Bộ giáo dục và đào tạo Bộ văn hoá - thể thao – du lịch Trường Đại học Văn hoá Hà Nội --- đinh thu trang Văn hóa ứng xử của người tày ở huyện hòa an, tỉnh cao bằng với môi trường sinh t
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Bộ văn hoá - thể thao – du lịch
Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
-
đinh thu trang
Văn hóa ứng xử của người tày
ở huyện hòa an, tỉnh cao bằng với môi trường sinh thái
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ NGƯỜI TÀY Ở HOÀ AN 7
1.1 Khái niệm về môi trường sinh thái 7
1.2 Môi trường sinh thái ở huyện Hoà An 8
1.2.1 Vị trí địa lý 8
1.2.2 Địa hình 9
1.2.3 Tài nguyên thiên nhiên 10
1.3 Khái quát về người Tày ở Hoà An 12
1.3.1 Sơ lược lịch sử hình thành của dân tộc Tày ở Hoà An 12
1.3.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội của người Tày ở Hòa An 14
1.3.3 Đặc điểm văn hóa truyền thống 18
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI TÀY VỚI MÔI TRƯỜNG SINH THÁI 34
2.1 Khái niệm văn hóa ứng xử đối với môi trường sinh thái 34
2.2 Văn hoá ứng xử đối với môi trường sinh thái .36
2.2.1 Ứng xử với tài nguyên đất 36
2.2.2 Ứng xử với tài nguyên nước 43
2.2.3 Ứng xử với tài nguyên khí hậu 49
2.2.4 Ứng xử với tài nguyên rừng 61
2.2.5 Khía cạnh tín ngưỡng trong văn hoá ứng xử với từng loại tài nguyên 68
CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HOÁ ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG SINH THÁI TRONG GIAI ĐOẠN ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 73
3.1 Phương hướng chung 73
3.2 Vai trò của ứng xử với môi trường sinh thái trong đời sống của người Tày huyện Hoà An 77
3.3 Văn hoá ứng xử với môi trường sinh thái cần được bảo tồn và phát huy 83
3.4 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá ứng xử truyền thống của người Tày ở Hoà An Cao Bằng 94
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 108 BẢNG NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa đa dân tộc, thống nhất trong đa dạng
Vì vậy, nghiên cứu văn hóa Việt Nam nói chung, nghiên cứu văn hóa tộc người nói riêng đều có ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Chúng ta đang xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việc nghiên cứu văn hóa ứng
xử trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa là phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc dân tộc Thấm sâu quan điểm về dân tộc và hiện đại trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới, quán triệt nghị quyết đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XVII (2010-2015), đề tài này sẽ góp một tiếng nói vào việc làm rõ văn hóa ứng xử của người Tày với môi trường sinh thái tại huyện Hoà An
Cao Bằng mảnh đất miền núi của tổ quốc, là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em tạo thành nền văn hóa đa dạng, hấp dẫn và phong phú Văn hóa người Tày với những sắc thái văn hóa đặc thù riêng nhưng vẫn giữ được tính thống nhất trong văn hóa Việt Nam Hoà An miền đất cổ của tỉnh Cao Bằng là huyện có nền kinh tế văn hoá xã hội phát triển, dân cư sinh sống chủ yếu là dân tộc Tày với những bản sắc văn hoá dân tộc riêng Bản sắc văn hóa đó được thể hiện rất cụ thể trong cuộc sống đời thường mang tính cộng đồng cao Trong quá khứ, khi lao động bằng kỹ thuật thủ công, nguồn kinh tế tự túc người Tày Hoà An đã dựa vào môi trường sinh thái đa dạng phong phú, những cánh rừng già bạt ngàn, những con sông những dòng suối trong vắt, khí hậu bốn mùa xuân hạ thu đông rõ ràng Nhiều thế kỷ sinh sống trong xã hội thủ công, dựa vào tài nguyên thiên nhiên người Tày đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu trong ứng xử với tài nguyên thiên nhiên, giữ được môi trường thiên nhiên có rừng xanh với cây cổ thụ hàng trăm năm Ngày nay trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa môi trường sinh thái ở Hoà An
Trang 4Cao Bằng đang có nguy cơ bị xâm hại rất nặng nề Môi trường sinh thái ở đây với trữ lượng tài nguyên giàu có đang bị con người ra sức khai phá cạn kiệt vì những lợi ích trước mắt Nhu cầu tăng trưởng kinh tế đã và đang chi phối mọi hành vi tác động của con người lên môi trường sinh thái, nhiều lúc thiếu sự suy tính nhằm vào mục đích phát triển bền vững Sự biến dạng của môi trường sinh thái diễn ra với một tốc độ chóng mặt, trên thực tế nó đã bắt đầu giáng trả cho con người những tác hại khôn lường
Hàng loạt mỏ được khai thác ồ ạt, mỏ sắt ở bản Bó Lếch, mỏ Ngườm Tráng huyện Hoà An được đào bới bằng sức người cùng với các phương tiện máy móc hiện đại tạo nên sức tàn phá ghê gớm Đặc biệt Hoà An là huyện có nhiều di tích lịch sử danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong tỉnh, dãy núi đá Lam Sơn - Hoà An nơi Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng nhà nước ở thời kỳ trước Cách mạng tháng tám chọn làm địa điểm hoạt động bí mật cũng bị một
số doanh nghiệp khai thác đá để làm đường, hàng loạt di tích bị xâm hại làm biến dạng mất đi cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ Từ đó dẫn đến môi trường bị tàn phá, ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất, khí hậu thay đổi lụt lội xảy ra liên tiếp, sạt lở đất, sâu bệnh phá hoại mùa màng… ngày càng gia tăng
Trong vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái sẽ chẳng có biện pháp thiết thực nào khả dĩ đảm bảo sự thành công mỹ mãn Bởi lẽ, thủ phạm gây nên sự xáo trộn trong trật tự của tự nhiên, tạo ra sự mất cân bằng sinh thái ở dạng này hay dạng khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp là hành vi tác động của con người Môi trường tự nhiên không tự nó mất cân bằng sinh thái, mà do con người suy cho cùng cũng là một thành viên của hệ động thực vật trong giới tự nhiên, nhưng là một thành viên có văn hóa, đã dùng chính văn hóa của mình khai thác tự nhiên với tư cách là kẻ thống trị
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Văn hóa ứng xử của người Tày ở huyện Hòa
An tỉnh Cao Bằng với môi trường sinh thái” làm đề tài luận văn cao học của
Trang 5mình Tôi hi vọng với đề tài này sẽ là cách tiếp cận văn hóa người Tày thông qua việc tìm hiểu văn hóa ứng xử của người Tày với môi trường sinh thái để phát triển kinh tế xã hội ở quê hương mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, những công trình nghiên cứu về văn hoá ứng xử chủ yếu là theo hướng nghiên cứu lý thuyết chung hoặc ở từng dân tộc nào đó chưa có những định hướng cụ thể Văn hoá ứng xử của người Tày Hoà An với môi trường sinh thái là một công việc lớn liên quan đến nhiều mặt về kinh tế
xã hội và đời sống của nhân dân các dân tộc trong huyện Vào thời điểm này chưa có tác giả nào đề cập đến cũng như đi sâu để tìm hiểu kỹ về vấn đề này
Về công trình nghiên cứu văn hóa từ góc độ quan hệ của con người với môi trường, mặc dù đã có một số tác giả nghiên cứu, nhưng hầu hết các sách và tài liệu đều đề cập đến mối quan hệ chính làm sản sinh ra văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng là văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần Chẳng hạn, “Văn hóa học đại cương” [tr.45] của Trần Quốc Vượng…Đặc biệt trong những năm gần đây,
do điều kiện đổi mới đất nước, xu hướng nghiên cứu về vấn đề văn hóa và phát triển ngày càng được triển khai Từ đó, đã phổ biến nhiều công trình, bài viết
về lĩnh vực này và trong khi đặt ra yêu cầu phát triển bền vững…thì vấn đề con người và giới tự nhiên luôn được đặt vào vị trí trọng tâm
Ngoài ra, còn có cuốn “Văn hóa ứng xử của các dân tộc Việt Nam” của tác giả Lê Như Hoa, trong đó tác giả nghiên cứu khái niệm văn hóa ứng xử của người Việt, nguồn gốc hình thành và những đặc điểm của văn hóa ứng xử bản địa Việt [15,tr.18] Qua đó phân tích đặc điểm các khuôn mẫu ứng xử truyền thống ở các dân tộc ít người nhưng chưa nói đến dân tộc Tày
Vấn đề môi trường và con người ở Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau Chẳng hạn, công trình nghiên cứu về “Môi trường và tài nguyên Việt Nam” [tr.26] của tập thể tác
Trang 6giả do NXB Khoa học Kỹ thuật Hà Nội – 1984, công trình nghiên cứu “Thiên nhiên Việt Nam” của Lê Bá Thảo Hoặc công trình nghiên cứu “Biển với người Việt cổ”[tr.4] của tập thể tác giả do Viện Đông Nam Á xuất bản, “Môi trường thiên nhiên trong hoạt động sống của con người”[tr.22] của Đỗ Thị Ngọc Lan nghiên cứu từ góc độ triết học về mối quan hệ giữa thích nghi và cải tạo môi trường tự nhiên với con người… “Môi trường sinh thái vấn đề và giải pháp do Phạm Thị Ngọc Trâm chủ biên Cuốn sách trình bày lý luận và thực tiễn của môi trường sinh thái trên thế giới, bên cạnh đó cũng đề cập đến thực trạng và đặc điểm của môi trường sinh thái ở Việt Nam Gợi mở những phương hướng giải quyết trong quá trình CNH - HĐH đất nước hiện nay
Luận văn của Nguyễn Xuân Trường viết về văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên của người Thái ở Mộc Châu Luận văn trên chỉ đề cập đến tộc người Thái một dân tộc chủ thể ở vùng núi Tây Bắc, còn tại Việt Bắc với dân tộc Tày đặc biệt là người Hoà An lại chưa có ai đề cập đến việc này Đó là vấn đề văn hoá ứng xử của người Tày Hoà An với môi trường sinh thái
Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trên đây chỉ đặc biệt quan tâm đến quan hệ giữa con người với thiên nhiên ở dạng khái quát mang tính tổng quan, chưa có dịp đi sâu vào văn hóa ứng xử của con người ở vùng dân tộc trên một địa bàn sinh thái cụ thể
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ những biến đổi trong ứng xử với môi trường sinh thái (quá khứ và hiện tại)
Từ đó đề xuất những giải pháp về phát huy văn hóa ứng xử của người Tày với môi trường sinh thái, đáp ứng được sự phát triển của Hoà An trong thời kỳ CNH - HĐH
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tìm hiểu nét văn hóa đặc trưng của người Tày ở Hòa An Cao Bằng trong việc ứng xử với môi trường sinh thái
Đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực
Trang 74 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là văn hóa ứng xử của người Tày Cao Bằng với môi trường sinh thái thông qua các ứng xử với đất, nước, khí hậu, rừng Đặt văn hóa ứng xử của người Tày trong điều kiện tự nhiên ở Hoà An, nên luận văn cũng đi sâu tìm hiểu các yếu tố trực diện đến môi trường sinh thái ở đây
Do hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu, để đưa ra những giải pháp có tính khả thi, trong đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu văn hóa ứng
xử của người Tày và môi trường sinh thái ở Hòa An Cao Bằng trong khoảng thời gian 2000 – 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
Do yêu cầu đặc trưng của đề tài, vừa mang tính văn hóa vừa có tính chất tự nhiên, cho nên cần áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu phối hợp
Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận duy vật lịch sử Phương pháp logic, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và nhà nước về phát triển văn hóa văn nghệ… là chỗ dựa tư tưởng trong quá trình thực hiện luận văn
Phương pháp thu thập tài liệu điền dã dân tộc học (field work) là phương pháp nghiên cứu chủ đạo được áp dụng trong quá trình thực hiện luận văn Khi tiến hành nghiên cứu ở thực địa, các kỹ thuật: quan sát, phỏng vấn, tham dự, ghi chép, chụp ảnh, ghi âm, vẽ sơ đồ… đã được áp dụng thông qua các đợt khảo sát ở Hòa An Cao Bằng
Để bổ sung thêm tư liệu cho luận văn, nghiên cứu các tài liệu của các
cơ quan ở TW, Cao Bằng… đã được công bố trong những năm gần đây cũng được chú trọng sử dụng
Sử dụng kiến thức tổng hợp liên nghành về: sinh học, địa lý, khảo cổ,
xã hội, tâm lý học…
Trang 8Để xử lý tư liệu, các phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả, phân tích, so sánh và tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn này sẽ bổ sung nguồn tư liệu về văn hóa ứng xử của người Tày Hoà An Cao Bằng trong môi trường sinh thái của họ
Làm rõ những biến đổi về môi trường sinh thái ở huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo giúp các nhà quản lý địa phương cơ
sở khoa học, thực tiễn trong hoạch định và triển khai các chính sách, các dự
án phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội ở vùng người Tày Hòa An, nhất là văn hóa ứng xử với môi trường sinh thái trong giai đoạn hiện nay
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đặc điểm môi trường sinh thái và người Tày ở Hòa An Chương 2: Đặc điểm ứng xử của người Tày với môi trường sinh thái Chương 3: Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa ứng xử với môi trường sinh thái trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ
NGƯỜI TÀY Ở HOÀ AN
1.1 Khái niệm về môi trường sinh thái
Môi trường là khái niệm rất rộng, chỉ toàn bộ các điều kiện vô cơ và
hữu cơ có liên quan đến sự sinh tồn và phát triển của các cơ thể sống, bao gồm tất cả những gì đang tồn tại khách quan, là toàn bộ thế giới với tất cả các hình thức biểu hiện muôn màu của nó
Trang 9“Sinh thái” theo tiếng Hy Lạp là “oikos” có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú,
nơi sinh sống Theo cách hiểu chung nhất thì môi trường sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể
Đối với con người, môi trường sinh thái là tất cả những điều kiện tự
nhiên, vô cơ và hữu cơ Có liên quan đến sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội Trong thực tiễn cuộc sống, môi trường sinh thái cũng chính
là môi trường thiên nhiên; ứng xử với môi trường sinh thái là quá trình con người khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho cuộc sống của mình Trong luận văn này tác giả chỉ đề cập đến bốn yếu tố chính (của môi trường sinh thái) đó là: tài nguyên đất, thủy văn, khí hậu, tài nguyên rừng
Môi trường thiên nhiên là môi trường vừa thích nghi vừa biến đổi Biến đổi để tăng chất lượng của hệ sinh thái hoặc giảm chất lượng của hệ sinh thái, điều đó đòi hỏi sự ứng xử tự nhiên hoặc ứng xử của con người phải chấp nhận
sự lựa chọn Như vậy, các ứng xử xuất hiện trong tiến trình phát triển của tự nhiên Có các ứng xử của tự nhiên trong môi trường gắn liền với sự thích nghi
và sự biến đổi tự nhiên trong môi trường Các ứng xử có lựa chọn, có kiểm soát thì chỉ có con người mới có Tóm lại môi trường sinh thái bao gồm yếu tố
tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật
1.2 Môi trường sinh thái ở huyện Hoà An
1.2.1 Vị trí địa lý
Địa danh Cao Bằng được ghi chép trong sử sách từ rất sớm, trong sách
Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết năm 1438 Khi chép về sông Bồ và sông Hoà
An, vị trí của hai con sông đã được xác định thuộc về "Cao Bằng" sách Dư địa chí viết: "Cao Bằng xưa là ngoại địa của bộ Vũ Định; đông bắc tiếp giáp Lưỡng Quảng; tây nam tiếp giáp Thái Nguyên, Lạng Sơn Có 1 lộ, 4 châu,
237 làng xã Đây là nơi phên dậu thứ tư về phương bắc vậy" Trải qua quá trình
Trang 10biến thiên của lịch sử "tỉnh Cao Bằng được thành lập vào cuối năm Cảnh Thống thứ 2 dưới thời Lê năm 1499, tính đến nay tỉnh Cao Bằng đã có 511 năm lịch sử
Cao Bằng là một tỉnh miền núi biên giới nằm phía đông bắc của Tổ quốc, được giới hạn trong toạ độ địa lý từ 230 07’ 12” đến 220 21’ 21” vĩ độ bắc
và từ 1050 16’ 15” đến độ 50’ 25” kinh độ đông , phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc có đường biên giới dài 332 km với một cửa khẩu quốc tế, hai cửa khẩu quốc gia và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch, nhiều đường mòn đi lại giữa hai nước thuận tiện cho phát triển giao lưu kinh tế, văn hoá với nước láng giềng Cao Bằng có tổng diện tích tự nhiên 6.690.72 km2, là cao nguyên đá vôi xen với núi đất, có độ cao trung bình trong khoảng dưới 200m, và độ cao lớn nhất so với mặt nước biển là 1.300m Núi non trùng điệp rừng Núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh Hình thành 3 khu vực rõ rệt: vùng núi đá, vùng núi đất xen núi đá, vùng núi đất có nhiều rừng rậm Địa hình khá phức tạp thấp dần từ Tây sang Đông và có nhiều nếp gấp
Huyện Hoà An có diện tích tự nhiên 667.67 km2
, là huyện nằm ở trung tâm của tỉnh và bao quanh thị xã Cao Bằng Có toạ độ địa lý là 24o
90’ đến 25
o27’ vĩ độ Bắc, 106o04 đến 106o45’ kinh độ Đông Huyện Hoà An nằm giữa các huyện của tỉnh
Phía Bắc giáp huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh
Phía Nam giáp huyện Thạch An
Phía Tây giáp huyện Nguyên Bình, Thông Nông
Phía Đông giáp huyện Trà Lĩnh, Quảng Hoà
1.2.2 Địa hình
Địa hình Hòa An tương đối thấp và bằng phẳng được chia ra làm 2 vùng Vùng thấp và vùng lưng chừng (vùng giữa) Địa hình đồi núi là chủ yếu, chiếm 2/3 diện tích huyện Độ cao trung bình là 300m so với mặt nước biển thấp dần từ Tây sang Đông Các ngọn núi cao của huyện Hoà An đáng kể là : Nà Mấn (xã
Trang 11Ngũ Lão) cao 1011m, Pà Diến (xã Quang Trung) 1000m… Dãy núi đá vôi Lam Sơn nằm án ngữ phía Tây huyện, địa hình khá hiểm trở, có nhiều hang sâu, đường mòn, thuận tiện, cho việc ẩn nấu Trước kia trên các ngọn núi này là rừng với nhiều loại gỗ quý và lâm thổ sản khác nhau nhưng do kết quả của quá trình khai thác lâu dài nên cho đến nay nửa diện tích rừng đó bị hủy hoại tạo thành những ngọn núi hay những quả đồi trọc
1.2.3 Tài nguyên thiên nhiên
Khái niệm về tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự nhiên, là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người Trong luận văn này, để phù hợp với đề tài tác giả chỉ khai khác một số nội dung quan trọng liên quan trực tiếp đến cuộc sống con người Đó là: tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng Nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm những yếu tố vật chất của tự nhiên mà con người có thể nghiên cứu, khai thác, sử dụng và chế biến để tạo ra sản phẩm, của cải vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu của con người và xã hội Nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú và đa dạng, tồn tại trong tự nhiên
ở nhiều thể loại (rắn, lỏng, khí), ở nhiều dạng (vô cơ, hữu cơ…) khác nhau
Tài nguyên thiên nhiên được chia ra làm 2 loại:
Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v…) là tài nguyên có thể
tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý Tuy nhiên nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên thiên nhiên có thể bị suy thoái không thể tái tạo được
Tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sản xuất
Đất đai
Đất đai của huyện được chia làm 3 nhóm đất chính với 24 loại đất khác nhau Đó là: nhóm đất núi phân bố ở độ cao >=900m so với mặt nước biển, nhóm đất đồi và nhóm đất bằng, thung lũng hẹp Nhìn chung đất đai ở Hòa
Trang 12An khá màu mỡ lại sẵn nước tưới và thích hợp với nhiều loại cây lương thực
và cây công nghiệp nên rất thuận tiện cho việc phát triển sản xuất theo hướng thâm canh chuyên canh các loại cây trồng
Khoáng sản
Là một trong những huyện có nhiều khoáng sản của tỉnh, đặc biệt có
mỏ sắt ở Ngườm Tráng (xã Dân Chủ), Bó Lếch (xã Hoàng Tung), đá vôi ở xã Nguyễn Huệ và xã Đức Xuân, vàng xa khoáng ở sông Giẻ Rào đoạn chảy qua huyện lỵ Nước Hai Hoà An …
Khí hậu
Khí hậu ở Hoà An thuộc loại khí hậu lục địa, nhiệt đới gió mùa, một năm thường chia làm 2 mùa khô và mưa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Thời tiết mùa này thường ẩm ướt, oi bức, nóng nực và thường có bão lớn và mưa to thường gây nên bão lụt Lượng mưa trung bình: 200-250mm, nhiệt độ trung bình: 20-24o
C; Mùa khô bắt đầu từ tháng mười năm trước đến tháng 3 năm sau Mùa này khí hậu ôn đới mát mẻ, gió lạnh hay
có sương mù, có nhiều năm một số vùng xuất hiện sương muối Gió mùa đông Bắc thường xuyên thổi đến gây ra khô và mát Nhiệt độ trung bình là 12-150C năm rét nhất đến 00C
Thuỷ văn
Do địa hình núi đồi, chia cắt tương đối dữ dội, nên Hòa An có nhiều sông suối Đáng kể nhất trong huyện là sông Bằng Sông Bằng bắt nguồn từ Trung Quốc, sông có lòng sông rộng và sâu, rất thuận tiện cho giao thông vận tải Hệ thống sông Bằng và các nhánh đã bồi đắp nên những cánh đồng tương đối bằng phẳng và phì nhiêu vào loại nhất ở Cao Bằng Ngoài ra còn có các sông như sông Hiến, sông Dẻ Rào chảy qua địa phận huyện Hoà An nhập với sông Bằng Hệ thống ao hồ huyện Hoà An có hồ Khuổi Lái, Phja Gào, Nà Tấu các hồ đó đã cung cấp nước phục vụ sản xuất cho các cánh đồng của
Trang 13huyện, cũng như việc điều hoà không khí mát mẻ cho những làng bản xung quanh hồ
Tài nguyên rừng
Đến hết năm 2005 diện tích rừng Hoà An còn khoảng 312.200 ha, trong
đó chủ yếu là rừng tự nhiên Rừng trồng hiện có 14 443 ha, bao gồm các loại trúc, thông, bạch đàn, keo, sa mộc và một số cây công nghiệp, cây ăn quả, như
trám, dẻ, chè đắng Rừng tự nhiên bao gồm rừng giầu (1.526 ha), rừng trung
bình (4.514 ha), rừng nghèo và rừng non (13 540 ha), rừng trúc, nứa
Rừng Cao Bằng có một số loại gỗ quý như: nghiến, trai, sến, xa mộc, lát và các loại cây đặc sản như xa nhân, cây dược liệu quý (bạch truật, ba kích, hà thủ ô ) một số cây làm thực phẩm cùng nhiều động vật như gấu, hươu, nai và các loài chim Đặc biệt tài nguyên rừng và hang động ở khu vực núi đá Lam Sơn có thể khai thác để hình thành và phát triển khu du lịch lịch
sử cách mạng và sinh thái đầy tiềm năng
Hoà An có hệ động, thực vật phong phú về số lượng và đa dạng về chủng loại Trên các ngọn núi xưa kia là những khu rừng cổ thụ và xanh tốt,
có nhiều loại gỗ quý như: nghiến, lát, sao, dẻ… mọc tự nhiên trong núi đá Ở những nơi được bảo vệ tốt cây cối phát triển, điều hoà mạch nước quanh năm
Các cây dược liệu quý hiếm đều mọc trong các núi đá, núi đất như Hồng Sí Sẻn, địa liền, kê huyết đằng, hà thủ ô, kim anh, thất điệp, nhất chi lan… Động vật có nhiều loại nhu gấu, lợn rừng, hổ, hươu nai, cầy hương, tắc
kè, trăn, rùa, gà rừng, trĩ, chim công v.v…
1.3 Khái quát về người Tày ở Hoà An
1.3.1 Sơ lược lịch sử hình thành của dân tộc Tày ở Hoà An
Trên lãnh thổ Việt Nam, người Tày sống rải rác và xen kẽ với nhiều dân tộc anh em khác ở Đông Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Yên Bái, Lào Cai, Quảng Ninh, Bắc Cạn,
Trang 14Thái Nguyên Từ sau 1976 đến nay một bộ phận người Tày đã di cư vào các tỉnh như Đăk Lăk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Gia Lai, Kon Tum Theo tài tài liệu tổng điều tra dân số 1999, người Tày ở nước ta có 1.190.342 người, đứng thứ nhất về dân số trong 53 dân tộc thiểu số Việt Nam Riêng
ở Cao Bằng có 247.814 người
Tộc danh Tày là một tộc danh có từ lâu đời mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên và nằm trong khối
cư dân bách Việt
Theo các nhà nghiên cứu thì người Tày Cao Bằng được hợp nhất thành
từ ba nhánh:
Thứ nhất: Nhánh người gốc bản địa và có thể là tộc người có mặt ở Cao Bằng lâu đời nhất Người Tày cổ trước kia gọi là người Thổ, họ là nhóm dân cư khá đông đúc ở nước Việt Nam
Thứ hai: Nhánh người Ngạn và một số người thuộc dân tộc khác bị Tày hoá, theo cuốn sơ khảo lịch sử Cao Bằng ( do Ty thông tin-Văn hoá xuất bản năm 1963) viết:
Người Ngạn có nguồn gốc ở Quý Châu-Trung Quốc, trong các cuộc giao tranh giữa các tộc người, người Ngạn dạt sang Cao Bằng sinh sống, sát nhập vào cư dân địa phương, đồng dòng với người Tày cổ bản địa trong tiến trình lịch sử về sau [29 tr.10]
Thứ ba: Dòng người Tày lưu quan, là một nhánh người Kinh hoá Tày, đó là con cháu các quan lại và binh lính dưới xuôi lên cai quản, bảo vệ biên giới, lấy vợ người Tày ở địa phương, rồi con cháu trở thành người Tày Ngoài ra người Kinh dưới xuôi lên nhiều nhất là khi nhà Mạc lập triều ở Cao Bằng (1594-1677) khi nhà Mạc thất thế mất ngôi vua Để tránh bị truy nã số người này đã đổi họ hoặc mang họ mẹ và cũng tự coi mình là người Tày
Trang 15Từ hoàn cảnh lịch sử đó đã làm cho người Tày lưu quan với người Tày
ở địa phương sát nhập, đồng hoá một cách tự nhiên Người Tày lưu quan có mang theo nền văn hoá miền xuôi lên miền núi, nên về sau văn hoá miền núi cũng chịu nhiều ảnh hưởng của văn hoá miền xuôi Song do điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên xã hội miền núi chịu chi phối, người Tày vẫn giữ được sắc thái riêng trong phong tục tập quán miền núi của mình Cùng với sự phát triển
về kinh tế, đấu tranh sinh tồn, tộc người Tày đã làm nên một truyền thống lịch
sử văn hoá đồ sộ, phong phú
Dân tộc Tày là một dân tộc định cư lâu đời ở Cao Bằng, chiếm đa số, sinh sống ở khắp các huyện thị trong tỉnh nhưng tập trung đông nhất là huyện Hoà An Mọi giai đoạn lịch sử ở Cao Bằng, người Tày vẫn giữ vai trò trung tâm trong khối đại đoàn kết các dân tộc, trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội như: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng… Người Tày luôn giữ vai trò nòng cốt Bản sắc văn hoá của người Tày có vai trò nền tảng trong bản sắc văn hoá các dân tộc của Cao Bằng
1.3.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội của người Tày ở Hòa An
Các đơn vị hành chính
Hiện nay huyện Hoà An gồm thị trấn Nước Hai và 24 xã: Dân Chủ, Nam Tuấn, Đức Long, Bình Long, Đức Xuân, Ngũ Lão, Đại Tiến, Bế Triều, Hồng Việt, Hoàng Tung, Trương Lương, Công Trừng, Hưng Đạo, Đề Thám, Bạch Đằng, Bình Dương, Nguyễn Hụê, Trương Vương, Quang Trung, Chu Trinh, Lê Trung, Hà Trì, Hồng Nam, Vĩnh Quang
Dân cư, dân tộc
Hòa An từ xa xưa đã là nơi tụ cư của các cộng đồng cư dân thuộc các dân tộc: Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Hoa Họ sống thành từng bản rải rác
và xen kẽ trong khắp các thung lũng ven sông suối trong toàn huyện Hòa An Dân cư ở Hòa An sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước ở các khu
Trang 16ruộng tại thung lũng chân núi và bên bờ các con sông lớn với những cánh đồng bằng phẳng, trồng ngô và hoa màu trên nương, chăn nuôi gia cầm, gia súc và khai thác nguồn lợi tự nhiên, làm nghề thủ công khác
Lịch sử truyền thống
Hoà An là nơi sớm có truyền thống yêu nước, là quê hương Cách mạng Ngày 1/4/1930, chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của huyện được thành lập tại Nặm Lìn (Thuộc địa phận xã Hoàng Tung) Đây là một mốc son, một
sự kiện lịch sử đánh dấu bước phát triển của phong trào Cách mạng Từ đây người dân Hoà An dưới sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết thành một khối vững chắc đứng lên đấu tranh giành độc lập tự do cho quê hương, đất nước Phong trào cách mạng của Hoà An dưới sự lãnh đạo đã phát triển nhanh, mạnh mẽ, vững chắc trở thành trung tâm của cách mạng là cái nôi của Cách mạng trong tỉnh và cả nước Phong trào cách mạng ở Hoà An luôn được sự chỉ đạo cụ thể của Bác Hồ, của TW Đảng, trực tiếp là đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Oanh… và sự chỉ đạo trực tiếp của cách mạng tỉnh, liên tỉnh Những năm 1930-1945, nhiều đồng chí là cán bộ, đảng viên người Hoà An đã được Đảng phân công đi học tập lý luận chính trị quân sự ở Long Châu, Trịnh Tây (Quảng Tây-Trung Quốc) đây là một tiền đề quan trọng làm cơ sở cách mạng
để đón chủ tịch Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam năm 1941 Cũng tại Hoà An nhiều đồng chí cán bộ cốt cán được Bác Hồ trực tiếp rèn luyện đã đến giúp đỡ phát triển phong trào cách mạng ở nhiều huyện trong tỉnh và nhiều tỉnh khác như: Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và các tỉnh miền xuôi
