Làng được hình thành từ sự liên kết của những người sống gần nhau thông qua phương cách ứng phó, ứng xử của họ với môi trường tự nhiên và xã hội, đồng thời là đơn vị tụ cư mang đặc trưng
Trang 1Bộ Giáo dục và đào tạo Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch
Trường Đại học văn hóa Hμ Nội
Trang 2MỤC LỤC
Trang
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ DÒNG HỌ VÀ VĂN HÓA DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT Ở BẮC BỘ 12
1.1 Khái niệm, đặc điểm dòng họ của người Việt ở Bắc Bộ 12
1.1.1 Khái niệm dòng họ 12
1.1.2 Đặc điểm dòng họ của người Việt ở Bắc Bộ 16
1.2 Văn hóa dòng họ và các yếu tố cấu thành văn hóa dòng họ 25
1.2.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa dòng họ 25
1.2.2 Các yếu tố cấu thành của văn hóa dòng họ 28
Tiểu kết Chương 1 39
Chương 2: VĂN HÓA CÁC DÒNG HỌ TIÊN CÔNG Ở LÀNG YÊN ĐÔNG 41 2.1 Làng Yên Đông trong không gian văn hóa của vùng đảo Hà Nam 41
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
2.1.2 Điều kiện kinh tế 42
2.1.3 Đời sống văn hóa 44
2.2 Lịch sử tụ cư của các dòng họ Tiên Công ở làng Yên Đông 44
2.3 Yếu tố cấu thành văn hóa các dòng họ Tiên Công ở làng Yên Đông 48
2.3.1 Yếu tố vật thể 48
2.3.2 Yếu tố phi vật thể 76
Trang 3Tiểu kết Chương 2 92
Chương 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÒNG HỌ TIÊN CÔNG Ở YÊN ĐÔNG TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN NAY 94
3.1 Những giá trị nổi bật của văn hóa các dòng họ Tiên Công ở Yên Đông 94
3.1.1 Một hình thức thờ tổ tiên độc đáo 94
3.1.2 Ghi dấu lịch sử khai hoang lấn biển 96
3.1.3 Bảo tồn những giá trị kiến trúc, nghệ thuật đặc sắc 97
3.1.4 Bức tranh phong phú, đa dạng về các nghi lễ, nghi thức, phong tục, tập quán 99
3.2 Hiện trạng văn hóa các dòng họ Tiên Công ở Yên Đông 102
3.2.1 Hiện trạng di tích các dòng họ Tiên Công 102
3.2.2 Hiện trạng lễ hội Tiên Công 103
3.2.3 Hiện trạng sinh hoạt văn hóa các dòng họ Tiên Công 104
3.2.3 Hiện trạng công tác quản lý di sản văn hóa của các dòng họ Tiên Công 105
3.3 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dòng họ Tiên Công ở Yên Đông 106
3.3.1 Cơ sở pháp lí và thực tiễn 106
3.3.2 Giải pháp bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa các dòng họ Tiên Công 108 Tiểu kết Chương 3 123
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chon đề tài
1.1 Làng của người Việt là một xã hội thu nhỏ và hiện hữu khá đầy
đủ các hình thức sinh hoạt cộng đồng, những dấu ấn văn hóa đặc trưng của người Việt trong lịch sử Làng được hình thành từ sự liên kết của những người sống gần nhau thông qua phương cách ứng phó, ứng xử của họ với môi trường tự nhiên và xã hội, đồng thời là đơn vị tụ cư mang đặc trưng của công xã nông thôn, trong đó, quan hệ láng giềng là nổi bật, song quan hệ huyết thống lại là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào việc tạo dựng nên văn hóa làng
Mỗi dòng họ được phân bố tập trung ở một làng hoặc ở nhiều làng và một làng có thể là sự liên kết của một dòng họ hay của nhiều dòng họ khác nhau Trong lịch sử dân tộc, dòng họ là nhân tố đã tạo nên sức cố kết chặt chẽ cùng sức mạnh cộng đồng để chống lại thiên tai, dịch bệnh và chống giặc ngoại xâm Vì vậy, người Việt luôn tự hào sức mạnh cộng đồng do chính bàn tay họ tạo dựng Có những dòng họ tự hào là người khai hoang lập làng, phát triển sản xuất; có những dòng họ lại được sử sách ghi danh vì những đóng góp to lớn cho đất nước về nhiều mặt; có những dòng họ đã làm nên lịch sử như họ Đinh, họ Lê, họ Trần, họ Nguyễn… Tuy nhiên, cũng có những dòng
họ không để lại những dấu ấn gì trong quá trình xây dựng, bảo vệ đất nước Như vậy, dòng họ giữ vai trò quan trọng trong lịch sử hình thành phát triển của dân tộc
1.2 Từ lâu, dòng họ và làng có sự gắn kết chặt chẽ Cùng với sự phát triển của làng, mỗi một dòng họ trong quá trình hình thành, phát triển đều để lại những dấu ấn riêng biệt góp phần tạo nên sự đa dạng của văn hóa làng Những dấu ấn ấy thể hiện đặc trưng văn hóa của từng dòng họ - đó chính là
Trang 6những giá trị được sáng tạo và truyền qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau Trong văn hóa dòng họ, các di tích nhà thờ họ, mộ tổ, các di vật bên trong hay gia phả là các giá trị văn hóa vật thể; các giá trị văn hóa phi vật thể lại được thể hiện trong các sinh hoạt của dòng họ như giỗ họ, họp họ, truyền thống dòng
họ cũng như các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của dòng họ được phổ biến
và lưu truyền qua mỗi thành viên của dòng họ Văn hóa của dòng họ nào cũng gồm hai bộ phận cấu thành trên Như vậy, văn hóa dòng họ chính là nét đặc trưng của văn hóa làng, đồng thời cũng là cái để tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam
Vì vậy, để tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của các dòng họ cũng như khẳng định vai trò của dòng họ đối với sự phát triển của làng xã, việc nghiên cứu văn hóa dòng họ là việc làm cần thiết Đặc biệt, trong thời kì hiện nay, khi đất nước bước vào thời kì đổi mới, văn hóa có vai trò như nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, cho nên việc nghiên cứu văn hóa dòng họ càng có ý nghĩa hơn trong việc giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ, đồng thời tạo cơ sở khoa học cho việc kế thừa và phát huy những giá trị tích cực cũng như khắc phục những hạn chế của văn hóa dòng họ, góp phần cho sự nghiệp xây dựng
và phát triển nền văn hóa của đất nước theo đúng tinh thần mà Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã đề ra trong Nghị quyết
số 03-NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
1.3 Khu đảo Hà Nam thuộc huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, vùng đất mới được hình thành từ những năm 30 thế kỉ XV Ban đầu, đây chỉ là vùng đất trũng, chịu tác động rất dữ dội của thủy triều Qua quá trình quai đê, ngăn nước mặn, khai phá đất đai, các dòng họ ở đây đã liên kết với nhau để lập nên 10 làng Vì vậy, sinh hoạt của người dân luôn gắn kết với ý niệm biết
Trang 7ơn, tưởng nhớ các vị có công khai phá vùng đất và điều này đã tạo nên nét riêng của vùng đất mới đồng thời cũng là những đặc trưng của của vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ Nó được thể hiện trong hệ thống nhà thờ họ đậm đặc
và các sinh hoạt văn hóa tinh thần của các dòng họ; ngoài ra, nó còn thể hiện mối liên kết cộng đồng giữa các dòng họ với nhau trong không gian văn hóa của vùng đảo Hà Nam
Các dòng họ đầu tiên tạo lập nên vùng đảo Hà Nam này được gọi là các dòng họ Tiên Công Hiện nay, những dòng họ này là bộ phận cơ bản tham gia vào quá trình phát triển kinh tế địa phương, cũng như tạo dựng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đặc trưng của cư dân vùng cửa biển
Trong các làng trên đảo, Yên Đông là một làng được hình thành từ quá trình khai hoang đồng ruộng và cũng là nơi hội tụ khá nhiều dòng họ tiêu biểu
đã góp phần đáng kể vào sự phát triển văn hóa xã hội của địa phương
Từ những nhận thức trên, chúng tôi đã chọn vấn đề văn hóa dòng họ để
nghiên cứu và lấy chủ điểm Giá trị văn hóa dòng họ, trường hợp các dòng họ
Tiên Công ở làng Yên Đông (xã Yên Hải, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh)
làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2.1 Những tác phẩm mang tính lý luận về dòng họ và văn hóa dòng họ
“Gia phả học và một số vấn đề làng họ” của Phạm Diệp đăng trên Nghiên cứu lịch sử số 5 - 1986; “Gia phả - Khảo luận và thực hành” và “Một lối chép gia phả thật đơn giản”của Nguyễn Đức Dụ; “Họ tên người Việt
Trang 8Nam” của Lê Trung Hoa; “Việc họ” của Tân Việt; “Nề nếp gia phong”,
“Đạo nghĩa trong gia đình”, “Tinh thần gia tộc: gia sử và ngoại phả” của
Phạm Côn Sơn
2.2 Những công trình khảo tả về dòng họ người Việt và văn hóa dòng họ người Việt
- Các công trình đề cập đến dòng họ và văn hóa dòng họ đặt trong mối
quan hệ với làng xã: “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh, “Nếp cũ
