Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cấp lãnh đạo phòng văn hóa của huyện Thường Tín và lãnh đạo xã Nguyễn Trãi cùng các sư thầy trong chùa Đậu đã cung cấp cho tôi những tài liệu t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
==================================
NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG
GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA DI TÍCH
CHÙA ĐẬU XÃ NGUYỄN TRÃI, HUYỆN THƯỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 60 31 70
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2010
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài Error 2 Tình hình nghiên cứu 9 3 Mục đích và yêu cầu của đề tài 12 4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 12 5 Phương pháp nghiên cứu 13 6 Những đóng góp của luận văn 13 7 Kết cấu của luận văn 14 Chương 1 15
CHÙA ĐẬU TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ 15
1.1.Diện mạo làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 15 1.1.1 Vị trí địa lý 15
1.1.2 Thành phần dân cư 20
1.1.3 Đời sống kinh tế 22
1.1.4 Đời sống văn hóa 23
1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của chùa Đậu 29 1.2.1 Lịch sử xây dựng chùa Đậu 29
1.2.2 Quá trình tồn tại của di tích chùa Đậu 31
1.3.Tín ngưỡng Tứ Pháp và hệ thống chùa Tứ Pháp ở Thường Tín và vùng phụ cận 35 1.3.1 Sự ra đời của Tứ Pháp 35
1.3.2 Tín ngưỡng Tứ Pháp – tín ngưỡng nông nghiệp 40
1.3.3 Hệ thống chùa Tứ Pháp ở Thường Tín và vùng phụ cận 42
1.3.3.1 Các ngôi chùa thờ Tứ Pháp ở Thường Tín 42
Trang 31.3.3.2 Hệ thống chùa Tứ Pháp ở các vùng phụ cận 44
1.3.4 Di tích chùa Đậu có sự giống nhau và khác nhau trong việc thờ Tứ Pháp so với các vùng thờ Tứ Pháp khác 48
Chương 2 51
GIÁ TRỊ VĂN HÓA VẬT THỂ CỦA DI TÍCH CHÙA ĐẬU 51
2.1 Giá trị kiến trúc 51
2.1.1 Không gian, cảnh quan 51
2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể 55
2.1.3 Kết cấu kiến trúc 56
2.1.3.1.Tam quan 56
2.1.3.2 Nhà tả hữu vu 63
2.1.3.3 Tiền đường 64
2.1.3.4 Thượng điện 67
2.1.3.5 Hậu đường 68
2.1.3.6 Hành lang 69
2.1.3.7 Nhà Mẫu 70
2.1.3.8 Chùa Am 70
2.1.3.9 Am thờ 72
2.1.4 Nghệ thuật điêu khắc và trang trí trên kiến trúc 73
2.2 Giá trị điêu khắc 79
2.2.1 Tượng thờ 79
2.2.1.1 Tượng Phật giáo 79
2.2.1.2 Tượng Pháp Vũ 83
2.2.1.3 Tượng Tổ 86
2.2.2 Các di vật tiêu biểu 90
Trang 42.2.2.1 Bia đá 90
2.2.2.2 Chuông đồng 93
2.2.2.3 Khánh đồng 94
2.2.2.4.Sách đồng 95
2.2.2.5 Biển gỗ 96
2.2.2.6.Gạch cổ 98
2.3 Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể 99
2.3.1 Thực trạng của di tích chùa Đậu 100
2.3.2 Giải pháp bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể 101
Chương 3 104
GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 104
CỦA DI TÍCH CHÙA ĐẬU 104
3.1 Lễ hội chùa Đậu 104
3.1.1 Lễ hội chùa Đậu xưa 104
3.1.1.1 Lễ hội ngày mồng 8 tháng T ư 105
3.1.1.2 Lễ hội ngày 26 tháng Chạp 111
3.1.2 Lễ hội chùa Đậu ngày nay 112
3.1.3 Một số nhận xét về sự tương đồng và dị biệt của lễ hội xưa và nay 123
3.1.3.1 Những điểm tương đồng 124
3.1.3.2 Những điểm dị biệt 125
3.2 Những giá trị cơ bản của lễ hội chùa Đậu 127
3.2.1 Những lớp văn hóa tích hợp trong lễ hội chùa Đậu 127
3.2.2 Các giá trị cơ bản của lễ hội chùa Đậu 129
3.3.Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị phi vật thể của di tích chùa Đậu trong đời s 3.3.1 Thực trạng của lễ hội chùa Đậu 135
Trang 53.3.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể 137
KẾT LUẬN 140 TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
Trang 6Lời cảm ơn!
Để hòan thành bản luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Phạm Thị
Thu Hương, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và
hòan thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sau Đại học trờng Đại học Văn hóa
Hà Nội đã giảng dạy cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian ba năm học qua để
hôm nay tôi có đủ tri thức hòan thành Luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cấp lãnh đạo phòng văn hóa của huyện Thường
Tín và lãnh đạo xã Nguyễn Trãi cùng các sư thầy trong chùa Đậu đã cung cấp cho tôi
những tài liệu thông tin để tôi làm Luận văn
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè và đặc biệt những người thân của
tôi đã cho tôi nguồn động viên tinh thần trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày 7 tháng 12 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Phương
Trang 7Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong Luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Phương
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với mỗi người dân đất Việt, khi nói đến hình ảnh ngôi chùa, ngọn tháp,
họ đều cho rằng đó là những hình ảnh thân quen và in đậm nhất trong tâm trí mỗi người Đó cũng là những di sản kiến trúc, danh thắng tạo nên sức hấp dẫn, nét quyến rũ cho mỗi vùng đất Đồng thời, ngôi chùa còn là nơi thờ Phật, nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, tinh thần, nơi ẩn chứa nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn bản sắc dân tộc Việt Nam qua các thời đại
Hà Nội – nơi trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, mảnh đất này được hình thành từ lâu đời Nơi đây chứa đựng nhiều tinh hoa văn hóa của dân tộc và lưu giữ được tương đối nhiều di tích lịch sử văn hóa có giá trị lịch
sử, mỹ thuật, kiến trúc, như chùa Trấn Quốc, chùa Tây Phương, chùa Thầy, chùa Hương ….và chùa Đậu cũng là một trong số các di tích có giá trị lịch sử, văn hóa của Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung
Chùa Đậu ở làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố 23 km về phía Nam
Chùa thờ Pháp Vũ, một vị nữ thần trong hệ thống Tứ Pháp - một tín ngưỡng bản địa của cư dân Việt cổ Ở tín ngưỡng này tồn tại cả linh khí dân tộc và cả sức mạnh truyền thống, phù hợp cho xã hội hiện tại và góp phần làm nên bản sắc riêng biệt cho Phật giáo Việt Nam Có thể nói tín ngưỡng Tứ Pháp là một trong những chỗ dựa về tâm linh của người Việt qua nhiều thời đại, chính vì lẽ đó mà nó tồn tại cho tới ngày nay Theo bia “tu tạo Pháp Vũ tự bi” dựng năm Dương Hòa thứ 5 (1639) đặt tại chùa thì chùa Đậu được xây dựng từ thời Lý, thế kỷ 11-12 Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đứng
Trang 9trước sự khắc nghiệt của thiên tai và những lần tu sửa, đến nay, kiến trúc của chùa chỉ còn lại dấu ấn chủ yếu của thời Lê - Nguyễn Trong quá trình tồn tại, ngôi chùa đã gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa của nhân dân địa phương cũng như các vùng phụ cận
Như vậy, chùa Đậu là một di tích kiến trúc tôn giáo có bề dầy lịch sử Thông qua các di vật còn lại trong di tích và quá trình tu sửa nó đã ẩn chứa trong mình những thông điệp của thời gian Việc Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia cho di tích chùa Đậu ngay từ năm 1964 đã khẳng định những giá trị tiêu biểu của di tích này
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã định hướng xây dựng nền văn hóa “ tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” tạo điều kiện thuận lợi cho sự bảo tồn các di sản văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII Với định hướng đúng đắn này, việc nghiên cứu về các di tích lịch sử văn hóa để tìm ra được những giá trị văn hóa tiềm ẩn trong mỗi di tích nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của di tích là một việc làm hết sức cần thiết Với lý do như vậy, là một cán bộ công
tác trong ngành văn hóa, tôi đã chọn đề tài “ Giá trị lịch sử văn hóa của
chùa Đậu – xã Nguyễn Trãi - huyện Thường Tín – thành phố Hà Nội” để
