1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu những giá trị lịch sử văn hóa tiền việt nam dân chủ cộng hòa giai đoạn 1945 1976

113 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 551,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1992 ông Đỗ Văn Ninh xuất bản cuốn sách “Tiền cổ Việt Nam” có bàn luận đến các loại tiền, ngoài ra còn có một vài cuốn sách như: “100 năm tiền giấy Việt Nam” do Hội Tem thành phố Hồ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo bộ văn hoá, thể thao và du lịch

Trường đại học văn hoá hμ nội

Trang 2

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Quốc Quân, người trực tiếp hướng dẫn tận tình giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quí báu, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sau Đại học - Trường Đại học Văn hóa - Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn tới Ban Lãnh đạo, các bác, các cô, các chú và các bạn đồng nghiệp Bảo tàng Cách mạng Việt Nam nơi tôi công tác, cùng các họa sĩ, các anh chị của Học viện Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Bản luận văn này không tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong các Thầy Cô và các độc giả lượng thứ, đồng thời góp ý những thiếu sót cần khắc phục để những công trình nghiên cứu sau được thực hiện tốt hơn

Hà Nội, tháng 5 năm 2009

Học viên

Nguyễn Thị Huyền

Trang 3

Mục lục

Trang

Chương 1: Bối cảnh lịch sử vμ sự ra đời của tiền 7

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn (1945- 1976)

1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của tiền Việt Nam 7 1.2 Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của đồng tiền VNDCCH (1945-1976) 12 1.3 Đặc trưng các khu vực tiền tệ của hệ thống tiền VNDCCH 18

Chương 2: Miêu tả các loại tiền VNDCCH giai đoạn 23

(1945-1976)

2.1 Phân loại tiền VNDCCH, ba khu vực Bắc, Trung, Nam (1945-1976) 23

2.1.1 Khu vực 1: Bắc Bộ, Tiền Tài chính giai đoạn (1945-1951) 27 2.1.2 Khu vực 2: Trung Bộ giai đoạn (1947-1952) 39 2.1.3 Khu vực 3: Nam Bộ giai đoạn (1948-1954) 45

Chương 3: Giá trị lịch sử văn hóa, Những giải pháp

phát huy giá trị của tiền Việt Nam Dân chủ Cộng

hoμ giai đoạn (1945-1976) 76

3.1 ý nghĩa của việc ra đời tiền VNDCCH 76

3.2 Giá trị lịch sử văn hoá của tiền VNDCCH 80

3.3 Những giải pháp phát huy giá trị của tiền Việt Nam Dân chủ

3.4 Vấn đề nghiên cứu, bảo tồn, phát huy giá trị tiền Việt Nam 101

Phụ lục

Trang 4

Tiền là một loại hàng hoá đặc biệt phục vụ cho con người đồng thời tiền cũng là di vật thường gặp và là chứng tích góp phần vào định niên đại học, tìm hiểu những giá trị văn hoá lịch sử của mỗi dân tộc, quốc gia, một chính quyền

ở Việt Nam đồng tiền còn được dân chúng dùng trong cúng lễ tâm linh

“xin âm dương” cầu thần phật, trời đất phù hộ

Đồng tiền là linh hồn là bộ mặt của dân tộc, của chính quyền Nhìn vào

đồng tiền người ta thấy hình ảnh xa xưa, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cũng có thể dự báo cho cả ngày mai nữa Đồng tiền của chúng ta luôn tồn tại theo dòng chảy của lịch sử, dù có thời kỳ bị phong kiến, đế quốc cai trị, dù hình thức đồng tiền có thay đổi nhưng trong lòng người dân Việt Nam, đồng tiền Việt Nam vẫn là vật đảm bảo, là phương tiện để trao đổi trong cuộc sống Việc nghiên cứu, bảo tồn những giá trị lịch sử, văn hoá của thế hệ cha ông đi trước là một việc làm có ý nghĩa lớn lao chẳng những về phương diện lịch sử văn hoá mà còn có ý nghĩa về kinh tế, giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ hơn lịch sử của dân tộc mình, tự hào về dân tộc, từ đó mang hết nỗ lực

để cống hiến cho đất nước

1.2 Tiền xuất hiện và lưu hành tại Việt Nam đã có hơn ngàn năm Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Thiên Phúc năm thứ 5 (984), mùa xuân, tháng 2

đúc tiền Thiên Phúc, tiền Thiên Phúc Trấn Bảo, lưng có chữ Lê” 6, tr.69

Trang 5

Đây là những dòng ghi chép sớm nhất về việc đúc tiền trong thư tịch cổ Việt Nam, một số nhà chuyên khảo về tiền Việt Nam qua các thời kỳ đã có nhiều bài ghi chép về tiền của các triều đại phong kiến ở Việt Nam

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) ra đời đánh dấu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập và dân chủ trên toàn lãnh thổ Việt Nam Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng tiền của nước ta được gọi là Giấy bạc cụ

Hồ, hiện thân của hệ thống tiền Ngân hàng nhà nước ngày nay Với cách tạo hình ở các cấp độ khác nhau tiền Việt Nam đã thể hiện niềm tự hào dân tộc với niềm kính yêu lãnh tụ Hồ Chí Minh của toàn dân, đồng bào ta đã lưu giữ các tờ bạc có hình ảnh Bác Hồ làm nguồn động viên trong lúc gian khó nhất Đồng tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không chỉ có chức năng lưu thông hàng hoá

mà những hình ảnh được in trên tiền Việt Nam dân chủ Cộng hoà đã phần nào

động viên tinh thần kháng chiến, bồi đắp tinh thần yêu nước bằng văn hoá dân tộc, góp phần vào thắng lợi của cuộc cách mạng Sự xuất hiện của Giấy bạc Tài chính Việt Nam, tiền thân của giấy bạc bạc Ngân hàng Việt Nam ngày nay là một phương tiện đắc lực để chính quyền cách mạng non trẻ huy động được sức người, sức của ứng phó với muôn vàn khó khăn, đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi cuối cùng Đồng thời nó cũng khẳng định chủ quyền về kinh tế tài chính, độc lập dân tộc trong đó phải có độc lập về tài chính Nước Việt Nam

độc lập phải có đồng bạc Việt Nam độc lập

Giấy bạc Tài chính Việt Nam - Giấy bạc Cụ Hồ được tồn tại và phát triển trong suốt những chặng đường đầy cam go, gian khó của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Trên mỗi tờ giấy bạc Tài chính đều mang hình bóng của Bác Hồ i với ngôi sao chìm năm cánh như một biểu tượng của niềm tin, lòng tôn kính của nhân dân đối với Đảng, với Chủ Tịch

Hồ Chí Minh Niềm tin đó cũng chính là sức mạnh của cả dân tộc, cả một thời

đại - Thời đại Hồ Chí Minh

Trang 6

1.3 Quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các mẫu tiền Việt Nam qua các thời

kỳ, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về những giá trị của tiền Việt Nam, những đồng tiền có hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh nên tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu những giá trị lịch sử văn hoá tiền VNDCCH” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học văn hoá

2 Mục đích nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu khái quát lịch sử ra đời, phát triển của tiền VNDCCH và các giá trị của đồng tiền như: lịch sử, văn hoá, kinh tế

- Tập hợp những mẫu tiền của giai đoạn này trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam Phân ra từng loại theo chủ đề

- Nghiên cứu, đánh giá giá trị các loại tiền: giá trị lịch sử, giá trị văn hoá

- Trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp phát triển và xây dựng sưu tập tiền của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia trong tương lai, phát huy tác dụng của sưu tập tiền góp phần giáo dục lịch sử, văn hoá truyền thống Việt Nam trong thiên niên kỷ mới

- Đóng góp thêm nguồn tư liệu về giá trị lịch sử, văn hoá truyền thống hàm chứa trong hệ thống tiền tài chính Việt Nam

3 tình hình nghiên cứu:

Trong những năm qua ngành Tài chính Việt Nam đã xuất bản một số sách lịch sử của ngành Tài chính, một số bài viết, báo cáo về hoạt động của các sở Tài chính, Ngân hàng, những ngày đầu của cách mạng Trên phương diện kinh tế, ngoại giao, sưu tập đã có những công trình nghiên cứu liên quan

đến việc sưu tập tiền Việt Nam, các tác giả đã ghi chép lại hoặc đã nghiên cứu

hiện còn lưu lại trong các tác phẩm như: “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên; “Phủ biên tạp lục” của Lê Quí Đôn; “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú; “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, phần nhiều nêu

ra một vài đoạn có tính chất sơ lược nói về phép dùng tiền Tháng 11 năm

1959 trên tập san Nghiên cứu lịch sử, Thế Đạt có bài viết “Lịch sử Tiền tệ Việt

Trang 7

Nam trước Cách mạng tháng Tám” nói về các cơ sở đúc tiền, đặc điểm từng

đồng tiền Năm 1992 ông Đỗ Văn Ninh xuất bản cuốn sách “Tiền cổ Việt Nam” có bàn luận đến các loại tiền, ngoài ra còn có một vài cuốn sách như:

“100 năm tiền giấy Việt Nam” do Hội Tem thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1994, cuốn “Tiền kim loại Việt Nam” do Bảo tàng lịch sử Việt Nam xuất

bản năm 2005… Đây là 2 cuốn có danh mục tổng hợp giới thiệu khái quát về

hệ thống tiền Việt Nam đã được phát hành, nhưng trong đó mới chỉ nêu được các tiêu chí: Tên gọi, mệnh giá, năm phát hành, kích cỡ, màu sắc và một phần lịch sử ra đời của đồng tiền Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử mà chưa đề cập tới giá trị lịch sử, văn hoá, kinh tế của đồng tiền

Tác giả Lê Thị Hồng Tường trong khuôn khổ của một khoá luận tốt nghiệp đại học Văn hoá năm 1998 với đề tài “Bước đầu tìm hiểu sưu tập tiền

cổ của Bảo tàng Vĩnh Phúc” Tác giả mới chỉ bước đầu tìm hiểu, sắp xếp, phân loại mà chưa đi sâu vào nghiên cứu vấn đề

Ngoài ra, Tạp chí Xưa và nay của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã giới thiệu một số bài viết, nghiên cứu về giá trị một vài đồng tiền cụ thể hoặc những đồng tiền quí hiếm, chủ yếu đánh giá ở góc độ giá trị kinh tế của các loại tiền cổ Việt Nam và thế giới, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu

về giá trị Lịch sử, văn hoá của tiền VNDCCH, bối cảnh, lịch sử ra đời và những giá trị của nó