làng xóm Việt Nam” của Toan Ánh, “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” của Trần Từ,”Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính, “Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng” của Mai Văn Hai và Phan Đại Doãn
- Các công trình nghiên cứu văn hóa dòng họ thông qua lịch sử hình
thành: “Một số ý kiến về nguồn gốc họ của người Việt”, “Việt Nam và cội
nguồn trăm họ” của của Bùi Văn Nguyên, “Các làng khoa bảng Thăng Long
Hà Nội” của Bùi Xuân Đính và Nguyễn Viêt Chức, “Tiến sĩ Nho học Thăng Long” của Bùi Xuân Đính đã giới thiệu các Tiến sĩ nho học trong các gia đình
và dòng họ khoa bảng ở Thăng Long - Hà Nội dưới góc nhìn về lịch sử của các dòng họ
- Các công trình đề cập đến vấn đề văn hóa dòng họ trong giai đoạn
hiện nay như: “Nền văn minh sông Hồng xưa và nay” của Trần Từ, “Làng
Việt Nam - một số vấn đề về kinh tế xã hội và văn hóa” của Phan Đại
Doãn, bài viết “Vai trò của quan hệ gia đình và dòng họ trong hoạt động
kinh tế ở nông thôn hiện nay” của tác giả Mai Văn Hai và Bùi Xuân Đính
đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 3-1994, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học của tác giả Đỗ Thị Phương Anh “Văn hóa dòng họ Nguyễn Quý làng
Đại Mỗ”
Nhìn chung, vấn đề dòng họ và văn hóa dòng họ của người Việt được
đề cập đến trong rất nhiều các công trình nghiên cứu nhưng chủ yếu nói đến
Trang 9vấn đề chung thiên về góc độ lịch sử hình thành phát triển, đặc điểm các dòng
họ và văn hóa dòng họ Song các công trình đề cập đến dòng họ và văn hóa dòng họ cụ thể vẫn còn hạn chế
2.3 Những công trình khảo tả về khu Hà Nam và văn hóa dòng họ ở
Hà Nam
- Huy Vu - Trần Lâm (Thông báo về cuộc điều tra nghiên cứu các làng
xã thuộc khu Hà Nam huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên - 1971);
-”Quảng Ninh miền đất hứa” của Nguyễn Phương Quỳnh, Nxb Thế giới, 1992; “Địa chí Quảng Ninh “ (gồm 3 tập - xuất bản năm 2001), công
trình này có một phần đề cập khái quát đến di tích và lễ hội ở vùng đảo Hà Nam;
- “Di tích và danh thắng Quảng Ninh” (tập 1- xuất bản năm 2002),
cuốn sách này chủ yếu giới thiệu, khảo cứu về các di tích đã được xếp hạng
di tích lịch sử văn hóa, trong đó có một số di tích liên quan đến tín ngưỡng thờ Tiên Công, lễ hội Tiên Công, song chỉ dừng lại ở mô tả, giới thiệu khái quát;
- “Quảng Ninh miền đất của những trầm tích” của Nguyễn Thanh Sỹ;
Đỗ Lan Phương (Hội thập cửu Tiên Công) (Báo cáo khoa học - Viện Văn hóa
- Thông tin - năm 2000), chỉ tập trung khảo tả lễ hội Tiên Công để phục vụ việc lưu trữ;
- “Văn hóa Yên Hưng lịch sử hình thành và phát triển”, “Văn hóa Yên
Hưng di tích, văn bia, câu đối” của tác giả Lê Đồng Sơn tập trung về lịch sử
hình thành của vùng đất và giới thiệu qua về các di tích qua của Yên Hưng qua các văn bia và câu đối
- Phạm Thanh Quyết sưu tầm (Hát Đúm Hà Nam - Yên Hưng), chỉ tập trung vào việc sưu tầm những bài hát Đúm lưu truyền trong dân gian ở vùng đảo Hà Nam;
Trang 10- “Về số lượng “Tiên Công” ở khu đảo Hà Nam (Yên Hưng - Quảng Ninh) qua một số tư liệu Hán Nôm” của tác giả Bùi Xuân Đính đăng trên Tạp
chí Nghiên cứu Hán Nôm - 2005;
- Luận văn thạc sĩ của Hoàng Quốc Thái (2002-2005) “Tín ngưỡng thờ
Tiên Công ở vùng đảo Hà Nam - Yên Hưng - Quảng Ninh” lưu tại thư viện
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
- Một số bài viết giới thiệu lễ hội Tiên Công và các lễ hội ở đảo Hà Nam được in trên báo Quảng Ninh; một số phóng sự được phát trên Đài truyền hình Quảng Ninh giới thiệu về vùng đất, di tích, lễ hội Tiên Công của vùng đảo Hà Nam
Qua các nguồn tài liệu, tư liệu trên, chúng tôi thấy các công trình mới chỉ đề cập đến các di tích, tín ngưỡng, lễ hội của khu vực đảo Hà Nam mà chưa có một công trình nào nghiên cứu về văn hóa các dòng họ Tiên Công
một cách chi tiết, đầy đủ, hệ thống và khoa học Vì vậy, với đề tài “Giá trị
văn hóa dòng họ, trường hợp các dòng họ Tiên Công ở làng Yên Đông (Yên Hải, Yên Hưng, Quảng Ninh)” chúng tôi mong muốn thực hiện việc
tìm hiểu, nghiên cứu những giá trị tiêu biểu của văn hóa các dòng họ Tiên Công ở Yên Đông một cách tổng thể và toàn diện hơn
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Luận văn tiến hành thu thập, phân tích các nguồn tư liệu về lịch sử hình thành vùng đảo Hà Nam và các dòng họ để có cái nhìn tổng thể về giá trị văn hóa các dòng họ Tiên Công
3.2 Luận văn chỉ ra các yếu tố cấu thành, đặc điểm của văn hóa các dòng họ Tiên Công ở làng Yên Đông, đồng thời đánh giá những mặt tích cực
và hạn chế của văn hóa dòng họ ở đây
3.3 Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số ý kiến bảo tồn, phát huy những giá trị của văn hóa các dòng họ Tiên Công trong đời sống xã hội hiện nay
Trang 114 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Giá trị vật thể và phi vật thể của văn hóa các dòng họ Tiên Công ở làng Yên Đông trong quá khứ và hiện tại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Các dòng họ Tiên Công ở làng Yên Đông
- Thời gian: Luận văn nghiên cứu văn hóa các dòng họ Tiên Công trong lịch sử và diễn biến trong thời kì hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét, nhìn nhận các sự việc, hiện tượng và sự kiện lịch sử, đánh giá giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của văn hóa dòng họ Tiên Công ở Yên Đông
5.2 Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn hóa học, sử học, dân tộc học, khảo cổ học, bảo tàng học, mỹ thuật học, xã hội học )
5.3 Sử dụng phương pháp khảo sát, điền dã dân tộc học văn hóa - thực địa, đo vẽ, chụp ảnh, ghi chép, khảo tả, trao đổi, tổng hợp, phân tích và so sánh các vấn đề đã được xác định trên cơ sở các nguồn tư liệu đã thu thập và đặc biệt là hình thức điều tra hồi cố
6 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn chỉ ra những đặc điểm của văn hóa các dòng họ Tiên Công
ở làng Yên Đông
- Luận văn tạo cơ sở khoa học cho các cấp chính quyền nhân dân địa phương tham khảo, kế thừa và phát huy những mặt tích cực và hạn chế của văn hóa dòng họ đối với đời sống văn hóa ở Yên Đông nói riêng, ở vùng Bắc
Bộ nói chung trong thời kì hiện nay
- Luận văn góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu dòng họ và văn hóa dòng họ của người Việt
Trang 127 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về dòng họ và văn hóa dòng họ của người Việt
ở Bắc Bộ
Chương 2: Văn hóa các dòng họ Tiên Công ở làng Yên Đông
Chương 3: Bảo tồn và phát huy văn hóa các dòng họ Tiên Công ở
làng Yên Đông
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ DÒNG HỌ VÀ VĂN HÓA DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT Ở BẮC BỘ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT Ở BẮC BỘ
1.1.1 Khái niệm dòng họ
Đã từ lâu, dòng họ là một yếu tố cấu thành quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển các làng xã Việt Nam Với mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, dòng họ được nhìn nhận với các đặc điểm và vai trò khác nhau Dòng họ là một từ ghép gồm hai thành tố dòng và họ
- Dòng là người, vật có cùng huyết thống và hình thành nhiều thế hệ mới Họ là tập hợp những người có cùng tổ tiên dòng máu [37, tr.25]
- Dòng nghĩa là dòng dõi, dòng giống hay là những người có cùng huyết thống làm thành các thế hệ kế tiếp nhau, kế thừa và phát triển những truyền thống chung Họ cũng là tập hợp những người có cùng tổ tiên dòng máu
Như vậy dòng họ là toàn thể, nói chung những người có cùng huyết thống làm thành các thế hệ kế tiếp nhau [72, tr.444]
Ngoài ra, theo Nguyễn Kim Thản, Lê Trung Hoa, họ là từ Việt hóa (từ Hán Việt) Họ được phiên âm sang chữ Hán với nhiều cách hiểu khác nhau
như:
- Tính (姓): chỉ dòng họ nói chung (ví dụ: Bách tính - trăm họ)
- Thị (氏): Giống như tính cũng là họ nhưng cũng có khi được hiểu là một bộ phận của tính (tức là một hay nhiều chi của dòng họ)
Dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Ninh Viết Giao quan niệm: Dòng họ hay gia tộc là sự mở rộng của một gia đình Sự mở rộng này không chỉ nằm trong một làng, một xã, một huyện hay tỉnh mà có khi cả
Trang 14toàn quốc Dòng họ hay gia tộc phải do một ông tổ sinh ra thường được gọi là thủy tổ Từ một ông thủy tổ trong quá trình sinh sôi, phát triển một dòng họ, một gia tộc được chia làm nhiều ngành, nhiều chi