nghiên cứu Qua việc nghiên cứu những giá trị lịch sử, văn hoá còn lưu giữ trong một di tích tôn giáo cụ thể làm luận Văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Văn hóa học của mình để hiểu thêm về văn hóa Việt Nam Đồng thời, qua đề tài này cũng góp thêm một cái nhìn rõ hơn về tín ngưỡng thờ Tứ Pháp
ở chùa Đậu và sự bổ sung quan trọng của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ở đây cho
hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp ở các vùng khác trên đồng bằng Bắc bộ nước ta
Trang 10Trước Cách mạng tháng Tám chưa có một công trình nghiên cứu chuyên
khảo nào viết về đề tài mà luận văn đề cập tới Những bộ sử lớn như Đại Việt
sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên, Toàn Việt thi lục và Kiến Văn tiểu lục của Lê
Quý Đôn có nhắc đến tín ngưỡng thờ Tứ Pháp trong đó có nhắc đến chùa Đậu nhưng cả hai bộ sách chỉ nói tới chùa Đậu dưới dạng kể tên, không có sợ miêu
tả hay thống kê chi tiết gì Trong cuốn sách “Pagodes, temples et Maisons de
culte de Ha Dong” do nhà xuất bản HANOI IMPRIME RIE TON KINOISE
ấn hành năm 1932 [47], cũng có nói về chùa Đậu, với nội dung mô tả cảnh đẹp và ca ngợi nghệ thuật kiến trúc của di tích, đặc biệt trong cuốn sách này
có cung cấp về những hình ảnh của di tích chùa Đậu ở giai đọan này Tuy nhiên, đây chỉ là những mảng thông tin mang tính chất tư liệu, được trình bày dưới dạng biên niên sử hay có tính chất liệt kê Do vậy, chúng chỉ có giá trị về mặt sử liệu, chưa tập trung sâu sắc để phân tích và tổng hợp về giá trị lịch sử văn hóa của di tích chùa Đậu
Những nghiên cứu sớm nhất về chùa Đậu phải kể đến công trình dịch
âm và dịch nghĩa cho toàn bộ những tấm bia và cuốn sách bằng đồng hiện đang lưu giữ tại chùa Đậu của Viện Hán Nôm [10] Đây là một nguồn tư liệu khoa học đáng tin cậy và rất cần thiết cho việc nghiên cứu về diễn trình lịch
sử cũng như vai trò của chùa Đậu trong đời sống tinh thần của cư dân bản địa
và các vùng phụ cận Mặc dù vậy đây cũng chỉ là tài liệu để tham khảo nghiên cứu chứ ở đây chưa có sự phân tích hay trình bày sâu và đầy đủ về các giá trị tiềm ẩn trong di tích
Tiếp đến là hồ sơ khoa học về di tích chùa Đậu hiện đang được lưu giữ
ở Cục Di sản văn hóa và ở Ban Quản lý di tích và danh thắng Hà Nội Tuy nhiên, hồ sơ khoa học này chỉ cung cấp một cách khái quát về di tích chùa Đậu và những lần tu bổ, cũng như tổng thể kiến trúc và các di vật còn lưu giữ trong chùa
Trang 11Trong cuốn “Chùa Dâu và nghệ thuật Tứ Pháp” của tác giả Phan Cẩm
Thượng [43], cũng có nói đến chùa Đậu, nhưng chỉ là nêu tên và mô tả qua về ngôi chùa chứ tác giả chưa đi sâu vào khảo sát và nghiên cứu cụ thể
Trong cuốn “Di tích và thắng cảnh Hà Tây”, và cuốn “Thường Tín đất
danh hương”do Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây xuất bản [43]cũng có đề cập
tới di tích chùa Đậu, nhưng cũng chỉ là giới thiệu một cách khái quát về di tích chứ cũng chưa có sự phân tích hay đánh giá gì về di tích chùa Đậu
Ngoài những công trình nghiên cứu về di tích chùa Đậu đã nêu ở trên, còn phải kể đến một số bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nhiều năm qua Các bài viết này đề cập đến từng khía cạnh, ở từng góc
độ khác nhau của di tích chùa Đậu Ví dụ như bài viết “Tứ Pháp - Hệ thống
Tứ Pháp, thực trạng và suy nghĩ” của cố GS.TS Chu Quang Trứ trên tạp chí
Khảo cổ học 4/1992 [44], cũng có nói tới di tích chùa Đậu Hay bài viết
“Chùa Đậu, suy nghĩ khảo cổ học Phật giáo”của tác giả Nguyễn Duy Hinh
trên Tạp chí Khảo cổ học 4/1984 [20] Tuy vậy, những bài viết này nghiên cứu về chùa Đậu dưới góc độ khảo cổ học nên ít có các số liệu hay nhận định
cụ thể
Năm 1997, tác giả Lê Thị Kim Loan có đề tài luận văn Thạc sĩ “Tục thờ
Tứ Pháp của người Việt”, (qua khảo sát ở Bắc Ninh và các vùng phụ cận ) [29] có nói đến di tích chùa Đậu, nhưng cũng chỉ dừng lại ở góc độ nhận diện tục thờ Tứ Pháp ở di tích này mà thôi Cũng năm 1997, sinh viên Nguyễn Thị Minh Thu khoa Bảo tàng đã chọn di tích chùa Đậu làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Đại học của mình Ở đây tác giả đã nghiên cứu di tích chùa Đậu dưới góc
độ Bảo tàng học để tìm ra những giải pháp bảo tồn và phát huy tác dụng của di tích chùa Đậu chứ không nghiên cứu sâu sắc về giá trị văn hóa của di tích
Trang 12Có thể thấy, dù đã có khá nhiều tài liệu hoặc công trình lấy di tích chùa Đậu làm đối tượng nghiên cứu, song chưa có một công trình nào đi sâu vào phân tích, đánh giá cụ thể những giá trị lịch sử văn hóa chứa đựng trong di tích chùa Đậu Chính vì vậy, tác giả luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu nhằm làm sáng rõ hơn những giá trị của di tích chùa Đậu dưới góc độ Văn hoá học
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
Phân tích giá trị lịch sử - văn hóa của lễ hội chùa Đậu
So sánh di tích chùa Đậu với một vài di tích cùng thờ Tứ Pháp để tìm ra những sắc thái địa phương
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là di tích chùa Đậu, với các giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Đối với các giá trị văn hóa vật thể, luận văn nghiên cứu các giá trị kiến trúc, bao gồm kiến trúc chùa, điêu khắc: các mảng trang trí độc đáo, các di vật
Trang 13còn lưu giữ trong di tích… Bên cạnh đó, các bia đá, chuông đồng, sách đồng… cũng là những đối tượng khảo cứu của luận văn
Đối với các giá trị văn hóa phi vật thể, luận văn đặt vấn đề nghiên cứu lễ hội, cũng như vai trò của ngôi chùa trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của
cư dân địa phương và các vùng phụ cận
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu khảo cứu các nội dung có liên quan đến di tích chùa Đậu để lấy tư liệu, đồng thời mở rộng trong hệ thống thờ Tứ Pháp ở các vùng phụ cận có mối liên hệ với nhau trong một không gian văn hóa
Để hoàn thành luận văn, tác giả dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng
về xây dựng văn hóa, thể hiện cơ bản ở Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII
để tiến hành phân tích, đánh giá các vấn đề thuộc về nội dung của luận văn Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét đánh giá sự kiện, sự vật, di tích, di vật trong quá trình biến đổi và phát triển Dùng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học, kết hợp các lĩnh vực: lịch sử, bảo tàng học, dân tộc học, mỹ thuật, mỹ học…
Ngoài ra, để giải quyết các vấn đề đặt ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để khảo sát, điền dã để hệ thống hóa tư liệu
về di tích nhằm nêu bật được vấn đề cần nghiên cứu, đặc biệt là phương pháp
so sánh nhằm nhận diện được những sắc thái riêng mang bản sắc địa phương của di tích chùa Đậu
Phác họa cảnh quan địa lý và diện mạo lịch sử, văn hóa trên địa bàn di tích chùa Đậu
Trang 14Xác định giá trị lịch sử, văn hóa của di tích và vai trò của di tích chùa Đậu trong đời sống văn hóa cộng đồng
Thông qua việc nghiên cứu toàn diện những giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của di tích chùa Đậu để tìm giải pháp cho việc bảo tồn và phát huy tốt hơn những giá trị văn hóa đó
Ngoài ra, luận văn còn đóng góp thêm vào tư liệu nghiên cứu về góc độ văn hóa học của di tích chùa Đậu nói riêng và hệ thống chùa thờ Tứ Pháp ở vùng đồng bằng Bắc bộ nói chung
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Chùa Đậu trong diễn trình lịch sử
Chương 2: Giá trị văn hóa vật thể của di tích chùa Đậu
Chương 3: Giá trị văn hóa phi vật thể của di tích chùa Đậu
Trang 15Chương 1: CHÙA ĐẬU TRONG DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ
1.1 Diện mạo làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
1.1.1 Vị trí địa lý
