1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị văn hóa đình và miếu làng hà trì (phường hà cầu, quận hà đông, thành phố hà nội)

170 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 5,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tổng số 5.316 di tích đó, đình làng là một loại hình di tích chiếm số lượng khá lớn và được coi là những di sản tiêu biểu cho văn hóa Hà Nội với những ngôi đình nổi tiếng có niên đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

ĐẶNG QUỐC TUẤN

GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐÌNH VÀ MIẾU

LÀNG HÀ TRÌ (phường Hà Cầu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Cương

Hà Nội - 2011

Trang 2

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 10

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 10

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng Hà Trì 13

1.1.3 Tình hình dân cư 15

1.1.4 Tình hình kinh tế - chính trị 16

1.1.5 Văn hóa – xã hội 19

1.2 Lịch sử khởi dựng và tồn tại di tích đình và miếu làng Hà Trì 30

1.2.1 Lịch sử xây dựng và tồn tại 31

1.2.2 Lịch sử vị thần được thờ 35

Chương 2 42

2.1.1 Không gian cảnh quan kiến trúc 42

2.1.2 Bố cục mặt bẳng tổng thể 45

2.1.3 Kết cấu kiến trúc 47

2.2 Nghệ thuật điêu khắc, trang trí 59

2.2.1 Trang trí bên ngoài di tích và ý nghĩa của các đề tại trang trí 59

2.2.2 Trang trí bên trong di tích và ý nghĩa của các đề tài trang trí 62

2.3 Các di vật tiêu biểu có trong di tích 76

2.3.1 Đồ thờ ở đình làng Hà Trì 76

2.3.2 Đồ thờ ở miếu làng Hà Trì 80

2.4 Bảo tồn giá trị văn hóa vật thể đình và miếu làng Hà Trì 81

2.4.1 Thực trạng di tích trước và sau quá trình tu bổ 81

Chương 3 89

3.1.1 Nghi lễ 89

3.1.2 Các trò diễn dân gian trong lễ hội làng Hà Trì 105

3.2 Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể đình và miếu làng Hà Trì 109

3.2.1 Giá trị văn hóa phi vật thể của lễ hội làng Hà Trì 109

3.2.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống làng Hà Trì 112

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1.Thủ đô Hà Nội ngày nay là địa phương có số lượng di tích nhiều nhất toàn quốc Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội, tính đến cuối năm 2010 Hà Nội có 5.316 di tích gồm nhiều loại hình: di tích lịch sử văn hóa, di tích lịch sử cách mạng, di tích lưu niệm danh nhân, nhà thờ họ Trong tổng số 5.316 di tích đó, đình làng là một loại hình di tích chiếm

số lượng khá lớn và được coi là những di sản tiêu biểu cho văn hóa Hà Nội với những ngôi đình nổi tiếng có niên đại rất sớm từ thế kỷ XVI - XVII như: đình Tây Đằng, đình Thụy Phiêu, đình Chu Quyến (Ba Vì), đình Hoàng Xá (Ứng Hòa)

Bên cạnh những ngôi đình có niên đại sớm XVI – XVII với những giá trị văn hóa, nghệ thuật độc đáo đã được biết đến thì những ngôi đình thế kỷ XVIII – XIX chiếm một số lượng lớn và cũng chứa đựng trong nó những giá trị lịch

sử, văn hóa nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc Nổi bật nên trong số đó là di tích đình

và miếu làng Hà Trì thuộc phường Hà Cầu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội 1.2 Trải qua những thăng trầm của lịch sử dân tộc, ngôi đình ở mỗi làng quê đã trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân nước Việt Đình làng là công trình kiến trúc cổ truyền, tiêu biểu, đặc trưng nổi bật của văn hóa làng xã Ngoài chức năng hành chính, chức năng văn hóa và tôn giáo, đình làng xưa còn là nơi giải quyết mọi công việc của làng như phạt vạ, xử kiện, thu thuế Với bàn tay khéo léo của người thợ, qua từng mảng chạm, trên từng thớ gỗ của ngôi đình, người dân đất Việt đã gửi gắm tâm hồn, tình cảm và cả những ước vọng cao đẹp của cuộc sống Do đó, hình ảnh cây đa - giếng nước – sân đình mãi là hình ảnh quê hương gần gũi, thân thương với người dân Việt Nam

Trang 4

1.3 Trong xu thế hội nhập và phát triển mang tính toàn cầu hiện nay, nếu kinh tế là nền tảng vật chất thì văn hóa được coi như nền tảng tinh thần, là động lực then chốt của sự phát triển Việc bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa là việc làm cần thiết đối với mỗi quốc gia, đó là một nhân tố quan trọng của sự phát triển bền vững, trong đó việc bảo tồn và phát huy giá trị của di tích (một loại hình của di sản văn hóa) là góp phần thiết thực vào việc giữ gìn cốt cách bản sắc dân tộc

1.4 Đình và miếu làng Hà Trì thuộc phường Hà Cầu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội là di tích mangnhiều giá trị đặc sắc về giá trị kiến trúc, nghệ thuật của đình làng thế kỷ XVIII – XIX Theo cuốn Thần phả đã được cụ Nguyễn Quý Liêm – một nhà Nho ở làng dịch và hiện lưu giữ thì: đình và miếu làng Hà Trì thờ Thành Hoàng làng là Đô Hồ Đại Vương – người đã có công giúp nhà Trần và nhà Lê đánh giặc Minh giải phóng dân tộc (cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV) Trải qua thời gian, đình và miếu làng Hà Trì hiện nay còn lưu giữ được những di vật, cổ vật có giá trị như: 43 đạo sắc phong, kiệu thờ, long ngai, hoành phi, câu đối Về mặt nghệ thuật, đình và miếu làng Hà Trì còn lưu giữ được những mảng chạm khắc với đề tài trang trí sinh động, phong phú như: long nghê quần tụ, độc long, tứ linh (long, ly, quy, phượng), lưỡng long chầu nguyệt, đấu hình hoa sen Ngoài ra, còn có những hình ảnh chạm khắc quen thuộc như hoa dây, cúc mãn khai mang đậm phong cách niên đại thế kỷ XVIII – XIX thể hiện ước vọng no đủ, trường tồn, hạnh phúc trong cuộc sống

Trong thời kỳ cách mạng, đình làng Hà Trì là địa điểm chứng kiến những

sự kiện lịch sử của địa phương: ngày 20/8/1945 Ủy ban cách mạng lâm thời Hà Trì đã tiếp thu ấn tín, sổ sách của chính quyền cũ về tay cách mạng; năm 1954, dân quân du kích bí mật dẫn đường cho một đơn vị bộ đội của trung đoàn 46 quân khu III tập kích vào đình làng Hà Trì – nơi nghỉ ngơi sau những trận càn quét của một đại đội Commangde khét tiếng hung ác do sĩ quan Pháp chỉ huy, tiêu diệt toàn bộ đại đội này Ngoài ra đây còn là nơi hoạt động bí mật của các

Trang 5

cán bộ cách mạng và là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng Với những giá trị nêu trên, di tích đình và miếu làng Hà Trì đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa tại Quyết định số 774QĐ/BT ngày 21 tháng 6 năm 1993

Năm 2008 – 2009, được sự quan tâm của các cấp, các ngành đình làng Hà Trì đã được đầu tư tu bổ, tôn tạo tổng thể Quá trình tu bổ, tôn tạo đó đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích và trả lại giá trị vốn

có của nó Việc tu bổ di tích đình làng Hà Trì được tiến hành khoa học, đúng quy trình nên đạt hiệu quả rất cao, qua đó chúng ta có thể so sánh được những giá trị văn hóa nghệ thuật của đình làng Hà Trì trước và sau khi tu bổ

1.5 Đình và miếu làng Hà Trì là một công trình kiến trúc có giá trị, song cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc Ngoài một số bài viết mang tính đơn lẻ như:

- Trong cuốn Thần linh đất Việt của tác giả Vũ Thanh Sơn có viết: “Thôn

Thượng Bùi xã Nhân Hào thượng, tổng Sài Trang huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên nay là thôn Thượng Bùi, xã Trung Hòa, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên thờ

Đô Hồ đại vương làm Thành Hoàng

Ngài họ Đô, tên là Hồ, người Dị Sử, huyện Đường Hào tỉnh Hải Dương, năm 18 tuổi đỗ khôi nguyên, làm quan đến Hình bộ Thượng thư nhà Trần, sau

Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, ngài xem thế nước khuynh nguy bèn trở về ngoại quán là làng Cầu Trì dựng đồn mộ quân …” [27, tr 793 – 794]

- Cuốn Linh thần Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Khánh – Phạm Minh

Thảo, sách được viết dưới dạng Từ điển có giới thiệu văn tắt rằng: Đô Hồ tế thế Đại Vương được thờ ở xã Nhân Hào Thượng, tổng Sài Trang, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên [20, Tr 159] cũng đồng nhất ý kiến về nguồn gốc xuất sứ của vị

Đô Hồ Đại Vương với tác giả cuốn Thần Linh đất Việt

Trang 6

Thực tế chúng tôi cùng một số cán bộ Bảo tàng tỉnh Hưng Yên đã đi khảo sát tại đình làng Thượng Bùi, thôn Thượng Bùi, xã Trung Hòa, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên thấy rằng: đình làng Thượng Bùi không thờ Thành Hoàng làng

là Đô Hồ Đại Vương như trong sách viết mà thờ tướng quân Hồ Tế thời nhà Trần; đền thôn Thượng Bùi thờ Nguyệt Nga công chúa thời Hai Bà Trưng chứ không thờ Đô Hồ Đại Vương như đã nêu Sau khi điều tra, khảo sát thực tế tại tỉnh Hưng Yên chúng tôi thấy di tích đình Cao Sơn thuộc phường Lam Sơn, thị

xã Hưng Yên có thờ Đô Hồ Đại Vương cùng hai vị thần khác là Quan Nhân Đại Vương và Bạch Thạch Đại Vương Di tích này hiện chưa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và theo lời kể của nhân dân nơi đây thì cả ba vị thần này đều là thủy thần chứ không liên quan đến tướng quân Đô Hồ có công phò giúp nhà Trần và nhà Lê được nhắc đến trong các cuốn sách nêu trên

- Cuốn Di tích Hà Tây do Sở Văn hóa – Thông tin Hà Tây (chủ biên) giới

thiệu về cụm di tích đình và miếu tại thôn Hà Trì, xã Hà Cầu, thị xã Hà Đông (nay là phường Hà Cầu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) với nội dung như sau:

Đình – miếu Hà Trì là công trình kiến trúc được xây dựng lâu đời, qua nhiều lần tu sửa Đình hiện nay tồn tại các hạng mục nghi môn, tả hữu mạc, phương đình, đại đình và hậu cung Thiêu hương đình Hà Trì có kiến trúc kiểu 2 tầng 8 mái đao cong với bộ khung nhà được làm theo

kiểu gọng vó, rường nách, bẩy hiên Trang trí trên bộ khung thiêu hương

theo các đề tài “tứ linh chuyển bát”, hoặc tùng - hạc, mai - hoa, cúc - trĩ

và trúc… Đại bái đình Hà Trì là một nếp nhà 3 gian 2 dĩ với các bộ vì kiểu “chồng rường” hoặc “giá chiêng kẻ suốt” làm vào thời vua Lê Cảnh Hưng Ở Đại bái còn giữ được các bức cốn đẹp như “long nghê quần tụ” hoặc độc long Hậu cung đình Hà Trì có kiến trúc đơn giản, thiên về bền chắc, bào trơn đóng bén