Trên thế giới việc nghiên cứu tiền cổ đã có từ lâu và đã có một ngành

độc lập là: “Tiền cổ học” Việc sưu tầm nghiên cứu phát triển đến việc thành lập các hội, các Bảo tàng chuyên ngành và đã có một số Bảo tàng riêng về tiền

cổ Việt Nam như ở Pháp, Trung Quốc, Đứng trước thực tế, tiền cổ Việt Nam

đã thất thoát từ lâu, nạn bán tiền cổ tự do và có rất nhiều đợt tiền Việt Nam

được bán ra nước ngoài nhưng chưa được các cấp, các ngành quản lý

Cũng đã có một số nhà sưu tập mang tính chất chơi sưu tập tiền Việt Nam

và tham gia Hiệp hội sưu tập tiền quốc tế Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước chỉ lưu giữ một số tiền ở các giai

Trang 8

đoạn lịch sử nhất định Tại các cửa hàng ở khu du lịch tiền cổ vẫn bày bán

Hệ thống tiền tệ nước ta có thể phân ra hai giai đoạn: Tiền tệ giai đoạn trước và tiền sau Cách mạng tháng 8 Đã có một số chuyên gia như ông Nguyễn Bá Đạm, Đỗ Văn Ninh, Nguyễn Văn Cường, Đỗ Hiền , đã nghiên cứu và công bố những bài viết của mình trên các sách báo, ngày càng có nhiều hiệu tiền chính triều đã được xác minh niên đại

Trên thế giới đã có rất nhiều nhà sưu tập, nhiều bảo tàng hiện đang lưu giữ và trưng bày tiền Việt Nam Ví dụ: ở Trung Quốc, tỉnh Nam Ninh có Bảo tàng chuyên đề tiền tệ Việt Nam, ở Pháp có trung tâm lớn về tiền cổ Việt Nam

và Bảo tàng tiền tệ Việt Nam đặt trong thư viện Quốc gia ở Paris của Pháp

Ông Franscois Thierry chuyên gia tiền cổ của Pháp, uỷ viên Ban chấp hành Hiệp hội tiền cổ thế giới cho hay việc nghiên cứu sưu tầm và trao đổi tiền cổ Việt Nam hiện đang thu hút các nhà sưu tập trên thế giới Các cuộc đấu giá quốc tế được tổ chức thông báo thường xuyên danh mục tiền cổ trên các tạp chí chuyên khảo về tiền Việt Nam

Việc nghiên cứu đề tài này là một vấn đề cấp thiết Nó sẽ giúp cho du khách bốn phương có thể cảm nhận cái quí giá của những đồng tiền nhỏ bé bằng đồng và cũng thấy được cái độc đáo vo song của tiền Tài chính Cụ Hồ Tất cả đều mang bản sắc văn hoá Việt Nam cần phải giữ gìn

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã tiếp cận với toàn bộ tiền VNDCCH

từ 1945 - 1976 được lưu giữ tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và những văn bản có tính pháp qui liên quan đến tiền Việt Nam Các tài liệu về lịch sử văn hoá Việt Nam liên quan đến tiền tệ, để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra của đề tài

Trang 9

5 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu:

5.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những mẫu tiền phản ánh giá trị lịch sử và văn hoá Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1976 được lưu giữ

5.2 Phạm vi nghiên cứu: Tiền VNDCCH giai đoạn (1945- 1976)

- Khu vực 1: Miền Bắc; Khu vực 2: Trung Bộ; Khu vực 3: Nam Bộ

6 Đóng góp của luận văn:

- Góp phần tìm hiểu sự ra đời và phát triển của tiền VNDCCH

- Đóng góp nguồn tài liệu góp phần tìm hiểu giá trị lịch sử, văn hoá Việt Nam ẩn chứa trong tiền VNDCCH Góp phần tiếp tục hoàn thiện sưu tập tiền VNDCCH hiện có tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam

- Miêu tả, góp phần làm sáng tỏ, rõ nguồn gốc, xuất xứ, ngời sáng tác, chất liệu và kỹ thuật in, năm phát hành của các mẫu tiền VNDCCH giai đoạn (1946- 1976)

- Phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, trng bày của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện tại và Bảo tàng lịch sử Quốc gia trong tơng lai cũng nh các Bảo tàng địa phơng trong cả nớc

- Phục vụ cho công chúng muốn tìn hiểu về loại hình hiện vật này, cho các nhà su tập có thêm thông tin

khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương chính:

Chương 1: Bối cảnh lịch sử và sự ra đời của tiền Việt Nam Dân chủ

Cộng hoà giai đoạn (1945 - 1976)

Chương 2: Miêu tả các loại tiền VNDCCH

Chương 3: Giá trị lịch sử văn hoá - Những giải pháp phát huy giá trị

của tiền VNDCCH giai đoạn (1945 - 1976)

Trang 10

Chương 1

Bối cảnh lịch sử vμ sự ra đời của tiền Việt Nam

Dân chủ Cộng hoμ giai đoạn (1945- 1976)

1.1 Lịch sử ra đời vμ phát triển của tiền Việt Nam

Từ xa xưa, trước khi chưa có tiền đúc đã có sự trao đổi tự nhiên, những quan hệ trao đổi được hình thành một cách ngẫu nhiên Ai có vật thừa, đem

đổi lấy vật thiếu Dần dần do việc trao đổi theo cách hàng đổi hàng không đáp

ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, đã xuất hiện “vật làm ngang giá chung” để đo được giá trị nhiều vật phẩm hơn Những vật đó có chức năng

như tiền sơ khai Vật ngang giá được dùng đầu tiên ở Việt Nam giống như nhiều dân tộc trên thế giới là vỏ sò, vỏ ốc, da thú hiện thân của săn bắt, chăn nuôi, đánh bắt thuỷ sản Dân tộc Xá gọi vỏ sò là Kxong và được dùng làm của hồi môn, tiền cưới, đồ trang sức, dân tộc Thái đen gọi vỏ sò là Mả bìa, được coi như vật báu dâng hiến tổ tiên khi cúng bái Ngoài ra ở Việt Nam cũng như các nước ven Thái Bình Dương và các hải đảo còn dùng đá, tre, gỗ, vải, lông thú, răng thú làm vật ngang giá trong những thời kỳ nhất định 8, tr.46

Việc trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển, tiền đúc bằng kim loại, kim loại quí như vàng, bạc ra đời, vừa thuận tiện vừa lâu hỏng

Theo từ điển tiếng Việt khái niệm Tiền được định nghĩa như sau: Tiền là vật

đúc bằng kim loại hoặc in bằng giấy dùng làm phương tiện giao dịch 21, tr.1185

Với định nghĩa tóm tắt nêu trên, tiền được coi là một loại hàng hoá đặc biệt phục vụ cho con người, đồng thời tiền cũng góp phần vào việc tìm hiểu những giá trị văn hoá, lịch sử của mỗi dân tộc Đồng tiền là linh hồn của dân tộc, là bộ mặt của dân tộc Nội dung biểu đạt văn hoá trên mỗi đồng tiền của mỗi quốc gia chính là văn hoá truyền thống đặc sắc của dân tộc đó

Kể từ khi vua Hùng dựng nước tới nay, vận nước có lúc thịnh lúc suy Dân tộc trải qua hàng ngàn năm bị các triều đại phong kiến phương Bắc thống

Trang 11

trị Việt Nam lưu nhập và sử dụng các loại tiền của các triều đại phong kiến Trung Quốc như Bán Lạng, Ngũ Thù, Đại Tuyền, Khai Nguyên, Các đợt khai quật của ngành khảo cổ học đã phát hiện ra những đồng tiền này từng có mặt trên đất nước ta Cho tới khi Ngô Quyền phá tan giặc Nam Hán (938) giải phóng được ách thống trị của phong kiến Trung Quốc, mở đường cho sự ra đời các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần

Theo ông Đỗ Văn Ninh, nhà nghiên cứu tiền cổ Việt Nam có ý kiến, vào những năm 671, Nhà Đường chia đất Giao Châu thành 12 châu, 59 huyện

và gọi nước ta là An Nam đô hộ phủ Nhà Đường muốn đồng hoá nhân dân ta

bằng nhiều chính sách, trong đó có việc đưa tiền Càn Nguyên Trọng bảo của

Đường Túc Tông sang nước ta lưu hành

Năm 980, Ngô Quyền khởi binh ở vùng ái Châu đánh bại quân Nam Hán, năm sau ông tự xưng vương, đặt kinh đô ở vùng Cổ Loa (ngoại thành Hà Nội), sử gọi là “Tiền Ngô Vương” 15, tr.12

ở Việt Nam gần như các triều đại đều đúc và phát hành tiền Đây là dấu hiệu khẳng định vị thế và quyền lực chính trị của triều đại Tiền của các triều

đại thường là hình tròn (tượng trưng cho trời) có lỗ vuông ở giữa (tượng trưng cho đất) theo vũ trụ quan buổi sơ khai Ngoài ra tiền có lỗ còn để dễ dàng sâu chuỗi, đo đếm, vận chuyển, giữ gìn Điều này nói lên ước vọng hoà hợp âm dương, trường tồn sông núi, giống nòi

Căn cứ vào những đồng tiền khai quật từ khảo cổ học và trong các nhà sưu tập cho thấy, tiền cổ Việt Nam có mặt trong các triều đại sau:

Mở đầu là Nhà Đinh (968-980): Đinh Tiên Hoàng lên ngôi năm 970 đặt niên hiệu là Thái Bình và cho đúc các loại tiền mang niên hiệu: Thái Bình

Mặt sau của đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo có chữ đinh (J) (Đinh) chỉ người

đứng đầu, chữ (Đinh), hình dạng chữ Hán giống như người đứng, nên có câu

Đinh là đức, đức nào, đức này, nhằm phân biệt với những đồng tiền Trung

Quốc thời Ngũ Đại (936-942), nhằm khẳng định chủ quyền dân tộc Phải

Trang 12

chăng đây là đồng tiền đầu tiên của các triều đại Việt Nam đã ghi quốc tính trên đồng tiền

Thời Tiền Lê (980-988) Lê Đại Hành lên ngôi đặt niên hiệu là Thiên Phúc, lên

ngôi được 5 năm ông cho đúc tiền Thiên Phúc vào tháng 2 năm Giáp Thân (985)

Nhà Lý (1009 - 1226) Lý Thái Tổ lên ngôi năm 1009 mở đầu triều đại

nhà Lý và tồn tại 217 năm với 9 đời vua đã cho đúc 8 loại tiền: Thuận Thiên

Đại Bảo, Càn Phù Thông Bảo, Ninh Đạo Thông Bảo, Thiên Cảm Thông Bảo,

Đại Định Thông Bảo, Chính Long Thông Bảo, Thiên Tư Nguyên Bảo

Triều Trần (1226-1400) Trần Nhân Tông lên ngôi, mở đầu triều đại nhà

Trần, tồn tại 174 năm Năm 1322 Trần Minh Tông cho đúc tiền Năm 1226 Trần Thái Tông đã qui định thể lệ tiền tệ: Tiền Thương cung và tiền Tĩnh mạch (tiền lưu hành trong dân mỗi tiền có 69 đồng gọi là tiền Tĩnh mạch Tiền nộp cho nhà nước mỗi tiền 70 đồng gọi là tiền Thương cung)

