lo phát triển vùng đất này Và như thế đã tạo nên những xóm làng người Việt sống đan xen với xóm làng người Chăm Sự cộng sinh, cộng cư của hai dân tộc Chăm - Việt dần dần phát triển, hòa quyện vào nhau tạo thành những nét riêng trong đời sống của cư dân Khánh Hòa mà không phải ở miền đất nào cũng có
Cũng trong thời kì này, phong trào kháng Thanh phục Minh bị đàn áp mạnh mẽ ở Trung Quốc, một số di thần nhà Minh và nhân dân các tỉnh Phúc
Trang 25Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu… đã theo đường biển đi về phương Nam tìm đất sống Thế là một lần nữa người dân bản địa Khánh Hòa lại dang tay đón nhận, cưu mang những người dân đến từ phương Bắc cùng chung sống, và sự cộng sinh, cộng cư lần này lại làm nảy sinh thêm những nét riêng mới và tạo nên những tính chất đa dân tộc cho vùng đất Khánh Hòa
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến nay có khoảng 32 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, trong đó dân tộc Kinh có 1.095.981 người sống phân bố đều khắp huyện, thị, thành phố, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là các vùng đồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn Dân tộc thiểu số lớn nhất là người Raglai với 45.915 người sống tập trung chủ yếu
ở hai huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và một vài xã miền núi các huyện Diên Khánh, Cam Lâm và thành phố Cam Ranh trong các bản làng (palây) Tại các khu vực giáp ranh với Lâm Đồng và Đăk Lăk có khoảng 4.778 người Cơ-ho
và 3.396 người Ê-đê sinh sống Dân tộc Hoa có khoảng 3.034 người tập trung chủ yếu ở thành phố Nha Trang (khoảng 2000 người), thị xã Ninh Hòa và các
xã phía Đông huyện Diên Khánh Một nhóm thiểu số chính khác là người Tày (1.704) và người Nùng (1.058) di cư từ các tỉnh phía Bắc vào trong cuộc di cư năm 1954 và trong các năm gần đây sinh sống chủ yếu ở huyện Khánh Vĩnh Ngoài các nhóm chính trên còn có các nhóm dân tộc thiểu số với số dân rất ít như Mường, Thái, Chăm, Khmer, Thổ Người Chăm là cư dân bản địa ở Khánh Hòa Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử, từ giữa thế kỷ XVII về sau này, người Chăm ở Khánh Hòa lần lượt di chuyển vào các tỉnh phía Nam
Vì vậy mà ngày nay, người Chăm ở Khánh Hòa chỉ còn khoảng 290 người Trên địa bàn thành phố Nha Trang cũng có một vài nhóm người nước ngoài sinh sống và làm việc thường xuyên trong những năm gần đây, một số ít trong
số họ hiện đã định cư lâu dài và nhập quốc tịch Việt Nam
Trang 26Như vậy, có thể thấy rằng ở vùng đất này đã cùng tồn tại các nền văn hoá lớn như Chăm – Việt - Hoa và các tộc người khác như Raglai, Êđê Ở đây có sự đan xen, tiếp biến lẫn nhau một cách tự nguyện, hoà bình, bình đẳng, không có sự kỳ thị, bài xích lẫn nhau Đây là một đặc điểm lớn trong lịch sử hình thành của vùng đất Khánh Hoà, vừa có những nét riêng mang tính địa phương do những đặc điểm lịch sử cụ thể quy định, vừa mang truyền thống lớn của cả dân tộc Việt Nam
Tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán
Về tôn giáo hiện tại tỉnh Khánh Hoà có: Đạo Phật, Đạo Kitô, Đạo Cao Đài Phong tục tập quán thờ cúng ông bà tổ tiên của người dân luôn được tôn trọng
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, toàn tỉnh Khánh Hòa vào thời
điểm của cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, Khánh Hòa có 293.586 người
tự khẳng định mình có tôn giáo tín ngưỡng, nhiều nhất là Phật giáo 170.980 người; tiếp đến là Công giáo 101.616 người, Tin Lành 13.726, Cao Đài 6.819;
và các tôn giáo khác Phật giáo tập trung nhiều nhất ở Nha Trang (50,4%); Công giáo, Cao Đài tập trung ở Cam Ranh, Tin Lành tập trung ở Khánh Vĩnh
