1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường đại học sư phạm hà nội hiện nay

122 65 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, mảng đề tài về đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên cũng được đề cập trong một số luận văn thạc sỹ văn hóa học như: Hoàng Trung Thanh 2009 “Internet trong đời sống văn hóa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

LƯƠNG THU TRANG

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN

CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành : Văn hóa học

Mã số : 60 31 06 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ TRÀ VINH

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn tôi luôn nhận được

sự động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo đã tham gia giảng dạy, các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Văn hóa Hà Nội và Khoa Sau Đại học cùng gia đình, bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các thầy

cô, gia đình, bạn bè, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Trà Vinh, người thầy không chỉ hướng dẫn mà còn động viên tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn tới các thầy, cô giáo trường Đại học

Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi được khảo sát, thu thập các số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng song

do hạn chế về tư liệu, thời gian cho nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Với tinh thần cầu thị, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để hoàn thiện luận văn này

TÁC GIẢ

Lương Thu Trang

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 7

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 12

1.1 Một số khái niệm cơ bản 12

1.1.1 Khái niệm văn hóa 12

1.1.2 Khái niệm văn hóa tinh thần 13

1.1.3 Khái niệm đời sống văn hóa 14

1.1.4 Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần 17

1.2 Vai trò của đời sống văn hóa tinh thần đối với sinh viên 23

1.2.1 Đời sống văn hóa tinh thần góp phần nâng cao chất lượng học tập, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của sinh viên 25

1.2.2 Đời sống văn hóa tinh thần góp phần hình thành đạo đức, lối sống lành mạnh, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, phòng chống các tệ nạn xã hội trong sinh viên 27

1.3 Khái quát về trường Đại học Sư phạm Hà Nội 28

1.3.1 Khái quát quá trình xây dựng và phát triển 28

1.3.2 Đặc điểm của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội 31

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 34

2.1 Chủ thể đời sống văn hóa tinh thần 34

2.2 Thể chế, thiết chế văn hóa tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 37

2.2.1 Thể chế văn hóa 37

2.2.2 Các thiết chế văn hóa 39

2.3 Các hoạt động thể hiện đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 41

Trang 4

2.3.1 Hoạt động tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức chính

trị cho sinh viên 42 2.3.2 Hoạt động học tập của sinh viên 48 2.3.3 Hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hóa của sinh viên …… 52 2.3.4 Các hoạt động văn hóa tinh thần do nhà trường tổ chức cho

sinh viên 68 2.3.5 Hoạt động khai thác sử dụng các trang mạng xã hội trên

Internet của sinh viên 74 2.4 Một số nhận xét về đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay 71 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

TINH THẦN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 78 3.1 Một số yếu tố khách quan tác động đến đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong thời gian tới 78 3.1.1 Sự tác động của yếu tố kinh tế 78 3.1.2 Sự tác động của quá trình toàn cầu hóa 79 3.1.3 Sự định hướng và tác động của đường lối, chính sách của

Đảng và Nhà nước 81 3.2 Dự báo về đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong thời gian tới 82 3.3 Những giải pháp cơ bản 84 3.3.1 Nâng cao nhận thức của nhà trường, gia đình về tầm quan

trọng của việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho sinh viên 84 3.3.2 Đẩy mạnh việc giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên 87 3.3.3 Tăng cường các nguồn lực, phương tiện cho hoạt động văn

hóa tinh thần của sinh viên 88

Trang 5

3.3.4 Nâng cao chất lượng các tổ chức của sinh viên Đại học Sư

phạm Hà Nội 90

3.3.5 Xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh trong nhà trường 91

3.3.6 Nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các hoạt động văn hóa tinh thần cho sinh viên 93

3.4 Một số kiến nghị 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 107

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Trang

Bảng 2.1: Tìm hiểu về mức tiền sinh hoạt hàng tháng của sinh

Bảng 2.2: Kết quả khảo sát đánh giá của sinh viên về giá trị đáng

Bảng 2.3: Kết quả tiếp thu kiến thức từ hoạt động thực tế 49

Bảng 2.4: Một số số liệu về hoạt động nghiên cứu khoa học của

sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 51

Bảng 2.5: Mức chi tiêu của sinh viên cho các hoạt động văn hóa

Bảng 2.6: Đánh giá mức độ thói quen đọc sách của sinh viên

Bảng 2.7: Những thể loại sách sinh viên thường đọc 55

Bảng 2.9: Nhu cầu của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội đối với

Bảng 2.10: Sự quan tâm của sinh sinh với các loại hình âm nhạc 60

Bảng 2.11: Sinh viên nêu lý do khi lựa chọn loại hình âm nhạc

Bảng 2.12: Thể loại phim yêu thích của sinh viên 63

Bảng 2.13: Thời gian sử dụng mạng xã hội của sinh viên 67

Bảng 2.14: Nguyên nhân không tham gia các hoạt động tinh thần

do nhà trường tổ chức của sinh viên 72

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN

Trang

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu giới tính của sinh viên 34

Biểu đồ 2.2: Mức tiền sinh hoạt hàng tháng của sinh viên Đại học

Biểu đồ 2.5: Mức độ thói quen đọc sách của sinh viên 54

Biểu đồ 2.6: Một số loại sách sinh viên thường xuyên đọc 56

Biểu đồ 2.7: Thể hiện loại hình báo sinh viên thường đọc 58

Biểu đồ 2.8: Nhu cầu của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội đối

với hoạt động nghe nhạc và xem phim 59

Biểu đồ 2.9: Sự quan tâm của sinh viên với các loại hình âm nhạc 60

Biểu đồ 2.10: Sinh viên nêu lý do lựa chọn thể loại nhạc yêu thích 62

Biểu đồ 2.11: Thể loại phim yêu thích của sinh viên 63

Biểu đồ 2.14: Nguyên nhân không tham gia các hoạt động tinh thần

do nhà trường tổ chức của sinh viên 73

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Xuất phát từ vai trò của thanh niên đối với sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”, điều đó cho thấy thanh niên là lực lượng quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc Trước đây, khi đất nước còn đang trong thời kỳ chiến tranh lực lượng thanh niên đã cùng dân tộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, thống nhất đất nước và trong thanh niên thì sinh viên

là tầng lớp ưu tú nhất, luôn đi đầu trong mọi hoạt động

Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò của sinh viên luôn nổi bật vì đây là lực lượng lao động quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế của đất nước Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ nói chung và sinh viên nói riêng để đáp ứng những yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế Do vậy, trong nhiều năm trở lại đây, nhiều trường Đại học được đầu tư để xây dựng cơ sở vật chất như: phòng học, nhà văn hóa, sân thể thao, thư viện… nhằm tạo điều kiện cho sinh viên học tập nghiên cứu và hưởng thụ văn hóa đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực quốc gia

1.2 Xuất phát từ tính cấp thiết trong việc bồi dưỡng lý tưởng sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa của thế hệ trẻ Việt Nam trong hội nhập và phát triển

Xu thế hội nhập quốc tế đã tạo cho thế hệ trẻ Việt Nam trong đó có sinh viên nhiều điều kiện thuận lợi Họ được học tập, tiếp nhận nhiều kiến thức, thông tin mới để nâng cao nhận thức, phát triển tư duy, thị hiếu thẩm mỹ có lối sống lành mạnh và biết tôn trọng kỷ cương xã hội Tuy vậy, mặt trái của

xu thế hội nhập đã tác động không nhỏ đến lối sống, đời sống văn hóa tinh thần của nhiều người trong xã hội trong đó có sinh viên

Trang 9

Phần lớn sinh viên hiện nay vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp của cha ông ta từ xưa như: “tôn sư tọng đạo”, “hiếu học”… Đồng thời có một bộ phận không nhỏ sinh viên chỉ quan tâm đến bản thân, học đòi lối sống xa hoa hưởng thụ, tha hóa nhân cách xa vào các tệ nạn xã hội khiến cho gia đình, nhà trường và toàn xã hội lo lắng

