1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hóa khu di tích nhà tù côn đảo

132 112 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 888,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hơn một thế kỷ đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc ta, cuộc đấu tranh một mất một còn của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước trong nhà tù Côn Đảo là một

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH ĐÀO

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA

KHU DI TÍCH NHÀ TÙ CÔN ĐẢO

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.NGUYỄN THỊ HUỆ

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH NHÀ TÙ CÔN ĐẢO 1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của huyện Côn Đảo 6

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 6

1.1.1.1 Vị trí địa lý 6

1.1.1.2 Địa hình - Khí hậu 7

1.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 9

1.1.2 Đặc điểm xã hội 10

1.1.2.1 Lịch sử quần đảo Côn Lôn (Côn Đảo) 10

1.1.2.2 Cơ cấu hành chính - dân cư 13

1.1.2.3 Kinh tế - Văn hóa 14

1.2 Lịch sử xây dựng nhà tù Côn Đảo 18

1.2.1 Nhà tù Côn Đảo thời thực dân Pháp xâm lược (1862-1954) 18

1.2.1.1 Mục đích của thực dân Pháp xây dựng nhà tù Côn Đảo 18

1.2.1.2 Quy mô - Thiết kế xây dựng nhà tù Côn Đảo 19

1.2.2 Nhà tù Côn Đảo thời đế quốc Mỹ xâm lược (1955-1975) 24

1.2.2.1 Mục đích mở rộng nhà tù Côn Đảo của đế quốc Mỹ 24

1.2.2.2 Quy mô - Thiết kế mở rộng nhà tù Côn Đảo 25

1.2.3 Nhà tù Côn Đảo từ năm 1975-1979 28

1.3 Giới thiệu chung về khu di tích nhà tù Côn Đảo 29

Tiểu kết 33

Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA KHU DI TÍCH NHÀ TÙ CÔN ĐẢO 2.1 Giá trị lịch sử 35

2.1.1 Góp phần nghiên cứu lịch sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta 35

2.1.1.1 Nghiên cứu hình thức đấu tranh của những người Việt Nam yêu nước trong nhà tù Côn Đảo trước năm 1930 36

2.1.1.2 Nghiên cứu quá trình thành lập và vai trò lãnh đạo của Chi bộ Đảng đối với phong trào đấu tranh trong nhà tù Côn Đảo từ 1930-1945 37 2.1.1.3 Nghiên cứu những hình thức đấu tranh của các chiến sĩ

Trang 3

cách mạng trong nhà tù Côn Đảo dưới sự lãnh đạo của

Đảng bộ và tổ chức Liên đoàn từ 1946-1954 39

2.1.1.4 Nghiên cứu những hình thức đấu tranh quyết liệt của các chiến sĩ cách mạng chống lại chính sách ly khai Đảng Cộng sản và âm mưu ém giấu tù chính trị của Mỹ- ngụy giai đoạn 1955-1975 41

2.1.2 Góp phần tố cáo tội ác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược trên đất nước ta, đặc biệt là ở nhà tù Côn Đảo 47

2.1.2.1 Tố cáo tội ác của thực dân Pháp (1862-1954) 47

2.1.2.2 Tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ (1955-1975) 50

2.1.3 Góp phần nghiên cứu lịch sử xây dựng nhà tù của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt Nam 56

2.2 Giá trị văn hóa 58

2.2.1 Góp phần nghiên cứu tinh thần học tập không ngừng của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước 58

2.2.1.1 Học tập lý luận chính trị 58

2.2.1.2 Học tập văn hóa và ngoại ngữ 68

2.2.2 Góp phần nghiên cứu về các hoạt động văn hóa - văn nghệ của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước 70

2.2.3 Góp phần nghiên cứu về hoạt động báo chí, tuyên truyền phát thanh của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước 78

2.2.4 Góp phần nghiên cứu về sự sáng tạo không ngừng các giá trị văn hóa của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước 82

2.2.4.1 Sáng tạo các vật dụng sinh hoạt hằng ngày 82

2.2.4.2 Sáng tạo các dụng cụ chống đàn áp của địch 84

2.2.4.3 Sáng tạo các vật dụng tặng người thân 85

2.2.4.4 Sáng tạo các kỷ vật 87

Tiểu kết 89

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH NHÀ TÙ CÔN ĐẢO 3.1 Cơ sở pháp lý và khoa học của việc bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích nhà tù Côn Đảo 90

3.2 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích nhà tù Côn Đảo trong thời gian qua 92

3.2.1 Thực trạng công tác bảo tồn khu di tích nhà tù Côn Đảo 92

Trang 4

3.2.2 Thực trạng công tác phát huy giá trị khu di tích nhà tù Côn Đảo 99

3.3 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa khu di tích nhà tù Côn Đảo 106

3.3.1 Giải pháp bảo tồn khu di tích nhà tù Côn Đảo 106

3.3.1.1 Hoàn thiện hồ sơ khoa học cho khu di tích nhà tù Côn Đảo 106

3.3.1.2 Giải pháp bảo quản 107

3.3.1.3 Tiếp tục thực hiện dự án tu bổ, phục hồi cho khu di tích 110

3.3.1.4 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học 113

3.3.1.5 Tăng cường công tác sưu tầm tài liệu, hiện vật cho khu di tích nhà tù Côn Đảo 114

3.3.1.6 Xã hội hóa công tác bảo tồn khu di tích nhà tù Côn Đảo 115

3.3.2 Giải pháp tôn tạo khu di tích nhà tù Côn Đảo 116

3.3.3 Giải pháp phát huy giá trị khu di tích nhà tù Côn Đảo 120

3.3.3.1 Nâng cao chất lượng hướng dẫn tham quan khu di tích nhà tù Côn Đảo 120

3.3.3.2 Tăng cường in ấn xuất bản phẩm giới thiệu giá trị lịch sử - văn hóa khu di tích nhà tù Côn Đảo 122

3.3.3.3 Tiếp tục dựng phim về di tích nhà tù Côn Đảo 122

3.3.3.4 Nâng cao chất lượng quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng và lập website cho khu di tích 123

3.3.3.5 Đẩy mạnh sinh hoạt giáo dục truyền thống 123

3.3.3.6 Cần phải tổ chức triển lãm lưu động giới thiệu về giá trị lịch sử - văn hóa khu di tích nhà tù Côn Đảo 124

3.3.3.7 Cần phải kết hợp với ngành du lịch 125

Tiểu kết 127

KẾT LUẬN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

PHỤ LỤC 134

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù có sự cách xa về mặt địa lý

nhưng tôi luôn nhận được sự động viên và hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS

Nguyễn Thị Huệ - người hướng dẫn khoa học cho tôi Vì vậy trước hết tôi

xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất tới cô PGS.TS Nguyễn Thị

Huệ và chúc cô luôn dồi dào sức khỏe

Nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban

QL.DT.LS.CM Côn Đảo; các thầy cô giáo trong khoa sau Đại học Trường

Đại học Văn hóa Hà Nội, các bạn đồng nghiệp và gia đình, đã quan tâm tạo

điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành được luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Nguyễn Thị Bích Đào

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Trong hơn một thế kỷ đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc ta, cuộc đấu tranh một mất một còn của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước trong nhà tù Côn Đảo là một bộ phận của cách mạng Việt Nam Nhà tù Côn Đảo cũng như các nhà tù khác trên khắp nước ta là công cụ bạo lực đàn áp cách mạng để bảo vệ chính quyền thực dân và đế quốc Khác với các nhà tù khác, thực dân và đế quốc xây dựng nhà tù Côn Đảo trên một hòn đảo cách xa đất liền, bốn bề là biển cả mênh mông, nơi tưởng chừng bị tách khỏi Đảng và quần chúng nhân dân, không thể nào đương đầu nổi với bộ máy khủng bố ngày càng tinh vi và tàn bạo của chúng Nhà tù Côn Đảo là nơi đày ải, giam cầm các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước

mà chúng cho là nguy hiểm nhất trên khắp mọi miền đất nước để nhằm mục đích tiêu diệt phong trào cách mạng Việt Nam và tiêu diệt sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

những chiến sĩ cách mạng thành những con người gang thép, có ý chí sắt đá

và tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của cuộc đấu tranh chống áp bức, xâm lược Các chiến sĩ cách mạng đã biến nhà tù Côn Đảo thành trường học yêu nước

và đấu tranh cách mạng, thực sự là vườn ươm cán bộ của cách mạng Việt Nam Bản lĩnh và tri thức cách mạng của các chiến sĩ cộng sản được nâng cao

rõ rệt, khi ra tù lại tiếp tục lao vào hoạt động cách mạng một cách có hiệu quả, nhiều đồng chí đã trở thành cán bộ lãnh đạo cốt cán của Đảng

đã có Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết đã nêu rõ: bản sắc văn hóa dân tộc Việt

Nam bao gồm những giá trị bền vững, tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp lên qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc,… Nghị

Trang 7

quyết cũng đã chỉ rõ “khai thác, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh…” là một trong

những nhiệm vụ quan trọng Di tích nhà tù Côn Đảo là một kiến trúc nhà tù cũ của thực dân và đế quốc trên đất nước ta, nó là một di sản vật thể ghi dấu tội

ác xâm lược, đồng thời nó cũng chứa đựng nhiều giá trị phi vật thể, đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh quật cường của các chiến sĩ cách mạng, đó là tinh thần lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, đó là tình đồng chí, tình đoàn kết yêu thương,… Đây là những giá trị truyền thống trường tồn của dân tộc Việt Nam, là những giá trị lịch sử - văn hóa vô giá không gì thay thế được

1.3 Kinh tế càng phát triển thì nhu cầu văn hóa ngày càng cao, đất nước ngày càng mở cửa thì phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, trong

đó phải đặc biệt chú trọng giáo dục truyền thống cách mạng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đó cũng là một trong sáu định hướng lớn về công tác tư tưởng mà Bộ chính trị Trung ương Đảng đề ra trong thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trước công cuộc đổi mới của đất nước, giá trị các di tích, danh thắng đang hòa quyện, gắn bó mật thiết với cuộc sống Nó chính là tiềm năng, động lực, đồng thời là cội nguồn

của lịch sử, làm điểm tựa cho sự phát triển Chính vì thế, tôi chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa khu di tích nhà tù Côn Đảo” làm luận văn thạc sĩ Văn hóa học

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thống - Trưởng Ban Tuyên giáo tỉnh BR-VT, trong các năm 1987, 1991 và 1996 đã biên soạn và xuất bản ba cuốn sách viết

về các giai đoạn lịch sử của nhà tù Côn Đảo như: “Nhà tù Côn Đảo 1862 -

Trang 8

1945”, “Nhà tù Côn Đảo 1945 - 1954” và “Nhà tù Côn Đảo 1955 - 1975”

Năm 2001, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh BR-VT đã tiến hành chỉnh lý, bổ

sung và tái bản bộ sách trên thành cuốn Nhà tù Côn Đảo 1862 - 1975 Đặc

biệt vào năm 1994, ông đã bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ khoa học lịch sử tại Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh

Hà Nội với đề tài: “Đấu tranh chính trị của các chiến sĩ cách mạng trong nhà

tù Côn Đảo (1955-1975)” Ngoài ra, TS Nguyễn Đình Thống còn có những bài viết về nhà tù Côn Đảo đăng trên các báo và tạp chí

