Như mọi người đã biết, Khu phố cổ Hội An, hạt nhân của khu đô thị cổ Hội An, một đô thị - thương cảng ngoại thương quốc tế thời trung - cận đại điển hình ở Việt Nam, ở Đông Nam á và ở Ch
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Bộ văn hoá thông tin
Trường đại học văn hoá hà nội
Trang 2lỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong Khoa Sau đại học - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, các đồng chí lãnh đạo các cơ quan của Bộ Văn hóa Thông tin, đặc biệt là sự hướng dẫn hết sức chu đáo, khoa học của Tiến sĩ Trương Quốc Bình - Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn Bảo tàng, sự chỉ đạo, hỗ trợ của Thường vụ Thị ủy, Thường trực Uỷ ban Nhân dân Thị xã Hội An và các cơ quan hữu quan trong thị xã, sự động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của cán bộ, công chức, viên chức Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An, cùng gia đình và các đồng nghiệp
Nhân đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến tất cả các thầy cô, Tiến sĩ Trương Quốc Bình, các đồng chí lãnh đạo các cơ quan của Trung ương, của thị xã Hội An, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An cùng gia đình và các đồng nghiệp
Trang 3MụC LụC
Trang
Mục lục 1
Bảng chữ viết tắt và ký hiệu 2
Danh mục phụ lục 3
Mở đầu .5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Những kết quả và đóng góp của đề tài 8
6 Kết cấu của đề tài 8
Chương 1: Tổng quan về Khu phố cổ Hội An 9
1.1 Những đặc điểm về tự nhiên và xã hội của Hội An 9
1.2 Tình hình nghiên cứu về khu phố cổ Hội An 13
1.3 Khái quát về lịch sử khu phố cổ Hội An 18
Chương 2: Những giá trị lịch sử - văn hóa của Di sản kiến trúc nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội An 29
2.1 Những giá trị lịch sử - văn hóa của khu phố cổ Hội An 29
2.2 Những giá trị lịch sử - văn hóa của di sản kiến trúc nhà gỗ trong khu phố cổ Hội An 35
Trang 4Chương 3: Những định hướng và giải pháp bảo tồn di sản
kiến trúc nhà gỗ trong khu phố cổ Hội An 72
3.1 Tình hình và kết quả bảo tồn quần thể kiến trúc khu phố cổ Hội An 72
3.2 Những định hướng cơ bản nhằm bảo tồn di sản kiến trúc nhà gỗ trong khu phố cổ Hội An 83
3.3 Những giải pháp bảo tồn di sản kiến trúc nhà gỗ trong khu phố cổ Hội An 87
Kết luận 104
Chú thích 108
Tài liệu tham khảo 111
PHụ LụC 123
Trang 5(H×nh 1.1.2) :Xem phô lôc 1.1.2
(B¶ng 2.2a) :Xem phô lôc 2.2a
[14] : Xem tµi liÖu tham kh¶o sè 14
[41],[104] : Xem c¸c tµi liÖu tham kh¶o sè 41, 104 [52, 60] : Xem tµi liÖu tham kh¶o sè 52, trang 60
Trang 6Danh mục phụ lục
Trang
1 Hình A.1 Bằng công nhận Đô thị cổ Hội An là Di sản Thế giới 124
2 Hình A.2 Một số ngôi nhà đang xuống cấp nghiêm trọng 125
3 Hình C.2 Sơ đồ khoanh vùng bảo vệ Khu phố cổ Hội An 126
4 Hình 1.1.1a Vị trí Hội An ở Việt Nam 127
5 Hình 1.1.1b Hội An trong tỉnh Quảng Nam 128
6 Hình 1.1.2 Bản đồ thị xã Hội An 129
7 Hình 1.1.8a Biểu đồ lượt khách tham quan Khu phố cổ Hội An 130
8 Hình 1.1.8b Biểu đồ lượt khách lưu trú tại Hội An 131
9 Hình 1.1.8c Biểu đồ phát triển khách sạn ở Hội An 132
10 Hình 1.3.3.1a Phố Nhật tại Hội An đầu thế kỷ XVII 133
11 Hình 1.3.3.1b Trên sông Hội An (Tranh của J.Barrow, vẽ năm 1793) 134
12 Hình 1.3.3.2a Một số đường phố Hội An giữa thế kỷ XX 135
13 Hình 1.3.3.2b Hội An nhìn từ trên không 136
14 Hình 2.1.1a Một số tranh vẽ về phố cổ Hội An 137
15 Hình 2.1.1b Một vài đường phố 138
16 Bảng 2.1.1c Bảng thống kê di tích - danh thắng thị xã Hội An 139
17 Hình 2.1.1d Chùa Cầu 140
18 Bảng 2.2a Danh mục các ngôi nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội An 141
19 Hình 2.2b Sơ đồ phân bố nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội An 146
Trang 720 Hình 2.2.2 Một số ngôi nhà ảnh hưởng phong cách kiến trúc Pháp 147
21 Hình 2.2.3.1 Hội An trên bến dưới thuyền 148
22 Hình 2.2.3.2 Mái phố Hội An 149
23 Hình 2.2.4 Mặt bằng một số ngôi nhà hình ống Hội An 150
24 Bảng 2.2.5.1a So sánh tên gọi một số cấu kiện trong ngôi nhà gỗ 151
25 Hình 2.2.5.1b Tên gọi các cấu kiện kiến trúc trong ngôi nhà gỗ Hội An 152
26 Hình 2.2.5.1c Kết cấu khung và mái nhà gỗ Hội An 153
27 Hình 2.2.5.1d Các kiểu vài trong nhà gỗ Hội An 154
28 Hình 2.2.5.1e Các bước dựng bộ khung nhà gỗ Hội An 155
29 Hình 2.2.5.2 Kết cấu mái ngói âm dương 156
30 Hình 2.2.5.3a Một số kiểu mặt tiền nhà phố trong Khu phố cổ Hội An 157
31 Hình 2.2.5.3b Tên gọi các cấu kiện mặt tiền ngôi nhà gỗ Hội An 158
32 Hình 2.2.7a Các dạng trang trí bờ hồi 159
33 Hình 2.2.7b Một số kiểu mắt cửa trong các ngôi nhà gỗ Hội An 160
34 Hình 2.2.7c Một số kiểu trang trí kèo 161
35 Hình 2.2.7d Một số kiểu trang trí vài vỏ cua 162
36 Hình 2.2.7e Một số kiểu trang trí con ke, bẩy hiên 163
37 Hình 2.2.7f Một số kiểu trang trí đá tảng chân cột 164
38 Hình 2.2.7g Trang trí nội thất một số ngôi nhà gỗ Hội An 165
39 Hình 2.2.8a Mặt cắt một số ngôi nhà rường Huế 166
40 Hình 2.2.8b Mặt cắt một số ngôi nhà gỗ Hội An 167
41 Hình 2.2.8c Phố cổ Lệ Giang (Vân Nam - Trung Quốc) 168
Trang 842 Hình 2.2.8d Kết cấu tường, mái phố cổ Lệ Giang
(Vân Nam-Trung Quốc) 169
43 Hình 2.2.8e Phố Hoa ở Malacca (Malaysia) 170
44 Hình 2.2.8f Một kiểu nhà phố ở Kyoto (Nhật Bản) 171
45 Hình 2.2.8g Phố Nhật ở Kawagoe 172
46 Hình 2.2.8h “Mắt cửa” tháp Chăm 173
47 Hình 2.2.8i Mắt cửa nhà gỗ Tam Kỳ - Quảng Nam 173
48 Hình 3.1.2a Bằng chứng nhận giải thưởng “Dự án kiệt xuất” của UNESCO tặng cho Hội An 174
49 Hình 3.1.2b Phố cổ Hội An trong mùa lụt 175
50 Hình 3.1.2c Những vị trí hay bị hư hỏng trong ngôi nhà gỗ 176
51 Hình 3.3.2 Hội An trong “đêm phố cổ” (tối 14 âm lịch hàng tháng) 177
Trang 9Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài:
1.1 Như mọi người đã biết, Khu phố cổ Hội An, hạt nhân của khu đô thị cổ Hội An, một đô thị - thương cảng ngoại thương quốc tế thời trung - cận đại điển hình ở Việt Nam, ở Đông Nam á và ở Châu á, đã được ủy ban Di sản Thế giới của Tổ
chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) ghi vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới(1)(Hình A.1) và
trở thành tài sản chung của nhân loại Khu phố cổ gồm nhiều loại di tích kiến trúc nghệ thuật với những phong cách kiến trúc đa dạng thể hiện sự giao lưu, tiếp biến mạnh mẽ giữa các nền văn hóa trong nước và nước ngoài Việc nghiên cứu về các ngôi nhà gỗ
- những chứng tích vật chất chủ yếu cấu thành Khu phố cổ - có vai trò quan trọng trong việc nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện
hơn về giá trị lịch sử - văn hóa của khu Di sản Thế giới đô thị cổ Hội An
1.2 Các di sản kiến trúc trong Khu phố cổ Hội An hiện nay có niên đại xây dựng phổ biến vào thế kỷ XIX và được làm
chủ yếu bằng gỗ Do chịu nhiều tác động thường xuyên của các yếu tố khí hậu nhiệt đới ẩm (bão lớn, mưa nhiều, nắng gắt, lũ lụt,
nhiệt độ và độ ẩm cao ) lại trải qua thời gian chiến tranh lâu dài nên nhiều di tích đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm
trọng, có nguy cơ sụp đổ (Hình A.2) Việc nghiên cứu, điều tra, xác định những giá trị lịch sử - văn hóa cùng hiện trạng kỹ thuật
để tìm ra những giải pháp gia cố, bảo quản và tu sửa các ngôi nhà gỗ đã và đang là một trong những vấn đề rất bức thiết hiện nay của công tác bảo vệ và phát huy giá trị của khu Di sản Văn hóa Thế giới này
1.3 Khu phố cổ Hội An là một di tích SốNG, là nơi cư trú, hoạt động mưu sinh của con người từ bao đời Việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp phù hợp để bảo tồn tính nguyên gốc của di sản kiến trúc truyền thống trước những áp lực của xu thế
Trang 10hiện đại hóa kiến trúc, của việc phát triển kinh tế du lịch, của việc tăng dân số và nhu cầu nhà ở, đang là vấn đề hết sức bức xúc của địa phương
1.4 Được sự chỉ đạo của lãnh đạo Bộ VH-TT, từ năm 1999, Thị xã Hội An đã có Nghị quyết chuyên đề và lập đề án xây dựng Hội An trở thành đô thị văn hóa đầu tiên trong cả nước vào năm 2005 Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
đề án xây dựng thị xã văn hóa là nghiên cứu, bảo vệ và phát huy vốn di sản văn hóa của tiền nhân, đặc biệt là di sản kiến trúc Khu phố cổ mà loại hình di sản văn hóa vật thể điển hình nhất là những ngôi nhà gỗ
1.5. Cho đến nay đã có khá nhiều (và ngày càng nhiều) công trình nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của
Khu phố cổ Hội An hoặc có liên quan đến Khu phố cổ Hội An Tuy nhiên, chưa có công trình chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu về giá trị lịch sử - văn hóa và các giải pháp bảo tồn các ngôi nhà gỗ trong Khu phố cổ
1.6 Là người sinh ra và lớn lên ở Hội An, lại được đào tạo chuyên ngành lịch sử và 16 năm trực tiếp làm công tác nghiên cứu, quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị Khu phố cổ trong một cơ quan chuyên trách(2) nên nội dung nghiên cứu của luận văn chính là nhiệm vụ chuyên môn của chúng tôi và mục đích nghiên cứu của luận văn cũng đồng thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương
Từ những lý do nêu trên, được sự định hướng của lãnh đạo khoa Sau Đại học (Trường Đại học Văn hoá Hà Nội), được sự
nhất trí thông qua đề cương của Hội đồng khoa học và đặc biệt là được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của Tiến sĩ Trương Quốc
Bình, chúng tôi chọn “Những giá trị lịch sử - văn hóa và định hướng bảo tồn di sản kiến trúc nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội
An” làm đề tài luận văn thạc sĩ văn hóa học của mình
2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 112.1 Khẳng định lại những giá trị lịch sử - văn hóa của Khu phố cổ Hội An, đặc biệt là cung cấp những thông tin cơ bản, chuẩn xác và cập nhật về những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật của loại hình kiến trúc nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội
An
2.2 Xác định những định hướng khoa học và những giải pháp phù hợp để đề xuất với các cơ quan hữu quan các cấp và với lãnh đạo địa phương tổ chức thực hiện việc bảo tồn những ngôi nhà gỗ trong quần thể kiến trúc Khu phố cổ Hội An
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là xác định những giá trị lịch sử - văn hóa và những định hướng bảo tồn các di sản
kiến trúc nhà gỗ (đặc biệt là những ngôi nhà gỗ tiêu biểu) trong Khu phố cổ Hội An
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích nêu trên và trong giới hạn của một luận văn thạc sĩ văn hóa học, phạm vi nghiên cứu của đề tài
được xác định và giới hạn cụ thể như sau:
- Về không gian: Chỉ nghiên cứu về di sản kiến trúc nhà gỗ (một trong hơn 10 loại hình kiến trúc nghệ thuật) trong Khu phố
cổ Hội An (diện tích khoảng 30 ha)
- Về thời gian: Hiện trạng kiến trúc trong giai đoạn hiện nay (có đối chiếu, so sánh với các giai đoạn trước).(Hình C.2)
3.3 Nội dung nghiên cứu:
Đề tài đi sâu nghiên cứu các nội dung cơ bản như sau:
- Những giá trị lịch sử - văn hóa của Khu phố cổ Hội An và đặc biệt là của những ngôi nhà gỗ trong Khu phố cổ nói riêng
Trang 12- Những định hướng và giải pháp bảo tồn những ngôi nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội An trước mắt cũng như lâu dài
4 Phương pháp nghiên cứu:
Xác định tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới giác độ văn hóa học, chúng tôi áp dụng các phương pháp chủ yếu sau đây khi nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Tập hợp các kết quả điều tra, khảo sát tại thực địa để thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu
- Thống kê, phân tích, phân loại đối tượng nghiên cứu
- Đối chiếu, so sánh đối tượng nghiên cứu qua các thời kỳ và với các nơi khác
5 Những kết quả và đóng góp của đề tài:
Đây là đề tài thiên về nghiên cứu ứng dụng nên hy vọng rằng việc vận dụng vào thực tiễn sẽ đem lại một số hiệu quả sau
đây:
5.1 Góp phần nâng cao nhận thức, nhất là đối với nhân dân Hội An, về những giá trị lịch sử - văn hóa của các di sản kiến trúc, đặc biệt là loại hình nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội An, từ đó, nâng cao ý thức trân trọng và bảo vệ những di sản văn hóa của tiền nhân còn được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác mà đến nay nhân dân thị xã Hội An đang là những chủ sở hữu hợp pháp
5.2 Kiến nghị các chính sách, giải pháp phù hợp với lãnh đạo và các cơ quan chức năng của địa phương trong việc quản
lý, bảo tồn và phát huy giá trị những ngôi nhà gỗ trong Khu phố cổ, góp phần đổi mới việc bảo vệ và phát huy khu Di sản Văn hóa Thế giới Hội An
Trang 135.3 Góp phần giải quyết có hiệu quả mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và phát triển, giữa việc bảo tồn nguyên trạng kiến trúc truyền thống với việc đáp ứng nhu cầu dân sinh hiện nay, giữa việc đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch với việc giữ gìn bản sắc văn hóa của Hội An, của Quảng Nam và của cả dân tộc
6 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu (4 trang), kết luận (4 trang), phụ lục (55 trang) cùng danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung chủ
yếu của đề tài được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về Khu phố cổ Hội An
Chương 2: Những giá trị lịch sử - văn hóa của di sản kiến trúc nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội An
Chương 3: Những định hướng và giải pháp bảo tồn di sản kiến trúc nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội An
Trang 14Chương 1
Tổng quan về Khu phố cổ Hội An
1.1 những Đặc điểm về tự nhiên và xã hội của Hội An:
ngạn của sông Thu Bồn, ôm trọn bờ Bắc Cửa Đại Trung tâm thị xã có tọa độ địa lý 15053’ vĩ Bắc, 108020’ kinh Đông, cách
thành phố Đà Nẵng 30km về phía Đông Nam và cách thị xã tỉnh lỵ Tam Kỳ chừng 50km về phía Bắc (Hình 1.1.1a) Hội An được
bao bọc bởi môi trường sông - biển và sự gắn kết của các huyện bạn láng giềng: Đông và Đông Nam giáp huyện Duy Xuyên, Tây
và Tây Nam giáp huyện Điện Bàn, Bắc giáp biển Đông với Cù Lao Chàm che chắn (Hình 1.1.1b)
ha/1.040.514 ha, nghĩa là chỉ chiếm 0,58% tổng diện tích tự nhiên của cả tỉnh Hội An còn tạo nên cảm giác nhỏ bé hơn vì thị xã
lại được chia làm 2 phần riêng biệt: Phần đất liền chỉ có 4.535 ha (74,53%), trong khi đó, phần hải đảo lại có đến 1.549 ha
(25,47%) nhưng gần như toàn bộ là núi đá và rừng Diện tích ấy cũng được phân bổ không đồng đều đối với 12 xã phường trong
thị xã: Trong khi xã đảo Tân Hiệp có diện tích lớn nhất với 1.549 ha chiếm 25,47% diện tích của toàn thị xã thì phường trung tâm
phố cổ (Minh An) chỉ vỏn vẹn có 65 ha (chỉ chiếm 1,06%) [41], [104] (Hình 1.1.2)
hình cồn - bàu cửa sông - ven biển, vừa bị chia cắt bởi hệ thống sông lạch chằng chịt, vừa có biển, có hải đảo, lại vừa có núi, có rừng Theo kết quả nghiên cứu địa chất, các cồn cát cổ nhất của khu vực Hội An được thành tạo từ cách đây 10.000 năm [65], có
nguồn gốc biển (5 - 7m) và sông biển (4 - 6m) Ngoài ra còn có các bãi bồi cao 1 - 1,5m mới được tích tụ khoảng từ 100 - 300
năm, hoặc muộn hơn nữa là các bãi cát ven lòng sông mới có tuổi dưới 100 năm nên rất dễ bị thay đổi [102, 91 - 92]
Trang 151.1.4 Hội An nằm ở cuối sông Thu Bồn - con sông dài và lớn nhất Quảng Nam, đồng thời là một trong những con sông
có lượng nước lớn nhất ở miền Trung, trung bình hàng năm đổ ra biển một lượng nước xấp xỉ 20 km3 [102, 90] Đây là con sông xuất phát từ nguồn Chiên Đàn, chảy theo hướng Đông đến Giao Thủy gặp sông Vu Gia rồi hợp thủy để cùng chảy qua một số vùng đất khác, “đưa thuyền bè chở đầy lâm thổ sản xuôi về Hội An” [118, 20] Ngoài việc nối liền với miền Tây Quảng Nam
bằng các sông lớn như Vu Gia, Thu Bồn, Hội An còn thông với Đà Nẵng ở phía Bắc bằng sông Cổ Cò (Lộ Cảnh Giang) và thông với Tam Kỳ ở phía Nam bằng sông Trường Giang (đây là 2 con sông chạy song song với bờ biển) nên hết sức thuận lợi về giao
thông đường thủy - một yếu tố vô cùng quan trọng làm cho đô thị - thương cảng Hội An hình thành và phát triển thịnh đạt, vàng son trong lịch sử một thời, làm cho:
“Hội An là chốn hữu tình Thuyền buôn thuyền bán rập rình bến sông”
(Ca dao)
Ngược lại, điều kiện “hội thủy” đó cũng làm cho Hội An thường xuyên phải “sống chung” với lũ và “có thể nói chỉ có Hội
An là thị trấn hiếm ở Việt Nam có một số ngày trong năm, đường phố biến thành kinh lạch” [70, 13]
luôn bị biến động các dòng sông thường xuyên đổi dòng nên các cửa biển cũng đã nhiều lần chuyển dời, biến đổi Chắc chắn Đại Chiêm hải khẩu dưới thời Champa không trùng với vị trí Cửa Đại dưới thời Đại Việt, lúc cảng thị Hội An thịnh đạt và càng không nằm ở vị trí của Cửa Đại ngày nay Cho đến trước cuối thế kỷ XVIII, sông Thu Bồn vẫn còn đổ ra biển bằng hai cửa: Cửa Tiểu và
Cửa Đại Cửa Đại (sau này còn gọi là Cửa Lở, Cửa Khâu, nằm ở khu vực bãi tắm Hội An hiện nay) là cửa chính mà các thương
thuyền á - Âu tấp nập vào ra để buôn bán với cảng thị Hội An lúc bấy giờ Đến cuối thế kỷ XVIII, cửa này bị bồi lấp dần(3) và dồn nguồn nước của sông Thu Bồn thoát ra biển bằng Cửa Tiểu, biến Cửa Tiểu thành cửa biển duy nhất của Hội An và dần dần
Trang 16được gọi là Cửa Đại Vị trí của nó cũng thường xuyên không ổn định vì chỉ trong vòng 21 năm thôi, “qua tài liệu ảnh hàng không chụp năm 1964 và năm 1985, ta thấy Cửa Đại đã bị dịch chuyển về phía Nam hàng trăm mét” [102, 96]
tháng 10 đến tháng 3 năm sau) với những đợt gió mùa Đông Bắc có tốc độ cực đại lên đến 40m/s, thường kèm theo mưa, bão, lũ,
lạnh; mùa khô (từ tháng 4 đến tháng 9) với gió Đông Nam mát mẻ và cả gió phơn Tây Nam khô nóng Nhiệt độ trung bình hàng
năm ở Hội An khoảng 25,90C và biên độ trung bình dao động trong khoảng từ 15 - 380C, lạnh nhất là các tháng 12, 1 và nóng nhất là các tháng 7, 8 [41], [64], [113] Độ ẩm không khí ở đây khá cao, trung bình từ 80 - 85% và với lượng mưa trung bình năm