Trang 7

Miếu Hà Trì cách đình một khoảng đường làng, ở xóm Rừng Hiện diện ngôi miếu hiện nay kiểu chữ đinh, gồm đại bái và hậu cung Miếu có kiến trúc chủ yếu bào trơn, bền chắc Trong hậu cung có một bệ vuông xây, kích thước 2,4m x 1,6m x 0,32m, tương truyền là mộ tướng công Đô Hồ đại vương Trong đình và miếu Hà Trì hiện còn lưu giữ được nhiều di vật

đồ thờ quý giá như; long ngai, bài vị, kiệu, hoành phi câu đối, bát bửu, xà mâu… [28, tr 107 – 108]

- Trong Hồ sơ xếp hạng di tích đình và miếu làng Hà Trì do Bảo tàng Hà

Tây (nay là Bảo tàng Hà Nội) lập năm 1993 nêu nên vị trí địa lý, đường đi đến, tên gọi di tích, tên gọi vị thần được thờ, quê quán, công trạng của thần giúp hai vua nhà Trần và nhà Lê đánh đuổi giặc Minh xâm lược; lịch sử khởi dựng và tồn tại của đình và miếu làng Hà Trì; một số kết cấu kiến trúc tiêu biểu; giới thiệu về làng Hà Trì, một số truyền thống văn hóa làng Hà Trì… [3]

Ngoài ra chúng ta còn bắt gặp một số tài liệu khác như cuốn Địa chí Hà Tâycũng có đề cập đến vùng đất Hà Trì, dòng sông Nhuệ… nhưng nội dung các bài viết trên mới chỉ nói được một vài nội dung cơ bản và mang tính đơn lẻ, vẫn còn nhiều mặt giá trị cần được đề cập đến khi nghiên cứu về giá trị văn hóa đình

và miếu làng Hà Trì, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

Vì vậy, được sự nhất trí của hội đồng khoa học và giáo viên hướng dẫn,

tôi đã chọn đề tài “Giá trị văn hóa đình và miếu làng Hà Trì” (phường Hà Cầu,

quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu và khẳng định các giá trị văn hóa vật

thể và phi vật thể của đình và miếu làng Hà Trì Qua đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của đình và miếu làng Hà Trì

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 8

- Hệ thống hóa lại những tài liệu của các tác giả nghiên cứu trước đây về làng Hà Trì, nêu lên được diện mạo văn hóa truyền thống làng Hà Trì, những tài liệu có liên quan đến đình và miếu làng Hà Trì

- Xác định lại niên đại khởi dựng và quá trình tồn tại của đình và miếu làng Hà Trì

- Tìm hiểu vị thần được thờ và nghiên cứu các giá trị lịch sử, văn hóa của đình và miếu làng Hà Trì được biểu hiện dưới dạng vật thể và phi vật thể

- So sánh giá trị lịch sử, văn hóa nghệ thuật của đình và miếu làng Hà Trì trước và sau quá trình tu bổ để thấy được hiệu quả của công tác tu bổ di tích một cách khoa học và theo đúng quy trình

- Đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích đình và miếu làng Hà Trì trong thời đại ngày nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu giá trị lịch sử văn hóa của đình và

miếu làng Hà Trì và đời sống văn hóa cộng đồng cư dân có liên quan Mở rộng nghiên cứu thêm một số ngôi đình có niên đại thế kỷ XVIII – XIX ở Hà Nội làm

cơ sở cho việc khẳng định niên đại cũng như những giá trị lịch sử, văn hóa nghệ thuật tiêu biểu của di tích đình và miếu làng Hà Trì

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu đình và miếu làng Hà Trì trong không gian văn hóa của làng

Hà Trì nói riêng và các vùng lân cận nói chung, có mở rộng, so sánh về vị thần được thờ tại các di tích khác và kiến trúc nghệ thuật của các ngôi đình làng thế

kỷ XVIII – XIX

- Nghiên cứu lễ hội làng Hà Trì trong giai đoạn hiện nay; nghiên cứu, so sánh những giá trị lịch sử, văn hóa nghệ thuật của đình và miếu làng Hà Trì trước và sau quá trình tu bổ

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

4.1 Phương pháp luận: Vận dụng Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, Chủ nghĩa

duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá giá trị lịch sử văn hóa đình và miếu làng Hà Trì một cách khách quan, chân thực lịch sử

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: Lịch sử, Dân tộc học, Bảo tàng học, Xã hội học, Mỹ thuật học

- Thực hiện phương pháp khảo sát, điền dã, quan sát, mô tả, chụp ảnh, do

vẽ, phỏng vấn, điều tra, so sánh

5 Kết quả đóng góp của luận văn

5.1 Luận văn là tập hợp và hệ thống đầy đủ về những giá trị lịch sử, văn hóa của đình và miếu làng Hà Trì

5.2 Góp thêm tư liệu cho việc bảo tồn, tôn tạo phát huy tác dụng đình và miếu làng Hà Trì

5.3 Đề xuất giải pháp cho việc bảo tồn giá trị vật thể và phi vật thể của đình

và miếu làng Hà Trì, góp phần vào sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Hà Nội

5.4 Khẳng định hiệu quả của việc tu bổ theo đúng trình tự, khoa học thông qua việc so sánh, đối chiếu thực tế tại đình làng Hà Trì trước và sau khi tu bổ

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phục lục, nội dung chính của luận văn gồm 03 chương:

Chương I: Tổng quan về di tích đình và miếu làng Hà Trì

Chương II: Giá trị văn hóa vật thể đình và miếu làng Hà Trì

Chương III: Giá trị văn hóa phi vật thể đình và miếu làng Hà Trì

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH ĐÌNH VÀ MIẾU LÀNG HÀ TRÌ

1.1 Giới thiệu chung về làng Hà Trì

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Làng Hà Trì thuộc trung tâm hành chính quận Hà Đông, cách Thủ đô Hà Nội 12km Từ trung tâm Hà Nội theo quốc lộ 6 qua cầu Trắng 200m rẽ trái theo đường Nguyễn Trãi vào phố Tô Hiệu, đi khoảng 500m sẽ tới cổng làng Hà Trì nằm bên tay trái

Hà Trì là một trong 2 làng của phường Hà Cầu (gồm làng Cầu Đơ và làng

Hà Trì) nằm trong lòng trung tâm quận Hà Đông, với sự phát triển mạnh mẽ của lối sống đô thị nhưng nơi đây vẫn là một làng quê trù phú, giữ được không gian cảnh quan tiêu biểu của làng quê đồng bằng Bắc bộ, có cây đa, giếng nước, sân đình và rất nhiều những thiết chế văn hóa truyền thống đặc trưng khác của làng quê Việt Nam

Làng Hà Trì hiện nay có địa giới hành chính: phía Bắc giáp phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, phía Nam giáp làng Đa Sĩ, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, phía Đông giáp sông Nhuệ và phía Tây giáp làng Cầu Đơ, phường Hà Cầu, quận Hà Đông Theo số liệu trong báo cáo tổng kết năm 2010 của Ủy ban nhân dân phường Hà Cầu, tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Trì có 105,2 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp (bao gồm đất sản xuất nông nghiệp

và đất nuôi trồng thủy sản) là 6,54 ha (chiếm hơn 6,22%), đất phi nông nghiệp (gồm đất ở, đất chuyên dùng, đất tôn giáo tín ngưỡng) là 98,18 ha (chiếm hơn 93,32%), đất chưa sử dụng là 0,48 ha (chiếm 0,46%)

Nhìn vào vị trí địa lý như trên chúng ta thấy, Hà Trì là một vùng đất có nhiều điều kiện thuận lợi để con người sinh sống và phát triển Theo quan niệm truyền thống của người Việt, việc chọn lựa vùng đất lập làng phải lựa chọn được

những vùng đất có địa thế “Nhất cận thị, nhị cận giang” mới là vùng đất đẹp và

Trang 11

thuận lợi cho sự phát triển làng xã Xét theo tiêu chí trên, Hà Trì không chỉ đạt được một mà cả hai yếu tố thuận lợi nhất, nhì đều được hiện hữu ở vùng đất này

Thứ nhất: nằm trong vùng trung tâm tỉnh Hà Đông xưa, nay là quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Hà Trì rất thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán với kinh kỳ – nơi đô hội của cả nước, dễ dàng tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật để phục vụ phát triển kinh tế và hòa nhập nhanh chóng với sự phát triển chung của cơ chế kinh tế thị trường

Thứ hai: Dòng sông Nhuệ dù chỉ chảy qua địa phận làng Hà Trì kéo dài khoảng 1,5km nhưng lại đóng một vai trò đặt biệt quan trọng trong đời sống của

cư dân làng Hà Trì xưa và nay “Sông Nhuệ vốn là một chi lưu hữu ngạn Sông Hồng bắt đầu từ cửa Hàm Rồng thuộc làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng Có thuyết cho rằng khởi đầu dòng sông có hình nhọn nên được ghi tên chữ Hán là Nhuệ Giang Sông Nhuệ chảy qua các cánh đồng phì nhiêu của các huyện Từ Liêm, Hà Đông, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên Từ Phú Xuyên được chia làm hai, một nhánh chảy qua huyện Ứng Hòa đổ ra sông Đáy, một nhánh chảy xuống Hà Nam đổ vào sông Châu Giang” [28, tr 125] Sông Nhuệ trở thành đường giao thông thủy lợi rất thuận tiện cho cư dân làng Hà Trì trong việc vận chuyển buôn bán trao đổi hàng hóa, nguyên vật liệu với kinh thành và các vùng lân cận

Vào cuối thế kỷ XIX, chính quyền phong kiến ở tỉnh Hà Đông lúc bấy giờ cho đào nhiều con sông, con ngòi để thoát nước từ trung tâm Hà Đông ra các con sông trong vùng và để phục vụ sản xuất nông nghiệp (dấu tích hiện nay là

kênh La Khê và đoạn “ngòi quan xẻ” từ đầu làng Hà Trì đến hết khu vực đình

làng) Dân làng Hà Trì kể lại rằng: vào thời điểm đó, quan quân triều đình đi thúc dục, vận động nhân dân làng Hà Trì đào một con ngòi chảy qua làng để thoát nước cho vùng trung tâm Hà Đông, nhưng nhân dân nơi đây phản đối kịch liệt vì đời sống nhân dân lúc đó đang đói khổ, đời sống dân làng Hà Trì nói

Trang 12

riêng và nhân dân lao động Việt Nam nói chung phải chịu một cổ hai tròng của chế độ phong kiến và thực dân Pháp xâm lược Do đó, dân làng Hà Trì không ai tham gia vào việc đào con ngòi này, quan quân phải tự huy động binh lính của mình ra đào ngòi từ đầu làng Cầu Đơ (quốc lộ 6) chảy qua cánh đồng làng Cầu

Đơ rồi chảy qua làng Hà Trì đổ ra sông Nhuệ nên nhân dân gọi đây là “ngòi

quan xẻ” (ngòi do quan làm) Trải qua năm tháng, hiện nay con ngòi này không

còn hình dáng vốn có của nó vì bị lấp hết làm nhà cửa, các công trình công cộng Chỉ còn một đoạn duy nhất dài khoảng 200m chảy qua làng Hà Trì như hiện nay chúng ta thấy [phụ lục ảnh số 4]

Trên bản đồ địa lý, làng Hà Trì có tọa độ vào khoảng 20o58’23’’ vĩ độ Bắc

105o46’43’’ kinh độ Đông, nơi đây vốn là vùng đất bồi của dòng sông Nhuệ, nằm trong vùng trung tâm đồng bằng Bắc bộ với nền khí hậu chung là nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, khí hậu một năm được chia hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô (mùa mưa tương đương với mà hạ và mùa thu kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô tương đương với mùa đông và mùa xuân từ tháng 11 đến tháng 4 sang năm) Nhiệt độ không khí trung bình năm của vùng là 23,3oC, lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm là 122,8kcal/cm2 và một năm có tới 1.399 giờ nắng Với nền khí hậu mang đặc điểm chung của vùng đồng bằng Bắc

bộ nên ở đây có lượng mưa tương đối lớn vào khoảng 1.702mm, độ ẩm trung bình hàng năm từ 70 – 85% Nhiệt độ trung bình mùa mưa >25oC (trong đó nhiệt độ cao nhất có thể đạt khoảng 38,4oC); vào mùa khô nhiệt độ trung bình vào khoảng <15oC (trong đó nhiệt độ thấp nhất khoảng 7 – 8oC) [28, tr 110].Với nền khí hậu như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tự nhiên và con người nơi đây

