Nghiên cứu về cư dân ngư nghiệp và văn hoá, truyền thống các làng ven biển ở Việt Nam, trước thế kỷ XX đã có những tác giả đề cập đến một số khía cạnh của vấn đề này như: Quốc sử quán củ
Trang 1(Qua kh¶o s¸t lµng Cöa BÐ, thµnh phè Nha Trang,
tØnh Kh¸nh Hßa)
Chuyªn ngµnh : V¨n ho¸ häc
M∙ sè : 60 31 70
luËn v¨n th¹c sÜ v¨n ho¸ häc
Ng‐êi h‐íng dÉn khoa häc: PGS, ts NguyÔn duy b¾c
Hμ Néi - 2011
Trang 2Mục lục
Trang
Chương 1: Những vấn đề lý luận về văn hóa lμng ven
biển vμ lμng ven biển cửa bé, nha trang
8
1.2 Về làng vùng biển 10 1.3 Về văn hóa làng ven biển 16 1.4 Vài nét về làng ven biển Cửa Bé tại Nha Trang 21
Chương 2: Đặc trưng văn hóa lμng ven biển Cửa Bé
thμnh phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hóa
30
2.3 Văn hóa phi vật thể 54
Chương 3 : Khai thác các giá trị văn hóa lμng ven
biển cửa bé vμo việc phát triển du lịch tại thμnh phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
86
3.1 Khái quát về hoạt động du lịch tại thành phố Nha
Trang, tỉnh Khánh Hòa
86
3.2 Phát triển du lịch tại làng ven biển Cửa Bé, thành
phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, được biển bao bọc trải dài khắp phía Đông đất nước Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, mở ra 12 hải lý và vùng kinh tế mở ra 200 hải lý trong đó có nhiều đảo và quần đảo Dọc bờ biển lại có nhiều vũng, vịnh, đó là địa bàn thuận lợi để cư dân sinh sống và khai thác thuỷ, hải sản Tuy vậy, trong lịch sử dựng nước, biển còn đóng vai trò khá mờ nhạt trong đời sống của người dân Việt trên mảnh đất này, như một số người đã từng đúc kết: người Việt “xa rừng, nhạt biển, chỉ đồng bằng” Các tài liệu khảo cổ học đã chứng minh rằng, dù người Việt gặp biển từ đầu thời kỳ
đồ sắt nhưng người dân tại vùng đồng bằng sông Hồng chưa có xu hướng ra biển Xu thế này được kéo dài cho tới hết thời quân chủ phong kiến ở Việt Nam với việc hàng loạt các triều đại áp dụng chính sách “bế quan, toả cảng” Chính vì vậy mà người Việt dường như bị bó mình trong các luỹ tre làng ở vùng đồng bằng Trong quá khứ, chính sách ấy có thể giúp Việt Nam tự bảo
vệ mình trước ngoại xâm và do kỹ thuật còn chưa phát triển nên người Việt đành tạm hài lòng với những gì mình có trong đất liền Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, để có thể phát triển đất nước, chúng ta phải biết khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên tự nhiên đồng thời bảo vệ nó hiệu quả Trong số đó, biển là nguồn tài nguyên quí giá mà chúng ta cần quan tâm
Hiện nay, để đánh giá sự phát triển của một quốc gia, người ta không chỉ đơn thuần dựa vào các chỉ số kinh tế mà họ còn phải cân nhắc đến các yếu
tố văn hoá, xã hội Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII từng nêu rõ: Văn hoá
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mỗi quốc gia không thể phát triển bền vững nếu nó không được xây dựng trên nền tảng văn hoá Do đó, hơn lúc nào hết, trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu văn hoá để phục vụ bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống, tiếp thu những tinh hoa văn hoá mới nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội là điều được Đảng, Nhà nước và toàn dân ta coi trọng
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu văn hoá biển cũng đã được đặt ra từ lâu, song chưa được nghiên cứu một cách toàn diện Dẫu biết rằng do người Việt –
Trang 4cư dân chủ thể của dải đất này – cư trú chủ yếu ở vùng đồng bằng châu thổ nên những dấu tích văn hoá cũng được xác lập ở đây rõ nhất, nhưng không thể phủ nhận rằng người Việt cũng đã từng bước tiến một cách thận trọng ra biển
cả bao la Dù còn e ngại, sợ hãi trước biển cả hung dữ nhưng trải qua thời gian người Việt cũng đã xây dựng nên cho mình một văn hóa ứng xử với biển cả mang những nét đặc trưng Những năm gần đây, trong bối cảnh của công cuộc đổi mới, xu hướng sử dụng, khai thác các yếu tố văn hoá như tín ngưỡng, lễ hội, nghề thủ công truyền thống … đã được khơi dậy nhằm gìn giữ và phát huy vốn văn hoá dân gian ở các vùng miền của Tổ quốc Văn hoá của cư dân vùng biển cũng đã được quan tâm, nghiên cứu và đưa vào khai thác, nhưng còn ở mức độ nhất định
Với hàng ngàn ki lô mét đường bờ biển, văn hoá của cư dân sinh sống ven biển ở Việt Nam nói chung, vùng biển Nha Trang, Khánh Hoà nói riêng là nguồn tài nguyên quí giá để khai thác phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Muốn khai thác hiệu quả nguồn lực này, không có cách nào khác chúng ta phải hiểu về nguồn lực ấy
Nha Trang được biết đến như một trong những thành phố du lịch nổi tiếng bật nhất của cả nước, được ví là trung tâm du lịch của miền Trung Với
hệ thống tài nguyên du lịch phong phú cùng hơn 400 khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế, thành phố Nha Trang ngày càng thu hút đông khách du lịch trong nước và quốc tế Đó là nguồn lợi lớn, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Tuy nhiên trong hoàn cảnh hiện nay, việc phát triển du lịch ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà còn có một số bất cập Đó là hoạt động du lịch ở thành phố Nha Trang mới chỉ tập trung khai thác thế mạnh của mình là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên như biển, đảo, các rạn san hô, các hệ thống thác nước hoặc nguồn suối khoáng, bùn khoáng tự nhiên Việc khai thác nguồn tài nguyên thế mạnh này đã đem lại cho thành phố Nha Trang những thuận lợi bước đầu trong quá trình phát triển du lịch tại địa phương nhưng cũng lộ rõ những hạn chế Việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng - kỹ thuật phục vụ du lịch đã tác
Trang 5động xấu đến môi trường tự nhiên của khu vực Vịnh Nha Trang đứng trước nguy cơ ô nhiễm, các hệ sinh thái biển tại khu vực các đảo, rạn san hô đứng trước nguy cơ bị huỷ diệt do hoạt động du lịch…
Trong khi đó với lịch sử hơn 350 năm xây dựng và phát triển, Nha Trang, Khánh Hoà là mảnh đất giàu tài nguyên nhân văn, có thể khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch như văn hoá truyền thống của cư dân ven biển, các phong tục tập quán, các tín ngưỡng, các lễ hội truyền thống… Việc nghiên cứu, khai thác các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn này nếu được thực hiện tốt không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương mà
nó còn củng cố, bảo tồn các giá trị văn hoá quí báu, đem lại sự phát triển bền vững cho vùng
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Văn hóa làng ven biển với việc phát triển du lịch tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (Qua khảo sát làng Cửa
Bé, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa)” sẽ góp phần nhỏ bé vào việc phát triển văn hóa và du lịch của địa phương
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu vấn đề
Như chúng ta đã biết, biển có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập của đất nước Chính vì vậy, đây là mối quan tâm của không ít các nhà khoa học và các học giả Mặc dù biển cả là đề tài được quan tâm muộn hơn và ít được đề cập hơn so với các địa vực khác trong văn hoá nhưng nó cũng thu được những kết quả đáng kể Nghiên cứu về cư dân ngư nghiệp và văn hoá, truyền thống các làng ven biển ở Việt Nam, trước thế kỷ
XX đã có những tác giả đề cập đến một số khía cạnh của vấn đề này như:
Quốc sử quán của triều Nguyễn với Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực
lục hay Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức Sang thế kỷ XX, vấn
đề biển cả, cư dân ngư nghiệp và các tục lệ của họ cũng thu hút được sự quan
tâm của các học giả như Đào Duy Anh với tác phẩm Việt Nam văn hoá sử
cương viết năm 1938, nhà nghiên cứu Toan Ánh với tác phẩm Nếp cũ Việt Nam phần Hội hè đình đám gồm hai quyển được xuất bản năm 1969 và 1974
Sau này trong vùng chiếm đóng của Mỹ - nguỵ, nhà nghiên cứu Lê Quang Nghiêm trên cơ sở khảo sát thực địa cũng đã cho ra đời cuốn sách
Trang 6nghiên cứu về Tục thờ cúng của ngư phủ lưới đăng Khánh Hoà vào năm 1970
do Trung tâm văn bút Việt Nam xuất bản
Sau khi đất nước thống nhất, vấn đề phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội là một mục tiêu quan trọng Biển cả lúc này không còn là mối đe doạ, ẩn họa với người Việt mà nó đã trở thành nguồn tài nguyên quí gía để góp phần thực hiện thành công mục tiêu ấy Vì vậy, biển, cư dân ngư nghiệp và văn hoá của nhóm cư dân này được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Trong khoảng mười năm trở lại đây có các công trình nghiên cứu có giá trị về văn hóa biển là:
- Văn hoá dân gian làng ven biển của tập thể tác giả viện Nghiên cứu
văn hoá dân gian, năm 2000;
- Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Duy Thiệu,
năm 2002;
- Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng là đề tài luận án
tiến sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Hương năm 2009;
Ngoài ra còn có các bài báo, các tham luận tại các hội thảo xung quanh đề tài cư dân ngư nghiệp và văn hoá của họ được xuất bản trong thời gian qua
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về đời sống văn hoá của cư dân sinh sống tại các làng ven biển tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa với việc phát triển du
lịch tại địa phương Tác giả luận văn lựa chọn đề tài "Văn hoá làng ven
biển với việc phát triển du lịch tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà (qua khảo sát làng Cửa Bé, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa)" làm đề tài tốt nghiệp hệ đào tạo thạc sĩ tại Trường Đại học Văn hóa
Hà Nội, hy vọng sẽ khắc phục phần nào sự thiếu hụt này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu về văn hoá của nhóm cư dân làng ven biển Cửa Bé, khu vực thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
Tuy nhiên do khuôn khổ luận văn có hạn, tác giả không thể đưa ra trình bày hết các vấn đề về văn hoá vật thể và phi vật thể của làng ven biển
Trang 7Cửa Bé ở thành phố Nha Trang Vì vậy tác giả tập trung vào các yếu tố văn hoá nổi bật như văn hóa sản xuất, công cụ lao động, hệ thống di tích trong văn hoá vật thể và ẩm thực, tổ chức xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội truyền thống của ngư dân tại làng Cửa Bé, thành phố Nha Trang, Khánh Hoà trong văn hoá phi vật thể