Dù theo tôn giáo nào người Khánh Hòa đều có chung quan niệm “vạn vật hữu linh” và đặt lòng tin sâu sắc vào sự độ trì, phù hộ của các đấng siêu nhiên Ngoài ra, người dân Khánh Hòa còn có những tín ngưỡng dân gian được thể hiện qua các tập tục thờ Bà Thiên Y Thánh Mẫu, tục thờ Ông Nam Hải, tục thờ Ông Quan Thánh… Những tập tục ấy là kết quả độc đáo của quá trình cộng sinh, cộng cư giữa các dân tộc Việt - Chăm - Hoa trên mảnh đất này
Cùng với những đặc điểm của thiên nhiên và lịch sử, ba tập tục thờ cúng dân gian đó đã tạo nên bản sắc văn hóa cho vùng đất Khánh Hòa Ba tập tục ấy giao thoa, đấu kết và hòa quyện nhau tạo nên đời sống tâm linh mang hình chóp nón mà đáy là tục thờ Bà Thiên Y Thánh Mẫu và đỉnh là sự hội tụ
Trang 27của tục thờ Mẫu của hai dân tộc Việt – Chăm được phủ thêm màu sắc của Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo để phù hợp với cấu trúc đa nguyên trong tín ngưỡng người Việt ở Khánh Hòa
Pô Inư Nagar là vị thần lớn mà lại là phúc thần đối với người dân Khánh Hoà Hầu như mọi làng đều có miếu riêng thờ Bà cạnh hoặc trong đình
và xuân thu nhị kỳ vào tháng Ba, tháng Tám, các làng đều làm lễ cúng Bà Người Việt vừa dịch vừa phiên âm tên Nữ thần Yang Pô Inư Nagar (Yang là thần, Pô là ngài, Inư là mẹ và Nagar là xứ sở) thành Thiên Y A Na thánh mẫu
và Bà luôn được coi là thượng đẳng thần Quả không một vị thần thánh nào có được vị trí như nữ thần Pô Inư Nagar trong văn học dân gian cũng như trong đời sống tín ngưỡng của người dân Khánh Hoà Như vậy có thể nói, Thiên Y
A Na Thánh Mẫu đã được Việt hoá từ lâu đời, đã trở thành một dạng kiểu như
nữ thần, Mẹ xứ sở của vùng đất Khánh Hoà và được người dân nơi đây thờ phụng một cách thành kính Tín ngưỡng Thiên Y A Na Thánh Mẫu đã thấm đậm vào đời sống văn hoá truyền thống của người Khánh Hoà Hình tượng của Bà, việc thờ phụng Bà đã kết tinh vào văn học, văn nghệ dân gian, vào đời sống tín ngưỡng tâm linh của người dân một cách sâu sắc và rộng rãi Bởi vậy cũng có thể nói rằng tín ngưỡng Thiên Y A Na Thánh Mẫu là một trong những nét đặc trưng trong đời sống văn hoá của người Khánh Hoà
Tín ngưỡng thờ mẫu Pô Nagar – yếu tố “mẹ” đã ít nhiều ảnh hưởng đến tâm tính của người dân Khánh Hoà Không phải không có cơ sở mà các sử gia triều Nguyễn có những nhận xét như sau về người dân vùng đất Khánh Hoà:
Phong tục thuần hậu, tập quán quê mùa Kẻ sĩ chất phác mà trầm tĩnh, nhân dân kiệm mà lành, quần áo dùng vải trắng, ít thích loè loẹt Lễ tổ tiên hoặc kỳ phúc hay bày hát xướng; cũng có làm chay, nhưng phần nhiều đơn giản không chuộng xa hoa Các việc đám cưới đám ma hay giúp đỡ lẫn nhau” [49, tr.92-93]
Trang 28Đối với những người Hoa khi đến đây sinh sống vẫn bảo lưu và duy trì các phong tục, tập quán, tín ngưỡng và văn hoá của họ qua việc dựng chùa thờ Phật Quan Âm Nam Hải hay Thiên Hậu Thánh mẫu (thường gọi là Chùa Bà), thờ Quan Công (thường gọi là Chùa Ông) theo truyền thống văn hoá tộc người mà đến nay vẫn còn hiện diện
Đối với người dân Khánh Hòa, tín ngưỡng dân gian lúc nào cũng như hình với bóng, ngự trị trong cuộc sống, từ lúc sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời Hiện nay, có nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau ở Khánh Hòa, tuy nhiên, qua quá trình tiếp biến và hội nhập của các dân tộc đã tạo nên những giá trị văn hóa đồng nhất nhưng chính trong sự đồng nhất đó đã khẳng định đặc tính tâm linh riêng của mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa
Tín ngưỡng dân gian là một trong những thành phần tạo nên bản sắc văn hóa của các dân tộc ở Khánh Hòa Những lễ nghi, phong tục, tâm linh, tín ngưỡng ảnh hưởng mật thiết đến đời sống hàng ngày của cộng đồng cư dân,
nó phản ánh niềm tin của con người vào một hiện tượng, sự vật ấy có tác
