1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp cận giá trị văn hóa nghệ thuật chùa nam dư hạ (thôn nam dư hạ, phường trần phú, huyện hoàng mai, hà nội)

110 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 464,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời cảm ơn Sau một thời gian nỗ lực nghiên cứu, được sự giúp đỡ và chỉ bảo của các thầy cô giáo, tôi đã hoàn thành được bản luận văn “Tiếp cận giá trị văn hóa – nghệ thuật chùa Nam Dư Hạ

Trang 2

Lời cảm ơn

Sau một thời gian nỗ lực nghiên cứu, được sự giúp đỡ và chỉ bảo của các thầy cô giáo, tôi đã hoàn thành được bản luận văn “Tiếp cận giá trị văn hóa – nghệ thuật chùa Nam Dư Hạ”

Trước hết, tôi giành lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất của tôi tới PGS.TS Trần Lâm Biền, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và chỉ bảo cho tôi những vấn đề trọng tâm của đề tài ngay từ khi nghiên cứu xây dựng đề cương và cho đến lúc hoàn thiện bản luận văn Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Sau Đại học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn này

Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ về tư liệu của Ban quản

lý Di tích và Danh thắng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Viện nghiên cứu Hán Nôm Đặc biệt sự giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình của các cụ trong Ban quản lý di tích Đình – Chùa Nam Dư Hạ và sư thầy Đàm ấn, đã tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều cho tôi trong quá trình khảo sát, tiếp cận di tích chùa Nam Dư Hạ

Có thể nói, đề tài này đã thực hiện toàn diện đề cương trên cơ sở tinh thần

nỗ lực nghiên cứu của bản thân, có sự kế thừa, tổng hợp tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước Tuy nhiên, do trình độ bản thân còn hạn chế, nên luận văn của tôi chắc hẳn còn nhiều thiết sót Kính mong nhận được sự giúp đỡ và góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin cam đoan bản luận văn là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng hợp các nguồn tư liệu một cách nghiêm túc của bản thân Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực, chuẩn xác của nội dung luận văn

Xin chân thành cảm ơn

Hà nội,tháng năm 2009

Trần Thị Vân Hà

Trang 4

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 6

1.1 2 Lịch sử thay đổi địa giới và tên gọi 8

1.1 3 Đời sống kinh tế 10

1.1 4 Con người và lịch sử vùng đất Nam Dư 13

1.2 Lịch sử hình thành và quá trình tồn tại của chùa Nam Dư Hạ 23

Trang 5

2.2.1 Trang trí kiến trúc 42

2.2.3 Một số di vật tiêu biểu. 75

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3 : Chùa Nam Dư Hạ trong đời sống văn hóa của cư dân

địa phương, vấn đề bảo tồn vμ phát huy giá trị di tích hiện nay

78 3.1 Chùa Nam Dư Hạ và điện Mẫu trong đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương 78

3.2 Hiện trạng các giá trị văn hóa chùa Nam Dư Hạ 85

3.2.1 Hiện trạng không gian cảnh quan 85

3.2.2 Hiện trạng kiến trúc 86

3.2.3 Hiện trạng điêu khắc, trang trí 87

3.2.4 Hiện trạng di vật, cổ vật 88

3.3 Giải pháp bảo tồn và pháp huy di tích 88

3.3.1 Giải pháp bảo quản, tu bổ chống xuống cấp cho di tích 90

Trang 6

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tμi

Di tích lịch sử - văn hoá là một dạng tài sản có giá trị của mỗi dân tộc

và của toàn nhân loại, là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc

điểm văn hoá của từng quốc gia Ngày nay, dù phát triển ở trình độ nào mỗi

đất nước đều phải tiến hành những hoạt động bảo tồn và phát huy di tích cho riêng mình và di tích lịch sử - văn hoá không chỉ nằm trong sự quan tâm của từng quốc gia mà còn nhận được sự quan tâm của cả cộng đồng quốc tế

Việt Nam là đất nước có loại hình di tích lịch sử văn hóa phong phú và đa dạng, trong đó di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm một số lượng đáng kể, nhất là kiến trúc chùa Việt Nam Từ xa xưa, các mái chùa cổ kính đã góp phần tô điểm cho làng quê Việt Nam Tiếng “thu không” thâm trầm đã đi vào nhịp sống thường nhật của mỗi người dân Có một thời kì Phật giáo phát triển đến đỉnh cao, như cuối thời Lý, Trần với nhiều chùa, tháp được xây dựng khắp nơi, đôi lúc có hệ tôn giáo khác phát triển mạnh hơn, nhưng tinh thần từ bác ái của Phật giáo vẫn thấm sâu trong tâm hồn người Việt Chính vì vậy, ngôi chùa đã chiếm một vị trí khá quan trọng và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt Việc nghiên cứu ngôi chùa, xác định các mặt giá trị của nó không chỉ có ý nghĩa nghiên cứu tìm hiểu về văn hóa truyền thống của người Việt mà còn cung cấp nguồn tư liệu khoa học cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng Việt cổ truyền trong đời sống hiện nay

Trên dòng chảy của thời gian, nhiều ngôi chùa đã được dựng lên, nhưng do

sự khắc nghiệt của thời tiết, những thác ghềnh của lịch sử, trong đó có cả những bàn tay vô thức hay hữu thức của con người mà những ngôi chùa đã bị huỷ hoại Mặt khác, người đến cửa Phật ngày càng xa cốt lõi bản nguyên của Đạo,

Trang 7

làm bệ đỡ cho ý thức muốn làm mới để gây công quả, nên kiến trúc cổ cũng bị mai một dần Mặc dù vậy, cái thần thái của ngôi chùa Việt với không gian của

nó vẫn duy trì được nét cơ bản, vẫn là nơi làm cân bằng tâm hồn cho những người hành hương Nổi bật trong chùa là nghệ thuật tạo tượng và những nét kiến trúc cổ còn lưu lại Nghiên cứu về ngôi chùa không đơn giản chỉ dừng lại ở tính chất tôn giáo tín ngưỡng, mà qua đó chúng ta còn hiểu thêm về những vấn đề lịch sử và xã hội

Chùa Nam Dư Hạ thuộc thôn Nam Dư Hạ của phường Trần Phú quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội ít nhiều đã nằm trong dòng chảy chung của lịch

sử hình thành và phát triển chùa Việt, nhưng nó cũng có nhiều nét độc đáo riêng của mình để phản ánh những “thác ghềnh” của một thời đã qua Ngôi chùa đã cho chúng ta thấy những giá trị nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc và cả trang trí trong diễn trình tồn tại của nó Tìm hiểu di tích với ước vọng giải mã

được phần nào về biểu tượng, đặc trưng của ngôi Chùa, đồng thời cũng mong nắm bắt được thực trạng về mọi mặt của di tích để đánh giá rồi từ đó đưa ra một số giải pháp cho vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị của di tích trong giai

đoạn hiện nay

Vì những lý do nêu trên mà học viên đã chọn đề tài “Tiếp cận giá trị văn hoá

- nghệ thuật chùa Nam Dư Hạ” làm luận văn tốt nghiệp bậc cao học của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

“Ngôi chùa Việt” đã là đối tượng của nhiều đề tài khoa học và không ít

học giả quan tâm Trong các cuốn sách như: "Chùa Việt" [9], “Đồ thờ trong di tích của người Việt” [10], “Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt” [13], “Trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt” [12] của tác giả PGS Trần Lâm Biền; “Chùa Việt Nam” [36] của GS Hà Văn Tấn; “Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam” của PGS Chu Quang Trứ [49] v.v, phần nào đã đề cập đến những nét chung nhất về đặc điểm ngôi chùa Việt, trong đó bao gồm: kết cấu

Trang 8

kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc, tượng thờ, trong phần lớn các ngôi chùa Việt cổ truyền v.v

Chùa Nam Dư Hạ là một công trình kiến trúc nghệ thuật đã được Bộ văn hóa - Thông tin xếp hạng từ năm 1991 Song đến nay, việc nghiên cứu về quần thể di tích chùa Nam Dư Hạ chưa được quan tâm đầy đủ, ngoài bộ hồ sơ xếp hạng di tích hiện đang lưu giữ tại Cục Di sản Văn hoá, Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội và một vài trang tư liệu mỏng manh trong một vài cuốn tư liệu tổng hợp chung

Trong các cuốn sách: “Chùa Việt Nam” của GS Hà Văn Tấn, chủ biên [36] và cuốn “Di tích lịch sử Văn hoá Hà Nội” do Nguyễn Doãn Tuân - chủ biên [51], các tác giả giới thiệu nhiều di tích của Hà Nội đã được xếp hạng, chùa Nam Dư Hạ đã có tên ở phần danh sách thống kê di tích lịch sử Hà Nội

đã được xếp hạng

Chùa Nam Dư Hạ được nhắc đến trong cuốn “Chùa Hà Nội” [24], do Nguyễn Thế Long và Phạm Mai Hùng đồng chủ biên Tại đây, có 130 ngôi chùa ở Hà Nội đã được xếp hạng di tích văn hóa được tác giả giới thiệu Khi viết về Chùa Nam Dư Hạ, tác giả đã dùng nguồn tài liệu từ hồ sơ xếp hạng di tích văn hóa của Cục Bảo tồn – Bảo tàng, Bộ Văn hóa – Thông tin

Gần đây, tuy di tích chùa Nam Dư Hạ, đã có một số tác giả quan tâm tới, nhưng vẫn chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, chi tiết và đầy đủ các giá trị văn hoá nghệ thuật của công trình kiến trúc văn hoá này

Vì vậy, kế thừa và tiếp thu những kết quả của các tác giả đi trước, kết hợp với nguồn tư liệu của địa phương về làng Trần Phú- Hoàng Mai, trong đó có

đề cập tới với chùa Nam Dư Hạ, qua hồ sơ xếp hạng di tích chùa Nam Dư Hạ, cùng các tư liệu liên quan đến đề tài là những cơ sở tham khảo rất cần thiết và

bổ ích cho học viên khi triển khai đề tài nghiên cứu của mình

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trang 9

* Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu di tích chùa

Nam Dư Hạ, tại thôn Nam Dư Hạ, phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội Mở rộng tìm hiểu một số di tích khác có mối liên hệ nhất định chỉ được đề cập trong những phần phân tích bổ trợ như: đình Nam Dư Hạ, chùa Tây Phương (Hà Tây) v.v

* Phạm vi không gian nghiên cứu: nghiên cứu chùa Nam Dư Hạ

trong không gian văn hóa của thôn Nam Dư Hạ, phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xưa và nay

4 Mục đích nghiên cứu của đề tμi

- Hệ thống hóa các tài liệu của các tác giả đã viết về chùa Nam Dư Hạ Tìm hiểu quá trình ra đời và tồn tại của quần thể di tích chùa Nam Dư Hạ