là 2.087mm, Hội An cũng là một trong những vùng đất mưa nhiều
với nhiều loại tôm, cá tươi ngon nổi tiếng; hải đảo có yến sào - một loại thực phẩm và dược liệu siêu việt; rừng cù lao có nhiều lâm sản, dược liệu, động vật quí; đất đai phù sa ven sông màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng, Vì thế mà người xưa đã nhận xét rằng:
“Hội An trăm vật trăm ngon Người thanh cảnh lịch, tiếng đồn chẳng sai”
(Ca dao)
Nhìn chung, điều kiện địa lý tự nhiên Hội An khá thuận lợi cho tiến trình hình thành và phát triển đô thị - thương cảng thời trung - cận đại nếu con người biết khai thác, phát huy lợi thế, tiềm năng của nó
ngay từ đầu thế kỷ XVII, Hoa thương ở đây đã lên đến hơn 6.000 người, đó là chưa thống kê được số lượng khá lớn cư dân bản
địa - người Chăm, người Việt Ngày nay, sự “hội nhân” vẫn đang tiếp tục theo truyền thống nhưng qui mô to lớn hơn, tốc độ
Trang 17nhanh chóng hơn và mục đích cũng đa dạng hơn Theo thống kê mới đây, tính đến ngày 31/12/2001, dân số của toàn thị xã là 79.426 người, cư trú trên một diện tích quá khiêm tốn nên mật độ dân số khá cao: 1.305 người/km2, thậm chí cao nhất lên đến 12.723 người/km2 đối với phường Minh An - trung tâm phố cổ Nhờ thực hiện rất tốt công tác dân số nên từ hơn 10 năm nay, tỉ lệ
tăng dân số tự nhiên hàng năm của Hội An gần như không đáng kể (ví dụ chỉ tăng 1,06% trong năm 2001) nhờ vậy mà áp lực của
việc tăng dân số cũng chưa quá nặng nề [104]
Tổng số lao động trong độ tuổi của Hội An năm 2001 là 44.360 người, phân bổ tương đối đồng đều ở 12 xã phường và trong các ngành nghề kinh tế Nhờ sử dụng khá hợp lý nguồn lao động địa phương nên từ thời kỳ đổi mới đến nay, nền kinh tế thị
xã tăng trưởng cao và ổn định (tốc độ tăng trưởng 10,64% năm 1999, 16% năm 2000 và 15,90% năm 2001), cơ cấu kinh tế cũng
được từng bước chuyển dịch đúng hướng với nhóm ngành mũi nhọn (du lịch - thương mại - dịch vụ) đã vươn lên khẳng định vị trí hàng đầu, chiếm tỉ trọng đến 56,90% trong cơ cấu kinh tế chung của thị xã [104].(Hình 1.1.8a), (Hình 1.1.8b), (Hình 1.1.8c)
thích nghi trong điều kiện của vùng đất mới Đó là làng mộc Kim Bồng với nhiều thế hệ nghệ nhân đã từng tạo dựng đô thị Hội
An từ cuối thế kỷ XVI, góp phần xây dựng cung điện, lăng tẩm Huế vào thế kỷ XIX và thường xuyên trùng tu, tôn tạo di tích kiến trúc phố cổ, đóng sửa tàu thuyền, làm hàng mỹ nghệ cho đến ngày nay Đó là làng gốm Thanh Hà với những sản phẩm gạch, ngói và đồ dùng sinh hoạt phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày của nhân dân địa phương và góp phần kiến thiết, trùng
tu phố cổ Đó là làng yến Thanh Châu đã có gần 4 thế kỷ kinh nghiệm bảo dưỡng, khai thác yến sào - một loại siêu đặc sản được thiên nhiên ban tặng hết sức giá trị về dinh dưỡng, dược liệu Đó là làng rau Trà Quế quanh năm xanh ngát, tỏa hương, cung cấp nguồn rau xanh thơm ngon nổi tiếng cho cả vùng Đó là những làng chài như Võng Nhi, Đế Võng, Phước Trạch, Đại An, Tân Hiệp, ngày đêm đánh bắt, chế biến các loại thủy - hải sản cung ứng cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu sang các thị trường Âu -
á Đó là các làng buôn Hội An, Minh Hương, Cẩm Phô, từng góp phần đắc lực, trực tiếp vào sự phát triển vàng son của cảng thị ngoại thương Hội An trong lịch sử Ngoài ra, Hội An còn nổi tiếng với những món ăn truyền thống đậm đà hương vị quê
Trang 18hương và mang những đặc trưng riêng về văn hóa ẩm thực của một trung tâm giao lưu kinh tế - văn hóa như cao lầu, hoành thánh, bánh đậu xanh, bánh ít, lường phảnh, lục tàu xá, xí mà,
Hà), 6 xã trong đất liền (Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm Hà, Cẩm Kim, Cẩm Nam, Cẩm Thanh) và 1 xã hải đảo (Tân Hiệp) cách đất
liền 15 km(4) Trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của thị xã chủ yếu thuộc phường Minh An Hội An từng là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam suốt trong 2 thời kỳ Pháp - Mỹ đô hộ, từng là đầu não chính trị - quân sự của tỉnh dưới chế độ ngụy quyền
Tóm lại, từ những đặc điểm về tự nhiên và xã hội nêu trên, Hội An có nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành vùng đất rất giàu truyền thống yêu nước - cách mạng(5), rất giàu truyền thống lao động sáng tạo(6) và rất giàu truyền thống văn hóa được hội
tụ, kết tinh qua nhiều thời đại
1.2 Tình hình nghiên cứu về Khu phố cổ Hội An:
Từng là cảng thị ngoại thương quốc tế vang bóng một thời, Đô thị cổ Hội An nói chung, kiến trúc phố thị Hội An nói riêng đã
được sự quan tâm phản ánh của nhiều thương nhân, giáo sĩ, học giả trong và ngoài nước từ rất lâu trong lịch sử Tuy nhiên, do nhiều mục đích khác nhau, dưới nhiều lăng kính khác nhau và bằng nhiều phương thức khác nhau, các tác giả đã phản ánh về Hội An dưới nhiều giác độ và với nhiều sắc độ Hiệu quả tích cực của những mảng phản ánh dường như độc lập, tách rời ấy, nếu được tập hợp, xâu chuỗi một cách có hệ thống, khoa học, sẽ góp phần làm cho bức tranh toàn cảnh về Hội An ngày càng hiện lên rõ nét, đầy đủ, sinh động và chân thực hơn
Dựa vào những xuất bản phẩm đã ấn hành, có thể chia quá trình nghiên cứu về Khu phố cổ Hội An làm hai giai đoạn:
(từ năm 1975 trở về trước):
Trang 19Được hình thành từ cuối thế kỷ XVI và nhanh chóng phát triển vào đầu thế kỷ XVII, cảng thị Hội An đã thu hút đông đảo thương nhân, giáo sĩ các nước Đông - Tây đến đây giao thương mậu dịch và truyền bá tôn giáo Giáo sĩ người ý Cristophoro
Borri (từng đến Hội An trong những năm 1618 - 1621) đã viết “Xứ Đàng Trong năm 1621” [154] Giáo sĩ người Pháp Alexandre
de Rhodes (từ năm 1624 đến 1644 từng đến Hội An 5 lần)(7) đã viết “Từ điển Annam - Lusitan - Latinh” (Còn gọi là Từ điển Việt
- Bồ - La) [165], “Hành trình và truyền giáo” [166] Thương nhân Nhật Bản Chaya Shinrokuro miêu tả hành trình buôn bán và
phố cảng Hội An trong “Giao chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ” vẽ năm 1624
Giữa thế kỷ XVII, học giả Trung Quốc Chu Thuấn Thủy (đến Hội An nhiều lần trong các năm từ 1646 đến 1658)(8) cũng ít
nhiều miêu tả về phố Nhật, phố Khách ở Hội An trong tác phẩm “Ký sự đến Việt Nam năm 1657” [158] Cuối thế kỷ XVII, những ghi chép về Hội An tiếp tục được các thương nhân phương Tây thực hiện bằng các bản báo cáo, tường trình hoặc dưới dạng nhật ký gởi về cho các Công ty Đông ấn Hà Lan, Công ty Đông ấn Anh, Cũng trong thời gian này, nhà sư Trung Quốc
Thích Đại Sán (đến Hội An từ ngày 7/8 đến 22/11/1695) đã biên chép khá chi tiết về cảng thị Hội An trong tác phẩm “Hải ngoại
kỷ sự” [168]
Sang thế kỷ XVIII - XIX, việc phản ánh về Hội An càng được quan tâm hơn do sự xuất hiện các thương nhân, giáo sĩ
ngoại quốc ngày càng nhiều Các tác giả như Piere Poivre (Pháp), Jean Koffler (Bồ Đào Nha), John Barrow (Anh), Le Rey
(Pháp), John White (Mỹ), đã miêu tả khá cặn kẽ, tỉ mỉ về nhiều lĩnh vực của Hội An phố cảng
Nửa đầu thế kỷ XX, các học giả người Pháp như A Sallet, L Mallerret, L Cadiere, cũng quan tâm phản ánh Hội An
dưới nhiều khía cạnh Rồi những năm giữa thế kỷ XX, học giả Trung Quốc Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa) có những bài viết
rất giá trị về tình hình ngoại thương, về di tích kiến trúc Hội An [155],[156]
Trang 20Bên cạnh những công trình biên chép của các tác giả nước ngoài, nguồn sử liệu Việt Nam cũng để lại khá nhiều thông tin thú vị về Hội An trong lịch sử Ghi chép trong nước về Hội An sớm nhất có thể là của Dương Văn An với “Ô châu cận lục” [2] viết năm 1553 Sau đó là Lê Quý Đôn với “Phủ biên tạp lục” [51] viết năm 1776, rồi Trịnh Hoài Đức với “Gia Định thành thông chí”, đặc biệt là các bộ chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn như “Quốc triều chánh biên” [108], “Đại Nam nhất thống chí”
[110], “Đại Nam thực lục (tiền biên)” [109], và sát thực hơn cả là Nguyễn Bạt Tụy với “Những ngôi nhà xưa ở Quảng Nam”,
Ngoài ra, những ghi chép kể trên, danh xưng Hội An, Faifo, cùng nhiều thông tin liên quan khác còn xuất hiện trên bia
“Phổ đà sơn linh trung Phật” (1640), trên các bản đồ của A Rhodes (1653), Pieter Goos (1666), Bình Nam đồ (trong “Hồng Đức
bản đồ”), Robert (1717), Le Harpe (thế kỷ XVIII), Pavie (1903), Caillard (1929),
Nhìn chung, dù được thể hiện bằng hình thức nào thì những thông tin về Hội An trong giai đoạn này chủ yếu là những ghi chép, miêu tả bằng những cảm nhận trực quan mà tác giả chính là những chứng nhân lịch sử, những người trực tiếp sống, họat
động, chứng kiến và ghi lại những gì đã từng hoặc đang diễn ra tại Hội An cảng thị Những thông tin này tuy chưa phải là những công trình khoa học nhưng chúng lại gần gũi, trung thực với lịch sử nên có ý nghĩa hết sức to lớn và tạo tiền đề rất quan trọng cho những công trình nghiên cứu về Hội An trong những giai đoạn tiếp theo
(từ năm 1975 đến nay):
Tiếp sau sự trượt đà suy thoái trong tư cách là một cảng thị ngoại thương quốc tế lại trải qua suốt chặng dài hơn thế kỷ dai dẳng chiến tranh, Khu phố cổ Hội An gần như bị lãng quên hoặc ít nhất cũng bị gạt qua một bên công cuộc nghiên cứu, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Ngay cả khi đất nước hoàn toàn thống nhất thì những vết thương nặng nề của chiến tranh cần phải nỗ lực hàn gắn, rồi phải tất bật lo toan chuyện gạo tiền cơm áo của một xã hội đang còn chồng chất khó khăn, việc nghiên cứu về
Hội An (và không riêng gì Hội An) cũng tất yếu chưa được quan tâm đúng mức
Trang 21Trong điều kiện như vậy, thật đáng quý khi các nhà khảo cổ học thuộc trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã đi tiên phong trong công tác nghiên cứu xứ Quảng từ những năm đầu sau ngày miền Nam giải phóng mà những phát hiện từ trong lòng đất
đã bứơc đầu dựng lên diện mạo thời tiền - sơ sử của vùng đất Quảng Nam Thật đáng quý khi từ những năm 80, Bộ Văn hóa
đã cử các chuyên gia thuộc Trung tâm Thiết kế và Tu bổ di tích vào Hội An thống kê, phân loại, vẽ ghi, lập hồ sơ khoa học về quần thể kiến trúc Khu phố cổ Hàng trăm bản vẽ về di tích kiến trúc của họ là những đóng góp to lớn và được xem như nền tảng ban đầu thuộc lĩnh vực nghiên cứu kiến trúc Hội An
Tháng 3/1985, Bộ Văn hóa ra Quyết định công nhận Khu phố cổ Hội An là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Bốn tháng
sau (tháng 7/1985), cuộc Hội thảo khoa học quốc gia về Khu phố cổ Hội An(9) được tổ chức với 268 nhà khoa học, nhà quản lý tham dự, 36 báo cáo thuộc các lĩnh vực lịch sử, khảo cổ, kiến trúc, ngôn ngữ, bảo tồn, đã được trình bày, thảo luận nghiêm túc tại hội thảo Bức tranh Hội An cả lịch đại lẫn đồng đại đã từng bước được tái hiện, tuy chưa thật đầy đủ nhưng giá trị về lịch sử - văn hóa thuộc Khu phố cổ đã được khẳng định bước đầu Nhiều đề tài khoa học về Hội An đang gợi mở cho hàng loạt công trình nghiên cứu tiếp theo
Tháng 3/1990, cuộc Hội thảo khoa học quốc tế về Hội An(10) đã được tổ chức tại Đà Nẵng, hội thảo có 150 nhà khoa học, nhà quản lý thuộc 9 nước tham dự với 35 tham luận khoa học phân thành 3 nhóm lĩnh vực: lịch sử, khảo cổ - văn hóa, kiến trúc - bảo tồn Hội thảo này là sự kế thừa, phát triển và mở rộng, đi sâu về mặt khoa học so với cuộc Hội thảo quốc gia năm 1985 Chính vì vậy, nhiều vấn đề đã được làm sáng tỏ không chỉ đối với giới khoa học trong nước mà còn đối với cả nhiều nhà khoa học quốc tế Lịch sử cảng thị Hội An càng được tái dựng rõ nét hơn; vai trò, vị trí của Hội An trong lịch sử dân tộc và thế giới càng được đánh giá nổi bật hơn; giá trị văn hóa - nghệ thuật của quần thể kiến trúc Khu phố cổ càng được khẳng định chuẩn xác hơn; trách nhiệm quản lý, bảo tồn di sản văn hóa Hội An càng được xác định cụ thể hơn
Cũng từ đây, các nhà khoa học nhiều ngành đã quan tâm hơn đến Hội An bằng nhiều công trình nghiên cứu rất giá trị Về lịch sử, có tác giả tiêu biểu như Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Dương Trung Quốc, Đỗ Bang, Nguyễn Đình Đầu, Vũ Minh
Trang 22Giang, Về khảo cổ có các tác giả điển hình như Trần Quốc Vượng, Hoàng Văn Khoán, Lâm Mỹ Dung, Nguyễn Chiều, Phạm Quốc Quân, Tống Trung Tín, Về kiến trúc và mỹ thuật có các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Hoàng Đạo Kính, Trịnh Cao Tưởng, Lê Thành Vinh, Chu Quang Trứ, Nguyễn Bá Đang, Trần Lâm Biền, Về bảo tồn có các nhà nghiên cứu, nhà quản lý tiêu biểu như Nông Quốc Chấn, Đặng Văn Bài, Nguyễn Quốc Hùng, Trương Quốc Bình, Nguyễn Hồng Kiên, Các lĩnh vực khác như địa lý - địa chất, địa hình - địa mạo, ngôn ngữ, văn hóa dân gian, về Hội An cũng có nhiều nhà nghiên cứu để lại nhiều công trình khoa học giá trị
Trong giai đoạn này, nhóm nghiên cứu Hội An(11) cũng có nhiều cố gắng trong việc thực hiện một số đề tài nghiên cứu
như “Quá trình hình thành khối cộng đồng cư dân Hội An” (1988), “Bước đầu nghiên cứu về folklore Hội An” (1988), “Tình hình ngoại thương Hội An thế kỷ XVI - XIX” (1988), “Kế thừa và phát huy giá trị văn hóa đô thị cổ Hội An” (1994), “Nghiên cứu khảo cổ văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An” (1995), “Vai trò của Minh Hương xã đối với thương cảng Hội An thế kỷ XVII - XIX” (1997), và những năm gần đây là các đề tài “Danh mục di tích Hội An” (2000), “Văn hóa ẩm thực ở phố cổ Hội An” (2000),
“Công cụ đánh bắt sông nước truyền thống ở Hội An” (2001), Những đề tài này đã đi sâu nghiên cứu về một số vấn đề lịch sử -
văn hóa Hội An và đã đem lại những thành quả nhất định
Ngoài ra, Khu phố cổ Hội An còn là đề tài cho hàng chục luận văn tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của
sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế (nhất là Nhật Bản) về các lĩnh vực lịch sử, khảo cổ, kiến trúc, văn hóa,
Trong đó, đáng kể nhất là luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quốc Hùng: “Phố cổ Hội An và việc giao lưu văn hóa ở Việt Nam” được xuất bản tại Đà Nẵng năm 1995 [66]
Trong công trình này, tác giả Nguyễn Quốc Hùng đã dày công nghiên cứu và đưa ra những thông tin quý giá về lịch sử hình thành, phát triển Khu phố cổ Hội An, các loại hình di tích kiến trúc trong Khu phố cổ Hội An cùng với đặc điểm, vai trò, giá trị của nó trong lịch sử Hội An cũng như trong kho tàng di sản văn hóa kiến trúc của dân tộc
Trang 23Có thể xem đây là đề tài gần gũi nhất, sát hợp nhất với nội dung đề tài mà chúng tôi đang thực hiện Tuy vậy, nội dung
luận án của TS Nguyễn Quốc Hùng là đưa ra cái nhìn tổng thể về các loại hình di tích kiến trúc trong Khu phố cổ Hội An (gồm
9 loại hình: nhà ở, đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ họ, hội quán, cầu, giếng) chứ chưa thật sự đi sâu nghiên cứu về những giá trị
lịch sử - văn hóa và những định hưóng bảo tồn của một loại hình kiến trúc tiêu biểu nhất, cơ bản nhất và chiếm số lượng nhiều nhất trong Khu phố cổ Hội An, đó là những ngôi nhà cổ
Chính vì thế, với thái độ trân trọng và lòng biết ơn những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước đã cung cấp nhiều thông tin về Khu phố cổ Hội An hết sức bổ ích và giá trị Chúng tôi đã cố gắng tham khảo, kế thừa có chọn lọc và trung thực nguồn tư liệu quý báu đó trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
1.3 Khái quát về lịch sử Khu phố cổ Hội An:
Lịch sử Hội An có thể chia làm 3 thời kỳ cơ bản:
1.3.1 Thời kỳ Tiền - Sơ Sử (từ thế kỷ II trở về trước):
Do có nhiều yếu tố thuận lợi nên từ hơn 3.000 năm trước, mảnh đất này đã là nơi cứ trú của con người thời tiền - sơ sử mà những di tích văn hóa Sa Huỳnh tim được ở Hội An là những chứng cứ vật chất sinh động Qua kết quả nghiên cứu khảo cổ
học tại các di chỉ cư trú và di tích mộ táng như Hậu Xá, An Bang, Thanh Chiếm, Trảng Sỏi (Thanh Hà), Xuân Lâm (Cẩm
Phô), Bãi Ông (Tân Hiệp), với nhiều loại hình mộ chum đặc trưng, với những công cụ sản xuất, công cụ sinh hoạt, đồ trang
sức tuyệt xảo bằng đá, gốm, thủy tinh, kim loại, được lấy lên từ lòng đất đã khẳng định sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa
Sa Huỳnh trong thời tiền - sơ sử Đặc biệt, việc phát hiện 2 loại tiền đồng Trung Quốc thời Hán (đó là các loại tiền Ngũ Thù,
Vương Mãng từ thế kỷ II BC - thế kỷ I), những hiện vật sắt kiểu Tây Hán, dáng dấp Đông Sơn, óc Eo, hoặc đồ trang sức với
Trang 24kỹ thuật chế tác tinh luyện trong các hố khai quật đã chứng minh một điều thú vị rằng, ngay từ đầu công nguyên đã diễn ra các hoạt động giao thương quốc tế ở Hội An
1.3.2 Thời kỳ Champa (Thế kỷ II - thế kỷ XV):
Dưới thời Champa (nhất là trong các thế kỷ IX - X), Lâm ấp phố, Hội An đã từng là cảng thị phát triển, thu hút nhiều
thương thuyền Arập, Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, đổi trao vật phẩm mà hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của người Chăm lúc bấy giờ là tơ tằm, ngọc trai, đồi mồi, vàng, trầm hương, nước ngọt, Nhiều thư tịch cổ ghi nhận đã có một thời gian khá dài, Chiêm cảng - Lâm ấp phố đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc tạo nên sự hưng thịnh của Kinh thành Trà Kiệu và Trung tâm tôn giáo - tín ngưỡng Mỹ Sơn Với những phế tích móng tháp Chăm, những giếng nước Chăm và những pho tượng Chăm
(tượng Vũ Công Thiên Tiên Gandhara, tượng Nam thần Tài lộc Kubera, tượng Voi thần ) cùng những mảnh gốm - sứ Trung
Quốc, Đại Việt, Trung Cận Đông thế kỷ II - XIV được phát hiện càng làm sáng tỏ giả thiết từng có một Lâm ấp phố (thời
Champa) trước Hội An (thời Đại Việt), từng tồn tại một Chiêm Cảng với nền mậu dịch hàng hải phát triển phồn thịnh
Song, thời kỳ huy hoàng của vương quốc Champa cũng khá ngắn ngủi do cuộc chiến tranh liên miên giữa Champa và Đại
Việt Các cuộc Nam tiến thời Lê (Hồng Đức - 1471) đã kéo dài biên giới Đại Việt vào đến đèo Cù Mông và của chúa Nguyễn Phúc Trăn (1693) đã làm cho bản đồ Champa không còn trên thực tế
Tuy vậy, người Việt vào cư trú ở Hội An từ cuối thế kỷ XV vẫn chung sống hòa bình với một bộ phận người Chăm vốn đã
