Cho đến nay thực tiễn phát triển văn hóa ở nước ta trong thời kỳ đổi mới đã và đang đòi hỏi cấp thiết phải có sự nghiên cứu, tổng kết về những biến đổi về văn hóa trong quá trình phát tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số : 60 31 06 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐINH THỊ VÂN CHI
HÀ NỘI – 2015
!
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Thị Vân Chi Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày ….tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
!
Phạm Hồng Hạnh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG NGHỀ VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ VẠN PHÚC 17
1.1 Lý luận chung về biến đổi văn hóa làng nghề 17
1.1.1 Những khái niệm cơ bản 17
1.1.2 Đô thị hóa 23
1.2 Tổng quan làng nghề Vạn Phúc 26
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý 27
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng 28
1.2.3 Tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội 30
1.3 Khái quát nghề lụa truyền thống làng Vạn Phúc 35
1.3.1 Quy trình dệt lụa 35
1.3.2 Một số sản phẩm làng nghề 39
Tiểu kết 40
Chương 2: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG NGHỀ VẠN PHÚC TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA 42
2.1 Cơ sở biến đổi văn hóa làng nghề Vạn Phúc 42
2.1.1 Chuyển đổi về đơn vị dân cư và quản lý hành chính 42
2.1.2 Sự biến đổi về dân cư 45
2.2 Biến đổi văn hóa nghề dệt lụa Vạn Phúc 48
2.2.1 Thái độ đối với nghề 48
2.2.2 Sản phẩm của làng nghề truyền thống Vạn Phúc 54
2.2.3 Kĩ thuật và công nghệ sản xuất sản phẩm làng nghề truyền thống Vạn Phúc 58
Trang 42.2.4 Biến đổi trong đội ngũ nghệ nhân - thợ nghề 59
2.3 Biến đổi văn hóa làng Vạn Phúc 64
2.3.1 Biến đổi về văn hóa vật thể 64
2.3.2 Biến đổi về văn hóa phi vật thể 73
Tiểu kết 90
Chương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VĂN HÓA LÀNG NGHỀ VẠN PHÚC TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA 92
3.1 Đánh giá quá trình biến đổi văn hóa làng nghề Vạn Phúc trong bối cảnh đô thị hóa 92
3.1.1 Xu hướng tích cực 92
3.1.2 Xu hướng tiêu cực 96
3.2 Những vấn đề nảy sinh trong quá trình biến đổi văn hóa ở làng nghề Vạn Phúc hiện nay 100
3.2.1 Một số vấn đề nảy sinh trong quá trình biến đổi văn hóa nghề dệt lụa hiện nay 100
3.2.2 Một số vấn đè nảy sinh trong quá trình bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng Vạn Phúc hiện nay 102
3.3 Giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghềVạn Phúc trong bối cảnh đô thị hóa 103
3.3.1 Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở nước ta hiện nay 103
3.3.2 Giải pháp 107
Tiểu kết 116
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 125
!
!
Trang 5PGS
Tp
Nhà xuất bản Phó Giáo sư Thành phố
Tr
Ts
Trang Tiến sĩ TTCN
TT-BNN
Tiểu thủ công nghiệp Thông tư - Bộ nông nghiệp TTXD Trật tự xây dựng
UNESCO United Nations Education Scientif and
Cultural Organization VHTT
VNĐ
Văn hóa Thông tin Việt Nam đồng
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay 45
3 Biểu đồ 2.1 Thực trạng sản xuất lụa theo từng thời kì 47
4 Biểu đồ 2.2 Mức độ yêu thích đối với nghề của người dân làng
Vạn Phúc
48
5 Biểu đồ 2.3 Thời gian làm nghề của người dân làng Vạn Phúc 49
6 Biểu đồ 2.4 Cảm nghĩ của người dân khi làng mở hội 80
7 Biểu đồ 2.5 Tác dụng của hội làng đối với các thành viên trong
cộng đồng làng
82
8 Biểu đồ 2.6 Địa điểm tổ chức tiệc cưới 84
9 Biểu đồ 2.7 Đối tượng phúng viếng thể hiện qua một đám hiếu 87
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đã bước sang thập kỉ thứ hai của thế kỷ XXI Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ năm 1997 trở đi, Việt Nam tiếp tục các bước tiến mới trong công cuộc cải cách nền kinh tế, thúc đẩy nhanh chóng quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở quy
mô lớn Cùng với các chuyển đổi kinh tế - xã hội là sự biến đổi văn hoá của các cộng đồng nông thôn mang dáng dấp và màu sắc của văn hóa đô thị Diện mạo các làng xã ngày nay có sự thay đổi lớn Không gian thoáng đãng đặc trưng chung của làng quê Việt với lũy tre xanh, cổng làng, giếng nước, cây đa, giờ là những ngôi nhà cao tầng kề bên san sát, hàng quán tấp nập, nhiều khu công nghiệp mọc lên sau những làng Sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng mở ra cơ hội cho người dân có thể tiếp cận thông tin, tiếp thu tri thức một cách nhanh chóng Qua đó, thúc đẩy việc áp dụng khoa học công nghệ vào đời sống sản xuất, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế xã hội Song thực tế của quá trình này, khi kết hợp với nền kinh tế thị trường cũng chính là môi trường thuận lợi để nảy sinh và phát triển nhiều tệ nạn xã hội, làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo, “thương mại hóa” các lĩnh vực văn hóa – xã hôi, làm suy thoái tư tưởng, đạo đức lối sống, phai nhạt các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Cho đến nay thực tiễn phát triển văn hóa ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
đã và đang đòi hỏi cấp thiết phải có sự nghiên cứu, tổng kết về những biến đổi về văn hóa trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển nền kinh tế thị trường với phát triển văn hóa Cùng với việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, cũng như việc phát triển kinh tế mà trong đó việc phát huy văn hóa truyền thống của các làng cổ vào
Trang 8đời sống đương đại hiện nay, đang là một vấn đề rất nổi trội cần được quan tâm, nghiên cứu để trên cơ sở đó đưa ra những chính sách phù hợp, những biện pháp thích hợp và có hiệu quả cao trong quá trình xã hội hóa, hiện đại hóa hiện nay
Nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu về vấn đề này nhằm đưa ra được những luận cứ khoa học cho việc định hướng phát triển các làng Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về quá trình biến đổi văn hóa, đô thị hóa nông thôn nhưng chưa thực sự được làm rõ Hơn lúc nào hết, sự nghiên cứu và tổng hợp về những biến đổi văn hóa truyền thống trong giai đoạn hiện nay góp phần giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng con người Việt Nam mới – con người xã hội chủ nghĩa, đang trở nên thực sự cấp thiết
Nằm cách trung tâm Hà Nội không xa ( khoảng 10 km về phía Tây Nam) làng Vạn Phúc, nay thuộc phường Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông, cũng như bao làng xã khác, là một làng quê giàu truyền thống văn hóa và cách mạng Nơi đây còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa của cha ông từ xa xưa để lại Người dân làng Vạn Phúc từ bao đời nay luôn tự hào về những đóng góp của quê hương mình với truyền thống “ngàn năm văn vật” của thủ đô với nhiều di tích lịch sử văn hóa và những phong tục, tập quán xưa
Trong 20 năm qua, các làng người Việt (cả làng nông nghiệp, làng nghề…) chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.Cùng chịu chung sự tác động ấy, các gia đình nông dân ở làng Vạn Phúc thu hồi một phần hay toàn bộ ruộng đất Từ một làng nông nghiệp đan xen với nghề dệt lụa, mang đậm đặc trưng của nông thôn Việt Nam truyền thống, làng Vạn Phúc đã trở thành một “đô thị mới”, một cộng đồng với sự chyển mình mạnh mẽ về mọi mặt, gắn chặt với sự phát triển của thủ đô Hà Nội Quá trình phát triển đô thị đang diễn ra một cách nhanh chóng và đa dạng, đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cuộc sống của những người dân nơi đây Đó là sự thay đổi trong tổ chức quản lý hành chính – xã hội, không gian kiến trúc và cơ sở hạ tầng, thành phần dân cư, những chuyển biến về cơ cấu kinh tế, ngành nghề…đã kéo theo những
Trang 9biến đổi về đời sống tinh thần, rất nhiều yếu tố văn hóa mới được du nhập Vì vậy việc nghiên cứu biến đổi văn hóa làng nghề cũng là một việc hết sức cần thiết và cấp bách góp phần bảo tồn gìn giữ, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của làng hướng tới việc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của làng theo hướng bền vững