Phải nói rằng, vị trí địa lý của làng Hà Trì đã hội tụ được nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Nằm ở trung tâm của một vùng đất cổ có bề dày nghìn năm văn vật, làng có điều kiện để xây dựng và bảo tồn một truyền thống văn hoá dân gian phong phú, đặc sắc Đồng thời, do gần kề

Trang 13

với kinh thành với giao thông thuỷ bộ đều thuận tiện, người làng có thể giao lưu thường xuyên với trung tâm chính trị, học thuật của thời đại, từ đó không ngừng phát huy truyền thống ở một tầm cao hơn

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của làng Hà Trì

Vùng đất Hà Trì đã tồn tại từ rất lâu đời, theo Thần phả để lại thì vào cuối thời Trần đã có tên vùng đất này gọi là ấp Cầu Trì (hay còn gọi là Kiều Trì) Khi Đô Hồ Đại Vương – một vị võ tướng có công giúp nhà Trần và nhà Lê đánh đuổi giặc Minh xâm lược về an hưởng tuổi già, vua Lê đã ban cho vùng đất này làm ấp thang mộc, ngài đã chiêu dân khai hoang lập làng, dân gian ghi nhớ công

ơn của Ngài nên gọi vùng đất này là “Hồ Trì” – đất của ngài Đô Hồ Sau khi

mất, dân làng suy tôn Ngài làm Thành Hoàng làng và đổi tên gọi Hồ Trì thành

Hà Trì như hiện nay để khỏi “kỵ húy”

Trải dài theo dòng lịch sử dân tộc, vùng đất này vẫn được gọi theo tên dân gian là làng Hà Trì Căn cứ theo sách “Tên làng xã Việt Nam cuối thế kỷ XIX” và các tư liệu hán nôm còn lưu giữ được đã nêu: từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX trở về trước vùng đất này được gọi là thôn Cầu Trì, xã Thượng Thanh Oai (gồm 3 xã Yên Phúc, Cầu Đơ, Cầu Trì), huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam thượng (từ năm 1822 đổi thành trấn Sơn Nam) Đến năm

1831, đời vua Minh Mạng tên gọi Cầu Trì đổi thành Hà Trì thuộc tổng Thượng Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội; Đến năm 1902, Toàn quyền Đông Dương đổi tỉnh Hà Nội thành tỉnh Cầu Đơ, làng Hà Trì thuộc tỉnh Cầu Đơ; Năm 1904, tỉnh Hà Đông được thành lập chuyển đổi từ tỉnh Cầu Đơ, làng Hà Trì thuộc tỉnh Hà Đông

Tháng 11/1946, Hà Trì cùng với các làng xung quanh gồm Phùng Khoang, Triều Khúc, Vạn Phúc, Văn Quán, Mỗ Lao… được sát nhập vào thị xã

Hà Đông, tỉnh Hà Đông; tháng 3/1947, thị xã Hà Đông được giải thể, Hà Trì thuộc xã Kiến Hưng, huyện Thanh Oai; tháng 5/1949, đơn vị hành chính Hà Đông được tái lập lại, xã Kiến Hưng gồm 3 làng Hà Trì, Đa Sĩ, Mậu Lương

Trang 14

cùng các làng khác sát nhập trở lại thị xã Hà Đông; Tháng 4/1955, Hà Trì và Cầu Đơ được xát nhập thành xã Hà Cầu, thị xã Hà Đông; đến tháng 1/1959, đơn

vị hành chính xã Hà Cầu giải thể thành lập khu Hà Trì và khu Cầu Đơ thuộc thị

xã Hà Đông và đến đến tháng 2/1965 lại được thành lập lại [33]

Tháng 6/1965, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây sát nhập thành tỉnh Hà Tây, thị xã Hà Đông trở thành thủ phủ của tỉnh Hà Tây, làng Hà Trì thuộc xã Hà Cầu, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây Tháng 3/1976 theo Quyết định của Quốc hội khóa

V, tại kỳ họp thứ 2 ngày 27/12/1975, hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình sát nhập thành tỉnh Hà Sơn Bình, thị xã Hà Đông trở thành tỉnh lỵ tỉnh Hà Sơn Bình, làng

Hà Trì thuộc xã Hà Cầu, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình

Tháng 10/1991, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ngày 12/8/1991 quyết định tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình Làng Hà Trì lại thuộc xã Hà Cầu, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây

Tháng 11/2003, để mở rộng thị xã Hà Đông cho xứng tầm với thủ phủ của tỉnh Hà Tây, xã Hà Cầu được nâng lên thành phường Hà Cầu thuộc thị xã

Hà Đông, tỉnh Hà Tây

Thực hiện Nghị định số 155/CP/2006 ngày 27/12/2006 của Chính Phủ về việc thành lập thành phố Hà Đông trực thuộc tỉnh Hà Tây Hà Trì thuộc phường

Hà Cầu, thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây

Từ ngày 01/8/2008, thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình và huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc Từ

đó làng Hà Trì thuộc phường Hà Cầu, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cho đến nay

Làng Hà Trì xưa có 4 xóm gồm: xóm Thầy, xóm Rừng, xóm Giữa và xóm Trên Sau năm 1954, Hà Trì được chia làm 5 khu: xóm Thầy là khu Hà Trì

Trang 15

I, xóm Rừng là khu Hà Trì II, xóm Giữa là khu Hà Trì 3, xóm Trên là khu Hà Trì 4, khu Hà Trì V là khu vực giãn dân phía cánh đồng làng Hà Trì Từ ngày thành lập phường Hà Cầu thì làng Hà Trì được chia thành 5 tổ dân phố (từ 1 đến 5) tương đương với 5 khu

1.1.3 Tình hình dân cư

Căn cứ vào các thư tịch còn lưu giữ được ở đình làng và các cụ cao niên ở

các dòng họ trong làng kể lại: từ xa xưa làng Hà Trì được coi là nơi “đất lành

chim đậu” nên quần tụ lượng cư dân đông đúc không chỉ cư dân trong vùng mà

cư dân từ nhiều nơi khác đã về đây sinh sống, lập nghiệp và trở thành những dòng họ lớn ở làng Đến thế kỷ XIX, làng Hà Trì đã có 10 dòng họ cư trú gồm:

họ Cù, họ Bùi, họ Bạch, họ Hồng, họ Lý, họ Đặng, họ Nguyễn Văn, họ Nguyễn Hữu, họ Nguyễn Tất và họ Nguyễn Quý Trong số đó, có những dòng

họ đã tồn tại lâu đời gồm họ Cù và họ Nguyễn Hữu Có những dòng họ có nguồn gốc từ nơi khác nhưng đã di cư đến lập nghiệp ở đây từ khoảng giữa thế

kỷ XVIII như họ Nguyễn Quý (hậu duệ của danh nhân Nguyễn Quý Đức) ở vùng Đại Mỗ, Từ Liêm Trong thời nhà Nguyễn (1802 - 1945) dòng họ Cù ở

Hà Trì do số lượng ít, chỉ chưa đến 10 hộ dân nên đã đổi từ họ Cù sang thành

họ Nguyễn để tiện cho việc sinh sống và hoạt động hàng ngày

Từ xưa đến nay nhân dân Hà Trì luôn duy trì được tinh thần đoàn kết, gắn

bó, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau cùng xây dựng quê hương giàu đẹp xứng đáng với truyền thống ngàn đời của địa phương Trong số các dòng họ sinh sống ở làng, họ Nguyễn Văn, họ Nguyễn Hữu và họ Đặng là những dòng họ có số lượng nhân khẩu chiếm tỷ lệ lớn ở làng Hà Trì Hiện nay ở làng Hà Trì có 3 nhà thờ họ của họ Đặng, họ Nguyễn Hữu và họ Nguyễn Quý [phụ lục ảnh số 80, 81]

đã được xây dựng và các dòng họ này vẫn thường xuyên duy trì việc lễ chạp, cúng giỗ hàng năm

Làng Hà Trì hiện nay có 1.418 hộ gia đình với 4.834 nhân khẩu (trong đó

nữ có 2.545 người chiếm 52,6%); Số người trong độ tuổi lao động là 3016

Trang 16

người (trong đó lao động nữ có 1.585 người chiếm 52,5%), còn lại là người chưa đủ tuổi và hết tuổi lao động

1.1.4 Tình hình kinh tế - chính trị

* Nông nghiệp

Trước năm 1945, diện tích đất tự nhiên của phường Hà Cầu nói chung và làng Hà Trì nói riêng rất lớn bao gồm cả phường Yết Kiêu, Nguyễn Trãi và phần lớn phường Quang Trung, quận Hà Đông hiện nay với diện tích lên tới

280ha Đất canh tác ở Hà Trì xưa được liệt vào loại “đẳng điền” của vùng

thượng Thanh Oai với năng suất và hiệu quả cây trồng luôn đạt mức cao

Xưa, cư dân làng Hà Trì chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp: trồng lúa

và các loại cây hoa màu như: bầu (bí), dưa, cà (cà xanh, cà bát, cà pháo) Các loại hoa màu ở Hà Trì chỉ được trồng ở khu vực giáp với làng Cầu Đơ (khu vực phía nam đường Tô Hiệu – phường Nguyễn Trãi ngày nay) Nguồn hoa màu trồng được ở Hà Trì cùng với hoa màu ở làng Cầu Đơ là nguồn cung cấp rau xanh lớn nhất cho vùng Hà Nội

Vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đặt tỉnh lỵ tại vùng Hà Đông và để phục vụ cho cuộc sống phồn thịnh và mục đích đặt chế độ đàn áp dân cư trong vùng, chúng đã lấy một diện tích lớn đất của làng Hà Trì để chia về các đơn vị hành chính khác (Nguyễn Trãi, Yết Kiêu, Quang Trung) và lập Trại ao cá làm nơi cung cấp nguồn thực phẩm cho quân đội đóng trong vùng với danh giới phía Bắc giáp sân vận động Hà Đông, phía Đông là sông Nhuệ và đất Trong Dinh – ấp thang mộc của cụ Đô Hồ xưa, phía Nam giáp làng Hà Trì (hiện nay), phía Tây giáp đường Bà Triệu

Bên cạnh việc chiếm dụng diện tích đất canh tác của làng, thực dân Pháp còn tăng cường các loại thuế đối với nhân dân nhằm vơ vét về cho chính quốc Chính vì thế, diện tích đất làm nông nghiệp của Hà Trì ngày càng bị thu hẹp,

Trang 17

trong khi số diện tích đất còn lại cho năng suất thu hoạch không cao nên số dân làm nông nghiệp này càng giảm mạnh

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945, đời sống nhân dân Hà Trì đã dần đi vào ổn định và phát triển Với vị trí địa lý giáp trung tâm kinh tế, chính trị của đất nước và của tỉnh nên xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra

ở Hà Trì ngày một nhanh chóng Cơ cấu các thành phần kinh tế ở Hà Trì hiện nay đã chênh lệch rất lớn, tỷ lệ đất nông nghiệp chỉ còn chiếm một phần rất nhỏ

và hầu như đã mất nghề nông Theo thống kê của UBND phường Hà Cầu năm

2010, hiện nay diện tích đất tự nhiên ở Hà Trì vào khoảng 105ha, trong đó đất dành cho nông nghiệp chỉ còn lại khoảng 5%, còn lại là đất dành cho các lĩnh vực khác Nhìn qua số liệu trên ta thấy, đời sống cư dân làng Hà Trì hiện nay hoàn toàn không phụ thuộc vào nông nghiệp mà chuyển sang làm dịch vụ thương mại tổng hợp (chiếm 90% cơ cấu kinh tế của địa phương)