định cư trước đó, các di tích, địa danh Champa vẫn được người Việt trân trọng giữ gìn Cộng đồng người Chăm đã trở thành một dân tộc thiểu số trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam và di sản vật chất - tinh thần của họ đã tạo tiền đề tích cực cho thời kỳ
kế tiếp
1.3.3 Thời kỳ Đại Việt - Việt Nam (từ thế kỷ XV đến nay):
Trang 25Đây là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hội An vì nó đã sản sinh, nuôi dưỡng và tạo nên tên tuổi lừng vang cho cảng thị Hội An trong quá khứ, đồng thời nó cũng trực tiếp để lại cho con người hôm nay một di sản văn hóa thế giới - Đô thị cổ Để
có cái nhìn rõ ràng hơn, chúng tôi chia thời kỳ này làm 2 giai đoạn:
1.3.3.1 Giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX:
Đây là giai đoạn hình thành, phát triển và suy thoái của cảng thị Hội An Căn cứ vào nội dung bia mộ của một ông tổ tộc
Trần lập năm 1498 tại làng Võng Nhi (nay là thôn 6, xã Cẩm Thanh), chúng ta biết rằng muộn nhất là đến năm 1471, người Việt
đã đặt chân đến Hội An để thực hiện việc “Nam tiến bình Chiêm” và sau đó là khai hoang mở cõi Từ đó, vốn mang trong mình truyền thống cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, biết kế thừa những tinh hoa của người Chăm để lại và biết tận dụng, khai thác hợp lý các điều kiện tự nhiên môi trường, người Việt vào đây đã nhanh chóng biến vùng đất này thành nơi giàu
có về hàng hóa, sản vật để rồi tạo thành hấp lực ngày càng to lớn thu hút các thương khách Đông - Tây
Nhờ biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố nội sinh (môi trường tự nhiên thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào, chính
sách mở cửa của các Chúa Nguyễn, ) với các yếu tố ngoại sinh (xu thế phát triển hàng hải quốc tế với các cuộc Đông tiến tìm kiếm thị trường của các nước phương Tây, chính sách cấm vận của nhà Minh làm cho các thương nhân Trung Hoa, Nhật Bản muốn có một thị trường trung gian để giao thương mậu dịch, ) nên bắt đầu từ giữa thế kỷ XVI, Hội An đã đón nhận các thương
thuyền ngoại quốc đến trao đổi, mua bán ngày càng nhiều Người Bồ Đào Nha đến đặt quan hệ giao thương chính thức với Hội
An từ năm 1540, rồi người Hoa từ năm 1577, người Nhật từ năm 1592, người Hà Lan từ năm 1636, người Anh từ năm 1695, người Pháp từ năm 1741,
Việc Chúa Nguyễn cho phép các thương nhân Hoa, Nhật được chọn đất để lập phố định cư, buôn bán tại Hội An cộng với việc thương thuyền, thương khách quốc tế đến Hội An ngày càng tăng, qui mô, khối lượng hàng hóa trao đổi ngày càng lớn, đã làm cho đô thị thương cảng Hội An nhanh chóng hình thành từ cuối thế kỷ XVI và phát triển về nhiều phương diện trong các thế
kỷ tiếp theo
Trang 26Giáo sĩ người ý Cristophoro Borri, người đến truyền giáo tại Hội An từ năm 1618 - 1621, trong tác phẩm “Xứ Đàng Trong năm 1621” đã nhận xét: “Chỉ trong khoảng hơn 100 dặm một chút mà người ta đếm được hơn 60 cảng, tất cả đều rất thuận tiện
để cập bến và lên đất liền Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam” [154, 91]
Với ưu thế nằm ở cửa sông - ven biển, chỉ cách cửa biển chừng 5 km, phía ngoài lại có Cù Lao Chàm che chắn, bảo vệ nên Hội An được đánh giá như một hải cảng lý tưởng vào thời đó, nhờ vậy mà thương thuyền ngoại quốc tấp nập vào ra nơi này
Đầu thế kỷ XVII, đô thị Hội An đã có qui mô khá lớn gồm 2 khu phố: Phố khách của người Hoa và phố Nhật của người Nhật
mà theo mô tả của C.Borri thì:
Chúa Đàng Trong xưa kia cho người Nhật, người Tàu chọn một địa điểm và nơi thuận tiện để lập một thành phố
Thành phố này gọi là Faifo (Hội An), một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có hai thành phố, một phố
người Tàu và một phố người Nhật Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng [154, 92]
Trong thời gian này, người Nhật nắm giữ vai trò chủ đạo tại cảng thị Hội An và có quan hệ hết sức gần gũi, mật thiết với các Chúa Nguyễn, đến nỗi các thương khách Châu Âu xem Hội An như là hải cảng của người Nhật Về qui mô buôn bán, chỉ cần phân tích những số liệu sau đây, mới thấy người Nhật đã quan tâm đến cảng thị Hội An đến mức nào: Trong 30 năm dưới thời
Mạc Phủ (1604 - 1634), số thương thuyền Nhật Bản (Châu ấn thuyền) được cấp giấy phép đến buôn bán tại 19 cảng của các nước
Đông Nam á là 331 chiếc, trong đó, đến Việt Nam 130 chiếc (chiếm 39,27%) mà chủ yếu là đến Hội An (86 chiếc, chiếm đến
66,15% tổng số thuyền đến Việt Nam) [53, 207] Trong số 19 cảng thuộc các nước Đông Đông Nam á ấy, các Nhật thương chỉ
chọn (và được cho phép) 4 địa điểm lý tưởng để xây dựng phố phường và cư trú, bán buôn Ngoài Hội An của Việt Nam, còn có
Manila của Philippines, Phnôm Pênh của Campuchia và Ayutthaya của Thái Lan; chỉ riêng ở Hội An, họ đã có đến hơn 1.000 người
Trang 27Trong bức tranh “Giao chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ” do thương nhân Nhật Bản nổi tiếng Chaya Shinrokuro vẽ năm 1624,
phố Nhật ở Hội An được vẽ gồm 2 dãy, dài hơn 3 đinh (khoảng 300m) [163, 194] và cơ bản trùng với đường Trần Phú hiện nay (Hình 1.3.3.1a)
Cùng với dấu chân của các thương nhân, nhiều giáo sĩ Thiên Chúa Giáo phương Tây cũng đến Faifo (tên gọi phổ biến của
Hội An lúc bấy giờ) để truyền bá tôn giáo Ngoài C.Borri, giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes cũng đã đến và làm việc tại
Hội An trong những năm 1624 - 1644 Ông là người có công biên soạn nhiều công trình phiên âm la tinh tiếng Việt và có nhiều tác phẩm rất giá trị về cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài Trong cuốn “Từ điển Việt - Bồ - La” xuất bản tại Rome năm 1651, có xuất hiện từ “Hoài phô” và ông giải thích: “Hoài phô: một làng trong xứ Cô-sinh mà người Nhật ở và gọi là Faifo” [165, 117] Trong tác phẩm “Hành trình và truyền giáo” xuất bản tại Paris ngày 20/10/1653, ông cũng cho biết Hội An là “nơi người Nhật
đến buôn bán rất sầm uất” [166, 90-91]
Vào giữa thế kỷ XVII, một danh sĩ người Trung Hoa tên là Chu Thuấn Thủy, ông là người chủ trương “bài Thanh phục
Minh”, trong khoảng 2 tháng rưỡi ở Hội An (từ 17/3 đến 2/6/1657) cũng cho biết rằng, ông “không ở phố Khách mà cư ngụ ở
phố Nhật, thuê nhà chung với 3 người Nhật” [158, 12]
Đang đà phát triển thịnh vượng như vậy nhưng lại chịu sự tác động nghiệt ngã của chính sách cấm vận của chính quyền
Nhật Bản (bắt đầu thực hiện từ năm 1637), hầu hết các thương nhân Nhật Bản tại cảng thị Hội An đã buộc phải trở về chính quốc
và nhường hẳn vai trò chủ đạo cho các Hoa thương, Việt thương Người Việt, người Hoa tiếp tục mở mang phố thị, khuếch trương nền ngoại thương hàng hải và đưa cảng thị Hội An phát triển lên những tầm cao mới
Cuối thế kỷ XVII, vào năm 1695, thương nhân người Anh Thomas Bowyear đến đặt quan hệ buôn bán tại Hội An, đã thuật lại rằng “Phai Phô gồm một con đường phố trên bờ sông và 2 dãy nhà, có khoảng 100 nóc nhà của người Tàu, cũng có 4-5 gia đình người Nhật Bản” [75, 421] Cùng trong năm đó, nhà thiền sư Trung Hoa Thích Đại Sán cũng được Chúa Nguyễn mời sang truyền giáo ở Đàng Trong Trong 3 tháng rưỡi ở Hội An, ông mô tả khá tỉ mỉ:
Trang 28Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập họp của khách hàng các nước; thẳng bờ sông, một con đường dài 3 - 4 dặm, gọi
là Đại Đường cái, hai bên đường hàng phố ở liền nhau khít rịt, chủ phố thảy đều người Phúc Kiến, vẫn ăn mặc theo lối tiền triều nhân dân đông đúc, cá tôm rau quả tập họp mua bán suốt ngày Thuốc Bắc hay các hàng khác tìm mua ở Thuận Hóa không có thì người ta vào mua ở đây [168, 154]
Về mật độ tàu thuyền vào ra cửa Đại, ông cũng cho biết chúng dày đặc đến mức mà “xa trông cách bờ, cột buồm như rừng tên xúm xít, hỏi ra mới biết đó là đoàn thuyền chở lương, đậu chờ gió tại cửa Hội An” [168, 146]
Lúc này, người Hoa ở Hội An đã lên đến khoảng 6.000 người, gồm 2 cộng đồng: Hoa Ngũ Bang(12) cư trú theo chế độ Hoa kiều và Hoa Minh Hương được Chúa Nguyễn cho phép nhập vào quốc tịch Đại Việt Họ vươn lên nắm giữ vai trò chủ chốt của thương trường Hội An và tiếp tục đẩy mạnh quan hệ giao thương với các thương khách quốc tế khác, đặc biệt là Nhật Bản Từ năm 1647 đến 1720, trong tổng số 663 thương thuyền Trung Hoa từ 8 cảng lớn của Đông Nam á đến Nhật Bản, đã có tới 203
thương thuyền (chiếm 30,61%) đến từ Hội An [161, 101]
Nhận xét về vai trò của Hội An giai đoạn này, TS Nguyễn Quốc Hùng đã viết: “Có thể nói mà không sợ quá lời rằng sang thế kỷ XVII, Hội An không chỉ đóng khung tầm mức của mình như một đô thị thương cảng quan trọng của Đàng Trong mà bắt
đầu mở rộng qui mô để đóng vai trò một trung tâm thương nghiệp ở Đông Nam á” [66,27] Phạm Hoàng Hải cũng đánh giá tương tự: “Cũng như Macao lúc đó, Hội An đã nhanh chóng trở thành một thương cảng quốc tế quan trọng, mang dáng dấp của một “đặc khu kinh tế” phát triển nhất Đông Nam á” [55, 32] Còn Elka Ray thì hơi quá đề cao Hội An khi cho rằng “dường như cả thế giới đã về đây họp chợ” [164, 52]
Sang thế kỷ XVIII, đô thị - thương cảng Hội An vẫn tiếp tục phát triển và trở thành cảng thị ngoại thương quốc tế nổi tiếng của cả khu vực Đông Nam á Năm 1748, thương nhân kiêm giáo sĩ người Pháp Piere Poivre đã viết: “Faifo là nơi thương mãi thịnh hơn cả của Đàng Trong, có gần 6.000 người Tàu, hạng thương gia lớn ở đó” [75, 439] Và, có lẽ, người cho chúng ta hình
Trang 29dung một Hội An rõ nét nhất là nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn trong tác phẩm “Phủ biên tạp lục” viết năm 1776 Ông ghi lại lời kể của một thương nhân họ Trần người Quảng Đông, rằng:
Thuyền từ Sơn Nam về thì chỉ mua được một thứ củ nâu, thuyền từ Thuận Hóa về cũng chỉ có một thứ hồ tiêu, còn
từ Quảng Nam về thì các hàng không món gì không có, các nước phiên không kịp được Phàm hóa vật sản xuất ở các phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Bình Khang và dinh Nha Trang, đường thủy đường bộ, đi thuyền
đi ngựa, đều hội tập ở phố Hội An, vì thế, người khách phương Bắc đều đến tụ tập ở đấy để mua về nước Trước đây, hàng hóa nhiều lắm, dù trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được [51, 234]
Tuy nhiên, những biến cố chính trị khôn lường xảy ra vào nửa cuối thế kỷ XVIII như “dội gáo nước lạnh” vào bộ mặt kinh
tế ngoại thương hết sức sáng sủa của Hội An, làm cho Hội An chững lại trên đường phát triển để rồi trượt xuống dần phía bên kia sườn dốc Đó là cuộc giao tranh khốc liệt giữa quân đội Tây Sơn và nhà Trịnh diễn ra vào năm 1775 mà hậu quả của nó là sự đổ nát, hoang tàn Viên ngự y của Chúa Nguyễn Phúc Khoát, người Đức, tên là Jean Koffler, lúc này đang ở Phú Xuân, có dịp vào Hội An và nhận xét: “Quân Trịnh đã tàn phá thành phố Faifo, làm ngưng trệ mọi hoạt động trong một thành phố có thể gọi là một trung tâm lớn của nền ngoại thương” [66, 28]
Ngày 30/8/1778, thương nhân người Anh M Chapman ghi trong nhật ký: “Thành phố này bị chiến tranh tàn phá gần hết, chỉ còn trơ trọi những mảng tường cháy nham nhở Hội An xưa là nơi đô hội, nhà cửa bằng gạch ngói san sát, đường đi lát đá nay chỉ còn thấy một sự đổ nát mà không ngăn nổi kinh dị” [76, 47] Hai năm sau, 1780, thương nhân người Pháp Ch Maybon
đến Hội An, cũng chứng kiến cảnh tượng tương tự: “Không còn tìm thấy vết tích gì của những nhà cửa lợp ngói trước kia ngoài vài mảnh tường như đã bị đốt cháy Toàn bộ các nhà cửa, phố phường bị san phẳng và phá hủy đến tận chân móng” [76, 47]
Sau khi chiến thắng, quân Trịnh rút về Đàng Ngoài, nhà Tây Sơn phải dốc sức khắc phục hậu quả của chiến tranh và dần dần phục hồi nền kinh tế thương nghiệp Sau một thời gian củng cố lại các tổ chức quản lý kinh tế đối ngoại, lập Tàu ty vào năm
1797 thay cho Ty Tàu vụ của các Chúa Nguyễn trước đó, khuyến khích các thương nhân Hoa, Việt khôi phục, mở rộng việc
Trang 30doanh thương, nhà Tây Sơn đã làm cho nền ngoại thương hàng hải ở cảng thị Hội An có những hồi sinh nhất định Tuy không giữ vai trò cốt yếu ở Đàng Trong như trước nữa song Hội An vẫn được sử dụng làm nơi hội tụ để đổi trao hàng hóa, sản vật giữa
thuyền buồn các nước vì nguồn lợi nhuận thu được từ những món hàng chiến lược (như yến sào, đường, vàng, trầm hương, tơ
lụa, ) ở đây vẫn còn béo bở rất nhiều Dưới con mắt người Pháp, Hội An có vị trí rất quan trọng, vì thế, trong Hiệp ước Véc xây (1787), Pháp buộc nhà Nguyễn phải nhường Hội An và Côn Đảo thì mới giúp Nguyễn ánh đánh lại Tây Sơn
Thương nhân người Anh John Barrow đến và vẽ bức tranh nổi tiếng “Trên sông Faifo” năm 1793 (Hình 1.3.3.1b), một mặt
thừa nhận hậu quả đổ nát của Hội An sau chiến tranh, ông viết rằng: “ở đây đã trải qua một cuộc cách mạng, xem lại đây còn dấu vết xiêu đổ của những kiến trúc đẹp đẽ và rộng rãi” [76, 47], mặt khác, ông cũng cho biết tình hình hoạt động của phố cảng bấy giờ: “Cuộc cách mạng dây dưa nhiều năm trên đất này Nhưng tình hình bất an ấy không làm cho hoạt động nông nghiệp và mậu dịch bị tuyệt diệt Hàng năm, tàu buôn Trung Quốc đến nhiều Ngoài ra, còn có tàu của các nước khác” [66, 29]
Như trên đã trình bày, bên cạnh việc đô thị bị tàn phá nặng nền bởi chiến tranh, giai đoạn này, Hội An còn bị một số yếu
tố bất lợi của tự nhiên tác động Đó là sự bồi lấp dần của sông Cổ Cò làm cho sự thông thương giữa Hội An và Đà Nẵng gặp nhiều trở ngại, ách tắc Đó là sự bồi cạn dần cửa biển Cửa Đại, làm cho các thương thuyền có trọng tải lớn khó có thể vào ra Đây
là những dấu hiệu tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của nền ngoại thương thuyền buồm thời trung đại
Mặc dù vậy, do có sức sống mãnh liệt được tích tụ từ trong quá khứ nên cảng thị Hội An vẫn không bị hoàn toàn tê liệt trước những thử thách dồn dập Đầu thế kỷ XIX, Hội An vẫn mang dáng vẻ một khu thương nghiệp hoạt động nhộn nhịp trên bến dưới thuyền Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn có đoạn chép: “Nơi Hội An, Minh Hương phố xá
đông đúc làm chỗ buôn bán đô hội, thực là nơi đô thị lớn và là một tỉnh lớn trong khu Nam Trực vậy trên bờ hai bên phố nhà ngói liên tiếp chừng 2 dặm, dưới sông thuyền ghe tấp nập đi lại như mắc cửi” [66, 30] Năm 1819, thuyền trưởng Rey của tàu Henry có dịp đến Hội An đã ghi trong nhật ký: “Hội An là một cửa hàng bách hóa lớn thành phố chỉ có một con đường khá
Trang 31dài thành phố có đến 6 vạn dân mà một phần ba là người Trung Hoa [66, 31] “ Các dãy đều xây bằng gạch và chỉ có một tầng, tất cả đều được bố trí để buôn bán, phía sau là những nhà kho kín đáo” [67, 42] Con đường khá dài ở đây chạy dọc theo bờ sông Hoài và cơ bản trùng với đường Trần Phú hiện nay Ngoài phố chính đó ra, đến năm 1841, bờ sông được mở rộng về phía Nam nên mở thêm đường Nguyễn Thái Học và đến năm 1886, bờ sông lại tiếp tục được mở rộng và đường Bạch Đằng được hình thành Cho đến giữa thế kỷ XIX, tỉ lệ dân cư thành thị ở nước ta chưa đến 1% tổng dân số, ngay cả Chợ Lớn cũng chỉ có khoảng 4-5 vạn người, trong khi đó, Hội An có đến 6 vạn người , quả là một đô thị đông đúc, sinh động !
Đến cuối thế kỷ XIX, sông Cổ Cò được bồi lấp nhiều đoạn, chính thức cắt đứt tuyến giao thông đường thủy Hội An - Đà Nẵng, Cửa Đại lại bị bồi cạn hơn, do vậy, Hội An gần như nằm trong thế cô lập trong khi khối lượng hàng hóa vẫn còn phong
phú, dồi dào Trước tình hình đó, Phòng Thương Mại Đà Nẵng (lúc này đã do người Pháp nắm giữ ) đưa ra hai phương án nhằm
duy trì giao thông thương mại với Hội An : Phương án 1 là nạo vét sông Cổ Cò và một số tuyến sông khác ; phương án 2 là xây dựng tuyến đường sắt Đà Nẵng - Hội An và sau khi tính toán kỹ lưỡng, phương án 2 đã được lựa chọn thực hiện Thế là từ năm
1904, tuyến đường sắt Decauville dài gần 30 km nối liền Đà Nẵng - Hội An đã hoàn thành, góp phần chuyển vận hàng hóa và sau đó là hành khách giữa hai đô thị Lúc này, tàu lớn chỉ vào được cửa Hàn- Đà Nẵng và đợi nhận hàng, vì thế, tuyến đường sắt này đã đóng vai trò quyết định trong việc vận chuyển hàng hóa từ Hội An ra Nhưng rồi, năm 1916, một cơn bão lớn đã đổ bộ vào vùng này, làm vùi lấp và hỏng nhiều đoạn đường ray, thế là năm sau, tuyến đường sắt mới chỉ 13 tuổi này đã không còn hoạt
động nữa
Tuy sứ mạng lịch sử của đường sắt Decauville khá ngắn ngủi nhưng có thể nói, việc đầu tư tiền của, công sức để xây dựng
nó và thời gian hoạt động của nó là một dấu hiệu cho thấy đến giai đoạn này Đà Nẵng vẫn chưa thay thế được Hội An mà phải
đến mấy chục năm sau, khi các thương nhân Pháp, Hoa, Việt có đủ thời gian gây dựng cơ sở vững chắc tại Đà Nẵng thì thành phố nhượng địa trẻ tuổi này mới thực sự vươn lên đảm nhận vai trò là một cảng thị quốc tế của miền Trung trong thời hiện đại, đồng thời đánh dấu sự chấm hết của Hội An phố cảng vốn một thời phát triển vàng son Thế là, “từ một cảng nhộn nhịp nhất và lớn nhất của Nam Hải ngoài Trung Hoa, Hội An chỉ còn là một thị trấn nhỏ nằm im lìm bên bờ sông Thu Bồn” [161, 218]
Trang 321.3.3.2 Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến nay:
Sau khi kết thúc vai trò cảng thị ngoại thương hàng hải quốc tế, Hội An chỉ còn là một đô thị nội thương của khu vực, các hoạt động sản xuất, dịch vụ, bán buôn chỉ duy trì ở mức bình thường Tuy vậy, phố xá vẫn được chỉnh trang, mở rộng; các hạng mục cơ sở hạ tầng của một đô thị vẫn được đầu tư xây dựng, nâng cấp; bên cạnh khu phố cổ với các dãy phố dọc bờ sông như Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Minh Khai, Bạch Đằng đã có thêm những đường phố khác của người Việt, người Pháp mọc lên về phía Đông, phía Bắc như Phan Chu Trinh,Phan Bội Châu, Trần Hưng Đạo, và các dãy phố cắt ngang như Lê Lợi,
Trần Quý Cáp, Hoàng Diệu, (Hình 1.3.3.2a) Ngoài phường Minh An, ở trung tâm đô thị còn có thêm các phường nội ô khác
như Cẩm Phô, Sơn Phong và nay đã có thêm 2 phường nữa là Thanh Hà và Tân An Các khu dân cư mới đã được qui hoạch về phía Bắc đô thị để mở rộng không gian nhằm giảm bớt mật độ dân số trong Khu phố cổ, đồng thời đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn thị xã Từ chỗ là một đô thị hình thành và phát triển một cách tự phát, Hội An ngày càng được chỉnh trang, cải tạo theo qui hoạch đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt và ngày nay, khu đô thị không ngừng được mở rộng, nông thôn ngày càng chuyển hóa thành phố phường
Song song với việc phát triển đô thị theo xu thế hiện đại và để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội xứng với vai trò
đầu đàn của tỉnh Quảng Nam, Hội An vừa trân trọng, giữ gìn quần thể kiến trúc Khu phố cổ và xem đó là báu vật để lại của các
lớp tiền nhân (Hình 1.3.3.2b)
Như vậy, điểm qua các thời kỳ lịch sử của Hội An, chúng ta thấy rằng đô thị - thương cảng cửa sông - ven biển Hội An đã
được hình thành từ cuối thế kỷ XVI trên cơ sở kế thừa thành tựu của các thời kỳ tiền - sơ sử, thời kỳ Champa trước đó, phát triển phồn thịnh trong các thế kỷ XVII, XVIII với tư cách là một cảng thị ngoại thương hàng hải quốc tế quan trọng bậc nhất của Đàng Trong, Việt Nam Thế nhưng, thời kỳ sung mãn của nền kinh tế ngoại thương Hội An cũng chỉ kéo dài trong hơn 2 thế kỷ Từ nửa sau thế kỷ XIX, do chịu tác động của nhiều yếu tố bất lợi, “cảng thị truyền buồm” Hội An suy thoái dần và mất hẳn, nhường vai trò lịch sử của mình cho “cảng thị thuyền máy” Đà Nẵng Nhưng cũng nhờ đó, Hội An đã tránh được những biến dạng của
Trang 33một thành thị trung - cận đại dưới tác động của quá trình đô thị hóa hiện đại để một quần thể di sản kiến trúc đô thị cổ độc đáo còn được bảo tồn cho đến ngày nay
Đánh giá về vai trò của cảng thị Hội An đối với xứ Đàng Trong, đối với cả nước và khu vực, nhiều học giả đã nhận địnhnhư sau:
Xét về loại hình đô thị, GS Lê Văn Lan cho rằng: “Các đô thị trung cổ Việt Nam phần lớn lại được ra đời do một quyết
định của Nhà nước quân chủ” , gồm 2 từ tố: đô (thành, trấn, dinh, ) và thị (phố, phường, ) trong đó, “thị” có vai trò phụ
thuộc, thị tì “Có lẽ chỉ thấy Hội An là một trong rất ít trường hợp có vẻ ngoại lệ của mối tương quan và cấu trúc đô thị này” [82, 262] “Tại đô thị cổ này, yếu tố “thị” nổi trội hơn, nếu không nói là lấn át yếu tố “thành”” [42, 33] GS Trần Quốc Vượng cũng xem Hội An là “một đô thị thuần thương nghiệp, một thương cảng cửa sông - ven biển mà chức năng chủ yếu là ngoại thương” [145, 101]
Nếu trong những thế kỷ VIII-X, với những cái tên như Lâm ấp phố, Đại Chiêm hải khẩu, Hội An đã từng là trung tâm
kinh tế trọng yếu của vương quốc Champa, là chỗ dựa vững chắc cho kinh thành Trà Kiệu (trung tâm chính trị) và thánh địa Mỹ Sơn (trung tâm tôn giáo - văn hóa), làm cho Nhà nước Champa là một đối trọng đáng nể của Nhà nước Đại Việt, thì trong các thế
kỷ XVI-XVIII, cảng thị ngoại thương Hội An lại nắm giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong
“Chính thương nghiệp đã làm cho vương quốc mới của Việt Nam, chỉ trong vòng ít thập niên, trở nên giàu có và đủ mạnh để có thể duy trì được nền độc lập của mình đối với phía Bắc và mở rộng về phía Nam” [161, 85] Với ý nghĩa này, “Hội An, cảng quan trọng bậc nhất của Đàng Trong, có thể được coi như một điển hình của những bước thăng trầm của nền kinh tế của họ Nguyễn” Một học giả Trung Quốc - TS Li Tana - đã đánh giá về Hội An như vậy [161, 217]
Và, cùng với những dấu tích của quá trình “mang gươm đi mở cõi” để có được một đất nước với hình thể cong cong như chữ S hiện nay, phải thừa nhận rằng các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã cởi mở hơn trong nền kinh tế đối ngoại, đã tạo dựng Hội
An thành khu “kinh tế mở” đầu tiên và rất thành công trong xứ PGS.TS Hoàng Đạo Kính nhận định: “Vai trò kiệt xuất của cảng
Trang 34thị Hội An với tư cách là một cái cửa sổ đục thủng ra thế giới của một quốc gia vốn chưa chú trọng việc hướng ra biển, sẽ được nhìn nhận đầy đủ hơn lúc này, khi nước ta đã nắm lấy cơ may hòa nhập vào cộng đồng nhân loại” [81, 445]
Lịch sử đã đi qua, thịnh - suy, thăng - trầm đã trở thành qui luật tất yếu của bất cứ quốc gia, dân tộc, vùng đất nào trong tiến trình phát triển và Hội An cũng không là ngoại lệ
Hội An không phải là đô thị cổ xưa nhất, tuổi thọ không phải dài lâu nhất, qui mô không phải to lớn nhất ở Việt Nam, nhưng với loại hình cảng thị cửa sông - ven biển nên có vai trò, vị trí quan trọng và hình thành nên những giá trị lịch sử - văn hóa
độc đáo riêng không nơi nào có được Điều đặc biệt quan trọng là cho đến nay đô thị cổ Hội An hiện tồn gần như nguyên trạng, trong khi đó, trải qua các biến thiên lịch sử, dưới tác động của chiến tranh, của xu thế hiện đại hóa kiến trúc và các điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, hầu hết các đô thị cổ khác ở Việt Nam nói riêng và không ít các quốc gia khác trên thế giới đều đã
bị hủy hoại hoặc biến dạng hoàn toàn “Di tích Đô thị cổ Hội An còn được bảo tồn đến nay là trường hợp duy nhất của Việt Nam
và cũng là trường hợp hiếm có trên thế giới” [86, 15]
Gần nửa thế kỷ tính từ lần đầu “theo cha vào thăm phố Hội An”, tháng 2/1985, nhà văn Nguyễn Tuân có dịp trở lại đô thị
cổ này và ông bày tỏ tình cảm đầy xúc động: “Vậy mà Hội An vẫn còn nguyên vẹn như xưa, bất chấp bom đạn hai cuộc chiến tranh chống Pháp chống Mỹ Quê hương ta đổ vỡ nhiều quá Nhỏ thường như cái bát cái chén nay còn giữ lại được vẫn là quí Huống hồ đây là một thị trấn một thành phố” [134, 9]
Trang 35Chương 2
Những giá trị lịch sử - văn hóa của di sản kiến trúc nhà gỗ trong Khu phố cổ Hội An
2.1 Những giá trị lịch sử - văn hóa của Khu phố cổ
Hội An:
Di sản kiến trúc nhà gỗ là một thành tố hữu cơ trong quần thể Khu phố cổ Hội An, vì vậy, muốn tìm hiểu về giá trị lịch sử - văn hóa của loại hình kiến trúc chủ đạo này, nhất thiết phải xem xét những giá trị khái quát của Khu phố cổ Hội An về cả hai phương diện: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
2.1.1 Những giá trị lịch sử - văn hóa của Khu phố cổ Hội An dưới góc độ di sản văn hóa vật thể:
Suy cho cùng thì lịch sử cảng thị Hội An là một quá trình kéo dài gần hai ngàn năm chứ không phải chỉ trong vài thế kỷ
của thời trung - cận đại Tuy nhiên, quá trình giao lưu kinh tế - văn hóa đặc biệt trong mấy trăm năm dưới thời Việt cảng (từ thế
kỷ XVI đến thế kỷ XIX), đã tạo cho Đô thị cổ Hội An có được hầu hết các loại hình kiến trúc cổ của Việt Nam, “hội tụ được các
Trang 36yếu tố nghệ thuật dân tộc truyền thống và làm phong phú thêm bằng những tố chất thích hợp của nghệ thuật nước ngoài” [132, 312] Đánh giá về tầm vóc giá trị của Khu phố cổ Hội An, cố kiến trúc sư Ba Lan Kazimierz Kwiatkowski đã nhận xét:
Vẻ đẹp không trùng lặp chứa đựng trong các phố phường lịch sử, sự phong phú của các thể dáng kiến trúc, sự hoàn hảo của nghệ thuật chạm khắc trong nội thất các di tích kiến trúc tạo nên cho phố cổ Hội An những đặc điểm nổi bật trong một không gian riêng biệt Những đặc điểm này
đưa quần thể di tích phố cổ lên vị trí hàng đầu trong danh mục các di tích văn hóa của Việt Nam và cả trong kho tàng
di sản văn hóa nhân loại [159, 305]
GS.VS Sakurai Kiyohiko (Chủ tịch Hội Khảo cổ học Nhật Bản) cũng cho rằng: “ Những kiến trúc cổ của Hội An không
chỉ là tài sản văn hóa của riêng các bạn, nó còn là tài sản văn hóa của thế giới, của cả nhân loại nữa” [167]
Quần thể kiến trúc phố cổ có sự kết hợp hài hòa giữa không gian, bố cục kiến trúc và sự đan quyện tài tình giữa các phong cách kiến trúc Việt - Hoa - Nhật - Phương Tây “Có thể nói trên lãnh thổ Việt Nam trong lịch sử chưa từng có một chốn đô thị giao lưu văn hóa đa phương như Hội An” [81, 446] Đó là một quần thể di tích độc đáo, đa dạng, thể hiện trí tuệ, tài năng và sức sáng tạo của ông cha ta trong lịch sử, “tuy có sự đan xen, hòa quyện nhiều nền văn hóa, song vẫn đậm đà bản sắc dân tộc”[40, 6] Dưới con mắt của danh họa Lưu Công Nhân, “toàn bộ Đô thị cổ Hội An là những bức tranh đã vẽ sẵn” [101, 410], nó trở thành đề tài sáng tác nghệ thuật vô cùng lý tưởng đến nỗi làm ông ngây ngất qua lời thổ lộ: “Tôi đến Hội An một ngày mưa trút nước Định chỉ ở lại trong một tuần rồi đi, thế mà vì mê vẻ đẹp Hội An, tôi đã sống trọn một năm Tết cũng không về nhà” [101,
411] (Hình 2.1.1a)
Những bức tường so le, trầm mặc, những mái ngói nhấp nhô xanh mượt màu rêu, những bò nóc, bờ hồi uốn cong mềm mại, những đôi mắt cửa thâm nghiêm, huyền bí, những đường nét hoa văn chạm trổ tuyệt vời, làm cho hồn phố có sức hấp dẫn
Trang 37kỳ lạ Đây là một quần thể mang “dáng dấp điển hình cho kiến trúc đô thị của một cảng thị phồn thịnh xa xưa” [121, 41] Tất nhiên, đối với xứ Quảng nói riêng, Hội An luôn luôn giữ vai trò hạt nhân, có sức lan tỏa, chi phối về nhiều khía cạnh “Khả năng sáng tạo của con người xứ Quảng thể hiện rõ nét nhất trong các công trình kiến trúc ở Đô thị cổ” [59, 556] Rõ ràng trong nhiều trăm năm nay, Hội An luôn là gương mặt tiêu biểu về kinh tế - văn hóa của vùng đất Quảng Nam “địa linh nhân kiệt” nên “sẽ thiếu đi sức hấp dẫn và sẽ thiếu đi sức sống, sức sáng tạo nếu như không đề cập đến Đô thị cổ Hội An”[112, 21] khi đánh giá
về giá trị văn hóa của vùng đất miền Trung này Và, cho dù Đà Nẵng đã là thành phố trực thuộc TW, đang phát triển ngày càng
to lớn, hiện đại, năng động nhất vùng, nhưng không thể nào có được chiều sâu và bề dày văn hóa như một Hội An bé nhỏ Với cái nhìn đầy mẫn cảm, nhà văn tên tuổi Nguyên Ngọc đã mạnh dạn khẳng định: “Trung tâm văn hóa của Quảng Nam từ xưa và cho đến bây giờ có lẽ cũng vậy, là Hội An chứ không phải Đà Nẵng” [99, 597]
Đường phố Hội An cong, ngắn, hẹp, bố cục theo kiểu bàn cờ và được đặt tên một cách đầy ý nghĩa Hoàn toàn không phải
ngẫu nhiên mà từ đầu thế kỷ XX, đường Hội An (nay là đường Lê Lợi) lại bắt đầu từ đường Quảng Nam (Trần Hưng Đạo), như huyết mạch giao thông, xuyên nối với các đường Minh Hương (Phan Chu Trinh), đường Cầu Nhật Bản (Trần Phú ), đường Quảng Đông (Nguyễn Thái Học), và đường Triều Châu, Hải Nam, Phúc Kiến (Bạch Đằng) Ngay cả việc đặt tên đường, yếu tố Việt bản địa cũng đan xen, quyện hòa với các yếu tố Hoa, Nhật (Hình 2.1.1b)
Có thể nói hiếm có nơi nào tập trung mật độ di tích dày đặc như ở Hội An: Theo số liệu điều tra, kiểm kê của Trung tâm
Quản lý Bảo tồn Di tích Hội An (tính đến cuối năm 2001), trên địa bàn thị xã Hội An hiện có 1.352 di tích, trong đó có 1.268 di tích kiến trúc nghệ thuật thuộc các công trình dân dụng (nhà ở, cầu, giếng, chợ), công trình tín ngưỡng (đình, chùa, lăng - miếu,
hội quán, nhà thờ tộc) và công trình đặc thù (mộ) Mỗi loại hình di tích kiến trúc ở đây đều có những đặc điểm, sắc thái riêng và
đều góp phần tăng thêm tính phong phú, đa dạng văn hóa của đô thị cổ Hội An (Bảng 2.1.1c)
Nhà thờ tộc là một loại hình kiến trúc tín ngưỡng phục vụ nhu cầu thờ tự tổ tiên, sinh họat huyết thống của từng dòng họ Từ
tấm lòng thành và sự đầu tư công sức của cháu con, nhà thờ tộc là sự nâng cao về quy mô, trình độ kiến trúc - nghệ thuật, về
Trang 38công năng sử dụng so với nhà ở thông thường Thông qua các dịp giỗ Tổ hàng năm, thông qua Tộc ước thành văn hoặc bất thành văn và thông qua các dịp sinh hoạt dòng họ, ngôi nhà thờ tộc chính là nơi giáo dục con người lòng biết ơn, kính trọng tổ tiên, nương náu, đùm bọc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống và không ngừng củng cố tình huyết thống(13)
Phân bố trong và ngoài phố cổ là hệ thống giếng cổ đặc biệt về cấu trúc xây dựng, về kiểu dáng và về độ tinh khiết của
nước Thư tịch cổ đã ghi lại rằng đây chính là nguồn nước ngọt nổi tiếng mà từ những thế kỷ IX-X, người Chăm cổ đã từng cung cấp cho các lái buôn Arập, Ba Tư khi cập bến xứ này Dù hệ thống nước máy hiện nay thừa sức cung ứng cho phố cổ nhưng từ bao đời nay, các giếng cổ, dù là giếng Chăm, giếng Việt hay giếng Hoa, vẫn là nơi cung cấp nguồn nước mát lành, vô tận cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong thị xã(14)
Còn đây, những ngôi đình làng truyền thống của cư dân Việt hoặc Việt gốc Hoa ở Hội An - trung tâm văn hóa tín ngưỡng
của từng cộng đồng Cây đa, bến nước, sân đình từ bao đời nay vẫn là những hình tượng vô cùng thiêng liêng, gần gũi, thân thương đối với mọi thành viên trong làng xã Đình làng luôn luôn là hiện thân của tình đoàn kết, gắn bó giữa người với người trong mỗi địa phương, là nơi gởi gắm những nguyện vọng, ước mơ chân chính, là nơi giao lưu văn hóa, tình cảm của nhân dân thông qua các biểu tượng thờ tự và các dịp hội hè, đình đám(15)
Đến thăm Hội An, chắc chắn du khách sẽ giữ lại cảm xúc khó tả khi đặt chân lên từng nhịp gỗ Chùa Cầu (Hình 2.1.1d)
Văn bia tương truyền rằng đây là chiếc cầu do các thương nhân Nhật Bản xây dựng vào đầu thế kỷ XVII mà nguyên nhân ra đời của nó gắn liền với nhiều huyền thoại Về sau, các cư dân Hoa - Việt đã góp phần trùng tu, tôn tạo và định hình quy mô, kiểu dáng kiến trúc như hiện nay Cầu vững vàng, sừng sững bắc qua lạch nước nhỏ như muốn kéo hai đường phố lại để thắt chặt hơn tình làng nghĩa xóm, để gần gũi nhau hơn lúc tối lửa tắt đèn Không biết từ bao giờ, Chùa Cầu đã trở thành biểu trưng văn hóa vô cùng thân thiết của nhân dân Phố Hội Năm 1719, trong chuyến tuần du cảng thị Hội An, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã đặt cho Cầu cái tên Lai Viễn Kiều đầy thơ mộng, và câu ca dao còn mãi lưu truyền trong người dân Phố Hội vẫn như lời gởi gắm tâm tình và lời vẫy mời nhiệt nồng của người Hội An đối với bao du khách:
Trang 39Ai qua Phố Hội - Chùa Cầu
Để thương, để nhớ, để sầu cho ai?
Hoặc:
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Ai qua Phố Hội, nhớ đến Viễn Kiều thăm em
Vượt ra không gian phố cổ, lần theo tiếng chuông ngân nga để dừng chân trong khuôn viên tĩnh lặng của những ngôi chùa
Phật Đó là sự chuyển đổi cảm thức trước những công trình kiến trúc tôn giáo kết hợp hài hòa các yếu tố dân tộc và quốc tế, truyền thống và hiện đại, tạo nên những đột phá bất ngờ về phong cách nghệ thuật, từng làm đắm say, mê mẩn lòng người Lời kinh, câu kệ đệm trong hồi chuông, tiếng mõ như là điệp khúc tôn kính của giới tu hành nhằm ngày đêm nguyện cầu cho quốc thái dân an và rót vào lòng người đức từ bi, bác ái, hướng con người vươn đến những giá trị vĩnh hằng chân - thiện - mỹ(16)
Lăng, miếu ở Hội An hiện tồn dưới nhiều quy mô, kích cỡ tùy theo đối tượng thờ tự Quan Công miếu với dáng vẻ kiến
trúc uy nghiêm, bề thế, từng một thời là trung tâm tín ngưỡng của cộng đồng cư dân Hội An Khổng Tử miếu, Văn Thánh miếu, Ngũ Hành miếu, Yến Nghệ tổ miếu, Lăng Ông ngoài sự khác nhau về hình tượng của đức tin, mỗi công trình đều toát lên những đặc thù kiến trúc riêng biệt, thể hiện tính sáng tạo phong phú của con người Điều đáng nói hơn nữa là chỉ trong đoạn phố dài chừng 500m, người Hội An đã xây dựng 1 Khổng Tử miếu và 2 Văn Thánh miếu không ngoài mục đích đề cao tri thức, tri ân, tôn kính các bậc Thánh hiền và mong ước sự thành đạt của con người trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo(17)
Đến Hội An, nhiều người trầm trồ thán phục khi dừng chân trước những hội quán Những công trình kiến trúc tuyệt vời
này do các thế hệ cư dân gốc Hoa lần lượt xây dựng từ thế kỷ XVII và đều chọn hướng nhìn thông thoáng về phía dòng sông Các hội quán Phúc Kiến, Dương Thương, Hải Nam, Quảng Triệu, Triều Châu đều in đậm phong cách nghệ thuật Trung Hoa, có sự góp sức tạo dựng của những bàn tay tài hoa của người Việt trong các lĩnh vực điêu khắc, kiến trúc, xây dựng Vẻ đẹp hoành tráng
Trang 40của bố cục không gian, vẻ đẹp tao nhã, thanh thoát của những đường nét chạm trổ, vẻ đẹp tâm hồn sâu lắng của những pho tượng Thần, Phật, tất cả hòa quyện vào nhau để tạo nên giá trị nghệ thuật tổng hợp đặc sắc, diệu kỳ
Và đây, vùng ngoại vi còn rất nhiều dấu tích yên nghỉ vĩnh hằng của con người bao thế hệ: những ngôi mộ Sa Huỳnh,
Chăm, Việt, Hoa, Nhật, Bồ, Tây, Đức, vẫn tồn tại thầm lặng cùng với thời gian và vẫn được người Hội An trân trọng bảo vệ, giữ gìn Bên trong những nấm mộ này là di hài những người Sa Huỳnh, Chăm cổ, những thương nhân, quan lại người Việt, những thương nhân xa xứ người Nhật, người Hoa, những giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha, người Đức Họ đã
đến Hội An để kinh doanh, truyền giáo, định cư rồi yên nghỉ vĩnh viễn trên mảnh đất này Bia mộ của họ vẫn còn khắc ghi những thông tin lịch sử cực kỳ quý giá, giúp cho các nhà khoa học tìm về dấu vết cư dân, giúp cho các thế hệ cháu con tìm về cội nguồn tiên tổ(18)
Điều đặc biệt cho đến nay, khu phố cổ Hội An vẫn là môi trường sinh sống của hàng ngàn người, đã trở thành một bảo tàng SốNG về kiến trúc, về lối sống đô thị Những hoạt động dịch vụ, bán buôn càng rộn ràng, tấp nập hơn xưa Chủ nhân của
những ngôi nhà cổ vẫn tham gia hòa nhập vào cuộc sống đời thường Và, ngay trong lòng phố cổ, một khối lượng khổng lồ cổ vật
hết sức giá trị vẫn được con người bảo lưu, gìn giữ như những báu vật của tiền nhân Những cổ vật độc đáo này đã minh chứng hùng hồn tính giao lưu quốc tế mạnh mẽ của cảng thị Hội An trong những thế kỷ trước
2.1.2 Những giá trị Lịch sử - văn hóa của Khu phố cổ Hội An dưới góc độ di sản văn hóa phi vật thể:
Hội An vốn là nơi tụ cư, hỗn cư và hợp cư của nhiều thành phần nhân chủng nên tất yếu còn có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể hết sức phong phú và đa dạng
Hội An là cái nôi truyền bá Thiên Chúa giáo và Phật giáo ở Đàng Trong, là một trong hai cái nôi (cùng với Kinh Kỳ - Hà
Nội) ra đời chữ Quốc ngữ vào thế kỷ XVII, là điểm gặp gỡ, giao lưu giữa các nền văn minh Chăm - Việt - Hoa - Nhật - ấn -