Theo tìm hiểu thì hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng, những công trình này đã nghiên cứu phân tích chuyên sâu về kinh tế, xã hội về văn hóa của làng trên nhiều phương diện khác nhau Có những công trình nghiên cứu mang tính tổng quát, có nhứng công trình nghiên cứu về một số làng tiêu biểu về một số làng ở Hà Nội, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Vạn Phúc, nay thuộc phường Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và đưa ra giải pháp
cho sự phát triển bền vững Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Biến đổi
văn hóa làng nghề Vạn Phúc trong bối cảnh đô thị hóa (phường Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông, thành phố Hà Nội)” làm đề tài luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, đề tài về biến đổi về văn hóa làng đã có một khối lượng lớn các tác phẩm đã được công bố, đề cập đến các vấn đề khác nhau Có thể phân chia các công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng thành nhóm tư liệu sau:
2.1 Nghiên cứu chung về làng nghề của người Việt
Có thể điểm qua các công trình tiêu biểu: Tác phẩm Người nông dân châu
thổ Bắc kỳ của Nhà Địa lý học người Pháp Pierre Gourou là nghiên cứu điển
hình dựa trên cách tiếp cận Địa lý nhân văn, miêu tả khá toàn diện với cái nhìn vừa tổng thể vừa chi tiết các mặt đời sống của người nông dân Việt trên vùng
châu thổ Bắc Bộ vào những năm thập kỷ 20 – 30 của thế kỷ XX [11]
Văn hóa kinh tế làng nghề: Thách thức và giải pháp trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa,của Đinh Thị Vân Chi là một trong rất ít ỏi các công
Trang 10trình đi trước nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, nhất là trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa; nhận diện và đo lường mức độ nghiêm trọng của những thách thức mà công nghiệp hóa và hiện đại hóa đặt ra đối với các làng nghề, qua đó tìm kiếm giải pháp để phát triển làng nghề một cách bền vững [5]
Làng Việt Nam, mấy vấn đề kinh tế - xã hội của Phan Đại Doãn [6] là
công trình nghiên cứu tổng thể về làng Việt dười góc độ Sử học Trong cuốn sách này, tác giả chỉ rõ một số đặc điểm cơ bản của nền kinh tế, sản xuất tiểu nông mà điểm nổi bật nhất là nông nghiệp, nông dân, vấn đề ruộng công, ruộng
tư, mối quan hệ giữ nông thôn và thành thị…
Hai tập Hành trình về làng Việt cổ của Bùi Xuân Đính là một trong những
tập sách đầu tiên của bộ sách cùng tên, giới thiệu một số làng quê tiêu biểu của
Xứ Đoài và Xứ Nam [8].Mỗi làng được giới thiệu những nét văn hóa tiêu biểu
nhất Cùng dạng với công trình này là các cuốn sách Văn hóa truyền thống làng
Đồng Kỵ (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh); Ninh hiệp truyền thống và phát triển
của nhóm tác giả do Tô Huy Hợp chủ biên [16] nghiên cứu về làng – xã Ninh Hiệp (huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội)
2.2 Những công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa
Năm 2000, cuốn “ Sự biến đổi của làng xã Việt Nam hiện nay” của Tô Duy Hợp (chủ biên) [17] và cuốn “ Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng
sông Hồng và sông Cửu Long” của tác giả Phan Hồng Giang (chủ biên) đã cho
chúng ta thấy được sự chuyển đổi về cơ cấu kinh tế kéo theo sự biến đổi của đời sống văn hóa – xã hội nông thôn cổ truyền [10]
Năm 2007, tác giả Ngô Văn Giá đã có công trình nghiên cứu “ Những
biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới”[9] Công trình trên đã giới thiệu được những tiền đề lý thuyết về biến
Trang 11đổi văn hóa của các học giả nước ngoài, đồng thời nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của một số làng quê cụ thể…với tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội
Cuốn sách “ Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa do
PGS.TS Nguyễn Duy Bắc làm chủ biên đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản về văn hoá, giá trị văn hóa và biến đổi giá trị văn hóa Đồng thời cuốn sách cũng đã chỉ ra được thực trạng biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển văn hóa ở nước ta trong điều kiện hiện nay Qua đó, cuốn sách cũng đã góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống đường lối, chính sách về phát triển văn hóa và con người, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Cuốn sách gồm 555 trang, được chia thành 2 phần Cuốn sách không chỉ là tài liệu tham khảo quý cho các độc giả, các nhà nghiên cứu về lý luận, các nhà hoạch định về chính sách về văn hóa mà nó còn trình bày một cách khá đầy đủ về thực tiễn cuả văn hóa nước ta trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường trong thời đại mới [1]
Nghiên cứu về quá trình công nghiệp hóa, quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của nó tới sự biến đổi văn hóa các làng quê có công trình tiêu biểu của tác giả Nguyễn Thị Phương Châm do Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin và Viện Văn hóa xuất bản năm 2009, với độ dày là 458 trang khổ 14,5centimet x 20,5centimet, gồm 4 chương [4]
Ngoài ra, PGS.TS Trần Đức Ngôn đã chủ biên cuốn “ Văn hóa ngoại
thành Hà Nội dưới tác động của kinh tế thị trường” được Nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin in năm 2006 [29] và Luận án Biến đổi về xã hội và văn hóa ở các làng quê trong quá trình đô thị hóa tại Hà Nội của Trần Thị Hồng Yến [45] đã nghiên cứu rất cụ thể chi tiết về biến đổi văn hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường và trong quá trình đô thị hóa
2.3 Những công trình nghiên cứu về làng Vạn Phúc
Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu làng nghề Vạn phúc thì có một số công trình nghiên cứu các khía cạnh:
Trang 12Nghiên cứu về lịch sử đấu tranh cách mạng của làng Vạn Phúc: Có hai cuốn
“Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Vạn Phúc” (tập 1 và 2), ghi lại lịch sử đấu tranh cách mạng của địa phương trong giai đoạn 1939 – 1954 Ngoài
ra địa phương còn sưu tầm và xuất bản cuốn “Vạn Phúc xưa và nay” năm 2001, sách là những bài viết, hồi ký, bút tích…viết về tổng thể các vấn đề về làng Vạn Phúc: chính trị, văn hóa, lịch sử đấu tranh cách mạng của những nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa, các lãnh đạo cách mạng của Đảng và nhà nước ta [28]
Nghiên cứu Vạn Phúc dưới góc độ du lịch có những bài nghiên cứu: Tác giả Quang Hào với bài viết: “Vạn Phúc làng nghề làng du lịch” in trong báo Doanh nghiệp ngày 10-5-2000 Giới thiệu về làng Vạn Phúc và các loại lụa Vạn Phúc,tác giả Nguyễn Kim Khánh có 6 bài viết: “Vạn Phúc làng nghề, làng văn hóa du lịch”
in trong báo Lao động xã hội ngày 28-10-2000 Cho tới năm 2012 vẫn còn khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu góc độ này với tên đề tài “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch làng nghề truyền thống lụa Vạn phúc”
Thời cận đại, làng Vạn Phúc được nhắc đến trong các tác phẩm của Hoàng Trọng Phu như: “Những công nghệ gia đình ở Hà Đông”, viết về kỹ thuật dệt lụa ở Vạn Phúc và cuốn “Các nghề thủ công truyền thống ở Hà Đông”, giới thiệu các nghề thủ công ở Hà Đông Sau cách mạng tháng Tám có cuốn: “Hà Tây làng nghề làng văn” do Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây xuất bản năm 1992, giới thiệu về các làng nghề truyền thống ở tỉnh Hà Tây Năm 2003, có cuốn luận văn thạc sĩ Văn hóa học của tác giả Lê Thị Hoài Linh viết về “Nghề dệt ở làng Vạn Phúc thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây” [27], năm 2008 có thêm cuốn khóa luận tốt nghiệp “Tổng quan Làng nghề Vạn Phúc thị xã Hà Đông” Nghiên cứu về môi trường năm 2009, 2010
có rất nhiều bài báo về vấn đề làng dệt gây ô nhiễm môi trường
Dưới góc độ kính tế có luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị của
tác giả Vũ Thị Hoa năm 2012 viết về “Phát triển làng nghề ở Hà Nội trong giai
đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[14]
Trang 13Nghiên cứu về không gian văn hóa của làng có luận văn thạc sĩ Văn hóa học:
“Không gian văn hóa làng Vạn Phúc” của tác giả Bùi Thị Hương năm 2012 viết về những nét văn hóa đặc trưng truyền thống của làng nghề dệt nổi tiếng
Năm 2013 có cuốn khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hạnh viết