- Nghiên cứu di tích chùa Nam Dư Hạ trên các phương diện văn hoá, nghệ thuật bao gồm kiến trúc, điêu khắc, trang trí Đặc biệt tập trung nghiên cứu những giá trị văn hoá nghệ thuật của hệ thống điêu khắc tượng thờ, kết cấu kiến trúc của nhà Tổ, phong cách tượng và cách thờ tại điện Mẫu

- Tìm hiểu mối quan hệ của chùa Nam Dư Hạ với đời sống văn hoá của cộng đồng người dân Nam Dư nhằm nêu được vai trò của Chùa trong đời sống cư dân từ trước đến nay

- Nghiên cứu và đánh giá toàn bộ hiện trạng của di tích từ đó đưa ra một

số đề xuất nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

- Luận văn vận dụng phương pháp khảo sát điền dã: quan sát thực địa với các thao tác như: quan sát, đo vẽ, chụp ảnh, miêu tả, phỏng vấn, ghi chép, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp

- Xác định được giá trị văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu của ngôi chùa

- Đánh giá được thực trạng của di tích Nam Dư Hạ

- Đưa ra một số đề xuất nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong giai

đoạn hiện nay phù hợp với định hướng phát triển văn hoá của Đảng: Xây dựng

và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương

Trang 11

Chương 1Chùa Nam Dư Hạ trong không gian văn hóa Nam Dư Hạ

1.1 Tổng quan về lμng Nam Dư Hạ

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Chùa Nam Dư Hạ hiện nay thuộc thôn Nam Dư Hạ phường Trần Phú quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội Quận Hoàng Mai nằm ở phía Đông Nam thành phố Hà Nội có diện tích là 4.104.1ha (41km2), có đường giao thông thủy trên sông Hồng, có nhiều đường giao thông bộ quan trọng đi qua: Quốc

lộ 1A, 1B; đường vành đai 3; cầu Thanh Trì; đường vành đai 2 và vành đai 5

Địa giới hành chính của quận: phía Đông giáp huyện Gia Lâm; phía Tây giáp huyện Thanh Trì, phía Bắc giáp quận Thanh Xuân, phía Nam giáp quận Hai

Bà Trưng Quận bao gồm 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Trần Phú, Hoàng Liệt, Yên Sở, Vĩnh Hưng, Định Công, Đại Kim, Thịnh Liệt, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ Xóm làng Trần Phú chạy dài theo bờ sông Hồng, phía Bắc và Đông giáp xã Lĩnh Nam (thuộc Nam Dư Thượng), Tây giáp xã Yên Sở, Nam giáp sông Hồng, bên kia sông thuộc xã Văn Đức, huyện Gia Lâm

Thôn Nam Dư Hạ xưa kia thuộc làng Nam Dư, ngay tên gọi "Nam Dư"

đã nói lên được vị trí cũng như điều kiện về tự nhiên của vùng đất này, từ

“Dư” trong từ điển Hán - Việt có nghĩa là đất tốt, giàu có, của cải dư thừa,

“Nam Dư” có nghĩa là vùng đất tốt được cầy ải, có của cải dư thừa nằm phía Nam kinh thành Thăng Long Nghĩa “Thượng” và “Hạ”, ở đây có nghĩa phân chia giữa làng trên và làng dưới mà thôi

Từ trung tâm thành phố về phía Nam, xuôi hết phố Bà Triệu thì rẽ trái vào đường Trần Khát Chân, đến ngã tư thứ nhất rẽ phải và đi hết phố Bạch

Trang 12

Mai rồi rẽ trái sang đường Minh Khai là tới cầu Mai Động Qua cầu rẽ luôn vào đường Tam Trinh rồi ngoặt vào đường Lĩnh Nam Đi dọc đường Linh Nam khoảng 3 km, rẽ bên phải là phố Tây Trà, đi vào khoảng 500m sẽ tới chùa Nam Dư Hạ nằm trên đường Trần Phú

Nam Dư Hạ là một vùng đất vừa có ruộng ở trong đồng, vừa có đất bãi ngoài đê được phù sa sông Hồng bồi đắp nên cánh bãi quê hương luôn màu

mỡ Khi xưa, Nam Dư Hạ thuộc một vùng của Nam Dư, là vùng đất rộng, phía ngoài bờ đê sông Hồng Trong quá khứ, nơi đây đã từng tồn tại một bến sông

có tên là bến Nam Dư, sau này bến sông trở thành bến phà Khuyến Lương (ngày nay, tại đây đang hình thành một cây cầu vượt sông Hồng có tên là cầu

Thanh Trì) Bến sông Nam Dư được nhắc đến trong sách “Hoàng Lê Nhất

Thống Chí” như một vị trí chiến lược về quân sự Không những vậy, bến sông

còn là nơi có phong cảnh đẹp, trên bến dưới thuyền tấp nập người qua kẻ lại

Sách “Thăng long cổ tích khảo tịch hội đồ” do Viện Viễn đông bác cổ biên

soạn cho biết: khi vịnh tám cảnh đẹp ở Thăng Long (Thăng long bát cảnh) vào thời Lê, tác giả đã nhắc đến cảnh đẹp của bến sông Nam Dư trong bài “Thanh trì vấn tân” (Thăm bến sông Thanh Trì) Nam Dư Hạ vốn có một cảnh quan khá đẹp, trước cửa Đình Nam Dư Hạ xưa kia là một dòng sông có tên gọi là sông Huệ, sông này chảy theo bờ đê sông Hồng Ca dao cổ có câu:

“Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Về Nam Dư Hạ với anh thì về Làng anh có ruộng tứ bề

Có sông tắm mát có nghề quay tơ ”

[7, tr.10]

Hiện nay, Nam Dư Hạ có những di tích mang dấu ấn của những kỳ tích như: đồng Đế, đồng Phủ, đường Hội, miếu Bóng Khi làm thủy lợi đã thu

Trang 13

được tiền kẽm và những mảnh gốm cổ không những nói lên đây là vùng đất

cổ mà còn ghi lại nơi đây Nhà nước phong kiến đã từng chọn làm cung điện

1.1.2 Lịch sử thay đổi địa giới và tên gọi

Dựa theo các tài liệu khảo cổ và địa chí lưu truyền thì Nam Dư Hạ hình thành từ một thôn của Nam Dư vào đầu thế kỷ XV [46, tr.9] Vùng đất Nam Dư xưa có tên Tây Trà, sau có tên kẻ Dựa Từ "kẻ" là tên nôm chỉ đơn vị làng xóm xa xưa của người Việt cổ sinh sống ở đồng bằng Bắc Bộ cách đây hàng ngàn năm [6, tr.1] Tương truyền về tên nôm kẻ Dựa: Nam Dư là một làng cổ

được khai phá từ sớm và trù phú Nhưng vào nửa cuối thế kỷ XVII có bà chúa Tây, có lẽ là vợ Tây Vương Trịnh Tạc (1657 – 1681), đã cướp toàn bộ ruộng

đất của Nam Dư, đẩy người dân vào cảnh cơ cực khốn cùng, phải đi ăn xin, làm thuê làm mướn khắp nơi, phải sống dựa, sống nhờ vào bàn dân thiên hạ Sống trong uất ức, người dân đã từng thốt lên:

lẽ vì vậy nên làng này đã có cái tên Nôm là làng "Dựa" Cách lý giải này có phần hợp lý, vì khi xét hai câu thơ trên thì chúng tôi nhận thấy "bà chúa Tây"

là nguyên nhân dẫn đến cảnh nghèo khó của người dân kẻ "Dựa" Cái tên

“Dựa” dường như đã xuất hiện từ trước khi có bà chùa Tây

Trang 14

Thời Lý – Trần, Nam Dư xưa thuộc về huyện Long Đàm - Châu Thượng Phúc thuộc đạo Sơn Nam

Theo “Sử học bị khảo”[4]: thời thuộc Minh, năm Vĩnh Lạc thứ V (1407), có sự đổi tên các châu, phủ, huyện: huyện Long Đàm đổi thành huyện Thanh Đàm – châu Thượng Phúc đổi thành châu Phúc An, phủ Giao Châu

Thời Lê Trung Hưng (1533 – 1789) vì kỵ húy vua Lê Thế Tông (Lê Duy Đàm) mà phải đổi Thanh Đàm thành Thường Tín

Khi vua Lê Thánh Tông chia lại các đơn vị hành chính cả nước, lập lại các Thừa tuyên là đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, Nam Dư thuộc về huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, thừa tuyên Sơn Nam

Đời Lê Cảnh Hưng, đổi thừa tuyên thành trấn, chia Sơn Nam thành hai trấn Thượng và Hạ, Nam Dư thuộc về trấn Sơn Nam Thượng

Đầu thế kỷ XIX, Nam Dư Hạ là thôn Hạ xã Nam Dư thuộc tổng Thanh Trì, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng Địa danh này

đã tồn tại suốt một thời gian dài và được nhiều tài liệu, thư tịch và di vật cổ

nói đến: tấm bia “Giỗ kỵ bi ký” dựng năm Thiệu Trị Nguyên niên (1840) hiện

lưu giữ tại chùa Nam Dư Hạ có ghi : “Thường Tín phủ, Thanh Trì huyện, Nam Dư xã, Hạ thôn”

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mệnh đã chia đất nước thành nhiều tỉnh khác khau, Thường Tín của trấn Sơn Nam đặt làm tỉnh Hà Nội Khi đó, Nam Dư trở thành một xã thuộc tổng

Thanh Trì, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội Sách “Hà Nội địa

bạ” biên soạn năm 1886 (hiện lưu tại thư viện Viện Hán Nôm) và tài liệu của

chính quyền thuộc địa cũng ghi như vậy Tại kho lưu trữ thuộc Trung tâm lưu

trữ Quốc gia I, một tài liệu tiếng Pháp là “Monographie de la Province de

Hanoi en 1901” (Địa chí tỉnh Hà Nội năm 1901) cũng ghi Nam Dư thuộc về

tỉnh Hà Nội

Trang 15

Đầu thế kỷ XX, Nam Dư Hạ thuộc tổng Thanh Trì, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông Khi người Pháp lập ra Đại Lý Hoàn Long, một đơn vị hành chính ngang một phủ trực thuộc thành phố Hà Nội, Nam Dư Hạ thuộc Đại Lý Hoàn Long

Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân đề ra các làng xã của Đại Lý Hoàn Long thuộc thành phố Hà Nội, thành lập các đơn vị hành chính gọi là khu như ở nội thành Nam Dư Hạ lúc này thuộc Mê Linh

Những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nam Dư Hạ thuộc quận 6, ngoại thành Hà Nội