động trở lại đối với cuộc sống của mỗi người và cộng đồng Bằng lòng tin tín ngưỡng, con người luôn hướng đến cái thiện, thể hiện lòng biết ơn, tôn kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên, vị thành hoàng, tổ nghiệp đồng thời đề cao chủ nghĩa nhân đạo làm phong phú thêm đời sống tinh thần của mình Tín ngưỡng dân gian đã góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, là thành tố kết dính với truyền thống văn hóa của cộng đồng cư dân lại với nhau, góp phần làm cho nền văn hóa dân tộc thêm phong phú, đa dạng
1.1.3 Khái quát đặc điểm kinh tế Khánh Hòa
Khánh Hoà ngày nay, một vùng đất có địa hình đa dạng, điều kiện tự nhiên phong phú thuận lợi cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và thương mại – dịch vụ
Trang 29Theo những thư tịch cổ, khoảng thế kỷ II-III đến giữa thế kỷ XVII sau Công nguyên, vùng đất Khánh Hoà hôm nay thuộc xứ Kauthara thủa trước Người dân nơi đây vốn rất giỏi nghề khai thác nguồn lợi biển, buôn bán bằng đường biển Từ sau 1653, khi vùng đất này trở thành một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam thống nhất hôm nay, người Việt đã vào sinh sống cộng cư cùng người Chăm, nghề khai thác nguồn lợi biển, buôn bán bằng đường biển vẫn được duy trì phát triển Thời gian đầu, những trung tâm cư trú của người Việt cũng vẫn là những làng cổ ven sông, ven biển như khu vực Tứ thôn Đại Điền, Thanh Minh, Trường Lạc (Diên Khánh) Trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển cho đến nay, ở Khánh Hoà thực sự có một nền văn hoá biển truyền thống của người Việt mà dấu ấn của nó luôn in đậm trong đời sống kinh tế và tinh thần của nhân dân rất dễ nhận biết Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – kỹ thuật, nhiều phương tiện, công nghệ tiên tiến, hiện đại được đưa vào sử dụng khai thác nguồn lợi biển, tuy vậy nhiều làng chài vẫn duy trì các tập quán đánh bắt, khai thác biển gần với phương thức truyền thống (ngoại trừ phương thức đánh bắt xa bờ mới được triển khai gần đây) Bên cạnh đó, ở các khu vực dọc duyên hải còn phát triển nghề muối
Khánh Hoà từ xưa đã được mệnh danh là “xứ trầm, biển yến” với nghề
khai thác lâm thổ sản quý (tìm trầm hương) và là một trong số ít địa phương ở
Việt Nam có nghề khai thác yến sào thông qua đó đã có một “văn hoá yến
sào” mà không phải nơi nào trên đất nước ta cũng có Những thổ sản quý này
đã được nhắc đến trong sách “Đại Nam nhất thống chí” như sau:
Kỳ nam: sản ở Sơn Man Dân xã An Thành huyện Tân Định, hằng năm đi kiếm để nạp, nắm nào không có kỳ nam phải nộp thay bằng trầm hương Xét sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn: kỳ nam sản xuất tự đầu núi các xã thuộc hai phủ Bình Khang và Diên
Trang 30Khánh là hạng tốt nhất, sản xuất tự Phú Yên và Quy Nhơn là thứ nhì Hương ấy là do lõi cây gió kết thành Gió có 3 loại: gió lưỡi trâu thì thành khổ trầm, gió niệt thì thành trầm hương, gió bầu thì thành kỳ nam Người ta thấy cây già lá vàng mà nhỏ, thân cây nổi nhiều u bướu thì biết ngay là có hương, chặt bổ để lấy Hồi đầu bản triều đặt đội An Sơn, hằng năm vào tháng 2 thì đi kiếm, tháng
6 trở về, được nhiều ít không nhất định”; “Yến sào: sản ở các đảo
ở hải phận Cù Huân, có thuế” [49, tr.121]
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy kinh tế - xã hội ở Khánh Hoà
từ năm 1653 khi dinh Thái Khang được thành lập và công cuộc khai hoang lập làng của người Việt bắt đầu, cùng với quá trình khai thác trước đó của người dân bản địa sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển và trở thành ngành sản xuất chính Kết quả của quá trình lao động cần cù khó nhọc của hàng vạn nông dân Việt được thể hiện trong thống kê của Quốc sử quán triều
Nguyễn: “Năm 1764 tổng số ruộng đất từ Quảng Nam đến Gia Định là 27
vạn dặm, trong đó Bình Khang: 6.148 mẫu 0 sào 8 thước 5 tấc” [50] Trong
bảng tính đinh, điền, thuế khoá mà chúa Nguyễn Phước Thuần sai làm năm
1769 có ghi lại rằng: “Xứ Quảng Nam gồm cả Gia Định có 9 phủ, 25 huyện, 1
châu, ruộng thực trưng hơn 270.000 mẫu và lúa thuế mỗi năm là 6.108.524 thăng không kể gạo và tiền” [19].