về “Một số giải pháp phát triển thương hiệu lụa Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội” Khóa luận này tập trung nghiên cứu vai trò của thương hiệu làng nghề, thực trạng xây dựng thương hiệu của làng nghề Vạn Phúc và qua đó đưa ra những giải pháp phát triển thương hiệu lụa Vạn Phúc nhằm giúp làng nghề phát triển bền vững
Có thể nói, việc nghiên cứu về làng Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố
Hà Nội đã được đề cập tới qua các tư liệu đơn lẻ Việc nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa làng chưa từng được tài liệu nào đề cập đến Hơn nữa, cho đến thời điểm hiện tại, cũng chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể về biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Vạn Phúc trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ về văn hóa làng nghề truyền thống và thực trạng biến đổi của văn hóa làng nghề truyền thống Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay Từ những nguyên nhân trực tiếp gián tiếp dẫn tới những sự biến đổi này, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề truyền thống Vạn Phúc giúp làng Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội phát triển một cách bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
-!Hề thống hóa nguồn tư liệu và công trình nghiên cứu về làng Vạn Phúc -!Tìm hiểu các giá trị văn hóa làng nghề truyền thống tiêu biểu, thực trạng
văn hóa làng nghề Vạn Phúc trong đời sống đương đại
-!Làm rõ sự biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống Vạn Phúc trong bối
cảnh hiện nay
Trang 14-!Phân tích làm rõ những vấn đề nảy sinh trong quá trình biến đổi văn hóa
cũng như các xu hướng biến đổi văn hóa
-!Đề xuất những giải pháp bước đầu nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa
làng nghề truyền thống Vạn Phúc trong công cuộc đổi mới đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sự biến đổi văn hóa làng Vạn Phúc, bao gồm hai lĩnh vực biến đổi văn hóa nghề dệt lụa và biến đổi văn hóa làng Vạn Phúc
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một cách kết hợp và linh hoạt các phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó tùy theo nhiệm vụ giải quyết vấn đề ở từng mục, từng chương, mà áp dụng từng phương pháp cụ thể với cách tiếp cận chủ đạo, bên cạnh sự hỗ trợ của các phương pháp khác mang tính liên ngành Có
4 loại phương pháp được sử dụng như sau:
- Phương pháp nghiên cứu dân tộc học, nhân học
- Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu xã hội học: Phương pháp điều tra bảng hỏi Thông tin Bảng hỏi 1: Đối tượng và thời gian điều tra: Người dân tại làng Vạn Phúc, phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, Tp Hà Nội từ 10/3 đến 16/03/2015
Trang 15Hình thức điều tra: Phỏng vấn cá nhân trực tiếp bằng bảng hỏi
Số lượng phiếu phát ra: 150 phiếu
Nội dung điều tra: Nội dung cuộc điều tra được nêu trong phiếu điều tra gồm
46 câu/2 phần, tập trung vào nội dung khảo sát văn hóa làng Vạn Phúc qua một số tiêu chí như sự hiểu biết về tín ngưỡng của làng, phong tục tập quán của làng, đời sống vật chất; lối sống của dân làng, cảm nhận các mối quan hệ tại làng v.v…
Thông tin bảng hỏi 2 : Đối tượng và thời dian điều tra : Người dân làm nghề tại làng Vạn Phúc, phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, Tp Hà Nội từ 25/03 đến 01/04/2015
Hình thức điều tra: Phỏng vấn cá nhân trực tiếp bằng bảng hỏi
Số lượng phiếu phát ra: 120 phiếu
Nội dung điều tra: Nội dung cuộc điều tra được nêu trong phiếu điều tra gồm 30 câu/2 phần, tập trung vào nội dung khảo sát văn hóa nghề Vạn Phúc qua một số tiêu chí như sự tình yêu nghề, khó khăn khi làm nghề, phương thức truyền nghề, hoạt động văn hóa của người dân làm nghề v.v…
Toàn bộ câu hỏi điều tra nằm trong phần phụ lục, trong quá trình phân tích, đánh giá của đối tượng được phỏng vấn, nội dung câu hỏi chỉ được đưa ra một cách vắn tắt nhằm liên kết các vấn đề nghiên cứu và gợi cho người đọc nội dung của vấn đề đó
Sau khi có tương đối đầy đủ tư liệu, thẩm định tính chính xác cả tư liệu, trên cơ sở khung lý thuyết, tôi sử dụng phương pháp sau đây để lý giải các vấn
đề được đặt ra: phương pháp phân tích; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh lịch đại và đồng đại; quan sát tham dự, phỏng vấn sâu, , điều tra hồi cố lịch
sử để sử lý tư liệu và viết luận văn
5.2 Nguồn tư liệu của đề tài
Nguồn tư liệu chính của đề tài là tư liệu điền dã dân tộc học, gồm:
- Tư liệu phỏng vấn, điều tra hồi cố, quan sát tham dự thu được trong quá trình khảo sát về biến đổi văn hóa làng nghề lụa Vạn Phúc hiện nay
Trang 16- Tư liệu thư tịch (chính sử, văn bia, hương ước, thần phả, bản khai thần tích thần sắc)
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan đến làng nghề, biến đổi văn hóa làng nói chung và văn hóa làng Vạn Phúc nói riêng đã được công bố từ trước tới nay
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, dưới góc độ Văn hóa học về những biến đổi văn hóa của làng nghề truyền thống Vạn Phúc dưới tác động của những thay đổi của điều kiện sống, nhất là tác động của CNH – HĐH và đô thị hóa qua bốn đặc trưng cơ bản: nghệ nhân làng nghề, sản phẩm làng nghề, nghề truyền thống và các tín ngưỡng liên quan đến nghề
Chỉ rõ một số vấn đề nảy sinh từ sự biến đổi văn hóa ở một làng ngoại thành; nhận diện các xu hướng biến đổi văn hóa, từ đó tạo luận cứ khoa học cho việc đề ra các giải pháp giúp cho làng Vạn Phúc và các làng quê ngoại thành phát triển bền vững trong giai đoạn hiện nay
- Luận văn góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về làng Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ
lụcluận văn có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về biến đổi văn hóa làng nghề và tổng quan
Trang 17Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG NGHỀ VÀ TỔNG
QUAN VỀ LÀNG NGHỀ VẠN PHÚC 1.1 Lý luận chung về biến đổi văn hóa làng nghề
1.1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Làng nghề
Làng như nhiều học giả đã nhận định, đó là từ thuần Việt (khác với xã – thôn là từ Hán Việt) Làng có cội nguồn từ chính đời sống Việt và được biểu đạt trong ngôn ngữ thuần Việt Thuật ngữ này phản ánh sự tồn tại của một kiểu cộng đồng cấu kết trên cơ sở một vùng địa lý với các thành viên riêng biệt của nó
Để hiểu về làng từ lâu đã có nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu
từ nhiều góc độ khác nhau, từ đó cũng nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau Theo cố giáo sư Trần Quốc Vượng thì: Làng là đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp – Theo quan niệm của người Việt, làng là một gia đình lớn, là một xã hội thu nhỏ Quốc gia là một hình ảnh mở rộng của gia tộc, người ta coi toàn quốc như một đại gia đình Làng là một trong ba hằng số của văn hóa Việt Nam (Nhà – Làng – Nước) Là tụ cư được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý: cùng cội nguồn và cùng chỗ ở; là hình thức công xã nông thôn với những đặc thù riêng biệt thể hiện ở chế độ ruộng đất, công điền, tổ chức xã hội, các điều lệ, tập tục, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội làng
PGS.TS Bùi Xuân Đính cho rằng: Làng là nơi cha ông ta làm ăn, hình thành các thiết chế tổ chức, các quan hệ xã hội, duy trì các hoạt động văn hóa, các phong tục, tập quán gắn kết cá nhân và cộng đồng Làng cũng là nơi bảo đảm các nguồn thu về sưu thuế bình dịch, và nguồn quan lại cho nhà nước Làng có một vai trò quan trọng trong đời sống đất nước là nơi đầu tiên dấy lên các cuộc khởi nghĩa và cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của cha ông ta
Trang 18Như vậy, từ nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu trên, có thể hiểu
khái quát về làng như sau: Làng là khu vực địa lý, không gian lãnh thổ nhất định
mà tại đó tồn tại những tập hợp cư dân cùng sinh sống, sản xuất và giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau
Khái niệm làng nghề