Hoà An là nơi có danh lam thắng cảnh như: hồ Nà Tấu, khu du lịch hồ Khuổi Lái đã thu hút được số lượng du khách thập phương đến thăm quan
Ngoài ra có các Di tích lịch sử được nhà nước xếp hạng như: Khu di tích Hoàng Đình Giong, khu di tích cách mạng Lam Sơn, Đền Kỳ Sầm, Đền vua Lê, Chuông chùa Đà Quận
Trang 17 Đời sống kinh tế
Cư dân ở Hoà An sinh sống chủ yếu bằng thâm canh lúa nước, ngô, khoai, sắn, thuốc lá, rau xanh, nghề rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá
và phát triển một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
- Về nông, lâm nghiệp
Tổng diện tích cây lương thực hàng năm: 9.110 ha; tổng sản lượng lương thực quy thóc hàng năm: 32.600 tấn Diện tích lúa nước hàng năm: 6.670 ha; năng suất bình quân 39,5 tạ/ha, sản lượng hàng năm đạt 26.367 tấn Diện tích ngô hàng năm: 1.975 ha; năng suất 26,4 tạ/ha, sản lượng hàng năm đạt 5.223 tấn Thuốc lá, diện tích trồng hàng năm: 804,5 ha, sản lượng 804 tấn/năm Mía đường: 62,00 ha, sản lượng 1.860 tấn/năm Diện tích cây ăn quả toàn huyện: 260,00 ha, gồm một số loại cây mới: nhãn, vải thiều, hồng không hạt
Lâm nghiệp: đến 1998, đã giao 39.643,2 ha đất rừng (74,40% diện tích) cho các đơn vị kinh tế và hộ gia đình Độ che phủ rừng ở Hòa An hiện nay vào khoảng 30,00% diện tích tự nhiên của huyện
Chăn nuôi: Hiện nay Hòa An có đàn trâu: 24.125 con; đàn bò : 8.266 con; đàn lợn: 37.288 con, gia cầm: 220.900,… (số liệu năm 2007)
- Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở Hòa An đang từng bước được chú ý phát triển Các hợp tác xã (HTX) khai thác cát, sỏi, HTX dệt, HTX chế biến nông sản thực phẩm, HTX gốm sứ, đúc rèn… đã đi vào hoạt động thu hút nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế xã hội của huyện
Huyện đã chủ động thu hút nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng như trường học, trạm xá, trụ sở UBND của một số xã, một số công trình công cộng Đặc biệt những năm gần đây với nguồn đầu tư ngân sách của nhà nước qua các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình 134 –
Trang 18135a của CP, chương trình 5triệu ha rừng, bộ mặt nông thôn và thị trấn huyện ngày càng đổi mới phát triển
- Văn hoá - Xã hội:
Là một trong những huyện gần thị xã Cao Bằng, từ những năm 1990 trở lại đây, huyện Hoà An đã có nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ truyền thống bổ ích Từ 3 đội văn nghệ trong huyện (đội tuồng, đội văn nghệ, đội ca kịch) nay được nhân rộng ra khắp huyện Các làn điệu dân ca truyền thốngcủa
các dân tộc trong huyện gồm: nàng ới, then, phong slư và một số làn điệu khác như bổn, khả quan,…
Các lễ hội truyền thống hàng năm gồm có: lễ hội đền vua Lê, lễ hội
chùa Đà Quận, lễ hội đền Kỳ Sầm, lễ hội Thạch Sanh, các hội Lồng Tồng…
vào dịp tết đến xuân về
Các di tích lịch sử trong huyện đã được nhà nước xếp hạng: khu di tích
Hoàng Đình Giong, Đền Kỳ Sầm, đền Vua Lê, chuông chùa Đà Quận Từng
bước được trùng tu tôn tạo nâng cấp để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt văn hoá của nhân dân trong huyện
Hàng năm huyện Hòa An thường xuyên tổ chức các giải bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, bóng rổ, kéo co, hội chim hoạ mi, hội tung còn, hội đua mảng, múa lân nhằm động viên nhân dân phấn khởi sản xuất lao động Đây là những dịp khuyến khích nhân dân trong huyện ôn lại truyền thống thể thao
Trang 19của cha ông đã để lại và giao lưu văn hoá, thể thao cho các địa phương trong
toàn huyện
- Về giáo dục - y tế:
Từ xưa đến nay người Hoà An vốn có ý thức ham hiểu biết và ham học hỏi, nên Hòa An xưa kia có nhiều thày đồ Ngày nay nhiều con em các dân tộc Hoà An đã tốt nghiệp các trường Đại học, Cao đẳng ở Trung ương và địa phương Những năm gần đây một số con em là người Hoà An có trình độ học vấn đã được tỉnh cho đi du học đại học và cao học ở đại học Quảng Tây (Trung Quốc)…Đến năm 1999 đã có 100% các xã trong huyện có trường Tiểu học, 18 trường hoàn chỉnh cấp 1-2, hai trường PTTH
1.3.3 Đặc điểm văn hóa truyền thống
Người Tày là một cư dân nông nghiệp sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng cây lúa nước Ở Hoà An do đất canh tác tương đối nhiều loại có những cánh đồng khá rộng lớn, bằng phẳng, màu mỡ, sẵn nước tưới cho nên nền nông nghiệp lúa nước có một tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống dân cư
và chiếm địa vị chủ đạo trong sinh hoạt kinh tế của họ Những thứ lúa được đồng bào hay trồng là: lúa tẻ Từ lâu người Tày ở Hoà An họ thường chỉ làm một vụ trong một năm, vụ nông nhàn thì phụ nữ dệt vải
Nghề trồng thuốc lá đã có từ lâu đời của người Tày ở Hoà An Trứơc kia nó chỉ được coi là cây trồng phụ vì thế chỉ chiếm một diện tích nhỏ trong mảnh ruộng của người nông dân Từ những năm 1990 trở lại đây, thuốc lá được coi như là cây trồng quan trọng nhất ở địa phương, cây thuốc lá trồng vào mùa đông khi cây lúa nước không phát triển được Có thể nói cây thuốc lá
là một trong những nguồn lợi to lớn của huyện Hoà An, là nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào địa phương
Cùng với việc làm ruộng, làm vườn cũng có một ý nghĩa kinh tế to lớn Nếu như việc làm ruộng và nương rẫy đã đem lại lương thực phẩm, vải vóc, và
Trang 20phần nào đáp ứng được những nhu cầu về thực phẩm của con người ta thì làm vườn cũng là để thoả mãn một cách đầy đủ nhất những nhu cầu đó trong họ
Nó cung cấp rau xanh cho bữa ăn hàng ngày trong gia đình đồng thời đóng góp phần tích cực phục vụ cho chăn nuôi, gián tiếp tạo ra nguồn thực phẩm mới
Trong bất cứ cư dân nông nghiệp nào chăn nuôi cũng chỉ có thể đóng vai trò của một ngành kinh tế phụ Chăn nuôi của người Tày trước hết nhằm mục đích cung cấp sức kéo và phân bón cho nông nghiệp đồng thời đem lại cho người ta thịt, trứng để dùng cho các dịp lễ Tết, hội, hè, cũng như trong cuộc sống hàng ngày Một số ít được đem bán ra thị trường nhằm tăng thêm thu nhập cho gia đình Đồng bào chăn nuôi các loại gia súc như: trâu, bò, ngựa Cùng với chăn nuôi các loại gia súc việc chăn nuôi gia cầm cũng được phát triển bao gồm: chăn nuôi dê, lợn, gà, vịt, ngan, cá… sản phẩm vừa giải quyết vấn đề thực phẩm vừa là nguồn thu nhập kinh tế khi bán
Tiểu thủ công nghiệp với một số nghề truyền thống vẫn được duy trì như:nghề mộc, đan lát, dệt, làm chum vại sành sứ… Nghề dệt vải là nghề thủ công phát triển nhất trong người Tày ở Hoà An Vì nó chẳng những mang lại chăn đắp, quần áo mặc hay một khoản thu nhập nho nhỏ trong gia đình mà còn là một công việc gần như bắt buộc đối với các cô gái Tày xưa kia, nó thể hiện tài năng và sự khéo léo của họ Cho nên gia đình nào cũng có xa quay, khung cửi và đã là con gái Tày thì người không biết kéo sợi, dệt vải thì bị làng xóm chê cười Đó chỉ là một nghề phụ nên thường được làm vào buổi trưa, buổi tối hay ngày tương đối rỗi rãi sau khi đã thu hoạch lúa xong
Khung cửi của người Tày Hoà An cũng chủ yếu làm bằng gỗ và tre Trên cơ bản nó cũng gần giống như khung cửi của người Kinh Nhờ có bộ phận để quấn vải riêng một bộ phận khác gọi là “khau” nên chỉ bằng chân người dệt đã tách được sợi dọc ra để đưa thoi chứ không phải dùng cả người
để tách như một số nơi khác Do đó tiết kiệm được sức lao động Tuy nhiên năng suất cũng không cao lắm
Trang 21Ngoài dệt vải một số xã như: Dân Chủ, Nam Tuấn, Dã Hương người ta còn dệt thổ cẩm Khung cửi dệt thổ cẩm cũng chính là khung cửi dệt vải nhưng đã được thêm vào một số bộ phận khác Các loại thổ cẩm đồng bào hay dệt có hoa văn hình học là chủ yếu Ngoài ra có hình hoa đào, hình ngôi sao 8 cánh… khác với dệt vải thông thường, dệt vải thổ cẩm đòi hỏi tỷ mĩ, công phu nên năng suất thường thấp Để dệt được một tấm thổ cẩm làm mặt chăn phải dệt liên tục trong mười ngày
Tóm lại, trong cơ cấu kinh tế truyền thống của người Tày trồng trọt luôn đóng vai trò chính chăn nuôi, nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt Chăn nuôi nhằm cung cấp sức khéo vận chuyển cho trồng trọt và cung cấp nguồn phân hữu cơ phục vụ thâm canh Tất cả hoà với nhau trong một tổng thể kinh tế, hỗ trợ lẫn nhau và tạo điều kiện cho nhau phát triển
Làng bản và nhà cửa
Người Tày Hoà An thường cư trú với nhau theo từng bản Ngoài ra
họ còn sống chung với người Nùng hoặc người Kinh trong một vài bản khác Nơi cư trú của người Tày Hoà An thường nằm ven những quả đồi thấp hay trên gò đất giữa cánh đồng, nơi có nguồn nước hoặc gần sông suối Các bản đều dựa lưng vào đồi núi và hướng ra cánh đồng tiện cho khai thác đất sản xuất, trước làng là đất bằng để làm ruộng, sau làng là đất dốc để làm nương Miền núi có nhiều nguồn nước chảy tự nhiên từ các khe núi, người Tày khi dựng làng còn tính đến vị trí làng so với khe nước, để
có thể dùng máng dẫn nước về bản Cư dân thường sống tập trung với nhau trong một khu đất nào đấy và đôi khi họ cũng cùng một dòng họ duy nhất Cũng có nhiều bản có nhiều xóm khác nhau, trong đó có một xóm gốc và các xóm khác phụ thuộc vào nó
Người Tày ở Hòa An cư trú chủ yếu theo lối mật tập Nhà cửa trong bản phần nhiều có chung một hướng và đôi khi sát gần nhau đến mức có thể