Tác giả nghiên cứu vấn đề này không chỉ nhằm mục đích giúp tìm hiểu thêm về văn hoá làng ở một khu vực đặc biệt – vùng biển Nam Trung bộ mà còn nhằm một mục đích khác là khai thác, phát triển các giá trị văn hóa đó đối với việc phát triển du lịch bền vững tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
Do vậy, tác giả luận văn cũng đề cập đến hoạt động du lịch tại khu vực này và các hướng khai thác, phát triển các giá trị văn hoá làng ven biển nhằm tạo nên những sản phẩm du lịch có sức thu hút du khách
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu: Văn hoá làng ven biển Cửa Bé tại thành phố
Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà với việc phát triển du lịch hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ quan niệm về làng, các loại hình làng vùng biển, sự khác biệt giữa văn hoá làng nội đồng và văn hoá làng ven biển
- Nghiên cứu đặc điểm làng ven biển Cửa Bé, thành phố Nha Trang, từ nguồn gốc dân cư đến quá trình lịch sử hình thành
- Nghiên cứu những đặc trưng văn hoá truyền thống của làng ven biển Cửa Bé ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà bao gồm văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm khai thác, phát huy các giá trị văn hoá làng ven biển Cửa Bé tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà phục vụ cho hoạt động du lịch, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, tác giả luận văn dựa vào nguồn tư liệu có liên quan đã được các tác giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước công bố
Trang 8trong thời gian qua Đồng thời, thông qua quá trình khảo sát, điền dã, tác giả cũng thu thập được những tài liệu thực địa có giá trị
Do văn hoá là một lĩnh vực đa ngành, có sự đan cài của nhiều yếu tố nên khi thực hiện nghiên cứu tác giả đã kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Sử dụng phương pháp khảo sát, điền dã dân tộc học và văn hoá học, gặp gỡ các cư dân bản địa tại địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập tư liệu
và giám định
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các công trình liên quan của các tác giả đi trước, sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với các tài liệu thu được trên thực địa, rút ra các điểm chung
- Sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành như địa – văn hoá, sử - văn hoá, dân tộc học
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần bổ sung thêm vào kết quả nghiên cứu về văn hoá làng của cư dân sinh sống ven biển trên lãnh thổ Việt Nam
- Luận văn cung cấp những tư liệu, đặc trưng cụ thể về văn hoá làng ven biển tại một địa phương cụ thể thuộc vùng biển Nam Trung bộ giúp người đọc có thêm những hiểu biết về vốn văn hoá quý báu của cư dân ven biển tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
- Qua các kết quả thu được, luận văn đề xuất các hướng khai thác, phát huy các giá trị văn hoá làng ven biển vào việc phát triển du lịch bền vững tại thành phố Nha trang, tỉnh Khánh Hoà nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục minh họa, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận văn hoá làng ven biển và làng ven
biển Cửa Bé, Nha Trang
Chương 2: Văn hoá làng ven biển Cửa Bé qua khảo sát tại thành phố
Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
Chương 3: Khai thác các giá trị văn hoá làng ven biển Cửa Bé vào việc
phát triển du lịch tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
Trang 9Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ LÀNG VEN BIỂN
VÀ LÀNG VEN BIỂN CỬA BÉ, NHA TRANG
1.1 Quan niÖm vÒ lµng
Ngày nay, để xây dựng một nếp sống văn hóa mới nhưng lại vừa giữ
được bản sắc văn hóa làng truyền thống trong thời kỳ cơ chế thị trường phát triển và xu thế đô thị hóa làng xã, việc tìm về cội nguồn của làng xưa và hiểu
giá trị truyền thống của cha ông là một vấn đề bức xúc đối với các thế hệ trong
thời đại ngày nay
Theo "Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam", làng là tiếng cổ của Việt
Nam dùng để chỉ đơn vị tụ cư của người Việt có từ lâu đời Xã là từ Hán - Việt dùng để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở nông thôn Việt Nam [45, tr 368-
706] Xã của người Việt có thể bao gồm từ một đến vài làng Trong trường
hợp xã là một làng thì phần lớn tên xã trùng với tên làng Trong trường hợp xã
bao gồm nhiều làng thì trong ngôn ngữ hành chính làng được gọi là thôn Trong ngôn ngữ dân gian và trong cuộc sống đời thường từ làng được sử dụng
phổ biến hơn cả với nhiều hàm nghĩa tình cảm, phi hành chính "làng ta", "làng
mình", "người làng", "sống ở làng, sang ở nước", "một miếng giữa làng" Vì
làng có nguồn gốc bản địa sâu xa và bền vững nên trong lịch sử, xã có thể biến
động tùy theo các quyết định hành chính của từng triều đại, nhưng làng là đơn
vị khá ổn định không dễ thay đổi
Làng Việt - một thực thể xã hội - dựa trên quan hệ láng giềng kết
hợp với quan hệ huyết thống, là môi trường sinh hoạt văn hóa - xã hội từ
bao đời nay đã gắn bó với cuộc sống của người dân Việt Nam Lũy tre, cây
đa, giếng nước, sân đình là những biểu tượng đã khắc sâu vào tâm khảm
của mỗi người Việt Nam
Làng Việt ra đời vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thủy
và hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước đầu tiên, tức vào khoảng thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên Đó là công xã nông thôn thuộc loại hình Á
châu mà đặc trưng cơ bản của nó là toàn bộ ruộng đất thuộc quyền sở hữu
Trang 10công xã và công xã đem phân chia cho các gia đình nhỏ cày cấy Gia đình nhỏ
là đơn vị sản xuất, có nhà cửa, vườn tược và công cụ lao động riêng, có quyền hưởng sản phẩm lao động do mình làm ra, nhưng không có quyền sở hữu ruộng đất
Công xã là tập hợp một số gia đình nhỏ sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định, gắn bó với nhau trong quan hệ láng giềng Bên trong công xã, bên cạnh quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống được bảo tồn lâu dài dưới hình thức họ Mỗi công xã có thể có một họ, nhưng thường gồm nhiều họ Mỗi họ bao gồm những gia đình cùng huyết thống tính theo hệ thống phụ hệ, được coi là con cháu cùng tổ tiên và cấm kết hôn với nhau
Như vậy, làng là một tổ chức quần cư tự nhiên của những người dân Việt, là nơi những người dân Việt sống và đoàn kết với nhau chống thiên tai, địch họa, để lao động, sản xuất và tổ chức đời sống văn hóa vật chất và tinh thần Làng là nơi thỏa mãn hầu hết những nhu cầu cơ bản của mỗi người dân Làng có giới hạn lãnh thổ và môi trường văn hóa - tín ngưỡng xác định
Ở giai đoạn đầu tiên trong lịch sử tiến hóa của người Việt, làng là nơi
cư trú của một dòng họ - Đó là giai đoạn làng công xã thị tộc Những dấu vết
về sự tổ chức làng theo huyết thống như vậy còn lưu giữ đến ngày nay trong các tên gọi cổ xưa của làng như: Đặng xá, Ngô xá, Đỗ xá, Trần xá, Nguyên xá, Châu xá, Lê xá Trong đó, "xá" có nghĩa là nơi ở
Giai đoạn tiếp theo trong quá trình tiến hóa của làng Việt là giai đoạn làng - công xã nông thôn Giai đoạn này bắt đầu từ khi chế độ công xã thị tộc tan rã Lúc đó, làng được tổ chức không chỉ dựa vào quan hệ huyết thống mà còn dựa trên quan hệ địa vực Theo thời gian, địa vực dần dần trở thành nguyên tắc tổ chức chủ yếu của làng Việt Đây là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài với nhiều biến đổi nội tại Nguồn gốc sâu xa nhất của sự biến đổi là do lực lượng sản xuất phát triển, trình độ sản xuất của xã hội tiến bộ, khiến cho cách tổ chức làng mạc chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất
Từ thế kỷ thứ X trở đi, làng Việt dần dần bị phong kiến hóa Ruộng đất của làng về mặt danh nghĩa trở thành ruộng đất của vua Nhưng nó vẫn được
Trang 11giao cho làng quản lý, phân phối cho dân cày cấy chủ yếu theo tục "lệ làng" có tham khảo "phép nước" Trong quá trình phát triển, bên trong làng phong kiến quá trình tư hữu hóa ruộng đất diễn ra ngày càng mạnh Đến thế kỷ XVII-XVIII thì ở phần lớn các làng ruộng đất tư đã lấn át ruộng đất công Phần ruộng đất công còn lại chỉ đủ để dành cấp cho binh lính, chức sắc hay đấu thầu chi dùng cho các sinh hoạt cộng đồng Cùng với quá trình tư hữu hóa ruộng đất, quá trình phân hóa giai cấp, đẳng cấp và quá trình phong kiến hóa các mặt đời sống của làng cũng diễn ra mạnh mẽ
Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và chiếm đóng nước ta, chính sách cai trị và khai thác thuộc địa đã tác động đến làng Việt và làm làng Việt
ít nhiều biến đổi Nhưng cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, về
cơ bản làng Việt vẫn chưa ra khỏi giai đoạn tiểu nông công tư điền lạc hậu của mình
Đó là đặc điểm của quá trình hình thành làng xã ở Việt Nam Song khác với sự hình thành làng xã ở miền Bắc, làng của người Việt ở Khánh Hòa lại hình thành trong một bối cảnh đặc biệt, gắn liền với một sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc ta - thời kỳ Nam tiến – mà dấu mốc quan trọng nhất là việc chúa Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) cho lập dinh Thái Khang năm 1653
Như vậy, cùng với làng xã ở Việt Nam, làng xã Khánh Hòa đã hình thành qua các giai đoạn lịch sử khác nhau và mang trong mình những dấu ấn riêng biệt Đây cũng là căn cứ mà tác giả sử dụng để nghiên cứu văn hóa làng ven biển Cửa Bé trong khuôn khổ của luận văn
1 2 LμNG VïNG BIÓN
Với lịch sử hình thành từ đầu thiên niên kỷ I, trên lãnh thổ Việt Nam, dấu vết của các loại hình làng xã trong buổi đầu sơ khai còn được lưu giữ tại nhiều di chỉ khảo cổ học
Các di chỉ khảo cổ thuộc thời văn minh Đông Sơn cho thấy, kiểu làng
co cụm trên những gò đồi giữa miền đồng bằng là kiểu làng xuất hiện sớm và phổ biến nhất Khi tiến xuống miền đồng bằng, hệ thống đê điều trị thủy - thủy lợi chưa hình thành khiến người Việt cổ phải chọn chỗ cao ráo trên các
Trang 12triền đồi, gò nhỏ làm nơi trú ngụ Hơn nữa, kiểu làng đó có thế phòng thủ, tiện lợi cho việc chống lại các cuộc tiến công từ bên ngoài vào khi nền an ninh chưa được đảm bảo
Dọc theo miền duyên hải, có các làng chài co cụm trên các cồn cát, trên những doi đất ven cửa sông và ven biển, với lối quần cư chật chội hơn do tính chất của nghề chài lưới
Một loại làng không phổ biến nhưng khá độc đáo là làng vạn chài hay còn gọi là làng thủy cơ
Trong nội dung này, tác giả xin tập trung vào hai loại hình làng xã của
cư dân làm nghề chài lưới ở Việt Nam: vạn chài và làng ven biển