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông thôn đều có hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu sản xuất ra một số hàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của hộ gia đình mang tính chất tự cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có Nhưng qua một quá trình dài phát triển do có sự khác nhau về tay nghề và kinh nghiệm tích luỹ được ở từng địa phương nhất định đã có sự chuyên môn hoá và các sản phẩm làm ra bắt đầu đưa ra thị trường trao đổi như những loại hàng hoá
Đó là quá trình chuyên môn hoá lâu đời và các sản phẩm của địa phương đó không những bền đẹp mà có giá thành rẻ nên được xã hội chấp nhận.Tuy nhiên không phải những hoạt động ngành nghề nào cũng được gọi là nghề Theo quan điểm chung, các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp ở địa phương nào đó được gọi là nghề khi tạo ra được một khối lượng sản phẩm chiếm lĩnh thị trường thường xuyên và những người sản xuất, hoặc hộ sản xuất đó lấy nguồn thu từ nghề đang hành làm nguồn thu chủ yếu
Trong đề tài nghiên cứu này, tôi chọn phân loại làng nghề theo lịch sử hình thành và phát triển các nghề Như vậy làng nghề bao gồm làng nghề truyền thống, làng nghề mới Với cách phân loại này thì theo quan điểm của Chính phủ
và một số Bộ , ngành liên quan ta có khái niệm về nghề và các loại hình làng nghề như sau:
Làng nghề: là làng (thôn, ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp
phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của người dân trong làng Về mặt định lượng, làng nghề là làng có từ 35- 40% số
Trang 19hộ trở lên có tham gia hoạt động ngành nghề (thu nhập từ làng nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của các hộ) đồng thời giá trị sản lượng của ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương
Quy định tại thông tư số 116/2006, TT-BNN của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, tiêu chí để được công nhận làng nghề như sau:
+! Có tối thiểu 30% số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
+! Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
+! Chấp hành tốt chính sách pháp luật nhà nước
Làng nghề truyền thống: là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong
lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm có liên quan chặt chẽ đến yếu tố truyền thống và kinh nghiệm dân gian được tích luỹ lại qua nhiều thế hệ
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất 1 nghề truyền thống theo quy định tại thông tư số 116/2006, TT-BNN Đối với những làng chưa đạt tối thiểu 30% tổng số hộ và 2 năm sản xuất kinh doanh làng nghề ổn định nhưng có ít nhất 1 nghề truyền thống được công nhận theo quy định của thông tư 116/2006, TT – BNN thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống
Làng nghề mới: Là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, chủ yếu do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc được du nhập từ các địa phương khác có những điều kiện nhất định để hình thành và phát triển Sự xuất hiện và phát triển của các làng nghề này cũng mang những ý nghĩa tích cực đối với đời sống khu vực kinh tế nông thôn nói riêng và nền kinh tế thành phố nói chung
Tiêu chí: + Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn húa dân tộc +! Nghề gắn với tên tuổi 1 hay nhiều nghệ nhân và tên tuổi làng nghề
Trang 201.1.1.2 Văn hóa làng nghề
Văn hóa nghề: Theo quan điểm của PGS Đỗ Minh Cương, Chủ nhiệm Bộ
môn Văn hóa kinh doanh, Trường Đại học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội: Văn hóa nghề là phương thức, cách hành xử của người lao động với nghề nghiệp một cách văn minh, đạt chuẩn mực chân, thiện, mỹ Văn hóa nghề phải đảm bảo người lao động có nhận thức, quan điểm đúng về nghề nghiệp của mình Họ phải nhận thức được, không có nghề nào thấp kém, nghề nào cũng có ích vì sự phát triển xã hội Hiện chúng ta mới chỉ quan tâm đến kỹ năng, trình độ nghề nghiệp,
mà chưa quan tâm văn hóa nghề cho người lao động
Chúng ta có thể nhận thấy, văn hóa nghề là thước đo trình độ nhận thức của người lao động đối với nghề nghiệp Văn hóa nghề đòi hỏi mỗi người lao động trong một nghề phải nhận thức được đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của nghề đó Nó cũng đòi hỏi người lao động phải có những hiểu biết sâu sắc về hành vi nghề nghiệp, các quy chuẩn trong công tác
Văn hóa nghề là cơ sở để điều chỉnh hành vi nghề nghiệp trong công tác
Nó đòi hỏi những người lao động phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của công việc trong quá trình lao động ở đây, chức năng thực tiễn của văn hóa nghề là, nó khiến người lao động trở thành những người làm việc có kỷ luật, có sáng tạo, làm việc có hiệu quả, có chất lượng với năng xuất lao động cao
Văn hóa nghề có ý nghĩa to lớn về mặt giáo dục Bản thân hành vi nghề nghiệp, tự nó đã bao hàm ý nghĩa của việc giáo dục Trong quá trình lao động, con người không chỉ sản xuất ra các sản phẩm lao động mà còn sản xuất ra kiến thức lao động, tích lũy những kinh nghiệm trong lao động Bởi vậy, trình độ văn hóa nghề cũng có khả năng giáo dục cho người lao động về những đạo lý trong lao động Nó đòi hỏi ở người lao động những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, tuân thủ những chuẩn mực trong quan hệ lao động Văn hóa nghề cũng đòi hỏi người lao động gìn giữ sự đoàn kết, gắn bó trong tập thể những người lao động, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân
Trang 21Văn hóa làng nghề: Theo tác giả Robert McCarl trong công trình Văn hoá
dân gian trong các nghề đã cho chúng ta thấy các xu hướng trong nghiên cứu văn hoá nghề:
Các khía cạnh biểu cảm của nơi làm việc với sự chú trọng đặc biệt đến các truyện kể, kỹ xảo và nghi lễ được biết đến bằng cách không chính thức và được trao truyền từ thế hệ người lao động này sang thế hệ khác Ở Châu Âu, việc nghiên cứu văn hoá dân gian trong các nghề có liên quan đến văn hoá lao động và ý thức lao động, nhưng nhiên cứu trường hợp tương tự ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thì lại có liên quan nhiều hơn đến những biểu cảm mang tính văn hoá (truyện kể, bài hát,
kỹ xảo và phong tục) ở nơi lao động mà coi trọng những bối cảnh xã hội và chính trị, nơi những biểu cảm này được hình thành và sử dụng [36, tr.393 – 410]
Như vậy, khi so sánh việc nghiên cứu văn hoá làng nghề ở Việt Nam với văn hoá dân gian trong các nghề ở các nước phương Tây, chúng ta thấy có một
độ vênh nhất định Đối với người Việt, làng là một đơn vị căn bản: đơn vị hành
chính, đơn vị văn hoá, “là tế bào sống của xã hội Việt Nam, là sản phẩm tự
nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt” [38, tr.11-12] nên
khi nghiên cứu về văn hoá làng nghề việc cần thiết phải nghiên cứu tổng thể những yếu tố cấu thành nên văn hoá làng và văn hoá của nghề Còn đối với phương Tây (ở Châu Âu và Mỹ) do đã trải qua thời kỳ tiền tư bảntừ rất lâu nên các học giả phương Tây chỉ nghiên cứu truyện kể, kỹ xảo và nghi lễ của nghề
Về cơ bản, đặc trưng của văn hoá làng nghề cũng tương tự văn hoá làng truyền thống với những yếu tố cấu thành như:
+ Cơ cấu tổ chức: Diện mạo làng xã, dòng họ, phe, giáp, các hội đồng niên + Văn hoá vật thể: đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ họ, nhà ở
+ Văn hoá phi vật thể: Luật tục, phong tục, tập quán, ứng xử xóm làng, lễ hội, tín ngưỡng dân gian
Trang 22Do nguồn sống chủ yếu dựa vào các sản phẩm của nghề thủ công và việc trao đổi buôn bán (kinh tế hàng hoá), cộng thêm sự tác động của quá trình di dân (di động xã hội), nên văn hoá làng nghề có yếu tố mở khác hẳn với làng nông nghiệp
+ Cơ cấu tổ chức: Phường/hội nghề, mối quan hệ làng xóm - dòng họ - gia đình - thợ thủ công
+ Một số hình thái văn hoá: Nghề và tín ngưỡng thờ tổ nghề (nơi thờ tổ nghề); ứng xử mang tính tiểu thương; bí quyết và kỹ xảo nghề; các tập tục riêng biệt của làng nghề
1.1.1.3 Biến đổi văn hóa làng nghề
Trong cuộc sống đương đại, khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, văn hoá làng hay văn hoá làng nghề chắc chắn sẽ biến đổi
Biến đổi văn hoá: là sự biến đổi của văn hoá trong bối cảnh chính trị, kinh