+ Năm 1954, hòa bình lập lại, Nam Dư Hạ thuộc thôn Quỳnh Lôi, rồi

đổi thành quận 7 ngoại thành Hà Nội

+ Năm 1956: Nam Dư Hạ hợp với Khuyến Lương, Yên Lương thành xã Trần Phú

+ Năm 1961, xã Trần Phú thuộc về huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội

Từ năm 2003, Nam Dư Thượng thuộc phường Lĩnh Nam, Nam Dư Hạ thuộc phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

Tên gọi phường Trần Phú còn có ý nghĩa đặc biệt, Trần Phú là người xã Tùng ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Ông là con nhà Nho nghèo, yêu nước Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm và đã có nhiều đóng góp cho cách mạng Ông là người viết bản luận cương chính trị của Đảng và được bầu làm Tổng bí thư của Đảng Cộng Sản Đông Dương, trong Hội nghị trung

ương lần thứ nhất Tên của Ông đã được chính quyền và nhân dân nhiều địa phương chọn làm tên gọi cho địa phương mình

1.1.3 Đời sống kinh tế

Nam Dư Hạ được bắt nguồn từ Nam Dư, vốn là một làng cổ được khai phá từ sớm và trù phú ở ven sông Hồng, nhờ sự ưu đãi của thiên nhiên mà có

Trang 16

những cánh bãi màu mỡ, đây là điều kiện tốt cho việc phát triển kinh tế nông

nghiệp Sách “Đồng Khánh dư địa chí” có viết về kinh tế địa phương như sau:

“Nhiều lúa thu, ít lúa hè Đất bãi ngoài đê phần nhiều trồng dâu, mía, khoai,

đậu, dưa, cà ” Nghề trồng lúa là nghề căn bản của nhân dân địa phương,

nông dân Nam Dư rất cần cù, chịu khó

Nghề trồng dâu nuôi tằm ở Nam Dư Hạ đã có từ rất lâu đời, từ thủa hình thành làng xã, nay không còn gia đình nào ở địa phương làm nghề này nữa., Nhưng chúng ta vẫn thấy dấu tích của thời kỳ này qua tục thờ nữ thần có công dạy dân trong nghề trồng dâu nuôi tằm tại đình Nam Dư, khi đó đây là nghề căn bản của địa phương Công việc nuôi tằm rất vất vả, cần có sự cần mẫn và

tỉ mỉ trong suốt quá trình chăn nuôi mới mong thu hoạch được thành phẩm có

chất lượng cao, chẳng thế mà trong dân gian có câu “Nuôi lợn ăn cơm nằm,

nuôi tằm ăn cơm đứng” Với hình ảnh những bãi dâu ven sông xanh tốt, chắc

chắn những kén tơ được sinh ra từ nơi đây cũng óng mượt và đem lại lợi nhuận kinh tế cho người dân Nam Dư Hạ

Cùng với nghề làm ruộng và nghề trồng dâu nuôi tằm, Nam Dư Hạ trước kia còn có nghề nấu mật mà dấu tích còn lại là xóm lò (xóm những lò nấu mật), có lẽ các cánh bãi xưa kia cũng có vùng đất trồng mía để cung cấp nguyên liệu cho những lò nấu mật ở Nam Dư Hạ, mía ở đây cũng từng là đặc sản của Thanh Trì:

“Làng Mui thì bán củi đồng Nam Dư nấu mật giầu lòng ăn chơi”

[7, tr.10]

Là những người Nông dân lao động cần cù, xong đưới chế độ thực dân phong kiến nhân dân vùng Nam Dư Hạ "hai sương một nắng" mà đời sống vẫn nghèo, sau lũy tre xanh êm đềm của mỗi làng quê, người dân đã phải chịu

đựng biết bao cảnh áp bức, tô thuế nặng nề Thời kỳ này, Nam Dư Hạ có 11

Trang 17

giáp cùng với những hủ tục cúng lễ khao vọng rất tốn kém, ruộng đất thì bị địa chủ chiếm đoạt Trước Cách mạng Tháng Tám, tại Nam Dư Hạ có 95% dân thất học, 70% nhà tranh vách đất, bệnh dịch luôn đe dọa, lý dịch dùng ruộng xấu cho dân làm thuê thu tô tức cao, tệ nạn mê tín dị đoan, mua nhiêu bán xã, cộng với những lề thói lạc hậu đã khiến cho đời sống người dân rơi vào cảnh túng quẫn, khổ cực

Sang chế độ ‘xã hội chủ nghĩa", đời sống của người dân nơi đây đã có những thay đổi đáng kể Năm 1955, toàn xã làm công tác thủy lợi, để chống hạn và chống úng Năm 1959, tại địa phương thành lập hợp tác xã Nam Dư Hạ Năm 1962, hợp tác xã này kết nghĩa với công xã nhân dân Sa Hà (Trung Quốc)

đổi tên thành Hợp tác xã hữu nghị Việt –Trung Hợp tác xã tiến hành đào con mương dài 2.000m từ sông Lừ về trạm bơm Yên Lương tạo hệ thống thủy lợi phục vụ cho xã Trần Phú và trợ giúp cho cả hai xã bạn là Yên Sở và Lĩnh Nam Trong nông nghiệp, hợp tác xã đã rất thành công với việc gieo thẳng lúa xuân, cải tạo khu "Gò cao" từ đất “chiêm khê mùa thối” thành hai vụ lúa và rau Năm 1964, Hợp tác xã được tặng 1kg giống Mộc Tuyền của Trung Quốc, sau một vài năm đã tiến hành nhân giống thành 12kg, Bộ Nông Nghiệp đã dùng giống này cung cấp cho nhiều tỉnh ở Miền Bắc rồi cho phát triển rộng về sau Trong thời gian này, Nam Dư còn đẩy mạnh phong trào cải tiến công cụ, nâng cao năng xuất lao động, chất lượng công việc và sản xuất phân bón

Một nét mới, thành phố đã quyết định cho xã Trần Phú tiên phong trong công tác điện khí hóa nông thôn Năm 1962, Trần Phú có hệ thống điện phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, xã xây dựng hai trạm bơm ở Nam Dư Hạ và Khuyến Lương Năm 1963, hợp tác xã hữu nghị Việt- Trung là cơ sở đầu tiên của vùng ngoại thành có ô tô phục vụ vận chuyển và sử dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệp (nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo đã giúp đỡ đào tạo những người nông dân thành người thợ cơ khí nông nghiệp)

Trang 18

Công tác đổi mới phương thức sản xuất từ nông nghiệp sang sản xuất thực phẩm là một thành tựu đáng quan tâm Trước kia, toàn xã chỉ sản xuất theo hướng độc canh cây lượng thực, nay đã chú ý đến cây hoa màu, cây công nghiệp khác và phát triển ngành nghề chăn nuôi Nam Dư Hạ là một vùng chuyên cung cấp rau cho thành phố, dân trong vùng đã mở rộng sản xuất rau chính vụ và phát triển rau trái vụ Nghề chăn nuôi ngày một phát triển và nhận

được sự giúp đỡ chỉ đạo kỹ thuật của Viện khoa học Nông nghiệp nên Nam Dư đã trở thành đơn vị đứng đầu trong công tác chăn nuôi lợn tập thể Với diện tích mặt nước ưu đãi, địa phương đã phát triển nghề nuôi cá, đem lại lợi ích kinh tế cao, đời sống người dân nơi đây ngày càng đi vào ổn định

Trong những năm vừa qua, đời sống kinh tế của người dân Nam Dư Hạ ngày một đi vào ổn định, đã có nhiều khu đô thị mới mọc lên, đường phố cải tạo chỉnh trang Nhiều ngôi nhà cao tầng được xây dựng, hơn nữa đã xuất hiện những ngôi biệt thự rộng lớn của những hộ gia đình làm ăn phát đạt

Điều này cho thấy đời sống kinh tế của người dân trong vùng đảm bảo hơn, nhân dân vô cùng tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng và chính quyền

địa phương

1.1.4 Con người và lịch sử vùng đất Nam Dư Hạ

Làng Nam Dư Hạ với tính chất của một làng quê cổ có lịch sử cư trú lâu

đời với nhiều dòng họ sống quần tụ như họ Nguyễn, Phạm, Hoàng, Trần, Vũ,

Đỗ trong đó họ Trần, Nguyễn, Vũ, Đỗ là các dòng họ lớn

Sách “Đồng Khánh dư địa chí”, do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn

năm 1888, khi viết về người dân Nam Dư, tổng Thanh Trì có nói: dân Thanh Trì chân chất ít văn vẻ Đó chỉ là nét khái quát, còn như việc cưới xin, ma chay đều tiết kiệm, thờ thần rất kính Dân phần nhiều theo đạo Phật

Vùng đất Nam Dư đã gắn liền với nhiều sự kiện và con người trong lịch

sử đất nước Đời Trần, Nam Dư thuộc thái ấp Cổ Mai của Trần Khát Chân

Trang 19

(1370 – 1399), một danh tướng đã có công đánh đuổi quân Chiêm Thành, sau khi ông chết, tài sản của ông được chia cho dân trong vùng

Sau khi quân Minh chiếm nước ta, Nguyễn Trãi đã từng về đây và chọn một khu đất cao để mở trường dạy học Thơ của ông có câu “Góc thành Nam, lều một gian” chính là nói về thời kỳ này Theo truyền thuyết, tại đây Nguyễn Trãi thường xuyên qua sông sang cầu mộng tại đền Chử Đồng Tử và đã được Thần báo mộng cho Ông tìm vào Lam Sơn theo Lê Lợi Cũng theo truyền thuyết, đây là nơi xử tử Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ (một người vợ của Nguyễn Trãi) trong vụ án Lệ chi viên (1442)

Tại địa phương, một ngôi đền thờ Nguyễn Trãi được lập trong thời phong kiến nhưng đến nay khu đất và lăng mộ đã không còn lưu lại dấu tích đáng kể nào, miếu thờ Nguyễn Thị Lộ nay vẫn còn, song đã bị xuống cấp hư hỏng nhiều

Truyền thuyết về bộ kiệu bát cống (thờ ở đình Nam Dư Hạ) có nhắc

đến câu chuyện về bà Chúa Trương Thị Miễu (đời vua Lê- chúa Trịnh) được nhân dân Nam Dư hết lòng giúp đỡ, che chở khi chạy loạn từ kinh thành về vùng đất Nam Dư này