đi được từ mái nhà nọ sang mái nhà kia Nhưng thường lại không có hàng lối
Trang 22gì cả, cái dịch về phía trước một tý, cái lùi về phía sau một chút Trong từng gia đình có bếp sưởi vào mùa đông tạo nên không khí ấm áp Bếp không đặt sát vách như người Kinh vùng đồng bằng mà đặt ở vị trí để mọi người có thể ngồi xung quanh sưởi Thường thì giữa bản này với bản khác hay giữa xóm
nọ với xóm kia có một đường phân giới rõ ràng Điều đó tạo điều kiện để tăng cường mối quan hệ về mọi mặt giữa các cư dân ở các bản, xóm khác nhau
Một mặt bản người Tày Hoà An cũng là tập hợp của các gia đình theo quan hệ láng giềng như bất cứ bản của một dân tộc nào khác nhưng mặt khác việc cư trú theo quan hệ huyết thống vẫn còn được duy trì ở mức độ đáng kể Điều đó không chỉ đựơc thể hiện trong làng bản những người đang sống mà còn được biểu lộ trên cả bãi tha ma Thường mỗi dòng họ thường chôn người chết trên một khu đất nhất định, ở đó mỗi chi họ lại có những khu vực riêng của mình Có thể nói làng bản của người Tày đơn giản chỉ là một nơi cư trú chứ không đựơc xây dựng theo lối phòng thủ Do đặc điểm cư trú nên nhà ở của người Tày – Hoà An chủ yếu làm bằng đất Bao gồm hai loại nhà: Nhà gỗ
và nhà gạch Trong đó nhà gỗ được phổ biến rộng rãi, họ thường sử dụng gỗ rừng để làm nhà như vậy thì nhà mới kiên cố chắc chắn và tránh mối mọt Nhà gạch không phổ biến lắm, nó chỉ rải rác ở ven đường cái và một vài bản cá biệt, đồng bào thường sử dụng đất để làm nền nhà Hầu hết những ngôi nhà này được xây dựng trong khoảng vài năm trở lại đây Riêng nhà sàn ở Hoà An thì không có hành lang nhỏ chạy suốt mặt trước của ngôi nhà nên cửa chính không
ở gian giữa mà lại mở ngay ở sườn nhà Khung dệt có thể đặt ở bến trái hoặc bên phải của ngôi nhà và nơi gần cửa sổ thí mới có đủ ánh sáng để dệt
Trang phục
Người Tày ở Hòa An rất giỏi dệt vải thổ cẩm Họ đã tạo được nhiều loại thổ cẩm đẹp nhưng trang phục của họ chủ yếu chỉ một màu chàm xanh hoặc đen Màu chàm đã gắn bó và đi vào cuộc sống ngàn đời của đồng bào Màu chàm là màu của núi rừng, màu của ruộng lúa, nương ngô đã nuôi dưỡng cuộc sống của con người nơi đây, đã gắn kết họ với thiên nhiên và
Trang 23giúp họ hoà vào thiên nhiên Màu chàm đối với người Tày thật đẹp và thiêng liêng, họ nâng niu coi trọng và coi đó là cái chất riêng của miền núi
ra khoảng nhỏ của áo cánh trắng bên trong, vạt áo dài che hết bắp chân, quần vải chàm Còn trẻ em thường đội mũ vải tròn có núm hoặc dải rút làm bằng những vòng hay nút vải màu khác nhau Trong đó màu đỏ và màu đen là hai màu chiếm ưu thế hơn cả Riêng quần áo trong tang được chia làm nhiều loại khác nhau tuỳ theo mức độ thân thiết đối với người đã khuất Nếu là con trai
và con dâu thì mặc áo dệt bằng sợi chuối, có đính thêm ba mảnh vải nhỏ ở lưng áo mà thôi Con rể và cháu gái thì vẫn mặc quần áo bằng sợi bông nhưng dệt thưa hơn bình thường
Đồ trang sức của họ cũng chỉ gồm một vài thứ rất quen thuộc vẫn có trong người Tày ở các nơi khác Đó là những chiếc vòng tay, vòng cổ, khuyên tai, bộ dây xà tích, túi đeo (túi nải), túi đựng trầu… làm bằng bạc hoặc bằng vàng Ngoài ra việc nhuộm răng đen cũng là một cách trang sức của họ
Ẩm thực
Thức ăn hàng ngày của họ chủ yếu lấy từ trồng trọt tăng gia hoặc chăn nuôi Do đó thịt, cá, trứng, rau là những thứ không thể thiếu Ngoài ra khi lên
Trang 24rừng họ còn nhặt các loại rau rừng như nấm hương, mộc nhĩ, măng rừng… mang về nhà làm cho bữa ăn thêm phong phú Trong các ngày lễ, ngày tết thì
cỗ bàn của người Tày rất thịnh soạn Tết nguyên đán các gia đình làm nhiều thứ bánh: Bánh chưng, bánh chè lam, bánh khảo, bánh “khẩu si”… đều là sản phẩm từ gạo nếp Thịt sử dụng trong ngày tết của người Tày gồm thịt lợn, gà thiến (nhất thiết phải có còn nhiều hay ít còn tuỳ thuộc và điều kiện hoàn cảnh mỗi gia đình) Vào mùa đông họ thường xào thức ăn với mỡ để chống lại khí hậu rét buốt khắc nghiệt của miền núi Tết thanh minh và tảo mộ: các gia đình
đồ xôi màu xanh, đỏ, tím, vàng để cùng tổ tiên và để ăn, có vùng còn làm cả bánh trứng kiến rất ngon Tết tháng năm (còn gọi là tết đoan ngọ hay tết giết sâu bọ): mọi người ăn mận, mơ Tết tháng năm nhà nào cũng làm bánh gio để
ăn, bánh chấm với đường mật nấu chín Tết tháng bảy âm lịch, mọi nhà đều làm bánh treo thành từng đôi gọi là “pẻng tải” bằng bột nếp, nhiều loại khác nhau Tết tháng Bảy ăn thịt vịt, ăn hoa quả Một tục lệ khá lâu đời trong tết tháng Bảy là bình quân mỗi nhân khẩu trong nhà một con vịt
Ngoài ra, với người Tày còn nhiều lễ, tết khác như: tết với cơm, tháng chín âm lịch, đông chí… có thể thấy đối với nhân dân Cao Bằng nói chung, người Tày Hoà An nói riêng phần lớn các tháng nào trong năm đều có tết Tết nguyên đán, tết thanh minh, tết tháng Bảy là ăn to nhất, con cháu đi công tác
xa đến ngày này đều về ăn tết Văn hoá ẩm thực của ngày Tày còn được thể hiện ở bữa ăn cho trẻ sơ sinh, bữa ăn cho người già, bữa ăn cho người sinh đẻ, bữa ăn ngày cưới, bữa ăn mừng con đầu lòng, bữa ăn ngày báo hiếu, bữa ăn mời khách, ăn uống ở nơi lễ hội… đồ uống đối với người Tày chủ yếu vẫn là rượu, rượu uống trong cả bữa ăn thường và tiếp khách, hoặc là bạn bè gặp nhau Cả nam và nữ đều uống Rượu được nấu từ gạo và ngô, thơm và ngon Hoà An là một trong những quê hương thuốc lá, do đó việc hút thuốc lá được phổ biến rộng rãi trong cư dân Ngoài thuốc lá ra họ còn hút thuốc lào
Quan hệ dòng họ
Trang 25Người Tày ở Hoà An thuộc nhiều dòng họ khác nhau Trong đó có nhiều dòng họ Tày thực sự nhưng cũng có dòng họ mà tổ tiên vốn là người Kinh, do chung sống với người Tày nên đã “Kinh già hoá Thổ” biến thành người Tày Thông thường người Tày lấy họ theo họ bố nhưng cũng có nhiều trường hợp người ta lấy theo họ mẹ, bên cạnh đó cũng có những người mang hai họ
Mỗi dòng họ đều có phần mộ riêng của mình Hàng năm đến 3/3 âm lịch người ta lại tổ chức giỗ tổ và tiến hành tảo mộ, thay áo mới cho tổ tiên Mọi chi phí trong ngày này do các gia đình trong dòng họ góp lại Mỗi dòng
họ đều có người trưởng họ làm nhiệm vụ giữ gia phả, trông coi phần mộ và thờ cúng tổ tiên chung Có thể nói trong phạm vi dòng họ người trưởng họ có vai trò vô cùng lớn Từ bản, xóm đến các chòm, càng những đơn vị cư trú nhỏ hơn người ta càng thấy sự gần gũi của cư dân cùng huyết thống Nếu một bản hay một xóm nào đó là của một dòng họ thì một chòm còn lại thường gồm mấy anh chị em trai cùng chung sống Đó là sự giúp đỡ lẫn nhau và có thể nói
là không ai không muốn dòng họ mình được đông đúc, thịnh vượng… cho nên một đứa trẻ chào đời, hay một người đỗ đạt làm quan… không chỉ là điều phấn khởi riêng của một gia đình mà nhiều khi là niềm tự hào chung của cả một dòng họ
Nghi lễ vòng đời
Con người kể từ khi bắt đầu hình thành trong bụng mẹ đến khi nhắm mắt xuôi tay trở về với thế giới bên kia họ phải trải qua biết bao biến cố của đời người Mỗi một sự kiện là một khâu trong mắt xích của vòng đời ấy
Đối với người Tày ở Hòa An, sinh đẻ là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời Do vậy vấn đề sinh đẻ và nuôi con còn có nhiều vấn đề được đặt ra Khi có thai, người phụ nữ không dám đi đám ma vì sợ sinh con ra sẽ ốm yếu, khó nuôi Trong vòng một tháng đầu khi đẻ, sản phụ không được lên nhà người khác hoặc đi ngang qua đền thổ công hoặc bàn thờ
tổ tiên… vì sợ đang “bẩn mình” do đó sẽ làm “ô uế” nhà người ta và những
Trang 26nơi tôn nghiêm Còn người trong gia đình nếu đi làm ma về phải rửa chân tay bằng nước là thơm thì mới được vào nhà Riêng người ngoài thì bất kể như thế nào cũng không được vào nhà khi trong nhà có người đẻ, người ta thường buộc một chiếc lá ráy ở cửa ra vào để báo cho mọi người biết Sau khi đẻ phụ sản được chăm sóc rất chu đáo Ngoài ăn thịt gà và cơm nếp với nghệ người
ta còn cho sản phụ ăn chân giò lợn hầm với đu đủ, là những thức ăn ngon, bổ
và cho nhiều sữa Trẻ mới sinh thường đươc đặt bằng những cái tên xấu xí là
“ma” hoặc “mèo” chẳng hạn Sau này khi trẻ đã đầy tháng người ta mới chính thức đặt tên cho nó Theo quan niệm của người Tày thì đặt những cái tên xấu
xí như vậy cho trẻ là để “che mắt ma” hoặc là để cho vía độc của người lạ khỏi phải phạm đến chúng Những đứa trẻ mới sinh thường dùng áo cũ của
mẹ hoặc bố cắt ra để làm tá lót, điều đó có ba ý nghĩa Đầu tiên là để tiết kiệm
vì thời xưa do điều kiện kinh tế khó khăn nên việc mua vải là rất khó, điều thứ hai là vải cũ thường rất mền sẽ khiến cho da trẻ sơ sinh không bị trầy sước Điều thứ ba là cái quan trọng nhất nó thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng của người
mẹ bao giờ cũng che chở bao bọc cho đứa con Nếu trẻ biếng ăn thì người ta mời thầy mo đến lập bàn cúng bà mụ và gửi nó cho ông ta “nuôi hộ”, chừng nào đứa trẻ vẫn còn như thế thì hằng năm vào dịp tết tháng một và tháng bảy âm lịch bố
mẹ đẻ phải sắm sửa lễ để mang đến cho bố mẹ nuôi của chúng
Tâm lý chung của đồng bào là phải có nhiều con Nếu lấy nhau đã lâu
mà vẫn chưa có con thì người ta phải mời thầy mo về lập đàn bà mụ và lấy trong họ về nuôi làm con nuôi với mục đích cho việc xưng hô với nhau được