Làng Gia Phúc xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, xưa thuộc huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Trấn Sơn Nam xưa kia thuộc quận Giao Chỉ, Đông và Bắc thông với Hải Dương, Thượng Kinh, Tây và Nam thông với Sơn Tây, Thanh Hoa Đấy là trấn thứ ba trong bốn kinh trấn và đứng đầu phên dậu phía Nam, có 9 lộ phủ, 36 huyện,
2059 làng xã Trong đó huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín có 57 xã, 1 lỵ
sở [45,tr30] Thời Lê Trung Hưng, trấn Sơn Nam chia làm trấn Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ Đầu triều Nguyễn, Gia Long lấy 2 trấn lệ thuộc vào Bắc thành Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), đổi Sơn Nam Thượng thành trấn Sơn Nam, Sơn Nam Hạ thành trấn Nam Định
Phủ Thường Tín nằm ở phía Bắc Sơn Nam, địa giới gần Trung Đô, các huyện đều nằm ven theo đường quan lộ, đất bằng rộng rãi, không có rừng núi ngăn cản Duy có dòng sông Tô (Lịch) quanh vòng trong hạt Ba huyện đều
có , tiếng văn học, nhưng huyện Thanh Trì, huyện Thượng Phúc thịnh hơn Những người học giỏi, bề tôi hiền nối tiếp sinh ra” [31,tr98] Phủ Thường Tín thời Bắc thuộc là quận Giao Chỉ, thời Lý Trần là châu Thượng Phúc, thời thuộc Minh đổi là châu Phúc Yên gồm 3 huyện: Bảo Phúc, Phù Lưu, Thanh Đàm Nhà Lê đặt làm phủ Thường Tín thuộc thừa tuyên Sơn Nam (sau đổi là trấn), gồm 3 huyện Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên [21, tr15] Theo
“Đất nước Việt Nam qua các đời” của học giả Đào Duy Anh, năm Minh
Trang 16Mệnh thứ 12 (1832) lấy 3 phủ Ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân trấn Sơn Nam
và huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây đổi lệ vào phủ Hoài Đức mà đặt tỉnh Hà Nội Tỉnh Hà Nội gồm 4 phủ, 15 huyện, trong đó phủ Thường Tín gồm 3 huyện Thượng Phúc, Thanh Trì và Phú Xuyên Năm 1888, thực dân Pháp lấy thành phố Hà Nội làm nhượng địa, hậu quả của việc ấy là dời tỉnh lỵ
Hà Nội đến xứ Cầu Đơ và đổi tên tỉnh Hà Nội thành tỉnh Hà Đông
Huyện Thượng Phúc thời Lý Trần thuộc châu Thượng Phúc lộ Đông
Đô, thời thuộc Minh đổi làm huyện Bảo Phúc thuộc châu Phúc Yên phủ Giao Châu Nhà Lê vẫn đặt làm huyện Thượng Phúc thuộc phủ Thường Tín
Đến triều Nguyễn, huyện có 12 tổng, gồm 82 xã, thôn
Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, huyện Thượng Phúc thuộc tỉnh Hà Đông, đổi tên là huyện Thường Tín
Năm 1953, bốn xã phía Nam huyện sáp nhập vào huyện Phú Xuyên Năm 1957, nhập thêm 3 xã của huyện Thanh Oai
Năm 1960, một số xã phía Nam huyện Thanh Trì được cắt về huyện Thường Tín khi huyện Thanh Trì sáp nhập vào Hà Nội
Hiện nay, huyện Thường Tín nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội Tổng diện tích tự nhiên 127,7 km2, phía Đông giáp sông Hồng, phía Tây giáp huyện Thanh Oai, phía Nam giáp huyện Phú Xuyên, phía Bắc giáp huyện Thanh Trì, gồm 1 thị trấn và 29 xã Huyện Thường Tín nằm trong lưu vực các con sông như sông Hồng ở phía Đông, sông Nhuệ ở phía Tây, sông Tô Lịch ở phía Bắc; địa hình đất đai bằng phẳng, phì nhiêu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp trồng lúa và các loại cây hoa màu
Xã Nguyễn Trãi được thành lập vào ngày 4 tháng 10 năm 1948, xã vinh
dự được mang tên nhà văn hóa uyên bác, nhà thơ, nhà quân sự, chính trị thiên tài Nguyễn Trãi
Trang 17Hiện nay, xã Nguyễn Trãi là một trong 29 xã, thị trấn của huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, đây là vùng đồng chiêm trũng, nằm dọc theo bờ sông Nhuệ và Quốc lộ 1A, xã có chiều dài khoảng 7 km, chiều ngang khoảng 3 km với tổng diện tích đất tự nhiên là 576,46 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 382,78 ha, đất thổ cư chiếm 42,89 ha, đất chuyên dùng chiếm 97,71 ha Xã Nguyễn Trãi giữ một vị trí quan trọng cả về mặt quân sự và kinh tế Xã nằm ở trung tâm phía tây huyện Thường Tín, cách trung tâm Thành phố Hà Nội 23
km về phía nam
Xã Nguyễn Trãi có phía bắc giáp xã Văn Phú, phía nam giáp xã Dũng Tiến, phía đông giáp xã Quất Động, phía tây giáp xã Tân Minh Xã Nguyễn Trãi được bao bọc bởi 3 con sông lớn, phía tây là sông Nhuệ, phía nam là sông Kim Ngưu, chảy dọc từ đông bắc tới tây nam cắt đôi xã là sông Hòa Bình Với địa hình như thế này, xã Nguyễn Trãi có đường giao thông thủy, bộ đều rất thuận lợi
Xã Nguyễn Trãi (cũ) gồm 11 thôn: Thụy Ứng, Văn Trai, Yên Phú, Tảo Môn, Lộc Dư, Hòe Thị, Đình Tổ, Mễ Sơn, Gia Khánh, Gia Phúc, Vĩnh Mộ Trước Cách mạng tháng Tám 1945, xã Nguyễn Trãi thuộc ba tổng:
Tổng La Phù gồm các thôn: Đình Tổ, Mễ Sơn, Lộc Dư, Hòe Thị, Gia Khánh, Gia Phúc
Tổng Nhị Khê gồm các thôn: Thụy Ứng, Văn Trai, Yên Phú, Tảo Môn Tổng Đông Cứu gồm các thôn: Vĩnh Mộ, Gia Phúc, Gia Khánh
Trước thế kỷ XVIII, người dân trong vùng gọi là xứ Hương Phúc bao gồm: Thượng Phúc, Hoành Phúc, Gia Phúc, Đình Phúc, Phúc Lộc nằm trong tổng La Phù huyện Thượng Phúc
Trang 18Sau cách mạng tháng Tám 1945, cùng với việc bảo vệ nền độc lập của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước xây dựng chính quyền mới, ngày 6 tháng 1 năm 1946 cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước bầu ra Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Theo quy định của Hiến pháp mới việc sắp xếp các xã theo địa danh cho phù hợp nên từ ba tổng thành
ba xã đó là xã Thượng Hiền, xã Minh Đăng, xã Minh Đức với 11 thôn gồm:
Xã Thượng Hiền có các thôn: Thụy Ứng, Văn Trai, Yên Phú, Tả Môn
Xã Minh Đăng có các thôn: Đình Tổ, Mễ Sơn, Lộc Sơn, Hòe Thị
Xã Minh Đức có các thôn: Gia Khánh, Gia Phúc, Vĩnh Mộ
Tổng diện tích của 3 xã cũ là 576 ha và dân số là 3620 người Đến ngày 04/10/1948 thì hợp nhất lại thành xã Nguyễn Trãi
Xưa kia, làng Gia Phúc thuộc tổng La Phù, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Ngày nay, làng Gia Phúc được đổi thành thôn Gia Phúc, và là một trong tám thôn của xã Nguyễn Trãi Cùng với thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi còn
có các thôn: Mai Sao, Vĩnh Mộ, Lộc Dư, Hòe Thị, Mễ Sơn, Đình Tổ, Xóm Bến
Về sự hình thành các thôn trong xã, trong nhân dân còn lưu truyền một truyền thuyết: tương truyền rằng nhà sư trụ trì chùa Am là một đứa trẻ bị bỏ rơi ở mạch nước thôn Hòe Thị, mạch nước ấy ngày nay người ta khơi ra thành giếng Giao Nhân dân địa phương khi phát hiện có đứa trẻ bị bỏ rơi, đầu tiên
là thôn Hòe Thị các cụ chức sắc trong làng bàn nhau đem đứa trẻ về nuôi cho nên gọi là Thượng Phúc có nghĩa là đầu Thôn Lộc Dư và thôn Đình Tổ được hàng Tổng phân bổ đem tiền của nuôi dưỡng, có bụng tốt gọi là Hoành Phúc,
có nghĩa là bụng Đứa trẻ được mang về chùa Đậu được gọi là kỳ duyên với chùa, nhân dân thôn Gia Phúc, Gia Khánh ngày nay ra trông nom, giúp đỡ làm việc phúc gọi là Gia Phúc Khi nhà sư chùa Am đến tuổi về già, đúng vào
Trang 19năm khô hạn cả vùng không có nước cho nông nghiệp, đồng ruộng khô hạn, trong một đêm nằm chiêm bao nhà sư được thần báo mộng hãy lên mạch nước ngầm nơi ngươi sinh ra khơi ra thành giếng thì sẽ cứu được hạn Nhà sư cầm gậy thiết trượng đi từ chùa Đậu men theo sông Nhuệ lên đến khu vực giếng Giao ngày nay là chỗ nhà sư sinh ra và bị bỏ rơi ở đó, quả nhiên thấy dòng nước phun trào Nhà sư kêu gọi nhân dân địa phương khơi thành giếng đem nước tưới cho ruộng đồng và sinh hoạt Từ đó người ta gọi là giếng bà Giao Giao có nghĩa là Thánh Mẫu đã giao người con núp dưới cửa thiền và
độ cho chúng sinh tìm được mạch nước tưới ruộng đồng tốt tươi, chống hạn hán Cũng đồng thời tại vị trí giếng Giao người ta xây một ngôi đền, ngôi đền hiện nay vẫn còn những cây đa, cây muỗm có chu vi đến năm, sáu người ôm, chứng tỏ rằng ngôi đền đã có từ rất lâu, người ta gọi là đền Ông, ngày nay đền Ông thờ Tiến sĩ Dương Trực Nguyên
Sau cải cách ruộng đất, xã Nguyễn Trãi lại chia thành hai xã là xã Nguyễn Trãi và xã Văn Phú
Xã Nguyễn Trãi ngày nay gồm tám thôn và một xóm đó là các thôn: Mễ Sơn, Đình Tổ, Lộc Dư, Hòe Thị, Vĩnh Mô, Gia Khánh, Gia Phúc, Mai Sao và xóm Bến thuộc thôn Đình Tổ Ngày 1 tháng 8 năm 2008, khi sát nhập Hà Tây với Hà Nội, xã Nguyễn Trãi thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội Thôn Gia Phúc nằm ở phía nam của xã Nguyễn Trãi, giáp với thôn Gia Khánh, thôn Vĩnh Mộ Về diện tích, thôn Gia Phúc lớn thứ ba trong cả xã, sau thôn Gia Khánh và thôn Đình Tổ
Về vị trí địa lý, thôn Gia Phúc cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 24km về phía nam, cách thị trấn Thường Tín khoảng 2,5km, giao thông đường bộ rất thuận lợi Từ Trung tâm Hà Nội đi theo đường quốc lộ 1A đến
Trang 20thị trấn Văn Điển sau đó đi theo đường quốc lộ 1A đến km22 rồi rẽ phải đi tiếp khoảng 1,5km nữa là tới làng Gia Phúc, nơi có chùa Đậu
1.1.2 Thành phần dân cư
Xã Nguyễn Trãi bao gồm 2382 hộ với 8534 nhân khẩu (theo thống kê của xã Nguyễn Trãi năm 2009), là vùng đất gần với Thủ đô Hà Nội nên ở đây
từ lâu đã có nhiều dòng họ lớn sinh sống, đến nay vẫn còn gia phả và nhà thờ
họ Ví dụ: thôn Hòe Thị có dòng họ Dương, trong họ có Dương Trực Nguyên
đỗ Tiến sỹ năm Hồng Đức thứ 21 (1490) khi mới 33 tuổi Ông đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng nối tiếp nhau trong 19 năm làm quan và là một trong số 28 người được Vua Lê Thánh Tông chọn vào hội Tao đàn Bên cạnh
họ Dương, còn có họ Lê ở thôn Mễ Sơn cũng là dòng họ lớn đến lập ấp ở đây khá sớm Dòng họ Lê có ông Lê Huy Canh đỗ Tiến sỹ ở thế kỷ 19
Ở thôn Mễ Sơn còn có dòng họ Vũ, họ Trần, họ Tạ cũng đến đây từ rất sớm Thôn Mai Sao có họ Lê, họ Phạm, họ Nguyễn Thôn Gia Khánh có họ Trần, họ Nguyễn, họ Phạm Thôn Gia Phúc có họ Lê, họ Vũ, họ Tạ, họ Trần Thôn Vĩnh Mộ có họ Đỗ, họ Nguyễn, họ Tạ Xóm Bến có họ Dương, họ Tạ,
họ Nguyễn Thôn Lộc Dư có họ Trần, họ Đinh, họ Lê, họ Đăng là các dòng
họ lớn cũng đến đây lập ấp từ rất sớm Thôn Gia Phúc có họ Lê, họ Tạ, họ Trần, họ Vũ Đặc biệt, dòng họ Vũ này đã sinh ra hai người con là Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường là hai người đã từng trụ trì tại chùa Đậu và đã để lại toàn thân xá lợi trong chùa và hiện nay được thờ tại nhà Tổ của chuà
Về tổ chức chính quyền của xã thời phong kiến: cũng giống như tổ chức chính quyền của các thôn, xã khác thuộc đồng bằng Bắc bộ, người đứng đầu
xã là chức xã trưởng, xã trưởng chịu trách nhiệm trước cấp huyện, quản lý
điều hành toàn dân trong xã, thực hiện mọi chế độ, chính sách do cấp trên
truyền xuống Giúp việc cho xã trưởng có hương trưởng, có tri bạ giúp giữ sổ
Trang 21sách về đinh điền, thuế khóa….ở cấp thôn thì có thôn truởng đứng đầu, không
có cấp phó mà có tổng cán và thủ phiên giúp việc an ninh và trùm thôn giúp
việc quan hôn tang tế….Trên danh nghĩa, thôn không có hội đồng gì theo quy chế Nhà nước, nhưng thôn trưởng muốn xin ý kiến có thể mời quan viên hàng thôn và các trưởng tộc họp tại đình để bàn bạc Dưới thôn là đến cấp xóm, mỗi xóm có một trùm xóm gọi là ấp trưởng truyền đạt mọi chủ trương, mệnh lệnh của cấp trên xuống dân xóm để biết và thi hành Dưới cấp xóm là đơn vị giáp, các thành viên của giáp chỉ dành riêng cho nam giới và mang tính chất cha truyền con nối, tức cha ở giáp nào thì con cũng vào giáp ấy Tập quán đã định sẵn, khi người con trai được sinh ra, phải được xin ghi ngay họ tên vào
Sổ giáp Muốn đạt được điều đó, bố mẹ người con trai phải sửa một lễ mọn
trình Trùm giáp gồm có 12 miếng trầu, 1 chai rượu Khi đã được ghi danh vào
sổ giáp, mỗi thành viên lần lượt phải thực hiện nghĩa vụ theo yêu càu của giáp Đứng đầu giáp là ông trưởng giáp tục gọi là cai giáp và hội đồng giúp việc do người trong hàng giáp bầu nên Người dân trong xã Nguyễn Trãi trong những năm thời kỳ phong kiến, mỗi thôn được chia thành từ 3 đến 5 giáp, có thôn lại chia mỗi giáp thành 2 đến 3 phe Hoạt động chủ yếu là kỳ hào, lương mục, lý trưởng, chánh tổng điều hành cơ chế hành chính ở địa phương
Sau Cách mạng tháng Tám, Đảng bộ xã Nguyễn Trãi đã lãnh đạo nhân dân xây dựng củng cố chính quyền và kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 – 1954), vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), và từ 1986 đến nay đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Hiện nay, tuy xã Nguyễn Trãi đã xây dựng cơ cấu tổ chức theo quy chế mới nhưng trên phương diện nào đó chính quyền ở đây vẫn bảo lưu được chế
độ của làng xã cổ Khi trong xã có việc quan trọng đều mời đại biểu ở các
Trang 22làng đến họp và bàn bạc Ở các thôn cũng vậy, nếu có việc hệ trọng đều mời các cụ cao niên trong làng ra đình bàn bạc Đây là một truyền thống quý báu, thể hiện tinh thần dân chủ, phát huy sức mạnh tập thể mà chúng ta cần bảo tồn
1.1.3 Đời sống kinh tế
Kinh tế nông nghiệp vẫn là nền kinh tế cơ bản của người dân Nguyễn Trãi từ xưa đến nay, nhưng do điều kiện tự nhiên ở đây không được tốt cho nông nghiệp, nên nông nghiệp phát triển không được thuận lợi
Loại cây trồng chủ yếu ở đây là lúa và rau, nhưng vì là vùng chiêm trũng nên thường xuyên xảy ra mất mùa Trước kia, ở đây thường chỉ cấy 1
vụ /năm, bởi đây là vùng đất “chiêm khê, mùa thối” sản lượng cũng thấp, chỉ thu được từ 30 đến 40 kg /sào
Sau Cách mạng tháng Tám, hệ thống sông Nhuệ được cải tạo, cùng với việc xây mới hệ thống mương máng trong toàn xã nên nhân dân đã cấy được hai vụ lúa một năm Cùng với việc đưa thiết bị máy móc, giống mới vào nông nghiệp, năng suất lúa không ngừng tăng, từ năm 1977 đến nay năm nào sản lượng lúa của xã cũng đạt trên 12 tấn/ ha/ năm
Ngoài việc đồng áng, những lúc nông nhàn người dân xã Nguyễn Trãi còn làm thêm các nghề thủ công, tiểu thương Nghề thủ công ở đây tương đối phát triển, thu hút một lượng lớn lao động trong toàn xã: Nghề mộc là nghề được chú trọng phát triển và chiếm một vị trí không nhỏ trong đời sống kinh
tế của người dân nơi đây Các thôn trong xã thôn nào cũng có đình, mà Thành hoàng làng được thờ nơi đây là ông tổ nghề mộc Sản phẩm mộc của xã Nguyễn Trãi nổi tiếng khắp vùng Hà Tây và cả ở các vùng lân cận với tay nghề kỹ thuật cao, đa dạng loại hình sản phẩm như: bàn, ghế, tủ, giường nên sản phẩm mộc của người dân ở đây rẩ được nhiều người ưa chuộng
Trang 23Nghề thêu ren cũng phát triển ở khắp các thôn Hiện nay, ở thôn Gia Phúc hầu như tất cả các hộ gia đình đều làm nghề thêu ren với nhiều sản phẩm đẹp, mẫu mã đa dạng như quần áo, cặp, ví, túi xách… Các sản phẩm của nghề thêu ren được tiêu thụ ở khắp cả nước và xuất khẩu đi một số nước trên thế giới Do vậy, đây cũng là một trong những nghề mang lại đời sống kinh tế khá giả cho các gia đình trong thôn Gia Phúc nói riêng và cho cả xã Nguyễn Trãi nói chung Nghề thêu ren thu hút nhân lực chủ yếu là phụ nữ Bên cạnh việc làm nông nghiệp và làm nghề thủ công, ở xã Nguyễn Trãi còn có một bộ phận nhỏ người dân làm nghề chăn nuôi theo kiểu mô hình vườn, ao, chuồng Đó là một số hộ đứng ra đấu đất của xã để làm, họ làm hồ nuôi thả cá, vịt, trên vườn trồng các loại cây ăn quả và kết hợp xây chuồng nuôi lợn Đây cũng là một mô hình làm kinh tế mang lại nguồn thu tương đối lớn cho người dân ở đây
Chính sự phát triển của nông nghiệp cùng với các ngành nghề thủ công
và tiểu thương, lại có lợi thế giáp Thủ đô, nên đời sống kinh tế của người dân
xã Nguyễn Trãi nói chung phát triển rất rõ rệt, trong đó thôn Gia Phúc phát triển nhất so với cả xã Năm 1945, toàn thôn chỉ có một nhà cao tầng, đến khi cải cách ruộng đất bị quy là địa chủ và trong thời gian này cả thôn chỉ có một chiếc xe đạp, 100% dân trong thôn không có đài để nghe Nhưng đến nay, đời sống kinh tế trong thôn đã phát triển lên rất nhiều, cả thôn có tới 80% là nhà cao tầng, hơn 90% hộ gia đình có xe máy đi, 100% hộ gia đình có tivi, có hộ gia đình còn sắm được cả ôtô đắt tiền Tất cả các đường và ngõ xóm xưa kia lát bằng gạch chỉ bị hỏng, thì nay đã được trải nhựa hoặc bê tông
* Sinh họat văn hóa tinh thần
Trang 24+ Các lễ tiết trong năm: Cũng như các vùng quê khác, lễ tiết truyền thống như tết Nguyên đán, tết Hàn thực, tết Thanh minh, tết Đoan ngọ, tết Trung nguyên, tết Trung thu… đều hiển diện như một phần tất yếu trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây Vào ngày tết Nguyên đán, những người con dù có đi công tác hay đi buôn bán làm ăn nơi đâu cũng đều trở về quê ăn tết sum họp cùng gia đình Ngày tết Hàn thực, hầu như gia đình nào cũng tự làm bánh trôi, bánh chay để cúng tổ tiên, ông bà Một số gia đình ở thôn Gia Phúc còn làm cả mâm bánh mang ra chùa cúng Phật, cúng thánh Pháp Vũ, mang vào đình cúng Thành hoàng Ngày tết Trung thu, ở cả xã và thôn đều quan tâm tổ chức cho các cháu vui chơi, cắm trại và phát quà cho các cháu + Phong tục tập quán: Các phong tục tập quán ở đây mang đậm dấu ấn địa phương Ở đây xưa kia có một phong tục khá đặc sắc đó là tục vái Thần Nông để hạ điền Hàng năm đến ngày mồng 2 tháng 6 âm lịch, chọn thửa ruộng đã cày bừa kỹ, mời bà con nông dân quây quần quanh ruộng làm lễ hạ điền Họp đủ, làm lễ rước Thần Nông, có trống chiêng, cờ ngũ hành Làng chọn cử một lão nông cao tuổi, có sức khỏe đại diện dân làm lễ Vị lão nông chít khăn đầu rìu, mặc áo màu đỏ, cầm một đoạn tre cắm vào giữa ruộng, sau
đó khấn Thần Nông cầu xin cho mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa Lễ xong ông tháo bó mạ cấy làm phép Người lớn, trẻ nhỏ đứng trên bờ hò reo, té nước tới tấp khiến lão nông ướt đầm đìa cả người Tuy bị ướt nhưng ông vẫn tươi cười vui vẻ
Xưa kia, trong thôn Gia Phúc còn có tục kiêng húy, do chùa Đậu thờ Pháp Vũ (còn gọi là Bà Đậu) nên người dân trong thôn kiêng không gọi phụ
nữ là “bà” để tránh không nhắc tới Bà mà người ta gọi sang là “mụ” Như vậy
đủ thấy hình ảnh Pháp Vũ đã in đậm trong tâm thức những người dân nơi đây như thế nào
Trang 25Phong tục cưới xin ở làng Gia Phúc xưa kia cũng giống như ở những làng quê khác vùng đồng bằng Bắc bộ, hôn nhân là do cha mẹ quyết định Nét đặc biệt trong nghi lễ hôn nhân ở làng Gia Phúc xưa kia là có tục con gái trong làng đi lấy chồng nơi khác là phải lát gạch chỉ đường làng, đường xóm Việc lát đường làng, đường xóm này có quy định trong hương ước của làng Ngày nay, tất cả các phong tục này đều đã bị bỏ, người dân làng Gia Phúc sống theo nếp sống văn minh hiện đại
ngưỡng, tôn giáo
Sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở xã Nguyễn Trãi thì gần như mỗi làng đều có chùa thờ Thành hoàng Đặc biệt ở đây người dân hoàn toàn theo Phật giáo nên trong xã không có nhà thờ Thiên chúa giáo Cả xã Nguyễn Trãi, thôn nào cũng có chùa, đình, đền, miếu Qua đó chúng ta có thể thấy rằng tín ngưỡng tâm linh của nhân dân trong vùng luôn giao hòa thường nhật trong đời sống tinh thần của họ
Người dân ở đây rất tôn sùng đạo Phật Có thể thấy Phật giáo có một vai trò rất lớn trong sinh hoạt tinh thần của người dân Do vậy, từ rất lâu trên mảnh đất cổ này đã mọc lên rất nhiều ngôi chùa Ngoài chùa Đậu ở thôn Gia Phúc, hầu như ở thôn nào cũng có chùa, như chùa Phúc Lộc ở thôn Lộc Dư Chùa Minh Quang ở thôn Mễ Sơn, chùa Quang Tự ở thôn Vĩnh Mộ, chùa Tó
Tự ở thôn Đình Tổ Chùa nào cũng có các sư trụ trì trông coi Mỗi thôn đều
có các vãi già thường xuyên đến chùa quét dọn vệ sinh, nên ngôi chùa nào trong xã cũng có vườn, sân sạch sẽ
Bên cạnh Phật giáo là tín ngưỡng thờ Thành hoàng cũng được người dân
ở đây rất tôn sùng Đặc điểm của các Thành hoàng ở xã Nguyễn Trãi đều là các nhân thần có công với dân với nước
Trang 26Tại làng Thượng Phúc cũ thuộc thôn Hòe Thị có ngôi đình thờ Tiến sỹ Dương Trực Nguyên là Thành Hoàng làng, nhưng sau chiến tranh đình không còn, dân làng đem bài vị, ngai thờ và chín đạo sắc phong của Tiến Sỹ Dương Trực Nguyên về thờ chung ở đền Ông Trong chín đạo sắc đó, đạo xưa nhất
có niên đại Cảnh Hưng thứ nhất ( 1740 ), đạo sắc có nội dung phong phú nhất
có niên đại Tây Sơn Cảnh Thịnh thứ nhất (1739) Tiến sỹ Dương Trực Nguyên là người có tài văn võ, là người đuợc vua Lê Thánh Tông xếp vào hàng 28 vị sao sáng của Văn đàn Việt Nam, là người được nhắc tới trong nhiều bộ sử, như trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư đã có 17 lần nhắc tới ông với nhiều tư cách: Một ông quan thanh liêm; một bề tôi trung thực; một cá nhân luôn nghĩ tới lợi ích cộng đồng; một danh sỹ…ông cũng là người được
sử gia Phan Huy Chú xếp vào danh sách 42 người tiết, nghĩa đời Lê Năm
1492 ông được bổ chức Hàn lâm hiệu lý rồi được thăng Hiến sát sứ Hải
Dương, năm 1494 ông được chọn vào nhóm “ Thập nhị bát tú ”, đến năm
1499 ông được cử làm Phủ doãn Phủ Phụng Thiên Năm 1501 hết đời vua Lê Hiến Tông, ông lần lượt làm Thị Lang bộ Công, bộ Hình, bộ Binh, bộ Lễ và cũng trong thời gian này để giúp dân huyện Thượng Phúc vùng ven sông Nhuệ khỏi bị hạn và lụt ông tâu với vua cho đắp đê từ Trát Kiều đến Cống Xuyên và khai cừ từ An Phúc đến Thượng Phúc
Ở thôn Vĩnh Mộ có đền và chùa Vĩnh Mộ được dựng gần nhau trên một
gò đất cao, quay ra cánh đồng rộng Tiền thân của ngôi đền xa xưa là miếu Thánh Mẫu, miếu Thánh Mẫu được dựng ngay trên mảnh đất mà bà Khúc Thị Ngọc hóa Miếu dựng ban đầu nhỏ, bé, lợp tranh tre sơ sài, xung quanh là đồng chiêm trũng, song lúc nào cũng hương khói ấm cúng Dân làng tôn bà Khúc Thị Ngọc là Thánh Mẫu và lưu truyền thánh tích đến muôn đời Tương truyền về sự tích bà Khúc Thị Ngọc rằng, một hôm công chúa Quỳnh Hoa tức
bà Thánh mẫu, chính tên là Khúc Thị Ngọc đi thuyền rồng dạo chơi ở Hồ Tây
Trang 27thì gặp mưa to, bà liền vào chùa Trấn Quốc thỉnh chuông niệm Phật Khi tiếng chuông thỉnh lên thì tự nhiên từ Hồ Tây có một con Trâu vàng hiện lên xin được theo hầu bà Bà bèn rời chùa, xuống thuyền theo dòng Kim Ngưu vươn tới Trâu vàng băng lên, rẽ nước, dẫn lối cho bà Lạ thay, thuyền rồng của bà lướt tới đâu thì lạch nước bỗng thành sông, bãi lầy, thành đồng ruộng, rồi làng xóm, chùa chiền cứ theo đó mọc lên Thuyền rồng của bà qua các địa phận: Sở Thượng, Sở Hạ, Phương Quế, Phú Cốc, Quất động, Nguyên Bì…rẽ
ra khu chợ Cồn, vào khu Tam Xá thì thuyền bà dừng lại Nơi thuyền bà dừng lại nay là khu ruộng Kỳ Tại ( hay còn gọi là khu Cổ Chày ) bây giờ Sau đó thuyền bà tiếp tục đến Gia Phúc, qua cửa Chùa Đậu ( nay là khu Đầm Đậu ) thì rẽ vào khu Đầm Mâu nơi có Trẩm thiên tạo phong cảnh hữu tình, kín đáo Thấy làn nước Trẩm trong xanh, mát mẻ, bà liền xuống Trẩm tắm Trẩm thiên tạo không còn song dấu tích còn lại là khu ruộng đầm Mâu hiện nay chạy dài tới 3 - 4 km Ba tháng mười ngày sau khi bà Chúa hóa, dân làng được thần báo mộng Thương tiếc và nhớ ơn, dân làng tôn thờ bà là Thánh Mẫu, đắp lăng, dựng miếu, hương khói bà ngay chính nơi bà đã hóa Đền sơ khai chỉ là một căn nhà tranh bé nhỏ Sang triều Lý khi vua lý Thái Tổ lên ngôi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long bèn sắc cho dân chúng trong thành tôn tạo, xây dựng đình, chùa, miếu , mạo Nhân đó dân ba làng Vĩnh Mộ, Cổ Chất, Phương Cù,
kẻ ít người nhiều gom góp xây lên thành ngôi miếu hình ngai bà để thờ bà Đến triều Lê, miếu Thánh Mẫu lần đầu tiên được tôn tạo Nhà hậu Lê xét công trạng của Bà, ban sắc phong thần cho Bà, tiếc rằng sắc phong này đến nay không còn
Hiện nay trong đền còn lưu tấm biển sơn son thếp vàng đề bốn chữ
“Lịch triều phong tặng” là dấu tích của lần phong tặng ấy
Trang 28Tháng Giêng năm Kỷ sửu, niên hiệu Thành Thái nguyên niên (1889),
triều đình ban sắc phong cho bà là “Khúc Thị Ngọc công phu nhân chi thần”
Ngày 11 tháng 8 năm Kỷ Dậu, niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 (1919), vua sắc phong cho bà là “Dực bảo trung hưng linh phù Khúc Thị Ngọc công phu nhân chi thần”
Ngày 25 tháng 7 năm Giáp Tý, niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1424), sắc phong tôn thần “hộ quốc tý dân” ( bà chúa linh thiêng, có công giúp nước, che chở, bảo hộ dân ) Đồng thời lại gia tăng cho bà là “trinh uyển tôn thần” (
Bà chúa tiết hạnh, thuần hậu, nữ thần đáng kính), từ đấy đền bà càng được chăm chút và tên bà được nhiều người biết đến
Hàng năm cứ đến ngày 15 tháng 3 (âm lịch) đã thành lệ xưa nhân dân ba làng Vĩnh Mộ, Cổ Chất, Phương Cồ mở hội đền, lấy đền Vĩnh Mộ làm nơi
mở hội chính Trong lễ hội thưòng có rước kiệu Thánh giữa ba làng rất đông vui
Để khắc ghi công đức, sự nghiệp của Bà, vào năm Mậu Dần triều vua Bảo Đại (1938) cùng với việc trùng tu lớn ngôi đền, Hội tư vấn toàn khu đã làm bài ký cho khắc gỗ sơn son thếp vàng, đồng thời làm bài thơ ngũ ngôn ca ngợi công đức của Bà khắc trên bức cuốn thư được chạm khắc tinh xảo rất đẹp
Tại làng Gia Phúc cũng có ngôi đình mang tên đình Đậu Đình Đậu được xây ngay gần chùa Đậu Hiện nay, đình Đậu là một tòa nhà có kiến trúc mới được dựng vào năm 1950, sau khi bị giặc Pháp đốt cháy cùng chùa Đậu năm 1947 Đình Đậu thờ ông tổ của nghề mộc và cũng là nơi sinh hoạt văn hóa của dân làng Gia Phúc
Nho giáo cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của người dân nơi đây Ta thấy, hình bóng Nho giáo ở đây được thể hiện trong tổ chức làng xã,
Trang 29trong tổ chức trật tự chặt chẽ của phe giáp, trong các công việc của làng Chẳng hạn như việc khiêng kiệu trong ngày lễ hội ở làng phải là nam giới, nữ giới không được làm việc này Hay trong việc tổ chức ở các dòng họ cũng vậy, khi có việc họ chỉ có nam giới đến nhà thờ họ bàn việc và ăn cỗ, hoặc khi thu các khoản tiền để lo việc của dòng họ thì cũng chỉ thu tiền của con trai mà không thu của con gái
1.2 LỊCH SỬ XÂY DỰNG Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của chùa Đậu
1.1.5 Lịch sử xây dựng chùa Đậu
Chùa Đậu nằm trên bãi đất nổi, với thế đất tựa như hình hoa sen đang
nở, xung quanh là cánh đồng lúa Tổng diện tích trên khu đất của chùa rộng
18500 m2 nằm riêng biệt cuối làng nên chùa Đậu có một không gian rất thoáng đãng Từ khi ra đời cho tới nay chùa Đậu có 5 tên gọi đó là: Thành Đạo Tự, Pháp Vũ Tự, chùa Vua, chùa Bà, chùa Đậu
Theo các thư tịch cổ, sở dĩ chùa có tên Thành Đạo Tự vì thời Sĩ Nhiếp (200 – 210 TrCN) có lần thấy có luồng sinh khí thổi đến từ phía nam kinh thành, liền sai Quách Thông, một đại thần trong triều lần theo luồng khí đó
mà về tới đất Gia Phúc Thấy thế đất ở đó rất lạ, tựa dáng một bông hoa sen đang nở, tỏa sáng khắp vùng Quách Thông liền về tâu lại Sĩ Nhiếp cho rằng
hoa sen là nơi đất Phật liền cho xây dựng chùa và đặt tên là Thành Đạo Tự
Tên gọi Pháp Vũ Tự ra đời sau khi chùa rước tượng Pháp Vũ về thờ, và cũng bởi Pháp Vũ hiện thân là nữ nên dân trong vùng gọi là chùa Bà
Cái tên chùa Vua ra đời là do chùa được vua chọn đất xây dựng và ban đầu chùa chỉ dành cho các bậc vua chúa đến lễ, người dân chỉ được vào lễ
trong ba ngày hội nên cư dân ở đây quen gọi là chùa Vua
Trang 30Còn tên chùa Đậu xuất hiện là bởi người dân ở đây cho rằng các bậc trí
sĩ đến cầu nghiệp lớn được đậu đạt, người nông dân đến đây cầu cho có sức khỏe, cho cây đơm hoa kết trái, mùa màng bội thu đều được như nguyện.Đặc biệt, chùa Đậu đã từng được các triều đại vua, chúa tới lễ bái, cầu đảo, cầu
cho quốc thái dân an đều rất linh ứng Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng tên chùa
Đậu là nằm trong hệ thống tên gọi của các bà Tứ Pháp, đó là tên của các bà Dâu, bà Đậu, bà Tướng, bà Dàn chứ không hẳn như quan niệm dân gian đã nói ở trên Mặt khác, chữ Đậu còn là chữ rút gọn từ chữ Thành Đạo
Theo truyền thuyết, chùa Đậu được xây từ thời Sỹ Nhiếp (khoảng thế kỷ thứ III) Tuy nhiên, theo tư liệu khắc trên bia “Tu tạo Pháp Vũ tự bi’ dựng năm Dương Hòa thứ năm (1639) đặt tại nhà tả vu thì chùa Đậu được xây dựng
từ thời Lý thế kỷ XI – XII
Từ khi khởi dựng cho tới nay,chùa Đậu luôn được tu bổ, mở mang.Dưới thời vua Lê Thần Tông (1649 – 1668), chùa Đậu được vua phong tặng là “Đệ nhâst danh lam” (Danh lam số một của nước Nam)
Trải qua bao thời gian và mưa nắng, cùng với những biến động về lịch
sử, xã hội, chùa Đậu không còn nguyên vẹn mà đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa Quy mô to lớn và diện mạo của ngôi chùa thời điểm khởi dựng thế nào, đến nay chúng ta chỉ có thể nhận biết được qua một số chi tiết kiến trúc
và di vật còn lại
Với bố cục mặt bằng hiện nya, có thể thấy chùa Đậu có kết cấu theo kiểu “nội công ngoại quốc” Nhìn tổng thể các đơn nguyên kiến trúc, ta thấy nền của tòa Thượng điện còn lại được xây trên một cấp nền cao hơn hẳn so với nền của các kiến trúc khác khoảng 0,9m và nền còn được bó vỉa bằng gạch, đá Với đặc điểm này, ta thấy chùa Đậu gần gũi với những ngôi chùa được xây ở thời Trần Chùa làng thời Trần thường có nền được tôn cao hơn
Trang 31mặt đất bình thường từ 0,7 m đến xấp xỉ 1,2m, mặt nền hình chữ nhật
…Thông thường, nền được vỉa bằng đá khối hoặc gạch [6, tr.85]
Ngoài đặc điểm còn lại trong kiến trúc, những hiện vật có niên đại sớm nhất còn lưu giữ tại chùa Đậu như rồng đá ở cửa Tiền đường, chồn đá ở cửa gác chuông, sấu đá ở Thượng điện đều có những đặc điểm của thời Trần Do vậy, chúng ta có thể cho rằng chùa Đậu đã có từ thời Trần
Tuy nhiên, dấu ấn còn lại ở chùa Đậu cho tới ngày nay mang đậm phong cách của thời Lê và thời Nguyễn Dấu ấn đó được thể hiện trên kiến trúc của một số hạng mục và một số các di vật của những thời kỳ đó Những mảng chạm khắc trên gác chuông, trên các cốn ở Tiền đường mang đậm phong cách
mỹ thuật thời Lê Những mảng chạm ở hành lang và Hậu đường lại mang phong cách Nguyễn Ngoài ra, một vài bia đá có ghi ngày tháng niên đại khắc
là ở thời Lê, rồi chuông đồng ở thời Nguyễn
1.1.6 Quá trình tồn tại của di tích chùa Đậu
Tìm hiểu quá trình tồn tại và thay đổi của di tích qua các thời kỳ lịch sử chính là con đường đưa ta ngược dòng lịch sử để trở về quá khứ của dân tộc Bởi bản thân di tích là nơi phản ánh đậm nét những hoạt động xã hội qua các thời kỳ lịch sử xã hội khác nhau Mặt khác, di tích còn lưu giữ những thông tin về chính trị, kinh tế, xã hội mà chủ yếu là hình thái tư tưởng tôn giáo của
xã hội hay địa phương trong những giai đoạn cụ thể
Từ lúc khởi dựng, trải qua thời gian, chùa Đậu đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần Điều đó được thể hiện trên văn bia và dấu tích trùng tu ở chùa
Trang 32Như tấm bia dựng năm Dương Hòa thứ 5 (1639), có tên “Tu tạo Pháp
Vũ tự bi’ đã ghi chép rất rõ: “Tháng 10 năm Bính Tý (1636), bà Ngô Thị Ngọc Nguyên vợ của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng đứng ra làm hội chủ hưng công, xuất kho nội phủ và tiền của tư nhân cho phạt mộc, khởi công dựng hai tòa Tiền đường và Thiêu hương, bồi đắp chỗ hư hỏng Hai năm sau công việc hoàn thành, lúc này quy mô rộng lớn, xà ngang dọc chạm trổ, tượng được sơn son thếp vàng đã trở thành một ngôi chùa bề thế hơn gấp mấy so với thời trước” Rất có thể đây là lần chùa Đậu được tu sửa lớn nhất Bởi dấu vết của những họa tiết chạm khắc tinh xảo ở kiến trúc Gác chuông và ở Tiền đường còn lại đến ngày nay là những minh chứng cụ thể cho đợt trùng tu lớn này Và ở thời kỳ này, chùa Đậu đã trở thành nơi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và cầu đảo của tầng lớp vua quan và quý tộc triều Lê - Trịnh Có lẽ bởi thế nên tên gọi chùa Vua cũng xuất hiện trong giai đoạn này Sử sách còn ghi rõ nhiều lần gặp khi đại hạn, triều đình Lê - Trịnh đều cho rước tượng thần Pháp Vũ ở chùa Đậu về phủ Chúa tế lễ, cầu đảo và rất linh thiêng
Cũng trong tấm bia này còn khắc rõ rằng, năm Kỷ Mão (1639), lại làm lại tòa Hậu đường, vật liệu được dùng toàn bằng gỗ tốt
Tấm bia dựng năm Dương Hòa thứ 7 (1641), cũng có ghi rõ “tu tạo điện Lưu Quang” Trên tấm bia có ghi: Vương phủ cung tần Đào Thị Ngọc hiệu Diệu Viên, người xã Thượng Cẩm huyện Tây Quan, phủ Thái Bình Con trai
là phó tướng khuê quận công Trịnh Quyền, con gái là quận chúa Trịnh Thị Ngọc Xuân, Trịnh Thị Ngọc Lẫm cúng vàng 13 dật làm một tòa điện lưu quang chùa Pháp Vũ và dựng hành lang am chùa
Chùa Đậu tiếp tục được trùng tu, sửa chữa vào thời Cảnh Hưng Trong
tấm bia đá “Hậu Phật bi ký” dựng năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751), đặt tại nhà
Tổ của chùa đã ghi lại lần trùng tu, sửa chữa này: “Nay vâng quốc Thánh
Trang 33Mẫu, ý công hầu, đức Thái phi là người bẩm tính nhân từ, anh hoa phát tiết, ứng điềm tốt lành, mở ra gương tốt cho vạn dân, bồi đắp nền nhân nêu cao tiết hạnh trong cung tần, gặp dịp tu sửa hai gian giải vũ và chiếc cầu, Bà tích thiện góp nhiều công sức, nay lại ứng cho danh lam số 1 chùa Đại thánh Pháp Vũ ruộng tốt 80 mẫu để làm của Tam bảo, mãi mãi dùng vào việc thờ cúng, lại cho dân xã được làm tạo lệ, do tu bổ chỗ khiếm khuyết của chùa, tôn thắng cảnh chốn tùng lâm Sai cựu thị nội cung tần Đào Thị Khuông đến chấn chỉnh công việc, khai phá hoang hóa, đắp bồi cơ chỉ, quyên góp tài lược xây dựng công trình mới đẹp Tô tượng Thánh, sửa Tiền đường, Hậu đường, tả hữu hành lang và am Trường Thọ cùng cầu tế độ Tất cả đều được làm lại, quy mô đổi khác, sắc vẻ huy hoàng, tượng Phật lộng lẫy, cột xà chạm tô, vật thờ sáng rạng, không nhiễm chút bụi trần, vạn cảnh đều mới mẻ Hoàng thượng lại hứa
ban cấp tạo lệ cho ba xã trở lại lệ cũ, miễn trừ tạp dịch để lo phụng thờ”
Đến năm 1801, vào thời Cảnh Thịnh, chùa Đậu lại được tu sửa lại gác chuông Điều này được ghi lại trên chuông chùa Pháp Vũ treo ngay trên gác
chuông với tên chuông là Pháp Vũ Tự Chung, chuông được đúc vào năm
Cảnh Thịnh thứ 9 (1801)
Sang thời Nguyễn, khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chùa Đậu được làm lại hai dãy hành lang và tòa Hậu đường, công việc tu sửa này không được ghi chép lại, song theo lời kể của các cụ cao niên trong làng và của nhà
sư Thích Thanh Nhung trụ trì chùa Đậu, đồng thời căn cứ vào những mảng chạm khắc trang trí theo những đề tài hoa văn mang phong cách đặc trưng nghệ thuật thời Nguyễn ở bộ vì nóc tòa Hậu đường và một số mảng trang trí ở dãy hành lang chúng ta cũng có thể hình dung được lần tu sửa này
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, xã Nguyễn Trãi cũng như bao làng quê khác ở Bắc bộ luôn phải hứng chịu những trận càn quét của
Trang 34thực dân Pháp Hơn nữa, xã Nguyễn Trãi lại nằm giáp với Quốc lộ 1A, nơi đây lại có phong trào hoạt động cách mạng rất mạnh Chùa Đậu trong giai đọan này cũng là một cơ sở cạch mạng (lúc đó là Ủy ban Hành chính Kháng chiến xã Minh Đức đóng) Ngoài ra, chùa còn là nơi giao lưu văn hóa của các thôn trong xã và của các xã trong huyện Thường Tín Do vậy, thực dân Pháp thường xuyên càn quét và lục soát khu vục xã Nguyễn Trãi Ngày 15 tháng 10 năm 1947, chúng đã đốt cháy chùa Đậu, nhưng do được người dân ứng cứu kịp thời nên chỉ có tòa Thượng điện bị cháy, còn các đơn nguyên kiến trúc khác trong chùa vẫn nguyên vẹn
Năm 1986, tòa Thượng điện đã được dựng lại trên nền cũ nhưng nhỏ hơn rất nhiều so với tòa Thượng điện trước khi bị giặc Pháp đốt cháy
Năm 1988, Phòng Văn hóa huyện Thường Tín đã chỉ đạo cho tu sửa lại gác chuông Việc tu sửa này có sự đóng góp công đức và tiền của, của nhân dân xã Nguyễn Trãi và khách thập phương
Từ những năm 1996 cho đến nay, chùa Đậu thường xuyên nhận được sự quan tâm của Nhà nước Cụ thể, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã đầu tư nhiều lần với số kinh phí khá lớn để tu bổ, như:
Năm 1996 tu sửa tòa Tiền đường và nhà Tổ
Năm 2000, tu sửa hai dãy hành lang
Năm 2004, tu sửa hai Am thờ hai vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường
Trong năm 2010 này,sẽ cho dựng lại tòa Thượng điện theo đúng như nền cũ còn lại để trả lại cho ngôi chùa tòa Thượng điện nguy nga vốn có của
nó
Trang 35Với những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc về lịch sử, nghệ thuật Ngày
13 tháng 1 năm 1964, chùa Đậu đã được Bộ Văn hóa đánh giá, xếp hạng là một di tích nghệ thuật theo Quyết định số 29/VHQĐ Quyết định này một lần nữa khẳng định được giá trị của chùa Đậu Qua đây ta có thể thấy chùa Đậu là một trong những di tích được xếp hạng vào loại sớm nhất so với các di tích khác trong cả nước Chùa Đậu còn được Nhà nước xếp vào hạng di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia vào năm 1994 và được Sở Văn hóa Thông tin
Hà Nội đánh giá là một trong số di tích đặc biệt quan trọng của Thành phố Hà Nội
1.2 Tín ngưỡng Tứ Pháp và hệ thống chùa Tứ Pháp ở Thường Tín
và vùng phụ cận
Về sự ra đời của Tứ Pháp, đã có khá nhiều tài liệu ghi chép lại Tác
phẩm Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh - Kiều Phú có lẽ là tác phẩm đầu
tiên ghi chép lại câu chuyện này
Sau Lĩnh Nam chích quái, hai bộ ván khắc gỗ thời Lê cũng ghi lại câu chuyện về Man Nương và sự ra đời của Tứ Pháp bằng chữ Nôm, đó là Cổ
Châu Phật Bản Hạnh và Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh ngữ lục, hiện
được lưu giữ tại chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh)
Ngoài những văn bản trên, tại chùa Đậu ( Thường Tín, Hà Nội ) còn lưu
giữ một cuốn sách bằng đồng có tên Pháp Vũ tự thực lục cũng ghi chép về
chuyện Man Nương và sự ra đời của Tứ Pháp
Những tài liệu này đều có nội dung tương tự nhau, đó là:
Trang 36Vào khoảng những năm đầu công nguyên, nước ta khi ấy gọi là xứ Giao Châu, đặt dưới thời đô hộ của nhà Đông Hán ( năm 25 – 220) Nhà Hán giao cho Sĩ Nhiếp làm thái thú Luy Lâu Đây là nơi dân cư đông đúc, sầm uất, khách muôn phương kẻ tới người lui
Nhiều vị cao tăng từ xứ Thiên Trúc (Ấn Độ) cũng lần lượt tìm sang Giao Châu để truyền đạo Phật Trong số đó có thầy Khâu Đà La ở lại lâu dài, lập am trên một khu rừng phía bắc bờ sông Thiên Đức (sông Đuống) và ngày đêm tu hành ở đó
Bấy giờ ở phía nam bờ sông Thiên Đức tại làng Mãn Xá ( Kẻ Mèn), thuộc huyện Siêu Loại, cách thành Luy Lâu không xa, có gia đình ông Tu Định và bà Ưu Di, tuổi đã cao mới sinh được cô con gái đầu lòng Ông Tu Định là một tín đồ Thiền Môn tu tại gia, vốn rất kính phục phép màu của sư Khâu Đà La, nên chờ cho con gái đến năm 12 tuổi thì cho đi theo sư Khâu Đà
La để học đạo, và giúp nhà sư trông coi việc đèn nhang, bếp núc Cô bé là người có dung nghi tư chất khác thường, chăm chỉ và sáng dạ, luôn được nhà
sư hài lòng khen ngợi, và đặt tên cho là A Man Đời sau người ta còn gọi nàng
là Man Nương ( hay nàng Mèn)
Một hôm, vào tiết đầu năm, thầy Khâu Đà La đi hành lễ về muộn Nàng Mèn một mình ở nhà giữ am Công việc xong xuôi, hẳn là vì mệt quá, nàng nằm ngủ quên ở ngay bậc cửa ra vào Đến khuya, sư thầy trở về, vô ý bước chân qua người nàng để vào phòng, thế là khiến nàng có mang Nàng bèn về nhà thưa thực với cha mẹ Ông bà Tu Định thấy cô con gái bỗng dưng không chồng mà chửa lấy làm xấu hổ liền đến chùa trách thầy Khâu Đà La Nhà sư giải thích rằng đấy là do “nhân thiên hợp khí” mà thành, hãy nhẫn nại mà chờ đợi, sau này ắt hẳn gặp điều lành Nghe thầy khuyên giải, ông bà Tu Định yên lòng trở về chăm sóc A Man chờ kỳ sinh nở