1.2.1.Vạn chài (làng thủy cơ)
Xét trên phương diện địa bàn cư trú, có thể phân chia cộng đồng ngư dân ở Việt Nam thành hai bộ phận: bộ phận địa cư và bộ phận thủy
cư Bộ phận dân cư thủy cư tại Việt Nam chủ yếu sinh sống tại các vạn chài Đây là một loại hình làng đặc biệt của ngư dân sinh sống tại các vùng sông nước hoặc vùng biển
Vạn chài là những làng thiết lập trên mặt nước (còn gọi là làng thuỷ cơ hay làng chài), gồm những cư dân làm nghề chài lưới hay chở đò Xét về góc
độ nguồn gốc dân cư, “đa phần dân thủy cư vốn là những cư dân do đói nghèo, dịch bệnh hoặc chiến tranh nên phải phiêu tán xa quê cũ, đến những nơi khác
để kiếm sống Trong tinh thần của xã hội nông nghiệp… thì các cư dân mới đến không được coi là dân gốc, dân chính cư, mà họ bị coi là dân ngụ cư, dân
ở đợ” [57, tr 88-89] Do vậy trong thiết chế xã hội cổ truyền Việt Nam, vạn chài chỉ là những đơn vị tự quản Tùy theo từng triều đại, lúc thì họ bị nhập vào với xã hội của cư dân nông nghiệp (trở thành một thôn của một làng nông nghiệp để nhà nước phong kiến tiện quản lý trong việc thu thuế), lúc thì xã hội của họ cứ tồn tại ngoài lề của thiết chế xã hội nông nghiệp Bởi vậy thiết chế
xã hội của vạn chài còn bảo lưu được nhiều yếu tố cổ Nguyên tắc để tập họp
cư dân của vạn chài dựa theo hai mối quan hệ chính: quan hệ huyết thống và quan hệ nghề nghiệp Vì vậy so với cơ cấu xã hội của cư dân nông nghiệp thì cơ cấu của vạn chài đơn giản hơn thể hiện qua các hình thức tổ chức của chúng:
Trang 13- Hình thức tổ chức tập hợp người theo địa vực (vũng, chòm): Do dân thủy cư thường xuyên di chuyển bởi nhiều lý do khác nhau nên tính ổn định của chòm, vũng cũng vì thế mà “yếu” hơn so với các xóm trong làng của cư dân nông nghiệp Các cá nhân trong từng vũng, chòm gắn kết với nhau chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống và quan hệ nghề nghiệp
- Hình thức tập hợp người theo huyết thống (họ): Giống như gia đình của cư dân nông nghiệp, hình thức tổ chức gia đình của dân thủy cư cũng mang tính phụ hệ Trong xã hội của cư dân nông nghiệp, quan hệ huyết thống trong làng có thể bị mờ nhạt do “bán anh em xa mua láng giềng gần” nhưng đói với cư dân thủy cư, mối quan hệ này hết sức sâu sắc trong các vạn chài Tại nhiều nơi, bộ máy hành chính của vạn là một hội đồng tộc biểu, trong đó mỗi dòng họ trong vạn cử một đại diện, thường đó là tộc trưởng để họp thành
bộ máy hành chính của vạn
- Hình thức tập hợp theo nghề nghiệp: Nếu như trên đất liền, những cư dân làm cùng một nghề thường tập trung lại thành các phường nghề thì dưới nước do tất cả các cư dân đều làm nghề đánh bắt thủy hải sản nên họ những người cùng đánh bắt bằng một loại ngư cụ thường tập trung trọng một vạn Tuy nhiên, ngay trong hình thức tổ chức theo nghề nghiệp này,vai trò của dòng họ cũng rất lớn thể hiện ở chỗ trong các vạn chài ở nước ta những người cùng một họ thì thường làm chung một nghề Ví dụ tại khu vực Đông Bắc, người họ Hà thường làm nghề câu vàng, người họ Lê làm nghề câu tay…
- Hình thức tập hợp người theo lớp tuổi (giáp): Giáp vốn là một đơn vị hành chính có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng trải qua thời gian, trong làng xã của người Việt, chức năng của giáp đã thay đổi so với ban đầu Nó không còn
là một đơn vị hành chính nữa mà trở thành đơn vị sinh hoạt cho đàn ông theo lớp tuổi trong làng Tủy nhiên đồi với cư dân vạn chìa, giáp vẫn đóng cả hai vai trò: vừa là đơn vị hành chính, vừa là đơn vị tổ chức theo lớp tuổi
- HÌnh thức tập hợp người trong bộ máy chính quyền ở cấp xã: Dù đơn giản hơn nhưng bộ máy chính quyền cấp xã của dân thủy cư ở các vạn chìa cũng có ba thiết chế chính: Một là dân hang xã, bao gồm toàn bộc ư dân nam giới từ 18 tuổi trở lên, được quyền bầu cử và bàn bạc công việc chung ở địa phương Hai là Hội đồng tộc biểu, bao gồm trưởng các dòng họ được lựa chọn
Trang 14ra để giúp nhà nước quản lý dân ở cấp cơ sở, họ cũng là đại diện cho dân trước nhà nước Ba là những lý dịch, thường gồm 4 chức danh chính là lý trưởng, phó lý trưởng, hương trưởng và xã tuần Bộ máy chính quyền cấp vạn vừa thực hành công việc tự quản trong nội bộ đời sống của vạn chài thong qua hương ước, vừa thực hành các công việc quản lý xã hội ở cấp cơ sở cho chính quyền nhà nước
Như vậy có thể thấy rằng vạn chài vừa là một đơn vị cư trú của dân thủy cư vừa là tổ chức xã hội cơ bản của họ Tuy nhiên trong cơ cấu tổ chức của van chài cũng có sự khác biệt giữa các vùng, miền Thứ nhất là về tên gọi:
Ở phía Bắc, đơn vị xã hội của dân thủy cư trên mặt sông hoặc biển tương đương với cấp làng được gọi là vạn chài Trong khi đó, ở phía Nam đơn vị xã hội của ngư dân, dù là thủy cư hay cư trú trên đất liền, đều được gọi là vạn Thứ hai, về các loại hình tổ chức trong làng/ vạn của ngư dân: ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ có tồn tại hình thức tổ chức theo giáp – tập hợp theo lứa tuổi nhưng ở Nam Trung bộ không thấy có hình thức này Thứ ba, về cách thờ cúng của cộng đồng: ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ, cộng đồng làng thường có một ngôi đình thờ vị thần chung của cả làng – thành hoàng, Mỗi làng có thể có thành hoàng khác nhau Trong khi đó tại Nam Trung bộ,
vị thần chung của ngư dân các làng/ vạn là Cá Ông hay còn được gọi là Ông Nam Hải
Ở Khánh Hoà, các vạn chài không họp thành tổng vạn chài như ở một
số địa phương khác; song các làng đều có mối quan hệ với nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất (đánh bắt cá, làm dịch vụ ) và đều có quan
hệ mật thiết với các làng thuần nông Hầu hết các làng đều có ruộng đất và có
cả vườn tược Đây là nét khá độc đáo của mô hình vạn chài ở Khánh Hoà so với các địa phương khác
1.2.2 Làng ven biển
Trong chiều dài lịch sử, sau khi đã định cư tại các vùng đồng bằng trung tâm và ven lưu vực các con sông, người Việt dần tiến bước ra các vùng địa hình khác, tìm kiếm thêm nguồn tài nguyên phục vụ cuộc sống, thêm những vùng đất mới để mở rộng lãnh thổ của mình Song song với qúa trình di
cư tìm kiếm nguồn tài nguyên và mở rộng lãnh thổ, quá trình lập làng lập xã cũng được từng bước tiến hành Trên lãnh thổ Việt Nam, quá trình này diễn ra
Trang 15theo chiều từ Tây (các gò đồi, vùng đồng bằng) sang Đông (vùng ven biển) và theo chiều từ Bắc xuống Nam theo tiến trình lịch sử mở nước của người Việt
Đại bộ phận ngư dân ven biển sinh sống định cư trên đất liền thành các thôn làng, một hình thức tổ chức xã hội cơ bản như phần lớn cư dân nông nghiệp khác Trước nhất, làng hay thôn là điểm tụ cư của ngư dân ở ngay trên bãi cát sát biển hay lùi xã vào phía trong bãi một chút Cư dân các làng này vẫn lưu giữ hồi ức là họ từ nơi nào đó tới lập cư ở đây Ví dụ: ngư dân ở Quan Lạn, Trà Cổ (Quảng Ninh) đều nhớ tổ tên của họ từ Đồ Sơn (Hải Phòng) đến: Người Trà Cổ tổ Đồ Sơn Còn ngư dân Đồ Sơn thì có người từ biển vào, có lẽ
từ Thanh Hóa theo đường biển đến Đồ Sơn, có gia đình, dòng họ lại từ Hải Dương hay các tỉnh khác trong đồng bằng đi ra
Nhìn chung, ở nước ta, các làng ven biển của người Việt dù là làng của ngư dân vẫn mang những ảnh hưởng của cư dân nông nghiệp Điều đó thể hiện rõ qua kết cấu nghề nghiệp của họ Kết cấu nghề nghiệp của cư dân trong làng hết sức đa dạng Ở những nơi có điều kiện đất đai thuận lợi để canh tác
họ vừa làm nông nghiệp vừa đánh bắt cá; ở những nơi có bãi đất cát, có khả năng dẫn nước biển vào và độ mặn của nước biển cho phép kết tinh hạt muối thì họ vừa làm nghề đánh bắt cá vừa làm muối; ở những vùng có vị trí giao thông thuận lợi cư dân vừa đánh bắt cá kết hợp với việc giao thương, buôn bán; một số nơi cư dân vừa đánh bắt cá, vừa làm đồ thủ công và kết hợp buôn bán Mặc dù kết cấu nghề nghiệp đa dạng nhưng nhìn chung nghề
cá (khai thác, đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản) vẫn là nghề phổ biến trong cộng đồng làng xã
Xét về mặt tổ chức xã hội, tuy hình thức bề ngoài làng ngư dân có một chút khác biệt so với làng của nông dân, nhưng cách thức phân chia thành xóm, ngõ, phe, giáp, phường; các công trình kiến trúc công cộng cũng tương
tự như ở một làng nông nghiệp, như đình, đền, chùa, thậm chí một số nơi có
cả nhà thờ công giáo Trong các làng của ngư dân vẫn sử dụng hương ước như một loại luật tục của làng xã
Ở một số làng ngư dân, bên cạnh hình thức tổ chức theo phe, giáp… còn tồn tại hình thức tổ chức xã hội mang tính nghề nghiệp Ví dụ: ở làng Kẻ Mom (Thanh Hóa) có hình thức Hội các lái Hội bao gồm chủ thuyền và
Trang 16những người trực tiếp đi biển như thợ cả (như là trưởng thuyền) và ông lão (như là phó thuyền, thợ bạn, trai chèo…) Mỗi năm hội các lái họp một lần vào rằm tháng bảy Đó là dịp thanh toán hợp đồng một năm giữa chủ thuyền
và thợ, giải quyết các tranh chấp và bình chọn thợ cả giỏi trong năm Ai được bình chọn sẽ dễ kiếm việc làm, được chủ thuyền thuê mướn và nhiều thợ bạn muốn theo Hội bầu trùm lái theo nhiệm kỳ một năm Trùm lái có quyền quyết định mọi việc của hội, kể cả việc điều động, sắp xếp thợ cho các thuyền Trong hội quan hệ chủ - thợ bình đẳng, giúp đỡ, tương trợ nhau khi đi biển, lúc ốm đau, bệnh tật Rằm tháng bảy chủ thuyền mời thợ đến ăn cơm và bàn
kế hoạch cho mùa đi biển tới
Cư dân tại các làng ven biển phần lớn có gốc từ cư dân làm nông nghiệp trong đất liền; do vậy trong hệ thống tín ngưỡng thờ cúng của họ cũng
có sự tương đồng so với các làng nông nghiệp Họ cũng thờ thành hoàng - vị thần bảo hộ chung cho cả cộng đồng làng xã tại đình làng Điều khác biệt so với các làng nông nghiệp thuần túy là phần lớn các làng ngư nghiệp (đặc biêt
là từ Trung bộ trở vào) Cá Ông là nhân vật được suy tôn làm thành hoàng- vị thần bảo vệ người dân không chỉ trong phạm vi đất đai của làng ấy mà cả trên biển – môi trường kiếm sống của họ
Do điều kiện sống của ngư dân gắn liền với sông, biển – môi trường tự nhiên vừa giàu có vừa rất ưu đãi cho con người nhưng cũng luôn thách thức,
đe dọa tình mạng của họ nên cư dân tại các làng ven biển còn thờ cúng tổ tiên, ông bà, khu vực Trung bộ gọi là đạo ông bà, thờ cô bác (các bác) Đối với đạo ông bà, họ lập bàn thờ tại nơi trang trọng nhất trong nhà và tiến hành cúng lễ vào dịp giỗ và các dịp lế tiết trong năm Với đạo thờ cô bác, ngư dân thường tiến hành thờ cũng vào các dịp ngày rằm hoặc mùng một đầu tháng Trong ngày này họ thường dùng cỗ chay, hoa quả, bỏng gạo…làm đồ cúng tế Ngoài
ra, tại các làng ven biển cũng có các cơ sở thờ tự của các tôn giáo như chùa thờ Phật, đền thờ Thần, thậm chí một số nơi có nhà thờ Thiên chúa giáo
Bên cạnh những yếu tố tín ngưỡng truyền thống của cư dân nông nghiệp, cư dân các làng ven biển có những nét đặc trưng trong việc thờ cúng của mình Đó là việc họ thờ các vị thần có liên quan mật thiết đến nghề nghiệp, đến mạng sống của họ nơi môi trường sông nước như thờ Tứ vị thánh
nương, thần Độc cước hoặc Quan Âm Nam Hải, Thiên Hậu thánh mẫu
Trang 17Khánh Hoà là một tỉnh ở khu vực Nam Trung bộ có đường bờ biển trải dài hơn 200 km từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh Vùng biển Khánh Hòa là nơi có nhiều tôm, cá, các loại hải sản có giá trị do đó tại các vùng ven biển đã trở thành nơi tụ cư của nhiều làng chài/ làng biển Các làng ven biển ở Khánh Hòa có một số đặc điểm đáng chú ý là:
Thứ nhất, cư dân của làng thường cư tụ trên các cồn cát, lâu ngày dần
dần thành lập nên làng Thổ nhưỡng ở những vùng này thích hợp cho cây màu (khoai, đậu, mè ) không thích hợp cho cây lúa Do vậy phần lớn cư dân ở những làng kiểu này phải mua lúa gạo để sinh sống chứ không trực tiếp tham gia trồng lúa
Thứ hai, rất ít làng làm nghề biển thuần túy mà thường kết hợp cả hai:
vừa làm nghề biển, vừa làm nghề bờ Họ làm biển theo mùa: mùa cá bắc từ tháng 9 đến tháng 2 (âm lịch), mùa cá nam từ tháng 3 đến tháng 6 Các tháng
7, 8 là mùa lũ lụt Hàng năm, đến ngày rằm tháng 7 là chuyển mùa cá Vào thời điểm này các chủ lưới gọi thợ đi biển để giao ước hợp đồng mới; chuẩn bị chu đáo (thuyền bè, lương thực - thực phẩm, nhân lực ) cho mùa cá mới Hợp đồng giữa chủ và thợ thường được bảo đảm trong một năm, và chỉ đến khi chuyển mùa cá mới giao ước lại, ít có sự thay đổi giữa đường
Thứ ba, phương tiện đi biển của ngư dân Khánh Hoà chủ yếu là thuyền
vừa Phương tiện đánh bắt hải sản có các hình thức: đánh bắt ven bờ gọi là kéo
vớ gồm các loại: lưới, vét Đánh bắt cá ở xa bờ gọi là khơi, gồm có các loại như: câu, lưới rát, lưới rê, ngòn
1.3 V¡N HãA LμNG VEN BIÓN
1.3.1 Quan niệm về văn hóa
Bước vào thế kỷ XX, thuật ngữ văn hóa đã thâm nhập vào đời sống xã hội một cách sâu sắc, làm thay đổi nhận thức của con người trong các hướng tiếp cận mới phù hợp với xu thế phát triển của khoa học công nghệ Văn hóa đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Từ đó tạo ra những bước ngoặt quan trọng trong việc hình thành khung lý thuyết mới trên nhiều lĩnh vực có liên quan đến văn hóa - xã hội
Trang 18Khái niệm văn hóa, theo nhà ngôn ngữ học người Đức W.Vun-đơ (W.Wundt) bắt nguồn từ một động từ tiếng Latinh "Colere" và sau chuyển thành "Cultura" với nghĩa là cày cấy, vun trồng Trong sự vận động của ngôn ngữ, "Cultura" chuyển nghĩa từ trồng trọt cây cối sang hàm nghĩa trồng trọt tinh thần, trí tuệ; gắn bó với con người dưới dạng thức mới, được biểu hiện trong mô thức phức tạp hơn song lại hàm chứa nội dung sâu sắc hơn so với nghĩa ban đầu của nó
Quan niệm về văn hóa được E.B Tylor đề cập trong công trình "Văn hóa nguyên thủy" (1871) trở thành định nghĩa đầu tiên về đối tượng nghiên cứu của văn hóa Theo ông, "văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội" [69, tr.13]
Trong thế kỷ XX, những nhà nghiên cứu về văn hóa trên thế giới đã tiếp tục đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, tiếp cận dưới nhiều góc
độ khác nhau Theo khảo sát của PGS Phan Ngọc, cho đến nay đã có trên 400 định nghĩa về văn hóa [46, tr.19] Điều này cho thấy "mảnh đất" văn hóa để cày xới, thâm nhập, tiếp cận rất rộng, đa dạng và phong phú Trong bản tuyên
bố chung tại Hội nghị quốc tế ở Mêhicô do UNESCO chủ trì họp từ 26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta chấp nhận một quan niệm về văn hóa như sau:
"Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm cả nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng" [63, tr 5-6]
Thực chất văn hóa là một khái niệm đa nghĩa và được tiếp cận dưới nhiều góc độ, nhiều ngành khác nhau Căn cứ vào tính chất thế hiện của các định nghĩa GS Hoàng Vinh trong cuốn Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn của văn hóa Việt Nam đã chia những định nghĩa này thành 12 nhóm, trong đó có:
Trang 19- Những định nghĩa nhấn mạnh vào sự thích ứng của con người với môi trường tự nhiên
Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở về trước, trong Dân tộc học và Văn hóa học, người ta hiểu văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra để bảo đảm cho cuộc sống của mình Nền văn hóa của mỗi tộc người thường bao gồm văn hóa vật chất (nhà ở, trang phục, ẩm thực, phương tiện đi lại, công cụ sản xuất…) và văn hóa tinh thần (tổ chức xã hội, các phong tục tập quán, âm nhạc, văn học…)
Cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, ngài F.May-ơ (Federico Mayor Zaagoza) – tổng giám đốc UNESCO cũng có quan niệm về văn hóa nêu ra trong một bài viết của ông như sau: "Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc" [6, tr 23] Định nghĩa này được nhiều người tán đồng Tổ chức UNESCO cũng phân chia văn hóa thành hai bộ phận: văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Định nghĩa và cách phân loại thành tố văn hóa trên đây được tác giả sử dụng làm căn cứ chính để nghiên cứu văn hóa làng ven biển Cửa Bé tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
1.3.2 Về văn hóa làng ven biển
Văn hóa làng, hàm chứa nhiều nội dung rất phong phú và đa dạng, tạo nên bức tranh đa sắc của văn hóa dân tộc Có thể coi văn hóa dân tộc Việt Nam
là một đại lượng lớn được tạo nên bởi văn hóa làng - những đại lượng nhỏ
"Văn hóa làng xã Việt Nam có vị trí quan trọng trong diễn trình lịch sử phát triển của văn hóa dân tộc Nó luôn luôn bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc, nuôi dưỡng sức sống trường tồn của văn hóa dân tộc" [20, tr.7]
Văn hóa làng Việt Nam qua hàng ngàn năm phát triển với các bản sắc
có giá trị thực sự là một nền văn hóa của nhân dân và trở thành bộ phận ổn định nhất của văn hóa dân tộc
Vậy, văn hóa làng là gì? Theo nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân trong
công trình Văn hóa làng và làng văn hóa thì "văn hóa làng có thể hiểu một
Trang 20cách khái quát nhất là bản sắc riêng của làng, là toàn bộ cuộc sống của làng với những đặc điểm mang tính truyền thống từ ăn, ở, đi lại, mọi hoạt động, cách tổ chức, những quy ước, lối ứng xử, những phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng cho đến cả tâm lý của mọi thành viên trong làng với những đặc trưng riêng của nó" [42, tr 16]
Xét tổng thể ở nước ta không có sự đối lập văn hóa giữa làng với làng, giữa làng với nước Mặc dù, giữa làng này với làng khác có nhiều nét khác nhau trong tập quán, cả giọng nói song đó chỉ là sắc thái Giao lưu văn hóa đã làm cho văn hóa làng có nét chung, đồng dạng về tư tưởng, về tín ngưỡng, về kiến trúc, điêu khắc, giáo dục và thẩm mỹ Từng khu vực cư trú có những yếu tố, những sắc thái văn hóa khác nhau, vùng Nam Bộ khác vùng Bắc Bộ, nhưng cấu trúc tổng thể văn hóa làng tương đối giống nhau Chúng ta có thể tán thành quan điểm của nhà nghiên cứu Thu Linh, khi cho rằng:
"Văn hóa làng là một nền văn hóa thuộc về cộng đồng và mang tính chất cộng đồng Chủ thể làng, tập thể làng chính là tác giả, là người tạo dựng, sáng lập nên nền văn hóa ấy Ở Việt Nam, một làng với tư cách là một làng, được xác định không chỉ qua địa bàn cư trú, hoạt động nghề nghiệp, lịch sử hình thành, kết cấu kinh tế, quan hệ xã hội, mà còn qua cả sinh hoạt văn hóa
có bản sắc riêng của nó nữa" [37, tr.46-48; tr.110]
Do vậy, văn hóa làng là một trong những tiêu chí hàng đầu để xác định
và phân biệt diện mạo của làng này với làng khác Người sáng tạo ra những giá trị của văn hóa làng chính là những thành viên của làng Họ chính là những người vừa tham gia sáng tạo, vừa tổ chức thực hiện và cũng đồng thời
là người chiêm ngưỡng, hưởng thụ những giá trị văn hóa do chính bản thân mình gây dựng nên
Văn hóa làng do chính các thành viên trong làng – vừa đóng vai trò là người sáng tạo, vừa là người hưởng thụ, chiêm ngưỡng các giá trị văn hóa đó – theo cách phân loại ở trên gồm hai bộ phận: văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Tuy nhiên việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, các thành
tố cấu thành nền văn hóa nói chung và văn hóa làng nói riêng bao giờ cũng có
sự đan xen lẫn nhau Trong các yếu tố vật thể luôn chứa đựng các yếu tố phi vật thể và ngược lại các yếu tố phi vật thể lại được thể hiện thông qua yếu tố
Trang 21vật thể Có thể coi những ngôi đình và việc thờ cúng trong đình là một ví dụ tiêu biểu Cư dân các làng dựng đình để thờ thành hoàng hay thờ thành hoàng chính là lý do để họ xây dựng đình.Thờ thành hoàng là nhu cầu tâm linh – một biểu hiện của văn hóa phi vật thể Nếu không có nhu cầu này, cư dân trong làng không dựng đình
Trải qua thời gian dài hình thành và phát triển, các làng ven biển ở nước ta đã tạo nên cho mình một diện mạo văn hóa đặc trưng so với các làng nội đồng chuyên làm nông nghiệp Văn hóa làng ven biển, như cách phân chia
đã nói ở trên, cũng bao gồm hai bộ phận cấu thành là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Nó bao hàm mọi sáng tạo mà cư dân ven biển đã tạo nên để thích ứng với môi trường sống đặc biệt của mình
Văn hóa vật thể làng ven biển được thể hiện rõ nét qua các yếu tố như phương tiện đi lại, phương tiện và công cụ đánh bắt thủy sản và hệ thống di tích trong mỗi làng
Về phương tiện đi lại: Đối với ngư dân trên sông biển thì thuyền bè là phương tiện quan trọng bậc nhất, thậm chí nó có vai trò quan trọng hơn cả chiếc cày, chiếc bừa của người nông dân canh tác trên đồng ruộng Thuyền bè
là phương tiện sống, đi lại và khai thác thủy hải sản trên sông biển Hiện tại, chỉ tính riêng thuyền bè cận duyên liên quan tới khai thác biển ở Việt Nam chúng ta có thể phân chia thành các vùng mang sắc thái đặc trưng:
- Từ vùng biển giáp ranh với Trung Quốc đến vùng biển giáp với Hải Vân thuyền bè có đặc trưng là lái cao hơn mũi, thuyền đa số không có lòng cốt
- Từ vùng biển Hải Vân trở vào Nam bộ, cấu tạo thuyền có mũi và lái cân nhau, có khi mũi cao hơn lái
Có thể nói phương tiện và công cụ đánh bắt thủy hải sản của cư dân ven biển và hải đảo nước ta thể hiện tính phong phú và đa dạng Nó phụ thuộc vào môi trường của từng vùng biển, vào truyền thống đánh bắt hhải sản của từng nhóm dân cư Thường thì người ta phân chia việc đánh bắt thủy hải sản của cư dân ven biển thành một số loại chính: đánh bắt ở cửa sông, đánh bắt ven bờ và đánh bắt ngoài biển (lộng và khơi) và có các phương tiện và công
cụ tương ứng như đáy, te, lưới, chài, đăng, vó, câu…
Trang 22Ngoài ra, góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo văn hóa các làng ven biển chính là hệ thống di tích như đình, chùa, đền thờ… được cư dân dựng lên
Bên cạnh văn hóa hóa vật thể, văn hóa phi vật thể là một thành tố quan trọng làm nên diện mạo văn hóa các làng ven biển Văn hóa phi vật thể như đã nói được thể hiện qua ẩm thực, tổ chức xã hội, qua tín ngưỡng, các nghi lễ thờ cúng, qua tri thức dân gian…
Biển cả bao la vừa là môi trường sống vừa là nguồn sống của cư dân các làng ven biển Do đó ẩm thực của cư dân nơi này có những nét đặc biệt so với các làng nông nghiệp Khác với các làng nông nghiệp, thực phẩm trong bữa cơm hàng ngày của cư dân tại các làng ven biển đều được biển cung cấp (tôm, cua, mực, ghẹ, sứa…) trong đó cá là món ăn phổ biến và không thể thiếu Cách chế biến món ăn của cư dân làng ven biển cũng đơn giản hơn, không cầu
kỳ như nướng, hấp… cũng cốt để giữ lại hương vị tươi ngon của thực phẩm biển Tất cả những điều ấy đã tạo nên nét đặc trưng trong ẩm thực của cư dân làng ven biển
Cư dân ven biển nước ta có thành phần và nguồn gốc khá phức tạp, do vậy cơ cấu tổ chức làng xã cũng rất đa dạng Có nơi làng xã được tổ chức thành các phe, giáp, xóm, ngõ, có nơi lại được tổ chức thành các hội dựa theo nghề nghiệp của họ
Đối với ngư dân tín ngưỡng, tôn giáo và nghi lễ chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần vì đó là nơi “bấu víu” duy nhất, tạo nên ở họ niềm tin trước biển cả bao la, hùng vĩ Phổ biến trong cộng đồng dân cư ven biển là các tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông, thờ ông bà, thờ các bác, thờ Tứ vị thánh nương… Cùng với tín ngưỡng, cư dân ven biển còn bảo lưu nhiều các nghi lễ, phong tục và lễ hội, trong đó liên quan tới nông nghiệp và ngư nghiệp thường đan xen với nhau Trong nghi lễ và phong tục, bất cứ hành động nào của người dân liên quan đến biển đều phải tuân thủ nghiêm ngặt Ví dụ: khi người ta đóng thuyền mới hay đan lưới mới đều phải trải qua các nghi lễ như phạt mộc, đốt thuyền, hạ thủy, đan lưới, ráp lưới, nhuộm lưới
1.4 VμI NÐT VÒ §ÆC §IÓM tù nhiªn vμ LÞCH Sö CñA LμNG VEN BIÓN CöA BÐ, NHA TRANG
1.4.1.Vị trí địa lý
Khánh Hòa là một tỉnh nằm ở khu vực Nam Trung bộ, nơi đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam đón nhận ánh sáng mặt trời trong ngày của với điểm
Trang 23cực Đông là bán đảo Hòn Gốm, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh Từ khi được chúa Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) chính thức thành lập năm 1653 với tên gọi Thái Khang tới nay Khánh Hòa đã có nhiều thay đổi Với địa hình đa dạng, đường bờ biển dài, cùng các vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh – những ngư trường lớn của cả nước, Khánh Hòa đã nhanh chóng trở thành điểm dừng chân, lập nghiệp của nhiều thế hệ cư dân người Việt
Nha Trang là tỉnh lỵ của Khánh Hòa Thành phố Nha Trang được thiên nhiên
ưu đãi ban cho địa hình đa dạng: đồi núi bao bọc từ ba phía Bắc, Tây và Nam; đồng bằng nằm tại vùng trung tâm được phù sa của sông Cái bồi đắp; phía Đông là đường bờ biển dài Dòng sông Cái không chỉ là nguồn cung cấp phù
sa cho đồng bằng trung tâm, cung cấp nước sinh hoạt cho người dân đôi bờ mà còn là đường dẫn để cư dân Việt (trước đó là người Chăm) vươn ra biển cả Sông Cái còn có tên gọi khác là sông Phú Lộc, sông Cù, có chiều dài 79 km, khởi nguồn từ hòn Gia Lê ở độ cao 1812 m so với mực nước biển Sông Cái Nha Trang có 7 phụ lưu co độ dốc lớn, tạo nên nhiều ghềnh thác Từ phía Tây, sông chảy qua các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh và thành phố Nha Trang trước khi đổ ra biển Sông chia làm hai nhánh chính:
Một nhánh chảy theo hướng Đông – Nam, men theo chân núi Đồng
Bò, chảy qua địa phận các phường Trường Đông, Vĩnh Trường và đổ ra cửa biển Tiểu Cù Huân, gọi là Cửa Bé
Nhánh thứ hải chảy xiên theo hướng Đông – Bắc Đây là nhánh chính của sông Cái từ Xuân Lạc, xã Vĩnh Ngọc chảy đến phường Ngọc Hội và chia làm hai chi: Chi thứ nhất chảy vào Phương Sài, qua Hà Ra rồi chảy ra cửa Đại Cù Huân, tức Cửa Lớn Chi thứ hai rộng và sâu hơn, chảy qua Xãm Bóng – Cù Lao và đổ ra biển ở Cửa Lớn Hai chi trước khi chảy ra biển gặp nhau và cùng bao bọc một cồn đất phù sa có tên gọi là Cồn Dê (còn gọi là Cồn Ngọc Thảo)
Hai bên bờ sông, các làng mạc của người Việt (và trước đây là của người Chăm) đã dần dần được dựng nên Những làng nằm sâu trong nội đồng thường làm nông nghiệp hoặc sản xuất các sản phẩm thủ công như dệt chiếu,
Trang 24làm gốm… Những làng nằm ven hai cửa biển (Cửa Lớn và Cửa Bé) phần lớn làm nghề chài lưới
Làng ven biển Cửa Bé (làng Trường Đông) là một trong những làng chài có lịch sử lâu đời tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Hiện nay, làng Cửa Bé là một trong bốn khóm thuộc phường Vĩnh Trường (Trường Sơn, Trường Đông, Trường Thọ và Trường Hải), thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 5 km về phía Nam
Theo cuốn Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn của nhà nghiên cứu Nguyễn
Đình Đầu, dưới thời Nguyễn, làng Cửa Bé (làng Trường Đông) thuộc địa phận Tổng Thượng, huyện Vĩnh Xương Phía Đông giáp xã Vạn An và Vĩnh An; phía Tây giáp Phú Trường Tây, lấy thủy đạo (sông Cửa Bé) làm ranh giới; phía Nam giáp rừng và phía Bắc giáp Lương Phước (thuộc tổng Trung, huyện Phước Điền)
Khi di cư vào Nam, đặc biệt là vùng đất Nha Trang, người Việt đã nhanh chóng tìm cho mình những khu vực thuận lợi cho cuộc sống để định cư Biển Nha Trang hiền hòa, nhiều tôm cá do vậy khi định cư ở Nha Trang, phần lớn cư dân Việt đã dựa vào điều kiện tự nhiên này và chuyển dần từ hoạt động kinh tế nông nghiệp sang khai tác thủy, hải sản (đặc biệt là hải sản) trên các dòng sông và vùng biển Nha Trang Làng Cửa Bé là một trong những nơi người Việt đặt dấu chân đầu tiên trên mảnh đất này Nơi đây hội tụ đầy đủ những yếu tố thuận lợi
để người Việt - trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kinh nghiệm của cư dân bản địa – đã vươn ra biển, sống bằng nghề biển và phát triển văn hóa của mình
Xét về địa thế, Cửa Bé có thể coi là làng ven biển có địa thế đẹp hơn
cả trong số các làng ven biển ở Nha Trang Phía Đông làng dựa lưng vào núi Chụt (còn gọi là núi Cửa Bé), sau lưng núi Chụt là vịnh Nha Trang Núi Chụt tuy không cao nhưng nó đóng vai trò quan trọng trong việc che chắn cho làng, bảo vệ làng trước những tác động từ biển cả Phía Tây là dòng sông Cửa Bé (một nhánh của sông Cái) thông ra biển giúp cư dân dễ dàng tìm được nguồn nước cung cấp cho cuộc sống cũng như khai thác nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông ; đồng thời đây cũng là con đường giao thương huyết mạch trong lịch sử của cư dân làng Cửa Bé với cư dân nông nghiệp sống sâu trong đồng bằng Nha Trang Phía Nam là cửa biển Cửa Bé (còn gọi là cửa Tiểu Cù Huân) – là cửa ngõ ra ngư trường lớn, cung cấp nguồn sống chính cho cư dân làng Phía Bắc
Trang 25làng giáp với khu dân cư phường Vĩnh Trường, trước đây là tổng Trung, huyện Phước Điền
Như vậy, có thể thấy rằng với vị trí thuận lợi của mình, vùng đất nay là làng Cửa Bé từ xa xưa đã nhanh chóng thu hút được nhiều cư dân đến sinh sống và lập nghiệp Trải qua thơì gian, dân cư ngày một đông, làng xóm được hình thành và họ đã cùng nhau xây dựng nên văn hóa riêng của cư dân vùng ven biển Nha Trang, Khánh Hòa
1.4.2 Nguồn gốc dân cư và lịch sử hình thành
Theo dòng lịch sử, làng xóm của người Việt ở Nha Trang, Khánh Hòa được hình thành qua nhiều giai đoạn khác nhau Song khác với quá trình hình thành của các làng nông nghiệp tại khu vực Bắc bộ, làng xóm ở Nha Trang nói chung, làng ven biển Cửa Bé nói riêng được hình thành trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt
Năm 1613, trước khi chết chúa Nguyễn Hoàng có dặn con trai là chúa Nguyễn Phúc Nguyên rằng: “Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Hoành Sơn và sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và núi Thạch Bi vững bền, núi sẵn vàng sắt, biển sẵn có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng, nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với nhà Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời, còn nếu thế lực không ổn định thì cố giữ vững đất đai chờ cơ hội chứ đừng bỏ quên lời dặn của ta” [19, tr.45]
Năm 1653, dinh Thái Khang được thành lập, có 2 phủ: Thái Khang và Diên Ninh Kể từ thời gian này, công cuộc khai hoang lập làng của người Việt cũng bắt đầu và được tiến hành qua nhiều giai đoạn, với những thời gian khác nhau Chúa Nguyễn đã thi hành một số chính sách khá cởi mở với nhiều ưu đãi cho những người đến định cư ở đây Mặt khác, chúa cũng cho một số địa chủ giàu có người Việt chiêu mộ dân nghèo từ các tỉnh Quảng Nam đến Phú Yên vào khai khẩn đất hoang Lớp người thứ hai là những người bị tù tội, bị lưu đày, trốn thuế, hoặc những người trốn tránh binh dịch trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn Công cuộc khai hoang lập làng được xúc tiến mạnh mẽ kể từ khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn được chấm dứt vào cuối thế kỷ XVIII
Trang 26Thực chất cuộc di cư của người Việt từ phía Bắc vào chủ yếu là để kiếm kế sinh nhai, hoặc để thoát khói ách áp bức bóc lột qúa hà khắc của các dòng họ phong kiến Trịnh, Nguyễn Vì vậy, trong qúa trình khai khẩn những vùng đất trồng và định cư ở đây, dân cư Việt đã sống xen kẽ với cư dân bản địa một cách hòa bình, tiếp nhận văn hóa của nhau tạo thành một nền văn hóa mới Những vùng đất đầu tiên in dấu chân của người Việt trải dài trên vùng đất Khánh Hòa từ Vạn Ninh cho đến khu vực Hòn Khói, khu vực ven sông Dinh ở Ninh Hòa, khu vực Diên Khánh, khu vực Nha Trang và Cam Ranh Nhìn chung, những vùng đất ven sông, đồng bằng thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp và dọc duyên hải thuận lợi cho nghề cá, nghề muối là những nơi
tụ cư đầu tiên và chủ yếu của người Việt Theo thống kê của Quốc sử quán triều Nguyễn thì đến năm 1726, ở dinh Thái Khang đã lập thêm một số thuộc miền núi gồm: Diên Ninh 14 thuộc, Bình Khang 20 thuộc Năm 1764, tổng số ruộc đất từ Quảng Nam đến Gia Định là 27 vạn dặm trong đó Bình Khang là
6148 mẫu 0 sào 8 thước 5 tấc, Diên Ninh 5929 mẫu 0 sào 1 thước 1 tấc
Với số đất đai khai khẩn được như vậy cho ta thấy đó là kết quả của một quá trình lao động cần cù, khó nhọc của hàng vạn người dân Việt nối tiếp quá trình khai phá trước đó của cư dân bản địa
Cùng với qúa trình di dân, khẩn hoang lập nghiệp là sự hình thành các công đồng làng xã Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, đến đầu thế kỷ XIX, ở Khánh Hòa đã xác lập được 2 phủ, 5 huyện, 18 tổng vào 290 làng [19,
tr.86] Theo tài liệu này, làng Cửa Bé (làng Trường Đông) trước đây thuộc địa
phận Tổng Thượng, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa
Dựa vào nguồn tài liệu còn lưu giữ trong đình làng Cửa Bé (Trường Đông) và qua ký ức của các cụ cao niên trong làng thì làng có lịch sử hình thành cách nay khoảng hơn 200 năm Theo đó, vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, dân cư từ các tỉnh trên địa bàn Nam Trung bộ như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên theo chính sách của chúa Nguyễn
đã đi vào vùng đất Nha Trang, Khánh Hòa để sinh cơ lập nghiệp Lớp cư dân đầu tiên đến khai phá vùng này, ở địa điểm mà về sau được định danh thành Đồng Bò, nằm ở phía Nam thành phố Nha Trang, thuộc tả ngạn lưu vực sông Cửa Bé – cũng được dân gian gọi là sông Bò Tại nơi này điều kiện tự nhiên
Trang 27không thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp mà thuận lợi cho ngư nghiệp, cộng thêm đường sá đi lại dễ dàng càng dễ cho việc phân phối cũng như tiêu thụ những sản phẩm của biển cả
Căn cứ theo một số tài liệu thành văn được lưu giữ tại làng, ta có thể phác họa vài nét đại cương về quá trình tụ cư và lịch sử lập làng nơi đây Một văn bản năm Gia Long thứ 15 (1816) đã khẳng định vấn đề hành chính hóa trong mối quan hệ giữa làng xã và nhà nước, cho biết làng Cửa Bé được thành lập bởi bốn vị khai canh, trong đó cụ Nguyễn Văn Tài, 48 tuổi, được lập làm
xã trưởng Trong làng có ba dòng họ lớn có công lập làng là họ Trần, họ Võ
và họ Nguyễn Theo chân những vị khai canh này, cư dân làm nghề chài lưới kéo tới ngày một đông; làng xóm được hình thành Dần dần, những vị khai canh ấy trở thành các vị tiền hiền của làng
Một nguồn tài liệu khác là sắc phong thần được lưu giữ taị làng đề cập đến các vị thần linh chính thức được nhà nước phong kiến triều Nguyễn ban tặng sắc phong Ở đình làng vẫn còn lưu giữ năm đạo sắc phong được triều đình ban tặng vào các năm 1853, 1880, 1887, 1909 và 1924 cho vị thần Bổn cảnh Thành hoàng của làng và hai đạo sắc phong năm 1853 và 1924 cho ông Nam Hải – vua của biển cả phương Nam
Như vậy, làng Cửa Bé là làng do cư dân Việt sinh sống ven biển lập nên trong quá trình chinh phục, khai thác vùng đất ven biển Cửa Bé trên cơ sở giao lưu, hòa hợp với người Chăm – cư dân bản địa vùng đất này Dấu ấn văn hóa thể hiện rõ nguồn gốc dân cư đến từ các tỉnh Nam Trung bộ như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vẫn tồn tại trong đời sống hàng ngày, đặc biệt thấy
rõ qua ngôn ngữ địa phương
1.4.3 Về tổ chức xã hội
Nếu như làng xã của người Việt tại đồng bằng Bắc bộ được tổ chức theo lớp tuổi, thể hiện đặc trưng của văn hóa nông nghiệp thì tại khu vực Nam Trung bộ nói chung và làng ven biển Cửa Bé nói riêng, tổ chức xã hội của cư dân nơi đây thể hiện rõ tính chất kinh tế biển
Như đã trình bày ở mục 1.2.2, làng ngư nghiệp tùy từng nơi có thể tổ chức theo phe, xóm, giáp… nhưng đối với cư dân Cửa Bé, tổ chức xã hội được phân theo các nhóm nghề nghiệp mà nghề biển là cơ bản nhất Do hoạt
Trang 28động sống chính là khai thác, đánh bắt thủy sản trên biển – môi trường tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, rủi ro nên ngư dân đã liên kết với nhau thành các nhóm để hợp sức khai phá, chinh phục biển cũng như cùng nhau chống lại bão tố…
Đối với ngư dân làng Cửa Bé, xã hội truyền thống thường được phân thành các tổ chức nghề nghiệp dành cho nam giới – những người lao động chính Các tổ chức này có thể bao gồm các thành viên nam trong một gia đình hoặc từ các gia đình khác nhau, thậm chí từ các địa phương khác tới lưu lại và khai thác tại vùng biển Cửa Bé Đối với các nghề như lưới kéo, chủ bao, lưới
rê, mành đèn, mành chà và nghề câu, tổ chức nghề nghiệp của các ngư dân thường lập thành các nhóm Theo đó, mỗi nhóm có thể gồm trên dưới 10 người cùng nhau hoạt động khai thác thủy sản trên biển Thông thường, trong mỗi tổ chức này bao gồm:
* Nhóm thứ nhất gọi là thợ, thường bao gồm:
Chủ ghe: đây là người có điều kiện kinh tế, bỏ tiền của, đầu tư ghe thuyền và các công cụ để khai thác thuỷ sản Sau khi đã có đầy đủ ghe thuyền
và công cụ, chủ ghe tiến hành mời các bạn về cùng làm việc với mình Thợ/ chủ ghe thường đảm nhiệm công việc lái ghe Thông thường chủ ghe thường
là những ngư dân đã có nhiều kinh nghiệm đi biển, nắm vững các luồng lạch tại vùng biển thường khai thác
Một người chạy điện/ chủ thợ: gọi là chạy điện nhưng thực tế đây là người giữ nhiệm vụ nới dây lưới khi thuyền chạy Việc này đòi hỏi người ngư dân phải am hiểu về các loại lưới và có kinh nghiệm về các vùng biển bởi nếu dây lưới căng quá sẽ không bao hết đàn cá, còn nếu dây lưới lỏng đàn cá sẽ dễ thoát ra khỏi lưới
Một người đứng cảo: Cảo là một bộ phận bằng kim loại (trước đây là gỗ) có dạng chữ A một đầu có móc ròng rọc dựng trên mui ghe, dùng để kéo lưới từ biển lên ghe Công việc khai thác thủy sản ngoài biển đòi hỏi con người phải có sức khỏe, đặc biệt là người đứng cảo Trước đây, sau khi lưới
đã được thả, cá đã vào lưới, người đứng cảo sẽ làm nhiệm vụ kéo lưới lên thông qua hệ thống ròng rọc Hiện nay, ngư dân Cửa Bé đã sử dụng hệ thống ròng rọc chạy điện để tiết kiệm sức người và đem lại hiệu quả cao hơn
Trang 29* Nhóm thứ hai gọi là bạn, thường bao gồm:
Trên mỗi ghe đánh cá, ngoài thợ (chủ ghe) lực lượng lao động đông đảo hơn cả là bạn Bạn thường gồm từ 8 đến 10 người hoặc hơn tùy theo kích cỡ
và qui mô của ghe Công việc của các bạn được phân chia thể hiện sự chuyên nghiệp trong việc khai thác thủy sản của ngư dân Cửa Bé
Các bạn trên ghe làm nhiệm vụ đánh lưới Trong số đó, bạn nào có kinh nghiệm, giỏi trong việc phán đoán luồng lạch, đàn cá sẽ được bầu làm nhóm trưởng, chỉ huy việc đánh bắt
Đối với nghề lưới đăng truyền thống, trước đây tổ chức nghề nghiệp của ngư dân thường bao gồm:
* Nghiệp chủ: đây là người trúng thầu khai thác một sở đầm nhất định, trước đây thường gọi là chủ đầm, hiện nay ở một số nơi tại Khánh Hòa gọi là chủ nhiệm
* Biện: là thư ký, chuyên lo nhiệm vụ ghi chép, tính toán và quản lý sổ sách Biện gồm 2 người: một người chuyên làm việc quán xuyến việc đánh bắt, đô đốc theo dõi số lượng, phân loại cá… trên thuyền gọi là thủy biện hay biện nước, một người làm việc ghi chép trên bờ gọi là biện bán hay biện biên
* Kiểm ngư: là người chuyên lo việc đếm và cân cá
* Chèo dọc: thường gồm 2 người giữ nhiệm vụ chỉ huy đánh bắt trên biển
* Bạn lưới hay bạn trên: thường từ 20 đến 28 người, là thuyền viên kéo neo, kéo lưới Thường trong nghề lưới đăng, người ta sử dụng 2 thuyền Một thuyền đăng và một thuyền neo Bạn lưới thường được chia đều cho hai thuyền, bên đăng bao giờ cũng hơn bên neo hai người để lo việc kiểm cá và ghi chép
* Bạn nằm thuyền: là người chuyên lo việc neo nạp, tát nước, nấu cơm, nhảy xuống nước kết giải… cho mỗi thuyền
* Lái phiên: thường có hai người, một người lái và một người phụ lái ghe phiên, chuyên đưa tiếp nhu yếu phẩm, nước ngọt và chở cá vào bờ, ngư dân gọi là đi phiên vô cá
Ngoài số lao động đánh bắt thường xuyên cho việc đánh bắt như đã nói ở trên, trên thuyền thường có thêm vài người qua lồ là những người xin đi theo lao động trong thời gian rảnh rỗi hoặc gặp dịp
Trang 30Như vậy, thùy theo hình thức khai thác thủy sản mà ngư dân làng ven biển Cửa Bé có các cách tổ chức nhóm nghề nghiệp khác nhau Tuy nhiên, điều đáng chú ý là, dù hình thức tổ chức nghề nghiệp khác nhau song cách phân chia quyền lợi sau mỗi chuyến đi biển đều thống nhất chung trong cộng đồng ngư dân làng Cửa Bé Theo đó, dựa trên tổng số lợi thủy sản thu được, thợ sẽ được 3 phần chia cho chủ ghe 1 phần, người đứng cảo 1 phần và 1 phần cho chủ thợ/ chạy điện Bạn được 7 phần chia đều cho tất cả các thành viên tham gia đánh bắt Dù số lượng thủy sản đánh bắt nhiều hay ít cũng được ngư dân làng Cửa Bé phân chia theo tỉ lệ trên Tuy nhiên, nếu như chuyến đi không thuận lợi, chủ ghe bị lỗ trong chuyến đi đó thì các thợ và bạn sẽ cũng chịu lỗ với chủ ghe, chờ tới các chuyến đi sau có lãi sẽ bù vào Điều này cho thấy tính gắn bó chặt chẽ giữa những người làm cùng nghề đánh cá Lý do khiến sự gắn
bó giữa họ bền chặt là bởi hai yếu tố: yếu tố kinh tế (cùng nhau chung sức để đánh bắt thủy sản) và yếu tố tinh thần (cùng nhau hợp lực chống chọi với tự nhiên) Đây là một trong những đặc điểm nổi bật trong tổ chức xã hội của ngư dân làng Cửa Bé so với các làng ven biển khác
Tiểu kết chương 1
Việt Nam là một quốc gia có đường bờ biển dài với nguồn tài nguyên phong phú Tùy theo từng thời kỳ lịch sử mà người Việt đã từng bước chinh phục biển khơi Họ đã lập nên các làng ven biển, các vạn chài – đơn vị cư trú
cơ bản của cộng đồng – để cùng nhau khai thác các nguồn lợi thủy, hải sản Trong quá trình đó, các cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam đã cùng nhau sáng tạo, đúc rút kinh nghiệm, cải tiến, biến đổi và thích ứng với môi trường
tự nhiên Họ đã cùng nhau tạo nên một sắc thái văn hóa riêng cho khu vực này – văn hóa làng ven biển/ văn hóa của cư dân ven biển mà làng ven biển Cửa
Bé, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là một ví dụ tiêu biểu
Trang 31Chương 2 ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ LÀNG VEN BIỂN CỬA BÉ THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HOÀ
Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa và được tiếp cận dưới nhiều góc độ
khác nhau và theo nghĩa rộng nhất văn hóa được hiểu là tổng thể những hoạt
động sáng tạo của con người trong quá khứ và hiện tại Qua thời gian, hoạt
động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống,
các thị hiếu… với hai bộ phận cấu thành cơ bản là văn hóa vật thể và văn hóa
phi vật thể Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả chỉ tập trung
đề cập đến đặc trưng văn hóa làng ven biển Cửa Bé, thành phố Nha Trang,
tỉnh Khánh Hòa với ba nội dung: văn hóa sản xuất, văn hóa vật thể và văn hóa
phi vật thể
2.1 v¨n hãa s¶n xuÊt
2.1.1 Hoạt động khai thác thủy sản
Như đã trình bày ở mục 1.4.2, cư dân làng Cửa Bé (làng Trường
Đông) chủ yếu di cư từ các tỉnh Nam Trung bộ tới vùng đất Vĩnh Trường vào
khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Phần lớn họ là ngư dân, bộ phận
còn lại là nông dân đến từ các vùng khác nhau Tuy nhiên khi tới lập nghiệp
tại làng Cửa Bé, khai thác địa thế thuận lợi và tài nguyên thủy sản giàu có tại
vùng biển ấm này, họ đều theo nghề nghiệp chung của làng – phù hợp với điều
kiện tự nhiên vùng ven biển – là nghề chài lưới
Trước đây, cư dân trong làng chỉ làm nghề chài lưới, còn gọi là nghề
biển, gồm nhiều hoạt động khác nhau như: Đánh bắt thủy sản, chế biến thủy
sản và đóng ghe phục vụ đánh bắt thủy sản Hiện nay, do điều kiện kinh tế - xã
hội thay đổi, cơ cấu nghề nghiệp làng Cửa Bé có thêm sự góp mặt của
nghề bờ, bao gồm các hoạt động: chế biến thủy sản đông lạnh, sản xuất đồ
thủ công mỹ nghệ từ vỏ sò, ốc, song mây, làm mộc; một bộ phận nhỏ cư
dân làm nghề buôn bán nhỏ hoặc làm thuê cho các xí nghiệp thủy sản
trong khu vực Mặc dù kết cấu nghề nghiệp trong làng đã có sự biến đổi,
Trang 32song nghề biển vẫn là nguồn sống chính, chi phối đến văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của cư dân trong làng
Khánh Hòa là có đường bờ biển kéo dài từ xã Đại Lãnh, huyện Ninh Hòa tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài khoảng 385 km tính theo mép nước với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, cùng khoảng 200 đảo lớn, nhỏ ven bờ và các đảo san hô của quần đảo Trường Sa Khánh Hòa có sáu đầm và vịnh lớn, đó là Đại Lãnh, vịnh Vân Phong, Hòn Khói, vịnh Nha Phu, vịnh Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh Vùng biển Khánh Hòa rất gần với vùng nước đại dương và các dòng hải lưu nóng lạnh thích hợp cho sự phát triển của các loài thực vật, sinh vật phù du, trở thành nguồn thức ăn dồi dào thu hút các loài thủy sản Ngoài ra, Khánh Hòa có đường bờ biển dài, do núi ăn lan ra biển và tác động xâm thực của sóng biển tạo nên nhiều đoạn khúc khuỷu với nhiều đảo, bán đảo, nhiều mũi đá, bãi triều, bãi cát cho đến các đầm, vũng, vịnh … phân
bố dọc ven bờ Đây chính là địa điểm lý tưởng cho các đàn cá tập trung và cũng chính là địa bàn hoạt động cuả các hoạt động đánh bắt thủy sản ven bờ
Tại làng ven biển Cửa Bé, hàng năm cư dân căn cứ vào hoạt động di chuyển của đàn cá mà phân ra thành các thời vụ đánh bắt khác nhau Từ khoảng tháng Giêng âm lịch, các loài cá nổi di cư theo mùa từ vùng biển phía Nam theo dòng biển ra phía Bắc, ngư dân gọi là mùa cá lên Đến cuối tháng
tư, các từ vùng biển phía Bắc theo biển vào Nam, ngư dân gọi là mùa cá lại
Tùy theo tập tính sinh sống của các loài thủy sản ở các vùng nước khác nhau (vùng khơi, vùng lộng, tầng đáy, tầng mặt), người ta phải sử dụng nhiều loại tàu thuyền và ngư cụ khác nhau, được phân chia ra thành những nghề đánh bắt khác nhau Trong từng thời kỳ, cơ cấu thuyền nghề có sự thay đổi, phụ thuộc các yếu tố như biến động nguồn lợi thủy sản, nhu cầu sản phẩm hoặc du nhập nghề mới Trong thực tế, một thuyền nghề chính có thể kiêm thêm nghề phụ khác, cho nên sự phân loại cũng chỉ là tương đối Trong truyền thống cho đến hiện nay, nghề biển tại làng Cửa Bé bao gồm:
* Nghề lưới kéo
Nghề lưới kéo (còn gọi là nghề giã cào) là một phương thức đánh bắt chủ lực và phổ biến của nghề cá làng Cửa Bé Nghề lưới kéo đánh bắt thủy
Trang 33sản sinh sống ở tầng đáy, nền đáy biển tương đối bằng phẳng, độ sâu thường
từ 20 - 100m Nếu phân loại theo đối tượng đánh bắt chính là cá và tôm thì nghề lưới kéo gồm có hai loại: lưới kéo đánh cá và lưới kéo đánh tôm Nghề lưới kéo đánh cá thường phải sử dụng tàu thuyền có công suất lớn kéo chiếc lưới hình dạng túi, miệng túi được mở lớn bằng giềng phao ở trên, giềng chì ở dưới và hai cánh lưới ở hai bên cào sát đáy biển để bắt cá Nghề lưới kéo phổ biến là dùng hai tàu để kéo lưới gọi là lưới kéo đôi (giã cào đôi), nếu dùng một tàu kéo lưới thì gọi là lưới kéo đơn (giã cào đơn) Nghề lưới kéo đánh bắt được nhiều loài cá, tôm, mực sống tầng đáy và gần đáy như: cá mối, cá phèn,
cá mú, cá đù, cá hố, cá trác, cá liệt, mực nang, mực ống Sản lượng thủy sản đánh bắt bằng nghề lưới kéo ước chiếm trên 50% tổng sản lượng
Nghề lưới kéo đánh bắt tôm (giã cào tôm) thường sử dụng tàu thuyền
có công suất nhỏ hơn, từ 22CV đến 90CV, đánh bắt ven bờ, độ sâu từ 10 - 50m Lưới giã cào tôm ở Khánh Hòa phổ biến là lưới giã gọng, miệng lưới giã được gắn vào một khung sắt có thể cào sát đáy biển để bắt các loài tôm sú, tôm chì, tôm sắt, mực nang
Nghề lưới kéo hiện nay phần lớn sử dụng tàu có công suất lớn từ 90CV trở lên tới trên 400CV, được cơ giới hóa trang bị hệ thống tời, cẩu khá hoàn chỉnh, giảm nhẹ sức lao động cho ngư dân Mùa vụ đánh bắt chính của nghề lưới kéo đánh cá từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm; mùa vụ của nghề lưới kéo đánh tôm chủ yếu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Thông thường, ngư dân Cửa Bé thường rời bến vào khoảng 15 giờ chiều ngày hôm trước; họ bắt đầu đánh lưới vào khoảng 16 giờ và về bến vào khoảng 1 giờ sáng ngày hôm sau Thời gian sản xuất còn lại trong năm, nghề giã cào phải di chuyển đến các ngư trường ngoài tỉnh
* Nghề chủ bao
Nghề chủ bao tại làng Cửa Bé chính là nghề lưới vây hay còn gọi là nghề vây rút chì Đây là một trong những nghề quan trọng hiện nay của ngư dân Cửa Bé; chuyên đánh bắt các loài cá tầng nổi hoặc tầng giữa như các loài
cá nục, cá ngừ, cá cơm, cá ngân, trong đó phổ biền nhất là cá cơm
Nguyên tắc đánh bắt của nghề lưới vây là khi phát hiện đàn cá, người
ta dùng tàu thả lưới vây thành vòng tròn xung quanh đàn cá rồi kéo dây rút
Trang 34gọn giềng chì để thắt kín đáy không cho đàn cá thoát xuống dưới, sau đó thu dần vàng lưới, dồn cá vào tùng lưới rồi dùng vợt xúc cá lên tàu Tàu thuyền lưới vây ngày nay hầu hết đã được lắp máy công suất tới 155CV, chiều dài lưới (chu vi vòng vây đàn cá) khoảng 400m, chiều cao lưới có thể tới 80 - 100m có thể đánh bắt ở vùng nước xa bờ có hiệu quả
Ở nước ta, nghề lưới vây đánh bắt đàn cá ban ngày gọi là lưới vây ngày Nghề lưới vây dùng ánh sáng đánh bắt cá ban đêm gọi là nghề lưới vây ánh sáng Ngư trường hoạt động từ vùng nước ven bờ ra đến vùng lộng, nơi có các đàn cá thường tập trung trú ngụ quanh vùng gò rạn hoặc gốc chà rạo Mùa
vụ đánh bắt chính từ tháng 2 đến tháng 5 hàng năm, lưới vây cá cơm có thể đánh bắt đến tháng 9
Tại làng Cửa Bé, nghề chủ bao thường tập trung khai thác cá cơm Ngư dân thường cho tàu rời bến vào khoảng 15 giờ chiều ngày hôm trước và bắt đầu đánh bắt vào rạng sáng hôm sau và quay trở về bến vào khoảng 7 giờ sáng cùng ngày Nghề chủ bao khai thác cá cơm tại làng Cửa Bé thường tập trung theo mùa từ tháng 2 tới tháng 4 âm lịch
* Nghề lưới rê
Nghề lưới rê (ở các địa phương khác còn gọi là nghề lưới cản) là một trong những nghề đánh bắt quan trọng Nghề lưới rê là khái niệm chung chỉ loại nghề đánh bắt dựa trên nguyên tắc dùng lưới thả trôi chắn ngang hướng di chuyển của đàn cá để cá mắc dính vào lưới (thân cá đóng vào mắt lưới) Trên nguyên tắc đánh bắt của lưới rê, có các nghề lưới cản (lưới rê nilông), lưới rê cước, rê đáy, lưới chuồn Trong đó nghề lưới cản là nghề quan trọng nhất Ngư dân hành nghề lưới đánh bắt các loại cá di chuyển tầng nổi như cá ngừ,
cá thu, cá nục lớn Ngư trường đánh bắt khá rộng, từ vùng biển ven bờ ra đến vùng khơi Hiện nay, tàu thuyền lưới cản được lắp máy công suất lên tới 155CV Lưới rê các loại hiện nay được làm bằng lưới sợi tổng hợp dệt sẵn, kích thước mắt lưới cỡ 50mm đối với nghề lưới cản khơi, cỡ 30mm đối với nghề cản ven bờ (còn gọi là lưới thanh ba)
Chiều dài lưới cản khơi có thể tới hàng chục nghìn mét, chiều cao lưới
từ 15 - 20m Mùa vụ đánh bắt từ tháng 1 đến tháng 5 hàng năm Ngư dân theo
Trang 35nghề lưới rê tại làng Cửa Bé thường đánh bắt các loài cá lớn ở xa bờ như cá thu, cá ngừ Mỗi chuyến đi thường kéo dài hàng tháng, thậm chí vài tháng tùy theo sản lượng cá đánh bắt được
* Nghề mành đèn
Nghề mành đèn là nghề truyền thống lâu đời của ngư dân vùng biển, được ngư dân Cửa Bé khai thác khá phố biển Nghề mành đèn thường đánh bắt cá nhỏ ven bờ như cá nục, cá trích, cá bạc má, cá cơm, mực ống Nghề mành đèn hoạt động vào ban đêm, dựa trên nguyên tắc dùng ánh sáng đèn măng sông hoặc đèn nê ông cực mạnh của chùm đèn pha có công suất từ 5.000W - 10.000W để thu hút đàn cá nổi lên gần mặt nước, rồi ngay lập tức dùng lưới để xúc cá lên thuyền Trước khi trời tối người ta lựa chọn những nơi gần cồn rạn, cá thường hay trú ngụ để thả neo và bắt đầu chong đèn sáng Ban đêm, những đàn cá thường bị thu hút vào vùng ánh sáng Khi quan sát thấy đàn cá bị ánh sáng thu hút mạnh đến độ "say đèn", người ta lựa chiều gió, hướng nước chảy thích hợp rồi thả lưới giăng sẵn; sau đó di chuyển ánh sáng
để dẫn đàn cá vào trên miệng lưới rồi nhanh chóng cất lưới lên để bắt cá Với
cá cơm, sau khi chong đèn, ánh sáng mạnh của dàn đèn công suất lớn sẽ làm
cá nổ mắt và nổi trên mặt biển Ngư dân chỉ việc dùng các vượt lưới lớn xúc
cá lên thuyền Nếu thời tiết, gió, nước thuận lợi, mỗi đêm có thể đánh lưới từ 2
- 3 lần Mùa vụ đánh bắt của nghề mành đèn thường từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm Ngư dân Cửa Bé làm nghề mành đèn thường rời cảng vào khoảng
14 giờ chiều hôm trước, bắt đầu đánh cá vào lúc rạng sáng và thường trở về cảng vào khoảng 8 giờ sáng hôm sau
* Nghề mành chà
Nghề mành chà cũng là nghề truyền thống lâu đời của ngư dân vùng biển Cửa Bé, Nha Trang, Khánh Hòa Ngư dân lợi dụng tập tính các loài cá nổi thường tập trung núp bóng ở các gò, rạn, vật trôi nổi trong nước, ngư dân thường thả những gốc chà rạo Đây là một loại ngư cụ trong nghề cá mà cư dân làng Cửa Bé thường dùng để thu hút, tụ tập đàn cá Chà rạo thường làm bằng một bó khoảng 3 - 4 thân cây lồ ô, xung quanh kết lá dừa được ngư dân