Dòng họ hay họ hàng là một hiện tượng lịch sử xã hội, phát triển mạnh
mẽ và quy củ dưới chế độ phong kiến Cơ cấu tổ chức của xã hội Việt Nam trước đây cũng như nhiều quốc gia trên thế giới gồm 4 yếu tố: gia đình, dòng
họ, làng xã và đất nước
Một cách hiểu khác về dòng họ ở phương diện dân tộc học và văn hóa học, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Ngô Đức Thịnh cho rằng: Dòng họ là một thực thể xã hội mang tính phổ quát của loài người Nó hình thành trên cơ
sở quan hệ huyết thống của một quần thể người nhất định thể hiện qua ý niệm
về dòng dõi từ tông tổ chung Do vậy, dòng là một thực thể vừa mang tính sinh học vừa mang tính xã hội Nó xuất hiện từ rất sớm trong xã hội loài người, trở thành một nguyên lí cố kết giữa con người sớm nhất rồi biến đổi qua các thời đại và tồn tại cho đến ngày nay [68, tr.25]
Từ các quan niệm trên, có thể hiểu đơn giản về dòng họ như sau: Dòng
họ là tập hợp những người có chung huyết thống trải qua các thế hệ nối tiếp nhau tạo nên những nét truyền thống văn hóa riêng biệt Sự hình thành và phát triển của mỗi dòng họ phụ thuộc vào các yếu tố về kinh tế, lịch sử xã hội, môi trường xung quanh và phụ thuộc vào chính bản thân của các thành viên trong họ
Như vậy, dòng họ mang những yếu tố cơ bản sau:
- Dòng họ mang tính sinh học: Thể hiện qua tính di truyền về mặt huyết thống Mỗi dòng họ mang huyết thống riêng và huyết thống này được duy trì
từ đời này qua đời khác thông qua cấu trúc gien Có thể gien bị lẩn (gien lặn)
ở một vài thế hệ nhưng nó sẽ xuất hiện và được trao truyền lại cho các thế hệ
kế tiếp sau đó Nó quy định cả về vóc dáng, khuôn mặt, giọng nói, tính tình và
Trang 15cả trí tuệ con người thuộc dòng họ, làm nên đặc trưng riêng có của dòng họ đó
so với các dòng họ khác Chính vì vậy mà dân gian ta thường có câu: Con nhà
tông không giống lông cũng giống cánh hay Giỏ nhà ai, quai nhà nấy Một số
truyền thống tốt đẹp của dòng họ cũng được tạo ra và được duy trì bởi có yếu
tố di truyền như truyền thống học hành, đỗ đạt vì vậy một số dòng họ được gọi là dòng họ khoa bảng, làm quan
- Dòng họ mang tính lịch sử xã hội: Trong lĩnh vực sinh học từ các công trình nghiên cứu đã cho thấy có rất nhiều loài động vật cao cấp đã hình thành những nhóm huyết thống riêng mang tính di truyền của loài, quy định những đặc tính, đặc trưng để nhận biết về loài và tránh sự xâm nhập những động vật khác loài hoặc cùng loài nhưng khác huyết thống, đặc biệt là để tránh những cuộc giao phối cùng huyết thống Loài người tuy thoát thai từ loài vượn và vẫn duy trì nguyên tắc này nhưng cái khác cơ bản giữa loài vật
và loài người đó là tính xã hội, mà sự khác biệt đầu tiên đó là trong hôn nhân
Cho đến nay, loài người đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và phải trải qua nhiều chế độ hôn nhân khác nhau để đi đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng (gia đình hạt nhân) như hiện nay
Gia đình là cái gốc của con người, nơi con người được sinh ra, bắt đầu một cuộc đời và bắt đầu sự nhận thức Trong suốt cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến khi kết thúc, gia đình luôn là điểm tựa, là cội nguồn của tình cảm, là cái nôi của sự yên bình trong ấm êm Biểu tượng sáng rõ nhất về tình cảm của con người chính là mẹ Trong đời, mẹ là người đầu tiên trẻ được tiếp cận, và
xã hội đầu tiên mà con người khi mới chào đời nhận biết đó là mẹ và con [43, tr.11-12] Như vậy, vai trò của người phụ nữ trong gia đình rất quan trọng, chính vì vậy ngay từ buổi đầu, từ thời kì nguyên thủy con người đã sống theo chế độ mẫu hệ, huyết thống được tính theo dòng mẹ, vai trò tổ chức đời sống gia đình, cộng đồng dòng họ thuộc về phụ nữ - những người mẹ và người vợ
Trang 16trong một tập thể huyết thống Điều này có thể minh chứng trong tục thờ phụ
nữ, nữ thần và thờ Mẫu trong văn hóa của thời này mà hiện nay vẫn còn vết tích Đến giai đoạn phát hiện ra nguyên liệu đồng thì việc chế tác, sử dụng các công cụ đồng khoảng 4000 năm trước đã làm thay đổi diện mạo của xã hội Khi công cụ bằng đồng (chiếc cày) thay thế công cụ bằng đá và sức kéo của con trâu với sự điều khiển của nam giới đã làm cho năng suất lao động tăng,
từ đó nam giới đã khẳng định vai trò của mình trong sản xuất và giành lại quyền thống trị từ tay nữ giới Chế độ mẫu hệ chấm dứt và thay vào đó là gia đình một vợ một chồng, chế độ phụ hệ bắt đầu được xác lập Huyết thống được tính theo dòng cha Các sinh hoạt trong dòng họ bắt đầu đi vào quỹ đạo của nó, trong đó việc thờ phụng nữ thần, thờ Mẫu đã chuyển sang việc thờ tổ tiên và gia đình phụ hệ [5, tr.243 - 245]
Như vậy, cùng với lao động qua các giai đoạn phát triển của lịch sử loài người, con người phải qua nhiều chế độ hôn nhân khác nhau mới đi đến chế
độ hôn nhân một vợ một chồng và hình thành nên các gia đình phụ hệ như hiện nay Điều đó chứng tỏ, dòng họ mang tính lịch sử xã hội
- Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của các dòng họ:
+ Yếu tố kinh tế: Là một trong những yếu tố quan trọng trong việc tạo
ra sự liên kết giữa các cá nhân trong dòng họ và giữa các dòng họ trong làng
xã Bởi Việt Nam với truyền thống nông nghiệp mà điển hình là cây lúa nước ngự trị, địa lí khí hậu và hệ sinh thái phức tạp, khắc nghiệt, muốn trồng lúa, người tiểu nông phải chủ động liên kết lại để tạo sinh thái cho cây lúa phát triển Như vậy, khi nền kinh tế xã hội còn ở trình độ thấp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, con người bị bó hẹp trong cộng đồng nhỏ của làng xã thì các quan hệ huyết thống là yếu tố cố kết cộng đồng giúp con người vượt qua khó khăn của đói kém, mất mùa, thiên tai, bệnh dịch Chính sự cố kết dòng họ đã
Trang 17hỗ trợ cho kinh tế tiểu nông, giúp cho người tiểu nông khắc phục được nhiều khó khăn trong sản xuất và sinh hoạt
Khi kinh tế xã hội phát triển, không còn là kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc nữa mà là nền kinh tế hướng tới thị trường của hộ gia đình sản xuất kinh doanh đa dạng, đa ngành, đa nghề của các tổ chức hợp tác kinh tế xã hội, văn hóa đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa Làng xã là mở, các cá nhân, thành phần xã hội bình đẳng dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền Do vậy cuộc sống của mỗi người tự chủ hơn, không quá phụ thuộc vào nhau vì thế quan hệ huyết thống cũng dần bị phai nhạt
+ Thể chế xã hội: Đối với các làng xã Việt Nam, sự ràng buộc bằng
quan hệ huyết thống của con người rất bền chặt nên dòng họ được coi là yếu
tố cấu thành của thiết chế xã hội, là công cụ để quản lí con người và xã hội thông qua lệ làng Do vậy, dòng họ cũng có vai trò quan trọng trong việc thực nhiện lệ làng phép nước, đặc biệt là một người phạm tội thì cả dòng họ phải chịu cùng hay một người vi phạm lệ làng thì chú bác hoặc tộc trưởng phải chịu trách nhiệm nghĩa là dòng họ có vai trò lớn trong đời sống chính trị của làng Điều này hoàn toàn khác biệt đối với các nước công nghiệp phương Tây,
do mỗi cá nhân đều phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, nên dòng họ tồn tại mờ nhạt và không có vai trò gì trong đời sống chính trị xã hội
Ngoài ra, yếu tố tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng cũng có ảnh hưởng tới
sự tồn tại của dòng họ và các quan hệ của dòng họ Riêng đối với các dòng họ Tiên Công ở Yên Đông thì đó chính là những yếu tố cơ bản để tạo nên các sinh hoạt văn hóa dòng họ và chi phối toàn bộ đời sống của các dòng họ ở đây (sẽ trình bày cụ thể ở Chương 2 và Chương 3)
1.1.2 Đặc điểm dòng họ của người Việt ở Bắc Bộ
Cho đến nay đã có nhiều tài liệu thống kê về số lượng các dòng họ ở
Bắc Bộ Đơn cử trong cuốn Người nông dân ở châu thổ Bắc kì [33, tr.118],
Trang 18nhà dân tộc học người Pháp P.Gourou cho rằng có 202 họ; trong cuốn Gia
phả khảo luận và thực hành [17, tr.24], Nguyễn Đức Dụ cho rằng có khoảng