Nhà Hồ (1400 - 1407) Năm Quang Thái thứ 9 (1396), Hồ Quí Ly tiến

hành một số cải cách, hầu hết trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị của xã hội Trong đó thực hiện sớm nhất, có ảnh hưởng lớn nhất là chính sách cải cách tiền tệ Tháng 4 năm Quang Thái thứ 9 (1396), Hồ Quí Ly ra lệnh cho phát

hành tiền giấy Thông Bảo Hội Sao trong phạm vi toàn quốc Đại Việt Sử ký toàn thư ghi: “Mùa hạ tháng tư 1396 bắt đầu phát hành tiền giấy Thông Bảo Hội Sao in xong hạ lệnh cho người đem tiền đến đổi Cứ mỗi một quan tiền

đồng đem đến đổi được quan hai tiền giấy” “Thông bảo Hội sao” có 7 loại:

giấy 10 đồng vẽ cây rêu bể, 30 đồng vẽ sóng, 1 tiền vẽ mây, 2 tiền vẽ rùa, 3 tiền vẽ lân, 5 tiền vẽ phượng, 1 quan vẽ rồng” 7, tr.117

Tiền giấy phát hành vào thời kỳ này nhằm tăng cường thu nhập tài chính cho quốc gia phong kiến, thoả mãn nhu cầu lưu thông của xã hội, hoặc là do nguyên liệu đồng không đủ Dù sao cũng đánh dấu sự tiến bộ của tiền tệ nước nhà, được coi là một trong những đồng tiền giấy ra đời sớm của thế giới

Trang 13

Triều Lê Sơ (1428 - 1527) Lê Lợi thống nhất bờ cõi, định đô ở Thăng

Long (Hà Nội), đặt quốc hiệu là “Đại Việt” đặt niên hiệu là Thuận Thiên Để

khôi phục kinh tế, tháng 4 năm đó cho lập xưởng đúc tiền ở kinh đô mang

niên hiệu của mình là Thuận Thiên Nguyên Bảo

Nhà Mạc (1527 - 1593), tháng 6 năm 1527 Mạc Đăng Dung đăng cơ,

năm sau cho đúc tiền mang niên hiệu của mình là Minh Đức Thông Bảo,

những đồng tiền này chỉ tồn tại và lưu hành ở phía Bắc Việt Nam

Lê Trung Hưng (1533 - 1788) có 7 đời vua đúc tiền: Nguyên Hoà, Gia Thái, Vĩnh Thọ, Vĩnh Thịnh, Bảo Thái Đặc biệt dưới triều vua Lê Hiển Tông,

niên hiệu Cảnh Hưng đã cho đúc nhiều loại tiền nhất: Tiền Cảnh Hưng Chí Bảo, Cảnh Hưng Đại Bảo, Chiêu Thống Thông Bảo Tiền Cảnh Hưng rất

phong phú và đa dạng, nhiều đồng tiền mặt sau vẽ rồng, phượng, hạc, rùa ghi nơi đúc: Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh (Kinh đô)

Nhà Nguyễn - Tây Sơn (1778 - 1802) sau khi đánh tan quân Thanh

xâm lược, lập nên triều đại Tây Sơn tồn tại 12 năm có 3 đời vua đúc tiền,

Nguyễn Nhạc đúc tiền Thái Đức Thông Bảo, Nguyễn Huệ đúc tiền Quang Trung Thông Bảo, Nguyễn Quang Toản đúc tiền Cảnh Thịnh Thông Bảo

Nhà Nguyễn (1802 - 1945) có 13 đời vua, có 11 đời vua đúc tiền gồm: Gia

Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại Ngoài tiền bằng chất liệu đồng, kẽm

có cả chất liệu bằng vàng, bạc, đến thời Gia Long 1802 bạc đúc thành từng thỏi có ghi chú và niên đại của từng đời vua, mặt sau đồng tiền có hình rồng, phượng, bầu rượu, túi thơ cùng những lời hay ý đẹp để thưởng cho người có công

Khái quát một vài nét tiền Việt Nam qua các triều đại phong kiến:

nhìn chung đồng tiền ra đời theo yêu cầu khách quan của thời đại Tiền ra

đời là do nhu cầu trao đổi hàng hoá, phát triển kinh tế Đơn vị tiền tệ của các triều đại qui định là (đồng) Nhưng đơn vị bội số của đồng lại rất khác nhau qua từng triều đại qui định

Trang 14

Ví dụ: Trần Thái Tông qui định tiền Tĩnh mạch, mỗi tiền 69 đồng, tiền

nộp cho triều đình mỗi tiền 70 đồng, gọi là tiền Thương cung Lê Thánh Tông

năm thứ 6 (1439) lấy 60 đồng làm 1 tiền, 1 quan 10 tiền, bằng 600 đồng Theo nhà bác học Lê Quí Đôn, có triều vua qui định mỗi tiền có 36 đồng, 1 quan 360 đồng gọi là “Sử tiền”; mỗi tiền có 60 đồng, mỗi quan có 600 đồng gọi là “Cổ tiền” 11, tr.36

Phép dùng tiền qua các triều đại cho thấy triều đại sau cấm tiêu tiền của triều đại trước, nhưng đối với dân, tiền chỉ là phương tiện lưu thông hay cất giữ, không phân biệt là sản phẩm của triều đại nào Người dân chỉ phân biệt tiền tốt đúc dày to, chữ và hoa văn đẹp thì được dân ưa dùng, còn tiền mỏng, nhẹ, kim loại xấu dân không thích dùng, vua có ép cũng không được

Theo các chuyên gia về tiền cổ cho rằng đồng tiền Thuận Thiên Nguyên Bảo thời Lê sơ là đồng tiền đẹp nhất Việt Nam 15, tr.31

Đồng tiền mỏng và mất giá nhất là đồng tiền thời Lê Trung Hưng, chính quyền trung ương suy yếu, chiến tranh Nam Bắc triều liên miên, tiền thời kỳ này có 16 đời vua nhưng chỉ có 5 đời vua đúc tiền, việc đúc tiền giao cho các xưởng tư nhân đúc, vì vậy Triều đình không có cách gì khống chế được việc

đúc và phát hành Đặc biệt giai đoạn niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) các

xưởng đúc tiền mọc lên khắp nơi

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta Vua quan Nhà Nguyễn chống cự không được đã phải đầu hàng, tình hình chưa ổn định nhưng các nhà tư sản Pháp đã đặt chi nhánh Ngân hàng ở Sài Gòn vào năm 1875 lấy tên Banque de L' Indochine (Đông Dương Ngân hàng), những tờ giấy bạc thời kỳ

đầu ra đời in ở Pháp, phát hành ở Nam Kỳ (Việt Nam) Từ 1884 quân đội Pháp ở Nam Bộ cho lưu hành các loại tiền lẻ và những loại tiền mà Ngân hàng

Đông Dương phát hành bằng bạc, kẽm, nhôm Sau năm 1945 với âm mưu tái chiếm Đông Dương, thực dân Pháp lập ra những chính phủ ở Miền Nam, kiểm soát một số vùng và thành lập “Intitut d' Emission des Etats du Cambodge, du

Trang 15

1.2 Bối cảnh lịch sử ra đời của tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hoμ (VNDCCH) giai đoạn 1945 - 1976

1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử những ngày đầu của nước VNDCCH:

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nước nhà mới thành lập đã phải đương đầu ngay với bao gian nan thử thách, nhiều vấn đề cấp bách được đặt ra nhằm ổn định an ninh xã hội, vực dậy nền kinh tế từ ngân khố trống rỗng, lại phải chuẩn bị đối phó với sự trở lại xâm lược của thực dân Pháp

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố độc lập được trên 3 tuần thì đã lâm vào tình trạng chiến tranh từ vĩ tuyến 16 trở ra, 20 vạn quân Tưởng

được phân công vào miền Bắc nước ta, từ vĩ tuyến 16 trở ra để giải giáp quân Nhật Quân Tưởng đòi ta cung cấp tiền Đông Dương cho quân đội họ tiêu dùng Lợi dụng tình hình trên, chúng ép ta phải để cho chúng dùng tiền Quan Kim và Quốc tệ của chúng Hai loại tiền đã mất giá nghiêm trọng đưa vào thị trường Việt Nam nhằm vơ vét tài sản và phá hoại nền tài chính của chúng ta

Tiếp sau đó, quân đội Pháp được thoả thuận vào thay quân Tàu Tưởng

ở miền Bắc, tiền Đông Dương cũng tung vào theo Rạng sáng ngày 23-9-1945 quân Pháp bắt đầu gây hấn ở Sài Gòn rồi lan ra nhiều vùng ở Nam Bộ ở Hà

Trang 16

Nội và một số tỉnh ở miền Bắc cũng xảy ra một số cuộc đụng độ giữa quân ta

và quân Pháp Chúng liên tục khiêu khích gây ra nhiều cuộc đổ máu

Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng Như vậy vô hình chung đã tống khứ

18 vạn quân Tàu Tưởng cùng hai loại bạc Quan Kim và Quốc Tệ vĩnh viễn ra

đi với đội quân ô hợp của chúng Đây cũng là một nghệ thuật phân hoá kẻ thù,

để trên đất nước ta chỉ còn lại một kẻ thù duy nhất Và trên mặt trận tiền tệ cũng chỉ còn một loại tiền duy nhất là tờ bạc Đông Dương để ta đối phó

Ngày 19-12-1946 Hồ Chủ tịch đã ra lệnh toàn quốc kháng chiến Tờ bạc Đông Dương là niềm kiêu hãnh của thực dân Pháp thời đó, khẳng định sự

có mặt của chúng trên đất nước ta Thực dân Pháp mãi muốn duy trì đồng bạc

Đông Dương do Ngân hàng Đông Dương phát hành, tưởng rằng ta chưa thể có tiền riêng để thống trị kinh tế

Chúng ta hãy xem một đoạn văn của bản Tạm ước Pháp - Việt được ký kết ngày 14-9-1946 giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện phía Việt Nam, bên kia là Bộ trưởng Bộ Hải ngoại M Moutet đại diện Chính phủ Pháp Tại điều 5, thực dân Pháp nằng nặc đòi ghi: “Ngay sau khi vấn đề điều hoà tiền tệ hiện hành được giải quyết, sẽ chỉ còn lưu hành một thứ tiền duy nhất trong các lãnh thổ dưới quyền cai trị của Pháp, nước Việt Nam và trong các lãnh thổ khác của Đông Dương Tiền ấy là đồng bạc Đông Dương do Ngân hàng Đông Dương hiện đang phát hành ” 17 G5, tr.1010

Những ý đồ trong bản thoả hiệp này đi liền với âm mưu muốn chiếm lại Việt Nam, đặt ách thống trị Việt Nam một lần nữa Tuy nhiên, mong ước cuồng si đó chẳng bao giờ thực hiện được, vì đất nước này đã là một nước độc lập, có nền tài chính riêng và dĩ nhiên có tờ bạc riêng của nó

1.2.2 Sự ra đời của Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

* Những khó khăn trước mắt.