tế, xã hội nhất định Nói cách khác, biến đổi văn hoá là sự thích nghi và phát triển của văn hoá trong từng giai đoạn của lịch sử, nếu không thích nghi và phát triển thì văn hoá sẽ biến đổi theo chiều hướng không tích cực
Sự biến đổi đầu tiên và quan trọngnhất làm nên diện mạo mới ở nông thôn hiện nay là do biến đổi về nghền ghiệp Từ sự chuyển đổi nghề nghiệp đến những tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã làm cho đời sống
xã hội của dân cư làng có những thay đổi nhanh chóng
Những vấn đề đặt ra khi nghiên cứu sự biến đổi văn hoá làng nghề là:
- Nghiên cứu các yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự biến đổi của nghề truyền thống và văn hoá làng nghề
- Các nguyên nhân bên trong của cộng đồng làng ảnh hưởng đến sự biến đổi văn hoá làng nghề (tâm lý cộng đồng, hệ thống giá trị chuẩn mực)
- Sự biến đổi các yếu tố cấu thành nên văn hoá làng nghề
Trang 23- Quá trình đô thị hoá sẽ làm tan rã cộng đồng làng
- Sự hình thành các yếu tố văn hoá mới trong làng nghề
1.1.2 Đô thị hóa
-! Đô thị: Đô thị được hiểu là nơi tập trung dân cư và các hoạt động chính
trị, văn hóa, kinh tế, nhất là các ngành nghề công nghiệp và thương mại – dịch
vụ xét về mặt địa lý và không gian – lãnh thổ Điều đó nhằm khai thác tính kinh
tế theo quy mô (economies of scale), ưu thế của phân công lao động và mật độ hoạt động trên một diện tích Đô thị là biểu tượng cho văn minh thị trường, công nghiệp và kiến trúc hiện đại được phân biệt với nông thôn Đô thị chủ yếu là kết quả của quá trình tăng trưởng kinh tế dựa trên sự phát triển công nghiệp và tập trung sản xuất vào khu vực trung tâm
Khái niệm đô thị cần lưu ý các vấn đề như: Đặc trưng về thiết chế chính trị và kết cấu giai tầng xã hội của đô thị bao gồm: bộ máy chính trị - hành chính
và giai cấp công nhân, tư sản, thợ thủ công, viên chức, tri thức (khác với nông thôn chỉ có tầng lớp nông dân, chủ đất, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ…); Đặc trưng về kết cấu kinh tế của đô thị bao gồm: các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thương mại và các ngành sản xuất tính thần (khác với nông thôn chỉ có nông nghiệp và một số hoạt động phi nông nghiệp trong thôn); Đặc trưng
về lối sống, văn hóa của dô thị theo kiểu thị dân – công nghiệp, tương ứng còn
có hệ thống dịch vụ, hạ tầng, năng lượng và nhà ở được quy hoạch thuận lợi tập trung (khác với nông thôn chủ yếu dựa vào sinh hoạt cộng đồng làng xã và quy hoạch phân tán) Tùy theo từng hoàn cảnh mà người ta nhấn mạnh một số đặc trưng nhất định, nhưng trên phương diện văn hóa xã hội cần nhấn mạnh khía cạnh lối sống văn hóa và cách thức tổ chức sinh hoạt văn hóa, tinh thần
Theo Luật số 30/2009/QH12 – Luật Quy hoạch Đô thị được Quốc hội
nước CHXHCN Việt Nam phê chuẩn năm 2009 tại Điều 3 Giải thích từ ngữ,
điểm 1 có ghi: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và
Trang 24chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm
nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”
Tại Điều 4 Phân loại và cấp quản lý hành chính đô thị có ghi
1 Đô thị được phân thành 6 loại gồm loại đặc biệt, loại I, II, III, IV và V theo các tiêu chí cơ bản sau đây: Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị; Quy mô dân số; Mật độ dân số; Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng
2 Việc xác định cấp quản lý hành chính đô thị được quy định như sau: Thành phố trực thuộc trung ương phải là đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I; Thành phố thuộc tỉnh phải là đô thị loại I hoặc loại II hoặc loại III; Thị xã phải là
đô thị loại III hoặc loại IV; Thị trấn phải là đô thị loại IV hoặc loại V
Các chỉ tiêu đô thị ở các quốc gia là khác nhau , thông thường mật độ dân
số tối hiểu cần thiết để được gọi là một đô thị phải là 400 người/km2, hay 1000 người trên một dặm vuông Anh Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhât định nào đó, một điều kiện nữa là phần đông dân
số, thường là 75% dân số trở lên, không làm nông nghiệp Theo quan điểm quản
lý ở nước ta thì đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; kết cấu hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết
kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị; quy mô dân số là ít nhất 4.000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2.000/km2
-! Đô thị hóa: Có quan điểm cho rằng Đô thị hóa là quá trình tăng trưởng
của đô thị về mặt dân cư, quy mô các thành phố và lan tỏa lối sống đô thị về nông thôn Theo nghĩa rộng, đô thị hóa là quá trình phát triển đô thị về các mặt kinh tế, dân số, không gian và kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị; sự biến đổi và
Trang 25phân bố các lực lượng dản xuất trong nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa; sự thay đổi điều kiện sản xuất, lối sống và văn hóa đô thị Tóm lại, đây là quá trình chuyển đổi căn bản mọi mặt xã hội nông thôn truyền thống sang
xã hôi đô thị - công nghiệp và thị trường hiện đại
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân
đô thị hay dện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỷ ệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì gọi là mức đô thị hóa, theo cách thứ 2 gọi là tốc độ ĐTH
Đứng từ góc độ phát triển kinh tế có quan điểm lại cho rằng đô thị hóa là quá tình hình thành và biến đổi cơ cấu nền kinh tế quốc dân với sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ như quan điểm của tác giả Trần Văn Bính: Đô thị hóa trước hết phải là nơi tập trung các cơ sỏ sản xuất công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ Sự hình thành các sơ sở kinh tế đó, một mặt đã đáp ứng các nhu cầu vật chất ngày càng cao của con người, nhưng mặt khác lại có thể tạo nên những hiệu ứng tiêu cực đối với đời sống tinh thần xã hội Làm rõ hơn quan điểm này, nhóm tác giá Lê Du Phong, Nguyễn Văn Áng, Hoàng Văn Hoa cho rằng:
Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số [31,tr.16]
Trên cơ sở tham khảo các tư liệu nghiên cứu về quá trình đô thị hóa và đô thị hóa ở Việt Nam, qua quan điểm của các nhà nghiên cứu, có thể hiểu một cách
khái quát về đô thị hóa như sau: Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phát triển
đất nước theo chiều hường hiện đại, với những thay đổi căn bản về lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội, kết cấu hạ tầng cơ sở, môi trường, văn hóa và lối sống
Trang 26Trên thực tế, quá trình đô thị hóa tại Việt Nam đã làm thay đổi diện mạo của đất nước, cung cấp nhưng công năng đô thị đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống hiện đại, góp phần nâng cao mức sống của một bộ phận dân cư trong nhiều năm qua Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực cũng đã phát sinh nhiều vấn đề phức tạp cần sớm giải quyết một cách triệt để và toàn diện như: Vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị; Thất nghiệp và sự phân hóa giàu nghèo; Vấn đề quá tải hệ thống cơ sở hạ tầng và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; Vấn đề ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội…
Sự biến đổi trước hết, tiên quyết về kinh tế, xã hội trong quá trình đô thị hóa, tất yếu đem đến sự thay đổi trong văn hóa truyền thống và lối sống của người dân Mặ khác, văn hóa luôn là động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hện đại hóa, là nên tảng thúc đẩy quá trình đô thị hóa, toàn cầu hóa theo hướng văn mình, hiện đại nhưng không rời xa truyền thống văn hóa dân tộc
1.2 Tổng quan làng nghề Vạn Phúc
Từ bao đời nay, Vạn Phúc được biết đến là một làng cổ, làng nghề truyền thống nổi tiếng trong và ngoài nước Nghề dệt đến nay đã có bề dầy lịch sử trên 1.000 năm với những sản phẩm tơ lụa Từ những khung cửi dệt thủ công ngày xưa, Vạn Phúc ngày nay đã cơ khí hoá bằng hệ thống máy dệt, các sản phẩm ngày càng đa dạng Chất lượng ngày càng nâng cao đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Không chỉ là địa phương nổi danh với nghề dệt lụa truyền thống, Vạn Phúc còn là “làng Đỏ” - làng cách mạng Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi đây là an toàn khu của Trung ương Đảng và xứ uỷ Bắc Kỳ, đã nuôi dấu và là nơi hoạt động của nhiều đồng chí lãnh tụ của Đảng như: Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Văn Cừ và nhiều đồng chí khác Đặc biệt, tháng 12/1946 Bác Hồ đã về ở và làm việc 16 ngày đêm Với những đóng góp to lớn trong hai cuộc kháng chiến và trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Vạn