Việc khai khẩn đất đai càng về sau càng tiến triển mạnh vì vậy đến những năm 30 của thế kỷ XIX, diện tích đất canh tác của tỉnh Khánh Hoà đã là 9.549 mẫu, trong đó diện tích đất canh tác của phủ Bình Hoà gồm hai huyện Quảng Phước, Tân Định là 4.010 mẫu và diện tích đất canh tác của phủ Diên Khánh gồm ba huyện Phước Điền, Vĩnh Xương, Hoa Châu là 5.539 mẫu
Về thương mại - dịch vụ: Với lợi thế về vị trí địa lý, thuận lợi về giao thông đường thuỷ, đường bộ vùng đất Khánh Hoà trong hơn một thế kỷ rưỡi
Trang 31từ giữa thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX việc giao lưu buôn bán hàng hoá với các vùng trong cả nước đặc biệt là khu vực Trung Bộ và Nam Bộ được phát triển mạnh Qua số liệu thống kê của Quốc sử quán triều Nguyễn vào thời các chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong, ở các cửa biển, đèo, ải, cửa sông, nơi nào mà người buôn bán thường qua lại đều đặt sở Tuần ty (gọi tắt là sở Tuần) để đánh thuế hàng hoá Do đó, có thể căn cứ vào số lượng các Tuần ty và số tiền thuế hàng hoá thu được mà suy ra tình hình buôn bán lúc đó Theo tài liệu còn để lại thì vào thập niên 70 của thế kỷ XVIII thì phủ Bình Khương có tuần Tắc Cu
ở cửa Nhã tiền thuế hơn 107 quan, tuần Bình Khương tiền thuế hơn 155 quan, tuần đèo Thạch Vọng tiền thuế hơn 156 quan, tuần đèo Nha Trang tiền thuế
163 quan, tuần Hòn Khói tiền thuế 91 quan; phủ Diên Khánh có tuần Cam Ranh tiền thuế hơn 105 quan, tuần Cù Huân và đò Cồn Lỡ tiền thuế 206 quan Tổng cộng tiền thuế hàng hoá là hơn 983 quan, nếu đem so với các phủ khác như phủ Phú Yên tiền thuế 629 quan và phủ Quy Nhơn tiền thuế 820 quan thì
rõ ràng là việc buôn bán của dinh Bình Khương (Khánh Hoà ngày nay) phồn thịnh hơn nhiều
Người Hoa khi đến định cư ở vùng đất này đã đóng góp một phần quan trọng trong sự phát triển thương mại Đóng góp quan trọng nhất của họ ở Khánh Hoà là họ đã cùng một số người Việt giàu có bỏ vốn để xây dựng các chợ, đặc biệt là các chợ ven sông Những chợ này dần dần phát triển trở thành những trung tâm buôn bán chính ở Khánh Hoà Đáng kể nhất là chợ Mới Vĩnh Điềm đã trở thành một thị tứ và là thị cảng quan trọng của Khánh Hoà vào nửa đầu thế kỷ XIX, nơi đây là trung tâm giao thương buôn bán với các thương nhân trong nước ở Hội An, Quy Nhơn và với thương nhân người Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia
Trong những năm đổi mới, với lợi thế được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện tự nhiên phong phú, cùng nhiều di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng, Khánh
Trang 32Hoà đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam và ngành kinh tế du lịch – dịch vụ được coi là một trong những thế mạnh, ngành kinh tế mũi nhọn của Khánh Hoà
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Khánh Hoà đang ra sức đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy mạnh phát triển kinh tế với tốc độ cao, nâng cao đời sống nhân dân, phấn đấu mức tăng GDP bình quân hàng năm đạt từ 9-10% Trên cơ sở phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - du lịch - nông nghiệp, phấn đấu xây dựng tỉnh Khánh Hoà thành một tỉnh giàu về kinh
tế, đẹp về văn hoá
1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của thành cổ Diên Khánh
1.2.1 Những tiền đề về chính trị, lịch sử, xã hội cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Việt Nam nửa sau thế kỷ XVIII là giai đoạn khủng hoảng của chế độ phong kiến
Nhà Hậu Lê chính thức mất năm 1789, tồn tại trong 355 năm, xét về danh nghĩa chính thống, triều Lê là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử nước