Cuối đời Lê – Trịnh, vùng đất Nam Dư lại ghi dấu những chiến tích hào

hùng có liên quan đến Nguyễn Huệ và nghĩa quân T ây Sơn Theo sách “Hoàng

lê nhất thống chí ” thì: Ngày 21 tháng 7 năm 1786 thủy quân Tây Sơn đến bến

Nam Dư, một cánh quân tách ra đổ bộ lên bờ, theo đê quân tiến lên Thúy ái

đánh úp quân Trịnh sau đó cánh quân này tiến thẳng lên hồ Vạn Xuân tập kích đoàn quân của Hoàng Phùng Cơ - Một tướng của quân Trịnh Cùng lúc này, đại quân Tây Sơn từ bến sông Nam Dư tiếp tục theo đường thủy thẳng tới bến Tây Luông (bến sông Hồng ngày nay là khu vực viện Bảo tàng Lịch sử), rồi tiến lên bờ đánh úp quân Trịnh

Đến thế kỷ XX, dưới sự cai trị của thực dân Pháp, nhân dân Nam Dư Hạ kiên cường anh dũng cùng cả nước đứng lên chống giặc Mặt trận Việt

Trang 20

Minh ở địa phương tích cực phổ biến tuyên truyền chính sách, đường lối và tình hình cách mạng Hình ảnh lá cờ đỏ búa liềm mà lần đầu tiên người dân Nam Dư Hạ nhìn thấy là vào dịp Quốc tế lao động ngày 1 tháng 5 năm 1945,

được cắm ở cổng làng Trải qua các thời kỳ đấu tranh giành chính quyền từ tay đế quốc phong kiến, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Nam Dư Hạ anh dũng kiên cường không ngừng cùng cả nước vươn lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mĩ cứu nước ở miền Nam tiến tới thống nhất đất nước Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, nhân dân Nam Dư Hạ có biết bao nhiêu người con ngã xuống, góp phần xương máu của mình cho Tổ quốc Để nhớ ơn sự hi sinh anh dũng

đó, chính quyền địa phương đã ghi danh các anh cho thế hệ sau biết đến

Trong những năm tháng dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, chính quyền

và nhân dân Nam Dư Hạ luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao về thăm, kiểm tra và

động viên chính quyền nhân dân địa phương Ngày 15.2.1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm và chúc Tết địa phương (vào sáng mồng 1 tết Tân Sửu) Hợp tác xã nông nghiệp Việt – Trung ra đời đã được nhiều cấp lãnh đạo quan tâm và đến thăm: Tháng 7 năm 1962, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã về thăm; tháng 6 năm 1963, Tổng bí thư Lê Duẩn về thăm; tháng 8 năm 1963,

Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thăm; tháng 10 năm 1963, ông Bành Chân –

bí thư thành ủy Bắc Kinh đến thăm nhân dịp sang Việt Nam, cùng đi có đồng chí Hoàng Quốc Việt- Chủ tịch tổng Công đoàn Việt Nam; Tháng 7 năm

1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm địa phương và kiểm tra công tác đắp

đê chống lũ chống úng Tháng 11 năm 1971, Chủ tịch nước cộng hòa nhân dân Lào Xuphanuvông về thăm địa phương, cùng đi có Thủ tướng Phạm Văn

Đồng; tháng 7 năm 1973, Chủ tịch Tôn Đức Thắng về thăm

Trên con đường dài của cách mạng có không ít gian nan và thử thách, trân trọng quá khứ đấu tranh, với bao vinh quang và hào hùng của tổ quốc,

Trang 21

người dân Nam Dư Hạ luôn vững vàng, tin tưởng, tiếp tục phấn đấu giành những thành tựu mới, góp phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng đất nước và làng quê yêu thương của mình

1.1.5 Giá trị văn hóa truyền thống

* Phong tục tập quán

Nam Dư Hạ là vùng đất cổ lâu đời nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long, nơi đây đã hội tụ những nét văn hóa đặc sắc Đời sống văn hóa của nhân dân Nam Dư Hạ rất phong phú, với nhiều phong tục tập quán của làng quê cổ truyền Đó là những tục lệ về cưới xin, ma chay, giỗ chạp Ngày nay, thực hiện theo chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc thực hiện xây dựng phong trào nếp sống văn hóa mới, những phong tục tập quán này phần nào đã được giản tiện và loại bỏ đi những hủ tục không cần thiết Song, về cơ bản, Làng vẫn giữ được những nét đẹp truyền thống từ bao đời nay Ví dụ: trong cưới xin, từ lúc ăn hỏi đến khi cưới vẫn giữ ba lễ: lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới, việc thách cưới của nhà gái chỉ còn mang tính hình thức, ít thấy cảnh cỗ bàn linh đình; trong ngày cúng tế Thành hoàng, làng vẫn giữ

được những nghi lễ truyền thống và tục kết chạ, việc tổ chức ăn uống linh

đình sau hội rước đã không còn nữa Giống như bao làng quê Bắc Bộ, Nam Dư Hạ cũng có tục kết chạ giữa các làng với nhau Dân làng Nam Dư Hạ có tục kết chạ với dân làng Nam Dư Thượng, Thúy Lĩnh và làng Bát Tràng (bên kia sông) Tục kết chạ (kết nước) giữa hai làng Nam Dư Thượng và làng Nam Dư Hạ, có nguồn gốc, do hai làng trước kia chỉ là một, gọi chung là Nam Dư, sau này khi chia thành Nam Dư Thượng và Nam Dư Hạ thì mối thân tình qua lại giữa họ hàng làng xóm vẫn được duy trì Làng Nam Dư Hạ trước kia luôn giúp đỡ và tạo điều kiện cho dân làng Thúy Lĩnh trong công việc sản xuất, khiến đời sống người dân Thúy Lĩnh được nâng cao, từ đó hai làng có sự thân thiết và vẫn luôn qua lại giúp đỡ lẫn nhau Theo các cụ cao tuổi trong làng cho biết, tục kết chạ giữa làng Nam Dư Hạ và Bát Tràng được

Trang 22

hình thành bởi mối quan hệ thân thiết đùm bọc giữa hai làng: xưa kia, làng Bát Tràng bị bọn xấu đến cướp bóc phá hoại, được sự giúp đỡ của người dân Nam Dư Hạ họ đã đánh thắng được bọn cướp, từ đó mối quan hệ của hai làng càng trở nên khắng khít Tục kết chạ vẫn còn dư âm đến ngày nay thông qua

sự đi lại giữa làng Nam Dư Hạ với làng Nam Dư Thượng, Thúy Lĩnh và Bát Tràng trong mỗi dịp lễ hội và công việc trọng trong làng Hình thức này thể hiện tinh thần đoàn kết, giúp đỡ tương trợ lẫn nhau của mỗi làng trong sản xuất, đời sống, đấu tranh

Để tỏ lòng biết ơn đối với các vị anh hùng và gia đình cách mạng có công với đất nước trong hai cuộc kháng chiến vào ngày 27 tháng 7 hàng năm, chính quyền và nhân dân Nam Dư Hạ tổ chức nhiều hoạt động đền ơn

đáp nghĩa như thăm hỏi và tặng quà đến từng gia đình có công với cách mạng Thể hiện lòng kính lễ đối với người cao tuổi, vào ngày hội truyền thống của đất nước (ngày 1 tháng 10), chính quyền và nhân dân địa phương cũng có những hình thức tổ chức góp phần chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi trong làng v.v

* Đời sống tâm linh

Về đời sống tâm linh, người dân nơi đây tôn thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Phật, thờ các vị thần linh, thờ anh hùng có công với dân với nước và đặc biệt là thờ Mẫu

Đối với người Việt, tục thờ tổ tiên có vai trò quan trọng trong tín ngưỡng nói chung Đó là sự bày tỏ lòng thành kính, biết ơn của con cháu đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ Đồng thời cũng thể hiện lòng biết ơn đối với công sức của lớp người đi trước Trong tâm thức của người Nam Dư Hạ nói riêng và người dân Việt nói chung, người chết chỉ là đã mất đi phần xác còn phần hồn luôn tồn tại quanh con cháu Trong các gia đình, bàn thờ luôn được

đặt ở những nơi cao ráo, trang trọng bởi họ quan niệm và tin tưởng rằng, tổ

Trang 23

tiên, ông bà mình ngự ở đó, đang dõi theo và che trở cho họ trong cuộc sống thường nhật Vào ngày giỗ, ngày rằm, mùng một, những ngày lễ hay những ngày có việc quan trọng của gia đình bao giờ cũng đặt lễ và thắp hương lên ban thờ để thỉnh cầu tổ tiên,ông bà về chứng giám và phù hộ trở che

Tập tục thờ cúng tổ tiên đã tạo thành truyền thống, nếp nghĩ cho thế hệ sau luôn ghi nhớ và thực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn Không những vậy, tập tục này còn có tác dụng tạo nên sự đoàn kết chặt chẽ giữa những người cùng huyết thống, dòng họ, tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ giữa dòng họ này với những dòng họ khác

Hệ thống các di tích lịch sử văn hóa trong làng luôn là nơi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh của người dân, Đình và Chùa Nam Dư Hạ được xem như ngôi nhà chung, là trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng của cả làng

Hiện nay, những nét kiến trúc cổ tại Đình không còn nhiều, nhưng ý nghĩa thiêng liêng thì vẫn còn khá đậm đà, nơi đây vẫn phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kinh tế, chính trị của người dân địa phương

Đình Nam Dư Hạ thờ ba vị Thành Hoàng làng:

Tam đầu cửu vĩ long vương Thái úy Chương võ, thái sư Nguyễn Xí

Lê gia Hoàng thái hậu

[7, tr.2]

Việc thờ ba vị thành hoàng làng, phản ánh những hình thái tín ngưỡng khác nhau, cho ta thấy tính chất đa dạng, phong phú của văn hóa địa phương Ngoài ra, ở đây còn thể hiện tính chất cởi mở, dung hợp về tính ngưỡng tư tưởng khi chấp nhận nhiều yếu tố tâm linh khác nhau cùng tồn tại

Thành hoàng là khái niệm Hán, nguyên bản là “vị thần bảo hộ ngôi

thành giúp quan binh đồn trú chống kẻ địch tấn công chiếm thành” [19, tr

Trang 24

259] Thành hoàng làng có hai chức năng là hộ quốc và tí dân Khi du nhập vào Việt Nam đã được Việt hóa, vốn là vị thần làng do dân làng suy tôn bởi có công trạng với làng, sau triều đình phong kiến lợi dụng uy tín của thần làng

mà phong một vị làm thành hoàng, là đại diện cho vua cai quản các thần và dân chúng trong làng Thần làng phù hộ cho dân, đem lại mưa thuận gió hòa, xã hội an ninh, tránh tai ương địch hạn, cũng như ở lĩnh vực tinh thần tham gia chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước Mỗi đình thường có một vị thành hoàng nhưng cũng có Đình thờ nhiều vị thành hoàng