Tác giả Bùi Văn Toản là một trong những nhân chứng đã từng bị giam cầm ở nhà tù Côn Đảo giai đoạn chống Mỹ cứu nước đã viết và xuất bản các

cuốn sách như: Vượt ngục Côn Lôn (1997); Ác liệt Côn Đảo (tái bản lần 2 năm 2002); Côn Đảo 6694 ngày đêm (in lần 2 năm 2002)

Năm 1992, tác giả Lê Hữu Phước công tác tại khoa lịch sử trường Đại học KHXH&NV TP.HCM đã bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ khoa

học lịch sử với đề tài: “Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862 - 1930” tại Viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh

Bên cạnh những công trình nghiên cứu đó còn có một số viết về nhà tù Côn Đảo trên các báo, tạp chí, nguyệt san và một số bài viết dưới dạng hồi ký của các cựu tù chính trị Côn Đảo được lưu tại Phòng lịch sử Đảng, Tỉnh ủy tỉnh BR-VT

Ngoài ra, còn có một số sách viết về nhà tù Côn Đảo do các Ban Tuyên

giáo ở các Tỉnh biên soạn và xuất bản như: Từ ngục tù Côn Đảo của Ban Tuyên giáoTỉnh ủy Khánh Hòa; Truyền thống đấu tranh bất khuất chống ly khai Đảng, chống chào cờ ngụy của tù nhân chính trị trên nhà tù Côn Đảo (1987) của Trần Nga (tức Trần Văn Huy, tù Côn Đảo năm 1955 - 1973) - Ban liên lạc tù chính trị Côn Đảo tỉnh Khánh Hòa; Từ địa ngục trần gian (thơ) của

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ban Tuyên giáo thành phố Biên Hòa; Đối mặt

của Ban liên lạc tù chính trị Côn Đảo tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; v.v…

Những tài liệu trên đây là cơ sở bước đầu giúp cho tác giả có thể kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những nội dung cần thiết để đưa vào luận văn

Trang 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

xây dựng cho đến đế quốc Mỹ tiếp quản mở rộng nhà tù và khi nhà tù này trở thành khu di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia

phản ánh cuộc sống sinh hoạt và truyền thống đấu tranh cách mạng của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước

- Nghiên cứu giá trị lịch sử - văn hóa của khu di tích nhà tù Côn Đảo 3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu tổng thể khu di tích nhà tù Côn Đảo từ khi xây dựng, tồn tại và khi trở thành khu di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia, cùng với toàn bộ tài liệu hiện vật nằm trong không gian và thời gian của khu di tích

4 Mục đích nghiên cứu

4.1 Tập hợp một cách đầy đủ có hệ thống toàn bộ tư liệu hiện có về khu di tích và các tài liệu hiện vật gắn liền với khu di tích nhà tù Côn Đảo

của khu di tích nhà tù Côn Đảo

4.3 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử - văn

hóa của khu di tích nhà tù Côn Đảo

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nhìn nhận và đánh giá những giá trị lịch sử - văn hóa của khu di tích

Sử dụng phương pháp liên ngành trong văn hóa học: lịch sử, bảo tàng học, văn hóa học,…

Sử dụng phương pháp khảo sát điền dã để quan sát, miêu tả, thống kê, thu thập tư liệu về khu di tích

Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để phỏng vấn các nhân chứng

Trang 10

6 Những đóng góp của luận văn

các thế hệ trẻ hôm nay và mai sau

các giá trị lịch sử - văn hóa khu di tích nhà tù Côn Đảo trong phát triển du lịch nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Côn Đảo

khu di tích nhà tù Côn Đảo trong tình hình hiện nay

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về khu di tích nhà tù Côn Đảo

Chương 2: Những giá trị lịch sử - văn hóa khu di tích nhà tù Côn Đảo Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích nhà

tù Côn Đảo

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH NHÀ TÙ CÔN ĐẢO

1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của huyện Côn Đảo

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Côn Đảo là một trong những quần đảo tiền tiêu nằm ở hướng Đông

Khoảng cách tính theo đường biển từ Côn Đảo đến Thành phố Vũng Tàu là

179 km, đến Thành phố Cần Thơ là 165 km, đến Thành phố Hồ Chí Minh là

230 km, và nơi tiếp giáp gần nhất với đất liền là cửa sông Hậu 83 km

Hòn Chính: là hòn đảo lớn nhất nằm ở giữa, được gọi là hòn Côn Lôn,

có chiều dài 15 km, chỗ rộng nhất là 9 km, chỗ hẹp nhất khoảng 1 km, với

xưa nay gọi hòn đảo lớn nhất là Côn Lôn (gọi tắt là Côn Đảo), cả quần đảo này cũng được gọi chung bằng địa danh ấy - quần đảo Côn Lôn Người ta cũng thường gặp những biến dạng gần gũi của tên gọi đó như: Côn Lôn Sơn, Côn Sơn, Côn Nôn [4, tr.18]

Đông Bắc của hòn Chính

Đông Bắc, ba mặt của hòn Cau là vách đá - nơi làm tổ của loài chim yến, mặt Nam là thung lũng đất tốt thích hợp với nhiều loài cây ăn trái Hòn Cau còn là nơi thực dân Pháp lưu đày tù nhân làm khổ sai Thời Pháp thuộc (1930-1931) đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng bị đày ra hòn đảo này

thị trấn Côn Đảo Vào năm 1883, Pháp cho xây dựng một ngọn đèn biển (Hải

Trang 12

đăng), hoạt động với tầm bán kính 72km Hiện nay, ngọn đèn biển này vẫn được sử dụng để hướng dẫn tàu thuyền qua lại trong vùng biển Côn Đảo

hướng Đông Nam

là một chuỗi đảo nối tiếp với hòn Bảy Cạnh, trải dài từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam che chắn bên ngoài đảo chính

với đảo chính về phía Tây Nam bởi một khe nước gọi là Họng Đầm (cửa tử) Giữa hai đảo là Vũng Đầm (còn gọi Vịnh Tây Nam) khá sâu và khuất gió, rất thuận lợi cho tàu thuyền tránh sóng Hiện nay tại đây đã hoàn tất một cảng cá được gọi là Cảng Bến Đầm, đã đưa vào hoạt động cuối năm 2000

ốc biển sinh sống

nối tiếp nhau che chắn phía Tây và Tây Bắc đảo chính Vào giai đoạn

1930-1931, thực dân Pháp đã sử dụng Hòn Tre lớn làm nơi lưu đày tù chính trị, đồng chí Lê Duẩn đã từng bị đày ải ở đây một thời gian

Hòn Anh - Hòn Em: còn gọi là Hòn Trứng lớn - Hòn Trứng nhỏ, nằm

cách trung tâm thị trấn Côn Đảo 27 hải lý về hướng Tây Nam (khoảng 50km)

1.1.1.2 Địa hình - Khí hậu

* Địa hình: Quần đảo Côn Đảo chủ yếu là đồi núi, chiếm diện tích

chung là 6.328ha (chiếm 88,4% tổng diện tích tự nhiên), đá lộ thiên tương đối nhiều Đảo chính có bề mặt địa hình khá lồi lõm, chia cắt bởi hệ thống đường núi, đường tụ thủy và các suối nhỏ chảy thẳng ra biển Những ngọn núi cao đa

số tập trung trên đảo chính như: núi Thánh Giá cao 577m, núi Chúa cao 515m, núi Nhà Bàn cao 396m Hệ thống núi đồi này trải dài che kín cho hai vùng đất tương đối bằng phẳng: Thị trấn Côn Đảo và Thung lũng Cỏ Ống

Trang 13

Thị trấn Côn Đảo: nằm trên một thung lũng hình bán nguyệt, ở tọa độ

với mặt nước biển, chiều dài từ 5 - 6 km, chiều rộng từ 2 - 3 km, một mặt thông ra biển (vịnh Đông Nam), ba mặt còn lại vây quanh bởi núi đồi Đây là nơi tập trung toàn bộ đời sống kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của cả quần đảo Côn Đảo

Thung lũng Cỏ Ống: nằm về hướng Bắc, từ thời Nguyễn Ánh đã có sự

quần tụ dân cư thành làng Cỏ Ống Để nối tiếp ý đồ của thực dân Pháp, ngụy đã xây dựng ở đây một sân bay nhằm chủ động được phương tiện giao thông nhanh chóng, tiện lợi hơn đường biển, khi cần thiết có thể hỗ trợ cho bộ máy quản trị cấp thời tăng cường hay thay đổi thủ đoạn kiềm kẹp các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước bị tù đày tại Côn Đảo

Mỹ-Hai thung lũng này đất đai bằng phẳng, có nhiều chỗ trũng tạo thành hồ nước và ruộng đồng Đất đai nông nghiệp chiếm 3,2% tổng diện tích, chủ yếu tập trung ở hai khu vực này và Hòn Cau

* Khí hậu: Côn Đảo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai

mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Khí hậu Côn Đảo ôn hòa hơn so với đất liền do chịu ảnh hưởng

trung bình là 2.200mm, độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 80%

Hướng gió thịnh hành của Côn Đảo trong mùa mưa là gió Tây, mùa khô là gió Tây Bắc, Đông Bắc Đặc biệt là gió mùa Đông Bắc vào mùa khô thường rất mạnh, có khi tới cấp 6 - 7 mà nhân dân quen gọi là gió Chướng Người tù thường lợi dụng mùa gió này để thả bè vượt ngục trở về đất liền

Trang 14

1.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Như để bù đắp cho sự xa cách đất liền và cho những giới hạn về đất đai canh tác, Côn Đảo có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Từ năm

1874, chỉ khảo sát riêng phía Tây nam quần đảo, Nha Công trình Dân sự Nam

kỳ đã phát hiện được 36 loại gỗ, phần lớn rất đặc dụng cả trong xây dựng lẫn trong nghề làm đồ gỗ Ngoài ra Côn Đảo còn có san hô, đá, cát, đất sét,… không chỉ phục vụ cho các công trình xây dựng tại chỗ mà còn có thể xuất khẩu [37, tr.11] Hiện nay, Côn Đảo là một kho tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của đất nước, nơi hội tụ của các loài động, thực vật có nguồn gốc từ miền Bắc, miền Trung và miền Nam của Việt Nam, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế, có nhiều loài bản địa mang tên Côn Sơn như Dầu Côn Sơn, Gội Côn Sơn, Sóc đen Côn Đảo,v.v Kết quả điều tra bước đầu cho thấy “Côn Đảo có 1.077 loài thực vật rừng bậc cao có mạch, 135 loài động vật có xương sống trên cạn, 1.300 loài sinh vật biển” [35, tr.7]

Rừng Côn Đảo có bốn hệ sinh thái: hệ sinh thái rừng trên vùng đồi núi thấp; hệ sinh thái rừng trên đồi cát và bãi cát ven biển; hệ sinh thái rừng sát (ngập mặn); và hệ sinh thái rừng ngập nước phèn (hậu rừng sát) Những hệ sinh thái này được phân bố kế tục nhau trên một không gian nhỏ hẹp tại Côn Đảo, đây là một nét độc đáo [35, tr.16-17] Tài nguyên sinh vật biển Côn Đảo rất phong phú và đa dạng, có 25 loài động vật được ghi vào Sách đỏ động vật của Việt Nam như Đồi mồi, Rùa da,…và 43 loài rong biển Đặc biệt vùng biển Côn Đảo có các loài thú biển quý hiếm như Cá voi đen, Đugông,…

Cho đến nay, hệ sinh thái rừng và hệ sinh thái biển của Côn Đảo còn giữ nguyên giá trị về đa dạng sinh học, là nơi chứa đựng nguồn gien của các loài động vật, thực vật trên cạn, dưới biển đặc hữu, quý hiếm rất hấp dẫn để phát triển loại hình du lịch sinh thái

1.1.2 Đặc điểm xã hội

1.1.2.1 Lịch sử quần đảo Côn Lôn (Côn Đảo)

Trang 15

Quần đảo Côn Lôn nằm giữa biển Đông và trên đường giao lưu Âu - Á nên được các nhà hàng hải của nhiều quốc gia khác nhau biết đến từ rất sớm như Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, rồi sau đó là Anh, Pháp Căn cứ vào những địa danh xa xưa của Côn Đảo, có lẽ người Mã Lai đặt chân đến nơi này sớm nhất [37, tr.12-13]

Theo tác giả Trần Văn Quế: tên gọi Poulo Condore xuất phát từ tiếng

Mã Lai “Pulao Kundur”, có nghĩa là đảo Bầu, đảo Bí “Poulo” hay “Pulao” tức là “cù lao” và trên địa đồ vùng Đông Nam Á có thể tìm thấy nhiều hòn đảo bắt đầu bằng chữ Poulo, “Kundur” có nghĩa là Bầu Bí [52, tr.6-7]

Tác giả Lê Quang Vịnh cho rằng: trước đây, Côn Đảo thuộc lãnh thổ Thủy Chân Lạp Người Thủy Chân Lạp thuộc tộc Khmer mà sau này trên Côn Đảo còn nhiều dấu tích của bộ tộc này Tiếng Khmer gọi Côn Đảo là Pulao Coóc-tơ-lai (Pulao: hòn, coóc: đảo, tơ-lai: trái bí đao) Tên này có âm và nghĩa giống tiếng Mã Lai Theo Lê Quang Vịnh, có thể vì xưa kia trên đảo có nhiều bí đao hoặc vì quần đảo này có hình dạng như trái bí đao trôi lăn theo sóng nước nên Côn Đảo mang tên đảo Bầu, đảo Bí [54, tr.6-7] Từ âm Pulao coóc-tơ-lai, người Tây Ban Nha ghi lại thành Pulao Condorai rồi Pulao Condore Đến người Pháp khi gặp chữ Tây Ban Nha này thì họ lại đọc thành Pu-lo Con-đo-rơ và họ ghi lại theo kiểu của họ là Poulo-Condore (hoặc Poulo-Condor) Người Việt Nam lúc đó phiên âm là Côn Lôn quần đảo Về nghĩa Hán văn, Côn Lôn thường dùng để chỉ vùng biên địa xa xôi hẻo lánh

Vào thế kỷ thứ IX đã có thương thuyền Ả Rập ghé lại Côn Đảo Đến thế kỷ thứ XIII, năm 1294 đoàn thuyền gồm 14 chiếc của nhà du hành người

Ý tên Marco Polo từ Trung Hoa về nước bị một cơn bão ác liệt nhấn chìm 8 chiếc, số còn lại trôi dạt vào trú ẩn tại Côn Đảo Trong thế kỷ XV-XVI, có rất nhiều đoàn du hành Châu Âu qua lại trên đại dương ghé vào viếng Côn Đảo

Cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII, tư bản Anh, Pháp đã bắt đầu nhòm ngó các nước phương Đông Nhiều lần các Công ty Đông Ấn của Anh, Pháp cho người tới Côn Đảo điều tra, dò xét tình hình mọi mặt với âm mưu xâm lược: “Tháng 11/1686, Công ty Đông Ấn của Pháp đã phái Véret tới điều

Trang 16

tra lập cơ sở ở Côn Đảo”; “Năm 1687, Williams Dampier - nhân viên Công ty Đông Ấn của Anh đã tới khảo sát và vẽ bản đồ vịnh Tây Nam Côn Đảo” [4, tr.26-27]

Năm 1702 (đời Chúa Nguyễn Phúc Chu, năm thứ 12), Công ty Đông

Ấn của Anh đổ bộ đánh chiếm Côn Đảo, đã đưa một số người Macassares tới xây dựng pháo đài và ký hợp đồng với họ trong thời gian ba năm Khi thời hạn ba năm đã kết thúc mà vẫn chưa được giải quyết cho hồi hương, lại thêm cuộc sống hết sức vất vả, ốm đau, bệnh tật liên miên, họ đã nổi dậy tàn sát ông chủ Anh của họ vào đêm 03/02/1705 [4, tr.27]

Năm 1771 cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn bùng nổ và phát triển mau lẹ Từ năm 1776 trở đi, quân Tây Sơn nhiều lần tấn công vào căn cứ của Chúa Nguyễn ở Gia Định Tháng 3/1783, thủy quân của Nguyễn Ánh bị đánh bại ở cửa Cần Giờ Tháng 6/1783, thủy quân Tây Sơn đánh Phú Quốc Nguyễn Ánh trốn chạy sang đảo Côn Lôn, đem theo hơn một trăm gia đình thuộc hạ Ra đến đảo kết hợp với số dân cư sẵn có lập nên ba làng: An Hải,

An Hội và Cỏ Ống, xây dựng căn cứ, tính kế phục thù

Sau thất bại này, theo lời khuyên của Giám mục Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh đã chọn con đường cầu viện nước Pháp chống Tây Sơn Tháng 12/1784 Nguyễn Ánh đã trao ấn tín và Hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện Chủ trương phản động này đã bị chính Phi Yến - người vợ trẻ của Nguyễn Ánh phản đối Nguyễn Ánh không nghe và đày Bà lên hòn Côn Lôn nhỏ, hòn đảo này từ đấy mang tên là hòn Bà

Ngày 28/11/1787, thay mặt Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc đại diện triều đình Việt Nam sang Pháp ký Hiệp ước Versailles dưới triều vua Louis XVI Theo

đó thì Pháp hứa giúp Nguyễn Ánh 4 tàu chiến, 1200 lính, 200 pháo thủ, 250 người Phi Đổi lại Nguyễn Ánh nhượng cho Pháp chủ quyền ở cửa Hàn (Đà Nẵng), cho phép được độc quyền thương mại ở Nam Kỳ Ở điều 3 và điều 5 nhường quần đảo Côn Lôn cho Pháp [4, tr.30]

Tháng 7/1857, sau nhiều lần khiêu khích, gây hấn dưới chiêu bài phản đối chính sách bế quan tỏa cảng và chính sách cấm đạo, Pháp tiến hành xâm

Trang 17

lược Việt Nam Ngày 01/9/1858 Pháp tấn công Đà Nẵng chiếm đóng bán đảo Sơn Trà Tháng 2/1859 Pháp đánh vào Vũng Tàu, Cần Giờ và hạ thành Gia Định Tháng 4/1861, Pháp đánh chiếm Định Tường Chính trong thời gian này Pháp khẩn cấp đặt vấn đề chiếm Côn Đảo, sợ Anh nhảy vào hớt tay trên

vị trí chiến lược quan trọng này

Mười giờ sáng ngày 28/11/1861, theo lệnh của Đô đốc Hải quân Bonard, Trung úy Hải quân Lespès đã cho tàu Noócdagaray tới Vũng Đầm, kéo lá cờ Pháp và lập tờ biên bản về việc chiếm lãnh Ngày 01/2/1862 Thống đốc Bonard ở Nam Kỳ ký Nghị định thiết lập khu giam cầm tại quần đảo Côn Đảo Thế nhưng cho đến ngày 05/6/1862 thực dân Pháp mới chính thức đặt nền thống trị tại Côn Đảo (tức ngày mùng 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất) triều đình Tự Đức nhà Nguyễn ký hòa ước Nhâm Tuất nhường cho Pháp chủ quyền ba tỉnh miền Đông Nam Bộ gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và

kể cả quần đảo Côn Lôn

Tháng 8/1945 Cách mạng tháng 8 thành công, Côn Đảo cũng được giải phóng, hơn 2000 tù chính trị được đón về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng Ngày 18/4/1946 thực dân Pháp tái chiếm Côn Đảo Ngày 7/5/1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ đã chấm dứt thời kỳ 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Tháng 9/1954 ngụy quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục chế độ lao tù dã man của thực dân Pháp cho đến ngày Côn Đảo giải phóng ngày 01/5/1975

Trang 18

1.1.2.2 Cơ cấu hành chính - dân cư

Dưới thời Pháp thuộc, Côn Đảo là một đơn vị hành chính ngang cấp quận Đặc điểm nổi bật nhất là ở đây chỉ có người tù mà không có dân cư sinh sống Bộ máy hành chính và bộ máy cai quản nhà tù trên đảo thống nhất làm một Đứng đầu là viên Quản đốc nhà tù Côn Đảo cũng là quan chức hành chính cao nhất của quần đảo Theo Lê Quang Vịnh: năm 1878 thực dân Pháp đặt quy chế hành chính cho Côn Đảo trực thuộc chính phủ thuộc địa Tất cả

cư dân trên đảo khoảng vài nghìn người Việt gốc Miên Từ năm 1930 Pháp di dân về Bà Rịa Đến năm 1936 Côn Đảo không còn dân thường nữa [54, tr.9]

Sang thời Mỹ-ngụy, hải đảo Côn Sơn được nâng cấp thành tỉnh Sôn Sơn (theo Sắc lệnh 147-NV ngày 24/10/1956) Tỉnh không có quận, huyện, phường, xã, không có các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, chỉ có tù nhân và bộ máy trị tù Tỉnh trưởng kiêm Chỉ huy trưởng Tiểu khu quân sự [4, tr.469]

Tháng 4/1965 ngụy quyền Sài Gòn ra sắc lệnh 75-NV bãi bỏ tỉnh Côn Sơn, thiết lập trên đảo này một cơ sở hành chính trực thuộc Trung ương, đứng đầu là Đặc phái viên hành chính kiêm Quản đốc Trung tâm cải huấn Côn Sơn Chức danh này tồn tại đến ngày cáo chung của ngụy quyền Sài Gòn

Ngày 01/5/1975 Côn Đảo giải phóng Ngày 8/6/1975, Ban Thường vụ Khu ủy Tây Nam Bộ (Khu IX) đã ra Nghị quyết số 269/NQ/TV.75 về việc thành lập tỉnh Côn Đảo [18, tr.47]

Ngày 15/01/1977, tại kỳ họp lần thứ 2, Quốc hội khóa VI, đã có Nghị quyết điều chỉnh các đơn vị hành chính ở một số địa phương Côn Đảo là một địa phương với số lượng dân cư ít, lại xa đất liền, do vậy Côn Đảo được Quốc hội chuyển đổi từ Tỉnh thành Huyện trực thuộc tỉnh Hậu Giang Tháng 4/1977 Côn Đảo chính thức làm xong thủ tục để trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Hậu Giang [18, tr.72]

Ngày 30/5/1979, Quốc hội khóa VI, kỳ họp lần thứ 5 đã ra Nghị quyết thành lập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo trực thuộc Trung ương, bao gồm: Thị

xã Vũng Tàu, xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành tỉnh Đồng Nai và huyện

Trang 19

Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang Theo đó Côn Đảo trở thành Quận thuộc Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo [18, tr.92]

Ngày 12/8/1991 Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 đã ra Nghị quyết về việc thành lập tỉnh BR-VT trên cơ sở sát nhập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo với huyện Châu Thành, Long Đất và huyện Xuyên Mộc thuộc tỉnh Đồng Nai Bắt đầu từ đây, Côn Đảo trở thành Huyện thuộc tỉnh BR-VT [18, tr.188]

Qua nhiều lần thay đổi, Côn Đảo bao giờ cũng là một đơn vị hành chính hết sức đặc biệt Tỉnh không có quận, huyện Huyện không có phường,

xã Hiện nay Côn Đảo là huyện có chính quyền một cấp, thông qua các cơ quan chức năng của huyện, trực tiếp đến địa bàn dân cư

Theo lịch sử Đảng bộ huyện Côn Đảo thời kỳ 1975-2000 đã dẫn: sau ngày giải phóng, số công chức, giám thị và binh lính trên đảo còn lại là 374 gia đình với 2467 người [18, tr.44] Theo số liệu của phòng thống kê huyện Côn Đảo, tính đến thời điểm giữa năm 2007, dân số Côn Đảo là 6.000 người, được phân bố trên 9 khu dân cư

1.1.2.3 Kinh tế - Văn hóa

* Kinh tế:

Trước ngày giải phóng (1975), toàn bộ những công trình trên đảo đều được xây dựng bằng sức lao động khổ sai của tù nhân từ cầu tàu, trại giam, nhà cửa, phố xá đến những con đường… Sau ngày Côn Đảo giải phóng, trên đảo hầu như không có một cơ sở kinh tế nào, mọi nhu cầu về đời sống của nhân dân và các lực lượng vũ trang Côn Đảo đều phải trông chờ vào sự chi viện của cấp trên từ đất liền chuyển ra Thêm vào đó Côn Đảo luôn trong tình trạng thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, thiếu phương tiện và thiếu cả kiến thức lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế Sự phát triển kinh tế - xã hội ở Côn Đảo được chia làm hai thời kỳ rõ rệt, đó là thời kỳ bao cấp hoàn toàn từ năm 1975 đến

1986 và thời kỳ Côn Đảo hội nhập kinh tế thị trường từ 1987 đến nay Tuy nhiên Côn Đảo chỉ thực sự phát triển, hội nhập với công cuộc đổi mới đất nước từ khi có quyết định thành lập tỉnh BR-VT và Côn Đảo trở thành một huyện trực thuộc tỉnh

Trang 20

Trong những năm 1975 đến 1990, Nhà nước đã không có sự đầu tư nào đáng kể để Côn Đảo phát triển Trong điều kiện đó, nền kinh tế Côn Đảo hầu như dậm chân tại chỗ Cho đến năm 1991, khi trở thành huyện của tỉnh BR-

VT đến nay, được sự quan tâm về nhiều mặt của Trung ương và của Tỉnh, Côn Đảo bắt đầu phát triển Ngành kinh tế dịch vụ của Côn Đảo đã vươn lên chiếm vị trí số một trong cơ cấu kinh tế của huyện Đáng chú ý là dịch vụ hậu cần nghề cá và dịch vụ du lịch là hai lĩnh vực dịch vụ đang thu hút khá nhiều lao động và vốn đầu tư trên địa bàn huyện Khách du lịch hàng năm đến Côn Đảo đều tăng, một số sơ sở dịch vụ du lịch được đầu tư xây dựng mới và sữa chữa nâng cấp như Nhà nghỉ Côn Đảo, Chi nhánh Sài Gòn Tourist tại Côn Đảo, chi nhánh ATC Côn Đảo, v.v

Dịch vụ giao thông vận tải là lĩnh vực đã từng có nhiều khó khăn cho Côn Đảo đến nay đã có bước phát triển khá Huyện Côn Đảo đã được Trung ương và Tỉnh đầu tư đóng mới và đưa vào sử dụng hai tàu khách: Côn Đảo 9

và Côn Đảo 10, với sức chứa gần 370 hành khách và 70 tấn hàng hóa Cảng

cá Bến Đầm đã được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 2000 Sân bay

Cỏ Ống đã được đầu tư nâng cấp Hiện nay đã đưa vào khai thác loại máy bay ATR 72 với sức chứa 68 hành khách/chuyến, bay với tần suất 6 chuyến/tuần

từ thành phố Hồ Chí Minh đến Côn Đảo và ngược lại

Dịch vụ bưu chính viễn thông luôn được nâng cấp, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt giữa đảo và đất liền, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư và khách du lịch Năm 1994, Bưa điện huyện Côn Đảo đã lắp đặt một tổng đài điện tử, hệ thống truyền dẫn viba số, hòa mạng điện thoại trong nước và quốc tế Tháng 4/2001 mạng điện thoại di động Vinaphone đã được phủ sóng trên địa bàn huyện Côn Đảo Cho đến nay, mạng điện thoại di động Viettel và Mobifone đã được phủ sóng toàn đảo

Lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng đang phát triển nhanh Liên tục trong những năm qua, ngành điện nước của Côn Đảo luôn gia tăng mạnh về sản lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng và phục vụ sản xuất trên địa bàn huyện Hiện nay 100% dân số được sử dụng

Trang 21

nước sạch, 100% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt 24/24h mỗi ngày Tiểu thủ công nghiệp của huyện phát triển dưới hình thức cá thể là chủ yếu: các cơ

sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, sản xuất đồ da dụng, sản xuất gạch đất nung thủ công, v.v ở Côn Đảo đều có quy mô nhỏ

Lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp trong những năm gần đây đang dần thay đổi Nông nghiệp tuy có thay đổi nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả kinh tế như mong muốn, chủ yếu phát triển về chăn nuôi với quy mô nhỏ, trồng trọt

đã đưa lại những sản phẩm như thóc, rau màu, củ quả các loại… cải thiện được đời sống cho nhân dân huyện đảo Tài nguyên rừng và đất được quản lý, bảo vệ tốt Ngư nghiệp chủ yếu là đánh bắt gần bờ Hiện nay có ba doanh nghiệp thu mua và nuôi cá mú ngắn hạn xuất khẩu sang Trung Quốc, Hồng Kông Một doanh nghiệp tư nhân với vốn đầu tư nước ngoài 100% chuyên nuôi cấy ngọc trai, đã hoàn thành giai đoạn thử nghiệm và đang chuyển sang giai đoạn nuôi thành phẩm

* Văn hóa - giáo dục

Cùng với việc phát triển kinh tế, Đảng bộ huyện Côn Đảo cũng song song đầu tư phát triển văn hóa - giáo dục Ngành giáo dục đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân Cơ sở vật chất ngành giáo dục được quan tâm đầu tư nâng cấp và bổ sung các phương tiện phục vụ cho việc dạy và học Chất lượng dạy và học ngày càng được chú trọng, các lớp bổ túc văn hóa được duy trì đều đặn Việc đào tạo tin học và sử dụng internet trở thành nhu cầu không thể thiếu của cán bộ và lớp trẻ Côn Đảo

Đời sống văn hóa của nhân dân huyện Côn Đảo không ngừng được nâng cao Các cơ quan có chức năng văn hóa thông tin đã tích cực tuyên truyền, cổ động, chuyển tải kịp thời các thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến dân cư trên đảo Hiện nay, Đài truyền thanh thuyền hình huyện Côn Đảo đã tiếp và phát sóng VTV1, VTV2, VTV3 của Đài truyền hình Việt Nam, HTV7, HTV9 của Đài truyền hình Tp.HCM, CVTV của Đài truyền hình Cần Thơ, tiếp âm Đài tiếng nói Việt Nam với thời lượng hàng ngàn giờ/năm Trung tâm văn hóa thông tin -

Trang 22

thể thao được thành lập đã tăng các loại hình hoạt động văn hóa trên địa bàn huyện Hoạt động văn hóa văn nghệ - thể dục thể thao trên địa bàn huyện được duy trì thường xuyên, liên tục và có hiệu quả Các khu dân cư đều có nhà văn hóa để sinh hoạt, hội họp Thư viện huyện cũng thường xuyên bổ sung các đầu sách mới phục vụ bạn đọc miễn phí Huyện còn mở thêm chín tủ sách cơ sở tại các nhà văn hóa khu dân cư và xây dựng mười tủ sách cơ sở tại các cơ quan, đơn vị

Ngoài ra, các ngày lễ lớn của dân tộc và các hoạt động văn hóa mang bản sắc đặc thù của Côn Đảo như Lễ hội mừng Côn Đảo giải phóng, Lễ giỗ

Bà Phi Yến và nữ anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Võ Thị Sáu được tổ chức long trọng

Sau nhiều năm phấn đấu, với những kết quả đạt được trong chỉ tiêu xây dựng huyện văn hóa, ngày 25/01/2002 Ủy ban nhân dân tỉnh BR-VT đã ban

hành Quyết định số 939/QĐ.UB công nhận Côn Đảo là Huyện văn hóa đầu

tiên của tỉnh Huyện Côn Đảo đã tổ chức trọng thể lễ đón nhận danh hiệu

Huyện văn hóa vào ngày 01/5/2002 Một năm sau, Côn Đảo lại vinh dự đón

nhận Huân chương lao động hạng ba vào ngày 21/01/2003 Đó là thành tựu

to lớn của cán bộ, chiến sĩ, quân và dân Côn Đảo trên lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần, là nguồn động viên rất lớn để tiếp tục phát huy, gìn giữ

Công tác bảo tồn, bảo tàng và phát huy giá trị khu di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo được quan tâm thường xuyên, nhiều tư liệu, hiện vật thường xuyên được sưu tầm, bổ sung Lịch sử đấu tranh cách mạng trong nhà tù Côn Đảo ngày càng được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng,

tiêu biểu là dịp thực hiện cầu truyền hình trực tiếp với chủ đề “Thiêng liêng Côn Đảo” năm 2005, v.v

1.2 Lịch sử xây dựng nhà tù Côn Đảo

1.2.1 Nhà tù Côn Đảo thời thực dân Pháp xâm lược (1862-1954)

1.2.1.1 Mục đích của thực dân Pháp xây dựng nhà tù Côn Đảo

Nhìn qua những hoạt động thăm dò, khảo sát, điều tra nghiên cứu và tranh chấp quần đảo Côn Lôn mà Pháp tiến hành suốt hai thế kỷ dễ nhận thấy

Trang 23

rõ ý đồ sâu xa của Pháp khi chiếm đóng Côn Đảo không chỉ để biến nơi này thành ngục tù mà đây còn là một địa điểm giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại cũng như trong việc kiểm soát, khống chế con đường hàng hải từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, bảo đảm độc quyền khai thác, tích lũy của tư bản Pháp ở khu vực này Thế nhưng cho đến lúc chiếm đóng Côn Đảo, Pháp vẫn chưa đủ điều kiện thực hiện ý đồ đó Trong khi ấy, những cuộc nổi dậy chống Pháp của nhân dân ta liên tục diễn ra, có lúc Pháp rơi vào tình thế khó khăn, mặt khác tình hình an ninh ở những vùng Pháp mới tạm chiếm thường xuyên không ổn định, những tội ác của thời loạn lạc (cướp của giết người, trộm cắp, hiếp dâm,…) thừa dịp hoành hành Hiện trạng đó đòi hỏi thực dân Pháp phải nhanh chóng tìm kiếm một địa điểm để giam giữ những người yêu nước đứng lên chống Pháp và cả những thường phạm nguy hiểm đang ngày càng tăng lên, vượt quá khả năng giam giữ của hệ thống nhà tù trong đất liền vốn có

Với địa thế xa xôi hẻo lánh, bốn bề trời biển mênh mông, cách đất liền gần trăm hải lý, thực dân Pháp chọn Côn Đảo làm nơi lý tưởng để xây dựng nhà tù nhằm mục đích cắt đứt mối liên hệ giữa tù nhân với gia đình, với những người yêu nước chống Pháp và với phong trào kháng chiến đang sôi sục trên phạm vi cả nước Mặt khác ở đây, nếu không có phương tiện, người

tù khó bề trốn thoát như trong đất liền, thực dân Pháp có thể yên tâm tập trung lực lượng cho việc “bình định” lấn chiếm mà không phải lo lắng, kiểm soát đề phòng các “tội phạm nguy hiểm” vượt ngục làm phương hại ý đồ xâm lược và thống trị của chúng

Mục tiêu thâm độc của Pháp là khi đưa tù nhân ra Côn Đảo có thể thi hành những biện pháp đàn áp dã man, tàn bạo nhất để lung lạc tinh thần đấu tranh thậm chí thẳng tay giết hại người tù mà không ai hay biết, không sợ bị công luận phản đối, lên án Hơn nữa Côn Đảo còn là một quần đảo hoang vắng không như nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) hay Khám Lớn (Sài Gòn) hoặc các nhà tù khác trong đất liền, tù nhân có đấu tranh mạnh mẽ tới đâu đi nữa cũng không gây được tiếng vang trước công luận, cũng không tạo nên ảnh hưởng

Trang 24

chính trị sâu rộng Chẳng thế mà bọn thực dân đã đe dọa “Ra Côn Đảo mà hò

la cho sóng biển nghe, ra Côn Đảo mà đấu tranh với cá mập” [4, tr.41]

Thực dân Pháp còn nhận định Côn Đảo là nơi dân cư thưa thớt, nguồn lợi thiên nhiên phong phú Muốn khai thác vùng đất này, phải đưa công nhân

từ nơi khác đến, cho nên dùng sức tù nhân ở đây rất thích hợp Nhận rõ vị trí đặc biệt của Côn Đảo, thực dân Pháp đã sớm quyết định xây dựng nhà tù đầu tiên ở Đông Dương trên quần đảo này nhằm cách ly những phần tử chống đối chính sách cai trị của thực dân, nguy hiểm và có hại đối với an ninh của thuộc địa; dùng chế độ tù đày khắc nghiệt để hành hạ, giết dần giết mòn người tù, đè bẹp ý chí phản kháng của họ, răn đe những người còn ở ngoài đời không dám làm gì chống chế độ thống trị thuộc địa; đồng thời bóc lột sức lao động của người tù để xây dựng và khai thác thuộc địa [1, tr.27]

1.2.1.2 Quy mô - Thiết kế xây dựng nhà tù Côn Đảo

Sau khi chiếm Côn Đảo ngày 28/11/1861, thống đốc Bonard ở Nam Kỳ phái ngay thông báo hạm Monge ra đảo làm công tác an dân và điều tra tình hình mọi mặt Ngày 14/01/1862, Bonard phái viên Trung úy Hải quân Félix Roussel cùng chiếc tàu chở hàng Nievre chở một số nhân viên ra đảo thay thế cho thông báo hạm Monge Họ có nhiệm vụ tìm vị trí dựng tạm Hải đăng Côn Đảo để khống chế nếu nước nào phản kháng hành động xâm lược vừa rồi Quan trọng hơn nữa là việc chuẩn bị cơ sở dự kiến đón nhận 200 tù nhân sắp gửi ra

Ngày 01/2/1862 Bonard ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo, cử Roussel làm Quản đốc đầu tiên của nhà tù Côn Đảo Roussel khẩn trương xúc tiến xây dựng một vài dãy nhà bằng vật liệu nhẹ tranh, tre, nứa, lá Liền sau

đó, tàu Echo chở 50 tù nhân đầu tiên ra Côn Đảo giam giữ trong các dãy nhà đơn sơ tạm bợ này Không bao lâu, đêm 28/6/1862, 50 tù nhân đầu tiên kết hợp với số binh lính triều Nguyễn đã nổi dậy đốt phá công sở, thiêu cháy nhà

tù Côn Đảo

Ngày 13/7/1862 Bonard phái thông báo hạm Noócdagaray vừa được tăng cường thêm một số lính đánh chiếm lại Côn Đảo Tháng 5/1863, Thiếu

Trang 25

úy Hải quân Richard được phái đến Côn Đảo để ổn định tình hình, tiếp tục xây dựng nhà tù Côn Đảo Vào giữa năm 1863, Quản đốc thứ hai của nhà tù Côn Đảo - Trung úy Hải quân Bizot bắt đầu dùng sức lao động của tù nhân để khai thác các vật liệu tại chỗ như lấy san hô nung vôi, đốn củi đốt lò, nung gạch, khai thác đá,… cùng một số vật liệu như gỗ, sắt, ngói lợp được đưa từ đất liền ra để xây dựng nhà tù kiên cố hơn [37, tr.35]

Bản báo cáo của Văn phòng Kiến trúc sư thuộc Nha Công trình Dân sự Nam Kỳ ngày 17/8/1874 và sơ đồ nhà tù vẽ ngày 20/4/1876 cho biết ngoài khu vực trại giam (Bagne I) ở trung tâm thị trấn, các cơ sở quan trọng cần thiết làm nền tảng cho việc mở rộng hệ thống nhà tù cũng đã khá hoàn chỉnh bao gồm: Khu Quản đốc, khu trại lính, khu y tế, khu Sở Lưới và Cầu tàu,…

Sơ đồ nhà tù Côn Đảo vẽ ngày 24/10/1885 cho thấy có những thay đổi trong quy mô xây dựng, về cơ bản quy hoạch vẫn như cũ [37, tr.36]

Như vậy, nhà tù Côn Đảo thời thực dân Pháp được xây dựng gồm có 04 Bagne chính và 01 khu biệt lập

Bagne I: thực dân Pháp cho xây dựng ngay khi có Nghị định thành lập

nhà tù Côn Đảo và được chỉnh trang lại kiên cố vào năm 1896, nằm giữa khu

tập thể chia làm hai dãy, 01 phòng giam tù đặc biệt, 20 xà lim (hầm đá), 01 hầm xay lúa và 01 khu đập đá khổ sai trong Bagne Ngoài ra còn có văn phòng Trưởng bagne, nhà bếp, nhà kho và 04 vọng gác

Bagne II: xây dựng năm 1908 khi số lượng tù nhân bị đày ra Côn Đảo

ngày một tăng, Bagne I không còn đủ sức đáp ứng Năm 1916 Bagne II được

làm hai dãy, 01 khu biệt lập có 14 xà lim (hầm đá) và 01 hầm tối Ngoài ra còn có văn phòng Trưởng bagne, nhà bếp và 04 vọng gác

Bagne III: xây dựng năm 1928, nằm cách Bagne II khoảng 1km, có

dãy phòng giam tập thể và 01 dãy biệt lập, 01 khu nhà bếp và văn phòng Trưởng bagne

Trang 26

Bagne III phụ: xây dựng năm 1940, có diện tích 6.054m2 gồm 08 phòng giam tập thể chia làm hai dãy

Khu biệt lập “Chuồng Cọp Pháp”: nằm giữa Bagne III chính và Bagne III phụ còn có một khu biệt lập được người tù mệnh danh là “Chuồng Cọp

phòng biệt giam chia làm hai dãy và 60 phòng không có mái che gọi là phòng

“Tắm nắng” được chia làm bốn dãy, đây cũng là nơi phạt tù nhân phơi nắng,

phơi mưa Chuồng Cọp được xây dựng cao, phía trên có dàn song sắt lớn, có hành lang để bọn gác ngục kiểm soát mọi hành vi của người tù

Những trại giam do thực dân Pháp thiết kế xây dựng giai đoạn này đều theo một quy cách, mặc dù rộng hẹp có khác nhau nhưng đều được xây bằng

đá hộc rất kiên cố, tường đá dày 50-60cm, hai mái nhà nặng nề kéo sụp xuống quá đầu tường chắn hết gió và ánh sáng từ mọi hướng Bên ngoài còn bao bọc bởi một bức tường đá dày và cao khoảng 4-5m, trên cắm mảnh chai và chăng kẽm gai, đồng thời có bố trí 04 tháp canh ở bốn góc, hoàn toàn cách biệt với đời sống bên ngoài

có lỗ tròn để sỏ thanh sắt còng chân tù nhân, trung bình giam từ 80 - 120 người, lúc cao điểm giam đến 150 -180 người Bốn ô cửa sổ hẹp khoảng 50x60cm, bố trí ở đầu tường giáp mái ngói, còn bị bịt kín bằng những tấm tôn dày có trổ những lỗ nhỏ như đầu đinh, khiến cho không khí không thể lưu thông được Khám giam chỉ có một cửa ra vào hẹp, có một cánh cửa gỗ dày

nẹp sắt kiên cố, có chốt khóa thô và nặng, tù nhân thường gọi là cửa rôn (cửa

ngục) Cánh cửa rôn có một lỗ tò vò có nắp sắt đậy kín, chỉ có thể hé mở từ bên ngoài để cho cai ngục nhòm vào kiểm tra bên trong khám Bước qua ngưỡng cửa lại có một chuồng cửa bằng những gióng sắt to lắp vào một khung sắt chụp lấy lối đi từ phía trong, trông như một cái lồng hình chữ nhật

dựng đứng, tù nhân gọi là cửa tămbua [4, tr.48] Cửa tămbua đóng mở bằng

các loại chốt khóa đặc biệt Cửa tămbua có tác dụng giữ cho tù không gây mất trật tự ở ngay lối ra, đồng thời bảo vệ giám thị khi cần bước vào ở phía trong

Trang 27

khám để kiểm soát, sau khi mở cánh cửa gỗ bên ngoài Vào giữa trưa nắng, khi đóng cửa rôn lại thì khám giam tối như bưng, không khí ngột ngạt, lại thêm mùi cầu tiêu ở góc khám xông lên nồng nặc vì cả ngày chỉ được dọn một lần vào buổi sáng Trong mỗi trại giam thực dân Pháp cho xây dựng một khu xà lim hay gọi là hầm đá (Bagne I), có trại giam vừa xây dựng xà lim, vừa xây dựng hầm tối (Bagne II)

Xà lim là hầm xây bằng đá nổi trên mặt đất, cao hơn 2m, trần xây cuốn,

mùa hè nóng hầm hập suốt ngày, mùa đông thì hơi đá tỏa ra lạnh thấu xương Cửa xà lim bằng sắt dày, đóng vào là kín như hũ nút, vách hầm sơn hắc ín đen ngòm Ở trong hầm, người tù trần truồng, chân bị cùm, nằm ngửa mặt lên trần suốt ngày, trông như một thây ma trong nhà mồ Xà lim nhỏ có thể nhốt một hoặc hai người tù, xà lim đôi nhốt được 5 đến 7 người tù Một tháng bị phạt

xà lim còn phải ăn cơm nhạt, uống nước lã 10 ngày [4, tr.49]

Hầm tối là nói đến loại xà lim nhỏ, chiều dài hơn 2m, rộng hơn 1m, chỉ

để hở một cái lỗ nhỏ lại bịt kín bằng một lưới sắt Bệ nằm bằng xi măng, trên

bệ có chôn một cái cùm gồm một suốt và hai còng sắt Người tù bị chốt chặt hai chân vào đó suốt ngày “Vào hầm tối ít lâu là người héo quắt lại, mắt mờ, chân đứng không vững” [4, tr.49] Cửa hầm tối cũng như cửa xà lim đều đóng

im ỉm suốt ngày, chỉ hé vội trước giờ ăn để đưa cơm vào cho người tù

Thời thực dân Pháp còn nổi tiếng tàn ác là ở Hầm xay lúa hay còn gọi

là “Khu trừng giới” hay “nhà tù trong nhà tù”, xây dựng ở góc cuối sân

trong Bagne I Hầm xay lúa là khu vực nhốt những người tù thuộc loại “bất trị”, rất “nguy hiểm” cho nhà tù Phạt xà lim và hầm tối chưa đủ tác dụng thì tiếp tục đày đọa họ xuống làm khổ sai ở Hầm xay lúa Thiết kế của Hầm xay lúa bao gồm một nhà giam có bệ xi măng để tù nhân nằm và một gian hầm xay lúa để tù nhân làm khổ sai Hầm xay lúa có 5 cối xay làm bằng vỏ thùng tonnô cũ Phải 6 người tù mới quay nổi cái cối đó Cứ hai người xiềng làm một, tù nhân phải quần quật quay cối xay từ 6 giờ sáng đến 5 giờ chiều Suốt ngày lúc nào cũng bụi mù mịt và nhiều người tù bị mờ mắt sau một năm ở đây [4, tr.50]

Trang 28

Cùng với việc xây dựng hệ thống nhà tù, thực dân Pháp còn thành lập các nghĩa địa để chôn tù nhân Theo các bản đồ được lập vào năm 1876 và

1885, nghĩa địa đầu tiên của nhà tù Côn Đảo được lập ở khu vực Chuồng Bò, hầu hết chôn hài cốt những nghĩa quân trong các phong trào chống Pháp Vào những năm cuối thế kỷ XIX, nghĩa địa được chuyển lên Hàng Keo Đến sau năm 1934 và nhất là giai đoạn 1941, chế độ khủng bố trắng sau cuộc khởi

nghĩa Nam Kỳ đã giết hại hàng ngàn tù nhân Nghĩa địa Hàng Keo hầu như hết chỗ thực dân Pháp mở tiếp nghĩa địa Hàng Dương để chôn tù [31, tr.234]

Bên cạnh hệ thống trại giam, thực dân Pháp còn xây dựng nhiều nhà ở,

công sở và dinh thự phục vụ cho bộ máy cai trị nhà tù như Nhà Chúa Đảo, Nhà Công Quán, Khu trại lính,v.v Ngoài ra, còn có một hệ thống các Sở tù

vừa là nơi lao dịch khổ sai, vừa là nơi giam giữ với các trại giam nhỏ kiến trúc sơ sài bằng vật liệu tranh, tre, nứa, lá…nằm rải rác khắp nơi ở các Sở khổ

sai được bố trí trên toàn đảo như Sở Củi - Chuồng Bò: xây dựng năm 1930

gồm 09 phòng giam nằm kề bên 24 hộc nuôi heo và đối diện ở đó là 02

chuồng nuôi bò, Sở đá (nơi bắn mìn phá đá), Sở Lưới (đan lưới, đóng ghe thuyền, đánh cá để cung cấp cá tươi cho các cơ sở hành chính), Sở Bản Chế (nơi làm dụng cụ rèn và mộc), Sở Lò Vôi (nơi lấy san hô nung vôi),v.v

1.2.2 Nhà tù Côn Đảo thời đế quốc Mỹ xâm lược (1955-1975)

1.2.2.1 Mục đích mở rộng nhà tù Côn Đảo của đế quốc Mỹ

Tháng 3/1955, thiếu tá A.Blanck bàn giao chức Giám đốc quần đảo và

đề lao Côn Đảo cho Bạch Văn Bốn - Thiếu tá quân đội Sài Gòn, chấm dứt gần một thế kỷ cai trị của thực dân Pháp tại Côn Đảo

Cũng như thực dân Pháp, Mỹ-ngụy tiếp tục chọn Côn Đảo làm nơi giam cầm, đày ải những phần tử chống đối “nguy hiểm”, biến nhà tù Côn Đảo

thành “Trung tâm cải huấn Côn Sơn” Trên cơ sở kế thừa các trại giam do

Pháp để lại, Mỹ-ngụy cho xây dựng thêm một số công trình mị dân, trá hình trong khuôn viên các trại này để che đậy tội ác của mình Nếu nhìn bề ngoài nhà tù Côn Đảo thời Mỹ-ngụy như một trại hướng đạo, cải huấn, tập trung giáo hóa các phần tử Việt Cộng nguy hiểm nhất Nhưng thực chất Mỹ-ngụy

Trang 29

áp dụng chế độ giam giữ, lao dịch mới vô cùng tàn ác và tinh vi Để thực hiện

ý đồ tiêu diệt ý chí đấu tranh và sinh mạng chính trị của các chiến sĩ cách mạng, Mỹ-ngụy tiếp tục mở rộng hệ thống nhà tù Côn Đảo để giải tỏa áp lực cho các nhà tù trong đất liền đang giam giữ một số lượng lớn tù nhân, đồng thời tăng cường cách ly, cô lập nghiêm ngặt những chiến sĩ cách mạng kiên trung bị quy cho là thành phần đầu sỏ, ngoan cố

1.2.2.2 Quy mô - Thiết kế mở rộng nhà tù Côn Đảo

Trước hết phải nói rằng, sau khi thực dân Pháp rút đi đã để lại 04 trại giam và 01 khu biệt lập “Chuồng Cọp”, thì Mỹ ngụy tiếp quản và tiếp tục sử dụng các khu trại giam này nhưng đã lần lượt thay đổi các tên gọi như sau:

Bagne I: lần lượt được đổi các tên gọi: Lao I, trại Cộng Hòa, Trại 2

Mỹ-ngụy cho sửa Hầm xay lúa làm bệnh xá, xây dựng thêm nhà ăn, phòng hớt tóc, câu lạc bộ, giảng đường, nhà nguyện và công viên trong khuôn viên trại giam này

Bagne II: lần lượt được đổi các tên gọi: Lao II, trại Nhân Vị, Trại 3

Mỹ-ngụy còn xây dựng thêm nhà trực, nhà kiểm soát

Bagne III: lần lượt được đổi các tên gọi: Lao III, trại Bác Ái, Trại 1

Mỹ-ngụy cho sửa hai dãy nhà giam, riêng khám 10 ngăn nhỏ làm khu biệt lập,

tù nhân gọi là khu biệt lập “Chuồng gà”

Bagne III phụ: cũng lần lượt được đổi các tên gọi: Lao III phụ, trại phụ

Bác Ái, Trại 4 Mỹ-ngụy còn xây dựng thêm nhà bếp, văn phòng, nhà kho, bệnh xá

Khu biệt lập “Chuồng Cọp Pháp”: Mỹ-ngụy cho tu sửa lại, xây bệnh

xá và áp dụng chế độ giam giữ, đàn áp hết sức dã man

Ngoài ra, Mỹ-ngụy không ngừng tiến hành kế hoạch mở rộng, xây dựng thêm một số trại giam và công trình quân sự như:

Trại 5: xây dựng từ năm 1962 cùng một kiểu cấu trúc như bốn trại

chia làm 3 dãy và một khu nhà bếp

Trang 30

Không những thế, Mỹ-ngụy còn đưa phái đoàn quân sự Hoa Kỳ ra Côn Đảo khảo sát nhiều đợt, và đề nghị chính phủ Mỹ sử dụng ngân sách của Maccor - chương trình viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ ở Việt Nam để xây dựng thêm hệ thống trại giam kiểu thực dân mới ở Côn Đảo Các chuyên gia

về xây cất nhà tù của Mỹ đã nghiên cứu, thiết kế một hệ thống nhà tù quy mô

gồm Trại 6, Trại 7, Trại 8, Trại 9, Trại 10 trên một diện tích gần 100ha ở phía

Đông Bắc thị trấn Côn Đảo Hãng thầu RMK-BRJ, một trong ba hãng thầu xây dựng lớn nhất nước Mỹ đã trúng thầu và gấp rút xây dựng hệ thống trại giam này Trại 6, Trại 7, Trại 8 được xây dựng gần như cùng một lúc vào năm

1968, hoàn thành cơ bản và đưa vào sử dụng vào năm 1970-1971 Riêng Trại

9 và Trại 10 đã được đổ móng, đúc cột, xây vài bức tường rồi bị bỏ dở sau Hiệp định Paris năm 1973

chia làm hai khu A và B Mỗi khu hai dãy gồm 10 phòng giam và 4 xà lim

Trại 7: là trại giam điển hình kiểu Mỹ, còn được tù nhân gọi là

chia làm 4 khu: AB - CD - EF - GH Mỗi khu có 2 dãy, mỗi dãy có 48 phòng nằm đối diện với nhau bằng một hành lang hẹp và tối

giam và 8 xà lim được chia làm hai khu

Sau Hiệp định Paris năm 1973, ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu muốn đánh lạc hướng dư luận trong và ngoài nước nên đã đổi tên hàng loạt các trại

giam Các trại giam lúc này đều được gắn với chữ “Phú” như: Trại 1 có tên là Phú Thọ; Trại 2 có tên là Phú Hải; Trại 3 có tên là Phú Sơn; Trại 4 có tên là Phú Tường; Trại 5 có tên là Phú Phong; Trại 6 có tên là Phú An; Trại 7 có tên

là Phú Bình; Trại 8 có tên là Phú Hưng

Ngoài ra vào cuối năm 1969 vì số tù chính trị đưa ra Côn Đảo ngày càng nhiều nên Mỹ-ngụy cho sửa 24 hộc nuôi heo ở Sở củi - Chuồng Bò

thành 24 phòng giam nữa Trại giam “Chuồng Bò” thời Mỹ-ngụy lên đến 33

Trang 31

phòng giam, chúng đã dùng nơi này để đày ải, cấm cố tù chính trị không kém

gì ở Chuồng Cọp Pháp

Thiết kế kiến trúc nhà tù thời Mỹ-ngụy được xây dựng tinh vi và tàn ác hơn Các trại giam đều được xây dựng thấp, mái đổ bê tông và lợp tôn fibrôximăng Các phòng giam đều không có bệ xi măng như thời Pháp, tất cả

tù nhân đều phải nằm dưới sàn Người tù phải chịu luồng khí lạnh từ nền khám xông lên và sức nóng từ trần nhà thấp hắt xuống làm người tù tàn tạ héo mòn

Trong thời kỳ này, Mỹ-ngụy đã sử dụng Chuồng Cọp thời Pháp để giam giữ những chiến sĩ cách mạng kiên trung, không chịu ly khai Đảng và áp dụng những biện pháp đàn áp dã man nhất bằng đánh đập, bằng vôi bột, bằng nước bẩn, bằng sào nhọn bịt đồng,… để thực hiện các thủ đoạn tố cộng, diệt cộng Chuồng Cọp Côn Đảo chính là nơi phơi bày những tội ác man rợ nhất, chà đạp lên nhân quyền con người của ngụy quyền Sài Gòn [4, tr.501]