Trang 27Phúc được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân và 03 Huân chương lao động Hạng nhất, hạng Nhì, hạng Ba
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý
-!Vị trí địa lý
Vạn Phúc có tổng diện tích đất 143,97 ha, địa hình tương đối bằng phẳng,
có khí hậu mang tính chất đặc trưng của khí hậu vùng Bắc Bộ
Vạn Phúc nằm ở phía Tây Bắc quận Hà Đông , cửa ngõ phía Bắc của thành phố Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 11 km Vạn Phúc nằm bên bờ sông Nhụê trên trục đường 430 nối quốc lộ 6 qua trung tâm quận Hà Đông ra đường cao tốc Láng – Hoà Lạc (đường 32)
Phía Đông giáp với dòng sông Nhuệ, bên kia sông làphường Mộ Lao Phía Bắc giáp thôn Ngọc Trục (Đại Mỗ – Từ Liêm - Hà Nội)
Phía Tây giáp PhườngLa Khê
Phía Nam giáp phường Quang Trung
Vạn Phúc có độ cao đồng đều, địa hình tương đối bằng phẳng, cao từ 0.5- 6.0m, là khu vực đất trũng, thấp hơn các vùng xung quanh từ 1 - 1.5m; có hướng dốc dần từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam với độ dốc từ 0.2 – 0.3%
Năm 2011, UBND TP Hà Nội phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch phân khu
GS 4.2 tỷ lệ 1/2000 tại xã Đại Mỗ - huyện Từ Liêm và phường Vạn Phúc - quận
Hà Đông Phân khu có tổng diện tích khoảng 188 ha Ranh giới của khu vực nghiên cứu lập quy hoạch nằm ở phía Đông Nam đường 70 hiện có Theo dự thảo đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050, khu đất nghiên cứu lập quy hoạch phân khu GS 4.2 tại xã Đại
Mỗ, huyện Từ Liêm và phường Vạn Phúc, quận Hà Đông được xác định là khu vực dự án trong Vành đai xanh sông Nhuệ, có kiểm soát theo quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc trong khu vực Vành đai xanh sông Nhuệ
Trang 28Với vị trí như vậy, Vạn Phúc có những thuận lợi về giao thông đi lại và giao lưu kinh tế văn hoá với các khu vực xung quanh, nhất là với thủ đô Hà Nội – trung tâm kinh tế chính trị văn hoá của cả nước
-!Khí hậu và thời tiết
Làng Vạn Phúc nằm trong vùng khí hậu Hà Nội, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm cố hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa Nhiệt
độ trung bình trong năm khoảng 23.6oC, độ ẩm trung bình cao 82% - 88%, lượng mưa trung bình năm là 1707mm
Vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, với đặc trưng nóng ẩm thì đây là khoảng thời gian nhu cầu sử dụng các sản phẩm lụa tăng cao Mặt khác đây cũng
là thời gian thu hoạch tơ tằm của một số vùng nguyên liệu trồng dâu nuôi tăm lớn như Thái Bình, Hưng Yên, Lâm Đồng, Bảo Lộc Vì thế thời gian này rất thuận lợi cho người sản xuất và kinh doanh lụa
Nhưng từ tháng 11 năm trước cho đến tháng 3 năm sau, là vào mùa khô hanh, các vùng nguyên liệu gặp khó khan nên người sản xuất và kinh doanh lụa cũng bị ảnh hưởng không ít Không những thế, tại các nơi cạnh sống Nhuệ do ảnh hưởng của hơi nước nên có độ ẩm tăng cao gây khó khan trong việc bảo quản vải tránh bị ẩm mốc
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng
Làng vạn phúc xưa có tên gọi là Vạn Bảo, vốn là trang vạn Bảo, xã Thượng Thanh Oai, tổng Thượng Thanh Oai, trấn Sơn Nam Hiện trên tấm bia
đá ở văn chỉ của làng xây dựng đời Tây Sơn cũng thấy ghi thôn Vạn Bảo thuộc
xã Thượng Thanh Oai Sang đến triều Nguyễn, do triều đình phân định lại địa giới hành chính, xã Thượng Thanh Oai có bốn thôn là Cầu Đơ, Kiều Trì, Văn Quán và Vạn Bảo, riêng Vạn Bảo nằm biệt lập ở bên kia sông Cầu Am, nên đã đổi lệ thuộc vào tổng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây
Trong sách Các trấn tổng xã danh bị lãm do Tổng trấn Đức Thành soạn thảo vào
Trang 29nhưng năm đầu triều Nguyễn có ghi thôn Vạn Bảo thuộc tổng Thiên Mỗ Đến cuối thế kỉ XIX, do kiêng tên húy vua Thành Thái (1889 – 1906) là Bửu (Bảo) Lân, nên đổi gọi thành Vạn Phúc cho tới ngày nay
Qua tìm hiểu cho thấy lịch sử làng Vạn phúc gắn liền với lịch sử của nghề truyền thống dệt lụa Hiện nay cũng có khá nhiều tương truyền
Thuyết được nhiều người tương truyền nhất nói rằng bà tổ làng Vạn Phúc tên là A Lã Thị Nương, vốn là người Hàng Châu (Trung Quốc), vợ của Cao Biền, là Thái thú Giao chỉ, từng sống ở trang Vạn Bảo, Nỗi nhớ quê hương da diết của bà trút hết vào nghê tầm tang, canh cửi nơi dòng Nhuệ Giang êm đềm tha thiết Ngày nối ngày, đời trải đời và nghề dệt trở thành “truyền thốn” của làng Vạn Phúc
Một số thuyết khác có nói rằng, truyền thuyết nghề dệt lụa ở Vạn Phúc có
từ hơn ngàn năm trước, do một vị tổ sư tên Lã Thị Nga, dòng dõi Hùng Vương truyền dạy nghề cho dân làng Để ghi nhớ công ơn, dân làng tôn bà làm Thành hoàng và thờ tại đình làng Vạn Phúc, lấy ngày 10 tháng tám âm lịch (ngày sinh của bà) và ngày 25 tháng chạp âm lịch (ngày mất của bà) làm ngày tễ lễ và giỗ tổ hàng năm
Thêm một thuyết nói rằng cách đây khoảng 1200 năm, bà A Lã Thị Nương, một người con gái ở Cao Bằng nổi tiếng đảm đang và có tay nghề dệt lụa khéo léo về làm dâu làng Vạn Phúc
Lúc đầu chỉ bằng những công cụ thô sơ, sản xuất mang tính tự cấp, tự túc Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, dần dần sản phẩm dệt đã trở thành hàng hoá gắn liền với đời sống kinh tế của người dân Vạn Phúc Từ đó đã kích thích việc cải tiến công nghệ và máy móc thiết bị Các sản phẩm lụa tơ tằm ngày một nâng cao
Sang đầu thế kỷ XX, do chịu ảnh hưởng của hai nền kỹ thuật dệt: Trung Quốc và Pháp, tác động mạnh mẽ tới quá trình cải tiến công nghệ và thiết
Trang 30bị của làng nghề, các sản phẩm mới được ra đời như: Lụa vân, Lụa the, Lụa xa, Lụa quế, Gấm… Các mặt hàng lụa tơ tầm được bán rộng rãi trên thị trường trong nước và được xuất sang Pháp Năm 1939 - 1940 tham dự hội chợ Marseille (Pháp), người dệt ra hàng lụa thủ công xuất xắc đã được tặng thưởng hàm bá hộ cửu phẩm
Tháng 6 năm 1962 Hợp tác xã dệt lụa Vạn Phúc được thành lập, thống nhất các gia đình làm nghề dệt theo phương thức sản xuất tập trung Bước sang đầu những năm 1990 Hợp tác xã dệt lụa Vạn Phúc đã tổ chức lại mô hình sản xuất, chuyển từ sản xuất tập trung sang “cá nhân hóa”, sản xuất riêng lẻ, đầu tư công nghệ cao cho nghề dệt lụa Năm 2002, có thể coi là thời đại hoàng kim của nghề dệt lụa làng Vạn Phúc, với năng suất tăng cao, đạt sản lượng trên 2 triệu mét vải mỗi loại
Đến nay, tuy số hộ làm nghề đã thuyên giảm rõ rệt nhưng nghề dệt lụa cổ truyền của Vạn Phúc vẫn không ngừng đổi mới về trang thiết bị và mẫu mã sản phẩm, nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng hạ giá thành sản phẩm, ngày càng đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng
1.2.3 Tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội
Vạn Phúc có tổng số dân 5592 người (số liệu năm 2003) bao gồm hơn
1240 hộ trong đó có khoảng 780 hé dệt nhuộm, chiếm đến 63% tổng số hé Năm
2004 do thành lập phường Vạn Phúc nên sát nhập thêm 4 khối dân nữa, tổng số dân của Phường lên tới 9335 người Cho đên năm 2014, tổng số dân của Phường
là 16705 người, bao gồm 4361 hộ chia thành 12 tổ dân phố [Nguồn: UBND phường Vạn Phúc, 2015]
1.2.3.1 Cơ sở kinh tế
Theo điều tra dân số năm 2003, xã Vạn Phúc có tổng diện tích đất tự nhiên là: 143.9744 ha bao gồm: Đất nông nghiệp (62.1259 ha), đất chuyên dùng (46.3029 ha), đất thổ cư (30.8835 ha), đất chưa sử dụng (4.6620 ha) Với cơ cấu
Trang 31sử dụng đất như vậy cho thấy Vạn Phúc xưa mang đầy đủ nhưng đặc trưng của một vung châu thổ sông Hồng, kính tế dựa vào hai nguồn thu là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Diện tích đát ở chiểm tỉ lệ nhỏ hơn so với tiêu chuẩn (vào khoảng 35 - 45 %), tương đương mật độ dân sô khoảng 6700 người/
km2 [Nguồn: UBND phường Vạn Phúc, 2015]