*Tiểu thủ công nghiệp

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cơ cấu kinh tế của Hà Trì đã có những bước chuyển biến mạnh, để ổn định đời sống trước cảnh đất nông nghiệp không cò nhiều, sưu cao thuế nặng, nhiều hộ gia đình ở Hà Trì đã tìm hướng chuyển đổi mô hình kinh tế từ nông nghiệp sang thủ công nghiệp và thương nghiệp với nghề rèn thu hút số lượng lao động lớn

Nghề rèn, được hình thành ở Hà Trì từ lâu đời, theo các cụ trong làng kể

lại thì nghề rèn làng Hà Trì không phải bắt nguồn từ nghề rèn làng Đa Sĩ, phường Kiến Hưng (bên cạnh làng Hà Trì) Nghề rèn ở đây là do tự phát, có thành lập phường rèn riêng với số lượng lao động đông đảo, có lúc chiếm tới 2/3

số lao động của làng Từ đường nghề rèn xưa được xây dựng tại khu vực bên phải đình hiện nay (giáp đường làng) nhưng đã bị phá hủy từ những năm bài trừ

mê tín dị đoan và hiện nay là Nhà tưởng niệm liệt sĩ làng Hà Trì

Trang 18

Sản phẩm rèn của Hà Trì cũng không giống như sản phẩm của làng rèn

Đa Sĩ gồm rao, kéo và các sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp, gia dụng Sản phẩm chủ yếu của nghề rèn làng Hà Trì sản xuất ra gồm bulong, ốc vít, phần sắt của các loại vũ khí như Bozoka, SKZ, vỏ bom ba càng là các sản phẩm phục vụ cho ngành công nghiệp nặng và một số là các sản phẩm cơ khí Đến những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nghề rèn

ở Hà Trì ngày càng mai một và mất hẳn Dấu tích hiện nay của nghề rèn làng Hà Trì chỉ là một số người con của quê nhà hiện đã và đang công tác trong các xí nghiệp sản xuất vũ khí, quận dụng của ngành quân đội

Xưa ở làng Hà Trì cũng có một nghề truyền thống khác nhưng thu hút số

lượng lao động ít, đó là nghề bắt ếch Hàng năm vào dịp tháng 3 – tháng nông

nhàn, ruộng đồng đã được làm xong, một bộ phận dân làng Hà Trì tổ chức thành

lập phường bắt ếch quy tập tất cả những người muốn tham gia, vừa tạo công ăn

việc làm, tăng thu nhập, vừa tham gia vào một cuộc thi do làng tổ chức

Dân gian kể lại rằng, nghề bắt ếch ở Hà Trì tồn tại từ rất lâu đời, vùng đất này xưa nhiều đồng ruộng nên cứ bắt đầu vào mùa mưa, ếch, nhái ra rất nhiều, dân làng lại đi bắt ếch ở cánh đồng làng và một số vùng lân cận như: Kiến Hưng, Đa Sĩ, Cầu Đơ, Xa La về mang ra chợ bán Cũng vào dịp này, làng Hà Trì tổ chức một cuộc thi xem ai là người bắt ếch giỏi nhất Theo lệ đó, những người tham gia phường bắt ếch tìm bắt những con ếch to nhất mang về đình trình làng Đến cuối mùa (khoảng giữa tháng 4 âm lịch) ai là người bắt được con ếch to nhất sẽ được làng thưởng Phần thưởng theo quy định của làng là một chiếc khăn đỏ và được tuyên dương trước dân làng

Bên cạnh những nghề phụ trên, xưa người dân Hà Trì còn có nghề đánh bắt thủy sản trên dòng sông Nhuệ và nghề buôn bán trên sông, giao thương với vùng kinh kỳ và xuối suống các vùng ở phía Nam theo dòng sông Nhuệ Tuy nhiên thực tế hiện nay chúng ta thấy, những nghề truyền thống này cùng với

Trang 19

nghề nông ở Hà Trì đã không còn tồn tại bởi sự chi phối mạnh mẽ của nền kinh

tế thị trường và tốc độ đô thị hóa ở khu vực diễn ra nhanh chóng

1.1.5 Văn hóa – xã hội

Đặt chân tới vùng đất Hà Đông, chúng ta cảm nhận ngay một cuộc sống

sô bồ, bận rộn của thời buổi kinh tế thị trường Nhưng khi bước chân tới cổng làng Hà Trì, cách trung tâm Hà Đông khoảng 500m chúng ta sẽ cảm nhận được một không gian hoàn toàn khác, đó là hình ảnh một làng quê bình dị rất quen thuộc của làng quê Việt Nam: cây đa, giếng nước, sân đình

Ở cổng làng chúng ta bắt gặp ngay dòng chữ “Mỹ tục khả gia” (nghĩa là

phong tục tốt đẹp đáng khen) được Tổng đốc tỉnh Hà Đông đề tặng làng Hà Trì đầu thế kỷ XX (làng Hà Trì và làng Vạn Phúc là hai làng của thị xã Hà Đông lúc bấy giờ được tặng danh hiệu này) Tiếp đến ta thấy đôi câu đối bằng chữ Nôm:

Sen vừa nây ngó bùn không nhiễm

Ao đã khơi nguồn nước dễ trong

Đôi câu đối vừa đầy chất thơ, đầy chất lãng mạn nhằm ca ngợi vẻ đẹp thanh cao của làng với nối chơi chữ đầy ẩn ý Hà Trì cũng như bao làng quê khác, cũng mang trong mình những nét văn hóa vừa chung với cái chung của làng quê Việt Nam, vừa có những nét văn hóa riêng của mình tạo nên một bản sắc văn hóa độc đáo, đa dạng

Theo tấm bia “Đức Mục Tự Bi” dựng năm 1544 tại chùa Hà Trì có ghi:

“ Kiều Trì là làng quê văn vật của Thanh Oai ta, dân thì thuần, tục thì cổ ”

(theo bản dịch của cụ Nguyễn Quý Liêm) đã nói đến Hà Trì là một làng quê có truyền thống văn hóa lâu đời với nhiều phong tục tập quán tốt đẹp được lưu truyền từ đời này sang đời khác Dân gian hiện nay cũng lưu truyền bài thơ ca ngợi cảnh đẹp của làng Hà Trì cũng như ca ngợi công đức của Thành Hoàng làng – người bảo vệ, che chở dân dân:

Trang 20

Hà Trì trên bến Nhuệ thơm tho Cảm đức Tiên Vương miếu dựng thờ Giúp nước tôn phù vua Giản Định Cứu nòi chiến thắng trận Bô Cô Theo đường nhân nghĩa đưa quân Việt Trừ nạn xâm lăng đuổi giặc Ngô Chiến thắng sau vua thăng Thái ấp

Chiêu dân cùng mở rộng cơ đồ

* Truyền thống hiếu học

Nằm giữa một vùng đất cổ với một bề dày truyền thống văn hóa, làng Hà Trì như bao làng quê khác luôn mang trong mình một truyền thống hiếu học đáng tự hào, truyền thống đó ẩn sâu trong từng ý thức, từng suy nghĩ của mỗi người dân nơi đây Cạnh làng Hà Trì có làng Đa Sĩ nổi tiếng vì có tới 12 vị đỗ Tiến sĩ, Trạng nguyên; 4 danh y, danh tướng [12, Tr 177 – 182] được các triều đại ghi nhận Ở Hà Trì không được nổi danh bởi những vị Tiến sĩ, Trạng nguyên như thế, nhưng Hà Trì vẫn tự hào là một làng quê mang trong mình một bề dày truyền thống hiếu học đáng được ghi nhận Mỗi gia đình, mỗi dòng họ đều rất quan tâm đến việc học hành của con cháu, đều cẩn thận ghi lại những thành tích của con em mình đã đạt được trong quá trình học tập, công tác Dòng họ Đặng, Nguyễn Hữu, Nguyễn Quý đã có từ đường của dòng họ, có quỹ khuyến học khích lệ tinh thần hiếu học của cả dòng họ

Hiện nay, Hà Trì có một trường mẫu giáo, một trường tiểu học với số lượng học sinh đông đảo Tỷ lệ tốt nghiệp các cấp hàng năm đều đạt từ 95% đến 100% (trong đó số học sinh giỏi thường chiếm từ 30 đến 50%) Số lượng con

em làng đỗ đại học khá đông, một số người có học hàm, học vị thạc sĩ, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư đã và đang công tác trên nhiều lĩnh vực, đóng góp công sức vào công cuộc xây dựng và phát triển của quê hương đất nước

* Tôn giáo, tín ngưỡng

Trang 21

- Phật giáo: Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ II dưới thời Sĩ

Vương với trung tâm phật giáo tại Luy Lâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay) Triết lý đạo Phật vốn từ bi hỷ xả rất gần gũi với truyền thống văn hóa, cốt cách con người Việt Nam, nên sau khi du nhập vào nước ta Phật giáo

có điều kiện phát triển mạnh mẽ và trở thành tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn đến văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ đó cho đến nay

Cư dân làng Hà Trì hiện nay hầu hết theo đạo Phật, vì vậy chúng ta không thấy sự hiện diện của nhà thờ đạo công giáo hay các công trình tôn giáo khác

Chùa Hà Trì có tên chữ là “Đức Mục tự” Theo tấm bia đá “Đức Mục Tự Bi”

dựng năm Quảng Hòa 4 (1544) tại chùa Hà Trì ghi: “ Bởi nhiều cuộc binh biến mà mốc đá tản mát, ruộng đất ao chùa có chỗ bị lấn chiếm ” chúng ta có thể khẳng định: chùa Hà Trì được xây dựng từ trước đó rất lâu, trải qua thời gian đã bị xâm lấn nhiều, đến thời Mạc được hưng công tu sửa lại Hiện nay chùa Hà trì còn có các hạng mục: gác chuông, tiền đường, thượng điện, nhà tổ, nhà khách và các công trình phụ trợ khác

Gác chuông được dựng trên một nền cao, theo kiểu thức 2 tầng 8 mái chồng diêm với 8 đầu đao cong Bờ góc gác chuông đắp nổi mặt trời và hai con kìm Chùa chính có cấu trúc chữ đinh bao gồm tiền đường và thượng điện Tiền

đường là ngôi nhà năm gian, các bộ vì làm kiểu chồng rường hạ kẻ trên bốn

hàng chân Thượng điện là 3 gian nhà dọc nối liền với tiền đường ở gian giữa Trang trí trên kiến trúc chủ yếu bào trơn, bào soi điểm xuyết các họa tiết đường triện, lá đề Nghệ thuật điêu khắc chùa Hà Trì cũng như nhiều ngôi chùa làng khác, tập trung vào hệ thống tượng và những đồ thờ

Hệ thống tượng tròn của chùa gồm 48 pho tượng được làm từ đất sét luyện và gỗ mít Đây là hệ thống tượng khá phong phú, nghệ thuật tạc tượng ở trình độ cao Nhiều pho tượng có niên đại tạo tác ở thế kỷ XVIII như bộ tượng Tam thế, A di dà, Quan Âm thiên thủ thiên nhãn Ngoài ra ở đây còn lưu giữ được 12 bia đá cổ, 2 pho tượng hậu, chuông đồng, hoành phi câu đối Chùa Hà

Trang 22

Trì đã trở thành nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân trong làng [28, tr

108 – 109]

Xưa ở Hà Trì cũng có hệ thống Nho giáo và Tam giáo đồng nguyên với văn chỉ, con bút, đền thờ quán đạo giáo Nhưng hiện nay, với nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, cư dân đông đúc nên số di tích này đều bị san lấp làm nhà ở và các công trình công cộng, nay không còn dấu tích

- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên vốn là một

nét đẹp truyền thống của con người Việt Nam Trong mỗi gia đình Việt Nam nói chung và mỗi gia đình ở làng Hà Trì nói riêng đều có một ban thờ tổ tiên được

đặt ở một vị trí trang trọng trong ngôi nhà của mình Họ quan niệm “sống vì tổ

tiên, không ai sống vì đồng tiền bát gạo” Theo đó, người chết chỉ mất về phần

thể xác, còn phần linh hồn thì vẫn quanh quẩn bên con cháu, luôn phù hộ, che

trở cho con cháu Vào các ngày giỗ, ngày sóc vọng hàng tháng hay mỗi dịp lễ

tết, hội hè mỗi gia đình đều sửa soạn mân cơm đặt lên ban thờ thắp nén hương thơm mời tổ tiên về chứng kiến, thưởng thức, sau đó con cháu mới được thụ lộc Cùng với đó, nhân dân nơi đây vẫn luôn duy trì những tập tục tốt đẹp mang ý nghĩa tưởng nhớ đến tổ tiên, dòng tộc như: vào ngày cuối năm, con cháu trong gia đình, dòng họ tập trung đi thắp hương phần mộ của tổ tiên, ông bà và thỉnh mời tổ tiên, ông bà về ăn tết với gia đình; vào ngày giỗ họ, con cháu trong

họ tổ chức tế lễ tưởng nhớ đến thế hệ cha ông, đồng thời là dịp để ôn lại truyền thống dòng họ, tuyên dương những người thành đạt, học tập tốt trong họ; vào tết Thanh minh có tập tục đi tảo mộ

- Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng: là tín ngưỡng cơ bản, phổ biến và

giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân vùng đồng bằng Bắc bộ Thành Hoàng làng là vị thần bảo hộ, che trở cho làng, là người có công với dân với nước Thành Hoàng là vị thần được du nhập vào làng xã Việt theo yêu cầu của lịch sử thời Lê Sơ và thời Mạc, đến thời Lê Trung Hưng thì Thành Hoàng của các ngôi đình đã có những sự tích tương đối rõ rang, đó thường là

Trang 23

những vị thần bản địa [8, tr472] Đình làng Hà Trì thờ Thành Hoàng làng là Đô

Hồ Đại Vương – người đã có công giúp nhà Trần và nhà Lê đánh đuổi giặc Minh xâm lược, khi về an hưởng tuổi già được vua phong ấp Cầu Trì làm ấp thang mộc và định cư ở đó Sau khi Ngài mất, để tưởng nhớ công ơn của Ngài, nhân dân làng Hà Trì đã suy tôn làm Thành Hoàng của làng và thờ tại đình và miếu làng Hà Trì

Ngoài đình và miếu, ở làng Hà Trì còn có quán Bồ Đa ở ngoài cánh đồng làng (giáp với phường Văn La, quận Hà Đông ngày nay), đây vốn là nơi nghỉ chân của cư dân làng Hà Trì trong những buổi làm đồng mệt nhọc hay đi xa về làng dừng chân nghỉ lại cho mát mẻ Quán Bồ Đa được xây dựng từ rất lâu đời, hiện nay dân làng không ai còn nhớ được quán có tự bao giờ Trong quán, nhân dân làng Hà Trì lập ban thờ ông Cầu, bà Quán với mong muốn được phù hộ cho dân làng an lành, đi lại làm đồng thuận lợi, tránh mưa gió bão bùng, đi đến nơi,

về đến chốn [phụ lục ảnh số 5]

Đối với người dân làng Hà Trì, đình, miếu, quán Bồ Đa và chùa làng luôn

là những hình ảnh gần gũi, thân thuộc, gắn bó mật thiết với đời sống của nhân dân Việc thờ cúng Thành Hoàng ở làng Hà Trì luôn được duy trì, không chỉ vào những dịp tế lễ, hội hè người dân mới ra đình thắp hương tưởng nhớ Thành Hoàng làng mà mỗi khi gia đình, dòng họ có công to, việc lớn như: làm nhà, dựng vợ gả chồng cho con cái đều mang lễ ra báo cáo với Thành Hoàng làng công việc của mình và cầu mong Thành Hoàng che trở, phù hộ cho công việc được tốt đẹp, an lành

* Phong tục tập quán: Làng Hà Trì từ xưa tới nay đều mang trong mình

những phong tục tập quán tốt đẹp, đó là đức tính cần cù, chịu khó, làm ăn giỏi,

có tinh thần đoàn kết tình làng nghĩa xóm, có tôn ty trật tự, kỷ cương trong quan

hệ gia đình, gia tộc và xã hội Theo các tài liệu chúng tôi nghiên cứu và tìm hiểu được tại di tích và qua lời kể của các cụ cao niên trong làng: năm 1886, làng Hà Trì đã soạn thảo ra bản Hương ước quy định những tục lệ của làng, những phép

Trang 24

tắc trong các mối quan hệ gia đình, làng xóm của người dân trong làng (tiếc rằng hiện nay bản Hương ước đó không còn được lưu giữ) Hiện tại mỗi khu dân cư, mỗi tổ dân phố ở Hà Trì đều đã soạn thảo ra bản Hương ước riêng với những quy định, quy ước chặt chẽ nhằm làm tăng tình đoàn kết xóm làng, dòng tộc; cắt bỏ những hủ tục trong tang ma, cưới hỏi, ngày giỗ, ngày hội, mừng thọ; quy định chặt chẽ về an ninh trật tự, kỷ cương làng xóm trong thời buổi kinh

tế thị trường ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người Hà Trì hiện nay, phấn

đấu xây dựng làng Hà Trì xứng danh với danh hiệu làng văn hóa, là nơi chứa đựng những giá trị văn hóa giàu đẹp, văn minh; mỗi gia đình là một gia đình

văn hóa có cuộc sống hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ Đó chính là nền tảng quan

trọng góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

* Lễ tết: Xưa ở Hà Trì, lễ tết hàng năm rất phong phú (tính theo âm lịch)

gồm: Tết Nguyên Đán, Hội làng (13 – 22/Giêng), Thanh Minh (3/3), vào Hạ (1/4), Đoan Ngọ (5/5), giỗ Thánh (15/5), lễ cúng Thần Nông (16/5), Hội xuống đồng (17/5), ra Hạ (15/7), Xá tội vong nhân (15/7), hội hát Trống quân (10 – 15/8), Tết Trung thu (15/8), Cơm mới (10/10) Những ngày lễ tết đó được quy định rất chặt chẽ từ ngày giờ tổ chức, lễ vật, người làm lễ Trong số các lễ tết

đó phải kể đến ngày hội làng, Lễ hội xuống đồng, Hội hát trống quân là những

lễ tết mang đậm dấu ấn văn hóa riêng của làng Hà Trì và là lúc đông vui nhất, nơi quy tập được đông đảo quần chúng nhân dân trong làng (Chi tiết chúng tôi

sẽ đề cập đến ở chương 3 của cuốn luận văn này)

Ngày nay, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của thời buổi kinh tế thị trường, trong một năm số ngày lễ tết ở Hà Trì đã mai một và thất truyền như: Lễ hội xuống đồng, Hội hát trống quân đã mất hẳn; các ngày tết cơm mới, vào hè,

ra hè… vẫn được tổ chức nhưng làm đơn giản hơn Nhưng sâu xa trong tâm thức người dân làng Hà Trì vẫn duy trì được truyền thống và giá trị văn hóa mỗi dịp lễ tết, hội hè, người dân vẫn duy trì mang lễ ra đình, ra miếu vào những ngày

Trang 25

lễ tết, các cụ cao niên trong làng vẫn kể lại cho con cháu những nét văn hóa truyền thống của cha ông lưu truyền trong những ngày lễ hội

* Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm

Hà Trì không chỉ là một làng quê mang trong mình bề dày truyền thống văn hóa mà người nơi đây còn mang trong mình một truyền thống cách mạng, đấu tranh chống giặc ngoại xâm hào hùng Vào thời điểm nào, thời kỳ nào, giai đoạn nào người Hà Trì cũng có những đóng góp to lớn cả về sức người, sức của vào công cuộc đấu tranh giải phòng dân tộc, bảo vệ bờ cõi Đặc biệt, vào thời kỳ cách mạng Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ vĩ đại, người

Hà Trì càng chứng tỏ được tinh thần cách mạng anh dũng, kiên cường

Từ năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, cách mạng Việt Nam bước sang trang mới Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng Việt Nam như được thổi một luồng gió mới, các phong trào cách mạng nổ ra mạnh mẽ trên khắp mọi miền đất nước Vào thời kỳ Mặt trận dân chủ 1936 –

1939 phong trào cách mạng ở Hà Đông nói chung và Hà Trì nói riên đã phát triển mạnh mẽ, Đảng bộ Hà Đông đã được thành lập đứng ra chỉ đạo phong trào cách mạng của nhân dân trong vùng Tuy ở Hà Trì lúc bấy giờ chưa có Chi bộ Đảng nhưng phong trào đấu tranh dân chủ trên địa bàn Hà Đông và Hà Nội đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới phong trào cách mạng ở nơi đây

Vào giai đoạn cuối năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp ngày ra sức bóc lột nhân dân nhằm phục vụ chính quốc bằng các hình thức sưu cao, thuế nặng, bắt phu, bắt lính… các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp thiếu nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ thu hẹp đã gây ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân nơi đây Nhưng người Hà Trì đã phát huy truyền thống cách mạng của cha ông, từng bước khắc phục những khó khăn trước mắt như: rất ít người chịu đi lính và làm tay sai cho thực dân Pháp; đại bộ phận nhân dân đều căm thù chính sách của thực dân Pháp và tìm mọi cách để

Trang 26

chống lại sự đàn áp, bóc lột đó… việc sản xuất vẫn được duy trì nhằm ổn định đời sống nhân dân

Vào năm 1942, thầy giáo Thẩm Trọng Tảo (người vùng Hà Đông) – Trưởng ban khoa giáo trường Tư thục Tự Đức cùng một số thanh niên yêu nước trẻ liên lạc với Trung ương Hội truyền bá chữ quốc ngữ ở Hà Nội đã tiến hành

tổ chức Chi hội truyền bá chữ quốc ngữ ở vùng Hà Đông Thanh niên trẻ vùng

Hà Đông đã tham gia rất đông đảo, trong đó có dân làng Hà Trì Cùng lúc, một

số người con của làng Hà Trì gồm: Nguyễn Ngọc Cầm, Nguyễn Văn Thung, Nguyễn Quý Đức (Cầu), Nguyễn Quý Khuông là công nhân nhà máy Aviat (Hà Nội) đã sớm giác ngộ cách mạng và tham gia tổ chức cứu quốc

Đến năm 1943, tình hình cách mạng có nhiều thay đổi, vùng Hà Nội phải

sơ tán về các địa phương lân cận Hai đồng chí Nguyễn Văn Thung và Nguyễn Ngọc Cầm (ở xóm 1 Hà Trì) đã đưa một số bạn thân của mình trong Hội Thanh niên cứu quốc (trong đó có đồng chí Vũ Oanh – Thành ủy viên Hà Nội) về nhà mình ở và hoạt động Khi ấy, ông Nguyễn Văn Thơm (bố đồng chí Nguyễn Văn Thung) và bà Đặng Thị Viên (mẹ đồng chí Nguyễn Ngọc Cầm) với lòng yêu nước đã giúp đỡ che giấu cho con mình và các đồng chí hoạt động cách mạng Đây chính là hai cơ sở cách mạng đầu tiên và vững vàng nhất thời kỳ tiền khởi nghĩa của làng Hà Trì