300 họ Tuy nhiên, đó là tên chung của nhiều huyết thống, còn trên thực tế, số lượng dòng họ lớn hơn rất nhiều Có thể thấy, họ không chỉ được hiểu là tên của những người có cùng huyết thống mà còn là tên của những người cùng họ
để phân biệt những người khác huyết thống Vì vậy, có nhiều huyết thống khác nhau nhưng vẫn có cùng một tên họ; các họ này trên giấy tờ cũng như giao tiếp thường ngày phân biệt với nhau bằng tên đệm như: Nguyễn Văn, Nguyễn Như, Nguyễn Bá và các tập tục sinh hoạt cũng có sự khác biệt
1.1.2.1 Tên các dòng họ của người Việt
Đa số các dòng họ Việt Nam đều mang tên các dòng họ Trung Quốc: Trần, Phạm, Ngô, Lý chỉ có một số ít các dòng họ là những họ thuần Việt, tiêu biểu là họ Bùi Trong lịch sử Việt Nam, có nhiều hiện tượng thay đổi họ với nhiều nguyên nhân khác nhau:
*Đổi họ do bị bán khoán: Người Việt có tục bán khoán (sinh con muộn
sợ khó nuôi thường làm lễ bán cho cửa đình, cửa chùa để làm con Thánh con Phật) Bán cho cửa tĩnh thờ Đức Thánh Trần thì đổi sang họ Trần, sang cửa chùa thì đổi họ Mâu và đến 12 tuổi mới chuộc về làm con mình
*Làm con nuôi: Theo phong tục Việt Nam, làm con nuôi của nhà nào
thì phải lấy họ của nhà ấy và lấy họ mình làm tên đệm Ví dụ như Hồ Quý Ly làm con nuôi nhà Lê Huân nên đổi họ thành họ Lê; thế kỉ XVIII tác giả bản Hán Chinh phụ ngâm vốn họ Trần, làm con nuôi nhà họ Đặng nên có họ tên là Đặng Trần Côn; Vũ Phạm Hàm đậu Thám hoa năm 1894 vốn họ Phạm nhưng
vì tổ tiên là con nuôi họ Vũ nên mang họ Vũ
*Được vua ban họ hay bắt đổi họ: Quan lại có công được vua cho họ
hoặc ban cho một họ khác mà vua thấy có ý nghĩa thích hợp
Trang 19Mang họ vua như: Ngô Tuấn có công trong việc phá Tống, bình Chiêm được vua Lý cho đổi tên thành Lý Thường Kiệt; Nguyễn Trãi sau khi bình định xong giặc Minh được Lê Thái Tổ ban cho họ vua thành Lê Trãi
Mang họ khác: Nguyễn Thuyên được vua Trần Nhân Tông đổi họ thành Hàn Thuyên vì ông có công làm văn tế đuổi cá sấu ở sông Lô, giống với Hàn Dự làm văn tế đuổi cá sấu ở Trung Quốc
*Đổi họ để tránh bị trả thù giữa những dòng họ nắm quyền lực như:
Họ Lý đầu thế kỉ XIII phải đổi thành họ Nguyễn để tránh nhà Trần truy bức; con cháu họ Mạc phải đổi sang họ Lều tránh sự trả thù của nhà Lê sau khi nhà Mạc sụp đổ; con cháu chúa Trịnh đổi thành họ Nguyễn tránh sự trả thù của Gia Long
*Đổi họ vì sự phân biệt dân chính cư và ngụ cư trong làng xã: Đây là
một hiện tượng rất phổ biến trong làng xã của người Việt Dân ngụ cư của các làng thường bị coi thường và chèn ép Muốn nhanh chóng trở thành dân chính
cư thì thường phải dựa vào một cụ Chánh hoặc cụ Bá có thế lực trong làng đứng ra bảo lãnh và phải đổi sang họ của người đó [37, tr.52-57]
1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của dòng họ người Việt
Thứ nhất: Dòng họ theo chế độ ngoại hôn
Dòng họ là một cộng đồng ngoại hôn Yếu tố ngoại hôn thực hiện
trong nội tộc với quy định trong phạm vi 5, 6 thế hệ, những người có cùng chung ông tổ không được lấy nhau Cũng có nơi quy định 9, 10 đời hoặc xa hơn nữa không kể cách xa bao nhiêu đời nếu còn phát hiện ra mình có chung ông tổ thì cũng không có những cuộc hôn nhân đồng tộc (điều này vẫn còn thấy ở các xã của huyện Thạch Thất, Thanh Oai, Hà Nội) Đối với đằng ngoại cũng có ngăn cấm nhưng không tuyệt đối Anh em con cô con cậu, con dì, phải để tang nhau thì không được lấy nhau, nhưng cũng có nhiều trường hợp
Trang 20lấy nhau nên dân gian thường quan niệm: Đôi con dì thù nhau thì lấy nhau,
hay kể từ anh em đời cháu thì có thể lấy nhau Vì vậy, dân gian có câu:
Cháu cậu mà lấy cháu cô Thóc lúa đầy bồ, giống má nhà ta
Thứ hai: Dòng họ tồn tại theo chế độ cửu tộc (9 đời)
Dòng họ gồm những người thuộc một tông tộc có cùng chung một ông
tổ, có chung một ông tổ 5 đời thường gọi là chi họ hay cửu tộc vì nếu lấy cá nhân (Ego) làm để tính thì trên Ego có 4 thế hệ: Cha mẹ (Phụ mẫu), Ông bà (Tổ phụ mẫu), Cụ ông, Cụ bà (Tằng phụ mẫu), Kỵ ông, Kỵ bà (Cao tổ phụ mẫu); dưới Ego có 4 thế hệ: Con (Tử), Cháu (Tôn), Chắt (Tằng tôn), Chút (Huyền tôn) và xa hơn nữa còn được gọi là viễn tôn Trong cửu tộc, phổ biến
là tứ đại đồng đường, tam đại đồng đường tức là 3, 4 thế hệ cùng sống với nhau Trường hợp 5 thế hệ sống với nhau là rất hiếm, nếu thêm một thế hệ ở trên và ở dưới Ego sống cùng thì gọi là Ngũ đại đồng đường Với những người thuộc cửu tộc cùng họ thì không được lấy nhau, nếu vi phạm thì bị coi
là loạn luân Quy định này được duy trì và thực hiện nghiêm ngặt nếu vi phạm
sẽ bị xử tội và đôi khi còn liên lụy tới cả dòng họ
Thứ ba: Dòng họ theo chế độ phụ hệ gia trưởng
Họ được tính theo dòng cha Người chồng, người cha đóng vai trò là trụ cột trong gia đình Nếu ở chế độ mẫu hệ, người phụ nữ là người quyết định mọi công việc và là chủ gia đình thì ở gia đình phụ hệ, họ là người hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình chồng, phải tuân theo mọi quyết định của người chồng vì:
Con gái là con người ta Con dâu đích thực mẹ cha mua về
Và đặc biệt phải ghi nhớ:
Lấy chồng theo thói nhà chồng
Trang 21Thôi đừng theo thói cha ông nhà mình
Thứ tư: Dòng họ theo chế độ tôn pháp
Chế độ tôn pháp chính là chế độ phụ hệ gia trưởng phát triển ở mức cao
mà đặc trưng chủ yếu là sự phân biệt đích, thứ và đặc quyền kế thừa của người trưởng nam
Thực hiện tôn pháp trong dòng họ trước hết là chọn dòng trưởng, dòng đích trong dòng họ để điều hành việc họ Con của ngành trưởng luôn được đề cao tôn trọng, dù là ít tuổi vẫn được tôn làm anh Khi anh trai trưởng mất, cháu đích tôn lên thay, các chú vẫn đứng hàng thế phụ Kể cả là tộc trưởng có nằm trong nôi khi các chi thứ có vị cao tuổi đã lên hàng cụ, kỵ cũng không được thay thế vai trò của đích tôn mà phải có trách nhiệm phò tá công việc cho tới khi cháu tộc trưởng tới tuổi trưởng thành Vì vậy nói về sự phân biệt đích thứ
này, người xưa thường có câu: Xanh đầu con nhà bác, bạc đầu con nhà chú
Con của dòng trưởng, dù không tài giỏi, dù có địa vị thấp kém trong xã hội thì vẫn được chọn làm người kế nghiệp hương hỏa của dòng họ, trường hợp dòng trưởng tuyệt thì mới lấy con của dòng thứ lên thay Nhưng dù là dòng trưởng hay dòng thứ khi đã được chọn làm tộc trưởng đều phải ý thức về trách nhiệm
của bản thân, thay thế cha khi cha mất hay đi vắng theo nguyên tắc Quyền
huynh thế phụ và cũng phải chịu trách nhiệm về các hành vi ứng xử của vợ con,
đặc biệt luôn phải đặt chữ tâm lên hàng đầu, thực hiện đúng theo tinh thần
Trang 22Hiếu, Đệ, Hòa, Kính (Hiếu: với tổ tiên, việc thờ phụng phải chu toàn; Đệ: với anh em họ hàng thân thuộc phải thuận thảo tin yêu lẫn nhau; Hòa: với kẻ dưới - lớp con cháu, phải thuận hòa giúp đỡ nhau; Kính: với các bậc bề trên phải tôn kính, nghe lời dạy bảo theo nếp sống của dòng họ) [53, tr.190]
Thứ năm: Dòng họ là một kết cấu bền chặt
Một là: Làng xã Việt Nam hình thành, tồn tại từ nhiều mối quan hệ như: nghề nghiệp, tín ngưỡng, tôn giáo, địa vực, láng giềng, tổ chức xã hội, dòng máu họ hàng, xóm, giáp Giáp là đơn vị nhỏ nhất làng, còn họ hàng liên quan đến làng thông qua giáp Trong những mối quan hệ trên, quan hệ họ hàng, dòng họ là quan hệ bền chặt nhất Dòng họ, ngoài những hoạt động tín ngưỡng nói chung, còn có một không gian sinh tồn, trước kia đó là làng vì mỗi làng phần lớn là dân cùng chung một tộc họ nên mới có các tên gọi làng Nghiêm Xá, Đặng Xá
Hiện nay mỗi làng gồm nhiều họ, thường mỗi họ tập trung ở mỗi khu vực nhất định Quan hệ thuyết thống được bổ sung bằng quan hệ địa vực làm cho dòng họ càng thêm vững chắc Điều này được quy định bởi yếu tố sản xuất nông nghiệp Người nông dân là người lao động trực tiếp với tư liệu sản xuất là ruộng đất, bị trói chặt và phụ thuộc vào ruộng đất nên bắt buộc phải bám ruộng đất, phải chịu nhiều rủi ro, tai họa xảy ra và họ luôn ở trong khuôn viên của gia đình nơi họ hàng cư trú vì đất nuôi sống họ, dòng họ trợ giúp và
là điểm tựa khi họ gặp khó khăn Vì vậy, đây là nguyên nhân quan trọng trong
cố kết dòng họ
Trong nền kinh tế tiểu nông, con người bị bó hẹp trong làng xã, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào khí hậu Với thời tiết khắc nghiệt, để cây lúa phát triển, con người phải liên kết nhau lại để trị thủy, cùng giúp nhau vượt qua thiên tai bão lũ đặc biệt là những người trong cùng họ Đây là một yếu tố quan trọng tạo nên sự gắn kết giữa các cá nhân trong dòng họ và trong