Với đình Nam Dư Hạ thì Thành hoàng liên quan đến thần trị thủy “Tam

đầu cửu vĩ Long vương”, tên của Thần có nghĩa là con rồng ba đầu chín đuôi nhưng thực chất đây là con rồng ba đầu một đuôi, mặt được thể hiện dưới dạng mặt người Theo truyền thuyết kể lại, khi sư tổ Từ Phong du ngoại qua Nam Dư, ông thấy một con Rồng từ đất bay lên, nhào lộn trong không trung rồi biến vào vòm trời xanh Sư tổ cho rằng đây là mảnh đất tiềm long (nơi rồng ẩn) và đã dựng đình để dân thờ Thần Hình thức này đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nhất là trong đạo thờ Mẫu Có thể đây là bóng dáng mờ nhạt của rắn Naga trong huyền thoại ấn Độ và Đông Nam á

Theo truyền thuyết, vào thời đầu khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi và nghĩa quân nhiều lần bị giặc truy đuổi vào thế khốn cùng Có lần Ông phải trốn vào lùm cây, bị giặc lùa chó săn sục sạo, rơi vào tình thế nguy hiểm, lúc đó thần Long Vương đã biến thành con cáo ở trong bụi rậm chui ra đánh lạc hướng quân giặc cứu được Lê Lợi thoát nạn Sau này, khi Nguyễn Xí đem quân tiến

ra Thăng Long đã đóng quân tại Nam Dư, một đêm ngủ tại miếu thần, Ông

được báo mộng chỉ dẫn cách đánh địch Với công trạng này, sau khi non sông thu về một mối, Lê Lợi đã sắc phong cho Ông làm Thượng đẳng thần

và cho phép dân Nam Dư thờ phụng

Trang 25

Loại bỏ những yếu tố “hoang đường” của một truyền thuyết dân gian, chúng ta thấy rõ việc thờ thần Tam Đầu Cửu Vĩ Long Vương là hình thức thờ thần trị thủy trong ý thức chống lụt bởi vị trí nơi đây là một vùng đất trũng Ngoài ra, nước là nguồn nguyên liệu không thể thiếu cho cây trồng và là nguồn sống của con người, nước vừa là báu vật nhưng cũng có khi nó biến thành con quái vật đáng sợ của thiên nhiên, tín ngưỡng thờ thần trị thủy và nghi lễ cầu nước ra đời Nước có ở sông và biển, những người Việt ở phía Bắc trồng lúa là chính và việc đánh bắt cá thường diễn ra ở trên sông nên phần lớn là thờ thần sông là thủy thần, rồi thần cá, thần rắn Hình ảnh rồng gắn với nước, mà thực chất nguồn nước là mưa là hiện tượng của tự nhiên Con người luôn mong cho mưa thuận gió hòa, để cho cây cối tốt tươi, mùa màng thuận lợi,

“Lạy trời mưa xuống,

Lấy nước con uống, Lấy ruộng con cày, Lấy đầy bát cơm, Lấy rơm đun bếp”

Ca dao

Muốn có mưa thì phải cầu xin trời đất, muốn lời cầu xin đó được hữu hiệu, thể hiện lòng mong mỏi và ước vọng thiết tha của con người thì phải tổ chức lễ hội Lễ cầu mưa, nghi lễ rước nước hình thành như một hành động thiêng liêng biểu hiện cho ước vọng cầu mong nước, cầu no đủ và luôn là nghi

lễ mở đầu cho hội làng

Thái úy Chương võ, thái sư Nguyễn Xí được nhân dân Nam Dư thờ tại

Đình Nguyễn Xí (1399-1465) người xã Thượng Xá, huyện Chân Phúc, tỉnh Nghệ An Ông theo Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn từ rất sớm, được giao chỉ huy một đội quân thiết đột, xông pha trận mạc đến ngày toàn thắng và trở thành một trong những khai quốc công thần đời Lê, sau ông xin về ở ẩn Năm

Trang 26

1460, ông lại cùng Đinh Liệt và một số tướng lĩnh khác tổ chức cuộc lật đổ Lê Nghi Dân đưa Lê Tư Thành lên làm vua, hiệu là Thánh Tông, mở ra một thời

kỳ Nho giáo phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến

Sinh thời vua Lê Thánh Tông từng khen ngợi Nguyễn Xí: “Ngươi thực là bề

tôi trung ái của ta, không cần phải bảo nhiều ” Sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” cũng có lời nhận xét: “Xí là bậc công thần khai quốc, trải thờ bốn triều vua, công nghiệp đức vọng làm chỗ dựa chắc chắn của triều

đình” Truyền thuyết Nam Dư kể rằng: Có lần Nguyễn Xí đi đánh trận và từng

nghỉ lại ở địa phương, sau này ông được nhân dân Nam Dư thờ làm Thành hoàng làng Việc thờ Nguyễn Xí đã phản ánh tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc trong nhân dân

Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc ở Việt Nam có từ rất sớm, liên tục tồn tại, phản ánh sâu đậm một quá trình dựng nước và giữ nước đầy cam go nhưng cũng vô cùng hào hùng, oanh liệt của dân tộc ta Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc thể hiện lòng biết ơn, trách nhiệm của người dân và cầu mong được thần che chở phù hộ Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng có sau tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc Tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc mang một bản sắc riêng trong

sự đan xen, hoà đồng với toàn bộ các yếu tố khác của hệ thống tín ngưỡng Nhiều nơi như ở Nam Dư, anh hùng dân tộc chuyển hóa thành Thành hoàng làng Trong sự đồng nhất ấy, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc không bị hòa tan mà vẫn tồn tại với nét đặc thù riêng, có khi nó mang mầu sắc chính trị áp

đặt của triều đình, nhưng nó cũng phù hợp với yêu cầu tâm linh của nhân dân lao động Anh hùng là người có công với đất nước, là người có thật, được chính sử ghi chép và được phần dã sử chuyển hóa thành huyền thoại

Tín ngưỡng thờ Tổ nghề, thờ nữ thần cũng tồn tại ở Nam Dư Hạ với hình thức thờ Lê gia Hoàng thái hậu Bà họ Trịnh tên húy là Loan người huyện Thanh Đàm (Thanh Trì ngày nay) Bà là vợ của Cẩm Giang Vương (Minh Tông), mẹ vua Chiêu Tông và Cung Hoàng đời Lê sơ Năm 1517, bà được tôn

Trang 27

làm Hoàng thái hậu Khi Chiêu Tông bị nhà Mạc bắt thoái vị, bà lui về vùng Nam Dư giúp dân trồng dâu nuôi tằm, trồng mía nấu mật Nhân dân Nam Dư ghi nhớ công ơn, lập miếu thờ Bà “Lê gia hoàng thái hậu” được thờ tại Nam Dư Hạ đã phản ánh về một khía cạnh thuộc tín ngưỡng thờ nữ thần trong dân gian Tục thờ nữ thần có từ lâu trên cơ sở coi trọng vai trò của người phụ nữ nói chung, bà mẹ nói riêng trong gia đình và xã hội người Việt Tục thờ này

có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử và trong đời sống kinh tế xã hội, người phụ nữ có vai trò không nhỏ trong gia đình, góp nhiều công trạng trong lịch sử dựng nước và giữ nước Quan niệm “của chồng công vợ”, nhận thức “công cha nghĩa mẹ” đã phản ánh vào tín ngưỡng dân gian Tục thờ nữ thần để bày tỏ lòng biết ơn, cầu mong che trở và ước muốn sinh sôi phát triển

Cùng với những di tích lịch sử, truyền thống văn hóa vùng đất Nam Dư

được thể hiện thông qua lễ hội của Đình làng

Hàng năm, vào ngày rằm tháng hai tại đình Nam Dư Hạ lễ hội diễn ra với các nghi thức và hoạt động như lễ rước kiệu, rước nước và tế lễ Thành Hoàng Lễ hội đình Nam Dư chính thức bắt đầu từ 13 tháng hai âm lịch đến

15 tháng hai âm lịch Trong không khí trang nghiêm với tục rước nước, rước kiệu, rước sắc, rước vị thần thờ đã thu hút đông đảo dân làng bước vào ngày

“hội” Theo lệ làng, trước khi dân làng vào “đám”, các cụ ban tế của làng làm

lễ rước “kiệu” ra sông Công việc chuẩn bị lễ hội được phân công cho toàn thể giáp trưởng và dân đinh các giáp (hiện nay là các tổ dân phố): nhóm kiểm tra kiệu; nhóm dựng nêu cắm cờ v.v Riêng các cụ trong ban tế của làng tổ chức

“bao sái” tượng tại Hậu cung rồi đội mũ, mặc áo và đặt bài vị các ngài lên kiệu để chuẩn bị cho đám rước thần vào sáng hôm sau

Cứ năm năm một lần, tại đình Nam Dư Hạ diễn ra lễ trọng, vào những năm này lễ hội diễn ra đông vui hơn và sự chuẩn bị dường như cũng có phần

kỹ lưỡng hơn về cả nội dung lẫn hình thức Theo tục của làng, năm lễ trọng sẽ diễn ra “lễ chồng kiệu”, vào ngày “rước nước”, “rước kiệu” thì bao giờ làng Nam Dư Thượng và làng Thúy Lĩnh cũng mang phù trang, hương hoa, oản

Trang 28

quả, kiệu Long Đình có đặt bát hương Thánh làng mình rồi rước đến đình Nam Dư Hạ Đến nơi, bát hương của hai làng đặt vào bên bát hương của vị Thành hoàng làng Nam Dư Hạ, sau "lễ chồng kiệu” thì cả ba làng nhập thành một đoàn và cùng ra sông lấy nước

Ngày hội đình cũng là ngày hội làng, những người xa quê hương cũng nhân dịp này trở về làng đoàn tụ với gia đình và tham gia vào ngày hội, chung lòng hòa mình vào lễ hội

Cũng như nhiều ngôi chùa làng ở các vùng quê khác, chùa Nam Dư Hạ không chỉ gắn với Phật giáo mà ở trong hệ thống này còn có cả điện thờ Mẫu,

đó là biểu hiện của sự dung hợp giữa Phật Giáo với đạo Mẫu trong hệ tín ngưỡng dân gian Phong cách thờ ở nơi điện Mẫu phản ánh sự hội nhập và đan xen những hình thức tín ngưỡng dân gian trong cùng một không gian văn hóa

Điều này cũng thể hiện sự phong phú và đa dạng trong phong tục tín ngưỡng của người dân Nam Dư Hạ

1.2 Lịch sử hình thμnh vμ quá trình tồn tại của chùa Nam Dư Hạ

Theo truyền thuyết, năm 1202, đời Lý Cao Tông có một vị quan đã về

tu tại Chùa Nam Dư Hạ, vị quan này là sư tổ Từ Phong Ông là người có công thành lập Chùa và cũng là người thấy rồng xuất hiện rồi cho lập đình Nam Dư Hạ Như vậy thì ngôi chùa này có thể xây dựng từ trước năm 1202