Sau một thời gian gắn, phong trào hoạt động của tổ chức Thanh niên cứu quốc ở làng Hà Trì và khu vực thị xã Hà Đông đã phát triển mạnh mẽ dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ngọc Cầm Nhóm Thanh niên cứu quốc làng Hà Trì bao gồm: Đặng Trần Đức, Đặng Trần Thăng, Nguyễn Văn Diện, Cù Văn Mỹ với tên gọi Phan Anh hoạt động mạnh mẽ ở địa phương Nhà ông Nguyễn Văn Thơm trở thành nơi đặt bộ phận in ấn tài liệu, truyền đơn cung cấp cho phong trào cách mạng ở địa phương và vùng thị xã Hà Đông Đến trước năm

1945, phong trào cách mạng ở Hà Trì phát triển rất mạnh mẽ, quần chúng nhân dân tham gia ngày càng đông đảo, một số con em làng Hà Trì đã trở thành

Trang 27

những người lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương và được bầu vào Ban chỉ huy chung của các đội tuyên truyền xung phong ở thị xã Hà Đông

Cùng với phong trào cách mạng ở Hà Đông, phong trào cách mạng làng

Hà Trì đã có những bước tiến vượt bậc, góp phần không nhỏ vào việc giành chính quyền ở Hà Đông trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 Ngày 24/8/1945, chỉ một ngày sau khi cách mạng tháng Tám thành công tại Thủ đô

Hà Nội, tại đình làng Hà Trì, Ủy ban cách mạng lâm thời thôn Hà Trì đã tiếp thu ấn tín, sổ sách của chính quyền cũ về tay cách mạng, xóa bỏ chế độ áp bức bót lột nhân dân Hà Trì hàng trăm năm qua, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự chủ cho của nhân dân Cũng trong giai đoạn này, một số người con làng Hà Trì đã sớm giác ngộ cách mạng, vận động gia đình và quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến, ủng hộ cách mạng và trở thành những cán lòng cốt của phong trào cách mạng trong vùng, một số cơ sở cách mạng được hình thành và trở thành những địa điểm hoạt động an toàn sau này

Bước sang giai đoạn 1945 – 1954 khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công chưa kéo dài được bao lâu, thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược miền Nam Việt Nam và dần mở rộng ra miền Bắc Nhân dân Hà Trì nói riêng và nhân dân cả nước nói chung lại bước vào cuộc kháng chiến mới, cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp, bảo vệ nền độc lập chúng ta vừa giành được

Ngày 10/10/1945 Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời Hà Trì được thành lập, đây là sự kiện lịch sử quan trọng của cách mạng ở địa phương Ngay trong những ngày đầu thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, 13 thanh niên làng Hà Trì

đã có mặt trong đội ngũ hàng trăm thanh niên Hà Đông đã hăng hái ra nhập đoàn quân Nam tiến Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, thực hiện sự chỉ đạo của thị ủy

Hà Đông, nhân dân Hà Trì đã sát cánh cùng quân và dân thị xã Hà Đông tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu Ủy ban kháng chiến ở Hà Trì đã được thành lập để lãnh đạo phong trào cách mạng Thợ rèn và thanh niên Hà Trì đã tháo dỡ đường

Trang 28

ray, tà vẹt tàu điện từ bến Hà Đông đến cầu Mới (Ngã Tư Sở) để làm nguyên liệu cho Cục quân giới sản xuất vũ khí

Ngày 14/3/1947, giặc Pháp cho quân vào cướp trâu bò ở thôn Huyền Kỳ (phường Phú Lãm, Hà Đông), một trung đội cảm tử quân đã sát cánh cùng bộ đội địa phương chiến đấu tiêu diệt địch Anh Nguyễn Hữu Đối – người con làng

Hà Trì tham gia đội cảm tử quân đã cùng đồng đội ôm bom ba càng đâm và phá hủy xe tăng địch Cũng thời kỳ này, các đồng chí lãnh đạo cấp trên đã được điều động về hoạt động cách mạng ở làng Hà Trì Những cơ sở cách mạng cũ như nhà ông Nguyễn Văn Thơm, bà Đặng Thị Viên tiếp tục trở thành cơ sở hoạt động cách mạng, đồng thời một số gia đình cơ sở cách mạng khác như: gia đình

cụ Hoàng Thị Hòe cùng gia đình các con gái gồm bà Ơn (xóm 1), bà Bẩm và bà

Vỳ (xóm 3); cụ Bùi Thị Ẩm (cụ Chuốc); sư Nhâm (trụ trì chùa Hà Trì) đã được hình thành và là nơi nuôi giấu các cán bộ cấp trên về hoạt động

Đầu năm 1952, để tăng cường sức mạnh của mình và đàn áp phong trào cách mạng ở địa phương, giặc Pháp đã thành lập trại Căng 40 tại khu vực Ao cá

Hà Trì làm nơi chuyên giam giữ các chiến sĩ cách mạng của ta Đồng thời, chúng dùng một đại đội Commangde bảo vệ nghiên ngặt ở vòng ngoài (1 trung đội đóng ở đình làng Hà Trì, 1 trung đội đóng ở Miếu làng Hà Trì và 1 trung đội đóng ở chợ Trâu ) điều đó đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động cách mạng ở địa phương

Sau thất bại tại Điện Biên Phủ (7/5/1954), thực dân Pháp đã lần lượt rút khỏi các cứ điểm trên quốc lộ 21 về cố thủ tại khu vực Hà Đông Trước tình hình đó, để đảm bảo cho phong trào cách mạng ở nơi đây hoạt động an toàn, cấp trên quyết định phải tiêu diệt đại đội Commangde đóng ở Hà Trì Ngày 5/7/1954, sau một ngày đi càn quyét đại đội địch về tổ chức ăn uống linh đình tại đình làng Hà Trì, đến nửa đêm quân địch đã ăn uống no nê và ngủ say Nhân

cơ hội đó, vào hồi 1 giờ sáng ngày 6/7/1954, Trung đoàn 46 Liên khu III đã phối hợp với du kích và dân quân địa phương tập kích và tiêu diệt toàn bộ đại

Trang 29

đội Commangde trong đình làng, hơn 100 tên địch bị tiêu diệt, bắt sống 9 tên, thu nhiều súng ống đạn được

Trong 9 năm kháng chiến trường kỳ của dân tộc, đã có hàng trăm người con Hà Trì lên đường ra trận, trong số đó có hàng chục người con Hà Trì đã anh dũng hi sinh vì nền độc lập dân tộc, nhiều người con đã để lại một phần thân thể trên khắp các chiến trường Hà Trì trở thành căn cứ địa vững chắc của Đảng, của cách mạng địa phương và Hà Nội Địch suốt ngày lùng sục, bắt bớ dân làng nhằm khai ra những hầm bí mật hay cơ sở hoạt động của cách mạng, nhưng suốt thời gian đó chưa có một cơ sở nào bị lộ, các đồng chí hoạt động cách mạng từ trung ương đền các địa phương về đây đều được đảm bảo an toàn

Giai đoạn 1954 – 1975, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Hà Trì cùng các địa phương khác ra sức thi đua vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, trở thành hậu phương vững chắc chi viện cho tiền tuyến miền Nam đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước Trong giai đoạn này, quân và dân Hà Trì tích cực hăng hái lao động, sản xuất xây dựng quê hương giàu đẹp, vững mạnh và có những đóng góp to lớn về sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam

Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hà Trì đã tiễn đưa hàng trăm người con quê hương lên đường ra mặt trận Lớp sau nối tiếp lớp trước, thế hệ sau noi gương thế hệ trước, nhiều gia đình có hai, ba thế hệ đi bộ đội chiến đấu, 45 người con làng Hà Trì đã anh dũng hi sinh cho nền độc lập dân tộc (21 liệt sĩ chống Pháp, 24 liệt sĩ chống Mỹ) Có gia đình có hai con là liệt sĩ hay có gia đình có con trai duy nhất cũng hiến dâng cho tổ quốc Nhiều gia đình đã được công nhận là gia đình cách mạng, được tặng thưởng Huân chương lao động, Huân chương kháng chiến, Bằng có công với nước Trong những năm gần đây, quê hương Hà Trì đã có những thay đổi to lớn trên tất cả các mặt, người dân vẫn phát huy tốt truyền thống cách mạng của địa phương, quyết tâm phấn đấu xây dựng quê hương ngày cành giàu đep, văn minh, thực

Trang 30

hiện tốt chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước đề ra

Ngoài những nét truyền thống văn hóa nêu trên, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của cư dân làng Hà Trì vẫn luôn gìn giữ và phát huy những bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt như: tang ma, lễ tết, hiếu hỷ Điều

đó cho chúng ta thấy rằng: dù vị trí làng Hà Trì nằm trong vùng trung tâm với

sự phát triển mạnh mẽ, sôi động của thời buổi kinh tế thị trường, nhưng không

vì thế người dân nơi đây đánh mất đi những truyền thống văn hóa của cha ông

đã lưu giữ và truyền lại cho các thế hệ Đây chính là nét đẹp văn hóa của người

Hà Trì được hun đúc tự ngàn đời

1.2 Lịch sử khởi dựng và tồn tại di tích đình và miếu làng Hà Trì

Đình là “ngôi nhà cộng đồng” của làng xã Việt Nam với các chức năng hành chính, tôn giáo và văn hóa Về chức năng tôn giáo, tín ngưỡng, đình là nơi thờ thần của làng, thường mỗi làng có một vị thần nhưng có những làng thờ tới

3 hay 4 vị thần Các vị thần này đều được gọi theo chung một tên rất Việt Nam

là Thành Hoàng làng

Đình làng là công trình kiến trúc của cộng đồng dân cư nơi đình được xây dựng và tồn tại Trong kiến trúc cộng đồng đó chứa đựng nhiều giá trị văn hóa nghệ thuật mà khi nghiên cứu chúng ta thường phân ra thành hai lĩnh vực: văn hóa vật thể và phi vật thể Giá trị văn hóa vật thể bao gồm: nhà cửa, các di vật thờ tự ; giá trị văn hóa phi vật thể gồm: lễ hội và các sinh hoạt gắn với lễ hội,

ca dao, tục ngữ

Miếu cũng là một công trình kiến trúc của công đồng, nhưng thường có quy mô kiến trúc nhỏ hơn đình Hầu hết những ngôi miếu còn tồn tại đến ngày nay ở mỗi làng quê đều gắn với đình làng và cùng chung nhiệm vụ là nơi thờ Thành Hoàng làng (trừ một số trường hợp đặc biệt như Văn Miếu ) Miếu thường là nơi thánh hóa trút bỏ thân xác về trời, ở làng quê ngôi miếu và ngôi

Trang 31

đình thường gắn liền với nhau, đặc biệt là trong phạm vi lễ hội làng, miếu và đình là hai điểm tổ chức lễ rước kiệu: rước thánh từ miếu ra đình và từ đình lại trở về miếu

1.2.1 Lịch sử xây dựng và tồn tại

* Đình làng Hà Trì

Để xác định nguồn gốc của ngôi đình làng, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhận định rằng: Đình làng chủ yếu là sản phẩm của lịch sử cuối thế kỷ XV, định hình vào thể kỷ XVI, phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ XVII và chuyển hóa dần vào những thế kỷ sau

Khi ngôi đình chưa xuất hiện trong kiến trúc cộng đồng làng xã Việt Nam thì ngôi chùa là nơi sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của mỗi làng quê truyền thống Trong quá trình phát triển, các ngôi đình làng xuất hiện với vai trò, chức năng đáp ứng được yêu cầu của cộng đồng nên dần thay thế vai trò của ngôi chùa để đảm nhiệm vai trò trung tâm văn hóa của làng xã Đình làng trở thành nhà thờ chung của cả cộng đồng, là trụ sở của chính quyền làng xã, là nơi giải quyết mọi công việc của cộng đồng cư dân trong làng [37, tr 82]