Trang 23cộng đồng làng xã Các thành viên trong mỗi họ tập hợp nhau thành một đơn
vị sản xuất và tiêu dùng bởi vì đó là phương thức phù hợp để duy trì quá trình tái sản xuất nhân loại trong tình trạng chưa có giá trị thặng dư, vẫn thuộc mức
độ tất yếu sinh học như Mác nói
Còn trong xã hội có giai cấp, quá trình tái sản xuất cá thể (với tư cách
là những cá thể đã trưởng thành đầy đủ) lại diễn ra khác biệt với thời kì nguyên thủy, trở thành công việc riêng của mỗi người, tức là quan hệ kinh tế của mỗi người không còn được diễn ra trùng hợp với quan hệ huyết thống Họ của người Việt từ lâu đã không còn là một đơn vị sản xuất kinh tế, làm ăn tập trung trên một khu đất và có tài sản sở hữu chung mà đã vỡ nhỏ thành nhiều gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân với kinh tế riêng nên không bị ràng buộc về
mặt kinh tế như trước nữa mà Anh em kiến giải nhất phận Tuy nhiên với nền
móng đã có từ lâu đời và đã ăn sâu vào trong tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam trong các dòng họ nên dòng họ vẫn tồn tại như một sức mạnh tâm lí tạo
ra sự cố kết chặt chẽ giữa các gia đình nhỏ và các cá nhân trong họ theo quan
niệm: Một giọt máu đào hơn ao nước lã; Họ chín đời hơn người dưng
Cơ sở của sự gắn kết và cố kết đó chính là gia phả (sổ ghi chép về nguồn gốc dòng họ, sự phát triển của dòng họ qua các thế hệ cũng như các quy định
về mối quan hệ đồng huyết giữa những người trong họ), hệ thống các thiết chế tín ngưỡng liên quan tới thờ tự như: mộ tổ, nhà thờ họ, ngày giỗ họ và đặc biệt thông qua ruộng họ và quỹ họ là cơ sở kinh tế chung của để duy trì các hoạt động thờ cúng của dòng họ Sự cố kết này sẽ được thể hiện rõ hơn với các dòng
họ có người làm quan hay có chức sắc trong bộ máy chính quyền Như vậy, cộng đồng kinh tế và cộng đồng tín ngưỡng không những là đặc trưng mà còn
là nguyên nhân tạo ra sự cố kết lâu bền trong quan hệ dòng họ
Hai là: Bản thân sự tồn tại của các dòng họ đã là một thiết chế chặt chẽ
vì dòng họ là một tập hợp người có cùng huyết thống Người Việt theo phụ hệ
Trang 24còn coi trọng tinh thần gia tộc, vì vậy đó là tiền đề để tạo ra sự gắn kết giữa các cá nhân trong họ Người Việt thường quan niệm:
Chết cả đống còn hơn sống một mống
(Anh em họ hàng bênh vực nhau đến chết cũng không sờn lòng)
Hay:
Thà cắn bắp hạt chà vôi Còn hơn giàu có mồ côi một mình
(Có đông đúc anh em bà con, bớt ăn bớt tiêu để chia sẻ cho người ta còn hơn giàu có mà sống cô độc)
Và họ luôn ghi nhớ:
Lá rách, lá lành đùm bọc
Một người làm quan cả họ được nhờ
(Anh em họ hàng phải giúp đỡ nhau không thể lạnh nhạt được)
Ba là: Sự cố kết chung của làng được tạo nên từ sự cố kết của dòng họ Ngoài ra, dòng họ còn được tổ chức theo nguyên tắc tập hợp các chi họ, trưởng tộc và các trưởng chi cùng các bậc cao tuổi trong dòng họ quyết định công việc của họ và duy trì theo tôn pháp của dòng họ Vì vậy, dòng họ được coi là công cụ để quản lí con người
- Trong các công việc chung của làng, dòng họ với tư cách là một cộng đồng huyết thống với đặc trưng cố kết trong quan hệ thân tộc, luôn tương trợ
và giúp đỡ nhau, đồng thời mỗi cá nhân tự ý thức về trách nhiệm của mình đối với công việc của gia đình dòng họ Dưới sự đảm trách công việc của các tộc trưởng và các chi trưởng, mọi việc trong họ đều được giải quyết êm thấm
Vì vậy, dòng họ được coi là một thực thể độc lập nhưng không đối lập với làng bởi sự cố kết của dòng họ cũng tạo nên sự cố kết chung của làng Dòng
họ là một công cụ hữu hiệu để quản lí đối với từng cá nhân thông qua giáp -
tổ chức trung gian giữa làng và họ, gồm vài ba họ nhất định Mọi công việc
Trang 25của làng được phân bổ theo giáp (phu phen lính, sưu thuế, trông nom tu bổ, cúng tế, đình đám ), rồi từ giáp mới phân bổ tới các dòng họ và các cá nhân
- Trong việc quản lí con người: Với các dòng họ gồm nhiều hay ít chi
họ, ở xa hay gần, các thành viên bao giờ cũng tìm về với cội nguồn của mình
và đều phục tùng quyết định của tộc trưởng và các chi trưởng Điều này có lợi trong việc quản lí dân làng cũng như giáo dục các thành viên và chịu trách nhiệm với làng xã về việc làm của các thành viên trong dòng họ.Với một quan niệm mà gần như là quy định của nhiều làng đó là:
Một người làm quan cả họ được cậy Một người làm bậy cả họ mang nhơ
Một cá nhân trong họ vi phạm lệ làng thì cha mẹ, chú bác và đôi khi cả dòng họ bị liên đới trách nhiệm
Ví dụ: Ở Đại Tảo, Bắc Ninh, người đang trong thời kì chịu binh dịch
mà đảo ngũ thì buộc thân tộc phải tìm về hoặc cử người khác thay thế và chịu mọi phí tổn vật chất nếu gia đình đương sự không lo được thì đổ lên đầu họ Cũng khoán ước của xã này quy định, một thành viên chết, các chức dịch làng
xã sẽ tra sổ khoán xem người ấy lúc còn sống có can khoán lệ nào chưa nộp thì bắt thân nhân và bà con trong họ phải hoàn thành thì mới được đem chôn cất Hay ở Mộ Trạch, Hải Dương, cá nhân nào phạm pháp mà gia đình không trả nổi phí tổn việc quan thì sẽ quy cho dòng họ đó chi trả Một hình thức khác để giáo dục các thành viên ở xã Ngọc Hoan, Sơn Tây, làng thường bắt
cá nhân phạm tội giao về cho dòng họ quản lí giáo dục và nếu còn tái phạm thì họ ấy phải nộp số tiền phạt lên tới 30 quan [74, tr.197-198]
Từ những minh chứng trên cho thấy, dòng họ phải chịu trách nhiệm về việc làm của các thành viên trong họ, dòng họ giống như một con người buộc phải chịu trách nhiệm với các hành động của cá nhân
Trang 26Sự cố kết cộng đồng dòng họ có tác dụng tích cực trong khai hoang lập làng, giáo dục đào tạo con người cũng như đánh giặc giữ nước chính vì vậy mới có các dòng họ khoa bảng, dòng họ cách mạng, dòng họ Tiên Công hay tiền hiền Bên cạnh đó, điều này cũng làm nảy sinh một số những tiêu cực
nhất định như bè phái, móc ngoặc theo kiểu Đi việc làng bênh việc họ, Một
người làm quan cả họ được nhờ, thiếu sự nghiêm túc trong việc công trước
pháp luật vì là người trong họ nên thường Giơ cao đánh khẽ, Chín bỏ làm
mười và Đóng cửa bảo nhau đồng thời cũng nể nang né tránh vì sợ Rút dây động rừng
Nếu sự cố kết trong dòng họ bền chặt bao nhiêu thì mối quan hệ giữa các dòng họ lại lỏng lẻo bấy nhiêu Khi sự cố kết trong dòng họ lên cao sẽ
sinh ra tính cục bộ trong dòng họ với căn bệnh cố hữu Con gà tức nhau tiếng
gáy cùng với sự ganh đua cao thấp giữa các dòng họ để phân biệt dòng họ
chính cư hay ngụ cư, giàu hay nghèo, khoa bảng hay ít học, quyền thế hay bạch đinh là điều khó tránh khỏi Đôi khi còn xảy ra những mâu thuẫn lớn giữa các họ như kiện tụng nhau qua nhiều đời hay tuyệt giao quan hệ với nhau kéo dài, làm cho cục diện của làng xã trở nên phức tạp
1.2 VĂN HÓA DÒNG HỌ VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH VĂN HÓA DÒNG HỌ
1.2.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa dòng họ
Thuật ngữ văn hóa bắt nguồn từ chữ Culture (trồng trọt), đối lập với Nature (tự nhiên) và từ lâu đã phổ biến trong đời sống của con người, đặc biệt
từ khi con người nhận biết được tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển của loài người Chính vì vậy, năm 1988, UNSSECO đã phát động thập
kỉ văn hóa và cho đến nay, văn hóa đã thực sự đi vào đời sống và chiếm vị trí
quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Đảng ta luôn nhấn mạnh Văn hóa
vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế, xã hội
Trang 27Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời cũng đã quan niệm: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống của loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, và phương thức sử dụng toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó gọi là văn hóa
Từ đó, khi xem xét văn hóa của một dân tộc, các nhà nghiên cứu thường nói tới ba bộ phận cấu thành cơ bản của văn hóa, gồm văn hóa vật thể