ta, chỉ có 6 năm gián đoạn Trong thế kỷ XVIII, nước Đại Việt nằm dưới quyền cai trị tượng trưng của vua Lê, có danh mà không có quyền hành chính trị Quyền lực thực sự nằm trong tay hai gia đình phong kiến, các chúa Trịnh
ở phía bắc, kiểm soát nhà vua và điều khiển triều đình ở Thăng Long; các chúa Nguyễn ở phía nam, đóng đô tại Phú Xuân Hai bên từng giao tranh để giành quyền kiểm soát toàn bộ đất nước trong suốt 45 năm và đều tuyên bố trung thành với nhà Lê để củng cố quyền lực cho mình Ở thời điểm đó, nhân dân sống trong cảnh lầm than, cực khổ Đa số ruộng đất theo thời gian rơi vào tay số ít người Quan lại thường áp bức và tham nhũng; các vị chúa cai trị sống hoang phí trong những cung điện lớn
Trang 33Từ giữa thế kỷ XVIII, các cuộc chiến liên tục giữa Đàng Trong với vương quốc Khmer, Ayutthaya cũng như các cuộc tranh chấp ở Đàng Ngoài làm cho đời sống người dân thêm cùng quẫn Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra, song phần lớn chịu thất bại Phong trào nổi dậy của Tây Sơn bùng nổ năm 1771 tại Quy Nhơn (Bình Định) đã phát triển rộng lớn đánh bại hai chế độ cai trị của hai họ Nguyễn, Trịnh, chấm dứt việc chia đôi đất nước cũng như bãi bỏ nhà Hậu Lê vốn chỉ còn trên danh nghĩa Nhà Tây Sơn đã đánh bại 5 vạn quân Xiêm La (năm 1784) tại miền Nam và 29 vạn quân Mãn Thanh (năm 1789) xâm lược tại miền Bắc Nguyễn Huệ chính thức trở thành vua của Đại Việt lấy niêu hiệu là Quang Trung, thống nhất hầu hết lãnh thổ từ miền Bắc vào tới Gia Định Tuy nhiên, sau cái chết của ông năm 1792, nội bộ lục đục khiến chính quyền Tây Sơn càng ngày càng suy yếu, nhà Tây Sơn rơi vào cảnh
“cốt nhục tương tàn”, triều đình nhanh chóng suy yếu và mất lòng dân
Một người thuộc dòng dõi chúa Nguyễn ở miền Nam là Nguyễn Phúc Ánh, với sự hậu thuẫn và cố vấn của một số người Pháp, ra sức củng cố lại vùng Gia Định; tranh thủ những sự ủng hộ, nhất là về vũ khí… đã đánh bại được nhà Tây Sơn vào năm 1802 Ông lên làm vua, lấy niên hiệu là Gia Long
và trở thành vị vua đầu tiên cai trị một đất nước thống nhất với hai đồng bằng phì nhiêu nối với nhau bằng một dải duyên hải Năm 1804, ông cho đổi tên nước từ Đại Việt thành Việt Nam Như vậy, triều đại của ông được đánh dấu bằng việc chính thức sử dụng quốc hiệu Việt Nam với cương thổ rộng lớn nhất cho đến thời đó, kéo dài từ biên giới với Trung Quốc tới vịnh Thái Lan; thay thế các cải cách có xu hướng tự do của triều Tây Sơn bằng nền giáo dục
và điều hành xã hội theo Nho giáo khắc nghiệt hơn; định đô tại Phú Xuân Nhà nước quân chủ tập quyền được củng cố Vua Nguyễn trực tiếp điều hành mọi việc hệ trọng trong nước, từ trung ương đến địa phương
Ngoài ra, ông còn là người mở đường cho các ảnh hưởng của người Pháp ở Việt Nam qua việc mời họ giúp xây dựng các thành trì lớn, huấn luyện
Trang 34quân đội và khoan thứ cho việc truyền đạo Cơ đốc Dưới triều đại của ông, Việt Nam trở thành một thế lực quân sự hùng mạnh ở Đông Dương, cùng Xiêm La phân chia ảnh hưởng đối với Chân Lạp
Mặc dù ra đời và tồn tại trong một bối cảnh đầy biến động của tình hình trong nước và quốc tế nhưng những thành tựu, kinh tế, văn hoá và xã hội thời
kỳ này vẫn tiếp tục phát triển
1.2.2 Khái quát lịch sử xây dựng thành cổ Diên Khánh
Năm 1653 chúa Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Hùng Lộc Hầu cầm quân
mở nước về phương Nam, lập dinh Thái Khang (gồm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh), trấn thủ mảnh đất này và tiến hành chiêu dân, lập ấp, khai khẩn ruộng đồng, tổ chức, xây dựng hệ thống hành chính của người Việt ngày càng hoàn thiện Trong vòng hơn 100 năm dưới thời các chúa Nguyễn đã có những công trình kiến trúc được xây dựng làm lỵ sở của các phủ, huyện với chức năng là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế song quy mô to, nhỏ có khác nhau do tính chất và tầm quan trọng của mỗi địa phương
Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra ở Bình Định nhằm chống lại chế
độ phong kiến đã suy tàn của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và chẳng bao lâu đã phát triển thành một phong trào rộng lớn Tháng 12 năm Quý Tỵ (1773), quân Tây Sơn đã chiếm xong Bình Khang, Diên Khánh Đến tháng 4 năm sau tức năm 1774, quân Nguyễn do Tống Phúc Hiệp chỉ huy tấn công ra và thu lại ba phủ Bình Thuận, Diên Khánh và Bình Khang Năm 1775, Tống Phúc Hiệp và Nguyễn Khoa Thuyên đưa quân từ Bình Khang ra Phú Yên bị Nguyễn Huệ đánh cho đại bại ở Vũng Lấm – Xuân Đài Viện binh của quân Nguyễn từ Bình Khang, Diên Khánh ra cứu viện nhưng bị quân Tây Sơn đặt phục binh tại núi Tam Phong (đèo Cổ Mã, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh) đánh cho tướng sỹ quân Nguyễn tử trận rất nhiều Tống Phúc Hiệp vội rút tàn quân về
Trang 35đóng tại Hòn Khói (Ninh Hoà) một thời gian rồi cũng phải rút về Gia Định Như vậy, trong vòng gần 20 năm (từ năm 1775 đến 1792), vùng đất Bình Khang hoàn toàn do quân Tây Sơn quản lý và trong khoảng thời gian này nhiều thành luỹ, đồn trại đã được quân Tây Sơn xây dựng trên đất Khánh Hoà ngày nay, như tại các điểm đồi Trại Thuỷ, khu Thuỷ Xưởng (Nha Trang), Du Lâm (Ba Ngòi), pháo đài Ninh Hải, đồn Hòn Khói (Ninh Hoà), Tam Độc, Sơn Tập (Vạn Ninh) như tài liệu cũ còn ghi
Sau khi Quang Trung Nguyễn Huệ mất (1792), phong trào Tây Sơn
ngày một suy yếu, Nguyễn Ánh ở Gia Định đã gấp rút phản công Năm 1793,
Nguyễn Ánh cùng Võ Tánh và Nguyễn Văn Trương đem quân tiến đánh Diên Khánh Trong sách “Việt Nam sử lược” có ghi: “ Đến tháng 5 năm Quý
Sửu (1793), chiến thuyền của Nguyễn Vương vào cửa bể Nha Trang rồi lên đánh lấy phủ Diên Khánh và phủ Bình Khang ” [29, tr.421]
Sau khi đẩy lùi nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh quyết định xây dựng Diên Khánh thành căn cứ vững chắc để duy trì vùng kiểm soát của mình Đây
là một địa bàn chiến lược quan trọng nằm dựa vào dãy Trường Sơn và hai nhánh núi như hình cánh cung vòng ra sát biển như một vành đai phòng ngự
từ xa Ngoài đường thiên lý Bắc - Nam bảo đảm vận chuyển trên bộ, sông Cái Nha Trang xuôi bến Trường Cá và cách cửa biển chừng 10km rất thuận lợi cho vận tải đường thủy
Trên cơ sở của thắng lợi trên, Nguyễn Ánh đưa quân tấn công ra Quy
Nhơn nhưng bị quân Tây Sơn đánh cho đại bại Sách “Việt Nam sử
lược”chép: “Nguyễn Vương thấy viện binh đã đến, liệu thế chống không nổi, rút quân về Diên Khánh rồi về Gia Định, để lại Nguyễn Văn Thành ở lại giữ Diên Khánh Đến tháng 11, Nguyễn Vương lại sai Đông cung Cảnh và ông Bá Đa Lộc, Phạm Văn Nhân, Tống Phúc Khê ra giữ thành Diên Khánh” [29, tr.422]
Trang 36Tuy nhiên, thành Diên Khánh không phải được xây ngay từ tháng 5, tức là thời điểm Nguyễn Ánh bị thua ở Quy Nhơn phải rút về Diên Khánh Một số nguồn tư liệu cho biết, thành Diên Khánh do Hoàng tử Cảnh trực tiếp
trông coi việc xây dựng Theo “Việt sử xứ Đàng Trong” thì: “Nhân lực để
đắp thành gồm 3.000 quân Bình Thuận, 100 dân Thuận Thành và trong một
sở để cho rằng, thành Diên Khánh được xây dựng từ tháng 11 (lúc Hoàng tử Cảnh được cử ra) đến tháng 12 năm 1793 Đây là toà thành theo kiểu Vauband, có sự giúp sức của một viên sỹ quan trẻ người Pháp tên là Olivier
de Puymanel Trước đó viên sỹ quan này đã giúp Nguyễn Ánh xây thành Gia Định (1790) theo kiểu Vauband nói trên
1.2.3 Qui mô thành cổ Diên Khánh trong lịch sử qua các nguồn tư liệu
Là một trong những vị trí trọng yếu trên nhiều phương diện chính trị, quân sự, văn hóa – xã hội của các phủ Thái Khang và Diên Ninh xưa, tỉnh Khánh Hòa ngày nay nên thành cổ Diên Khánh đã được nhắc tới trong nhiều
công trình nghiên cứu Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán
triều Nguyễn đã viết về Thành tỉnh Khánh Hòa:
Chu vi 636 trượng 7 thước 4 tấc, cao 7 thước 5 tấc, mở 4 cửa, hào rộng 4 trượng, sâu 6 thước, xây bằng đất ở địa phận hai xã Phú Mĩ và Phúc Thịnh huyện Phúc Điền Trước kia lỵ sở của dinh ở địa phận xã Đa Phúc huyện Quảng Phúc, sau dời đến chỗ hiện nay, tức là Thành Diên Khánh cũ – Xét: Thành Diên Khánh trước là thủ sở Nha Trang, năm Quý Sửu (1793) quân nhà vua tiến đánh Quy Nhơn, lúc trở về, xa giá dừng ở Diên Khánh, xem xét thế đất, sau nhân bảo cũ Hoa Bông đắp thành bằng đất, thành
mở 6 cửa, đều có nhà lầu, 4 góc thành có núi đất, ngoài thành đào hào, ngoài hào có trại ; các cửa đều có cầu treo để qua hào,
Trang 37trước sau có núi sông bao bọc, thật là nơi thiên hiểm, nay bỏ bớt 2 cửa Pháo đài và núi đất vẫn còn, phía Bắc thành dựa lưng vào sông Cái, thường bị nước lũ xói vào, nên năm Minh Mệnh thứ 4 đắp đê
chắn ngang sông, lại đào cừ để dẫn nước về phía bắc [49, tr.93] Sách “Phương Đình dư địa chí” ghi: “Năm Quý Sửu vua Thế Tổ Cao
Hoàng đế lấy lại đất ấy vẫn gọi là Bình Khang doanh (đặt chức thỉ lưu, cai
bạ, ký lục) lại đắp thành Diên Khánh ở thú sở Nha Trang, núi sông thật là thiên hiểm, tục gọi là Nha Trang thành” [52]
Tư liệu lịch sử khác còn ghi lại thành Diên Khánh do Hoàng tử Cảnh trực tiếp trông coi việc xây dựng, nhân lực để đắp thành gồm 3.000 quân Bình Thuận, 100 dân Thuận Thành và trong hơn một tháng thì xong Thành Diên Khánh là nơi tích trữ lương tiền ở Gia Định, Bình Thuận chở ra để dùng cho quân đội bắc phạt nên nhiều lần bị quân Tây Sơn vào đánh
1.2.4 Hiện trạng thành cổ Diên Khánh
Thành cổ Diên Khánh do được xây dựng từ cách đây hơn 200 năm, cùng với sự tàn phá của thời gian và điều kiện thời tiết khí hậu, đồng thời là công trình kiến trúc quân sự đã chịu nhiều phá huỷ qua các trận chiến đấu trước kia cũng như trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nên cho đến nay di tích thành cổ Diên Khánh không còn nguyên vẹn Hiện nay còn bốn cổng thành: cổng Đông, cổng Tây, cổng Nam (cổng Tiền), cổng Bắc (cổng Hậu) và một số đoạn tường đất và hào hai bên gần mỗi cổng, còn lại hầu hết tường đất và hào đã bị san bằng Mặc dù vậy, thành cổ Diên Khánh vẫn là một di tích còn giữ được dáng vẻ ban đầu của nó
Trải qua thời gian với biết bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, đến nay các công trình kiến trúc xây dựng ban đầu trong thành cổ hầu như không còn Trên nền của các công trình kiến trúc xưa hiện nay là trụ sở các cơ quan
Trang 38huyện Diên Khánh và các công trình phục vụ đời sống cộng đồng dân cư nơi đây như:
Hành cung (nay là khu vực trường Phan Chu Trinh)
Dinh Tuần vũ (nay là khu vực Huyện Đội và Trung đoàn 974)
Dinh Án sát (nay là khu vực UBND huyện Diên Khánh)
Dinh Lãnh binh (nay là khu vực huyện ủy Diên Khánh)
Dinh Kiểm học (nay là khu vực trường mầm non Hoa Phượng)
Nhà kho (nay là khu vực công viên trước UBND huyện Diên Khánh) Trường Tiểu học Pháp –Việt (nay là khu vực trường Tiểu học thị trấn) Nhà lao (nay là khu vực Công an huyện Diên Khánh)
Miếu Thánh Phi – nơi thờ bà Thánh mẫu Thiên Y A Na nay chỉ còn bốn bức tường và cuốn thư có ghi: “Thánh Phi Miếu”, Bảo Đại năm thứ 6 (1931) bằng chữ Hán hiện nằm trong khu vực trung đoàn 974
Miếu Ba Cô được Quách Tấn kể trong “Xứ Trầm Hương” thì ngày nay ngôi miếu đó cũng không còn tồn tại Theo kết quả khảo sát, ngôi miếu chỉ còn một góc tường đã bị cây mọc bao phủ ở phía sau khu vực Trung đoàn 974
Hơn nữa, trong bốn cổng thành còn lại đến nay, ngoại trừ cổng Hậu tiếp giáp với một trường mẫu giáo đã được dựng hàng rào thép gai ngăn cách;
ba cổng còn lại do nằm trên trục huyện lộ nối thành phố Nha Trang và trung tâm huyện Diên Khánh với các phường xã trong huyện Diên Khánh và huyện Khánh Vĩnh (một huyện nằm phía Tây của tỉnh Khánh Hoà, tiếp giáp với Đà Lạt – một thành phố du lịch nổi tiếng ) nên hàng ngày số lượng người đi qua đây rất đông
Tiểu kết
Lịch sử dân tộc Việt Nam suốt mấy ngàn năm là lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước, bởi vậy lịch sử khoa học quân sự chiếm vị trí cực kỳ quan trọng trong lịch sử dân tộc Trình độ kỹ thuật quân sự các thời, tư tưởng chiến
Trang 39lược, chiến thuật của ông cha ta trong chiến tranh giữ nước một phần được phản ánh trong các công trình kiến trúc quân sự Vì vậy, thành luỹ là một bộ phận quan trọng trong nền kiến trúc của một dân tộc, và một trong những đỉnh cao về trình độ khoa học – kỹ thuật mỗi thời thường trước hết được ứng dụng vào lĩnh vực quân sự Những di tích thành cổ ở Việt Nam đến nay còn lại không nhiều Chúng ta hiện còn một dấu tích thành Cổ Loa bằng đất (từ thời
Âu Lạc, gắn với sự tích nỏ thần Kim Quy), một Tây Đô được xây bằng đá ở Thanh Hoá, một hoàng cung với những tường thành cổ kính xây bằng gạch ở Huế và một ngôi thành cổ còn tương đối nguyên vẹn ở thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà
Khánh Hòa - vùng đất được sự ưu ái đặc biệt của thiên nhiên ban tặng,
có bề dày lịch sử, văn hóa; một vùng đất được xem là có “ hình thế trọng yếu
ở một phương” và thể hiện tính chất hội lưu nhiều yếu tố địa – văn hoá khác
nhau Từ Kauthara trở thành phủ Thái Khang (1653) sau đó là dinh Bình Khang (1744), tiếp theo là trấn Bình Hoà (1802) và tỉnh Khánh Hoà (1832) cho đến nay đã thể hiện rõ nét quá trình hội lưu văn hoá Chăm với văn hoá Việt, Hoa và các tộc người khác như Raglai, Êđê theo phong cách của sự tôn trọng và quan tâm, tôn tạo cho nhau Đây là một đặc điểm lớn trong lịch
sử hình thành của vùng đất Khánh Hoà, vừa có những nét riêng mang tính địa phương do những đặc điểm lịch sử cụ thể quy định, vừa mang truyền thống lớn của cả dân tộc Việt Nam
Được Nguyễn Ánh cho xây dựng vào năm 1793, thành cổ Diên Khánh
là một minh chứng cho một giai đoạn biến động của lịch sử nước nhà Ngoài chức năng là toà thành quân sự, nơi đây đã từng là trung tâm hành chính, chính trị của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn đặt tại địa phương
Thành cổ Diên Khánh được xây dựng theo kiểu Vauband - là kiểu thành xuất hiện trong điều kiện mà quân đội đã được trang bị bằng những vũ
Trang 40khí bắn xa bằng đạn được đẩy đi bằng thuốc súng Vì thế, trước khi tiếp xúc với phương Tây và được trang bị vũ khí như đã nói thì kiểu thành này không
có điều kiện xuất hiện ở nước ta Trong lịch sử nước ta, người đầu tiên tiếp xúc chặt chẽ với quân đội Pháp và tiếp thu kiểu xây thành của Pháp là Nguyễn Ánh Nên có thể thấy, Nguyễn Ánh là người mở đầu cho ảnh hưởng của Pháp vào Việt Nam, người mở đầu cho quá trình giao lưu văn hoá Đông - Tây Thành cổ Diên Khánh tuy xây dựng theo kiểu Vauband nhưng vẫn giữ những đặc điểm truyền thống phương Đông
Đến nay, thành cổ Diên Khánh vẫn là một di tích còn giữ được dáng vẻ ban đầu của nó Được xây dựng từ thế kỷ XVIII và trải qua bao thời gian, các công trình kiến trúc cổ bên trong Thành tuy không còn nhưng bốn cổng thành vẫn còn sừng sững tồn tại mãi với thời gian và trở thành toà thành quân sự duy nhất của triều Nguyễn ở khu vực Nam Trung Bộ còn tồn tại đến ngày nay