Căn cứ vào các tư liệu khảo sát, điền dã, tư liệu điều tra, hồi cố cho thấy:

đình Hà Trì trước đây được xây dựng bên kia “ngòi quan xẻ” (đoạn hồ nước còn

lại hiện nay kéo dài từ đầu làng đến phía trước của đình) nay là trường mẫu giáo

Hà Trì với kiến trúc chữ “đinh” Trên câu đầu gian giữa đại bái đình đình làng

Hà Trì có ghi: “Cảnh Hưng tam niên, tuế thứ Nhâm Tuất, cửu nguyệt nhị thập bát nhật thụ trụ thượng lương” (Triều Lê, niên hiệu Cảnh Hưng 3, năm Nhâm Tuất, tháng 9 ngày 28 dựng thượng lương) cho chúng ta cơ sở khẳng định rằng: đình Hà Trì được xây dựng vào năm 1742 đời vua Lê Hiển Tông

Tấm bia đá “Công dân bi ký” ở đình được tạo tác vào ngày mồng 4 tháng

4 năm Thành Thái thứ 4 (1892) (được ông Nguyễn Quý Liêm dịch) có đoạn

Trang 32

viết: “Thường nghe chuyện trong thiên hạ biết bao sự lạ Người gảy đàn cầm không thể nói hết lý trong thiên hạ Người tìm kiếm rơi xuống nước, không thể đánh dấu trên thuyền mà tìm Thôn ta trước đã dựng đình lớn và mùa thu năm Nhân Tuất niên hiệu vua Cảnh Hưng (1742) Đình ở bên sông, địa thế rất đẹp, song dân thôn vất vả Nay cho làm đình mới ở đây vào năm Kỷ Mão” Ngoài ra, một số kiến trúc hiện còn lưu giữ được tại đình cũng chứng minh cho niên đại khởi dựng đình vào năm 1742 triều Lê

Căn cứ các tài liệu trên chúng ta khằng định: đình Hà Trì được khởi dựng

vào năm 1742 bên kia “ngòi quan xẻ” và đến năm 1892 được di dời về vị trí

hiện tại, tổng diện tích đất đình là 1.617m2 Đình được đặt trên thế đất đầu một con rồng, hai giếng nước hai bên là hai con mắt rồng, ao đình là miệng của con rồng

Tuy nhiên, một giả thiết khác chúng tôi đặt ra khi nghiên cứu về lịch sử khởi dựng đình làng Hà Trì đó là: đình làng Hà Trì được xây dựng từ trước năm

1742 Ở đây chúng tôi đưa ra hai lý do như sau:

Thứ nhất: căn cứ vào tấm bia đá “Đức Mục Tự Bi” dựng năm Quảng Hòa

1544 tại chùa Hà Trì ghi rất rõ ràng chùa đã được xây dựng từ rất lâu đời và đến năm 1544 cho hưng công tu sửa lại Điều đó chứng minh rằng nhân dân Hà Trì

đã có ý thức xây dựng các công trình công cộng phục vụ tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng từ rất sớm Trong số các công trình công cộng ở làng xã, ngoài ngôi chùa làng thì ngôi đình làng với vai trò quan trọng vừa là trung tâm hành chính làng xã, vừa là trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng ở mỗi làng quê Việt Nên thông thường ở các làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ xưa rất chú trọng đến việc xây dựng ngôi đình làng để cùng với chùa và các công trình tín ngưỡng tôn giáo khác đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân Do đó, ở đây chúng ta thấy ngôi chùa làng Hà Trì đã được nhân dân xây dựng từ rất sớm (trước năm 1544) có lẽ theo chúng tôi ngôi đình làng cũng đã được dân làng Hà Trì cho xây dựng trước năm 1742 như chúng ta xác định, nhưng đình làng thời điểm đó được xây dựng

Trang 33

với quy mô như thế nào, kiểu dáng ra sao thì chưa có tài liệu nào chứng minh được

Thứ hai: Căn cứ vào tư liệu sắc phong còn lưu giữ được tại đình làng Hà

Trì cho thấy rằng: sắc phong có niên đại sớm nhất là năm Vĩnh Tộ 6 (1624), từ

đó cho đến năm 1742 – năm khởi dựng đình làng như chúng ta nói ở trên thì Thành Hoàng thờ tại đình làng Hà Trì đã được phong 29 đạo sắc (trong tổng số

43 đạo sắc hiện lưu giữ tại đình) Điều đó đặt ra vấn đề rằng: Thành Hoàng làng

Hà Trì là một vị tướng võ, phục vụ triều Trần và triều Lê đánh giặc ngoại xâm nhưng công trạng không to lớn, khi hóa được dân làng Hà Trì tôn làm Thành Hoàng làng nhưng sao lại được các triều đại nhắc đến và phong nhiều sắc đến như vậy? Điều đó chúng tôi lý giải rằng: ở Hà Trì đã có một ngôi đình có quy

mô khá bề thế và khá nổi tiếng ở vùng nên được thường được các quan lại trong vùng đề nghị triều đình phong sắc

Nhưng tiếc rằng hiện nay tất cả các kiến trúc, điêu khắc còn lưu giữ tại đình không đủ cơ sở để chứng minh chính xác được niên đại đình làng Hà Trì sớm hơn nữa Do vậy, chúng tôi xác định niên đại di tích này trên cơ sở những tài liệu, tư liệu còn lưu giữ được tại di tích và có cơ sở khoa học nhất

Khởi nguyên đình làng Hà Trì chưa có phương đình như hiện nay chúng

ta thấy Theo các tài liệu thu thập được và lời kể của dân địa phương cho chúng

ta biết tòa phương đình đình làng Hà Trì được xây dựng vào năm 1924 với mục đích mở rộng khuôn viên đình và phục vụ thuận tiện cho việc tế lễ Người hưng công toàn bộ xây dựng phương đình là cụ Đặng Ngọc Hiền người con quê hương, cụ đã cung tiến toàn bộ kinh phí xây dựng tòa phương đình này Gỗ dựng phương đình được chuyển từ Thanh Hóa ra, các nghệ nhân xây dựng là người làng Nhân Trạch (phường Phú Lương, Hà Đông)

Đình làng Hà Trì đã trải qua nhiều lần tu sửa lớn nhỏ khác nhau, ngoài lần chuyển đình năm 1892, xây dựng phương đình năm 1924 còn có một số lần

tu sửa khác Theo các cụ cao niên trong làng kể lại: năm 1954 thực dân Pháp

Trang 34

cho đốt đình nhưng nhân dân đã cứu được đình và cho tu sửa lại một số hạng mục bị cháy ở hậu cung, phía trước đại bái đình rồi đình làng Hà Trì trở thành kho của Hợp tác xã nông nghiệp Hà Trì Năm 1978, đình làng được tu sửa các hạng mục tả hữu mạc, kè bờ ao đình và sửa chữa một số hạng mục gỗ trong đình

đã bị mối mọt Năm 2003 sửa chữa, thay thế một số hạng mục gỗ tại hậu cung… Năm 2009, được sự đầu tư của các cấp, các ngành đình làng Hà Trì tu

bổ, tôn tạo tổng thể với các hạng mục chính: thay một số cột tại đại bái đình và phương đình, tường bao quanh được xây dựng lại, sửa lại mái, nền sân được nâng cao và một số hạng mục gỗ khác trong đại bái đình và hậu cung

* Miếu làng Hà Trì

Miếu làng Hà Trì được xây dựng tại khu Hà Trì II (xưa là xóm Rừng) cách đình làng khoảng 200m về phía Tây Bắc sát với bờ sông Nhuệ Tương truyền đây là khu dinh thự cổ của cụ Đô Hồ và cũng là nơi hóa của ngài Trước đây khu vực này có rất nhiều cây cổ thụ rậm rạp nên được gọi là xóm Rừng Khảo sát tại miếu làng Hà Trì ta thấy một tấm bia đá cao 1,1m phía trước, bên trái miếu có họa tiết hoa văn thời Lê nhưng do mưa nắng lâu ngày nội dung

đã không còn đọc được [3] Căn cứ theo lịch sử vị thần được thờ và hoa văn trang trí trên tấm bia trên chúng ta có thể đưa ra một nhận định: miếu làng Hà Trì đã có từ thời Lê, nhưng kiến trúc, quy mô ra sao không có tư liệu nào chứng minh cụ thể được Có thể khởi đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ thờ Đô Hồ Đại Vương với dấu tích đây là nơi hóa của thần Nhìn vào kiến trúc tại miếu làng Hà Trì hiện nay và lời kể của các cụ cao niên trong làng thì toàn bộ kiến trúc tại miếu làng Hà Trì là sản phẩm của lần tu bổ tổng thể năm 1992 với lối kiến trúc xây chắc, bền thiên về lối đơn giản bào trơn, đóng bén, các mảng chạm khắc đơn lẻ, chủ yếu là đề tài tứ linh, tứ quý… mang phong cách nghệ thuật thế kỷ

XX

Khởi nguyên, miếu làng Hà Trì cũng có kiến trúc kiểu chữ “đinh” (丁), tòa đại bái với quy mô 3 gian 2 dĩ tường hồi bít đốc Tòa thiêu hương phía trước

Trang 35

đại bái mới chỉ được dân làng xây dựng từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX Nhìn tổng thể, miếu làng Hà Trì cũng có quy mô kiến trúc, kiểu dáng như đình làng Hà Trì hiện nay nhưng quy mô nhỏ hơn

Trải qua năm tháng, miếu làng Hà Trì đã được tu sửa nhiều lần, trong đó lần tu sửa gần nhất và lớn nhất là vào năm 1992: thay thế toàn bộ kiến trúc gỗ, xây trát, đắp vẽ lại toàn bộ hệ thống tường đại bái và hậu cung Năm 2010, nhân dân cho sửa lại tòa thiêu hương, gỗ làm cột được lấy từ số cột sửa chữa ở đình thay thế

1.2.2 Lịch sử vị thần được thờ

Theo tác giả Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự trong cuốn “Đình Việt Nam” thì Thành Hoàng vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc với vai trò là vị thần của thành trì, bảo vệ bộ máy quan lại và cư dân trong thành Khi tín ngưỡng này

du nhập vào Việt Nam làm nảy sinh hai dòng thờ Thành Hoàng: một số Thành Hoàng vẫn giữ chức năng như Thành Hoàng ở Trung Quốc với nhiệm vụ bảo vệ các tòa thành (thần sông Tô Lịch) và một dòng Thành Hoàng mới xuất hiện đó

phải kiêng húy [31, tr 50 – 51]

Theo bản dịch của cụ Nguyễn Quý Liêm dịch bản Thần phả do Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1571 và Quản giám bách thần Nguyễn Hiền phụng sao

Trang 36

năm 1736, bản dịch đó hiện được lưu giữ tại đình làng thì Thành Hoàng làng Hà Trì được phụng thờ tại đình và miếu làng Hà Trì là Đô Hồ Đại Vương Nội dung thần phả được dịch như sau:

“Xưa trời Nam mở cõi, lấy sao Ngưu, sao Dực làm danh giới địa vực Lạc Long Quân họ Hồng Bàng lấy Tiên nữ Động Đình là Âu Nương Âu Nương sinh ra một bọc có trăm trứng nở thành một trăm người con trai Năm mươi người theo mẹ về biển chia ra trấn trị sông nước Năm mươi người con trai theo cha lên núi chia thành năm mươi bộ kiến tạo đất nước, lập vua trị dân lấy họ Hùng… tổ hưng thịnh, trải ngắm nơi tiện lợi núi sông tìm được thắng địa Hoan Châu dựng kinh đô ở Nghĩa Lĩnh hùng cường, trùng tu miếu điện, cha truyền con nối hơn 2000 năm đều xưng là Hùng Vương Đến Đinh – Lê – Lý – Trần tiếp nối thống lĩnh đất nước thanh bình