và văn hóa phi vật thể Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16 tháng 7 năm 1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, cũng đề cập đến hai bộ phận này khi nhấn mạnh: Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là cơ sở để sáng tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng, bảo tồn kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Sau năm 1988, Tổ chức UNSSECO cũng chia văn hóa thành hai bộ phận
là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Tuy nhiên, việc phân chia văn hóa thành văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa xã hội hay văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể chỉ mang tính tương đối bởi không một yếu tố vật chất nào lại không đồng thời bao hàm cả yếu tố tinh thần và ngược lại, không có yếu
tố tinh thần nào lại tồn tại tách bạch không liên quan tới dạng phi vật chất và không được tồn tại trong một tổ chức xã hội với những quy tắc riêng biệt
Đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa do mỗi nhà nghiên cứu dưới mỗi góc độ khác nhau có những nhìn nhận, đánh giá và quan niệm về văn hóa khác nhau Định nghĩa được nhiều người sử dụng đó là định nghĩa
của UNSSECO Theo đó, văn hóa được hiểu là tổng thể các hoạt động sáng
tạo của con người ttrong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỉ hoạt động sáng
Trang 28tạo ấy hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống, các thị hiếu, những yếu tố xác định tính riêng của mỗi tộc người
Tại Điều 4 Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm
2009, di sản văn hóa, gồm hai bộ phận là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể được định nghĩa như sau:
“1 Di sản văn hóa phi vật thể là những sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác
2 Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [41, tr 33]
Từ khái niệm về “dòng họ” và “văn hóa”, tôi xin đưa ra cách hiểu về văn hóa dòng họ như sau:
Văn hóa dòng họ là nhân tố quan trọng để hình thành nên văn hóa làng
xã Do vậy, văn hóa dòng họ là bộ phận không thể tách rời của văn hóa làng Quá trình hình thành và phát triển dòng họ đã tạo ra các giá trị văn hóa tiêu biểu như sự cố kết cộng đồng, các phong tục tập quán, lễ nghi và các chuẩn mực về đạo đức, về quy tắc ứng xử giữa con người với con người trong họ, giữa thế hệ này với các thế hệ khác là cái cốt lõi trong văn hóa dòng họ mà người xưa thường gọi đó là nền nếp gia phong
Như vậy: Văn hóa dòng họ là tất cả các giá trị được truyền lại từ thế
hệ này sang thế hệ khác của một dòng họ phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của mỗi gia đình dòng họ trong quá trình hình thành và phát triển gắn với mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Văn hóa dòng họ là văn hóa riêng của
Trang 29mỗi dòng họ được phổ biến, lưu truyền qua mỗi thành viên trong họ và nó chi phối đời sống tinh thần của mỗi thành viên trong gia đình và dòng họ ấy Văn hóa dòng họ vừa góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi làng quê Việt Nam nhưng đồng thời cũng thể hiện những đặc trưng chung của văn hóa làng
1.2.2 Các yếu tố cấu thành của văn hóa dòng họ
1.2.2.1 Yếu tố vật thể
*Nhà thờ họ (từ đường dòng họ):
Các dòng họ dù họ lớn hay họ nhỏ cũng đều có nhà thờ họ hoặc đền tế
tổ Nhà thờ họ và phần mộ là nơi tôn kính quy tụ linh khí quan trọng nhất của dòng họ Đây là nơi thờ các cụ tổ cùng những người đã khuất của những đời sau trong quá trình phát triển của dòng họ Ngoài ra, nhà thờ họ còn là nơi tụ hội đông đảo con cháu trong những ngày giỗ, ngày lễ tết quan trọng của dòng họ
Nhà thờ họ được xây dựng và giữ gìn cho các đời sau dù lớn hay bé, nguy nga, tráng lệ hay bình thường là tùy theo con cháu của dòng họ có đông đúc hay không, các chi phái nhiều hay ít, hiển đạt hay bình thường
Việc hình thành các nhà thờ họ cũng có nhiều nguồn gốc khác nhau:
- Nhà thờ họ có sẵn: Là nhà ở, sinh hoạt hàng ngày của các vị được thờ,
có thể là nơi ở của các vị tổ ngày xưa về sau do con cái làm ăn thành đạt đã tu
bổ lại chính nơi đó làm nơi thờ phụng, hoặc là một số người khi đã đỗ đạt, bỏ tiền của dựng nhà để ở vừa làm nơi thờ cúng cho mình sau này và khi người
đó mất thì con cháu lấy đó làm nơi hương khói, thờ phụng
- Nhà thờ họ được xây mới: Là nơi con cháu sau khi làm ăn phát đạt đã xây dựng ngôi nhà riêng để thờ phụng, tưởng nhớ công ơn của ông bà, cha
mẹ
Trang 30Nhà thờ họ gồm nhiều loại tùy theo nội dung phân chia Xét theo phạm
vi tế tự, nhà thờ họ được chia làm ba loại sau:
- Nhà thờ dòng họ (đại tôn từ đường): Thờ các vị có công khai lập dòng
họ (thủy tổ và các vị tiên tổ khi chưa phân chi) và tất cả các vị tổ hiển linh hay những người đỗ đạt cao làm rạng danh cho dòng họ ở các tiểu chi đều được phối thờ trong nhà thờ đại tôn không phân biệt về thứ đứng cao thấp
- Nhà thờ chi họ (bản chi từ đường): Họ lớn qua nhiều đời chia làm các tiểu chi, mỗi chi có một nhà thờ riêng thờ vị tổ đứng đầu của chi đó Ngoài thờ vị đứng đứng đầu của chi họ đó, các đời sau chỉ có dòng trưởng mới được thờ ở chính giữa, các tiên tổ dòng thứ dẫu đời cao hơn thuộc các bậc cha chú, cụ, cũng chỉ được phối thờ ở hai bên
- Nhà thờ hay bàn thờ gia tiên của đại gia đình: Thờ các vị từ cao tổ trở xuống hiển khảo trở lên gồm: Hiển cao tổ (Can hay Kỵ), Hiển tằng tổ (Cố hay Cụ), Hiển tổ, khảo tổ tỷ (Ông và Bà), Hiển khảo tỷ (Bố, Mẹ) kèm theo phụ vị thương vong các đời - những người chết yểu chưa có con gọi là tổ bá, tổ phúc,
tổ cô Tất cả những người được thờ ở đây đều được cúng giỗ [75, tr.29]
Nhà thờ họ thường giao cho con trưởng ngành trưởng - ngành đích cai quản Nhà thờ của các chi họ (với những họ lớn chia làm nhiều chi họ) cũng được giao cho ngành trưởng của chi họ đó trông giữ
Nhà thờ họ thường có kết cấu 5 gian, 3 gian hay kết cấu theo kiểu nội
tự ngoại khách Ngoài ra, cũng còn có nhiều công trình phụ khác được xây thêm để phục vụ cho các sinh hoạt có liên quan tới việc thờ cúng tế lễ trong dòng họ
Việc bài trí trong các gian, ban thờ trong nhà thờ họ có sự khác biệt tùy thuộc vào tính chất, truyền thống riêng của mỗi dòng họ Nhà thờ họ của những dòng họ có học hành thành đạt thường bài trí các bức hoành phi, câu đối, đại tự đề cao truyền thống học hành của dòng họ, đồng thời cũng để
Trang 31khuyên nhủ con cháu noi theo gương tổ tiên Trong nhà thờ họ của các dòng
họ đại quan, khoa bảng còn nhiều di vật đặc biệt là các sắc phong - những văn bản viết trên giấy sắc, giấy nghè của triều đình để phong chức tước cho một người nào đó trong họ
Ngoài ra, các dòng họ này còn lập nhà thờ cá nhân cho những danh nhân được làng xã công nhận Điều này không chỉ thể hiện sự phát triển, truyền thống học hành, khoa bảng, đỗ đạt của dòng họ mà còn nói lên những đóng góp quan trọng của dòng họ vào quá trình phát triển chung của làng xã, đất nước
*Mộ Tổ:
Là nơi yên nghỉ của các vị thủy tổ, cao tổ của các dòng họ sau khi chết
Người xưa thường quan niệm: Thế phách hồn thiên địa, tinh thần tại tử tôn
(Sau khi chết, phần xác (thể), phần hồn (phách) tồn tại mãi với đất trời, tinh thần sống mãi với con cháu) Tâm lí chung của người đang sống là sự lưu luyến, mong muốn cái gì đó thuộc về người chết ở lại với mình Với hình thức mai táng, cái còn lại lâu nhất của người người đã khuất là hài cốt, trở thành vật linh thiêng của mỗi dòng họ Việc xây dựng trông nom phần mộ thủy tổ
và tiên tổ các đời rất quan trọng với các dòng họ vì nó ảnh hưởng tới sự thành đạt của con cháu và sự phát triển của cả dòng họ
Mộ thủy tổ thường được xây dựng nghiêm trang, uy nghi đặt nơi khô ráo có thế đất tốt (theo phong thủy) Nếu có nghĩa trang riêng của dòng họ,
mộ thủy tổ ông và thủy tổ bà được song táng ở vị trí cao nhất
Mộ tiên tổ các đời được an táng tại nghĩa trang chung của địa phương, nghĩa trang riêng của dòng họ đại tôn, tiểu chi hay phân tán ở các khoảng đất nào đó của tư nhân
Trong thực tế, có thể thấy, các dòng họ luôn quan tâm tới việc trông nom, tu bổ, tôn tạo những ngôi mộ tổ hàng năm thông qua các lễ thức trong các ngày chạp mộ, tảo mộ, thanh minh thể hiện sự thành kính và niềm tin thiêng