dễ dàng và “lót đường” cho sự ra đời của đứa trẻ
Hôn nhân và gia đình
Xưa kia, đối với người Tày Hoà An hôn nhân thường do cha mẹ sắp đặt Tiêu chuẩn để chọn con dâu trong xã hội Tày truyền thống phải là người giỏi lao động và có đức hạnh Người Tày thường nói "chiêm slao chiêm tin slửa" - kén gái xem tà áo Hoặc "chiêm slao chiêm bươn lạp" - chọn dâu thì
Trang 27xem vào tháng chạp Để đánh giá đức hạnh và sự chăm chỉ siêng năng của cô gái định chọn về làm dâu, khi đi chợ người ta chú ý xem cô gái ăn mặc như thế nào Vào tháng chạp trời giá rét, các cô gái đi chợ thường mặc áo ba lớp Nếu cô nào mặc cả ba lớp áo mới chứng tỏ cô gái chăm chỉ, giỏi dệt vải và khéo may vá, có thể chọn làm dâu Đặc biệt các cô gái Tày cũng rất tự hào về đôi bàn tay làm việc, nhuộm chàm của mình Nếu ai giỏi kỹ thuật pha chế mày
để nhuộm vải sẽ tạo được màu đẹp, đặc sánh, khi nhuộm nước chàm bám chặt vào hai bàn tay ánh lên màu thẫm pha sắc tím - đó là màu đẹp Nếu da tay xanh nhờ nhờ chứng tỏ người đó chưa giỏi chế biến chàm để nhuộm vải
Người Tày gọi kiểu kết hôn này là “đặt tầu nẳng tỉ” (đặt đâu ngồi đó) Thành ngữ người Tày có câu “nhình khai, chài sự” (gái bán, trai mua) Xuất phát từ quan niệm đó, trước đây phổ biến hiện tượng dựng vợ gả chồng cho con từ 13-15 tuổi Ngày nay, thanh niên nam nữ Tày được tự do tìm hiểu, tình yêu của con trẻ được gia đình cha mẹ tôn trọng Chính điều này mà các nghi lễ hỏi cưới cũng từng bước được đơn giản hóa, không quá cầu ký phức tạp Tuy nhiên các nghi lễ vẫn được duy trì theo đúng nghi lễ của người Tày, cụ thể là:
Lễ ăn hỏi: Khi đủ điều kiện cho phép, nhà trai sẽ tiến hành lễ dạm hỏi
vợ cho con Việc dạm hỏi không thành lễ mà chỉ nhờ người có uy tín, đứng tuổi, thay mặt nhà trai sang nhà gái bàn chuyện hôn nhân của đôi trẻ Lễ vật thường là gà thiến, rượu,… hai bên thấy thuận mới làm lễ ăn hỏi Lễ ăn hỏi được tiến hành trang trọng hơn lễ dạm hỏi Lễ ăn hỏi thường là mâm xôi gà thiến luộc chín, chai rượu ( thường có thêm trầu, cau, chè, thuốc lá, tiền mặt…) Về phía gia đình nhà gái đến dự lễ ăn hỏi là người thân bên nội, bên ngoại, bạn bè thân thiết… Trong lễ ăn hỏi hai bên bàn bạc và quyết định nhiều vấn đề quan trọng như: quyết định số lượng lễ vật cưới, quyết định ngày cưới, giờ đón dâu
Lễ cưới thường được tổ chức từ tháng 7 năm trước đến tháng 2 năm sau Đám cưới diễn ra vào lúc chiều tối (tầm 4-5 giờ chiều trở đi) Tiệc cưới
Trang 28được chia làm hai tiệc Tiệc thứ nhấtdành cho người lớn tuổi, bậc cha chú, anh em họ hàng Tiệc thứ hai dành cho nam nữ thanh niên, bạn bè gần xa của
cô dâu chú rể Theo phong tục mọi chi phí đám cưới của nhà gái đều do nhà trai lo liệu hết: tiền mặt, lợn, gà, rượu, gạo,… Điều đó có nghĩa là nhà trai tỏ lòng biết ơn, mong đền đáp phần nào công lao dưỡng dục của bố mẹ cô gái Nhà gái sẽ trích ra một số tiền mặt để sắp sửa tư trang cho con gái làm của hồi môn: quần áo mới, vòng bạc, cà tích bạc, chăn màn thổ cẩm, chiếu hoa… và những đồ gia dụng khác Còn rượu, gạo nếp, gạo tẻ, thịt sẽ dùng để mời họ hàng, làng xóm
Lễ cưới được tiến hành với nhiều tục lệ như vậy nhưng có một lệ không thể thiếu được trong đám cưới người Tày là lễ dâng vải ướt khô (phải rằm khấu) Lễ này hiện nay trong đám cưới người Tày vẫn còn lưu giữ Lễ dâng vải ướt khô là tỏ lòng hiếu thảo của con cái đối với bố mẹ đẻ của vợ, ơn bố
mẹ nuôi từ lúc nhỏ đến lớn vẫn luôn đầy như bát nước, có ngày vui, có lễ mừng, có dip thuận tiện, người ta chỉ nghĩ đến sự đền đáp công ơn bằng hình thức này hay hình thức khác Đây là một tấm vải sợi bông khổ dài, rộng hai gang tay, tuỳ từng gia đình nhuộm một nửa hay một phần ba tấm vải ước lệ là vải ướt, phần còn lại để nguyên trắng mộc ước lệ là vải khô Nói về giá trị tấm vải thì không cao, nhưng nói về ý nghĩa thì vô cùng cao quý, mang ý nghĩa đền đáp công ơn cha mẹ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng đã vất vả chăm sóc
và kiên trì chịu đựng nuôi con từ ngày mới lọt lòng cho đến ngày khôn lớn nên người Lễ dâng vải ướt khô chỉ được thực hiện sau khi đoàn chú rể đến nhà gái bắt đầu làm thủ tục nhận bàn thờ tổ tiên và họ hàng để đón dâu về
Người Tày Hoà An còn có một phong tục khác nữa đó là tục: “khẩu
lẩu” (gạo rượu) Khi gia đình nào có đám cưới ngoài số tiền phong bao như
thường lệ, nhiều người còn mang gạo và rượu đến Đây là một hình thức giúp
đỡ nhau bằng hiện vật, bớt phần nào chi phí cho gia chủ khi có việc Nó thể
hiện tính cộng đồng rất cao Người Tày có câu: “Slắng lẩu cẩu vằn” có nghĩa
Trang 29là mời khách đến đám cưới phải mời trước chín ngày, không sớm hơn mà cũng không muộn hơn
Gia đình người Tày ở Hoà An là gia đình nhỏ phụ quyền Trung bình mỗi gia đình có khoảng 5, 6 người bao gồm: vợ chồng, con cái và đôi khi cả
bố mẹ của họ nữa Trong gia đình người Tày tính chất gia trưởng phụ quyền được biểu hiện khá rõ nét Gia trưởng là người bố và nếu người bố đã mất hoặc quá già yếu thì con trai trưởng có quyền quyết định những công việc quan trọng trong gia đình Những người khác có thể đề xuất ý kiến, bàn bạc nhưng quyết định cuối cùng thuộc về người gia trưởng đó
Gia trưởng có nhiệm vụ tổ chức và lãnh đạo tiến hành các công việc trong gia đình, phân công công việc cho mọi người Do đó vai trò của gia trưởng là rất lớn, tuy nhiên cũng không bỏ qua vai trò của người mẹ, người vợ,… trong trường hợp chồng mất sớm, con cái còn nhỏ thì người phụ nữ goá phải đóng vai trò chủ gia đình ý kiến của họ cũng có sức nặng Và họ nắm quyền quản lý kinh tế trong gia đình thì địa vị của họ càng được nâng cao Trẻ
em thường sớm phải tham gia lao động sản xuất Tính chất phụ quyền còn thể hiện trong quan niệm về người thừa kế nối dõi và tính trọng nam khinh nữ Người ta cho rằng chỉ con trai là người trong gia đình dòng họ mình, con gái
cũng “chín tháng chửa, mười năm nuôi” như thế nhưng khi lấy chồng là thuộc
về một gia đình khác, nên họ thích đẻ con trai hơn con gái Cũng xuất phát từ quan niệm nói trên mới được hưởng gia tài, con gái chỉ đựơc một ít gọi là của hồi môn Nếu trong trường hợp lấy rể thì con gái cũng được chia gia tài như con trai Có thể tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày Hoà An rất bền vững, nó được củng cố thêm bởi những quan niệm đạo đức và lễ giáo phong kiến Tuy nhiên trên một chừng mực nào đó tính chất dân chủ trong gia đình vẫn còn được giữ lại
Ma chay
Trang 30Cũng như người Tày ở những nơi khác đồng bào Tày ở Hoà An quan niệm rằng người ta chết đi là để sang thế giới bên kia sống một cuộc đời khác
có tính chất vĩnh cửu hơn Ở bên đó người ta vẫn phải ăn, phải mặc, ở… như bên này vì vậy là ma cho người chết là để đưa hồn của họ sang bên kia thế giới cũng như là để chuẩn bị cho họ những đồ ăn, thức dùng để mang đi sống
ở bên đó Mặt khác ma chay cũng là lúc để cho con cái thể hiện lòng hiếu thảo đối vơí cha mẹ và đền ơn trả nghĩa cho công lao sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ Ngoài ra trong một số trường hợp ma chay cũng là lúc để người ta thể hiện sự giàu sang, phú quý Cho nên nó thường được tổ chức rất linh đình
Linh cữu người chết thường được đặt trước bàn thờ tổ tiên Sau khi đã
bỏ kim khí vào miệng và buộc hai ngón chân cái của người chết vào với nhau người ta lấy giây bản cắt hình ngũ khiếu phủ lên mặt vải căng màn ( ba góc) che lấy thi thể của họ, đồng thời cho người đi mời thầy mo đến hành lễ, thầy
mo sẽ tự đi tìm các đạo trưởng và trợ tế đến giúp việc Lúc con cháu đã có mặt đông đủ người ta mới lấy lá thơm để tắm rửa và tiến hành liệm cho người chết Thường thường là đại diện, người ta chỉ lấy vải trắng quấn xung quanh, suốt từ đầu đến chân người chết, sau đó đem nhập quan Quan tài thường đựơc làm bằng loại gỗ tốt Dưới đáy có trải một lớp tro sạch và các khe hở được gắn lại bằng một chất keo đặc biệt làm bằng đất sét và lá cây Sau khi thầy mo đã dùng bùa phép để bắt hồn người chết vào quan tài, người ta bỏ xác chết cùng những đồ tuỳ táng vào đó Cuối cùng bọc nó lại bằng vải hoặc giấy
đỏ và đặt vào mai táng Y phục mặc trong tang ma của người Tày hoàn toàn
là vải trắng Con trai người quá cố đội mũ đan bằng lạt thưa, quấn vải trắng, mặc áo quần trắng lộn ngược, tay chống một chiếc gậy Con gái, con dâu đầu đội khăn trắng trên chỏm gập nhọn, buông hai tua ra phía sau, mặc quần vải trắng Các cháu, chắt, chít khăn màu xanh, dưới chắt chít khăn màu vàng Các loại áo tang đều không cài cúc, chỉ đính dây buộc và đều may trái, khi mặc các đường ghép vải ở mặt ngoài Trong một đám tang người Tày, nhìn vào
Trang 31trang phục người ta có thể biết người chết đó có bao nhiêu con trai, con gái, cháu trai, cháu gái, chắt, chút chít
Một trong những phần quan trọng nhất của đám ma là gồm nhiều loại tế khác nhau như: tế dân, tế ngu, tế cơm bữa Nội dung của các bài văn tế đó là