Trang 37Man Nương mang thai mãi đến 14 tháng sau mới sinh hạ được một bé gái đúng vào giờ Ngọ ngày mùng Tám tháng Tư Nghe lời cha, Man Nương
ẵm con đến chùa Linh Quang trên núi trả cho nhà sư Khâu Đà La Nhà sư đón lấy đứa bé, hướng về cây cổ thụ xung quanh và lẩm bẩm cầu khấn Vừa dứt lời khấn thì một cây dung thụ cạnh đấy bỗng sà cành xuống ẵm đứa bé lên, rồi
tự mở lòng cây ra, thu đứa bé vào đó và khép thân cây lại Mọi việc diễn ra hết sức diệu kỳ trong một quang cảnh thật đẹp: trăm hoa đua nở cùng với mùi hương thơm nức tỏa ra khắp cả một cánh rừng
Sau đó, nhà sư khuyên nàng Man Nương về nhà tìm nơi phúc địa, lập một tiểu am, đêm ngày trai giới tu hành niệm Phật và nhà sư trao cho nàng cây tích trượng, dặn rằng sau này nếu hễ gặp khi trời làm hạn hán thì lấy cây gậy đó cắm xuống đất, tức khắc sẽ có nước chảy lên Thời gian sau, vùng Siêu Loại đất Giao Châu gặp phải kỳ đại hạn, ba năm liền trời không mưa một giọt Ruộng đồng khô nẻ, muôn dân vô cùng cơ cực, nhiều người đã phải chết đói chết khát Man Nương bấy lâu vẫn tu hành ở tiểu am, nay bỗng thấy nhớ nhà, liền tìm về thăm cha mẹ già, mới hay cha mẹ và dân làng đang gặp cảnh đói khát như vậy Nhớ lại lời thầy Khâu Đà La dặn từ khi giã từ thuở trước, Man Nương vội cầm cây tích trượng ra góc vườn cắm xuống và đọc câu thần chú Vừa dứt lời khấn thì một nguồn nước mát từ chỗ cắm gậy dâng lên chảy dào dạt Khắp nơi trong vùng ai nấy đều đổ xô đến xin nước giếng nhà Man Nương Bởi đó mà dân làng qua được cơn đói khổ
Thái thú Sĩ Nhiếp bấy giờ đang trị vì ở thành Luy Lâu cũng nghe được tin ấy bèn truyền cho mời Man Nương đến hỏi rõ duyên cớ Man Nương kể hết sự tình, rồi vâng mệnh Sĩ Vương đi vào rừng sâu gặp thầy Khâu Đà La, xin thầy làm phép giáng vũ cầu mưa đặng mà cứu dân Nhà sư liền niệm thần chú, hô phong hóan vũ, và bỗng chốc trời đổ mưa xuống khắp vùng Siêu Loại Sĩ Vương mừng lắm, kính mời nhà sư vào cung hội kiến, ân cần đón
Trang 38tiếp Bấy giờ Sĩ Vương mới hay rằng thầy Khâu Đà La vốn có phép màu giáng vũ gọi trời làm mưa
Lại nói về cây dung thụ Bấy giờ vào năm Giáp Tý, trời đất đang thanh bình bỗng một hôm tối trời, tự nhiên nổi lên một trận gió bấc trái mùa, rồi mưa đổ xuống như trút Mưa to gió lớn làm trốc cây dung thụ, bị nước cuốn trôi ra dòng sông Thiên Đức và giạt đến bên thành Luy Lâu Từ thân cây dung thụ nghe như văng vẳng tiếng đàn tiếng hát, khiến quan quân trong thành lấy làm sợ hãi và đem chuyện tâu lên Sĩ Vương Sĩ Vương liền cho quân sĩ ra kéo cây lên, định bụng sẽ sai thợ lấy gỗ để làm điện kính thiên Thế những bao nhiêu quân lực sĩ ra tay vẫn không sao kéo nổi cây lên Đợi đến khi Man Nương ra bờ sông ngồi rửa tay, lạ thay, cây dung thụ tựa như con mừng thấy
mẹ, từ từ chuyển hướng về phía Man Nương Man Nương chỉ cần lấy dải yếm buộc cây và khẽ nhấc là cây theo bà lên bờ
Đêm ấy, Sĩ Vương nằm chiêm bao thấy một người cao lớn báo mộng rằng cây ấy không nên dùng làm điện vua, mà phải cắt ra từng đoạn, tạc tượng Phật để thờ Việc ấy được giao cho người tên Đào Lượng, một thợ mộc khéo tay mới từ bên Tàu sang Thế là cây dung thụ đượng chia làm bốn đoạn, tạc thành bốn tượng, đặt thờ ở bốn chùa quanh vùng Đó chính là bốn tượng Phật
Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Pháp Vân là chị cả, được thờ ở ngôi chùa lớn là chùa Thiền Định, sau gọi là chùa Diên Ứng (tức là chùa Dâu); Pháp Vũ là chị hai được thờ ở chùa Thành Đạo ( chùa Đậu); Pháp Lôi là chị ba, được thờ ở chùa Phi Tướng ( chùa Tướng); và Pháp Điện là em
út được thờ ở chùa Trí Quả làng Dàn ( chùa Dàn)
Bấy giờ, có một sự kỳ lạ là đến khi làm lễ rước các pho tượng lên chùa, thì chỉ có ba pho là tượng Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện là kiệu đi được, còn pho tượng Pháp Vân thì dân làng không sao kiệu nổi Hỏi ra mới hay là
Trang 39khi bọn thợ mộc tạc đến khúc ngọn thì rìu chạm phải hòn đá trong thân cây Bọn thợ vô ý, chẳng nghĩ ngợi gì, liền quẳng hòn đá xuống sông Nguyên đó chính là đứa con gái nàng Man Nương gửi vào thân cây khi xưa, nay đã hóa
đá Hòn đá rơi xuống khúc sông đó, luôn tỏa sáng rực rỡ Mọi người được lệnh đi mò vớt hòn đá, song không sao vớt lên được Lại phải đợi đến khi Man Nương đi thuyền ra đến nơi, thì hòn đá tự nhiên nổi lên, nằm ngay vào lòng bà Hòn đá thiêng ấy được tôn là Thạch Quang Phật và cũng được lập một tiểu am để thờ
Mọi việc đâu vào đấy, dân chúng trong vùng hân hoan làm lễ khánh thành các chùa Tứ Pháp Man Nương sau đó không bệnh mà chết, được nhân dân lập đền thờ cùng cha mẹ ngay trên nền nhà cũ của gia đình bà Và cũng từ
đó, hàng năm, vào ngày mùng Tám tháng Tư, dân làng lại mở hội chùa Dâu cùng với chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn và cả chùa Tổ ( là nơi thờ bà Man Nương sau khi hóa được tôn làm Phật Mẫu) [19.tr35]
Chuyện Man Nương ghi trong sách đồng ở chùa Đậu, cũng có nội dung tương tự, nhưng phần cuối lại chép rằng chùa Pháp Vũ được đưa về xây dựng
ở Thường Tín
Từ câu chuyện về Man Nương và sự ra đời của tín ngưỡng Tứ Pháp, có thể thấy, tín ngưỡng Tứ Pháp có nguồn gốc là ở vùng Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) - trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước ta Đó là nơi phát tích của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp cùng hệ thống chùa thờ Tứ Pháp ở đồng bằng Bắc bộ Khi tín ngưỡng Tứ Pháp cùng với dấu ấn vật chất của nó lan tỏa đi các nơi, những điểm cơ bản nhất của truyền thuyết về Tứ Pháp đều được giữ lại, nhưng mỗi vùng lại có thêm những tình tiết mới cho phù hợp với từng vùng Chẳng hạn như người dân vùng Thanh Trì – Hà Nội kể rằng: Một năm mưa
lũ, tượng gỗ Pháp Vân trôi dạt về đây, được kẻ mục đồng vớt lên và nhân dân
Trang 40lập am thờ, cầu mưa rất thiêng Còn tượng Pháp Lôi khi rước qua cây đa Cổ Liệt thì gặp mưa phải dừng kiệu tránh ướt, có sét đánh nên còn gọi là làng Sét, sau không di chuyển được kiệu nữa nên phải lập am Sét để thờ
Ngoài ra, trong câu chuyện Man Nương và sự ra đời của tín ngưỡng Tứ Pháp nó đã thể hiện sự giao thoa văn hóa Kết quả của cuộc hôn phối tinh thần (giao thoa văn hoá) giữa một người con gái bản địa (tượng trưng cho tín ngưỡng dân gian) với một vị chân tu thông tuệ (tượng trưng cho một tôn giáo lớn) là sự ra đời bốn vị Phật mang tính chất dân gian của người Việt
Là vùng đồng bằng, sản xuất nông nghiệp là chính, cư dân Việt Nam cho đến ngày nay vẫn còn lưu giữ trong đời sống văn hóa tinh thần của mình nhiều hình thái tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ sơ Đậm nét nhất có thể nói chính là tín ngưỡng thờ Tứ Pháp
Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp là hiện tượng tín ngưỡng bản địa của người Việt, Trong tín ngưỡng này còn thể hiện những nét đặc trưng độc đáo của Phật giáo Việt Nam Nó được ra đời khi Phật giáo từ Ấn Độ truyền vào nước
ta, khởi thủy là vùng Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) Bấy giờ, trong cư dân Việt đã tồn tại một tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng thờ các vị thần tự nhiên
có liên quan trực tiếp tới công việc sản xuất nông nghiệp Khi Phật giáo vào nước ta, để tồn tại và phát triển đã biết kết hợp với tín ngưỡng bản địa Sự kết hợp này đã tạo ra tín ngưỡng Tứ Pháp
Xét về mặt bản chất, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp bắt nguồn từ quan niệm vạn vật hữu linh, quan niệm vạn vật đều có linh hồn Người nguyên thủy nhìn thấy đằng sau mỗi hiện tượng tự nhiên đều có một vị thần Vị thần đó quyết định sự vận hành của vũ trụ, trong đó có đời sống con người Đặc biệt, với