Trang 32liêng của người sống và người chết với sự cầu mong phù hộ cho cuộc sống an lành Đồng thời qua đó cũng phản ánh mối liên hệ vô hình giữa những người sống với nhau, giữa người sống với người chết cùng huyết thống
*Gia phả
Gia phả là lịch sử của một dòng họ, một gia đình Gia phả là gia bảo vì
nó là lịch sử của tổ tiên nhiều đời truyền lại, là điều tổ tiên muốn gửi gắm lại cho đời sau [75, tr.41] Nếu chiết tự từ, có thể hiểu, phả có nghĩa là “phổ”, nguyên từ Trung Quốc là “bổ” cũng đọc là “sổ” nghĩa là quyển sách hay sổ ghi chép có thứ tự Phả còn có nghĩa là ghi chép vào Với cách giải thích này thì gia phả được hiểu là cuốn sách được biên tập có nội dung đầy đủ rõ ràng, chi tiết về từng cá nhân một số người như ngày sinh, ngày mất, tên húy, hiệu, chức tước, phẩm trật, quan hàm hay công đức với xã hội, những lời di ngôn, gia huấn, những diễn biến trong phút lâm chung, tình hình tang lễ, những cá tính về đời sống, phẩm hạnh Gia phả là cuốn sổ ghi chi tiết mọi điều cần thiết liên quan tới mỗi người qua đời trong họ tộc, con cháu thực hành gia lễ, giữ gìn gia phong bằng cách duy trì và tuân hành những lời gia huấn của các bậc tiền nhân
Như vậy, gia phả là sách để chép về nguồn gốc xuất xứ, lịch sử hình thành phát triển của mỗi thế hệ trong dòng họ Một tộc họ được tồn tại qua nhiều năm, có nhiều chi nhánh họ khác nhau, mỗi một chi nhánh lại sản sinh
ra nhiều thế hệ khác nhau Do vậy, qua một thời gian dài, con cháu trong họ
có thể không biết nhau, chỉ có thể nhận biết ra nhau khi đem nguồn gốc ra kể,
mà minh chứng có giá trị nhất đó chính là gia phả
Gia phả xuất hiện từ xa xưa Trên thế giới, đặc biệt là ở phương Đông mà tiêu biểu là Trung Quốc có cuốn gia phả đầu tiên với tên là sách Thế Bản có từ thời Chiến Quốc Ở Việt Nam, cuốn gia phả đầu tiên là Ngọc Diệp (gia phả của hoàng tộc) do vua Lý Thái Tổ biên soạn năm Bính
Trang 33Dần 1026, sau đó là các cuốn gia phả của hoàng tộc khác lần lượt ra đời: Hoàng Triều Ngọc Diệp của nhà Lý, Hoàng Tông Ngọc Diệp của nhà Trần, Hoàng Lê Ngọc Diệp của nhà Lê Ngoài ra, các gia đình vọng tộc cũng bắt đầu soạn các gia phả như Hoan Châu Nghi Tiên, Nguyễn Gia thế phả
do Nguyễn Nghiễm biên soạn, Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả do Phạm Đình Hổ biên soạn
Gia phả xưa ghi bằng chữ Hán, chữ Nôm, dùng những từ riêng để chỉ thế thứ của từng đời: Cao tổ, Tằng tổ, Viên tổ khảo, Tổ khảo, Viên tổ tỷ, Tổ tỷ
Gia phả được ghi trên một loại giấy đặc chế riêng gọi là giấy Sắc - là loại giấy dày, màu vàng, hơi sẫm đóng thành quyển, đóng theo khổ giấy sách 0,17m x 0,25m Mỗi trang có dòng kẻ ngân nhũ Có hai loại giấy Sắc:
Loại vẽ rồng ngân nhũ: Cung cấp cho triều đình viết sắc bách thần và các quan lớn
Loại dùng để viết phả thì không vẽ rồng mà chỉ vẽ long hóa vân ám (mây trời có dạng rồng ẩn) nhiều quyển chỉ kẻ dòng thẳng chiều dọc cho dễ viết
Nội dung trong gia phả gồm có 2 phần: phần đầu ghi chép nguồn gốc xuất xứ của dòng họ (phả kí); phần thứ hai ghi chép chi tiết từng người từng đời của dòng họ như tên húy, tên tự, tên hiệu, năm sinh, năm mất, công danh sự nghiệp Ngoài ra, trong gia phả còn có phần lời tựa, nói lên
ý nghĩa của gia phả và sự cần thiết phải có gia phả; phần kỉ sự ghi chép sự nghiệp công trạng của ông tổ các đời; phần phả đồ - sơ đồ gia phả hay còn gọi là cây gia phả là những hình vẽ đơn giản kèm theo tên tuổi vắn tắt bên dưới, chép tổng hợp các chi ngành lớn nhỏ trong một họ Nhìn vào đó có thể thấy tổng quát thế thứ quan hệ trong dòng họ kể từ đời ông thủy tổ xa xưa tới lớp con cháu mới ra đời, đồng thời nhìn vào sơ đồ mỗi người tự biết vị trí của mình trong họ, biết cách xưng hô và ứng xử với các bề trên trong họ cho phải đạo
Trang 34Gia phả được coi là gia bảo của mỗi gia đình dòng họ nên việc lập gia phả cũng như cúng giỗ là việc thiêng liêng của con cháu Biên soạn gia phả phải rất tỉ mỉ, công phu đồng thời việc bảo quản giữ gìn cũng phải thận trọng phải giao cho những người có uy tín trong họ đảm nhiệm vì nó rất quan trọng với mỗi dòng họ, mà ngay trong lời tựa của mỗi gia phả thường nhấn mạnh: Nhà có phả cũng như nước có sử, con người hiếu hạnh phải hiểu được công
ơn các đời tiên tổ, biết quan hệ trên dưới, thân sơ trong họ, biết năm sinh, năm mất và mồ mả của tiền nhân [75, tr.43]
*Ruộng họ
Đây là tài sản chung mang tính thiêng liêng của dòng họ, không ai có quyền bán và xâm chiếm, là phần đất chung của dòng họ giao cho con cháu cày cấy để lấy hoa lợi, để phục vụ cho việc cúng giỗ các bậc tiên tổ và những người đã khuất trong họ Ruộng họ được hình thành do hương hỏa của tổ tiên
để lại hoặc do họ bỏ tiền quỹ chung ra mua Cũng có khi là do con cháu cúng tiến khi làm ăn phát đạt hay do những người trong họ không có con hoặc không có con trai cúng tiến cho họ và sau này khi người đó chết họ sẽ lo phần cúng giỗ tại từ đường gọi là ngày giỗ hậu họ, nghĩa là ruộng được đóng góp cho họ dưới dạng đặt hậu
Ngoài ruộng đất, nhiều họ còn có cả ao vườn cũng là tài sản chung của dòng họ hay chi họ, thường được giao cho ngành trưởng cấy, trồng trọt để lấy hoa lợi phục vụ không chỉ lo việc cúng giỗ mà còn các việc chung khác của dòng họ Cũng có họ giao cho một người nào đó trong họ chịu trách nhiệm và nộp hoa lợi về cho trưởng họ để nhập vào quỹ họ
Trong thời kì phong kiến, ruộng họ là tài sản chung và là cơ sở chính
để tạo ra quỹ họ phục vụ cho việc hương khói Chính vì vậy, nó được duy trì qua nhiều đời và tồn tại đến khi nhà nước có chính sách cải cách ruộng đất vào năm 1955-1956 thì hầu như bị xóa bỏ Cho đến nay, ruộng họ hầu như
Trang 35không còn trong các dòng họ, chỉ còn một số trường hợp đặc biệt ở một số ít
họ ruộng họ được duy trì song với một diện tích không đáng kể (Ví dụ như dòng họ Nguyễn Quý ở Đại Mỗ - Từ Liêm Hà Nội hiện nay còn ruộng họ)
*Quỹ họ
Được hình thành từ hoa lợi của ruộng họ nhưng từ khi ruộng họ không còn thì quỹ họ chủ yếu là từ nguồn đóng góp và cúng tiến của con cháu hoặc tiền tài trợ Cũng có họ tạo quỹ bằng cách dùng chính quỹ họ để nhân quỹ họ như hình thức cho vay với lãi xuất thấp, phần lãi đó hàng năm được nhập vào quỹ họ Như vậy, quỹ họ là phần quỹ được tính bằng tiền, thóc của dòng họ hay chi họ, dùng vào các công việc chung của họ như họp họ, cúng lễ, chạp họ, mua sắm đồ thờ, sửa chữa tu bổ nơi thờ tự Quỹ họ thường giao cho trưởng họ hoặc hội đồng gia tộc quản lí và công khai các khoản chi tiêu vào dịp giỗ họ
1.2.2.2 Yếu tố phi vật thể
*Giỗ họ
Là ngày giỗ được tổ chức vào ngày mất của thủy tổ khai sinh ra dòng
họ cũng là sinh hoạt lớn nhất và quan trọng nhất của mỗi dòng họ
Trong ngày giỗ, các đồ lễ vật phục vụ cho cúng tế được mua sắm đầy
đủ tùy theo truyền thống dòng họ và điều kiện kinh tế của họ ở mỗi địa phương Các chi họ đều đến chi trưởng để góp giỗ, mọi khâu chuẩn bị phải chu đáo và được phân công đều cho người của các chi họ đóng góp về công sức và tiền của Trong ngày giỗ họ, con cháu tề tựu đông đủ ở nhà thờ họ hoặc nhà của trưởng họ, dù đi làm ăn xa cũng phải thu xếp về tham dự, trường hợp đặc biệt không về được thì phải gửi lễ về trước
Sau khi các khâu chuẩn bị đã được hoàn tất là đến phần lễ Với họ bình thường, con cháu theo thứ bậc các chi ngành lần lượt thắp hương lễ ở bàn thờ
tổ, đối với các họ có truyền thống học hành làm quan, con cháu làm ăn phát đạt thì thường tổ chức cúng tế và trưởng họ là chủ tế Tiêu biểu như ngày giỗ
Trang 36của các dòng họ Tiên Công ở khu đảo Hà Nam, Quảng Ninh không phải là các dòng họ khoa bảng và làm quan nhưng dù họ lớn hay họ nhỏ cũng đều tổ chức cúng tế trong ngày giỗ của họ và họ nào cũng có ban khánh tiết chuyên đảm trách về việc tế lễ trong họ
Sau phần lễ, trưởng họ và bậc cao niên giới thiệu vắn tắt về lai lịch truyền thống dòng họ (cũng có những dòng họ trong quá trình tổ chức cúng tế thì phần này được lồng ghép vào phần tế), những tấm gương tiêu biểu, kiểm điểm các hoạt động của dòng họ qua một năm, rút kinh nghiệm những mặt còn hạn chế và cũng bàn về phương hướng hoạt động cho năm tới
Cuối cùng là phần ăn uống, thụ lộc tổ tiên Bữa ăn tạo không khí giao lưu, cởi mở và gắn bó giữa những người trong họ, là sự cộng cảm giữa những con người cùng huyết thống