thả xuống biển, chúng được cố định bằng rọ đá nặng để khỏi bị cuốn trôi) dọc
ven biển để thu hút các loại cá nổi nhỏ như cá nục, cá chỉ vàng Khi đàn cá di
Trang 36chuyển qua, gặp các gốc chà rạo chúng thường tụ tập lại để "dựa bóng" bắt mồi Khi quan sát thấy đàn cá tụ tập nhiều, người ta lựa chiều gió, hướng nước chảy thích hợp rồi thả lưới mành để bắt cá Những cây chà "hay" là những cây chà có vị trí thích hợp cá thường tụ tập nhiều nhất, mỗi năm có thể giúp ngư dân đánh bắt hàng chục tấn cá Nghề mành chà trước kia rất phổ biến, nhưng khoảng hơn chục năm trở lại đây đã bị mai một dần, hiện nay không còn chủ yếu do nguồn lợi thuỷ sản ven bờ giảm sút mạnh Nghề mành chà truyền thống nếu được khôi phục là một trong những biện pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ rất hiệu quả
* Nghề câu
Nghề câu là loại hình khai thác đánh bắt thủy sản có từ lâu đời ở nước
ta Ở Nha Trang, Khánh Hòa, nghề câu theo chân người Việt từ phương Bắc di
cư vào cách nay khoảng hơn 200 năm Trong quá trình lao động, ngư dân ở đây thấy vùng biển này có nhiều đàn cá ngon, có giá trị kinh tế cao như cá thu,
cá ngừ, cá bò… thường xuyên di chuyển theo mùa cố định, dọc các gành đảo
và gành núi mà các nghề khác như nghề mành, nghề lưới không thế bắt gọn
được Trong điều kiện mới này, cư dân vùng biển Nha Trang nói chung, vùng Cửa Bé nói riêng đã sáng tạo ra cách thức đánh bắt mới Do đó nghề câu thẻo
và câu chạy đã ra đời trên cơ sở kế thừa các lọai hình đánh bắt đã có ở vùng biển Bắc bộ
Về ngư cụ và phương tiện hành nghề câu thẻo, câu chạy tại làng ven biển Cửa Bé đã có sự thay đổi đáng kể so với truyền thống Trước đấy, ghe thuyền chỉ dùng buồm và chạy bằng sức người là chính Kể từ năm 1958 đến nay, ghe thuyền được trang bị động cơ Về dây câu: trước đây ngư dân làng Cửa Bé chủ yếu sử dụng dây câu làm từ vỏ cây mấu và xơ dừa Sợi chỉ mấu rất chắc nhưng không chịu được lâu ngày ngâm trong nước biển, do vậy thời gian sử dụng chỉ vài mùa cá là phải thay mới toàn bộ Từ năm 1958 đến nay, các loại dây dùng cho đánh bắt hải sản đều làm từ sợi nilon, do vậy giàn dây câu rất nhẹ, không ngấm nước và có độ bền cao
Dù qui mô của câu thẻo và câu chạy có khác nhau nhưng nhìn chung đều có chung nguyên tắc hoạt động là: thuyền câu chạy tới vùng nước đàn cá
Trang 37thường qua lại, thả giàn câu (vàng câu) vắt ngang qua dòng chảy của vùng nước đó để câu cá Cấu tạo vàng câu gồm có dây câu chính, chiều dài có khi hàng chục cây số, dọc trên chiều dài là các thẻo câu có gắn lưỡi câu, chiều dài thẻo câu có thể thay đổi tùy theo độ sâu tầng nước cá di chuyển Mồi câu thì tùy theo từng loại cá cần câu mà sử dụng cho thích hợp như cá cơm, cá hố hay
* Nghề câu mực khơi
Nghề câu mực khơi (còn gọi là nghề câu mực xà) là nghề khá phổ biến trong cộng đồng ngư dân Cửa Bé Ngư dân chuyên đánh bắt các loại mực ống kích thước lớn, sinh sống ở vùng biển khơi
Mỗi chuyến đi biển, tàu câu mực thường chở theo 15 - 20 chiếc thuyền thúng ra ngư trường khơi cách bờ từ hàng chục đến hàng trăm hải lý tùy theo mùa vụ Dựa vào tập tính ưa sáng của mực, câu mực được tiến hành vào ban đêm, đến ngư trường người ta thả thúng xuống biển, mỗi người một thúng, một đèn thả trôi quanh thuyền để câu Nghề câu mực xà thường gặp nguy hiểm đến tính mạng khi có sóng to, gió lớn bất ngờ
Nguyên tắc đánh bắt của nghề câu mực khơi là dùng lưỡi câu chùm có móc mồi câu (mồi bằng cá chuồn) thả xuống nước biển sâu có thể tới 30 - 70m Khi con mực đã bám vào mồi thì giật nhẹ dây câu để lưỡi câu móc vào thân mực rồi nhanh chóng kéo con mực lên thuyền Ngư dân làng Cửa Bé thường khai thác mực theo mùa từ tháng 4 đến tháng 5 âm lịch
Ngoài các nghề trên, trước đây ngư dân làng Cửa Bé còn có nghề lưới đăng Tuy nhiên, hiện nay do sản lượng thủy sản ven bờ bị giảm sút mạnh nên nghề lưới đăng không còn được ngư dân Cửa Bé khai thác như trước
Ngoài việc khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ và ngoài khơi như
đã trình bày ở trên, tại làng ven biển Cửa Bé, cư dân còn khai thác thủy sản tại vùng cửa sông Đây cũng là nguồn lợi đáng kể trong đời sống của họ
Trang 38Trong hoạt động đánh bắt thủy sản của ngư dân làng ven biển Cửa Bé, xét về công cụ lao động và phương tiện đánh bắt thủy sản nổi bật lên các đặc điểm sau:
Thứ nhất, với các nghề khai thác có sử dụng công cụ là lưới (người
dân địa phương gọi là mành), trong truyền thống ngư dân làng Cửa Bé chỉ sử dụng loại lưới màu đen làm từ sợi nilon (trước đây lưới được làm từ xơ dừa) trong khi tại các làng chài khác ở Khánh Hòa và các địa phương khác ngư dân thường sử dụng lưới nilon có màu trắng và xanh
Thứ hai, loại lưới mà ngư dân làng Cửa Bé sử dụng trong việc đánh
bắt thủy sản luôn là loại lưới “một màn” Đây là loại lưới làm từ sợi nilon (trước đây là xơ dừa) có một lớp với mắt lưới có kích cỡ tương ứng với loại thủy sản mà họ muốn đánh bắt Trong khi đó tại Khánh Hòa và các địa phương khác, để tăng năng suất, ngư dân thường sử dụng loại lưới ba màn với
ba lớp lưới có các kích cỡ mắt lưới khác nhau Loại lưới ba màn này giúp khai thác được tối đa các loài thủy sản Tuy nhiên, theo ngư dân làng Cửa
Bé, họ không sử dụng lưới hai hoặc ba màn là để bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là trong mua sinh sản của chúng Điều này cho thấy thái độ tôn trọng của ngư dân làng Cửa Bé đối với biển – môi trường sống – nguồn thức ăn chủ yếu của họ
Thứ ba, phương tiện để ngư dân làng Cửa Bé tiến ra biển khai thác,
đánh bắt thủy sản là ghe (thuyền) Ghe của ngư dân làng Cửa Bé nói riêng, ngư dân Khánh Hòa nói chung có sự khác biệt so với các địa phương khác như Phú Yên, Bình Định Do đặc điểm vùng biển Khánh Hòa là vùng biển mở (không có các đảo che chắn ngoài khơi); ngoài ra vùng biển này là nơi thường
có sóng lớn nên ngư dân đã cải tiến ra loại ghe thích hợp với điều kiện tự nhiên nơi này Loại ghe ngư dân làng ven biển Cửa Bé hay sử dụng để khai thác thủy sản dù kích thước, công suất có khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là mũi ghe nhọn, mũi ghe thường cao hơn lái, đuôi ghe bằng Đặc điểm này giúp ghe dễ giữ thăng bằng khi di chuyển trên vùng biển thường có sóng lớn song lại khiến cho tốc độ của ghe chậm lại, khả năng rẽ nước bị hạn chế
Vì vậy, để khắc phục, ngư dân vùng Cửa Bé, Khánh Hòa đã thêm vào mũi ghe của mình một bộ phận bằng gỗ ở phía mũi ghe, làm mũi ghe cao hơn đuôi ghe
Trang 39khoảng 30 – 40 cm Theo họ bộ phận này giúp ghe rẽ sóng và di chuyển dễ dàng hơn Điều này chứng tỏ ngư dân Cửa Bé hiểu rõ về vùng biển nơi họ sinh sống và có cách thích ứng tốt với môi trường sống ấy
Thứ tư, theo quan sát và qua tìm hiểu thực tế của tác giả, tất cả ghe
thuyền mà ngư dân Cửa Bé nói riêng, Nha Trang nói chung dùng để đánh bắt, khai thác thủy sản xa bờ phần lớn không có mắt thuyền như các địa phương khác Đây là đặc điểm khá nối bật của ngư dân vùng Cửa Bé, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Phải chăng ngư dân nơi này đã quen thuộc với biển, thông thạo biển tới mức mắt của họ cũng chính là mắt thuyền?
2.1.2 Hoạt động chế biến thủy sản
Như đã trình bày ở trên, trong cơ cấu nghề biển của cư dân làng Cửa
Bé còn có các hoạt động chế biến thủy sản và sửa chữa, đóng mới ghe thuyền phục vụ cho việc khai thác trên biển, trong đó chế biến thủy sản là hoạt động phổ biến hơn cả
Về chề biến thủy sản, hiện nay tại làng Cửa Bé có hai hình thức chế biến thủy sản là chế biến thủy sản khô và chế biến thủy sản đông lạnh, trong
đó chế biến thủy sản đông lạnh là hình thức mới có trong thời gian gần đây (từ năm 1978) , hình thức chế biến thủy sản khô là hình thức truyền thống được ngư dân Cửa Bé áp dụng qua nhiều thế hệ Chế biến thủy sản khô là nghề truyền thống của cư dân vùng biển, nhất là khi biển được mùa, thủy sản tươi tiêu thụ không kịp sẽ được ngư dân chế biến thành thủy sản khô để tiêu thụ dần Phương pháp sản xuất truyền thống là phơi khô các loại cá, tôm, mực… đánh bắt được Qui trình chế biến thủy sản khô thường trải qua các bước cơ bản sau:
Thứ nhất, thủy sản sau khi đánh bắt về sẽ được phân loại trước khi chế biến Ngư dân sẽ loại bỏ các con cá, tôm, mực ươn, thối, hỏng, dập nát, chỉ chọn những loại tươi để làm khô Trong quá trình phân loại này, thủy sản được ngâm trong nước muối (có tỉ lệ thích hợp với từng loại thủy sản) để hạn chế hoạt động của các men vi sinh vật trong nội tạng thủy sản, tránh làm thối, hỏng thủy sản
Trang 40Bước thứ hai, tùy loại thủy sản, ngư dân sử dụng nước lã hoặc nước muối pha loãng để rửa sạch tạp chất hoặc máu nhớt trước khi chế biến
Bước thứ ba, tùy theo loại thủy sản lớn hay nhỏ mà ngư dân sẽ mổ banh hoặc cắt khúc hoặc để nguyên con Việc làm này nhằm mục đích loại bỏ nội tạng thủy sản để tránh hiện tượng các vi sinh vật trong nội tạng thủy sản phân giải khiến thịt thủy sản bị hạ cấp hoặc bị thối rữa Sau khi đã loại bỏ hết nội tạng, thủy sản được rửa lại với nước lã hoặc nước muối loãng một lần nữa cho sạch hết máu nhớt rồi mới đem làm khô
Bước thứ tư là phơi hoặc sấy khô sản phẩm Trong truyền thống, ngư dân dùng cách phơi nắng để làm khô sản phẩm Tùy vào loại thủy sản mà ngư dân sẽ đem phơi khô hay hấp chín trước khi phơi Ngư dân làng Cửa Bé thường sử dụng hai cách phơi khô thủy sản phổ biến là phơi treo (móc thủy sản, treo lên các giàn để phơi) hoặc phơi giàn (đặt thủy sản lên các giàn bằng tre, nứa để phơi) Tùy theo loại thủy sản mà ngư dân sẽ phơi nắng liên tục hoặc gián đoạn; cũng tùy theo loại thủy sản mà ngư dân sẽ phơi trong bóng râm hay phơi trực tiếp dưới nắng Trong công đoạn phơi nắng, việc chọn sân phơi được ngư dân Cửa Bé xem là một trong việc quan trọng nhất Sân phơi phải làm sao tận dụng được ánh nắng từ sáng tới chiều và gió có thể thổi từ bất
cứ hướng nào tới cũng được thông thoáng Tuy nhiên sân phơi phải tránh những chỗ gần ao, hồ để thủy sản không bị ẩm ướt Sân phơi tốt nhất là chọn sân phơi màu đen để tránh phản xạ ánh sáng làm chín thủy sản và khi phơi ngư dân tránh phơi trực tiếp xuống sân
Trước đây các sản phẩm thủy sản khô của làng Cửa Bé chủ yếu được tiêu thụ trong phạm vi Khánh Hòa và các địa phương lân cận như Lâm Đồng, Đắc Lắc… Ngày nay sản phẩm thủy sản khô làng Cửa Bé đã được vận chuyển
đi tiêu thụ tại nhiều tỉnh, thành trong cả nước và xuất khẩu ra quốc tế