Cho đến đầu tháng 7/1970, đoàn Nghị sĩ Mỹ đã đến Côn Đảo kiểm tra

và phát hiện vụ “Chuồng Cọp Côn Đảo” Trung tuần tháng 7/1970, trước áp lực của dư luận quốc tế, Mỹ-ngụy đành phải phá bỏ Chuồng Cọp Pháp Thay vào đó, Mỹ-ngụy cho xây dựng 384 phòng giam khác, mà người tù gọi là

“Chuồng Cọp kiểu Mỹ” (Trại 7) [4, tr.632]

Khác với Chuồng Cọp xây dựng thời Pháp, các phòng giam Chuồng Cọp kiểu Mỹ không có bệ nằm, tù nhân phải nằm dưới sàn; không có nhà cầu,

tù nhân phải tiểu tiện vào thùng cây Mỗi khi đấu tranh, chúng phạt bằng cách không cho đổ thùng cầu, chỉ 3 ngày là phân và nước tiểu bê bết từ đầu đến chân người tù Trần phòng giam trống trải với dàn song sắt lớn hấp thụ tối đa sức nóng từ mái tôn hắt xuống làm cho xà lim nóng như thiêu như đốt suốt ngày rồi chuyển sang lạnh dần từ nửa đêm về sáng do khí đất dưới sàn bốc lên Mỹ-ngụy đã lợi dụng các yếu tố bất lợi của thiên nhiên vào việc đày ải con người Chưa cần đến đòn roi, Chuồng Cọp kiểu Mỹ đã hành hạ người tù rất tinh vi, chết dần chết mòn bởi lối kiến trúc nhà tù kiểu Mỹ

Trang 32

Để chủ động được phương tiện giao thông nhanh chóng, tiện lợi hơn đường biển, Mỹ-ngụy đã cho xây dựng sân bay Cỏ Ống tại Côn Đảo vào năm

1961, để khi cần thiết họ có thể hỗ trợ cho bộ máy quản trị cấp thời tăng cường hay thay đổi thủ đoạn kìm kẹp các chiến sĩ, đồng bào yêu nước Việt Nam bị tù đày tại đây Đồng thời nhằm tận dụng triệt để lao động khổ sai của

tù nhân, ngụy quyền Côn Đảo tiếp tục củng cố và mở rộng quy mô tất cả các

Sở tù, kể cả các Sở mà thực dân Pháp bỏ hoang từ lâu Vì thế, ngoài các trại giam chính, còn có các trại giam phụ, xây dựng tương đối kiên cố tại các Sở

tù có công việc chuyên môn cố định như: Sở Lưới, Công Xưởng, Nhà Đèn, Lò Vôi, Chuồng Bò,v.v

1.2.3 Nhà tù Côn Đảo từ năm 1975-1979

Từ sau ngày Côn Đảo giải phóng, toàn bộ hệ thống nhà tù Côn Đảo do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ lần lượt xây dựng còn lại nguyên vẹn được Chính quyền cách mạng tiếp quản Một số công sở, dinh thự trước đây được

sử dụng làm văn phòng làm việc cho các ban ngành Vào những ngày đầu giải phóng, chính quyền cách mạng đã sử dụng Trại 7 để giam giữ các giám thị, công chức, trật tự ác ôn của chính quyền thực dân còn lại ở đảo Chính và Hòn Cau trước khi đưa về đất liền

Một năm sau ngày giải phóng, ngày 27/8/1976 cố Tổng Bí thư Lê Duẩn

đã trở lại thăm Côn Đảo và phát biểu: “Côn Đảo là một hòn đảo anh hùng Côn Đảo là một di tích lịch sử vĩ đại Côn Đảo là một trường học lớn đối với các thế hệ mai sau” Nhận thấy nhà tù Côn Đảo là chứng tích tố cáo tội ác

của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời là nơi thể hiện ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước, là một bộ phận gắn liền với cuộc đấu tranh giữ nước của cách mạng Việt Nam, cho nên ngày 12/10/1976 Bộ Văn hóa - Thông tin đã họp bàn và thực hiện nhiều công tác cụ thể đối với nhà tù Côn Đảo như cử một đoàn cán

bộ Bảo tồn Bảo tàng ra Côn Đảo nghiên cứu, khảo sát nhà tù Côn Đảo đồng thời hướng dẫn địa phương làm hồ sơ đăng ký xếp hạng và khoanh vùng khu vực di tích nhà tù Côn Đảo.v.v

Trang 33

Thế nhưng từ năm 1976 đến năm 1979, địa phương vẫn chưa làm được

hồ sơ xếp hạng di tích do đội ngũ cán bộ thiếu trình độ chuyên môn nghiệp

vụ Nhưng vì trên thực tế, nhà tù Côn Đảo có ý nghĩa lịch sử to lớn nên ngày 29/4/1979 Bộ trưởng Bộ VHTT Nguyễn Văn Hiếu ra quyết định số 54-VHTT/QĐ đặc cách công nhận Khu di tích lịch sử Côn Đảo và ghi nhận đây

là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, nhằm mục đích bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử Côn Đảo trong việc bồi dưỡng tinh thần yêu nước và phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân ta Từ đó nhà tù Côn Đảo trở thành khu di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia, được nhà nước bảo vệ về mặt pháp lý và khoa học

1.3 Giới thiệu chung về khu di tích nhà tù Côn Đảo

Khu di tích nhà tù Côn Đảo là khu di tích nhà tù lớn nhất và lâu đời nhất ở nước ta Trong suốt 113 năm tồn tại (1862-1975), thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã lần lượt giam cầm, đày đọa hàng chục vạn các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước qua nhiều thế hệ, biến Côn Đảo thành địa ngục trần gian khét tiếng tàn bạo Nhưng cũng chính tại nơi đây, những người yêu nước và các chiến sĩ cách mạng đã biến nhà tù thành chiến trường, thành trường học yêu nước và đấu tranh cách mạng Đó là cuộc đối đầu bất cân xứng giữa một bên là bộ máy cai trị được trang bị đầy đủ các phương tiện bạo lực với một bên là những người tay không một tấc vũ khí, chỉ bằng khối óc, trái tim và ý chí đấu tranh quật cường làm sức mạnh tinh thần để chiến thắng kẻ thù xâm lược

Khu di tích nhà tù Côn Đảo được đặc cách công nhận từ năm 1979 nhưng mãi cho đến ngày 23/2/1998 Ủy ban nhân dân tỉnh BR-VT mới lập biên bản số 10/BB.VHTT quy định khu vực bảo vệ khu di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo và kèm theo đó là Bản đồ khoanh vùng bảo vệ di tích Theo bản đồ khoanh vùng bảo vệ này, tổng diện tích phạm vi bảo vệ khu di tích lịch sử nhà

tù Côn Đảo là 209,402ha, trong đó tổng diện tích khu vực I là 47,7414 ha, khu vực II là 161,7506ha, bao gồm 20 điểm di tích như sau:

Trang 34

1 Nhà Chúa Đảo: xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, là nơi ở và làm việc

của 53 đời Chúa đảo, là cơ quan đầu não của bộ máy cai trị tù thời Pháp - Mỹ Đây là nơi xuất phát những mệnh lệnh, âm mưu, thủ đoạn của địch nhằm đàn

áp, tiêu diệt tù nhân Di tích còn thể hiện cuộc sống xa hoa của địch bên cạnh cuộc sống nghèo nàn, hà khắc của tù nhân; đồng thời là nơi ghi dấu sự kiện thành lập chính quyền cách mạng đầu tiên ở Côn Đảo năm 1945 và năm 1975

2 Cầu tàu lịch sử: xây dựng năm 1873, nơi lưu niệm hàng ngàn tù

nhân đã ngã xuống trong quá trình lao động khổ sai xây dựng Cầu tàu Đây là nơi cập bến của các con tàu chở tù nhân ra Côn Đảo, nơi chứng kiến những trận đòn khốc liệt phủ đầu nhằm uy hiếp tù nhân, đồng thời cũng là nơi chứng kiến niềm hân hoan của hơn 2000 tù chính trị được đón về đất liền năm 1945

3 Nhà Công Quán: xây dựng cuối thế kỷ XIX, từng là nơi dừng chân

của nhạc sỹ kỳ tài người Pháp Camille Saint Saens Tại đây ông đã hoàn tất

ba chương cuối vở nhạc kịch bất hủ Brunehilda của một người bạn nhạc sỹ đã

ủy thác cho ông khi qua đời Đó là dấu ấn đẹp đẽ duy nhất của người Pháp

4 Sở Lưới: xây dựng cuối thế kỷ XIX, là nơi giam giữ những người tù

lao động khổ sai đánh cá, lặn lấy sản vật dưới biển,… để cống nạp cho Chúa đảo Đồng chí Tôn Đức Thắng từng bị giam giữ và đã thiết lập một đường dây liên lạc giữa tù chính trị Côn Đảo với Đảng Cộng sản Pháp thông qua những thủy thủ thuộc hãng vận tải Năm Sao Tại đây, nhiều cuộc cướp tàu vượt ngục của tù nhân đã diễn ra thắng lợi

5 Trại 2 (Bagne I): Đây là trại giam lớn và cổ nhất ở Côn Đảo Nhiều

đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta bị giam giữ ở đây Bagne I là nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo năm 1932, nơi ra đời các tờ báo bí mật của Chi bộ Đảng trong tù, nơi những chiến sĩ cách mạng mở các lớp học văn hóa, lý luận chính trị Có khu trừng giới “Hầm xay lúa” từng được mệnh danh là nhà tù trong nhà tù, địa ngục trong địa ngục Thời kháng

chiến chống Pháp, tù chính trị Bagne I đã tổ chức ra Liên đoàn tù nhân Côn Đảo (1947) và Đảng ủy nhà tù (1950) sau gọi là Đảo ủy Năm 1957, đây là

Trang 35

nơi khởi đầu cuộc đấu tranh chống ly khai Đảng Cộng sản của tù chính trị câu lưu - ngọn cờ đầu của phong trào đấu tranh bảo vệ khí tiết của tù chính trị Côn Đảo

6 Trại 3 (Bagne II): Nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ta đã

từng bị giam giữ, đày ải tại đây Bagne II là nơi tổ chức các lớp học văn hóa,

lý luận chính trị đầu tiên của nhà tù Côn Đảo Đây cũng là nơi diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt và giành thắng lợi của hệ tư tưởng Cộng sản đối với hệ tư tưởng của Quốc dân đảng

7 Trại 1 (Bagne III): Nơi tập trung giam giữ những người tù nguy

hiểm được thanh lọc từ Bagne I và Bagne II Thời Mỹ-ngụy là nơi giam giữ những người chống ly khai bảo vệ khí tiết người Cộng sản

8 Trại 4 (Bagne III phụ): Thời Pháp giam giữ các tù nhân có bệnh

truyền nhiễm Sau đó dùng để giam giữ tù binh Việt Minh Thời Mỹ-ngụy dùng là nơi giam cầm, đày ải các tù nhân chống ly khai

9 Khu biệt lập Chuồng Cọp Pháp: là nơi Mỹ-ngụy đã dùng mọi thủ

đoạn tàn bạo để đày ải, giết dần giết mòn các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước Đồng thời, đây cũng là nơi các chiến sĩ cách mạng thể hiện ý chí đấu tranh bất khuất, thà hy sinh chứ không chịu đầu hàng, không ly khai Đảng và Bác Hồ Điển hình là cuộc đấu tranh giữ vững khí tiết với 5 ngôi sao sáng thắng lợi trở về năm 1964

10 Phòng điều tra: là nơi Mỹ-ngụy dùng để tra tấn, khai thác khẩu

cung và giam giữ tù nhân trong hầm tối

11 Trại 5: là nơi giam giữ tù câu lưu dân sự, quân sự (tù binh) và giam

giữ nữ tù chính trị năm 1970

12 Trại 6: giam giữ tù câu lưu và nữ tù chính trị Tại đây diễn ra nhiều

cuộc đấu tranh của tù nhân chống lại bộ máy cai trị tù Điển hình nhất là khu

B với phong trào đấu tranh chống lăn tay chụp hình tráo án tù chính trị thành

tù thường phạm để ém giấu tù chính trị không trao trả theo Hiệp định Paris năm 1973 Cũng tại khu B, anh em đã tổ chức nhiều đợt biểu diễn văn nghệ,

Trang 36

biên tập các tập san Xây dựng, cất giấu radio nghe và chép tin tức để tuyên

truyền, giữ vững tinh thần đấu tranh cách mạng

13 Trại 7 (Chuồng Cọp kiểu Mỹ): là trại giam điển hình kiểu Mỹ, thay

thế cho Chuồng Cọp Pháp đã bị phá do dư luận trong nước và quốc tế lên án mạnh mẽ, dùng để giam giữ, đày ải những người tù “nguy hiểm” nhất được thanh lọc từ các trại Khu H là nơi xuất phát đầu tiên của cuộc nổi dậy, giải phóng hoàn toàn Côn Đảo ngày 01/5/1975

14 Trại 8: còn đang xây dựng dang dở, dùng để giam giữ tù chính trị

không án từ đất liền mới ra đảo

15 Khu biệt lập Chuồng Bò: thời Pháp là nơi giam giữ tù nhân lao

động khổ sai kéo cây, đốn củi Thời Mỹ dùng để giam giữ biệt lập những tù chính trị mà chúng cho là ngoan cố, đầu sỏ Hầm phân bò có cống ngầm thông với hai dãy Chuồng Bò, là nơi địch dùng để tra tấn, đày ải một số tù nhân

16 Cầu Ma Thiên Lãnh: cầu đang xây dựng dang dở được hai mố cầu

nhưng đã có 356 tù nhân đã chết Bảo vệ di tích nhằm tố cáo tội ác dã man của thực dân Pháp trong việc bóc lột lao động khổ sai tù nhân

17 Sở Lò Vôi: là nơi giam giữ và cưỡng bức lao động khổ sai Tù nhân

bị bắt khai thác san hô dưới biển về nung vôi phục vụ cho việc xây dựng trại giam và các công trình khác

18 Nghĩa trang Hàng Dương: được hình thành từ năm 1941, có diện

tích khoảng 19ha, được chia làm 4 khu: A-B-C-D Theo ước tính có khoảng hai vạn người đã yên nghỉ nhưng thực tế dấu vết còn lại đến ngày nay chỉ có 1.912 ngôi mộ, trong đó chỉ biết tên họ, quê quán 709 người, còn lại là những ngôi mộ khuyết danh Dù cho mộ chí ở đây có tên hay không tên, được tôn tạo hay bị vùi lấp thì mỗi nắm đất nơi đây đều là một dấu tích của bao sự kiện đấu tranh cách mạng đối với mỗi liệt sĩ, mỗi con người, mỗi thời kỳ đấu tranh của nhà tù Côn Đảo Khu A tiêu biểu là mộ cụ Nguyễn An Ninh và đồng chí

Lê Hồng Phong; Khu B là nơi chôn hài cốt tù nhân kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và một phần tù nhân kháng chiến chống Mỹ, tiêu biểu là mộ nữ

Trang 37

anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu - người nữ tù chính trị đầu tiên và duy nhất bị đưa

ra xử bắn tại nhà tù Côn Đảo; Khu C chôn những hài cốt tù nhân chống Mỹ, trong đó có phần mộ của anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam Lê

Văn Việt; Khu D là nơi quy tập những ngôi mộ từ Nghĩa trang Hàng Keo và

Hòn Cau về

19 Nghĩa trang Hàng Keo: hình thành vào đầu thế kỷ XX kéo dài đến

năm 1940, ước tính chôn cất khoảng 10.000 tù nhân bị thực dân Pháp giết hại tại nhà tù Côn Đảo

20 Khu thị trấn Côn Đảo: xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, nhằm phục vụ

cho bộ máy cai trị tù Các công trình kiến trúc này minh chứng cho việc bóc lột sức lao động khổ sai của người tù, là sự so sánh đối lập với kiến trúc ghê rợn của trại giam

Tiểu kết

Côn Đảo là một quần đảo nằm ở phía Đông Nam của Tổ quốc Việt Nam trên đường giao lưu Âu - Á, cách đất liền hàng trăm hải lý Côn Đảo bao gồm 16 hòn đảo lớn nhỏ trong đó Hòn chính hay còn gọi hòn Côn Lôn là nơi tập trung mọi đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của cả quần đảo Côn Đảo còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, là nơi tập trung nhiều loài động, thực vật quý hiếm có cả ở ba miền Bắc, Trung, Nam

Sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đã chọn Côn Đảo làm nơi xây dựng nhà tù để giam cầm, đày ải, tra tấn các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước Cho đến khi thực dân Pháp thất bại, đế quốc Mỹ tiếp tục mở rộng nhà tù Côn Đảo và sử dụng nhà tù không khác gì âm mưu của thực dân Pháp nhưng có tính chất tàn bạo, thâm độc hơn Nhưng chính tại nhà tù Côn Đảo, khó khăn gian khổ càng tôi luyện các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước thành những người “cứng như sắt, vững như đồng”, họ đã biến nhà tù Côn Đảo thành trường học yêu nước và đấu tranh cách mạng

Trang 38

Từ sau ngày giải phóng, nhận thức được giá trị và tầm quan trọng của khu di tích nhà tù Côn Đảo, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra quyết định số 54/QĐ-VHTT ngày 29/4/1979 đặc cách công nhận và xem đây là khu di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia vào ngày bao gồm 20 điểm di tích

Những nội dung được trình bày trong phần này sẽ là cơ sở để tác giả tiếp tục làm sáng tỏ các giá trị của khu di tích nhà tù Côn Đảo trong chương sau

Trang 39

Chương 2 NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA KHU DI TÍCH NHÀ TÙ CÔN ĐẢO

2.1 Giá trị lịch sử

2.1.1 Góp phần nghiên cứu lịch sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta

Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta Thực dân và đế quốc không thể giết hại hàng loạt các chiến sĩ cách mạng thì giết dần giết mòn ý chí chiến đấu của họ để tiêu diệt lực lượng cách mạng ngay trong nhà tù Với truyền thống yêu nước, bất cứ nơi đâu và trong hoàn cảnh nào người cộng sản cũng phải không ngừng hoạt động cách mạng Vì thế nghiên cứu lịch sử khu di tích nhà

tù Côn Đảo là góp phần nghiên cứu lịch sử đấu tranh của những người yêu nước và chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta

Trái với ý đồ của thực dân và đế quốc, các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước trong nhà tù Côn Đảo qua các thế hệ, bất chấp chế độ lao tù tàn bạo, sự kiểm soát gắt gao, sự đàn áp dã man của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, họ vẫn tìm mọi cách đấu tranh, tổ chức Chi bộ, Đảng bộ, hoặc Ban lãnh đạo,…ở từng trại, từng phòng để lãnh đạo phong trào đấu tranh trong tù Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Đảng bộ các chiến sĩ cách

mạng và những người Việt Nam yêu nước đã không ngừng đấu tranh “Thà hy sinh chứ nhất định không chịu đầu hàng”, giữ vững khí tiết người Cộng sản, biến ngục tù Côn Đảo thành “Trường học yêu nước và đấu tranh cách mạng”,

là vườn ươm cán bộ của cách mạng Việt Nam Chúng ta rất tự hào có nhiều đồng chí sau khi ra tù đã trở thành những cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng

ta trong cao trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939) như: Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Diểu, Ung Văn Khiêm, Lê

Trang 40

Thanh Nghị, Nguyễn Văn Linh, Hà Huy Giáp, Trần Huy Liệu,…và rất nhiều

đồng chí cán bộ cao cấp khác của Đảng đã trải qua “Trường đại học sau song sắt” ở Côn Đảo như: đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Phạm

Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Lê Văn Lương,

2.1.1.1 Nghiên cứu hình thức đấu tranh của những người Việt Nam yêu nước trong nhà tù Côn Đảo trước năm 1930

Thực dân Pháp dùng nhà tù Côn Đảo để lưu đày tù chính trị thuộc đủ mọi phong trào, mọi xu hướng Số tù chính trị đầu tiên ra Côn Đảo là những nông dân và những người thuộc tầng lớp lao động khác đã đấu tranh võ trang giữ từng tấc đất của Tổ quốc vào cuối thế kỷ XIX, khi bị đày ra Côn Đảo họ vẫn tiếp tục đấu tranh với tinh thần cương quyết dùng bạo lực chống lại kẻ thù

có bạo lực Lớp tù nhân đầu tiên này mang lại cho cuộc đấu tranh ở nhà tù

Côn Đảo hình thức chủ yếu là đấu tranh vũ trang thuần túy Họ đã tổ chức

nhiều cuộc nổi dậy thành công, đã khiến thực dân Pháp phải hoang mang Tuy nhiên cũng có những cuộc nổi dậy thất bại do tổ chức thiếu chặt chẽ

Sau cuộc kháng thuế ở Trung Kỳ, một lớp tù nhân mới là những vị văn thân, những nhà nho yêu nước hoạt động trong các phong trào Đông Du (1905-1908), Đông Kinh nghĩa thục (1907), phong trào Duy Tân và phong trào chống đi phu, đòi giảm thuế ở Trung Kỳ (1907-1908) đã bị Pháp đày ra Côn Đảo Phần lớn các vị đều là những người cầm đầu, khởi xướng các tổ chức cách mạng theo chiều hướng dân chủ tư sản Các cụ không chủ trương bạo động mà chuyển sang hình thức đấu tranh trên các mặt chính trị, văn hóa

và đòi cải thiện đời sống theo khuynh hướng cải lương, biểu hiện trong một nền thi ca mới: thi ca trong tù, khởi đầu là thi ca trong ngục tù Côn Lôn, tiêu

biểu là các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn…

2.1.1.2 Nghiên cứu quá trình thành lập và vai trò lãnh đạo của Chi bộ Đảng đối với phong trào đấu tranh trong nhà tù Côn Đảo từ 1930-1945

Ngày 03/2/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng phong trào kháng chiến chống Pháp ngày càng dâng lên mạnh

mẽ, tiêu biểu là cao trào cách mạng 1930 - 1931 Thực dân Pháp điên cuồng

Ngày đăng: 05/06/2021, 23:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w