Mục tiêu đặt ra là, chúng ta cần tăng cường việc giáo dục lối sống văn hóa và đạo đức cho sinh viên, cuốn hút sinh viên tham gia xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phòng chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội, định hướng sinh viên phấn đấu rèn luyện theo chuẩn mực “vừa hồng, vừa chuyên” như Bác Hồ kính yêu đã dạy Là một trong hai trung tâm giáo dục lớn nhất của đất nước, thủ đô Hà Nội là nơi tập trung rất nhiều các trường đại học, trong đó có trường Đại học Sư phạm Hà Nội cái nôi đào tạo đội ngũ nhân lực cao cho hệ thống giáo dục quốc dân Việc tìm hiểu đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội sẽ giúp chúng ta đưa ra được môt số giải pháp khả thi để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho sinh viên

sư phạm, do đây là một trường đại học lớn, số lượng sinh viên đông và cũng bởi trong bất cứ thời kỳ nào vai trò của người thầy đối với xã hội là rất quan trọng, giáo viên vừa là người truyền thụ kiến thức, vừa là người giáo dục cách ứng xử cho học trò bên cạnh gia đình

Từ những lý do trên và nhận thức rõ vai trò của sinh viên trong đó có sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội đối với tương lai phát triển đất

nước, em đã chọn đề tài “Đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở nước ta, vấn đề giáo dục thanh niên và xây dựng đời sống văn hóa cho thanh niên được nhiều tác giả quan tâm Có rất nhiều cuốn sách, bài báo, luận văn thạc sỹ viết về về đời sống văn hóa nói chung và đời sống văn hóa của sinh viên

Trang 10

Một số cuốn sách tiêu biểu

- “Văn hóa với thanh niên, thanh niên với văn hóa Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn” của Ban Tư tưởng- Văn hóa Trung ương (2002), tập trung đề

cập một số vấn đề: nhu cầu, thị hiếu và năng lực của thanh niên, những tác động của văn hóa đến tư tưởng, tình cảm lối sống của thanh niên

- “Xây dựng môi trường văn hóa - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”

của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004) Đây là cuốn sách tập hợp những bài viết vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn về xây dựng môi trường văn hóa trong đó có đề cập tới môi trường văn hóa nhà trường

- Tác giả Phan Ngọc: “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới”, Nxb

Văn hóa Thông tin Hà Nội năm 1994 Tác giả đề cập tới văn hóa Việt Nam với những cách tiếp cận mới so với truyền thống trong đó nhấn mạnh tới yếu

- TS Đinh Thị Vân Chi “Nhu cầu giải trí của thanh niên”, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2002

- GS, TS Hoàng Vinh, Những vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, Nxb Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa xuất bản năm 2006

Ngoài ra, mảng đề tài về đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên cũng được

đề cập trong một số luận văn thạc sỹ văn hóa học như: Hoàng Trung Thanh

(2009) “Internet trong đời sống văn hóa của sinh viên Hà Nội hiện nay”; Chu Hồng Minh (2010) “Hoạt động của đoàn thanh niên hội sinh viên trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở các trường đại học khối văn hóa nghệ thuật trên địa bàn

Hà Nội”; Vương Văn Bằng “Ảnh hưởng của mạng xã hội trên internet đối với đời sống văn hóa của sinh viên thủ đô Hà Nội”; Nguyễn Thị Thu Lan (2011) “Đời sống văn hóa của sinh viên trường đại học lao động xã hội giai đoạn hiện nay”

Trang 11

Những nghiên cứu trên đây, là nguồn tư liệu quý báu có tác dụng gợi mở về

mặt lý luận và thực tiễn để tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay”

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục tiêu

Trên cơ sở nghiên cứu đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu tập trung vào sinh viên hệ chính quy trường Đại học Sư phạm Hà Nội

- Về thời gian: Thời kỳ từ năm 2008 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chủ trương chính sách của nhà nước về văn hóa, về thanh niên, sinh viên làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu

Trang 12

Các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp tổng hợp tài liệu

- Phương pháp điều tra xã hội học:

+ Sử dụng bảng hỏi, chọn mẫu nghiên cứu là 360 sinh viên phân bổ theo tiêu chí nghề nghiêp (ngành học), giới tính

+ Phỏng vấn sâu: Đối tượng là sinh viên

+ Quan sát thực tế

- Phương pháp liên ngành như: xã hội học, văn hóa học, tâm lý

6 Đóng góp về khoa học của luận văn

- Hệ thống hóa lại một số vấn đề lý luận liên quan đến đời sống văn hoá tinh thần của sinh viên

- Đánh giá thực trạng và một số nhân tố khách quan tác động đến đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, hoặc tài liệu cho các nhà quản lý hoạch định chính sách phục vụ công tác xây dựng đời sống văn hóa tinh thần trong nhà trường

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về đời sống văn hóa tinh thần và khái quát về trường

Đại học Sư phạm Hà Nội

Chương 2: Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường

Đại học Sư phạm Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho

sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ KHÁI QUÁT

VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Trong đời sống hàng ngày và cả trên báo chí, văn hóa được sử dụng như một từ đa ngĩa Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa,

có tác giả hiểu văn hóa là những di sản tinh thần và phong tục tập quán như E.Tylor trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy”: “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục cùng với những khả năng và tập quán khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội” [90, tr.88] Cựu tổng giám đốc Unesco lại đưa ra quan niệm khác về văn hóa:

Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ

và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [93, tr.23] Khác với quan niệm của E.Tylor, quan niệm này lý giải văn hóa theo nội dung rộng hơn đó là văn hóa sinh ra cùng với con người và nó có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người cho dù là hoạt động sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần hay trong các mối quan hệ giao tiếp, ứng xử xã hội và thái độ ứng xử với tự nhiên Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa ở cấp độ khái quát về văn hóa:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ

Trang 14

những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của

nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [64, tr.431]

Như vậy, theo chúng tôi dù văn hóa được giải nghĩa bằng nhiều cách khác nhau nhưng điểm thống nhất trong những quan niệm nêu trên là: văn hóa là phương thức tồn tại đặc hữu của loài người, là thước đo trình độ Người cao nhất

1.1.2 Khái niệm văn hóa tinh thần

Trong hoạt động sản xuất của xã hội, người ta thường phân chia thành hai dạng thức chính là: sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Điều này tương ứng với những nhu cầu cơ bản nhất của con người là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Vì vậy, khi phân chia các dạng văn hóa người ta thường chia thành: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần tương ứng với những nhu cầu cơ bản như đã nêu ở trên

Văn hóa vật chất là toàn bộ những cái do con người sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu sinh lý, duy trì cuộc sống thể chất của mình như: ăn, mặc, ở, đi lại…, tất cả những vật thể này góp phần tái sản sinh ra đời sống vật chất của con người theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn

Văn hóa tinh thần là toàn bộ những giá trị tinh thần như: tư tưởng, đạo đức, khoa học, nghệ thuật, tín ngưỡng, tôn giáo… do con người sáng tạo ra bằng lao động của mình trên lĩnh vực sản xuất tinh thần, những giá trị này nói lên mức độ biểu hiện và trình độ phát triển các lực lượng bản chất người trong sản xuất tinh thần

Sự phân chia văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần chỉ mang tính chất tương đối Bởi lẽ, trong đời sống thực tiễn không có giá trị vật chất nào lại không hàm chứa giá trị tinh thần trong đó và ngược lại không có giá trị tinh thần nào lại có thể tồn tại bên ngoài những hình thức vật chất của nó Tuy sự phân chia văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần chỉ mang tính quy ước tương

Trang 15

đối, song nó có thể cho phép chúng ta xem xét mỗi lĩnh vực như một hệ thống độc lập

Do vậy, chúng tôi đồng tình với khái niệm văn hóa tinh thần của tác giả Trần Chí Mỹ đưa ra trong luận án tiến sỹ “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”:

“Văn hóa tinh thần là tổng thể những giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên lĩnh vực sản xuất tinh thần” [66, tr.26]

1.1.3 Khái niệm đời sống văn hóa

Ở nước ta thuật ngữ đời sống văn hóa được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu khoa học, cũng như trên các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy vậy, vẫn chưa có một khái niệm chuẩn về đời sống văn hóa được chính thức công nhận, hiện nay khi nghiên cứu về đời sống văn hóa chúng ta thường bàn đến quan niệm của một số tác giả sau:

Trước hết là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1947 tại chiến khu Việt Bắc, với bút danh Tân Sinh Bác Hồ đã viết tác phẩm “Đời sống mới”, những vấn đề mà Người nêu trong tác phẩm như sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc; xây dựng tư tưởng yêu nước; đạo đức; tác phong cách mạng; nếp sống văn hóa cho mỗi người và cộng đồng thực chất là vấn đề về đời sống văn hóa Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống văn hóa bao gồm hai lĩnh vực đời sống vật chất và đời sống tinh thần và đối với Bác mục đích cuối cùng của việc xây dựng đời sống mới

là làm cho dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn Ngoài ra, ta còn có thể kể đến quan niệm của tác giả Hoàng Vinh được khá nhiều học viên sử dụng trong luận văn của mình, cũng như được một số tác giả sử dụng dùng làm cơ sở lý luận trong các bài viết về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Theo tác giả Hoàng Vinh thì “đời sống văn hóa là một

bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản

Trang 16

phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó) Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực

và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh [94, tr.268] Định nghĩa trên được tác giả đưa ra từ năm 1999 và đã phản ánh được cấu trúc của đời sống văn hóa tuy nhiên cách diễn đạt trên chưa làm rõ được mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành đời sống văn hóa Ngoài ra, ta còn phải kể đến quan niệm của tác giả Nguyễn Hữu Thức đề cập trong cuốn “Một số kinh nghiệm quản

lý và hoạt động tư tưởng văn hóa”, Nguyễn Hữu thức cho rằng:

Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới nâng cao chất lượng đời sống của chính con người [82, tr.20]

Quan niệm trên của tác giả cho ta thấy một cách nhìn nhận khác về đời sống văn hóa, nó đã phản ánh được bản chất của đời sống là hoạt động và bản chất của văn hóa là từ con người vì con người Tuy vậy, khái niệm này vẫn chưa thể hiện đầy đủ các thành tố cấu trúc của đời sống văn hóa, để đi đến một quan niệm hoàn chỉnh hơn về đời sống văn hóa chúng ta phải tiếp cận đời sống văn hóa trong toàn bộ đời sống xã hội Vì đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì đời sống

“là hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” [106, tr.670] và đời sống còn được hiểu theo một nghĩa khác là phương tiện tập thể để sống, lối sống của cá nhân hay tập thể (đời sống xa hoa, đời sống cần kiệm…), đời sống con người bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng có liên quan mật thiết đến nhau như: đời sống kinh tế, đời sống chính trị, đời sống xã hội, đời sống văn hóa…

Trang 17

Để phân biệt rõ các lĩnh vực nói trên, chúng tôi cũng dựa vào quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như quan niệm của các học giả trên thế giới

Tiếp cận theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lĩnh vực văn hóa có thê được hiểu như sau: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề

cần chú ý, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Nhưng văn hóa là một kiến trúc thượng tầng” [12] Cùng với việc

xác định bốn lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đều phải coi trọng ngang nhau, Hồ Chí Minh chỉ rõ kinh tế là thuộc về cơ sở hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, xây dựng kiến trúc thượng tầng Từ đó, Người nêu ra luận điểm phải xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa Về mối quan hệ này, Hồ Chí Minh đã lý giải như sau: “Muốn tiến lên chủ nghiã xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu:

Có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước Nhưng phát triển để làm gì? Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta” [65, tr.59] Từ quan niệm này của Hồ Chí Minh, có thể hiểu

rằng, Người coi đời sống văn hóa là đời sống tinh thần

Quan niệm nói trên của Hồ Chí Minh cũng gần với quan niệm của một số học giả trên thế giới Abraham Moles - nhà nghiên cứu văn hóa người Pháp viết: “Văn hóa là bình diện tinh thần của môi trường nhân tạo, do con người xây dựng nên trong tiến trình đời sống xã hội của nó” [1] Lướt qua một số giáo trình văn hóa học của nước Nga ngày nay, chúng ta cũng nhận thấy rằng, nhiều tác giả như: Ê-ra-xôp B.X, Ra-du-ghin A.A, Gô-re-lốp A.A và Khan-ghen-di-eva I.G v.v…đều xem văn hóa là thế giới tinh thần của con người Trên đây là một số các quan niệm mà chúng ta thường đề cập khi bàn về thuật ngữ đời sống văn hóa Mặc dù là các quan niệm khác nhau nhưng chúng đều thống nhất ở một điểm mọi hoạt động trong đời sống con người đều liên

Trang 18

quan tới văn hóa bởi văn hóa suy cho đến cùng chính là những hoạt động sống của con người, văn hóa là cái giúp một con người sinh học phát triển hoàn thiện như nhận định của một độc giả trên trang web www.word-newspaper.com: “Nếu không có văn hóa con người chỉ giống như động vật bậc cao”

Như vậy, từ cách tiếp cận lĩnh vực văn hóa như đã trình bày trên đây, chúng tôi quan niệm đời sống văn hóa thuộc đời sống tinh thần Dĩ nhiên, giữa các lĩnh vực hoạt động của đời sống con người có mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời nhau, nhưng ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu về đời sống văn hóa, do đó tạm thời khu biệt lĩnh vực hoạt động này Với những cách hiểu về đời sống và lĩnh vực văn hóa như đã nêu, có thể đưa ra khái niệm đời sống văn hóa như sau: đời sống văn hóa là một bức tranh hiện thực sống động các hoạt động của con người với sự hỗ trợ của các thiết chế văn hóa và sản phẩm văn hóa nhằm sáng tạo, hưởng thụ và lưu giữ, phát huy các giá trị văn hóa kết tinh trong những sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể, nâng cao chất lượng sống của con người

Cách hiểu về đời sống văn hóa như trên một mặt phản ánh được sáng tạo văn hóa là sáng tạo tinh thần vì bất kỳ một sản phẩm vật chất nào cũng mang trong nó yếu tố tinh thần, mặt khác nó cũng phản ánh được bản chất phức thể của đời sống văn hóa đó là mối quan hệ biện chứng giữa chủ thế sáng tạo, các dạng hoạt động văn hóa, các sản phẩm văn hóa trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể

1.1.4 Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần

Đời sống văn hóa tinh thần là toàn bộ các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, theo các định hướng và chuẩn mực về giá trị xã hội Đời sống văn hóa tinh thần luôn có sự trao truyền những giá trị truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước đã tạo dựng nên, đồng thời sáng tạo ra những giá trị mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, là thực tiễn những hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì và tái tạo những

Trang 19

sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực nhất định

Cấu trúc của đời sống văn hóa tinh thần

Để đưa ra cấu trúc của đời sống văn hóa tinh thần, chúng ta phải tìm hiểu

sự phân chia về cấu trúc đời sống văn hóa

Tùy theo cách hiểu cũng như quan niệm về đời sống văn hóa mà người ta

có thể nhìn nhận về cấu trúc của đời sống văn hóa một cách khác nhau như tác giả Lương Văn Kế dựa theo định nghĩa của Tylor về văn hóa đưa ra các yếu tố cấu thành đời sống văn hóa Đức đương đại như: “Lễ hội truyền thống; đời sống tôn giáo; nghề thủ công mỹ nghệ; bảo tàng và danh thắng; báo chí; phát thanh và truyền hình; sân khấu và điện ảnh; nghệ thuật tạo hình và kiến trúc, văn học Đức đương đại” [54, tr.128], tuy vậy khái niệm cũng như sự phân chia về cấu trúc đời sống văn hóa của giáo sư Hoàng Vinh là rõ ràng hơn cả Ông chia cấu trúc của đời sống văn hóa thành các bộ phận sau:

Bộ phận thứ nhất là sản phẩm văn hóa, thể chế văn hóa

Sản phẩm văn hóa bao gồm hai bộ phận vô hình và hữu hình Bộ phận

vô hình chính là các huyền thoại, truyền thuyết, các lễ hội, tín ngưỡng dân gian, các nhân thần văn hóa Bộ phận văn hóa hữu hình gồm có các dạng sản phẩm văn hóa đang lưu hành như: sách báo, tranh tượng, phim ảnh…

Các thiết chế văn hóa xã hội: trường học, nhà mẫu giáo, sân vận động, trung tâm văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, phòng truyền thống…

Cảnh quan văn hóa: phong cảnh thiên nhiên đã được tu bổ, công trình kiến trúc, tượng đài, quy hoạch đô thị, làng xã, quảng trường…

Bộ phận thứ hai là các dạng hoạt động văn hóa

Có các dạng hoạt động văn hóa phổ biến như: Hoạt động sáng tác biểu diễn nghệ thuật, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống Hoạt động khai trí, giáo dục nhằm nâng cao kiến thức cho mọi người, dạy học, diễn giảng tọa đàm, thư viện, thông tin Hoạt động lưu giữ sản phẩm văn hóa: bảo tàng, lưu

Trang 20

trữ, triển lãm, sưu tập Hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hóa: đọc sách báo nghe âm nhạc, xem phim nghệ thuật, phim ảnh triển lãm, bảo tàng, tham quan,

du lịch… Hoạt động lễ hội, tín ngưỡng, xây dựng phong tục, nếp sống, gia đình, văn hóa Hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí trong thời gian rỗi

Bộ phận thứ ba là: Những con người văn hóa

Trình độ văn hóa của con người được biểu hiện ra ở một số khía cạnh như: học vấn, tuổi thọ, sức khỏe, những cá nhân có năng khiếu sáng tạo đặc biệt, ứng

xử văn hóa của cá nhân trước nghĩa vụ xã hội đối với lao động ở nơi công cộng

Về mặt lý luận, chúng tôi đồng tình với quan điểm phân chia cấu trúc văn hóa này của Giáo sư, tuy nhiên do xuất phát từ mục đích nghiên cứu của

đề tài, đối tượng nghiên cứu là đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên do vậy chúng tôi cho rằng cấu trúc đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên bao gồm những yếu tố sau:

Một là: Chủ thể hoạt động văn hóa

Trong tất cả các yếu tố của đời sống văn hóa tinh thần, thì chủ thể hoạt động văn hóa là yếu tố quan trọng và quyết định nhất, bởi chỉ có con người- động vật bậc cao mới có hoạt động văn hóa Chủ thể của đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội ở đây chính là cộng đồng sinh viên đang học tập tại trường Đề cập đến chủ thể hoạt động văn hóa cần chú

ý đến các đặc điểm như: sức khỏe,độ tuổi, mức sống, tín ngưỡng, quan niệm sống, nhân cách, nhu cầu về vật chất và tinh thần, tần suất tham gia các hoạt động văn hóa

Là một trong những trường Đại học lớn trên địa bàn Hà Nội, trường Đại học Sư phạm Hà Nội là nơi tập trung số lượng sinh viên lớn, đến từ nhiều địa phương khác nhau trên khắp đất nước cho nên khi nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần chúng ta cần chú ý đến tính phức hợp và tính đa dạng của nhóm

xã hội này Một đặc trưng nữa của sinh viên là tính trẻ, năng động và sáng tạo Lịch sử đã chứng minh, các hệ tư tưởng, tôn giáo, học thuyết, chính sách,

Trang 21

chế định, pháp luật thường là sản phẩm của các thế hệ lớn tuổi nhưng các khởi xướng về văn hóa, lối sống, các giáo phái, các dòng thời trang thường xuất hiện trong thanh niên mà trong đó có cả sinh viên Do vậy, đây cũng là một đặc trưng mà chúng ta cần chú ý khi đề cập đến chủ thể hoạt động văn hóa tinh thần của sinh viên

Hai là: Thể chế, thiết chế văn hóa

Thể chế văn hóa là ững chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước

và các tổ chức đoàn thể trong việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho sinh viên

Còn theo Từ điển bách khoa Việt Nam, thuật ngữ “thiết chế văn hóa” được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam từ những năm 70 của thế kỷ 20 “Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ

sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động cho thiết chế đó Ví dụ, thiết chế nhà văn hóa bao gồm ngôi nhà, bộ máy

tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà và công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa” [89, tr.230]

Còn trong giáo trình môn “Văn hóa xã hội chủ nghĩa” do Nhà xuất bản

tư tưởng văn hóa ấn hành thì “Thiết chế văn hóa là cơ quan văn hóa có nhiệm

vụ tổ chức và điều hành quá trình sản xuất, bảo quản, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa trong một cộng đồng dân cư nhất định” [49, tr.266] Với những quan niệm như trình bày ở trên thì rõ ràng là, trong đời sống văn hóa tinh thần, hệ thống các thiết chế văn hóa đóng vai trò là nơi lưu giữ

và chuyển tải các giá trị văn hóa của cộng đồng đến từng cá nhân Tuy nhiên, hiện nay có nhiều cách hiểu khác chưa thống nhất với quan niệm nêu trên Theo Đại từ điển tiếng Việt thì thiết chế được hiểu là thể chế [49, tr.266], tuy nhiên chính Đại từ điển tiếng Việt lại định nghĩa “Thể chế là những quy định luật lệ của một xã hội” [106, tr.1555] Cuốn Một số thuật ngữ hành chính lại định nghĩa: “Thể chế nói chung là một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trang 22

(được quy định trong hiến pháp, trong các đạo luật,bộ luật, pháp lệnh, các văn bản pháp quy dưới luật, trong các nghị quyết và các bản điều lệ, quy chế có chứa đựng các quy phạm…) [99, tr.13-14] do các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị- xã hội có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, buộc mọi người, mọi tổ chức phải tuân theo Mặc dù còn nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ thiết chế văn hóa nhưng theo chúng tôi thì cách hiểu đồng nhất “thiết chế” với “thể chế” cũng như việc coi thiết chế chỉ là cơ sở vật chất, hạ tầng cơ sở đều chưa chính xác Dựa trên quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau chúng tôi cho rằng, hai quan niệm đã nêu đầu tiên về thiết chế văn hóa là chính xác hơn cả bởi thiết chế văn hóa gồm cả cơ sở vật chất, tổ chức bộ máy và cả quy chế hoạt động và thiết chế văn hóa là môi trường đảm bảo cho các hoạt động văn hóa tinh thần diễn ra trong đời sống xã hội

Ba là, các hoạt động văn hóa

Xét theo nghĩa rộng thì bất kỳ hoạt động sống nào của con người cũng chứa đựng các giá trị văn hóa, tuy vậy tiếp cận theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu cũng như hướng nghiên cứu của đề tài, tác giả nhận thấy hoạt động văn hóa được hiểu là những hoạt động trong lĩnh vực tinh thần, mà nội dung trực tiếp của nó là hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ Đó là những hoạt động hưởng thụ, lưu giữ, phát huy những giá trị văn hóa Những hoạt động này có thể chỉ là của từng cá nhân nhưng nó luôn diễn ra trong mối liên

hệ tương quan với cộng đồng Hoạt động văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội là những hoạt động đáp ứng trực tiếp nhu cầu của họ Ta có thể phân loại một số dạng hoạt động văn hóa của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội bao gồm:

Hoạt động tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị cho sinh viên

Sinh viên Việt Nam nói chung cũng như sinh viên của trường Đại học

Sư phạm Hà Nội nói riêng là những trí thức trẻ tương lai, là nguồn lao động

Trang 23

chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do vậy bên cạnh những tri thức mà sinh viên có được thì việc giáo dục

tư tưởng, nhận thức chính trị, sự định hướng giá trị và lối sống phù hợp với giá trị chuẩn mực của thời đại cũng là yếu tố quan trọng để tạo nên những con người tri thức, vừa có tài, vừa có đức

Hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức chính trị chính là những hoạt động do nhà trường tổ chức để truyền bá những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, những kiến thức pháp luật cũng như đời sống nhằm định hướng cho sinh viên có lối sống lành mạnh

Hoạt động học tập của sinh viên:

Học tập là hoạt động quan trọng nhất của sinh viên Đó là quá trình tiếp thu kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên cùng quá trình tự học để tiếp nhận những thông tin, phương pháp, các kỹ năng, biến các tri thức mà mình tiếp nhận được thành của mình Việc nhận thức thái độ, động cơ, phong cách học tập của sinh viên trường Đại học Sư phạm cho ta thấy rõ hơn đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội như một nhận định của một độc giả trẻ trên trang www.englishstudydirect.com:

Sinh viên khác với các nhóm đối tượng khác trong xã hội, bên cạnh những hoạt động trong thời gian rỗi thì việc học tập là nhiệm vụ quan trọng nhất của họ, do vậy hoạt động học tập chính là một điểm nhấn quan trọng giúp chúng ta đánh giá thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên bởi học tập sẽ giúp sinh viên có được những kiến thức cần thiết trong việc tìm một công việc trong tương lai [105]

Hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hóa

Sản phẩm văn hóa cũng là yếu tố không thể thiếu trong \đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên Ta có thể kể đến một số sản phẩm như: sách, báo, tạp chí, băng đĩa nhạc, vũ điệu, internet v.v… Sự đa dạng, phong phú của những chủ thể văn hóa trên góp phần đáp ứng những nhu cầu đa dạng của chủ thể văn hóa

Trang 24

Sinh viên, trong đó có sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội là nhóm đối tượng có nhiều nhu cầu tiêu dùng sản phẩm văn hóa Do vậy, nghiên cứu hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hóa của họ sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn khái quát hơn về thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay

Hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hóa của sinh viên là sự lựa chọn và sử dụng những sản phẩm văn hóa nhằm thỏa mãn những nhu cầu tinh thần của họ Ngoài các việc ăn, ngủ để nuôi sống bản thân thì các hoạt động tiêu dùng các sản phẩm văn hóa chính là những nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của mỗi sinh viên Sinh viên cũng có rất nhiều hoạt động tiêu dùng các sản phẩm văn hóa nghe băng đĩa nhạc, đọc sách báo, sử dụng internet, thăm quan du lịch…

Hoạt động văn hóa tinh thần do nhà trường tổ chức cho sinh viên

Ngoài các hoạt động văn hóa tinh thần của bản thân sinh viên, sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội còn được tham gia những hoạt động văn hóa tinh thần do nhà trường tổ chức Những hoạt động này góp phần tạo môi trường văn hóa lành mạnh và là một phần trong đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên

Hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh

Khi nói đến tín ngưỡng là người ta nói đến những niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân cũng như cộng đồng Giới trẻ ngày nay mà đặc biệt là sinh viên cũng có những hoạt động tín ngưỡng tâm linh phản ánh những tâm tư tình cảm của họ 1.2 Vai trò của đời sống văn hóa tinh thần đối với sinh viên

Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và Ph.Ăngghen có viết: Chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó cũng là tiền đề của mọi lịch

sử, đó là người ta phải có khả năng sống đã mới có thể “làm ra lịch

Trang 25

sử” Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Vậy thì hành vi lịch

sử đầu tiên là sự sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn các nhu cầu

ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ chỉ nhằm để duy trì đời sống con người [62, tr.39-40]

C.Mác còn nói thêm rằng, bản thân cái nhu cầu đầu tiên đã được thỏa mãn, hành động thỏa mãn và công cụ để thỏa mãn mà người ta đã có được - đưa tới những nhu cầu mới; sự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên Như vậy, ngay các nhà kinh điển mác-xít khi nhấn mạnh vai trò của sản xuất vật chất không hề đánh giá thấp vai trò của sản xuất tinh thần, bởi nhu cầu tinh thần là một nhu cầu vô cùng quan trọng trong đời sống của mỗi con người

Ngày nay, yếu tố quan trọng và quyết định cho sự phát triển của mỗi quốc gia không chỉ nằm ở tài nguyên mà chủ yếu nằm ở trí tuệ, tri thức, thông tin, sự sáng tạo để nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao phục vụ cho sự phát triển của đất nước Đó chính là nguồn lực con người, tiềm năng sáng tạo của con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho chúng ta thấy con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường dài, để vượt qua con đường ấy cần phải có những con người mới, con người cách mạng, con người xã hội chủ nghĩa Theo Bác, con người mới con người xã hội chủ nghĩa là những người có mục đích và lối sống cao đẹp, con người ấy vừa phải có đức, vừa phải có tài, vừa hồng vừa chuyên

Sinh viên Việt Nam nói chung và sinh viên trường Đại học Sư phạm

Hà Nội nói riêng là bộ phận quan trọng của thanh niên cả nước, là lực lượng quan trọng bổ sung cho đội ngũ trí thức, là nguồn lao động nhân lực chất

Trang 26

lượng cao phục vụ cho công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao vai trò của sinh viên, luôn coi trọng công tác giáo dục, bồi dưỡng giá trị văn hóa cho sinh viên, để sinh viên có mục đích lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định:

Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách của con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, năng lực trí tuệ, đạo đức cao đẹp và bản lĩnh văn hóa của con người Việt Nam… Đối với thế hệ trẻ,thường xuyên giáo dục chính trị, truyền thống, lý tưởng đạo đức và lối sống tạo điều kiện học tập lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc [32, tr.106-120]

Do vậy, xây dựng một đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh sẽ có vai trò quan trọng đối với sinh viên, bởi nó góp phần định hình một lối sống lành mạnh cho những người chủ tương lai của đất nước

Vai trò của đời sống văn hóa tinh thần đối với sinh viên thể hiện trên một số mặt sau:

1.2.1 Đời sống văn hóa tinh thần góp phần nâng cao chất lượng học tập, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của sinh viên

Học tập là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với sinh viên, việc tiếp thu những kiến thức trên giảng đường sẽ là cơ sở để sinh viên lập nghiệp sau này

và cống hiến sức trẻ cho đất nước Bên cạnh việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, điều kiện học tập là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng học tập cũng như chất lượng giáo dục đào tạo sinh viên nói chung Sinh viên nếu được học trong một môi trường văn hóa lành mạnh, sẽ giúp họ phát huy được tính tích cực học tập, sáng tạo, khơi dậy sự hứng thú

Trang 27

nhiệt tình… Ngược lại nếu sinh viên học tập trong một môi trường văn hóa không lành mạnh, điều kiện học tập kém không đảm bảo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của sinh viên Điều kiện học tập bao gồm: các phương tiện hỗ trợ phục vụ cho việc giảng dạy học tập, sách và tài liệu tham khảo, các dụng cụ học tập và thực hành, phòng máy tính, internet…

Ngoài ra, động cơ, ý thức học tập của sinh viên cũng là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng học tập của sinh viên Động cơ học tập đúng đắn, thái độ học tập nghiêm túc của sinh viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy học tập của các trường đại học Ngược lại động cơ học tập không đúng đắn, ý thức học tập không nghiêm túc sẽ ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên

Việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho sinh viên trường Đại học Sư phạm sẽ góp phần nâng cao điều kiện học tập cho sinh viên, đặc biệt là điều kiện nghiên cứu, tiếp cận những thông tin mới thông qua việc đầu tư vào thư viện, trang bị tài liệu, sách báo, tạp chí internet Như đã trình bày ở trên đời sống văn hóa tinh thần là một bộ phận tinh tế nhạy cảm trong đời sống văn hóa của con người, bên cạnh đời sống vật chất thì đời sống văn hóa tinh thần là toàn bộ các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu về tinh thần của mỗi con người, đối với sinh viên học tập vừa là nhiệm vụ và cũng là nhu cầu về mặt tinh thần bởi người học mong muốn tiếp thu những tri thức để phục vụ cho công việc sau này, do vậy nếu được tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần lành mạnh, sẽ giúp sinh viên có điều kiện giao lưu, gặp gỡ với nhau, giúp đỡ nhau trong học tập, cuộc sống, giảm tải những áp lực mà họ thường hay gặp phải trong cuộc sống cũng như trong học tập Trên trang diễn đàn www.englishstudydirect.com, khi bàn về vai trò của đời sống văn hóa tinh thần trong nhịp sống hiện đại, một độc giả người Mỹ đã viết:

Không thể phủ nhận công việc và tiền bạc là những thứ ưu tiên trong cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta nhưng chúng ta cũng

Trang 28

không thể thiếu những nhu cầu giải trí về mặt tinh thần nhất là đối với sinh viên, vẫn biết học tập là nhiệm vụ hàng đầu của họ nhưng nếu họ được sống trong một môi trường lành mạnh, được tham gia những hoạt động ý nghĩa thì đó sẽ là động lực giúp họ vượt qua những áp lực trong cuộc sống công nghiệp [105]

Ý kiến nêu trên đã cho chúng ta thấy vai trò quan trọng của đời sống văn hóa tinh thần đối với sinh viên, khi mà xã hội ngày càng phát triển thì ngoài những nhu cầu về vật chất thì sinh viên- những con người trẻ trung năng động cũng có những nhu cầu tinh thần khác và việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh sẽ giúp cho sinh viên nói chung cũng như sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng nâng cao chất lượng học tập, giảm bớt những áp lực tinh thần trong cuộc sống

1.2.2 Đời sống văn hóa tinh thần góp phần hình thành đạo đức, lối sống lành mạnh, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, phòng chống các tệ nạn

xã hội trong sinh viên

Trên trang diễn đàn www.world-newspapers.com, một độc giả đã đưa ra nhận định như sau về hướng phát triển cho các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa:

“Bài toán phát triển của mỗi quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay không phải là tài nguyên khoáng sản mà chính là nguồn lực con người”

Nhận thức rõ vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển, nên nghị quyết Trung ương năm khóa VIII của Đảng ta đã đề ra nhiều nhiệm vụ quan trọng trong đó có nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới để nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Sinh viên cũng là lực lượng quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy những yếu tố truyền thống của văn hóa dân tộc do vậy việc xây dựng cho họ một đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay

Trang 29

Hiện nay khi bàn về đặc điểm của sinh viên, nhiều nhà nghiên cứu đều

có chung nhận định: “Sinh viên là lớp người trẻ trong xã hội ưa thích tiếp cận với cái mới, mà cái mới thì như con dao hai lưỡi, có tốt và có mặt trái” Quả thật, khi xã hội ngày càng văn minh hiện đại, quá trình hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu hơn thì quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa cũng ngày càng được mở rộng, bên cạnh những giá trị văn hóa tốt đẹp thì cũng có không ít những giá trị văn hóa không phù hợp với truyền thống của dân tộc

Do vậy, nếu nhà trường, gia đình nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho sinh viên trường Đại học Sư phạm sẽ góp phần định hướng cho sinh viên tiếp cận với các sản phẩm văn hóa lành mạnh, bài trừ các tệ nạn xã hội, hướng sinh viên có lối sống lành mạnh, phù hợp với thuần phong mỹ tục, góp phần bảo đảm an ninh trật tự trong nhà trường, khu nhà trọ, cũng như trật tự an ninh của toàn xã hội

1.3 Khái quát về trường Đại học Sư phạm Hà Nội

1.3.1 Khái quát quá trình xây dựng và phát triển

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chính thức được thành lập ngày 11/10/1951 theo Nghị định của Bộ Quốc gia Giáo dục Song quá trình hình thành và phát triển của Nhà trường lại được bắt đầu từ một sự kiện quan trọng, đó là ngày 10 tháng 10 năm 1945, tức là chỉ hơn một tháng sau khi đọc

bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Ban Đại học Văn khoa tại Hà Nội, trong đó nhiệm vụ đầu tiên là đào tạo giáo viên Văn khoa Trung học Một năm sau đó, ngày 8 tháng 10 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh số 194/SL thành lập ngành học Sư phạm, đào tạo giáo viên cho các bậc học cơ bản, trung học phổ thông, trung học chuyên khoa, thực nghiệm và chuyên nghiệp trong toàn quốc

Sự kiện thành lập Ban Đại học Văn khoa - tổ chức tiền thân của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển của

Trang 30

ngành sư phạm cách mạng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt và tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục Sau này, nhà trường còn có vinh dự được hai lần đón Bác về thăm (năm 1960 và năm 1964) Lời căn dặn của Người đã trở thành niềm tự hào và mục tiêu phấn đấu không biết mệt mỏi của lớp lớp các thế hệ cán bộ và sinh viên Nhà

trường trong suốt quá trình xây dựng và phát triển Người nói: "Làm thế nào để Nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường

mô phạm của cả nước” và người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất Dù tên tuổi không được đăng trên báo, không được thưởng Huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh”

Trong quá trình phát triển, dù đã nhiều lần trường đổi tên: Trường Sư phạm Cao cấp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội như ngày nay, song nhà trường vẫn luôn đứng ở vị trí là trường Đại học Sư phạm đầu ngành, cái nôi, của ngành sư phạm cả nước

Không chỉ trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, sự cống hiến của Nhà trường còn thể hiện trong những năm tháng đấu tranh quật cường của đất nước Trong kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, Đại học Sư phạm Hà Nội là một trong những cái nôi của Phong trào Ba sẵn sàng; là nơi hàng nghìn sinh viên và cán bộ ưu tú đã xếp bút nghiên lên đường ra trận, hàng trăm giáo viên

và sinh viên đã vượt Trường Sơn vào miền Nam xây dựng nền giáo dục cách mạng ở vùng giải phóng

Hiện nay, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là trung tâm lớn nhất về đào tạo giáo viên, nghiên cứu khoa học - đặc biệt là khoa học giáo dục của

cả nước Nhiệm vụ của Trường là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

có trình độ đại học và trên đại học, bồi dưỡng nhân tài cho hệ thống giáo dục quốc dân và xã hội; nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học giáo dục và

Trang 31

khoa học ứng dụng đạt trình độ tiên tiến; cung cấp dịch vụ giáo dục và khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế Trường có vai trò nòng cốt cho hệ thống các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lí giáo dục, phát triển các chương trình đào tạo, biên soạn chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, cho các bậc học, tư vấn các cấp quản lý xây dựng chính sách giáo dục

Ở bậc đào tạo đại học, cao đẳng, Trường có 42 chương trình đào tạo hệ chính quy, trong đó có 8 chương trình đào tạo chất lượng cao và liên kết nước ngoài; 22 chương trình đào tạo không chính quy

Trường Đại học Sư phạm còn là một trung tâm nghiên cứu khoa học lớn Chỉ tính từ năm 2000 đến nay, Trường đã có hơn 100 đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước; gần 600 đề tài và nhiệm vụ cấp Bộ, trong đó có hơn 50 đề tài trọng điểm, gần 850 đề tài cấp Trường Nhiều giảng viên đã vinh dự được nhận những giải thưởng khoa học cao quý như: Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng khoa học Nhà nước, Giải thưởng quốc tế Cosmos, Giải thưởng Nhân tài đất Việt