Cuộc kháng chiến diễn ra ngày càng mạnh mẽ Nhu cầu chi tiêu tài chính ngày càng lớn, nhất là bước vào giai đoạn tổng động viên: Tất cả cho

Trang 17

tiền tuyến, tất cả để chiến thắng Trong khi đó, nguồn thu ngân sách quá hạn

hẹp, cơ sở kinh tế cho nguồn thu không vững chắc Số thu hàng năm chỉ có thể

đáp ứng 1/3 nhu cầu chi Ngân sách vẫn luôn trong tình trạng bội chi với mức

độ lớn Tỷ lệ thu đảm bảo chi thụt lùi: năm 1946: 28%, 1947: 27%, 1948: 20%, 1949: 18%, 1950: 23% Vì vậy, tiền phát hành để bù đắp thiếu hụt ngân sách hàng năm lên tới trên 70% số chi Chỉ số tiền lưu thông tăng lên nhanh chóng, năm

1946 = 100%, 1947 = 246%, 1948 = 418%, 1949 = 1.169%, 1950 = 3.094%, 30/6/1951 = 5.509% 13, tr.14

Trước những thách thức hết sức ngặt nghèo, nhiều biện pháp cấp bách

về kinh tế tài chính được đề ra để giảm bớt khó khăn trước mắt, như:

+ Chăm lo giúp đỡ, khuyến khích đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, thực hiện tự cung, tự cấp

+ Ban hành Sắc lệnh chống đầu cơ tích trữ, quy định giá mua thóc

+ Thực hiện chế độ cung cấp bằng hiện vật cho cơ quan, cán bộ, bộ đội + Về mặt tài chính, nhiều biện pháp được áp dụng để cải thiện tình hình ngân sách, đảm bảo cung ứng cho chiến tranh Cụ thể như sau:

*Những giải pháp động viên tài chính đầu tiên

Phát huy tinh thần yêu nước của nhân dân Chính phủ đã phát động phong trào đóng góp tự nguyện, đóng góp nghĩa vụ

+ Công phiếu kháng chiến (phát hành theo Sắc lệnh số 180/SL ngày

5/4/1948) thu được 500 triệu đồng tài chính

+ Công trái quốc gia (theo Sắc lệnh số 139/SL ngày 19/9/1950) tiền

mua công trái được quy ra thóc Công trái phát hành ở vùng tự do và cả trong vùng địch tạm chiếm Tổng số thu được từ công trái quy thóc là 10 vạn tấn

+ Quỹ tham gia kháng chiến (tổ chức theo Sắc lệnh số 35/SL ngày

6/5/1949) Quỹ có 2 phần: phần chính theo định suất, tương đương 10 ngày sinh hoạt phí của cán bộ bộ đội Ngoài ra còn có thể đóng góp thêm, tuỳ khả năng của mỗi công dân Kết quả thu được 174,6 triệu đồng tiền tài chính

Trang 18

+ Quỹ công lương (theo Sắc lệnh số 3/SL ngày 15/1/1950) mỗi suất

đóng là 10 kg thóc Kết quả thu được 10 vạn tấn thóc

Ngoài ra, cấp chính quyền xã còn lập Ngân sách xã, Quỹ nuôi quân, Quỹ bình dân học vụ Các đoàn thể quần chúng lập các quỹ nuôi cán bộ, bộ đội, thương binh liệt sĩ, như: Hội mẹ chiến sĩ, Mùa đông binh sĩ, phong trào gửi áo, chăn cho con em địa phương mình đang chiến đấu ngoài mặt trận

- Xoá bỏ các thứ thuế nô dịch và bất công, ban hành các sắc thuế mới:

Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã chủ trương xoá bỏ ngay những thứ thuế bất hợp lý của chế độ cũ để lại như: thuế thân, thuế môn bài dưới 50 đồng, thuế thổ trạch, thuế xe máy, xe tay Đặc biệt là bỏ thuế độc quyền: Rượu cồn, thuốc phiện và muối, miễn hẳn cho những vùng bị lụt Riêng đối với Nam Bộ

và miền NamTrung Bộ, do hoàn cảnh chiến tranh, Chính phủ tạm thời đình chỉ việc thu thuế (sắc lệnh số 65 ngày 10/5/1946) 4, Q1

- Quỹ Độc lập, Tuần lễ vàng: Dựa vào lòng yêu nước vô bờ bến và sự ủng

hộ tự nguyện của nhân dân, ngày 4/9/1945 Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 4/SL

đặt ra “Quỹ Độc lập” với mục đích “để thu nhận các món tiền và đồ vật của nhân

dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ bảo vệ nền độc lập” Tại khoản 2 Sắc lệnh

ghi: “Cử ông Đỗ Đình Thiện làm phụ trách tại Quỹ Trung ương ở Hà Nội”, trong

khuôn khổ Quỹ Độc lập, “Tuần lễ vàng”, bắt đầu từ 17 đến 24/9/1945, nhằm huy

động số vàng trong nhân dân, nhất là các nhà “hằng tâm, hằng sản” (có tấm lòng,

có của cải) Kết quả thật lớn 370 kg vàng và 20 triệu đồng Đông Dương, tương

đương với tổng số thuế thân và thuế điền thổ mà thực dân Pháp thu được trên toàn quốc trong một năm Nhờ đó, Chính quyền cách mạng đã vượt qua những khó khăn buổi đầu của nền tài chính quốc gia 18, tr.24

1.2.3 Sự ra đời và phát hành tiền Tài chính

Cùng với các biện pháp tài chính cấp bách để vượt qua những khó khăn trước mắt, chính quyền cách mạng đã gấp rút phát hành tiền Việt Nam, đây là việc quan trọng của chính quyền trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc

Trang 19

Sau một thời gian chuẩn bị, những đồng tiền Cụ Hồ đầu tiên đã ra đời: Tiền của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bao gồm tiền giấy và tiền kim loại Lấy “đồng” làm đơn vị tiền tệ

Giai đoạn 1945-1951

Tiền kim loại: Đầu tháng 10/1945, Hội đồng Chính phủ, Bộ Tài chính

đã cho tổ chức cho dập tiền kim loại chất liệu nhôm, hợp kim đồng Các loại tiền kim loại đầu tiên được dập tại tầng hầm Nhà bát giác (Viện Bảo tàng Lịch

sử Việt Nam ngày nay)

Tiền giấy: Từ tháng 10 năm 1945, Chính phủ Cách mạng lâm thời, Bộ Tài

chính đã tập trung một số họa sĩ (Nguyễn Huyến, Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung) do ông Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Bộ Tài chính chỉ đạo việc vẽ và in những tờ bạc Việt Nam đầu tiên Các loại giấy bạc lần lượt ra đời Các loại giấy bạc nói trên được khẩn trương vẽ ở Sở Ngân khố quốc gia số 10 Lê Lai,

Hà Nội Chế bản xong được in ở nhà in TôPanh (ngày nay là cửa hàng Bách hoá Cửa Nam, số 5 Nam Bộ, Hà Nội) mua lại của một chủ người Pháp, do ông

Đỗ Đình Thiện ủng hộ Vì khi đó chỉ có nhà in Tô Panh mới có hệ thống máy móc từ máy chụp ảnh, máy đánh bản kẽm, buồng phơi, máy in ốp sét và máy li-nô-típ đúc chữ, số, khuôn bạc để in trên máy Vích-tô-tia…” toàn bộ máy móc, thiết bị in, sau khi mua được, Chính phủ đã cho di chuyển toàn bộ lên

đồn điền của ông Đỗ Đình Thiện tại Chi Nê, Hoà Bình để in bạc Việt Nam Tại đây tờ giấy bạc 100 đồng (tờ bạc con trâu xanh) đã ra đời 1, số.46

Tiền cũng được in ở Nhà in Viễn đông (IDEO), Nhà in Ngô Tử Hạ phố Nhà Thờ, Nhà in Lê Văn Tân, Nhà in ngoại thành Hà Nội

Từ tháng 3/1946, các máy móc thiết bị in được chuyển về chiến khu

Cổ Nghĩa thuộc Chi Nê, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình trong đồn điền của ông

bà Đỗ Đình Thiện để tiếp tục in bạc Đến khoảng tháng 4/1947 - 1951, cơ sở in

tiền mới đã chuyển vào hoạt động tại Đầm Hồng và Bản Thi (Tuyên Quang)

Đầm Hồng là địa điểm liền bến sông, nhưng không đảm bảo an toàn, chỉ có thể làm cảng và kho bãi Cơ sở in và dự trữ tiền phải đặt tại Bản Thi, cách đó 32 km

Trang 20

trong núi Phải làm một đường goòng nhỏ để chuyển tiền ra, chuyển nguyên liệu vào Các hoạ sĩ Lê Phả và Nguyễn Sáng, Mai Văn Hiến, Bùi Trang Chước đã tham gia vẽ những mẫu tiền này tại An toàn khu (ATK) sau đó nhà in chuyển lên

mảnh đất tận cùng Bác Chóm (Hà Giang)

In và phát hành giấy bạc Ngân hàng, thu hồi tiền Tài chính

Từ sau Chiến dịch Biên giới tháng 9 năm 1950 ta mở thông đường liên lạc sang các nước bạn Trung Quốc, Đông Âu, giải phóng được Thượng Lào, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn… Tiếp sau đó là các chiến dịch: Trung Du,

Đông Bắc, Tây Bắc, Thượng Lào Để phối hợp với những chiến dịch về quân

sự, thống nhất về tiền tệ trong vùng giải phóng, đảm bảo cho kinh tế phát triển

và nhu cầu cho các chiến dịch quân sự, ngày 6/5/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ký sắc lệnh thành lập Ngân hàng nhà nước Khi thành lập Ngân hàng Quốc gia năm 1951 Việc thu đổi tiền Tài chính và phát hành tiền Ngân hàng thực chất là một cuộc cải cách tiền tệ Nhằm cải cách tiền tệ, giảm lượng tiền mặt lưu thông, tăng sức mua của đồng tiền Tháng 2 năm 1959, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho phát hành đồng tiền mới, thu hồi tiền cũ đã phát hành năm 1951- 1953 Bộ tiền năm 1959 được thu hồi vào năm 1978

Các cuộc thu đổi tiền đã gắn phát hành tiền với sản xuất lưu thông hàng hoá, có ý nghĩa chính trị sâu sắc, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với cách mạng Cơ chế mới về quản lý tiền tệ sau thu đổi được xác lập Tiền tệ của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là phương tiện lưu thông, thanh toán hợp pháp của nước Việt Nam Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là cơ quan nhà nước quản

lý phát hành và tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ Đây là điều kiện cần thiết

để củng cố và hoàn thiện nền tiền tệ độc lập tự chủ, tiến tới xây dựng hệ thống tiền tệ trong cả nước