Lại nói cuối thời Trần có vị Tri huyện Hoa huyện phủ Ứng Thiên vốn quê

ở làng Dị Sử, huyện Đường Hào trấn Hải Dương về nhận chức ở đây, ông húy

là Quang, vợ là Khánh Ông phúc hậu, hiền từ vậy mà tuổi cao vẫn chưa có con thừa tự Nghe nói ở huyện Hoài An có chùa Hương Tích nổi tiếng linh ứng, ông

bà liền sửa lễ đến chùa ăn chay cầu tự Lúc hành lễ ông bà ngẩng lên trời bỗng thấy mây ngũ sắc bao phủ quanh động, lại nghe có tiếng bảo: “Nhà ngươi có đức, thần sông Tô Lịch sẽ cho giáng sinh làm tường phù giúp nhà Trần phục quốc” Sau khi về nhà bà có thai Sang đầu năm sau sinh một con trai Trong lúc đó ở khúc sông Nhuệ của Dinh, trời mưa như trút và có bảy tiếng sấm vang rền Khi ấy là giờ Ngọ hôm rằm tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1369) thuộc vua Trần Dự Tông Ông bà hết sức mừng vui, đặt tên con là Hồ Lớn lên khôi ngô tuấn tú, cốt cách thần tiên, lòng dạ trung hiếu Năm 6, 7 tuổi được cha dạy học lầu thông kinh sử, cả đến bách gia chu tử đều tinh tường Năm 18 tuổi thì đi thi liền trúng khôi nguyên Theo trí cha ra làm quan với triều Trần Nhưng nhà Trần vào thời mạt vận, ngày càng suy yếu rồi bị rơi ngôi báu vào tay Nhà Hồ

Trang 37

Khi đó triều Minh nhân chính sự nước Nam rối loạn, cho đại binh sang mượn cớ diệt Hồ giúp Trần mà xâm chiếm nước ta Khi Trần Giản Đế dấy binh chống ngoại xâm, ông đầu quân tham gia chiến đấu Trong đó có trận oanh liệt nhất nổ ra ở tỉnh Phong Doanh (nay thuộc tỉnh Hà Nam) Cuối cùng tướng giặc

là Trương Phụ bắt được vua Giản Định đế ở vùng Nho Quan, rồi Trần Quý Khoáng ở Châu Hóa cùng ba danh tướng Nguyễn Súy, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bị giải về Minh triều Từ đó sự nghiệp phục quốc của hậu Trần tan vỡ, đất nước rơi vào tay xâm lược của kẻ thù

Lại nói sau cuộc khởi nghĩa hậu Trần thất bại, ông bỏ trốn vào Thanh Hóa, khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, ông lại gia nhập nghĩa quân, chiến đấu đến ngày đại thắng thu phục giang sơn Năm ấy ông đã 59 tuổi xin về hưu tại nơi sinh quán ở xứ Trong Dinh Triều đình chấp thuận và ban cho hương Cầu Trì làm ấp thang mộc Ở đây ông mộ dân mở rộng thái ấp, xây dựng thành các xóm

mà sau đó là xóm Rừng, xóm Chùa, xóm Đình, xóm Ngoài và xóm Thầy

Ông sống ở Dinh và mất vào ngày Rằm tháng 5 năm Tân Tỵ (1461) hưởng thọ 93 tuổi Sau Dinh đổi thành miếu phụng thờ ông mãi mãi

Trải các triều, ông được ban sắc tặng và chuẩn cho làng Hà Trì phụng thờ, phong là Đô Hồ Cảm Ứng Quảng Tế, Phú Quốc, Hựu Dân, Linh Thống Đại Vương Lại thăng Thượng Đẳng Phúc Thần

Ngày sinh 15 tháng Giêng, ngày hóa Rằm tháng 5 nhất thiết kiêng cấm cấm các chữ Quảng – Khánh – Hồ”

Theo sự tích còn lưu giữ tại đình và theo lời kể của các cụ cao niên trong làng cho chúng ta biết về sự tích Đô Hồ Đại Vương Thượng Đẳng Phúc Thần như sau:

Người sinh hồi 12 giờ ngày rằm tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1369) tại xứ

“Trong Dinh” xóm Miếu, Hà Trì, trong một gia đình nho học Thân phụ, thân mẫu của người quê làng Di Sử huyện Đường Hào, trấn Hải Dương về nhận chức

Trang 38

ở huyện Thanh Oai, công đường đặt tại xứ “Trong Dinh” nói trên Về người cốt cách, tính tình nghiêm chỉnh, rất thong minh và hiếu hạnh 6, 7 tuổi được cha dạy học, đến cả “Bách gia Chu Tử” sách đọc thuộc lầu Mười tám tuổi đi thi lần đầu liền trúng khôi nguyên Đỗ rồi theo chí hướng cha ra làm quan với nhà Trần Nhà Trần gặp hồi suy yếu, Hồ Quý Ly rắp tâm cướp ngôi vua Bọn cuồng Minh nhằm sơ hở, giả danh đem quân diệt Hồ giúp Trần thừa cơ xâm chiếm nước ta Người liền ra nhập hàng ngũ yêu nước, đứng ra tôn phù Trần Giản Định đế (1407 - 1409) trực tiếp chỉ huy đánh thắng giặc Minh nhiều trần, oanh liệt nhất là trận Bô Cô thuộc huyện Phong Đinh (Nam Định) Cuối cùng tướng giặc là Trương Phụ đem viện binh sang, bắt được Giản Định Đế ở vùng Nho Quan Năm 1413 lại bắt được Trần Quý Khoáng ở Hóa Châu cùng với ba danh tướng Nguyễn Xúy, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đem giải về tàu Vua tôi đều tự tử ở giữa đường, sự nghiệp cứu quốc của nhà Hậu Trần đến đây tan vỡ Toàn cõi Đại Việt rơi vào tay quân thù hung ác Người phải trốn tránh vào rừng núi, rồi vào Thanh Hóa theo Lê Lợi ra nhập đoàn quân Lam Sơn phất cờ khởi nghĩa (1418) tiếp tục góp phần vào sự nghiệp cứu quốc cho đến toàn thắng Ngày 17 tháng Chạp năm Đinh Mùi (1427) Tổng binh Vương Thông đã phải cúi đầu ký giấy đầu hàng rút tàn quân Ngô về nước Năm ấy người đã 59 tuổi, sau một thời gian tham gia xây dựng chính thể mới Phần vì tuổi tác, phần vì mệt nhọc sau cuộc kháng chiến gian khổ kéo dài Người được Lê Triều đặc biệt chiếu cố, cho về Chí Sĩ tại nơi sinh quán xứ “Trong Dinh”, đồng thời cấp cho thôn Cầu Trì làm “Thang mộc ấp” Về đây Người sống độc thân, cùng thuộc hạ thân tín đứng ra chiêu thêm dân, cùng mở rộng thái ấp Dần dần thành xóm, thôn Hà Trì ngày nay Cư dân đông vui, lại có thuần phong mỹ tục Người mất ngày rằm tháng năm năm Tân Tỵ (1461) tại xóm Miếu, Hà Trì, hưởng thọ 93 tuổi Hiện nay còn lưu giữ tại đình 43 đạo sắc rồng do các triều vua: Lê, Quang Trung, Nguyễn phong tặng

Trang 39

Theo tài liệu hiện lưu giữ tại đình làng Hà Trì còn lưu giữ thì: trận Bô Cô

là trận thắng lớn do cụ Đô Hồ chỉ huy được Vũ Mộng Nguyên, đỗ Thái học

sinh, làm Quốc Tử Giám tư nghiệp, Tế Tửu đời Lê nhắc tới trong bài: “Trông

bến Bô Cô hữu cảm” ví trận Bô Cô ngang trận Xích Bích trong Tam Quốc

Mây nơi thăm thẳm nước mênh mang Cọc đóng so le bẩy tám hàng

Lưu Tuấn xác chìm sông thảm đạm Mộc Thành quân rũ bóng hôn hoàng Công danh sánh với trùng hưng kịp

Sự nghiệp xem cùng Xích Bích ngang Vận hán trời ta khôn chuyển lại

Bô Cô còn mãi dấu hoàng lương

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tập I Kỷ hậu Trần của Ngô Sĩ Liên do Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính (tái bản lần thứ 3) có ghi:

Mùa đông, tháng 10, Quốc công Đặng Tất điều quân các lộ Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa tiến đánh Đông Đô Khi quân đi qua các xứ Trường Yên, Phúc Thành, các quan thuộc cũ và các hào kiệt không ai không hưởng ứng đi theo Tất chọn người có tài đều

bổ cho quan chức

Tháng 12, ngày 14, Quốc công Đặng Tất phá được quân Minh ở kè Bô

Cô Bấy giờ nhà Minh sai Tổng binh Mộc Thạch lấy tước Kiềm quốc công mang ấn Chinh di tướng quân, đem 5 vạn quân lại từ Vân Nam đến Bô Cô Vừa khi vua cũng từ Nghệ An đem quân đến, quân dung nghiêm chỉnh, gặp buổi nước triều lên và gió mạnh, sai các quân đóng cọc giữ và lên hai bên bờ song đắp lũy Thạch cũng chia ra quân thủy quân bộ cùng cầm cự Vua cầm dùi đánh trống, khiến các quân thừa cơ xông ra đánh, từ giờ Tỵ đến giờ Thân Quân Minh thua chạy Chém được Thượng thư Binh bộ là Lưu Tuy, Đô ty là Lữ Nghị, và quân mới,

Trang 40

quân cũ hơn 10 vạn người, chỉ một mình Mộc Thạch được thoát, chạy đến thành Cổ Lộng [25, tr 703 - 704]

Như vậy, theo bản dịch Thần phả lưu giữ tại đình làng Hà Trì; sự tích dân gian còn lưu truyền; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã viết và Quốc Tử Giám Tư nghiệp Vũ Mộng Nguyên đời Lê viết lại thì chúng ta có thể tóm tắt vị thần thờ ở đình và miếu làng Hà Trì như sau:

Ông có họ là Đô, có tên là Hồ, cha mẹ quê gốc ở làng Dị Sử, huyện Đường Hào, trấn Hải Dương (nay là xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên)

lên sinh sống ở xứ “Trong Dinh” hương Cầu Trì (nay là làng Hà Trì)

Ông được sinh ra vào ngày rằm tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1369) triều Trần Khi 6, 7 tuổi được cha dạy học lầu thông kinh sử, cả đến Bách gia Chu Tử đều tinh tường Năm 18 tuổi đỗ khôi nguyên và ra làm quan dưới triều Trần (Trần Giảm Đế)

Ông là một vị tướng dưới triều vua Trần Giản Đế có công đánh đuổi giặc Minh xâm lược và trận đánh Bô Cô là trận đánh lớn nhất ông tham gia Sau khi nhà Trần sụp đổ, ông vào Thanh Hóa theo nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa Nước nhà độc lập, vì tuổi cao ông đã xin về nghỉ và được vua Lê ban cho vùng đất Cầu Trì (Kiều Trì) làm ấp thang mộc Ở đây, ông chiêu dân khai hoang, mở mang làng xóm và lập lên làng Hà Trì

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại thì: trận đánh Bô Cô diễn ra ở huyện Phong Doanh thuộc tỉnh Nam Định [25] Đây là một trận đánh lớn nhưng không phải do Đô Hồ Đại Vương chỉ huy, mà trận Bô Cô là do vua Trần trực tiếp chỉ huy Ông Đô Hồ là một trong nhiều vị tướng tham gia trận đánh này và giành thắng lợi to lớn được ví như trận Xích Bích trong Tam Quốc

Đến thời Lê, những người có công trong công cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc Minh giành thắng lợi, lập lên nhà Lê có tới vài trăm người Trong Đại

Ngày đăng: 05/06/2021, 23:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w