Qua hồ sơ xếp hạng di tích đình – chùa Nam Dư Hạ, chùa và đình Nam Dư Hạ lại cùng niên đại khởi dựng, chúng được xây dựng cùng với thời lập làng Nhưng, theo văn bia cổ, hiện còn lưu giữ tại đình Nam Dư Hạ thì đình

Trang 29

làng được xây dựng năm 1571 Thiên Hựu, triều Lê Anh Tông thế kỷ XVI Theo lời kể của một số cụ cao tuổi trong làng, ngôi chùa Nam Dư lại được xây dựng vào đầu những năm Vĩnh Tộ 1619 và hoàn tất năm 1628

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, các dấu vết kiến trúc đã bị mai một nhiều, bên cạnh đó tài liệu ghi chép lại ít, không rõ ràng Chính vì vậy đã không có sự thống nhất trong việc xác minh niên đại cho di tích Theo khảo sát hiện trạng di tích, Chùa có thể xây dựng vào thời Lê, nhưng qua việc khảo sát hiện vật còn lưu lại đã cho thấy, đa số hiện vật đó được tạo lập từ cuối thời

Lê, đầu Nguyễn

Từ những tài liệu có được, chúng tôi nhận thấy niên đại khởi dựng của Chùa Nam Dư Hạ vào năm 1571, cùng thời với năm xây dựng đình làng Nam Dư Hạ như "Hồ sơ xếp hạng di tích đình – chùa Nam Dư Hạ" của Ban quản lý

di tích Sở văn hóa – thông tin Hà Nội đã ghi lại là có thể tạm chấp nhận được Qua tài liệu Hán nôm ghi lại trên chuông đồng, đúc vào triều đại Tây Sơn, niên hiệu Cảnh Thịnh/ 1800, hiện đang lưu giữ tại Tam quan của chùa Nam Dư Hạ thì tên chùa là Xuân Phúc Tự, tên chữ là Thiên Phúc Tự

1.2.2 Những lần tu bổ, sửa chữa chùa Nam Dư Hạ

Chùa Nam Dư Hạ từ khi khởi dựng đến nay đã có nhiều lần trùng tu lớn nhỏ khác nhau:

Theo truyền thuyết, vào năm 1373, niên hiệu Long Khánh đời Trần, đê Thanh Đàm bị vỡ, chùa Nam Dư Hạ bị hư hỏng nhiều, dân làng đã góp công tâm đức tu bổ lại

Năm 1691, niên hiệu Vĩnh Tộ đời Lê Thần Tông, một lần nữa Chùa được tôn tạo và tu bổ lớn

Năm 1813 (niên hiệu Gia Long năm Nhâm Thân), chùa cũng đã có một cuộc trùng tu bằng sự công đức của các tín đồ thập phương, thời kỳ này đã đúc một số tượng

Trang 30

Năm 1839 (Minh Mệnh nhị thập niên), chùa Thiên Phúc có đợt trùng tu, song không có tài liệu chi tiết nào ghi về đợt trùng tu này mà sự kiện này chỉ

được nhắc trên tấm bia đề " Giỗ kỵ bi ký" dựng năm 1840 [Pl.2, a.53, tr 25] Năm 1840 (Thiệu trị nguyên niên), Chùa có đợt trùng tu lớn, đợt trùng

tu này có nhiều quan lại và tín đồ thập phương góp tiền công đức, việc này

đã được ghi rõ trên tấm bia đá đề “Trùng tu Thiên Phúc Tự công đức by kí” [Pl.2, a.52, tr 25]

Năm 1916 (Năm Bính Thìn, niên hiệu Khải Định), chùa có đợt tu sửa Trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1947, chùa đã bị tiêu thổ làm kháng chiến Trước năm 1991, chùa đã được tu bổ, sửa chữa, sau đó được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là “Di tích kiến trúc, nghệ thuật”

Sau khi Chùa được nhà nước quyết định công nhận Di tích kiến trúc – nghệ thuật, với sự hỗ trợ của Nhà nước và nhân dân phát tâm công đức, từ năm

1991 đến nay chùa đã khôi phục và xây mới một số kết cấu kiến trúc:

Năm 1995 (ất hợi), nhà chùa cho tu bổ cổng Tam quan

Năm 1996 (Bính tý), nhà Tam bảo bị hỏng nặng, Nhà nước đã đồng ý cho tu bổ Thời gian tu bổ từ 15.7 đến 30.8 năm Bính tý

Năm 1997 – 1998 (Đinh Sửu - Mậu Dần), nhà thờ Tổ được tu bổ Thời gian tu bổ từ ngày 6 tháng Chạp năm Đình Sửu đến ngày 26 tháng Giêng năm Mậu Dần hoàn thành

Năm 2004, Chùa dựng mới khu nhà Mẫu

Ngay nay, chùa Nam Dư Hạ qua các lần sửa chữa và tu bổ đã có thay

đổi, bố cục kiến trúc của Chùa đã không còn như lúc khởi đầu, một số đơn nguyên kiến trúc được xây dựng thêm, nhưng quy mô của Chùa về cơ bản vẫn

được kết cấu theo lối kiến trúc xưa, chùa còn lưu lại nhiều di vật, cổ vật quý

có giá trị Xuất phát từ những giá trị văn hóa và khoa học như vậy, ngày 2/10/1991 Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch đã ra Quyết định số 1728 xếp hạng chùa Nam Dư Hạ là Di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp Quốc gia

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Làng Nam Dư Hạ có nguồn gốc từ vùng đất Nam Dư với tên nôm là kẻ Dựa Sau nhiều lần thay đổi địa giới và tên gọi, hiện nay làng thuộc thôn Nam Dư Hạ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội Đây là một làng quê cổ thuộc vùng ven sông Hồng, nằm phía nam kinh thành Thăng Long, vị trí địa lý này

đã hội tụ được nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa Từ xa xưa, người dân Nam Dư đã biết khai thác các lợi thế đó để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp và thương nghiệp

Trải qua suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, mảnh đất Nam Dư gắn liền với nhiều sự kiện và con người trong lịch sử dân tộc Người dân nơi đây luôn gắn bó hòa quyện với quê hương, có truyền thống đoàn kết, yêu nước, có phẩm chất cần cù siêng năng chăm chỉ sáng tạo trong lao động sản xuất Đời sống văn hóa của người dân Nam Dư Hạ khá đa dạng, phong phú với những phong tục tập quán khá rõ nét của làng quê cổ truyền Về đời sống tâm linh, người dân thờ Thành hoàng làng, thờ Phật, thờ ông bà tổ tiên, thờ các vị anh hùng dân tộc, thờ thần và đặc biệt là thờ Mẫu Tính chất đa dạng và phong phú của văn hóa địa phương được phản ánh qua một số hình thái tôn giáo, tập tục, tín ngưỡng khác nhau cùng hội tụ, nảy sinh và tồn tại trong quá trình hội nhập, giao lưu với các vùng miền khác, chúng dung hợp với tín ngưỡng văn hóa dân gian để ăn sâu bám rễ vào tâm hồn người dân, góp phần tạo nên nét văn hóa truyền thống của người dân Nam Dư Hạ ngày nay

Chùa Nam Dư Hạ nằm trong hệ thống di tích lịch sử của làng Nam Dư Hạ, là nơi bảo tồn những giá trị văn hóa của làng và là niềm tự hào của người dân địa phương Ngôi chùa qua nhiều lần tu bổ, tôn tạo đã có nhiều thay đổi, song về tổng thể kiến trúc vẫn mang nét kiến trúc cổ Di tích hiện vẫn lưu giữ

được những di vật, cổ vật cũng như những mảng kiến trúc mang giá trị nghệ thuật cao, được Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch (Bộ Văn hóa – Thông tin) xếp hạng là di tích kiến trúc- nghệ thuật ngày 2.10.1991

Trang 32

Chương 2giá trị văn hóa nghệ thuật của chùa Nam Dư Hạ

2.1 Giá trị kiến trúc

2.1.1 Không gian, cảnh quan

Với kiến trúc truyền thống, đặc biệt là kiến trúc tôn giáo thì việc lựa chọn thế đất cho phù hợp với công trình là vấn đề rất quan trọng, điều này được chi

phối bởi quan niệm phong thủy Phải chọn nơi có vị trí “linh địa”, bởi người ta

tin rằng ở nơi đó con người có thể cầu viện được những “sinh lực vũ trụ” cho mọi mặt của cuộc đời Người ta cho rằng, mảnh đất tụ linh, tụ phúc bao giờ cũng cao

hơn xung quanh (trừ trên đồi núi) Ngoài yếu tố đó, thì “hướng” cũng có ảnh

hưởng đến di tích kiến trúc truyền thống Người Việt quan niệm hướng Bắc là hướng đen tối nhiều hắc ám; hướng Đông là nơi của các thần, theo tự nhiên đây

là hướng gắn với mặt trời mọc (một ví dụ cụ thể: đền Ngọc Sơn có cầu Thê Húc

đặt ở hướng Đông để đón ánh sáng ban mai); hướng Tây được quan tâm, bởi

người ta nghĩ, hướng này phù hợp với quy luật đối đãi của âm dương, các thần ngồi đó sẽ được yên ổn không bỏ dân mà phiêu diêu tới miền khác, vì khi “thần”

nhìn về hướng tây thì mặt trước của thần (tức mặt của di tích) thuộc (dương) quay

về hướng Tây (âm), tay trái (âm) ở hướng Nam (dương), tay phải (dương) ở

hướng Bắc (âm), lưng (âm) quay hướng Đông (dương), như vậy người ta tin rằng thần sẽ yên vị, gần dân và ban phúc thường xuyên hơn cho dân, đồng thời hướng này cũng là nơi đất Phật, giúp cho con người sớm được giác ngộ Phật Pháp và

được Phật độ trì

Chùa Nam Dư Hạ quay về "hướng Nam", hướng này đặc biệt hơn cả, trước

hết bởi vào mùa hè thì mát mẻ mùa đông tránh được rét, dân gian có câu “lấy

vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam” Theo nhà Phật thì hướng Nam là hướng

trong sáng, đồng nghĩa với trí tuệ (hướng của Bát Nhã), mà đạo Phật lấy trí tuệ

Trang 33

để diệt trừ sự ngu tối, tức mầm mống của tội ác Hướng Nam còn mang tính

dương (màu đỏ) gắn với hạnh phúc, điều thiện Hướng này còn là hướng của đế

vương, là hướng của thần linh khi các Ngài trở thành ông vua tinh thần của

quần chúng “thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” (Thánh nhân mặt quay

hướng Nam mà nghe lời tâu bày của thiên hạ) Với ngôi Chùa thì đó còn là sự thể hiện các đức Phật và Bồ tát quay hướng Nam để nghe lời cầu cứu của chúng sinh trong kiếp đời tục lụy, đặng dùng pháp lực vô biên để cứu vớt [12, tr.163] Quan niệm cho rằng, có nước là có sự “tụ thuỷ” mà chỗ tụ thủy là nơi