Trường còn có quan hệ hợp tác với hơn 100 trường đại học và các tổ chức giáo dục thuộc 34 quốc gia trên thế giới, trong đó có nhiều trường nổi tiếng của Nga, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Đức, Australia, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Bỉ… Với phong trào thanh niên, Đoàn thanh niên trường Đại học Sư phạm Hà Nội luôn nhận được nhiều bằng khen, phần thưởng của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, nhiều tổ chức xã hội vì những thành tích trong công tác đoàn như: tổ chức các hoạt động sinh viên tình nguyện giúp đỡ cộng đồng, tổ chức các hội diễn văn nghệ, giải đấu thể thao cho sinh viên

Với những thành tích nổi bật về mọi mặt, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng, danh hiệu cao

quý: Huân chương Lao động hạng Ba năm 1961, Huân chương Lao động

hạng Nhì năm 1962, Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1981, Huân

Trang 32

chương Độc lập hạng Nhì năm 1986, Huân chương Độc lập hạng Nhất năm

1996, Huân chương Hồ Chí Minh năm 2001 và danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới năm 2004 Năm 2010 trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã được đề nghị Nhà nước tặng thưởng Huân chương Bảo vệ tổ quốc

1.3.2 Đặc điểm của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội

Theo Từ điển Oxford (1995), thuật ngữ student được giải nghĩa như sau: một người thường trên độ tuổi 16, đang theo học ở một trường đại học hoặc cao đẳng, một thiếu niên nam hoặc nữ ở trường phổ thông Như vậy, trong tiếng anh thuật ngữ sinh viên được dùng cho cả bậc đại học và bậc phổ thông, nhưng khi cần phân biệt thì student dùng với nghĩa là sinh viên còn pupil có nghĩa là học sinh phổ thông Theo điều lệ của Hội sinh viên Việt Nam hiện hành thì sinh viên là công dân Việt Nam đang theo học bậc đại học, cao đẳng trong và ngoài nước Còn theo quy chế công tác học sinh sinh viên trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì người đang học trong hệ đại học và cao đẳng được gọi là sinh viên

Như vậy, sinh viên là tất cả những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông, đang theo học tại các trường đại học và cao đẳng thuộc mọi loại hình đào tạo

Là một tầng lớp của xã hội, sinh viên nói chung và sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng trước hết mang những đặc điểm chung của mỗi con người mà theo như Mác nói thì đó là “bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt” Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”

Tuy nhiên hầu hết sinh viên đại học đều đang ở trong độ tuổi thanh niên, cho nên họ mang những đặc điểm của thanh niên như trẻ, khá nhạy cảm với cái mới

Do đặc điểm trẻ mà sinh viên là những người có tốc độ trí nhớ nhanh

so với nhiều nhóm đối tượng khác, họ còn là những người có ngôn ngữ và tư duy logic phát triển trên cơ sở các giác quan của lứa tuổi Ngoài ra, sinh viên còn là đối tượng nhạy cảm với cái mới, dễ tiếp thu cái mới, thể hiện rõ nét trong các lĩnh vực liên quan đến khoa học công nghệ, thời trang, âm nhạc

Trang 33

Do vậy mà sinh viên là những người tương đối năng động và sáng tạo, thích tìm kiếm những cái mới Trong quá trình tìm kiếm cái mới đó, sinh viên một mặt tiếp thu những cái mới thực sự tốt đẹp nhưng đồng thời cũng tiếp thu thiếu chọn lọc những cái tưởng như là trào lưu mới nhưng thực chất là những điều không tốt

Ngoài những đặc điểm chung của thanh niên Việt Nam và sinh viên nói chung, sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng còn mang những đặc điểm riêng của mình, được quy định bởi hoàn cảnh sống và môi trường học tập Đặc điểm đầu tiên dễ nhận thấy là sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội là những người có trình độ văn hóa tương đối cao, vì đã tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học bổ túc Cũng như sinh viên nhiều trường Đại học khác, sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội được thừa hưởng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, thừa hưởng những thành tựu của công cuộc đổi mới và những giá trị của một nền văn hóa Việt vừa tiên tiến vừa mang đậm những giá trị truyền thống tốt đẹp

Năng động cũng là một đặc điểm nữa của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội Là một trung tâm đào tạo uy tín của cả nước, trường Đại học

Sư phạm Hà Nội là nơi tập trung một lượng lớn sinh viên…, trong đó có nhiều sinh viên đến từ khu vực miền núi và nông thôn… do vậy nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên tập sự của một cơ quan, công ty) do vậy mà họ luôn có tính tích cực chủ động trong mọi công việc Đi làm thêm ngay khi đang học trên ghế nhà trường giúp sinh viên từng bước quen với thực tế cuộc sống, bổ sung kinh nghiệm làm việc cũng như kỹ năng giao tiếp trong xã hội, rèn luyện bản lĩnh và tự khẳng định mình, biết quý trọng lao động cũng như giá trị của đồng tiền

Ngoài ra, sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội còn mang những nét riêng

do đặc thù ngành ngề đào tạo của trường cho nên đại đa số sinh viên sư phạm ngay từ khi mới bước vào trường và trong suốt quá trình học đã xác định rõ

về tư tưởng, đạo đức và mục đích nghề nghiệp

Trang 34

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội còn là những con người rất tự tin, vì

là những nhà giáo tương lai nên họ có sự tự tin vào bản thân, tự tin vài khả năng nhận thức và những kiến thức mà mình đã tiếp thu được

Những đặc điểm đã trình bày trên đây sẽ là cơ sở để tác giả tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay

Tiểu kết

Như vậy, hiểu một cách khái quát thì đời sống văn hóa tinh thần là các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, theo các định hướng và chuẩn mực về giá trị xã hội nhằm vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp

Sinh viên là một nhóm đối tượng đặc biệt, họ là những người trẻ có sự năng động, có lý tưởng và những mục tiêu của riêng mình khi bước vào học tập tại trường Đại học, do vậy tìm hiểu về đời sống văn hóa tinh thần của họ

sẽ giúp gia đình, nhà trường định hướng họ có lối sống lành mạnh, tiếp thu có chọn lọc cái mới để thực sự trở thành những con người vừa có đức, vừa có tài như mong ước của Bác Hồ kính yêu

Là một trung tâm giáo dục uy tín, trường Đại học Sư phạm Hà Nội là nơi tập trung một lượng lớn sinh viên đến từ nhiều địa phương trong cả nước, hầu hết họ ở độ tuổi từ 18 đến 22, giai đoạn đẹp trong cuộc đời của mỗi con người Tìm hiểu về đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm,

sẽ giúp chúng ta hiểu hơn những tâm tư nguyện vọng của một bộ phận quan trọng trong xã hội và từ đó có những giải pháp tốt hơn để hướng họ tới những giá trị đạo đức cao đẹp của dân tộc và để tiến hành khảo sát trong chương 1, tác giả đã tập trung trình bày quan niệm về văn hóa, văn hóa tinh thần, đời sống văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần, cấu trúc của đời sống văn hóa tinh thần, vai trò của đời sống văn hóa tinh thần đối với sinh viên Những nội dung này sẽ là nền tảng lý luận cơ bản để nghiên cứu và phân tích thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong chương 2

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

2.1 Chủ thể đời sống văn hóa tinh thần

Về độ tuổi: Rất nhiều sinh viên có độ tuổi trung bình từ 18 đến 22 tuổi,

đây là giai đoạn hai của lứa tuổi thanh niên là giai đoạn mà con người đã có

sự phát triển khá đầy đủ cả về thể chất và tinh thần Đây cũng là giai đoạn đẹp nhất trong đời người, là lứa tuổi mà sức trẻ, sự năng động, nhu cầu khám phá

là những đặc điểm nổi bật ở các bạn sinh viên tuy vậy đây cũng là giai đoạn

mà nhân cách của sinh viên đang được hình thành và hoàn thiện nên chưa có

sự ổn định mà ngược lại nó luôn ở trạng thái giao động, phân luồng cần có sự định hướng đúng đắn để phát triển nhân cách một cách tốt nhất