Liên khu V và Nam Bộ Do điều kiện chiến tranh, khó khăn về giao

thông vận tải, nên Chính phủ không chủ trương phát hành giấy bạc Ngân hàng Quốc gia tại hai khu vực này, mà chủ trương củng cố lưu hành đồng tiền sẵn

có của mỗi khu vực Tín phiếu Liên khu được phát hành thêm để thu hồi tiền

Trang 21

Tài chính, với chủ trương chỉ thống nhất lưu hành tiền Tín phiếu ở Nam Bộ thực hiện thống nhất lưu hành giấy bạc

Giấy bạc Ngân hàng Trung ương, Tín phiếu Liên khu V, giấy bạc Nam

Bộ và sau này, tiền của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đều là những phương tiện lưu thông hợp pháp trong hệ thống tiền tệ độc lập tự chủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nó là công cụ của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ thúc

đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá, bồi dưỡng kinh tế kháng chiến, phục vụ kháng chiến thắng lợi

1.3 Đặc trưng các khu vực tiền tệ tiền VNDCCH

Từ 1947, lực lượng Cách mạng chủ động rút về vùng nông thôn, miền núi để xây dựng căn cứ địa kháng chiến Hầu hết các thành phố bị địch chiếm

đóng Đã hình thành vùng kinh tế kháng chiến (vùng tự do) và vùng địch tạm chiếm Từ đó hình thành hai thị trường tiền tệ đối lập nhau, vùng tự do lưu hành giấy bạc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vùng địch tạm chiếm lưu hành tiền Đông Dương của Pháp

Điều kiện chiến tranh ác liệt đã gây trở ngại lớn trong việc in ấn, vận chuyển, phát hành và lưu thông đồng tiền thống nhất trong cả nước Tình hình

đó đòi hỏi phải hình thành 3 khu vực tiền tệ trong khuôn khổ nền tiền tệ độc lập tự chủ, phù hợp với nền kinh tế kháng chiến, với các khu vực hành chính ở thế cài răng lược

Đường lối kinh tế kháng chiến toàn quốc tự cung tự cấp, tự giải quyết những nhu cầu của kháng chiến; các địa phương tự lập Thực hiện chủ trương

đó, Chính phủ đã cho thành lập 3 khu vực tiền tệ và cho phép phát hành các

đồng tiền khu vực

Khu vực vùng tự do Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ: gồm các tỉnh trung du và

miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên ở đây lưu hành tiền của Chính phủ Trung ương,

được gọi là tiền Tài chính và tiền Ngân hàng

Trang 22

Vùng Liên khu V: Chủ yếu bao gồm 4 tỉnh thuộc vùng tự do ở Nam

Trung Bộ, với 3 triệu dân, gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên Trước đây khu vực này được chọn để phát hành Giấy bạc Việt Nam

Đây là những bộ tiền Tài chính đầu tiên Từ khi 3 tỉnh Bình - Trị - Thiên bị

địch chiếm đóng, giao thông vận chuyển bị gián đoạn, Chính phủ đã cho phép chính quyền Liên khu V in và phát hành tín phiếu Liên khu V (Sắc lệnh 231/SL ngày 18/7/1947) Việc in tín phiếu ở Liên khu V hết sức khó khăn Những tờ Tín phiếu đầu tiên được vẽ, khắc trên gỗ rất thô sơ phải in 5 lần mới

đủ màu, đủ số sêri Thời gian đầu, Tín phiếu Liên khu V và tiền Tài chính song song lưu hành Tổng số Tín phiếu đã phát hành ra thị trường cho đến ngày đình chiến (1954) là 43.764.519.262 đồng 20, tr.34

Thay thế giấy bạc Việt Nam, Tín phiếu liên khu V tiếp tục nhiệm vụ

đảm bảo nhu cầu tài chính cho cuộc kháng chiến, đồng thời giúp đỡ sản xuất phát triển, xây dựng một nền kinh tế tài chính tự cấp tự túc để trường kỳ kháng chiến Tín phiếu ngày càng mở rộng trận địa, đẩy lùi và thay thế dần giấy bạc

Đông Dương, làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh kinh tế với địch

Khu vực Nam Bộ: Chế độ tiền tệ Nam Bộ có những nét khá độc đáo Lúc

đầu, đã phải tiêu dùng hoàn toàn tiền Đông Dương, do bị địch chiếm đóng, tiền của ta chưa chuyển vào được. Vì thiếu bạc lẻ, nhân dân phải xé đôi tờ bạc

Đông Dương từ loại 100 đồng trở xuống để tiêu dùng trong khu căn cứ kháng chiến Có nơi tiêu giấy bạc Trung ương từ Liên khu V đưa vào

Cuối năm 1947 đầu năm 1948, giặc Pháp giở trò tuyên bố không thừa nhận các giấy bạc 100 đồng Ngân hàng Đông Dương in tại Nhà in Viễn Đông (IDEO) ở Hà Nội Để đối phó với thủ đoạn cướp đoạt trắng trợn đó, Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ liền chủ trương đóng dấu của Chính quyền tỉnh, quận, huyện và dấu khắc khẩu hiệu “ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh”

đóng lên tờ bạc 100 đồng và các loại giấy bạc Đông Dương khác để cho lưu hành bình thường trong vùng ta kiểm soát Việc “Việt Nam hoá” tiền Đông

Trang 23

Dương đã đưa hoạt động mua bán trở lại bình thường Tiền có đóng dấu chính quyền cách mạng không chỉ lưu hành trong vùng tự do mà còn len lỏi vào vùng địch tạm chiếm, gián tiếp tuyên truyền cho kháng chiến

Ngày 1/11/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 102/SL cho phép Nam Bộ phát hành Tín phiếu riêng Nhưng nhờ đã “Việt Nam hoá” được trên 100 triệu đồng Đông Dương, số tiền khá lớn lúc bấy giờ, nên việc thi hành sắc lệnh được tạm hoãn Sau đó, để bớt khó khăn cho Nam Bộ, bằng Sắc lệnh số 147/SL ngày 2/3/1948, Chính phủ Trung ương lại cho phép phát hành tại Nam Bộ giấy bạc Việt Nam, gọi là giấy bạc Trung ương Số lượng giấy bạc Trung ương đưa vào Nam Bộ ngày càng nhiều, gồm đủ các loại, từ 1đồng đến

100 đồng Giấy bạc Trung ương được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt, có giá trị cao hơn giá trị giấy bạc Đông Dương rất nhiều, có nơi cao hơn 50%

Thời gian này, giặc Pháp tung ra thị trường nhiều giấy bạc Việt Nam giả Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ liền chủ trương “đắp nền” trên

tờ bạc Trung ương một dấu “kiểm soát đặc biệt”, có chữ ký của Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính và Trưởng ty ngân khố tỉnh, rồi cho lưu hành trong địa phương

Đầu năm 1949, vì giấy bạc Trung ương chuyển vào khó khăn nên được

sự uỷ nhiệm của Chính phủ Trung ương, Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ đã tiến hành ấn loát tại chỗ và phát hành các loại giấy bạc của toàn Nam Bộ Lúc này cả 3 loại tiền (tiền Đông Dương đã Việt Nam hoá, giấy bạc Trung ương và giấy bạc Nam Bộ) cùng lưu hành đến cuối năm 1952, các loại giấy bạc Đông Dương đã “Việt Nam hoá” dần dần biến mất do rách nát, do ta thu hồi và tiêu huỷ

Để đối phó có hiệu quả hơn với âm mưu phá hoại của địch, từ ngày 28/8/1949, căn cứ Sắc lệnh số 102/SL ngày 1/11/1947 của Chính phủ, Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ ra Nghị định số 267/NĐ cho lưu hành “Tín phiếu Nam Bộ” và “Phiếu tiếp tế” của từng tỉnh, liên tỉnh với kiểu dáng khác

Trang 24

nhau và chỉ có giá trị lưu hành trong từng địa phương Các tỉnh có Tín phiếu: Trà Vinh, Vĩnh Trà, Thủ Biên, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Rạch Giá, Hà Tiên, Cần Thơ, Bến tre Tín phiếu hay Phiếu tiếp tế đều có chữ ký của Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính và Trưởng ty Ngân khố tỉnh, chỉ được lưu hành trong tỉnh ) Tín phiếu và Phiếu tiếp tế được coi là giấy bạc Việt Nam

Một nét độc đáo khác của lịch sử tiền tệ Nam Bộ là cuối 1953, để hạn chế số lượng tiền mặt trong lưu thông, Ngân hàng Nhân dân Nam Bộ đã phát hành loại “Séc ghi danh”, gồm các loại 1.000đ, 5.000đ và 10.000đ Loại séc này có thể thay cho giấy bạc, mua hàng ở Mậu dịch quốc doanh, đóng thuế cho Cách mạng, rút tiền mặt ở Ngân hàng khi cần Tổng giá trị séc đã phát hành là 94,5 triệu đồng và đã được thu hồi gần hết đến 31/12/1954

Để có được những đồng tiền Việt Nam các loại ở Nam Bộ, Trung ương

cử Kỹ sư Ngô Tiến Nhân (phụ trách) cùng các hoạ sĩ Huỳnh Văn Gấm, Sáu

Hộ, Lê Ba, Lê Thiên, Trần Ngọc Thanh và 6 cán bộ kỹ thuật về giấy, in và vẽ vào Nam Bộ từ tháng 9/1949, đã cho ra đời những tờ giấy bạc Cụ Hồ khá đẹp, hình tượng hiên ngang Nam Bộ kháng chiến Các loại tiền được sản xuất bằng nguyên liệu tại chỗ, in trên nền giấy có chất nước của địa phương nên địch khó có thể làm giả Từ 1948 Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ đã

thành lập “Ban ấn loát đặc biệt” đóng tại Đồng Tháp gồm: Phân ban A do ông Thân Trọng Song phụ trách, đóng ở Đồng Tháp Phân ban B do hoạ sĩ Huỳnh

Văn Gấm phụ trách Sau này, phân ban B được chuyển từ rừng U Minh xuống rừng Năm Căn Đến giữa năm 1952, do địch tăng cường đánh phá nên

đã chia phân ban B ra một bộ phận để lập Phân ban Đ Phân ban này đóng ở

Tân Đức - Đầm Dơi do ông Nguyễn Thực phụ trách

Nhìn toàn cục, trong điều kiện chiến tranh cài răng lược, vùng tự do và vùng địch chiếm xen kẽ nhau, nên hệ thống lưu thông tiền tệ đã được vận hành theo một cơ chế đặc biệt Trên thị trường, cùng lúc lưu hành nhiều loại tiền Việt Nam và tiền địch có giá trị lưu hành ngang nhau Hoạt động kinh tế

Trang 25

đã phá được thế độc quyền và hạn chế khả năng thao túng của tiền Đông Dương trước sức mạnh đoàn kết và tình cảm cách mạng của nhân dân ta Nhờ