*Họp họ
Họp họ trong các dòng họ thường diễn ra theo định kì gắn với giỗ họ hay giỗ chi họ Đôi khi cũng có những cuộc họp bất thường khi trong họ có việc đột xuất hay có sự kiện chính trị nào đó của làng Những cuộc họp này thường do hội đồng gia tộc hay ban chấp sự của dòng họ đứng ra tổ chức họp để giải quyết công việc trên cơ sở lấy ý kiến đóng góp của các thành viên Với những ngày giỗ hay việc lớn thì họp họ có đông đủ con cháu trong họ, những việc nhỏ thì chỉ họp trong ban chấp sự và ban chấp sự có trách nhiệm thông báo lại hay triển khai công việc đến các trưởng chi họ để phổ biến tới các thành viên trong toàn họ
*Truyền thống dòng họ
Mỗi một dòng họ có nguồn gốc, sự hình thành phát triển ở mỗi thời điểm, mỗi địa phương khác nhau và do đó cũng tạo ra những truyền thống riêng biệt đặc trưng cho các dòng họ Truyền thống tiểu biểu của các dòng họ là:
Trang 37- Truyền thống khai hoang lập làng: Rất nhiều dòng họ đã có công khai phá các vùng đất hoang để tạo lập nên những làng xóm mới Mỗi họ có những ông tổ có công khai phá vùng đất lập nên làng nên thường một số làng có tên gọi gắn với một dòng họ như Bùi Xá, Lê Xá, Nguyễn Xá, Dương Xá, Từ vùng Quảng Ngãi trở vào phía Nam, những vị tổ của các dòng họ có công khai lập làng thường được tôn làm Tiền hiền, Hậu hiền Còn ở phía Bắc, có thể thấy rõ dấu tích của truyền thống này trong các làng thuộc khu đảo Hà Nam, Yên Hưng, Quảng Ninh Các vị thủy tổ của các dòng họ được phong làm Tiên Công vì đã có công chiêu tập dân đắp đê, lấn biển, khai hoang lập làng và dấu tích của những buổi đầu khai phá vùng đất hiện nay vẫn còn được lưu giữ trong các di vật các sinh hoạt trong các nhà thờ họ các dòng họ Tiên Công ở vùng đất này
- Truyền thống lao động sản xuất (chăn nuôi, trồng trọt, làm nghề thủ công): Mỗi dòng họ gắn với một nghề thủ công tạo nên những sản phẩm thủ công nổi tiếng không chỉ riêng của dòng họ mà còn nổi tiếng của cả vùng Những dòng họ này thường chỉ truyền lại nghề cho con trai và con dâu trong nhà để giữ bí quyết truyền nghề, không truyền cho con gái vì sợ con gái đi lấy chồng thì bí quyết sẽ bị tiết lộ sang nhà khác Các họ gắn với các nghề tiêu biểu như: họ Lại ở làng Nghè (nay thuộc Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội) gắn với nghề làm giấy sắc; họ Lã làng Vạn Phúc (Hà Đông) gắn với nghề dệt lụa;
họ Trần ở làng Định Công, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Định Công, Quận Hoàng Mai, Hà Nội) gắn với nghề dát bạc; họ Lê làng Quất Động, (Thường Tín, Hà Nội) gắn với nghề thêu [80, tr.15,107,178,210]
- Truyền thống đánh giặc giữ nước: Lịch sử Việt Nam là lịch sử của các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, đặc biệt là trong những giai đoạn đất nước bị xâm lược thì tinh thần đoàn kết dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng để đất nước vượt qua thời khắc khó khăn Tinh thần ấy đã tạo thành làn sóng yêu nước sục sôi, được hun đúc từ thành
Trang 38viên này qua các thành viên khác, từ các thế hệ này đến các thế hệ khác trong các gia đình, các dòng họ để tạo thành phong trào chiến tranh nhân dân rộng rãi Tinh thần đó đã được phát huy trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Chính vì vậy, nhiều dòng họ đã có những đóng góp to lớn cho cách mạng và dân tộc
- Truyền thống học hành đỗ đạt: Đây là truyền thống phổ biến của nhiều dòng họ, đặc biệt là ở vùng Bắc Bộ và Trung Bộ Truyền thống này bắt đầu được coi trọng vào thời kì xã hội phong kiến Vì ở thời kì này, nam giới trong các gia đình dòng họ thường quan niệm:
Làm trai đứng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông
(Nguyễn Trãi)
Và con đường khoa cử là con đường duy nhất để người đàn ông thể hiện chí lớn, để làm thay đổi số mệnh của bản thân và gia đình Đây cũng là con đường cơ bản để nhà nước tuyển chọn nhân tài, quan lại Cho nên các gia đình đều quan tâm tới việc học hành của con em mình để đỗ đạt làm quan giúp ích cho gia đình và đất nước Có những dòng họ đã trở thành các dòng họ khoa bảng và sản sinh ra những người con có tài, có đức là những
cá nhân tiêu biểu, là niềm tự hào cho các dòng họ, làng xã và đất nước, như:
Họ Nguyễn Quý làng Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội có Nguyễn Quý Đức đỗ Thám hoa năm 1767, làm quan và phong dần tới chức Thượng Thư, quyền Nhập Nội Bồi Tụng hàm Thái Phó; họ Nguyễn làng Phú Thị (Nguyễn Huy Lượng lúc đầu đỗ Hương cống (cử nhân), làm quan cho nhà Lê, sau làm quan cho Tây Sơn được Vua Quang Trung phong tới chức Chương Lĩnh Hầu); họ Ngô làng Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội (Ngô Thì Sỹ đỗ Hoàng Giáp năm 1766 học vấn sâu rộng, làm quan được phong tới chức Thiêm Đô Ngự Sử, Đốc Trấn Lạng Sơn; Ngô Thì Nhậm đỗ tiến sỹ năm 1755, làm quan
Trang 39thời Lê Hiển Tông được phong tới chức Đốc Đồng Kinh Bắc kiêm Đốc Đồng Thái Nguyên sau lại được phong làm Đông Các Hiệu Thư Hàn Lâm Viện Hiệu Thảo, dưới thời Quang Trung được bổ làm Lại Bộ Tả Thị Lang, tước Tình Phái Hầu, Binh Bộ Thượng Thư kiêm Tổng Tài Quốc Sử Quán);
họ Vũ làng Mộ Trạch, Bình Giang, Hải Dương (Vũ Huy Đĩnh đỗ Tiến sỹ
1754 làm quan phong tới chức Thừa Chính Sứ, Lễ Bộ Hữu Thị Lang, tước Hồng Trạch Hầu)
Bên cạnh những dòng họ có truyền thống theo ngạch văn thì còn có những dòng họ theo ngạch võ mà tiêu biểu là họ Đặng ở làng Lương Xá, (Chương Mỹ, Hà Nội) là dòng họ tiêu biểu theo cả ngạch văn và ngạch võ Ngạch văn tiêu biểu có Đặng Đình Tướng đỗ tiến sỹ năm 1670, làm quan phong chức Đại Tư Mã, Chưởng Phụ Sự, quyền Tham Chính, hàm Thái Phó, tước Ứng Quận Công Nhưng dòng họ Đặng thực sự được biết đến và nổi tiếng theo ngạch võ, làm quan qua rất nhiều đời (18 đời làm Quận Công) [64, tr.129-146]
*Ý thức cội nguồn và niềm tự hào dòng họ
Người Việt Nam từ bao đời nay luôn thấm nhuần đạo lí uống nước nhớ nguồn, đạo lí ấy đã trở thành chuẩn mực và khuôn mẫu ứng xử văn hóa của mỗi người trong đời sống Con người sinh ra trong mỗi gia đình dòng họ cận
kề nhất là người cha và người mẹ, do đó mỗi người phải nhớ tới công ơn sinh thành của ông bà cha mẹ và luôn nhắc nhở con cháu:
Cây có cội, nước có nguồn Chim có tổ, người có tông
Hay:
Con người có cố có ông Như cây có cội như sông có nguồn
Trang 40Xuất phát từ quan niệm đó mà mỗi cá nhân trong mỗi gia đình, dòng họ
luôn ý thức về nguồn gốc tổ tiên, trân trọng và bảo vệ gìn giữ những giá trị văn hóa của dòng họ mình ngay cả tính cách riêng biệt đó hay thói quen hay phong tục đó là xấu Tâm lí tự hào về dòng họ, dòng tộc sẽ giúp mỗi thành viên sống có trách nhiệm hơn với gia đình và với chính bản thân mình Tứ đó
có chí tiến thủ hơn để xứng đáng với tổ tiên như người xưa đã quan niệm:
“Con ông cháu cha”
“Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”
Như vậy, ý thức cội nguồn dòng họ được thể hiện trước hết ở việc từng thành viên tự hào với truyền thống của dòng họ mình Điều này có thể thấy rõ trong những dòng họ khoa bảng, làm quan tiêu biểu như dòng họ Đặng ở làng Lương Xá, Chương Mỹ, Hà Nội, người của dòng họ này tự hào với truyền thống 18 đời làm quan Quận Công và luôn hãnh diện rằng:
Bao giờ núi Chúc hết cây Sông Ninh hết nước, Đặng này hết quan
Ý thức cội nguồn và niềm tự hào dòng họ là hai nhân tố cơ bản để hình thành nên con người có ý thức trách nhiệm duy trì truyền thống tốt đẹp trước hết của mỗi gia đình, dòng họ Nó tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa các cá nhân trong dòng họ nhất là khi trong họ có người ốm đau, qua đời và nhiều công việc xã hội khác liên quan tới quan hệ với các dòng họ khác hay khi quyền lợi của dòng họ bị xâm phạm Ý thức cội nguồn và niềm tự hào dòng họ còn tạo
ra sự cố kết mạnh mẽ về tâm lí, tinh thần của mỗi cá nhân trong họ, nó trở thành một bộ phận cấu thành cũng như cầu nối của thế chế Nhà - Làng -
Nước Người xưa thường quan niệm: Một giọt máu đào hơn ao nước lã; Họ
chín đời còn hơn người dưng nhưng cũng quan niệm Bán anh em xa mua láng giềng gần là như vậy