Về cơ cấu giới tính: Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2011-2012 của

trường Đại học Sư phạm Hà Nội thì hiện trường có 6.708 sinh viên hệ chính quy đang theo học tại trường và số lượng sinh viên nữ cao hơn sinh viên nam

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu giới tính của sinh viên

52,7%

47,2%

sinh viên nữ sinh viên nam

Do vậy, tìm hiểu về cơ cấu giới tính sẽ giúp chúng ta đề ra nhiều giải pháp tốt hơn trong việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho sinh viên

Trang 36

do giữa nam và nữ có những đặc điểm tâm lý khác nhau chẳng hạn nam giới thích cảm giác mạnh trong khi nữ giới lại thường là những người thích cảm giác nhẹ nhàng về âm thanh, màu sắc, mùi vị, nữ giới thường sống thiên về tình cảm trong khi nam giới sống thực tế hơn và nghiêng về

lý trí hơn

Về khu vực xuất thân: Theo khảo sát mà tác giả thực hiện thì số sinh viên

trường Đại học Sư phạm Hà Nội đến từ khu vực miền núi và nông thôn là khá nhiều so với sinh viên đến từ thành phố

Bởi vậy, khảo sát về khu vực xuất thân cũng sẽ giúp chúng ta đánh giá chính xác hơn về thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, bởi đặc điểm về khu vực xuất thân cùng với đó là môi trường học tập của sinh viên cũng có tác động đến việc tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần của họ

Về mức sống: Mức sống là một trong những nhân tố tác động đến đời

sống văn hóa tinh thần Để tiêu dùng các sản phẩm văn hóa thì sinh viên phải căn cứ vào tiền sinh hoạt hàng tháng của mình, bởi họ là nhóm đối tượng sống phụ thuộc vào gia đình

Theo như kết quả điều tra của luận văn, thì 50,5% sinh viên cho biết mức tiền sinh hoạt hàng tháng của mình là dưới 3 triệu, 42,7% sinh viên có mức sinh hoạt hàng tháng dưới 5 triệu, chỉ có 6,6% sinh viên có mức sống một tháng là trên 5 triệu

Bảng 2.1: Tìm hiểu về mức tiền sinh hoạt hàng tháng của sinh viên

Đại học Sư phạm Hà Nội Tiền sinh hoạt hàng tháng Số lượng Tỷ lệ (%)

Trang 37

Biểu đồ 2.2: Mức tiền sinh hoạt hàng tháng của sinh viên

Đại học Sư phạm Hà Nội

11 Khoa Tâm lý giáo dục

12 Khoa Quản lý giáo dục

13 Khoa Giáo dục đặc biệt

Trang 38

14 Khoa Giáo dục thể chất

15 Khoa Giáo dục quốc phòng

16 Khoa Giáo dục mầm non

17 Khoa Giáo dục tiểu học

18 Khoa Việt Nam học

1 Bộ môn tiếng Trung

2 Bộ môn tiếng Nga

Đây thực sự là những ngành học thu hút đông sinh viên theo học, nhìn vào thống kê trên ta có thể thấy số lượng các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của nhà trường chiếm số lượng lớn, việc tìm hiểu các ngành đào tạo của nhà trường cũng giống như các yếu tố của chủ thể

đã trình bày ở trên sẽ giúp chúng ta nhìn nhận chính xác hơn về thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội bởi đặc thù ngành học cũng là một nhân tố tác động đến việc tham gia các hoạt động văn hóa của sinh viên: sinh viên ngành khoa học xã hội, sinh viên ngành khoa học tự nhiên, khoa học về sự sống khoa học kỹ thuật có những sở thích và nhu cầu khác nhau khi têu dùng các sản phẩm văn hóa tinh thần, tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần

2.2 Thể chế, thiết chế văn hóa tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 39

Bộ Giáo dục và Đào tạo còn cùng với Bộ văn hóa-Thông tin ký kết Chương trình phối hợp về việc thực hiện cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (Số 2723/CTCT ngày 12-4-2001) với mục tiêu: Xây dựng các trường học có đời sống văn hóa tốt, tạo sự chuyển biến quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, nhằm phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tiếp tục phối hợp đẩy mạnh các phong trào thi đua trong ngành giáo dục, nhằm xây dựng đời sống văn hóa trong các nhà trường, tạo môi trường

sư phạm lành mạnh, văn minh, lịch sự, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội trong trường học

Bước đột phá trong việc nâng cao đời sống văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần cho học sinh sinh viên là Quyết định số 42 ngày 21/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hệ chính quy” Quy chế đã tạo ra sự chuyển biến trong công tác quản

lý học sinh, sinh viên đối với lãnh đạo, cán bộ, giáo viên nhà trường và nó cũng tạo được không khí dân chủ, khách quan nâng cao ý thức tự giác tham gia các hoạt động văn hóa cho học sinh, sinh viên trong nhà trường

Ngày 17/6/2004, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cùng Bộ Văn hóa-Thông tin ký Chương trình phối hợp số 65/CTPH-DVTT về đẩy mạnh các hoạt động văn hóa trong thanh, thiếu nhi thực hiện phong trào

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

Ngoài ra, chúng ta phải kể đến một số văn bản khác hướng dẫn triển khai việc nâng cao đời sống văn hóa trong đó có đời sống văn hóa tinh thần cho sinh viên như: Quy định về công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp (2007); quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các cơ sở giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy

Trang 40

(2007); quy định về tổ chức hoạt động văn hóa cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, ban hành kèm theo quyết định số 60/2008/QĐ-BGDĐT ngày 5/11/2008 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ thị số 46 CT/TW của Ban Bí thư về chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đọa đức xã hội Các văn bản này là cơ sở pháp lý định hướng cho các trường tổ chức các hoạt động nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho sinh viên

2.2.2 Các thiết chế văn hóa

Theo Số liệu báo cáo của phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội (thống kê tháng 1/2013) thì hiện nay trường Đại học Sư phạm Hà Nội có

7 khu giảng đường: K, V, D3, A1, A2, B,C và 141 phòng học phục vụ cho việc học tập của sinh viên Trường có 7 phòng học chất lượng cao được trang

bị tivi, màn hình máy chiếu phục vụ cho những giờ học đặc biệt của sinh viên

Số mic không dây phục vụ cho các hoạt động của cán bộ, giáo viên, sinh viên trong trường là 106 bộ Hệ thống máy chiếu đa năng phục vụ cho việc học tập

và các hoạt động của nhà trường là: 42 bộ Internet không dây được trang bị ở tất cả các giảng đường và khu ký túc xá Ngoài ra trường còn có 5 phòng máy tính với tổng số 180 chiếc phục vụ cho việc học tập của sinh viên Phòng thí nghiệm có tổng diện tích là 2.545 m2 và 38 phòng Trong năm học 2011-

2012, nhà trường đã hoàn chỉnh và đưa vào hoạt động các thiết bị của các phòng thí nghiệm công nghệ sinh học, phân tích hóa, quang học, nano, hóa học bề mặt và xúc tác, viễn thám

Trung tâm thông tin thư viện của trường có tổng diện tích là 5000m2 và

có phòng phục vụ bạn đọc 4 phòng chức năng chính là: Phòng Nghiệp vụ, phòng Đọc, phòng Mượn và Phòng Tin học

Phòng Nghiệp vụ: Thực hiện việc nghiên cứu thu thập, chọn lựa, bổ sung,

xử lí tài liệu và xây dựng các hệ thống tra cứu tìm tin truyền thống và hiện đại Ngoài ra, đây là nơi tiến hành làm thủ tục cần thiết cho bạn đọc khi mới nhập

Ngày đăng: 06/06/2021, 00:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w