đó duy trì được hệ thống tiền tệ độc lập tự chủ mà cách mạng đã giành được Tiền tệ khu vực có làm suy giảm nguyên tắc thống nhất của hệ thống tiền tệ cách mạng Tuy nhiên tính biệt lập của tiền tệ khu vực không làm mất đi sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Chính phủ Trung ương đối với hệ thống tiền

tệ của ta Nhà nước phát hành tiền tệ và vận hành nó theo cơ chế vừa tập trung, vừa phi tập trung rất hiệu quả, đã minh chứng tính đúng đắn và sáng tạo của Chính phủ trong việc điều tiết tiền tệ trong các khu vực

Trang 26

A Tiền Tài chính in và phát hành giai đoạn (1945-1954) Bộ tiền này

do Ban Tài chính Trung ương, Bộ Tài chính in và phát hành được gọi là tiền

Tài chính, có 12 bộ in và phát hành ở ba khu vực:

2.1.1 Khu vực 1: Bắc Bộ giai đoạn (1945-1951)

2.1.2 Khu vực 2: Trung Bộ và miền Nam Trung Bộ (1947-1952)

2.1.3 Khu vực 3: Nam Bộ giai đoạn (1948-1954)

*Tại Bắc Bộ: Ban Tài chính Trung ương, Bộ Tài chính cho xây dựng ấn

loát Trung ương, phát hành tiền Tài chính từ 1945-1951 Sau đó sử dụng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

+ Tiền kim loại: có 5 mệnh giá 20 xu, 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 2 đồng

+ Tiền giấy: có 3 bộ

- Bộ thứ nhất có 5 mệnh giá: 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng

- Bộ thứ hai có 6 mệnh giá: 20 xu, 50 xu, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng, 100 đồng

- Bộ thứ ba có 4 mệnh giá: 20 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng

* Tại Trung Bộ: giai đoạn (1949-1952) Ban Tài chính Trung ương, Bộ

Tài chính cho xây dựng ấn loát Trung Bộ do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam - Trung Bộ đảm nhận phát hành cùng tiền Tài chính Miền Bắc gửi vào

+ Tiền giấy có 4 mệnh giá: 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng Lấy

khuôn mẫu tại miền Bắc chuyển vào năm 1947 để in, phát hành tại Trung Bộ

+ Tín phiếu có 3 bộ

- Bộ thứ nhất có 2 mệnh giá: 1 đồng, 5 đồng

- Bộ thứ hai có 3 mệnh giá: 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng

Trang 27

- Bộ thứ ba có 5 mệnh giá: 1 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 500 đồng, 1000 đồng

+ Tiền Trường Sơn có 4 mệnh giá: 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng và 10 đồng

* Tại Nam Bộ: giai đoạn (1948-1954) Uỷ ban Kháng chiến hành chính

Nam Bộ chủ trương đóng dấu của Chính quyền tỉnh, quận, huyện đóng lên tờ

bạc để lưu hành, nhân dân gọi loại này là tiền “Đắp nền”, đến năm 1949 ta

bắt đầu in và phát hành tiền Nam Bộ

+ Tiền đắp nền (Tiền tái sử dụng đóng dấu địa phương) có nhiều mệnh

giá từ 1 đồng, 5 đồng, 100 đồng Loại tiền này xuất hiện khoảng năm 1947

Trên mỗi tờ tiền đều đóng hai con dấu của “ủy ban Tài chính kinh tế và ủy ban kháng chiến hành chính” sử dụng cho đến đầu năm 1954 Bao gồm các loại tiền Đông Dương, tiền Tài chính Trung ương

+ Tiền tài chính: giai đoạn (1948-1954), có 4 bộ

B Tiền Ngân hàng do Ngân hàng Quốc gia, Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam phát hành giai đoạn (1951-1976)

Để phối hợp với những chiến dịch về quân sự, thống nhất về tiền tệ trong vùng giải phóng, đảm bảo kinh tế phát triển và nhu cầu cho các chiến dịch quân sự, ngày 6/5/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có tên gọi (Ngân hàng Quốc Việt Nam)

+ Tiền Ngân hàng do Ngân hàng Quốc gia phát hành giai đoạn

(1951-1953)

- Bộ thứ nhất phát hành năm 1951: Tiền giấy có 8 mệnh giá 10 đồng, 20

đồng, 50 đồng, 10 đồng, 200 đồng, 500 đồng, 1000 đồng, 5000 đồng

Trang 28

Nhằm cải cách tiền tệ, giảm lượng tiền mặt lưu thông, tăng sức mua của

đồng tiền, tháng 2/1959 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành tiền Ngân hàng đợt II, đến năm 1978 thu lại

+ Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành giai đoạn (1959-1978)

- Bộ thứ hai: có 2 loại, phát hành năm 1959: Tiền kim loại và Tiền giấy

Tiền kim loại có: 1 xu, 2 xu, 5 xu

Tiền giấy có 7 mệnh giá có 11 loại: 1 hào, 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 2 đồng, 5

đồng, 10 đồng, 1 hào phát hành năm 1972, loại 2 hào, 2 xu, 5 xu phát hành 1975 Ngày 22 tháng 9 năm 1975 Nam Bộ đã cho phát hành bộ tiền giấy “Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” để đổi tiền của Ngụy quyền Sài Gòn đang tồn tại trong nhân dân và thu hồi vào tháng 5 năm 1978

- Bộ thứ ba: có 2 loại tiền giấy và tiền kim loại

Tiền giấy 8 mệnh giá: 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng,

50 đồng Tiền kim loại có 3 mệnh giá: 1 xu, 2 xu, 5 xu,

C Tiền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam: giai đoạn từ

(1963- 1976)

Tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam được thành lập Năm 1963 cho in và phát hành bộ của Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Bộ tiền này tuy không do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhưng toàn bộ mẫu vẽ do Ban Tài chính Trung ương, Bộ Tài chính gửi vào, vì vậy có thể xếp bộ tiền này trong hệ thống tiền tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Bộ tiền giấy này có 8 mệnh giá: 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5

Trang 29

tiền, phát hành tiền cho đồng chí Phạm Văn Đồng, ủy ban thường trực của Chính Phủ Lâm thời nước VNDCCH làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 3 năm 1946 ông có trách nhiệm chỉ đạo công việc in và phát hành giấy bạc Việt Nam 22, tr.16

Tiếp đến là ông Lê Văn Hiến giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính từ tháng 3 năm 1946 đến tháng 6 năm 1958 Giúp việc cho đồng chí Phạm Văn Đồng có

ông Phạm Quang Chúc được cử làm Giám đốc cơ quan ấn loát đặc biệt Trung

ương, ông Nguyễn Văn Khoát làm Giám đốc Ngân khố Trung ương

Để ra đời bộ tiền đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phát hành vào năm 1946, việc đầu tiên phải làm là vẽ mẫu tờ bạc, công việc này

đòi hỏi phải rất khẩn trương Bộ Tài chính đã triệu tập về Hà Nội 20 họa sĩ có danh tiếng chủ yếu các họa sĩ học khoa đồ họa trường Cao đẳng Mỹ thuật

Đông Dương để chuyên lo vẽ mẫu các loại tiền Số anh em này chia ra làm nhiều nhóm để đảm nhận sáng tác, vẽ các mẫu bạc

- Nhóm họa sĩ Mai Văn Hiến, vẽ mẫu giấy bạc 5 đồng

- Nhóm họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, vẽ mẫu giấy bạc 10 đồng

- Nhóm họa sĩ Nguyễn Văn Khanh, vẽ mẫu giấy bạc 20 đồng

- Nhóm họa sĩ Nguyễn Văn Huyến, vẽ mẫu giấy bạc 100 đồng

Ngoài ra còn có nhiều họa sĩ khác như Nguyễn Sáng, Bùi Trang Chước,

Lê Khả, Ngô Chí Viễn và một số anh em thợ vẽ bản đồ Đà Lạt cũng giúp vẽ mẫu giấy bạc

Đầu tháng 3/1946, nhà máy in ở Hà Nội sơ tán lên vùng Chi Nê, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình, sau đó lên vùng Bản Thi, ban đầu dùng máy in thạch, sau đó in Typô, ốp xét Tiền kim loại đã được đúc tại Hà Nội và phát hành vào đầu tháng 10/1945 thay cho những loại tiền lẻ của thực dân Pháp phát hành tại Đông Dương, tiền giấy phát hành lần đầu tiên vào ngày 31/1/1946 tại Quảng Ngãi Thời gian thu hồi: 6/5/1951, theo Sắc lệnh số 15/SL, của Chính phủ, thời gian thu đổi từ 1/6/1951 đến 1/12/1952 Tỉ lệ 10 đồng tiền Tài chính lấy 1đồng Ngân hàng

Trang 30

2.1.1 Khu vực 1: Tiền Tài chính phát hành tại Bắc Bộ (1945-1951)

Biểu số 1: Tiền kim loại

phát hành Hoạ sĩ sáng tác

1 Hai mươi xu Hình ngôi sao 5 cánh Tháng

10/1945

Đặng Thế KhảiHoàng Như Ngọc

2 Năm hào Hình cái đỉnh Tháng

10/1945

Đặng Thế KhảiHoàng Như Ngọc

3 Một đồng Chân dung Chủ tịch

Hồ Chí Minh

Tháng 10/1945

Đặng Thế KhảiHoàng Như Ngọc

4 Hai đồng Chân dung Chủ tịch

Hồ Chí Minh

Tháng 10/1945

Đặng Thế KhảiHoàng Như Ngọc

Đây là bộ tiền kim loại đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,

được chế tạo vào cuối tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, dập trên máy dập tiền trinh cũ của Pháp, tại tầng hầm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Hoạ sĩ nặn mẫu khuôn là ông Đặng Thế Khải, người khắc khuôn là ông

Hoàng Như Ngọc, phố Hàng Bạc, hai ông đều là công nhân của nhà máy dập tiền trinh Bảo Đại cho thực dân Pháp trước đây

Cách chế tạo: “ông Khải nặn khuôn bằng đất to gấp 3 lần tiền thật,

rồi cho chụp ảnh thu nhỏ bằng kích cỡ thật Từ ảnh chụp, ông Ngọc khắc

2 mặt khuôn bằng sắt và dập thử mẫu đưa cho ông Phạm Văn Đồng duyệt” 9, tr.136

Đặc điểm: Quốc hiệu nước Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa),

chạy quanh biên tiền ở mặt trước, riêng loại 2 đồng Quốc hiệu khắc ở mặt sau

Mẫu số 1: Hai mươi xu chất liệu nhôm, hình tròn, đường kính 2,3 cm

Mặt trước: ở giữa in ngôi sao 5 cánh, phía dưới ghi năm đúc (1945)