Đến năm 2014, diện tích đất của làng gần như không thay đổi (143.9744 ha) nhưng mục đích sử dụng đất lại thay đổi rõ rệt Cụ thể: Đất nông nghiệp giảm còn 18.19 ha; đất làng nghề (đất chuyên dùng) cùng đất thổ cư tăng lần lượt là 71.,52ha, 50.04 ha; đồng thời hình thành thêm đất dịch vụ (đất phi nông nghiệp) là 9.74 ha
Sản xuất thủ công nghiệp:HTX dệt lụa xây dựng kế hoạch tổ chức các
khâu dịch vụ phục vụ sản xuất của làng nghề, doanh thu đạt 1.7 tỷ đồng Sản xuất lụa ước đạt trên 1.54 triệu mét lụa, doanh thu đạt 62 tỷ đồng
Hoàn thiện hồ sơ giao đất đợt 2 cho 17 nhóm hộ, nâng tổng số 261 nhóm,
hộ được giao đất tại Điểm TTCN làng nghề tổ chức sản xuất kinh doanh
Tổ chức khóa đào tạo nâng cao tay nghề sửa chữa và vận hành máy dệt theo công nghệ mới cho 35 học viên
Phong tặng 5 nghệ nhân làng nghề năm 2014
Hoạt động dịch vụ thương mại: Tập trung phát triển kinh tế làng nghề,
tiếp tục phát triển thương mại dịch vụ du lịch làng nghề năm 2014 và những năm tiếp theo Tổ chức 01 lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn và đón tiếp khách du lịch cho các hộ sản xuất kinh doanh lụa với tổng số 75 học viên Tổ chức khai trương và duy trì hoạt động của trung tâm giao lưu sinh vật cảnh và đồ
cổ đồ xưa tại khu Điểm TTCN làng nghề Phối hợp với tổ chức IMV (Pháp) triển
khai thực hiện dự án “Phát triển du lịch làng nghề” Vạn Phúc Năm 2014 làng
nghề Vạn Phúc được sách kỷ lục Việt Nam suy tôn là làng nghề lâu đời nhất Việt Nam đang hoạt động đến nay
Trang 32Duy trì phát triển các tuyến phố kinh doanh dịch vụ như phố Lụa, phố ẩm thực Xây dựng hoàn thiện Trung tâm kinh doanh lụa Vạn Phúc với nguồn vốn là
5 tỷ đồng bằng nguồn xã hội hóa Tiếp tục phát triển nhiều mô hình kinh doanh dịch vụ khác Ước tính doanh thu từ thương mại dịch vụ đạt 115 tỷ đồng
Sản xuất nông nghiệp: Chỉ đạo HTX Nông nghiệp khắc phục khó khăn về
quỹ đất sản xuất nông nghiệp tổ chức cho xã viên chuyển đổi cơ cấu trồng rau mầu trên diện tích đất còn lại Duy trì hoạt động chợ Nông sản đảm bảo vệ sinh
AN TOÀN THỰC PHẨM và giải quyết lao động việc làm cho gần 300 lao động, doanh thu đạt 1.2 tỷ đồng Chuyển đổi mô hình HTX Nông nghiệp sang kinh doanh thương mại dịch vụ: lập hồ sơ trình chủ trương quy hoạch dự án đầu
tư kinh doanh thể thao, bãi xe, dịch vụ công cộng trên diện tích đất xen kẹp để tạo việc làm cho người lao động
Chăn nuôi, Thú y: Thực hiện tiêm phòng đàn gia súc gia cầm Tổ chức vệ
sinh tiêu độc môi trường trên toàn địa bàn phường, phun thuốc sát trùng diệt khuẩn, diệt ruồi, muỗi, côn trùng ở những khu vực chăn nuôi và những khu vực
có độ ô nhiễm cao
Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân được duy trì và phát triển đảm bảo
an toàn về vốn và tài sản Ban xoá đói giảm nghèo của phường đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội cho vay bằng nguồn vốn ưu đãi để hỗ trợ các hộ phục vụ sản xuất kinh doanh
Về Công tác đầu tư xây dựng: Tổng số có 03 công trình đã hoàn thành,
quyết toán được ghi vốn với tổng mức đầu tư: 33 tỷ 154 triệu đồng Trong đó có
02 công trình đã hoàn thành; 01 công trình đã dược phê duyệt quyết toán
Các dự án khác đang trình quận thẩm tra hồ sơ duyệt quyết toán theo thẩm quyền Dự án xây dựng Nhà văn hóa vẫn đang tiếp tục thực hiện với việc thi
công Tổ dân phố 10
Trang 331.2.3.2 Cơ sở văn hóa - xã hội
Về cơ cấu tổ chức xã hội: Làng là trung tâm sinh hoạt tự chủ của người
dân, là nơi bảo lưu văn hóa truyền thống, tạo nên sức mạnh dân tộc
Cơ cấu tổ chức theo huyết thông dòng họ: Dòng họ ở Vạn Phúc là chỗ dựa vật chất, tinh thần cho mỗi gia đình Làng có nhiều dòng họ, trong đó có các dòng họ lớn như: họ Nguyễn, Lê, Đa số các dòng họ đều làm nghề dệt truyền thống; mức độ liên kết trong một dòng họ khá rạch ròi như: cố, kị, cụ, ông/bà, con, cháu, chắt, chút
Cơ cấu tổ chức theo địa vực (láng giềng, xóm): Làng Vạn Phúc phân chia thành nhiều xóm, xóm phân thành nhiều ngõ, mỗi ngõ có một hay nhiều nhà Trước kia làng có 7 xóm, cho đến nay làng giữ nguyên 7 xóm lên thành 7 tổ dân phố và thành lập thêm 5 tổ dân phố Từ năm 2009 đến nay, làng Vạn Phúc có tất
cả 12 tổ dân phổ
Cơ cấu tổ chức theo bộ máy hành chính: Từ khi làng thuộc xã, xã lên phường, cũng như bao làng quê Bắc bộ khác, bộ máy hành chính của làng có sự thay đổi, đảm bảo sự thống nhất trong bộ máy chính quyền nhà nước Việt Nam
từ trung ương đến địa phương
Về Công tác giáo dục: Hiện nay tại Vạn Phúc có 2 trường mầm non, 1
trường tiều học, 1 trường trung học cơ sở đóng trên địa bàn phường Giáo viên các cấp đều 100% đạt chuẩn Các nhà trường đều xây dựng kế hoạch thực hiện phù hợp cho học sinh, đảm bảo an toàn môi trường giáo dục tại từng cấp học Luôn quan tâm, hỗ trợ cho các cháu có hoàn cảnh khó khăn vào đầu năm học để học
sinh ổn định bước vào năm học mới [Nguồn: UBND phường Vạn Phúc, 2014]
Về công tác văn hóa thông tin, bao gồm các hoạt động:
Hoạt động thông tin, tuyên truyền cổ động: Tổ chức, hướng dẫn và chỉ
đạo các cơ quan, đơn vị, Tổ dân phố treo băng zôn, biểu ngữ, cờ Tổ quốc trong dịp chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc Hướng dẫn các CÂU LẠC BỘ lập hồ
sơ đề nghị thành lập theo quy định
Trang 34Nghiêm khắc kiểm tra, bóc xóa quảng cáo rao vặt trên các tuyến đường tại địa bàn phường; xử lý các trường hợp vi phạm biển quảng cáo, treo biển quảng cáo không đúng quy định
Công tác thể thao: Liên tục tổ chức giao hữu các giải Cầu lông, Bóng bàn
và Cờ tướng khuyến khích toàn dân tham dự Ngoài ra, tham gia đầy đủ các giải thi đấu THỂ DỤC THỂ THAO do thành phố và Quận Hà Đông tổ chức
Công tác truyền thanh: Đài truyền thanh thực hiện tốt công tác tuyên truyền
cho toàn dân về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và phản ánh tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; truyên truyền các biện pháp đảm bảo trật tự AN TOÀN GIAO THÔNG, vệ sinh AN TOÀN THỰC PHẨM, tuyên truyền về thu phí, lệ phí và tuyên truyền chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc
Về công tác xã hội: Tổ chức gặp mặt,tặng quà cho các đối tượng chính
sách, người có công, đảm bảo chi đúng, chi đủ và kịp thời theo quy định Tổ chức hiến máu tình nguyện trên địa bàn phường Toàn phường không ngừng tham gia phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, tổ dân phố, cơ quan, đơn vị văn hóa Đến nay có 89% các gia đình được công nhận gia đình văn hóa, 5 tổ dân phố được
công nhận là tổ dân phố văn hóa [Nguồn: UBND phường Vạn Phúc, 2014]
Về công tác y tế, dân số- kế hoạch hóa gia đình: Tổ chức khám bệnh cho
toàn dân tại trạm y tế với các bác sĩ Đông, Tây y có tay nghề Triển khai chiến dịch vệ sinh môi trường diệt bọ gậy; phun hóa chất diện rộng để chủ động phòng, chống các bệnh trên địa bàn phường Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên duy trì ở
mức 1%
Về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng: Tuyên truyền, vận động nhân dân thực
hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng Chỉ đạo tổ chức Lễ hội đảm bảo trang trọng, tiết kiệm và đúng
quy định
Trang 35Rà soát, loại bỏ “hiện vật lạ” trong các di tích trên địa bàn phường Khuyến cáo các tổ chức, cá nhân trên địa bàn không sử dụng, cung tiến, biểu tượng, sản phẩm, linh vật và các vật phẩm không phù hợp với thuần phong mỹ
- Khâu hồ
Hồ sợi được thực hiện đối với sợi dọc Khâu này đòi hỏi kỹ thuật đạt đến trình độ cao Như ta đã biết, Hà Đông là nơi dệt lụa nổi tiếng nhất trong cả nước Nhưng ở Hà Đông lại không có làng dệt nào có kỹ thuật cao như ở làng Vạn Phúc Người thợ ở đây nấu hồ hết sức công phu Khi nấu hồ, người ta thường cho thêm một ít sáp ong, đồng thời sử dụng bí quyết kỹ thuật riêng làm cho sợi
hồ vừa dẻo dai, lại vừa bóng Kỹ thuật hồ sợi Vạn Phúc, nhất là của các nghệ nhân bậc thầy ở đây không bao giờ tiết lộ bí quyết ra ngoài Chính vì thế, sợi hồ của Vạn Phúc bao đời nay vẫn đẹp hơn sợi hồ của các nơi khác
- Khâu dệt
Dệt là khâu quan trọng nhất của nghề dệt lụa thủ công Tùy mỗi loại sản phẩm tơ lụa mà người ta có cách dệt khác nhau Tất cả các loại hàng tơ lụa, tựu chung lại chỉ là sản phẩm của hai hình thái dệt Đó là hàng dệt trơn và hàng dệt hoa
Trang 36Dệt lụa trơn (không có hoa) cần phải sử dụng hai loại go: go thẳng và go vòng Go thẳng để dệt loại lụa mỏng mịn Còn go vòng thì để dệt loại lụa mỏng
có chấm thủng
Điều quyết định tạo ra các sản phẩm lụa khác nhau chính là việc sử dụng
số lượng sợi dọc nhiều hay ít, cũng như độ to nhỏ cần thiết của sợi ngang và cách mắc sợi dọc qua go, còn gọi là “thăm go” Muốn có độ to nhỏ theo ý muốn của sợi ngang, ta chỉ việc chập đôi, chập ba hay chập bốn sợi nhỏ lại với nhau
Đối với các mặt hàng dệt hoa, thao tác cũng tương tự như dệt hàng trơn Nhưng dệt hoa khác dệt trơn ở chỗ: trước khi dệt hoa gì, cần phải vẽ kiểu hoa đó trên giấy, hoặc có mẫu vẽ sẵn Người thợ dệt đặt mẫu hoa ấy lên bàn khâu hoa Dệt cài hoa phải có hai người, một người dệt, một người kéo hoa (hay cài hoa) Động tác dệt cài hoa như sau: Giữ vai trò điều khiển chính là người dệt, còn người cài hoa chỉ có nhiệm vụ kéo go xà thật ăn ý với động tác của người dệt chính Khi người dệt ngồi ở dưới dậm chân đòn kêu “cắc” một tiếng, thì lúc đó người kéo hoa ở phía trên đồng thời kéo go xà lên Có lẽ do cách dệt như thế mà dân gian gọi loại hàng dệt trơn là hàng đơn, gọi hàng dệt hoa là dệt kép
- Khung cửi
Khung củi có hai loại: khung cửi dệt hàng trơn và khung cửi dệt hàng hoa
Về mặt hình thức và chức năng sử dụng thì hai loại khung cửi này có nhiều điểm rất khác nhau Nhưng nguyên lý kỹ thuật vận hành của chúng chỉ là một Khung cửi dệt hàng trơn cấu tạo đơn giản Khung có một tầng và hai bàn go thẳng Chiếc khung đơn cổ có kích thước dài từ 3 mét đến 3.2 mét, ngang 40 cen-ti-mét, cao 1.2 mét Nó có hai cái “cửa” và cấu tạo bên trên là 4 trụ (đều cao 1.2 mét) Đầu của các trụ đều đặt bộ song hành, đòn gánh khổ và con cò (còn gọi là con cá hay con cuốn)
Khung dệt hàng hoa được cấu tạo phức tạp hơn rất nhiều so với khung dệt đơn (hay dệt trơn) Ngoài các bộ phận nói trên, khung dệt hoa còn có thêm: hệ thống tạo hoa bao (gọi là “cây hoa”), hệ thống này gồm có bộ “cỗ thảo” để đưa
Trang 37hoa xuống hoặc kéo hoa lên, và bên dưới là bộ go dọc và go ngang Ở khung cửi dệt hoa, số lượng chân đòn cũng nhiều hơn ở khung dệt đơn Các chân đòn (còn gọi là chặn đòn) có tác dụng điều khiển hoạt động của cái bàn gỗ ở “cây hoa” (cái chân đòn ấy dân gian gọi là chân hoa)
Như vậy, cả hai loại khung củi đều được chế tạo trên những nguyên tắc gần giống hệt nhau Có khác chăng là khung cửi dệt hoa gồm có nhiều go hon Mẫu hoa văn dệt trên lụa càng phức tạp thì số go càng lớn Nhưng trong cả hai loại khung dệt, nguyên lý cơ bản chỉ là một: những sợi căng dọc theo chiều dài khung cửi - gọi chung là “canh” - đan với sợi ngang, tức là “chỉ”, do con thoi chuyển vận
- Khâu nhuộm
Không phải loại sản phẩm dệt tơ nào cũng đều phải nhuộm cả, mà chỉ có một số sản phẩm cần nhuộm Có loại dệt xong là được nhuộm màu chỉ ở khâu sợi, như gấm, vóc Có loại không phải nhuộm như lụa nõn Nhưng có loại chỉ nhuộm, hồ khi đã dệt xong, như lĩnh, the
Kỹ thuật nhuộm có nhiều phương pháp khác nhau, tùy theo việc sử dụng cách nhuộm thủ công hay nhuộm công nghiệp
Trong các xí nghiệp nhuộm hiện nay, người ta thường dùng một số hoá chất và màu để nhuộm vải sợi bông và nhuộm tơ lụa
Trước khi nhuộm, cần nhúng vật liệu nhuộm vào nước xà phòng, rồi giũ thật sạch, sau nhúng trở lại vào nước nóng, sau đó mới đưa vào nhuộm hoặc cho cắn màu Vải, sợi, lụa nhuộm xong phải giữ thật sạch và treo ở nơi thoáng gió, hoặc đưa qua thiết bị sấy khô.Tuyệt đối không bao giờ trộn lẫn các màu có bản chất khác nhau, vì trộn màu sẽ gây ra kết tủa các bột màu không hòa tan, làm cho vật liệu nhuộm bị vết màu cặn gây loang lổ
Cần lưu ý: Các phẩm màu a-xít không nhuộm được sợi bông, nhưng nhuộm được len, lụa, vi-scô-za Các phẩm màu thực thể nhuộm được tất cả các
Trang 38loại sợi có nguồn gốc động vật, thực vật hoặc nhân tạo Còn các phẩm màu tự nhiên (gỗ vang, lá chàm ) nhuộm được tất cả các loại sợi, tuy một số cần phải qua xử lý kỹ thuật riêng
Công nghiệp nhuộm tơ lụa
Tơ lụa “nấu” ở 90 - 950C trong nước xà phòng (loại xà phòng có độ xút 400C), rồi đưa vào bể nhuộm
Trong dung dịch a-xít, tơ lụa được làm mềm mại ra Thông thường người
ta cho thêm phụ gia thiết clo-rua vào tơ lụa sau khi đã nấu trong dung dịch xà phòng nói trên Sau đó xử lý tơ lụa đã được nấu bằng một hóa chất (nat-tri phốt-phát), và đem giặt thật kỹ Để giữ được màu sắc nhuộm, cần thiết phải xử lý tơ lụa bằng cao su-mác, hay gọi là “chiết màu” Nhuộm tơ lụa, người ta hay dùng các loại phẩm màu a-xít, theo một trong hai công thức: dung dịch a-xít, dung dịch trung tính
Nếu dùng các phẩm màu ba-zic để nhuộm tơ lụa, người ta cũng cho nhuộm trong dung dịch a-xít, hoặc dung dịch trung tính.Công thức nhuộm:
Tơ lụa: 1 phầnNước: 25 phần Nat-tri-sun-phát kết tinh: 0.5 phầnXút (NaOH) 400C: 0.7 phần
Thực tế cho thấy, trong công nghiệp nhuộm, nếu dùng phẩm màu để nhuộm thì tơ lụa không chỉ bền màu, mà màu lại rất tươi sáng, chói lọi
Nhuộm thủ công
Theo kinh nghiệm cổ truyền, các loại tơ lụa được nhuộm bằng phương pháp thủ công, màu sắc thường bền đẹp Một số sản phẩm dệt có màu sắc rất lộng lẫy.Đương nhiên, để làm được các loại sản phẩm đạt chất lượng và mỹ thuật ở mức độ rất cao như thế, phải có sự đóng góp của bàn tay những người thợ dệt tài hoa Nhưng nếu chỉ có khâu dệt thì chưa đủ, mà phải có sự sáng tạo rất tài tình ở khâu nhuộm tơ, lụa Để nhuộm, ông cha ta đã biết cách khai thác các màu sắc từ cỏ cây hoa lá, đất đá trong thiên nhiên Đó là các loại lá chàm,
Trang 39nghệ, phèn đen, than, bồ hóng, bùn ao, đá màu, đất đồi… Rồi từ những màu nguyên thủy của các chất liệu đó pha chế thành vô số gam màu khác nhau để nhuộm, để vẽ, để “chiết màu”
Nhuộm thủ công là cả một công nghệ phức tạp, được tiến hành qua nhiều giai đoạn, đòi hỏi người thợ phải có tính kiên trì, cẩn thận và không thể bỏ qua một công đoạn nào Tùy màu sắc từng loại sản phẩm mà áp dụng kỹ thuật nhuộm có khác nhau, tuân theo một quy trình rất nghiêm ngặt Chẳng hạn như việc nhuộm lĩnh đen: “Lĩnh mộc trước tiên được chuội trắng, nhuộm chàm, sau
đó suốt trong bảy ngày, mỗi ngày phải nhuộm năm lần nước lá bàng rồi trát bùn phơi khô Hôm sau đem giặt, rồi lại tiếp tục nhuộm nước lá bàng, như vậy tấm lĩnh phải qua “35 thâm, 7 thổ”
Lĩnh còn được đem hồ để tăng độ bền của sợi, rồi cả tấm được cuộn lại,
và lấy chày ghè cho mềm Sau quá trình khá phức tạp đó, người ta mới có được một tấm lĩnh đen nhánh, óng muốt”
ra đời những loại lụa mới như the, vân, xa, quế… mà kỹ thuật dệt gấm cũng được hình thành trở lại
Trang 40Nhưng có lẽ, nổi tiếng nhất trong các loại lụa Vạn Phúc vẫn là lụa vân loại lụa mà hoa văn nổi vân trên cả hai mặt lụa Giải thích cái tên này, cụ Mại - nghệ
nhân làng nghề chia sẻ: “Vân có nghĩa là mây Lụa vân là thứ lụa nhìn lên bề
mặt thấy ẩn hiện những đám mây nho nhỏ” [Nguồn: Phạm Hồng Hạnh, Phỏng
vấn sâu, 2014] Đây là một kỹ thuật dệt tinh tế chỉ Vạn Phúc mới dệt được
Về đặc tính, tơ tằm quý hơn cả bởi tơ tằm cho chất lụa mềm mại, óng ả, mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, thấm được mồ hôi và chống được tia bức xạ của mặt trời, rất hợp với khí hậu nước ta Nếu đặc tính mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, nhẹ nhàng, mềm mại làm nên giá trị vật chất của lụa thì cái hồn cốt, cái in dấu trong lòng người từ bao năm qua lại nằm ở cái tình mà người làng lụa gửi gắm
Hiện nay sản phẩm từ lụa của làng nghề rất đa dạng và phong phú với nhiều mẫu mã và màu sắc khác nhau, hoa văn trên vải cũng đã được cải tiến rất nhiều để thoả mãn mọi nhu cầu của người mua Chủng loại sản phẩm loại bao gồm: váy, quần áo sang trọng, đồ ngủ, các loại túi xách,… ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi ở mọi tầng lớp trong xã hội
- dòng họ - gia đình - thợ thủ công; Một số hình thái văn hoá: Nghề và tín ngưỡng thờ tổ nghề (nơi thờ tổ nghề); ứng xử mang tính tiểu thương; bí quyết và
kỹ xảo nghề; các tập tục riêng biệt của làng nghề
Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phát triển đất nước theo chiều hướng hiện đại, với những thay đổi căn bản về lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội, kết