kể công ơn của những người đã khuất đối với con cháu của họ và bà con chòm xóm và đồng thời dặn dò người chết khi họ sang thế giới bên kia Với lời văn thống thiết, giọng kể bi ai lại cả âm nhạc góp buồn làm cho những người nghe mủi lòng mà sa nước mắt Sau cùng là lễ xuất thi, hạ huyệt và mở cửa mộ Đến giờ tốt, ngày lành người ta tổ chức đưa đám, con cái phải lăn chống gậy đưa đường đem lính xa đến nơi chôn cất Khi thầy mo đã thả một con gà trống xuống để xem thế đất, người ta mới hạ quan tài Con trai trưởng
sẽ bỏ xuống đó nắm đất đầu tiên, mọi người cùng lấp huyệt lại và đắp thành
mộ Sau ba ngày con cháu ra sửa sang lại phần mộ với ý nghĩa mở cửa mộ cho hồn người chết thoát ra Những người chết trước tuổi vị thành niên thì không đựơc chôn vào nghĩa địa của dòng họ và hồn của những người này cũng không được đưa lên đến thượng giới Còn những người chết “bất đắc kỳ tử” như chết đuối, chết vì mũi tên, hòn đạn Thì xác thường được các cô hồn nhập vào Cuối cùng có những gia đình có người chết nhưng vì hoàn cảnh kinh
tế khó khăn chưa làm ma ngay được thì đợi đến khi nào có thì mới làm ma
Làm nhà mới
Làm nhà mới cũng là một sự kiện to lớn trong đời sống của người Tày Hoà An Mỗi người làm cha đều mong tự mình làm được một ngôi nhà chắc
chắn, khang trang để hưởng tuổi già và sau này truyền lại cho con cái thì “ khi
nhắm mắt mới thật yên tâm” Cho nên mặc dù khó khăn, vất vả và tốn kém
nhiều trong khi hai bữa ăn cũng chưa lấy gì làm đây đủ cho lắm họ vẫn dành thời gian, sức lực và tiền của để làm nhà Nói về làm nhà phải nói đến quá trình chuẩn bị lâu dài cả về nguyên liệu, lương thực, thực phẩm và tiền bạc Đôi khi việc chuẩn bị phải kéo dài 5-7 năm thậm chí là cả chục năm Nguyên vật liệu
Trang 32để làm nhà thường lấy từ rừng, họ vào rừng tìm những cây gỗ nghiến, lim, táu… thật tốt đem về dựng nhà Tập quán của đồng bào Tày ở Hoà An cũng
kiêng lấy cây “song ngà”, “xà leo”… về làm cột nhà vì sợ chúng bị ma nhập
vào, nếu cứ dùng làm nhà thì con người khó lòng mà sống yên ổn đựơc Gỗ dùng để làm nhà cũng là loại gỗ tốt như gỗ nghiến Trong khi xây nhà mời thì tuổi làm, đất, hướng nhà cũng như thời gian bắt đầu san đất, đắp nền, dựng nhà
và lên nhà mới là những vấn đề đựơc người ta hết sức chú ý Việc dựng nhà cũng khá công phu Sau khi ngôi nhà đã hoàn thành người ta tiến hành dọn đồ đạc lên và tổ chức ăn mừng nhà mới Việc ăn mừng nhà mới được tiến hành như sau: người ta buộc một tấm vải trắng, một ngọn mía, một nắm lúa nếp và một ống nước vào xà nhà để trừ ma và cầu mong cho gia đình được đầy đủ, sung túc Sau đó kiếm một miếng vải hay vàng có ghi ngày, tháng, năm, hoàn thành ngôi nhà lên thượng lương và buộc vào đó với ý nghĩa là kỵ lửa Tiếp đến cúng ở bàn thờ tổ tiên và nhóm bếp Người ta quan niệm rằng ngày hôm đó lửa cháy càng to và càng lâu thì càng tốt Cuối cùng mới chuyển đồ đạc lên và
tổ chức ăn uống, ca hát mừng nhà mới
Phong tục thờ cúng
Người Tày ở Hòa An chủ yếu thờ cúng tổ tiên Theo quan niệm của đồng bào, tất cả những người tính theo kể từ bố mẹ, ông bà trở về trước sau khi chết ba năm đều được quy tổ và theo đó việc thờ cúng của họ đựơc chuyển từ bàn vị lên bàn thờ tổ tiên Trong các dịp tết nhất hoặc ngày mùng 1
và ngày 15 hàng tháng người ta thắp hương lên để tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên và cầu tổ tiên che chở cho họ được yên vui và làm ăn phát đạt Khi có ma chay, cưới hỏi, làm nhà mới người ta cũng thắp hương lên để báo cho tổ tiên biết và mời tổ tiên chứng kiến việc làm này của họ Mà người Tày còn quan niệm rằng ma tổ tiên là loại ma lành thường giúp đỡ, che chở, phù hộ cho con cháu nhưng cũng có khi vì một lý do nào đó cũng làm cho con cháu ốm đau,
Trang 33bệnh tật… vì thế khi trong nhà có người ốm đau người ta cũng thắp hương, khấn khứa, cầu mong tổ tiên cho đựơc tai qua nạn khỏi
Trong mỗi bản hoặc xóm Tày ở Hòa An đều có những hành động tôn giáo riêng của mình, đó chính là việc cúng thần bản và thổ công Bất cứ bản nào cũng có một vị thần để che chở, phù hộ cho dân bản mình làm ăn, sinh sống… vị thần đó có thể hoàn toàn là thần nhưng cũng có thể là một con người có thật, thậm chí là một người anh hùng dân tộc nhưng đã được thần thánh hóa lên (ví dụ: Nùng Chí Cao) Việc cúng thần bản chủ yếu đựơc tiến hành vào dịp đầu mùa và được cúng ngay trước đền thờ hay trên những khu đấy tương đối bằng phẳng và rộng rãi Nếu ở mỗi bản có một vị thần chung của bản thì từng xóm lại có một vị thần riêng để che chở, phù hộ cho dân ở trong xóm, đó chính là những thổ công chỉ là những túp lều nhỏ ngang nhỏ dọc mối chiếu khoảng 1-1,2m trong đó đặt bát hương Vào những dịp Tết nhất, ngày mùng 1 và 15 hàng tháng cũng nhiều khi trong nhà có người ốm đau hay có đám ma… người ta đều mang lễ vật ra đền và thắp nén hương lên
để cầu mong thổ công
Văn nghệ dân gian
Sinh hoạt văn nghệ dân gian là bộ phận quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của người Tày ở Hoà An Trong đó ca hát là hình thức tương đối phổ biến và được tiến hành một cách thường xuyên hơn cả Người ta thường hát rất nhiều trong những ngày lễ, ngày hội hay trong những buổi chợ phiên…phổ biến là hình thức hát đối đáp thanh niên nam nữ nhưng đôi khi họ
cũng hát “đơn ca” Nội dung tình cảm một bài hát phần lớn phụ thuộc vào lời
ca vì thế phải tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể mà có những bài hát thích hợp Bên cạnh đó nội dung của bài hát còn phụ thuộc vào làn điệu Cùng một bài hát nhưng hát với các làn điệu khác nhau có thể làm cho người nghe có những
cảm xúc khác nhau Chắc vì thế mà “nàng ơi” cất cao, trải dài, vang vọng
rừng núi thường đựơc hát trong đám cưới hay khi có khách đến bản, còn
Trang 34“lượn tính” trầm lắng thiết tha, đượm buồn và rất dễ đi sâu vào lòng ngoài
nghe, thường được hát xen trong những buổi cầu cúng…tất nhiên cũng tuỳ vào từng vùng mà mỗi làn điệu có ưu thế hơn các làn điệu khác
Bên cạnh ca hát người Tày ở Hòa An còn có một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian khá phổ biến khác là kể chuyện Nhiều truyện đã được in
trong hai tập “Truyện thơ Tày-Nùng” Vì truyện thơ dài nên người ta thường
kể dưới hình thức văn xuôi và những đoạn thật hay mới được kể gần như nguyên bản Những câu truyện như vậy thường được ghi lại bằng chữ nôm Tày hoặc thông qua hình thức kể truyện như vậy mà được lưu truyền từ đời này qua đời khác Nội dung chủ yếu của những câu truyện đó là ca ngợi tình yêu chung thuỷ, ca ngợi những con người lao động thông minh, tài trí Nhiều
câu truyện đều có chung một mô tuýp những người “ở hiền” bao giờ cũng
“gặp lành” còn những kẻ tham lam, tàn ác thì bị trừng phạt đích đáng
Y học dân gian
Có thể nói người Tày Hoà An có một nền y học dân gian khá phát triển
Họ biết đến khá nhiều loại thuốc và nhiều phương pháp chữa bệnh khác nhau Nhiều bệnh thông thường thậm chí cả những bệnh hiểm nghèo đã được chữa khỏi bởi các loại cây rừng và cỏ dại mọc trong vườn hay trên bờ ruộng… có loại dùng để sắc nước uống, có loại đem xông, có loại để lót chỗ nằm và cũng
có loại đem giã nhỏ và đắp ngay vào vết thương hoặc bọc vào chỗ đau Ngoài thuốc chữa bệnh họ còn có thuốc để cầm máu, giải độc… bên cạnh dùng thuốc nam nhiều người còn biết đến cách chữa bệnh theo phương pháp đông y nữa Ví dụ: việc dùng kim châm hay ngải cứu hoặc lấy mảnh sành, mảnh sứ chích vào trán hay dọc theo sống lưng rồi dùng ống nứa để hút máu ra… Đấy
là chưa nói đến việc chữa bệnh bằng ma thuật, phù phép và nếu loại bỏ lớp vỏ
mê tín, dị đoan đi thì bên trong là cả những yếu tố tâm lý và những vị thuốc dân gian hiệu nghiệm Cùng với việc chữa bệnh việc kiêng ăn một số thức ăn nào đấy khi có bệnh này hay có bệnh khác cũng được đồng bào chú ý
Trang 35CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI TÀY VỚI
MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
2.1 Khái niệm văn hóa ứng xử đối với môi trường sinh thái
Khái niệm về văn hoá
Văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những giá trị của hoạt động người trong các quan hệ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, được lưu giữ, truyền thụ, tiếp biến từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm duy trì và phát triển cuộc sống của các cộng đồng hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp Từ những hoạt động trong các mối quan hệ của con người với môi trường tự nhiên đã hình thành nên một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ của con người được biểu hiện bằng chuẩn mực xã hội và những giá trị xã hội
Trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam, GS Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm:
Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội [22,tr.8]
Theo đó, văn hoá được hình thành từ khi con người biết sáng tạo (có nghĩa là văn hoá hình thành cùng với sự hình thành loài người) Văn hoá là tất thảy những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (văn hoá phi vật thể)
do con người sáng tạo ra trong quá khứ, hiện tại cả khái niệm nêu trên đều gắn
với chữ “giá trị” Trong cuốn Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3 viết:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn
Trang 36bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [12, tr.431]
Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm do con người sáng tạo ra, trong đó có văn hoá vật thể (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở…), có văn hoá phi vật thể (ngôn
ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật) Chữ “giá
trị” được ẩn dưới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống… nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Những sản phẩm do con
người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng những giá trị Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm văn hoá theo
nghĩa rộng
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự
xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của ckhon người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất
và tinh thần mà do con người tạo ra Văn hóa một khi đã hình thành và phát triển , nó cũng là môi trường sống của con người – môi trường văn hoá
Khái niệm văn hoá ứng xử
Trong cuốn sách “Ứng xử văn hoá của người Hà Nội với môi trường
thiên nhiên”, của tác giả Nguyễn Viết Chức, ứng xử là thể hiện thái độ, hành
Trang 37động thích hợp trước những việc có quan hệ giữa mình với một đối tượng khác Còn khái niệm văn hóa ứng xử bao gồm các thức quan hệ, thái độ và hành vi của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác [6,tr.54] Nghĩa là văn hóa ứng xử của con người trải quá trình sống, lao động và giao tiếp được chắt lọc, tích tụ lại biểu hiện thành những chuẩn mực, những giá trị xã hội được một cộng đồng nào đó chấp nhận và được tồn tại dưới dạng các nguyên tắc ứng xử, các phương châm xử thế của con người trong những điều kiện nhất định
Tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của GS Trần Ngọc Thêm, chưa
nói đến định nghĩa văn hóa ứng xử nhưng cũng bao quát được khá đầy đủ Tác giả nói, cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Với mỗi loại môi trường, đều có thể có hai cách thức xử thế phù hợp với hai loại tác động là: tận dụng môi trường (tác động tích cực) và ứng phó với môi trường (tác động tiêu cực) Với môi trường tự nhiên, có thể tận dụng để ăn uống, ứng phó với thiên tai, khí hậu, thời tiết Với môi trường xã hội bằng các quá trình giao lưu
và tiếp biến văn hóa, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụng những thành tựu của các dân tộc lân bang để làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình, đồng thời phải lo ứng phó với họ trên các mặt trận ngoại giao, quân sự [22, tr.16,17]
Tóm lại khái niệm văn hóa ứng xử là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa nói chung, nó bao gồm cả phương thức ứng xử của con người với thiên nhiên, ứng xử giữa con người với con người và văn hóa ứng xử của con người với môi trường xã hội Đồng thời nó cũng mang tính đặc trưng cơ bản của văn hóa nói chung như tính chuẩn mực, tính xã hội, tính nhân văn và đặc biệt là tính bản sắc và tính trường tồn
2.2 Văn hoá ứng xử đối với môi trường sinh thái
2.2.1 Ứng xử với tài nguyên đất
Người Tày là dân tộc có bản sắc văn hóa đa dạng và phong phú, những nét văn hóa truyền thống ngày nay vẫn được họ lưu giữ lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm phát huy tác dụng trong công tác bảo vệ nguồn tài
Trang 38nguyên môi trường Điều đó thể hiện rất rõ với tri thức bản địa của người Tày ở Cao Bằng trong văn hóa ứng xử với tài nguyên đất, thủy văn, khí hậu và rừng
- Ứng xử với các loại đất:
Từ xưa người Tày đã quan niệm đất là tài nguyên đặc biệt có giá trị rất lớn trong sự tồn tại và phát triển của con người Vì vậy đã được họ trân trọng nâng niu gìn giữ và bằng mọi cách làm cho đất ngày càng phì nhiêu màu mỡ phục vụ tốt cho cuộc sống của con người
Ở Hoà An có nhiều loại đất, loại đất do con sông Bằng một con sông lớn của tỉnh bồi đắp nên, đoạn chảy qua địa phận huyện Hoà An là đất phù sa được đồng bào khai thác tạo nên những cánh đồng lúa màu mỡ như cánh đồng Nước Hai, Bế Triều, Hưng Đạo, Cao Bình, Vĩnh Quang… Những cánh đồng này là những vựa thóc lớn, hàng năm cung cấp lương thực chủ yếu cho tỉnh nhà Đất mùn (đất đen), được đồng bào khai thác để trồng ngô, khoai, sắn, đỗ tương Đất xốp pha cát thường trồng lạc, khoai lang, củ cải, bầu bí, loại đất này phân bố ở ven sông giáp với đồi núi Ngoài ra đồng bào còn dùng đất vàng để trồng các các cây ăn quả như lê, mận, đào
Để giữ màu cho đất dù là ruộng hai vụ hay một vụ, ruộng ở cánh đồng lớn hay là ruộng bậc thang thì đồng bào Tày đã biết đắp bờ, be bờ, cày ải Trong đó cày ải đã trở thành tập quán lâu đời của người Tày Sau khi thu hoạch vụ trước người ta bắt tay vào chuẩn bị cho vụ sau ngay Đất được cày lên và phơi ải cho đến trước khi bừa mới tháo nước vào Thường người ta chỉ cày một lần trước tết âm lịch Ở một số xã người ta cày theo từng luống một, trong khi ở một số xã khác lại cày theo kiểu đường nọ tiếp đường kia cho đến hết thửa ruộng Trước khi cấy được cày bừa nhiều lần: cày vỡ, bừa phá, cày lại, bừa nhuyễn đất và bừa cấy, đắp bờ “khửn gằn nà” làm thủy lợi Thường thì đến lần bừa nhuyễn thì cũng là lúc đắp bờ xoa thật nhẵn để giữ nước, đỡ
cỏ, và bừa cấy đất cũng là lúc bón phân chuồng Kinh nghiệm cho thấy làm đất kỹ thì ruộng giữ nước tốt và lúa chắc hạt
Trang 39Nhằm tăng độ phì nhiêu cho đất trong quá trình sản xuất đồng bào đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu như: vùi rơm (mùa mưa), đốt rơm (mùa khô), bón phân chuồng, lót phân xanh, lấy rạ xuống dưới đất, rắc rơm trên ruộng để làm tăng độ màu mỡ cho đất
Ngoài ra để giữ sạch đất sản xuất đồng bào còn biết đốt gốc ra, đốt trứng sâu bọ, đốt sâu bọ ngoài đồng…làm như vậy đất sẽ có nhiều chất dinh dưỡng để cây trồng có thể phát triển được
- Ứng xử với địa hình đất:
Hình thức sản xuất của người Tày khá đa dạng phong phú, các dân tộc Tày huyện Hòa An đều là cư dân trồng trọt, nguồn sống chủ yếu dựa vào kết quả mùa màng Cùng với nông nghiệp ruộng nước, nương rẫy ở nhiều vùng vẫn chiếm vị trí đáng kể Là những cư dân trồng trọt lâu đời, đồng bào Tày đã khai thác những thung lũng và đồi núi cư trú của mình thành những cánh đồng, những triền ruộng bậc thang màu mỡ; thành những vườn rừng, cây ăn trái xanh tốt
Với địa hình đồi núi thấp và bằng phẳng do đó người Tày phải sử dụng
một cách hợp lý trong việc trồng lúa Người Tày đều gọi ruộnglà “NÀ”, đó là
những mảnh đất bằng phẳng có bờ giữ nước, giữ ẩm, có thể cấy lúa hoặc trồng mầu Ruộng có nhiều loại: Nà nặm (ruộng nước), Nà lẹng (ruộng cạn chờ mưa) thường là ruộng bậc thang cao khó nước, Nà lụm hay Nà pồng (ruộng lầy thụt) ở thung khe hoặc cuối cánh đồng Mấy chục năm trước đây, phổ biến chỉ cấy mỗi năm một vụ mùa song nhiều năm qua ruộng nước đã được trồng cấy thêm vụ chiêm hoặc xuân Do đặc điểm địa hình của miền núi chủ yếu là ruộng bậc thang, người Tày có quy trình riêng để khai phá ruộng bậc thang Thông thường một đám đất rừng mà thấy có thể khai thành ruộng được, thì thoạt nhiên, họ làm một vài vụ nương cho mục hết gốc cây Sau đó cày hoặc cuốc để lấp đất đắp bờ dưới rồi lại đắp bờ trên Cứ vậy khai ruộng
Trang 40bậc thang dần lên đỉnh đồi Tùy từng độ dốc của đồi mà các đám ruộng được tạo thành ruộng hẹp khác nhau
Những giống lúa được đồng bào ưa dùng hơn cả gạo tẻ có “khẩu lài”,
“khẩu pét”, “khẩu pay”… và đặc biệt là “sáy mạy” chẳng những ăn ngon, năng suất cao mà con chịu rét giỏi Gạo nếp có “khẩu nua vì pất” rất dẻo và
thơm ngon nổi tiếng làm bánh trưng trong ngày tết, một món ăn ẩm thực đặc sắc của người Tày Dù có cấy muộn một tí, lúa sẽ trổ khi trời đã trở lạnh nhưng năng suất của nó không bị giảm đi rõ rệt Bên cạnh các loại lúa
tẻ, trước đây đồng bào cấy khá nhiều lúa nếp nhưng do hạn chế của nó về đất trồng cũng như về năng suất nên đến nay diện tích cấy lúa nếp đã giảm
đi rất nhiều
Nói đến nền nông nghiệp lúa nước của người Tày ở Hòa An thì điều trước tiên cần phải kể tới là các hệ thống dẫn nước gồm phai, mương, cọn nước cũng như kỹ thuật tưới tiêu nước của họ Muốn tăng độ phì nhiêu cho đất, đồng bào bón lót bằng phân chuồng, phân xanh, phân bắc ủ… thậm chí
họ còn dùng cả nguồn phân gia súc rơi vãi dọc đường, quanh xóm làng Ở Hòa An khi đi cày người ta thường mang theo ky, sọt để nhặt phân Bên cạnh
đó việc độn chuồng bằng rơm, rạ, cỏ…cũng đã được chú ý đến Cùng với bón phân việc ủ phân cho hoại mục rồi mới đem bón cũng đã xuất hiện từ lâu
Công cụ làm đất có cày, bừa, cuốc bàn, cuốc bướm, mai, xẻng v.v…Cày chìa vôi là loại phổ biến nhất ở đây Thân cày thanh mảnh, từ mũi đến chóp dài khoảng 165 – 175 cm, được lắp lưỡi và diệp ngang Đôi vùng tạo diệp cày bằng
gỗ của chính than cày Bắp cày hơi cong, dài khoảng 150cm v.v…Thân và bắp cày được cấu tạo rời Khi lắp vào được kết cấu qua hệ thống láng, đòn gánh, tiếp và lỗ xỏ đầu bắp cày vào than Cấu tạo như vậy giúp cho việc điều chỉnh
đường cày ăn nông sâu qua các nấc của “Teng” (chốt, tiếp) Người Tày thường dùng bừa đôi “phưa roảng ”,làm bằng gỗ xoan rừng hoặc một loại gỗ tốt Khi