Trang 31

Mặt sau: ở giữa ghi mệnh giá, phía trên và dưới trang trí hình chữ triện

Mẫu số 2: Năm hào chất liệu nhôm, hình tròn, đường kính 2,6 cm

Mặt trước: ở giữa in hình một cái đỉnh, phía dưới ghi năm đúc (1946) Mặt sau: Trang trí hình sao năm cánh, ở giữa trong nền sao ghi mệnh

giá (5 hào), bên ngoài giữa các khe cánh sao có khắc 5 cái triện hình quả trám tạo các gờ nổi, làm nổi bật hình ngôi sao 5 cánh, ở rìa cạnh có răng cưa

Loại (5 hào) có 2 bản khác nhau: loại 1 thân đỉnh để trơn không có hoa văn, loại 2 thân đỉnh có in ô vuông đúc nổi, cả hai loại đều ghi năm đúc

1946 Loại 1 được đúc và phát hành sớm hơn trong khoảng những năm 1946-1949

Mẫu số 3: Một đồng, chất liệu nhôm, hình tròn, đường kính 4 cm

Mặt chính: Chính giữa là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn

nghiêng, biên tiền trang trí một đường chấm dải

Mặt sau: Biên tiền chạy một đường hoa văn hình chữ triện, bên phải phía

trên ghi mệnh giá 1 đồng, bên trái có hình bông lúa cách điệu thắt nơ trang trí, phía dưới in năm đúc 1946, vành ngoài có nhấn răng cưa Loại 1 đồng được khắc khuôn tại tầng hầm Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, sau đó đưa về 22

Lò Đúc để dập thành tiền

Mẫu số 4: Hai đồng, chất liệu đồng thau, hình tròn, đường kính 3 cm

Mặt trước: chính giữa đúc nổi chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, biên

tiền trang trí một dây hoa, dòng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh in phía trên chân dung, phía dưới trang trí hai cành tùng cách điệu và ghi năm đúc (1946) trong khung hình chữ nhật sát mép tiền phía dưới

Mặt sau: chữ “Năm II” khắc ở phía dưới chỉ năm đúc (1946), bên

trong được trang trí bằng một dải hoa, chính giữa in hình ngôi sao 5 cánh, trên và dưới ngôi sao ghi mệnh giá (Hai đồng), biên tiền trang trí đường chấm dải

Trang 32

Biểu số 2:Tiền Tài chính phát hành tại Bắc Bộ

(Xem phụ lục hình H.1, H.2, H.3, H.4, H.5)

Đặc điểm bộ tiền này: Quốc hiệu nước Việt Nam (Việt Nam Dân chủ

Cộng hòa), được in bằng chữ Quốc ngữ và chữ Hán ở phía trên, dưới hoặc hai bên trái, phải Riêng mẫu Năm đồng Quốc hiệu và hiệu tiền ghi ở phần khung

bo bên phải, bên trái bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán và chữ Khơme và dòng chữ

“Theo sắc lệnh của Chính phủ Việt Nam, kẻ nào làm giả hoặc có hành động phá hoại tờ giấy bạc của Chính phủ sẽ bị trừng trị theo quân pháp” Những

đồng tiền đầu tiên mệnh giá: 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng có chữ ký của

Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng và Giám đốc ngân khố Trung ương Nguyễn Văn Khoát 100 đồng và những mệnh giá khác về sau có chữ ký của

Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến

Đồ án mặt trước đều có chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặt sau là hình ảnh khối đại đoàn kết (Nông, Công, Binh, Trí, Thương) Chủ đề chính

Trang 33

của bộ tiền “Diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” Giấy in do Xưởng

giấy Đông Minh sản xuất, nguyên liệu bằng bột giang, bột nứa do Nhà máy giấy Đáp Cầu cung cấp Kỹ thuật in, thời gian đầu tại Hà Nội bằng máy in thạch, sau in Typô, ốp xét Thời gian từ 1945 - 1946, in tại Nhà in TôPanh,

Hà Nội Ngoài ra những tờ tiền này còn được in ở nhiều địa điểm khác ở Hà Nội, riêng đồng 100 in tại Chi Nê, Hòa Bình vào tháng 3 năm 1946

Mẫu số 1: Một đồng tên gọi Nông dân, có màu xanh cho cả 2 mặt Với

chủ đề Nông dân, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung đã thể hiện hình ảnh người nông

dân Việt Nam đang hăng say chăm chỉ lao động trên cánh đồng để tăng gia sản xuất, phần nào thể hiện khát vọng được làm chủ nhà cửa, làm chủ ruộng vườn của nhân dân lao động

Mặt trước: Nền phía trên ghi (Giấy một đồng) bằng chữ Quốc ngữ, chữ

Khơme và chữ Hán Chính giữa là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn thẳng, vẻ mặt suy tư cương nghị, nền in mờ các chữ cái “VNDCCH” in nhỏ xếp liền nhau theo chiều dọc Khung trang trí hoa văn chữ công và hoa lá cách

điệu làm nổi bật chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới ghi mệnh giá, chữ ký,

số sêri: ES 080, số hiệu: EB 092

Mặt sau: Nền hoa văn gấm làm nổi bật nên góc trái hình hai phụ nữ Bắc

Bộ đang gặt lúa trên đồng Họa tiết trang trí hoa lá và những con Giao Long lấy từ hoa văn truyền thống nối tiếp nhau tạo thành một vòng tròn trang trí bên ngoài số 1, phía dưới in mệnh giá (giấy một đồng), bốn góc ngoài có số 1 trong hình ngôi sao 5 cánh Trang trí nền và đường diềm là chữ T cách điệu cùng hoa văn trống đồng Đông Sơn

Mẫu số 2: Năm đồng tên gọi Công nhân, có màu nâu xám, với chủ đề

công nhân, thể hiện khát vọng sự phát triển nền công nghiệp trong tương lại Mặt trước: Dòng chữ (Giấy bạc Việt Nam) ghi sát khung bo phía trên Nền bên trái là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên phải hình ảnh một nhà

máy đang hoạt động, bên trái, phải ghi số, mệnh giá bằng chữ Quốc Ngữ, chữ

Trang 34

Hồ vẫn không bị nhàu nát, mờ đi

Các hoa văn trang trí đường diềm bằng những cánh hoa xen xếp chồng lên nhau tạo thành khung diềm trang trí, một nét văn hóa truyền thống của đạo Phật, hòa với những hoa văn hoa lá, hoa dây cách điệu làm nổi bật nên hình

ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh bên trái với vẻ mặt suy tư cương nghị, phía xa mờ là hình ảnh một nhà máy đang hoạt động

Mặt sau: Nền bên trái là hình ảnh một công nhân quai búa trên đe, bên

phải ghi mệnh giá 5 đồng trang trí những cánh sen và hoa lá cách điệu làm nền cho chữ ký, phía dưới đánh số hiệu: YG 003, bên trái số sêri 035, ở giữa ghi mệnh giá bằng chữ “Năm đồng”, góc trái phía trên và dưới đánh số 5 in nghiêng, sát khung bo Trong Hồi ký họa sĩ Mai Văn Hiến viết về hình ảnh công nhân như sau: “Vào khoảng cuối tháng 10 năm 1945, tôi và họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung với danh nghĩa của người simh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đi vẽ tranh cổ động đến phân xưởng cơ khí của nhà ga Hàng Cỏ, Hà Nội để thâm nhập thực tế, thực ra để giữ bí mật cho việc vẽ mẫu Giấy bạc quốc gia, với đề tài là công nhân, chúng tôi ký họa hình ảnh công nhân, vẽ mẫu giấy bạc đều phải vẽ phóng to gấp 4 lần mẫu bạc thật song chụp thu nhỏ lại bằng cỡ thật, nét vẽ mới tinh vi” 10, tr 1.42

Mẫu số 2: Hai mươi đồng (20 đồng) tên gọi Sĩ, Nông, Công, Thương,

có màu nâu

Trang 35

Mặt trước: Nền ở giữa là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía bên

ghi (Giấy bạc Việt Nam) và mệnh giá bằng chữ Quốc ngữ, chữ Khơme và chữ Hán Hai đường diềm trên, dưới trang trí những cánh hoa xen xếp chồng lên nhau Hai bên hình chim phượng cách điệu để tạo sự cân bằng các mảng màu, tạo khung trang trí làm nổi bật ở giữa hình chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh lấy hoa văn trống đồng Heger loại II trang trí số 20

Mặt sau: Họa sĩ Nguyễn Sáng thể hiện chủ đề: Khối đại đoàn kết dân

tộc: Sĩ, Nông, Công, Thương (Trí thức, nông dân, công nhân và người buôn bán) Nền trang trí những đường kẻ ngang song song làm nổi bật chủ đề trên nền khung một nhà máy đang hoạt động có trang trí hoa văn sóng thủy ba cách điệu, bên phải trang trí khung hình chữ nhật nền gấm, phía dưới bên trái ghi Sắc lệnh của Chính phủ về việc sử dụng tiền, hai góc ghi số sêri: 064 và số

QW 046 trong khung hình chữ nhật

Mẫu số 3: Năm mươi đồng: Tên gọi Diệt giặc đói, có màu xanh, vàng

Mặt trước: Hoạ sĩ Lê Phả thể hiện ở giữa ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh,

bên cạnh ghi mệnh giá bằng chữ Việt Nam, Khơme và chữ Hán, Phía dưới ghi hiệu tiền Khung 2 bên vẽ hình chim phượng cách điệu, cánh và đuôi có tia lửa

và hoa lá cách điệu lấy từ vốn hoa văn truyền thống, làm nổi bật ở giữa chân dung Hồ Chí Minh trong khung nền hình ôvan kẻ sọc màu xanh, trên nền hoa văn sóng nước thủy ba

Mặt sau: Sát khung bo trên ghi mệnh giá, ở giữa thể hiện chủ đề: Diệt

giặc đói, hình ảnh người nông dân dắt trâu đi làm theo sau là chiếc máy cày và người gánh lúa Họa sĩ Nguyễn Sáng đã trang trí khung bo hai bên trái hàng chữ Hán, trên nền gấm và hoa dây cách điệu, bên phải hoa văn ảnh hưởng nghệ thuật Thương Chu, Trung Quốc Nền vẽ những đường kẻ ngang song song và hoa văn sóng nước Phía dưới có số sêri: 055 BR- QD 047

Mẫu số 4: Một trăm đồng (100 đồng) tên gọi Con trâu xanh, có màu

xanh, nâu, với chủ đề Diệt giặc đói Lương Văn Tuất thể hiện mặt sau, ông đã

Trang 36

đưa vào tờ tiền này hình ảnh con trâu béo mập là đầu cơ nghiệp của nhà nông

và những người nông dân đang gia sức khai khoang, vỡ đất tăng gia sản xuất

Mặt trước: Nền ở giữa là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trong

khung viền những nhành lúa cách điệu Hoạ sĩ Nguyễn Huyến thể hiện hình

ảnh Bác Hồ lung linh, hiền hòa bên cạnh những bông lúa và người nông dân làm khung nền mờ phía sau đang chăm chỉ làm việc, thể hiện niềm khao khát cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc Khung bo trang trí cặp đôi những con giao long và hoa văn hình rồng