đồng nhất với “tụ linh” “tụ phúc” cho cộng đồng cư dân, có lẽ vì lí do này mà chùa Nam Dư Hạ đã tạo một Hồ nước ngay tại di tích "Nước" theo quan điểm

âm dương giao đãi: nước ở thấp mang yếu tố âm, di tích ở cao là dương, âm dương đối đãi ắt phát sinh, phát triển Đây là biểu hiện của tư tưởng “dịch học”, âm dương đối đãi mà sinh “tứ tượng” để chuyển hoá thành muôn loài muôn vật, nguồn gốc của sự sống trên thế gian Ngoài ra hồ nước nhỏ này còn mang ý nghĩa tẩy sạch bụi trần cho khách thập phương khi vào cửa Phật, người xưa còn cho rằng đó là não thủy/minh đường

Như vậy, chùa Nam Dư Hạ đã hội được các yếu tố chuẩn mực của thuyết phong thủy mà trở thành điểm tụ linh tụ phúc cho người dân trong làng

Khi nói tới không gian của di tích, ngoài nhưng đặc điểm về địa thế và hướng của công trình kiến trúc thì một vấn đề cần quan tâm thêm nữa đó là

“cây cỏ” trong di tích Sự có mặt của “cây cỏ” như chiếc áo để trang hoàng cho di tích, mặt khác, cây cỏ còn như nhấn mạnh một điểm cơ bản xác nhận mảnh đất có di tích là tươi tốt thích ứng với đất thiêng, đất lành của muôn loài Hơn nữa khi bước vào không gian Chùa được bao bọc bởi “cỏ cây”, tâm hồn của những du khách như được trôi chảy theo dòng thông linh, gạt bỏ hết mọi vướng mắc của đời thường mà nhập vào thiền, vào vô vi (tức không làm theo

lẽ đời mà làm theo lẽ trời, lẽ đạo) hòa vào thiên nhiên, dẫn tới yêu đồng nội, yêu quý con người

Trang 34

Chùa Nam Dư Hạ hiện nay có một số cây mang ý nghĩa của Phật giáo

Đứng đối diện cổng Chùa là cây Si, trồng lâu năm với dáng vẻ rậm rạp nên càng tăng phần thiêng cho di tích Trong dân gian người ta xem loại cây này như là nơi thường ngự của các thần linh dân dã, có khi là nơi nương dựa của các linh hồn bơ vơ, mong ngụ gần đền miếu để nương dựa vào thần mà hưởng chút lộc của chúng sinh Bởi quan niệm, vị thần gắn với các cây thiêng (được coi là thiện thần) nên trước kia người ta trồng nhiều loại cây này trong kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng

Ngay sau Tam quan trồng hai cây tùng, loại cây này tượng trưng cho người quân tử học rộng tài cao, cho sức chịu đựng bền bỉ trước phong ba bão táp mà vẫn giữ nguyên phẩm chất cao đẹp [13, tr.175]

Vào Chùa bằng cửa phụ, cây đại được trồng hai bên lối đi, hình thức của

nó đã phá vỡ nét đơn điệu và tạo thêm phần thiêng cho di tích Khi tìm hiểu ở các nhà tu hành, thì “cây Đại” là một cây thiêng trong hệ cây “Thiên Mệnh”, cũng gọi là cây “Mệnh” (Mệnh là sinh khí vũ trụ, linh hồn) Trong quan niệm xưa, đây là cây có khả năng thu hút sinh lực từ bầu trời chuyển xuống cho đất

và nước để từ đó bừng lên một cuộc sống viên mãn [13, tr.174]

Đi về phía sau Chùa ta thấy có cây Mít, đây là loại cây cho ăn quả cả lúc non lẫn lúc chín, rất phù hợp với mọi kiếp tu ý nghĩa của Mít được Phật giáo quan tâm, Mít có thể là tiếng gọi tắt từ phạn ngữ là Paramita (Ba la mật đa) có nghĩa là “cứu cánh đảo bỉ ngạn”, là Độ, tức giáo hóa chúng sinh đưa đến bến

bờ giác ngộ (tới cõi Niết bàn), đó cũng là giải thoát… Bởi vậy lấy thân Mít làm gỗ tạc tượng không đơn thuần với mục đích tạo độ bền cho tượng (gỗ mít nhẹ, tránh được mối mọt), mà mục đích được coi trọng hơn cả, là qua đó, nêu lên sự giải thoát toàn thể, cả trong tâm, của các vị Phật, Bồ Tát

Ngoài những cây được nói tới ở trên, chùa Nam Dư Hạ còn nhiều loại cây ăn trái như nhãn, xoài, chanh, hồng xiêm, và cây rau màu khác những

Trang 35

loại cây này phục vụ nhu cầu cuộc sống đời thường của nhà chùa, chúng đóng một vai trò rất quan trọng trong kiến trúc của ngôi chùa, khiến ngôi chùa hòa quyện vào môi trường mà không trở nên cách biệt

2.1.2 Bố cục mặt bằng tổng thể

Tổng diện tích chùa Nam Dư Hạ là 6.574m2, bao gồm nhiều hạng mục công trình khác nhau Trước đây Chùa có bố cục diện tích mặt bằng kiểu "nội Công ngoại Quốc" Qua quá trình tu bổ, sửa sang, hiện nay kết cấu chùa

Chính theo hình “chữ Đinh” (J) Từ ngoài đi vào, trước tiên là Tam quan của

Chùa, được xây theo hình thức hai tầng tám mái Từ Tam quan đến Tiền

đường là một khoảng sân rộng với “nhất chính đạo” được lát bằng gạch Bát Tràng Gian Thượng điện nối liền với Tiền đường, hai bên cửa ngách của Thượng điện dẫn đến hai dãy hành lang nối với phòng ở của Tiểu, hai đầu hồi (hành lang phía bên trái kiêm nhà Khách, hành lang bên phải dùng làm nơi thờ vong) Qua khoảng sân nhỏ ngay phía sau Thượng điện là nhà Tổ, hai bên

đầu hồi của nhà Tổ là phòng Ni và phòng kho, nằm gối đầu liền kề với dãy nhà Tổ là nhà Mẫu Ngay sau dãy nhà Tổ và nhà Mẫu là một khu vườn, nằm vuông góc với khu vườn là một hồ rộng Đầu hồi của Tiền đường là chiếc cổng phụ đi vào khoảng sân rộng dẫn vào khuôn viên phía trong của Chùa (sân được lát bằng gạch Bát Tràng) Mục đích của việc xây chiếc cổng này để cho khách hành hương và “nhà Chùa” tiện đi lại, tránh sự thất lễ với cửa Phật

2.1.3 Kết cấu kiến trúc

2.1.3.1 Tam quan [Pl.2, a.1, tr 4]

Như những ngôi chùa Việt khác, mở đầu không gian chùa Nam Dư Hạ cũng được bắt đầu bằng một Tam quan Tam quan của Chùa xây dựng ở thế

kỷ XX, và ý nghĩa Tam quan ở đây phần nào đã có sự suy lạc, bởi hình thức của nó là sự kết hợp giữa cổng Đình và Đền Tam quan được coi như tuyên ngôn của nhà Phật, trước Tam quan là đời trần tục, ở đó có rất nhiều lối để cho

Trang 36

đệ tử vào Chùa (8 vạn 4 nghìn pháp môn) Tam quan là nơi giao tiếp giữa đạo

và đời

Theo giải nghĩa của từ điển Hán – Việt thì “Quan” là cửa, là quan sát, là lối nhìn, là nhận thức Tam quan gồm không quan, giả quan, trung quan Người Việt có nhận thức rằng mọi sự phải theo thần mà không theo người, bởi

lẽ đó khi đề cập đến “tả”, “hữu” là nói theo hướng của thần và cũng là hướng của di tích, nó được nhìn từ phía trong ra Cộng với tinh thần “âm dương đối

đãi” của tư duy nông nghiệp, thì cặp phạm trù này được mở rộng ra không chỉ riêng cho từng không gian mà thường có sự tổng hợp Vì thế, ngay đối với thần nam/nữ hay động/tĩnh cũng vậy, Nam/động gắn với dương/phải, nằm bên trái (âm) và Nữ/tĩnh gắn với âm/trái, nằm bên phải (dương) Như vậy, cửa

“Không” mang tính cốt lõi/tĩnh, nên ở bên phải Cửa “Giả” mang tính vô thường/động, mang tính dương, nên ở bên trái

Không quan trong đạo Phật, là nhìn về bản thể cốt lõi chung của muôn loài, vạn vật Người nhà Phật giải thích rằng, nếu như lấy đầu lông thỏ gọi là

“Mao thỏ trần”, chia 7 (số 7 tượng trưng cho số nhiều, số phiếm chỉ chứ không mang ý nghĩa của số đếm) sẽ được Thủy trần, Thủy trần chia 7 được Kim trần, cứ như thế sẽ được Sắc tụ trần, rồi Cực vi, lân hư trần, cuối cùng là Sắc biến tế tướng, tới đây do quá nhỏ không thể chia được nữa, để “Không” có nghĩa không phải là cái gì, nó không còn mang tính chất lông thỏ, hoặc đất,

đá, thịt, xương, mà “Không” là bản thể, là chân như, không sai, không khác

“Không quan” như muốn nói muôn loài muôn vật xuất phát từ một nguồn gốc chung, sẽ dẫn đến tinh thần bao dung và lòng từ bi cao độ (điều này cũng

được thể hiện rõ trên bàn thờ chính, với các “Tượng thờ” thường không đi giày

để tránh dẫm vào các chúng sinh bé nhỏ, những vị mang giày thường là "vân xảo" để bay, để làm phép chứ không dùng để đi trên mặt đất)

Với “Giả quan” nhà Phật dạy chúng sinh, mọi vật hữu hình, đều xuất phát từ “Không”, do duyên (điều kiện khác nhau) mà kết tụ dưới các dạng

Trang 37

khác nhau, thành muôn loài, muôn vật Muôn loài, muôn vật chịu ảnh hưởng

và sự chi phối bởi quy luật vô thường qua quá trình sinh, trụ, di, diệt, rồi cuối cùng đi đến chỗ diệt vong, trên cơ sở có sinh ắt phải có diệt, như thế cũng có thể hiểu rằng sự tồn tại chỉ mang tính giả tạm mà thôi Đó là lối nhìn về quy luật phủ định đối với thế giới vạn hữu, mà tượng trưng là “Giả quan”, mang tính động nên nằm ở bên trái Tam quan