Mặt sau: Phía trên bên trái ghi hiệu tiền, ở giữa là hình ảnh con trâu béo

mập, bên phải hình ảnh cây ngô đang ra bắp và những người nông dân đang gia sức khai khoang vỡ đất tăng gia sản xuất, khung bo phía dưới ghi mệnh giá

“Giấy một trăm đồng” bằng chữ Việt, chữ Hán và chữ Khơme Khung bo

trang trí hoa dây cách điệu, hai góc đánh số sêri: CA 014 và YT 063

Biểu số 3: Tiền Tài chính phát hành tại Bắc Bộ

(Xem phụ lục hình H.6, H.7, H.8, H.9, H.10, H.11)

phát hành

Hoạ sĩ sáng tác

6 Một trăm

đồng Chủ tịch Hồ Chí Minh 1948- 1951

Lê Phả Nguyễn Sáng

Trang 37

Bộ tiền này in tại Nhà in Khánh Thi (Chiêm Hóa, Tuyên Quang) Ngoài

ra những tờ tiền này được in ở nhiều nơi khác nhau ở Việt Bắc

Đặc điểm chủ yếu bộ tiền này giống với bộ tiền trước đều in ngang, ngoại trừ mẫu (5 đồng) in dọc

Mẫu số 1: Hai mươi xu (Hai hào) tên gọi Nông, Binh, có màu đỏ, nâu

Mặt trước: Nền in chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khung trang

trí hình vuông sẫm màu, phía dưới có hình bản đồ Tổ quốc và mệnh giá Họa

sĩ Lê Phả dùng hoa văn khắc vạch, lan can để trang trí đường diềm

Mặt sau: Sát khung bo phía trên ghi mệnh giá, ở giữa Họa sĩ Nguyễn

Sáng thể hiện hình ảnh một người lính và một phụ nữ nông dân đang sát vai bên nhau làm hình chủ đạo Khung bo trang trí giống mặt trước có xen kẽ những ngôi sao 5 cánh to nhỏ và số sêri: V03498

Mẫu số 2: Năm mươi xu (Năm hào) tên gọi Nông dân, có màu xanh

Mặt trước: Nền bên trái ghi mệnh giá trên nền hoa văn hoa lá cách điệu,

bên phải là chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khung vòm, phía dưới ghi

hiệu tiền (Giấy bạc Việt Nam) Họa sĩ Lê Phả trang trí đường diềm và nền là hoa dây và hồi văn, ở giữa đánh số sêri: CT 00195 bằng mực đỏ

Mặt sau: ở giữa thể hiện chủ đề Diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm Họa

sĩ Nguyễn Sáng thể hiện hình ảnh hai vợ chồng nông dân sát vai bên nhau trong khung hình mái vòm, người đàn ông chống cây súng, người phụ nữ đang

bế con Khung bo dùng phương pháp đối xứng, phần bo trên là những cánh sen xếp chồng lên nhau, bo dưới dạng hồi văn, hai bên hình cột cách điệu

Mẫu số 3: Năm đồng (5 đồng) tên gọi Mùa gặt, có màu nâu đậm

Mặt trước: Hình chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nền gấm, hoa lá

Với chủ đề Diệt giặc đói Hoạ sĩ Nguyễn Sáng thể hiện nền tiền là những hoa văn hoa lá cách điệu, sát khung bo dòng chữ (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), kiểu chữ

in hoa bằng chữ Việt và chữ Hán, phần khung bo in hình trám lồng và hoa văn trống loại II Heger, phía dưới có đánh số sêri: CT 00195 bằng mực đen

Trang 38

Mặt sau: Mệnh giá ghi bằng chữ Việt, chữ Khơme, ở giữa phía dưới thể

hiện chủ đề Diệt giặc đói Hình ảnh người phụ nữ nông dân tay ôm bó lúa đứng bên cạnh đứa con nhỏ làm hình chủ đạo Nền in văn hoa lá và những cánh sen xếp chồng lên nhau Khung bo dùng phương pháp đối xứng cân, trang trí phần

bo trên bằng những cánh hoa chanh, quả trám xếp xen kẽ nhau

Mẫu số 4: Mười đồng (Mười đồng) tên gọi Bảo vệ quê hương, có màu

xanh sẫm, nâu nhạt

Mặt trước: Hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung thể hiện Nền bên trái bức tranh người

lính và người công nhân đứng sát vai nhau, bên phải chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trong khung hình mái vòm có viền khung bằng những hoa văn gấm và chữ v đảo ngược chiều nhau Khung bo thể hiện dạng hồi văn và những cánh sen cách điệu Phía dưới bên trái có đánh số sêri: H 065 - TA 044 bằng mực đỏ

Mặt sau: Nền tiền dòng chữ (Giấy bạc Việt Nam) in vòng cung trên nền

hoa sen, sóng nước cách điệu và một vòng bán nguyệt chữ “Độc lập tự do hạnh phúc” bằng chữ in hoa trong cung tròn, chính giữa ghi mệnh giá số 10,

phía dưới ghi mệnh giá bằng chữ (Giấy mười đồng) Khung bo dùng phương

pháp đối xứng cân, trang trí bo trên bằng những cánh hoa sen, cung tròn, sóng nước xếp chồng, xen kẽ nhau

Đặc điểm ở cả 2 mặt có chữ ký và dấu vuông của Đại diện Bộ Trưởng Tài chính Trung Bộ Loại tiền này được sử dụng tại Miền Bắc, ngoài ra mẫu này còn đưa cả vào những vùng quân Pháp chiếm đóng và đóng dấu của ủy ban KCHC (ủy ban Hành chính Kháng chiến) hoặc dấu của địa phương và có chữ ký của Chủ tịch hoặc Trưởng ty Ngân khố tỉnh Thời kỳ này Đại diện ủy ban Hành chính Trung Bộ là ông Nguyễn Duy Trinh đã ký để lưu hành

Mẫu số 5: Năm mươi đồng (50 đồng) tên gọi Công nông, có màu sắc

xanh, nâu nhạt, với chủ đề Công, Nông xây dựng quê hương

Mặt trước: Quốc hiệu và hiệu tiền ghi ở phía dưới chân dung Chủ tịch

Hồ Chí Minh Hoạ sĩ Lê Phả đã thể hiện, nền tiền bên trái chân dung Chủ tịch

Trang 39

Hồ Chí Minh đặt trang trọng trong khung hình mái vòm, viền khung là những hoa văn gấm và sóng nước, bên phải trang trí mệnh giá, hiệu tiền và chữ ký của Bộ trưởng Tài chính và Giám đốc Ngân khố Trung ương Viền khung chân dung là những hoa văn gấm và sóng nước, khung bo ngoài hình hoa dây và rồng cách điệu

Mặt sau: Hoạ sĩ Nguyễn Sáng thể hiện chủ đề Công nhân và nông

dân xây dựng quê hương Bức tranh người công nhân và nông dân đang lao

động, gia đình mẹ con đang sum vầy làm hình chủ đạo Phía dưới, sát biên tiền ghi mệnh giá bằng chữ Việt và góc trái bên dưới bằng chữ Hán ghi

“Ngũ thập nguyên” (Năm mươi đồng), nền trang trí hoa văn các lớp sóng lồng vào nhau Khung bo dùng phương pháp đối xứng cân và những cánh sen xếp chồng lên nhau tạo hình sóng nước, bo 2 bên là hình hoa dây, hình rồng cách điệu, vây có tia lửa Phía trên bo đánh số sêri: XM 100 - DY 017 bằng mực đen

Mẫu số 6: Một trăm đồng tên gọi Bảo vệ quê hương, có màu nâu

Mặt trước: ở giữa in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trong khung viền

trang trí những nhành lúa, phía trên hai bên ghi mệnh giá số 100 Nền là hình

ảnh mờ những người dân lao động đang chăm chỉ làm việc và hình người mẹ tay nâng con nhỏ và lá cờ đỏ sao vàng, toát lên niềm khao khát cuộc sống ấm

no, hạnh phúc Khung bo trang trí cặp đôi những con giao long

Mặt sau: Hiệu tiền ghi ở trên phần khung bo Nền tiền thể hiện chủ đề

Diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Họa sĩ Nguyễn Sáng thể hiện hình

ảnh: Người nông dân thu hoạch bí ngô bên phải, người lính đứng gác trên nền hình cờ đỏ sao vàng và bản đồ Tổ quốc Bên trái, phía dưới là hình hai phụ nữ

đang dạy nhau học bài, hai bên in số sêri: HV 042 - BH 06, khung bo ghi mệnh giá Khung bo trang trí hoa dây

Tiền Tài chính phát hành tại Bắc Bộ

Trang 40

Biểu số 4: (xem phụ lục H.12, H.13, H14, H.15)

pháthành

Hoạ sĩ sáng tác

1 Hai mươi đồng Chân dung Chủ tịch

Hồ Chí Minh 1949- 1951

Lê Phả Nguyễn Sáng

2 Một trăm đồng Chân dung Chủ tịch

Hồ Chí Minh 1949- 1951

Lê Phả Nguyễn Sáng

3 Hai trăm đồng Chân dung Chủ tịch

Hồ Chí Minh 1949- 1951

Lê PhảNguyễn Sáng

4 Năm trăm đồng Chân dung Chủ tịch

Hồ Chí Minh 1949- 1951

Lê Phả Nguyễn Sáng

Đây là những đồng tiền giấy đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, được in trong thời gian từ 1946 - 1947, tại Nhà in Khánh Thi (Chiêm Hóa, Tuyên Quang) Ngoài ra những mẫu này được in ở nhiều nơi khác nhau ở Việt Bắc Quốc hiệu nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” ghi ở phía trên phần khung bo lượn sóng

Mẫu số 1: Hai mươi đồng (20 đồng) tên gọi Công thương, mặt trước

có màu xanh đậm, mặt sau nâu đỏ

Mặt trước: Họa sĩ Lê Phả thể hiện chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh

đặt trong khung hình vuông cách điệu nền sóng nước, phía dưới ghi Chủ tịch

Hồ Chí Minh bằng chữ in hoa, bên phải ghi mệnh giá Viền khung chân dung

là hoa văn gấm, sóng nước Khung bo ngoài hình hoa dây và rồng cách điệu

Mặt sau: Hiệu tiền ghi sát bo, hai bên phía dưới ghi mệnh giá số (20)

Họa sĩ Nguyễn Sáng thể hiện ở giữa là bức tranh người công nhân đang quai búa, người phụ nữ nông dân ngồi trước đống lúa vàng đang nghỉ ngơi Nền trang trí hoa văn các tia sáng mặt trời Khung bo hình sóng nước, hoa dây, dưới đánh số sêri: B0 069

Ngày đăng: 06/06/2021, 00:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w