Nằm ở giữa Không quan và Giả quan là Trung quan, nó mang ý nghĩa là trung tâm, là lối nhìn chân chính, đòi hỏi phải tìm hiểu mọi lẽ huyền vi của tạo hóa và thế gian để đi vào Đạo bằng trí tuệ mà tìm tới giải thoát, đó là hình thức giải thoát “hình nhi thượng học” (cao siêu, minh triết)

Như đã trình bày ở trên, Tam quan của chùa Nam Dư Hạ được kết hợp từ kiểu nghi môn của Đình và Đền, bởi hình thức của nó vừa là kiểu tứ trụ, vừa

được xây kiểu tường bao Chính giữa bờ nóc của Tam Quan được kết một mặt trời kính với đao xung quanh, có đế là mây cuộn Hai đầu kìm được kết hai con “Si mẫn” dưới dạng Makara hóa Rồng

Hệ thống cổng được bố cục theo kiểu tòa nhà hai tầng tám mái, mái trên nhẹ tượng cho dương, mái dưới nặng tượng cho âm, trong sự đối đãi âm dương (lưỡng nghi) mà nảy sinh Tứ tượng (bốn phía mái: thái âm, thái dương, thiếu

âm, thiếu dương) Tám lá mái tượng cho Bát quái (tám "vật thể" khởi đầu cơ bản của thế giới hữu hình để trong quá trình bồi đắp sẽ sinh ra muôn loài, muôn vật)- Yếu tố này gắn với "Dịch học" và đã góp phần tạo thêm sự thiêng liêng của Tam Quan Suy cho cùng, trong ngôi Chùa, tòa gác chuông hai tầng tám mái đã như một chốn thông tam giới, để mỗi khi tiếng thu không vang lên thì cũng tác động tới toàn vũ trụ để mang tâm đạo và hạnh phúc đến cho muôn loài, đồng thời cũng như sự thúc giục “âm dương đối đãi” nhằm gieo mầm cho

sự phát triển Tám góc mái của cả hai tầng đều được đắp hồi long gắn mảnh sành, mảnh sứ, hiện tượng này ở đất Bắc, được nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật xếp vào niên đại chỉ có khoảng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

Trang 38

Dưới bộ mái là phần thân của Tam quan Mặt trước tầng trên đắp đôi Rồng vắt ngược đuôi lên phía trên, chầu vào một của sổ tròn như hóa thân từ mặt trăng, hướng Nam là hướng dương, mà mặt trăng thuộc âm nên tạo thành một cặp âm dương đối đãi, phía dưới của bức phù điêu Rồng chầu nguyệt đắp nổi ba chữ Hán “Thiên Phúc Tự” Mặt sau Tam quan cũng là đôi Rồng nhưng cuộn đuôi xuống phía dưới, đầu ngóc lên chầu vào mặt trời (hình thức của hai mặt gác Chuông chỉ là sự đổi chiều lẫn nhau mà thôi), phía dưới đắp dòng chữ Hán “Trùng tu ất Hợi niên” (năm 1995) Dưới tòa lầu là Chính môn (gọi là Trung quan), được xây kiểu tò vò, quan sát kỹ ta thấy lòng của Chính môn lộ

ra những chiếc rằm sắt nhỏ, dấu vết này chứng tỏ Tam quan đã được tu sửa gần đây Bộ cửa gỗ của Chính môn được làm theo kiểu vòm cuốn, phần trên trổ thủng chữ Thọ, phần dưới tạo bốn ván chạm nổi tứ hựu (cây theo mùa), kiểu dáng này được lấy mẫu từ truyền thống nên đã làm khá đẹp, tuy nhiên phần nào có hiện tượng suy lạc bởi sự kết hợp của nó là không đồng nhất Hai bên Chính môn là hai trụ lớn xây theo lối trụ chính của Đình, đỉnh trụ là đài sen đỡ búp sen nằm trên một đấu giật cấp đơn giản gắn với hệ mui luyện (mui luyện trơn không trang trí) Hệ mui luyện được đỡ bằng chiếc lồng đèn, xung quanh lồng đèn trang trí những đường diềm mảnh đơn tạo bằng hệ thống

đường gờ chỉ giật cấp thụt vào, bốn mặt của lồng đèn đắp nổi hình cây và quả thiêng (tùng, lộc, hồng, na…)

Từ cột trụ chạy sang hai bên là tả môn (Giả quan) và hữu môn (Không quan) cũng được kết cấu theo kiểu thức hai tầng tám mái, nhưng đầu kìm và

đầu đao đều chỉ là những vân soắn, mái bằng vôi vữa làm giả ngói ống ở phần cổ diêm giữa hai mái lộ ra phía ngoài của Không quan đề chữ Hán “Từ bi”, phía cửa Giả quan đề chữ Hán “Trí tuệ” Có lẽ những chữ này đã chứa

đựng nhiều suy ngẫm của nhà Chùa, chữ “Từ bi” mang nghĩa thương xót muôn loài đúng với bản chất của nhà Phật, chữ “Trí tuệ” như muốn nhắc nhở chúng sinh tìm đến chân lý của Đạo để hướng tới giải thoát Bộ cửa gỗ của

Trang 39

“Không quan” và “Giả quan” được làm theo kiểu thượng song hạ bản Nối sang hai bên của Không quan và Giả quan là hai trụ nhỏ, có bố cục tương

đồng với hai trụ lớn, tuy vậy, ở các mặt lồng đèn của hai trụ nhỏ chủ yếu

được trang trí đắp nổi hoa quả thiêng Hình tượng cành đào và chùm ba quả trĩu xuống ở mặt ngoài mang ý nghĩa sâu xa về ước vọng, đó là cành sinh lực với những quả đào để trừ tà, trừ ma và cầu trường thọ trong ý thức phát sinh, phát triển của muôn loài (ba là số lẻ, lẻ thì động, động thì chuyển, chuyển thì biến đổi mà biến đổi thì phát triển) Hình tượng cành hoa, quả lựu đắp ở hai mặt bên là hình thức cầu sinh sôi, phát triển trong ý nghĩa chung gắn với biểu tượng về hoa quả, bởi theo dân gian, các hoa quả có nhiều hạt (quả Lựu), nhiều múi (quả Bưởi), nhiều tay (quả Phật Thủ), nhiều mắt (quả Na)

đều được mang ý nghĩa gắn với cầu no đủ của dân cư nông nghiệp Nối với hai trụ nhỏ là một hệ thống tường bao được xây theo lối bổ trụ, đỉnh trụ là một búp sen được đỡ bởi đài sen (chất liệu đất nung tráng men), mũ tường

được tạo bởi hệ thống mái giả chạy sang hai bên, thân tường đắp nổi những panô với trung tâm là một mặt phẳng hình chữ nhật có bốn góc cong lõm tựa như chiếc khay nước Hình ảnh đắp nổi kỷ hà tại bốn góc chữ nhật trên hệ thống tường bao như hiện tượng hóa thân cách điệu của bốn con Dơi, ý tưởng này xuất phát từ hình thức “ngũ phúc lâm môn” Đây là sản phẩm mang niên

đại cuối thế kỷ XX

Hiện nay, sau khi tu bổ, Tam quan được đặt cao hơn mặt đường khoảng

30 cm, qua đây cho ta thấy ý nghĩa cổ truyền ít nhiều vẫn được quan tâm bởi người ta đã tạo nên một hệ thống ngưỡng cho Tam quan (ngưỡng của Không quan, Giả quan đều làm bằng đá, phần ngưỡng của Trung quan được tôn tạo bằng xi măng) Đây là hình thức khá đơn giản, song thoáng như vẫn giữ được

ý nghĩa nhằm tạo cho chúng sinh khi bước qua ngưỡng này là như đã để lại tất cả những xấu xa, những vướng bận tâm hồn bụi bậm ở phía ngoài, qua ngưỡng này là bước vào miền đất thánh thiện của nhà Phật

Trang 40

2.1.3.2 Tiền đường

Sau Tam Quan là con đường gạch dài 20m dẫn đến bậc tam cấp của tòa Tiền đường Nền Tiền đường cao hơn mặt sân khoảng 70cm, được lát bằng gạch hoa hình vuông (mỗi cạnh là 30cm) Hiện nay, Tiền đường là một tòa nhà năm gian hai dĩ, mặt trước của 2 gian đầu hồi được xây tường bưng Trên thân bức tường bưng được trổ cửa sổ thủng với trung tâm là chữ thọ cách điệu trong khung tròn với bốn góc là bốn nhành lá cân xứng, như hóa thân cách điệu của 4 con dơi để thoáng vẫn thấy ý nghĩa của cả bộ cửa như tượng cho trời đất, cho

âm dương và cho “ngũ phúc lâm môn” Mái của tòa Tiền Đường được lợp bởi hai lớp ngói, lớp dưới là ngói lót, có in nổi hình chữ thọ; lớp trên lợp ngói vẩy rồng, bờ nóc được đắp bằng vôi vữa Với phong cách này chúng ta có thể xếp kiến trúc Tiền đường vào niên đại của thế kỷ XX, có nghĩa là đợt tu sửa trong thế kỷ trước đã xây dựng tòa Tiền Đường với kết cấu 5 gian tường hồi bít đốc Khi tu sửa, người ta đã không giữ được các con giống trên nóc mái, hiện nay chúng ta chỉ nhìn thấy một bức hoành phi hình chữ nhật chém góc, chính giữa

đỉnh hoành phi là mặt trời lồng kính được đặt cân xứng trên một đám mây cuộn Hai đầu kìm là hai đấu giật cấp, người ta còn gọi đây là đấu “nắm cơm”,

từ thân “nắm cơm” chạy xuống là bờ chảy được chốt bằng hai đấu “nắm cơm” nhỏ khác, tiếp đó là hệ tay ngai kép đơn giản Từ bờ mái giọt gianh nơi đầu hồi, một bức tường phụ nhỏ nối với tường hồi chạy ra rồi kết thúc bằng hai trụ (không khác trụ của Tam quan) Tuy nhiên, khi xem xét ta thấy trụ này có niên

đại sớm hơn, bởi phần mui luyện ở đầu trụ đã làm theo kiểu thức cổ truyền để

đội một đế trổ thủng hình hoa chanh ở bốn mặt và là bệ đỡ cho lọ nước cam lồ của nhà Phật Toàn bộ các kết cấu đầu cột hầu như không trang trí, lồng đèn để trơn, thân trụ được đắp nổi câu đối chữ Hán ở ba mặt

Tòa Tiền đường được kết cấu theo dạng năm hàng chân cột, khoảng cách

từ cột quân ra cột hiên là 1.45m, khoảng cách giữa cột quân đến cột cái là 1.84m, khoảng cách giữa hai cột cái là 2.9m Hiên của tòa Tiền đường có diện

Ngày đăng: 05/06/2021, 23:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm