Dưới góc độ văn hoá học, việc nghiên cứu sưu tập hiện vật Văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một hướng tiếp cận những thành tựu văn hoá của cư dân Đông Sơn, tìm hiểu những
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo bộ văn hoá, thể thao vμ du lịch
Trường đại học văn hoá Hμ Nội
-*** -
Nguyễn văn hμ
Sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tμng Lịch sử Việt Nam Những giá trị lịch sử – văn hoá
Trang 3B¶ng ch÷ c¸i viÕt t¾t
- BCHTW: Ban chÊp hµnh trung −¬ng
- NPHMVKCH: Nh÷ng ph¸t hiÖn míi vÒ kh¶o cæ häc
Trang 4Môc lôc
B¶ng ch÷ c¸i viÕt t¾t
Môc lôc
më ®Çu 5 Chư¬ng 1: Tæng quan chung vÒ V¨n ho¸ §«ng S¬n vµ
qu¸ tr×nh thu thËp sưu tËp hiÖn vËt V¨n ho¸ §«ng S¬n
1.2 Qu¸ tr×nh nghiªn cøu vµ ph¸t hiÖn V¨n ho¸ §«ng S¬n 15 1.3 Qu¸ tr×nh sưu tÇm vµ thu thËp sưu tËp hiÖn vËt V¨n ho¸ §«ng S¬n t¹i
1.4 Vai trß cña sưu tËp hiÖn vËt V¨n ho¸ §«ng S¬n trong hÖ thèng
trưng bµy cña B¶o tµng LÞch sö ViÖt Nam 25
Chư¬ng 2: Gi¸ trÞ lÞch sö – v¨n ho¸ cña sưu tËp hiÖn
vËt v¨n ho¸ §«ng S¬n t¹i B¶o tµng LÞch sö ViÖt Nam 32 2.1 Thèng kª vµ ph©n lo¹i hiÖn vËt trong sưu tËp hiÖn vËt v¨n ho¸ §«ng
S¬n hiÖn ®ang lưu gi÷ vµ trưng bµy t¹i B¶o tµng LÞch sö ViÖt Nam 32 2.2 Gi¸ trÞ lÞch sö cña sưu tËp hiÖn vËt V¨n ho¸ §«ng S¬n t¹i
Chư¬ng 3: Gi¶i ph¸p b¶o qu¶n vµ ph¸t huy gi¸ trÞ
sưu tËp hiÖn vËt V¨n ho¸ §«ng S¬n t¹i B¶o tµng
Trang 53.1.Thùc tr¹ng c«ng t¸c b¶o qu¶n hiÖn vËt b¶o tµng t¹i B¶o tµng LÞch sö
vµ ph¸t huy gi¸ trÞ sưu tËp hiÖn vËt V¨n ho¸ §«ng S¬n t¹i
Trang 6mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Cách đây 84 năm, văn hoá Đông Sơn được phát hiện lần đầu tiên tại Thanh Hoá do một người câu cá ngẫu nhiên tìm được một số đồ đồng ở bờ sông Mã thuộc xã Đông Sơn, huyện Đông Sơn (nay là phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hoá) Đây là địa điểm đầu tiên phát hiện bộ sưu tập di vật thời đại kim khí ở Việt Nam và khu vực Đông Nam á, một nền văn minh Việt cổ thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam Di tích Đông Sơn
đã được khai quật nhiều lần từ cuối những năm 20 của thế kỷ XX đến nay,
được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, nhưng những nhận thức về nhiều vấn đề của văn hoá Đông Sơn như: phân kỳ, tính chất thời đại khảo cổ, sự nhận thức và vận dụng từ khái niệm đến nội dung trong nghiên cứu… vẫn còn có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau hoặc chưa được giải quyết một cách sâu sắc Vì vậy, sưu tập hiện vật văn hoá
Đông Sơn là một nguồn sử liệu đặc biệt quan trọng để tìm hiểu về văn hoá
Đông Sơn nói riêng và lịch sử nguồn gốc của dân tộc Việt nói chung
Sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn mang tính thống nhất và đa dạng, vừa mang tính kế thừa trực tiếp những di tích xuyên suốt nhiều thời đại khảo
cổ, hay nói cách khác đó là tính bản địa trong dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc Tính thống nhất còn được thể hiện rõ nét ở sự phong phú của các loại hình hiện vật tạo nên bản sắc riêng, nhưng đồng thời cũng thể hiện được
sự giao lưu, tiếp nhận những yếu tố mới để toát lên được tính đa dạng, phong phú của loại hình văn hoá này
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam từ khi tiếp quản bảo tàng Louis Finot (1958) đến nay, luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu sưu tầm, bảo quản
và trưng bày những di vật từ thời kỳ Tiền sử đến triều Nguyễn và chuyên đề Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, trong đó có những hiện vật của
Trang 7văn hoá Đông Sơn Sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam không những giàu về số lượng mà còn phong phú về loại hình và chất liệu, đặc biệt còn có những hiện vật điển hình, cực kỳ quí hiếm được xếp vào loại “Bảo vật quốc gia” Đây là nguồn sử liệu vật chất hết sức quan trọng giúp cho việc xác định những giá trị lịch sử, văn hoá của thời kỳ này trong tiến trình phát triển chung của lịch sử dân tộc
Dưới góc độ văn hoá học, việc nghiên cứu sưu tập hiện vật Văn hoá
Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một hướng tiếp cận những thành tựu văn hoá của cư dân Đông Sơn, tìm hiểu những giá trị lịch sử văn hoá,
đánh giá đúng thực trạng của sưu tập làm cơ sở cho việc nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, quản lý và trưng bày, phát huy giá trị của chúng phục vụ cho công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước hiện nay Như vậy, nghiên cứu sưu tập hiện vật Văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một việc làm cấp thiết và có ý nghĩa thiết thực
Tác giả là là cán bộ công tác tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, đã chọn
đề tài: "Sưu tập hiện vật Văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt
Nam- Những giá trị lịch sử – văn hoá " làm đề tài luận văn Thạc sĩ Văn
hoá học của mình, với mong muốn từ kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ công tác trưng bày, tuyên truyền, giáo dục tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, trên cơ sở đó, tiếp tục xây dựng kế hoạch sưu tầm, bổ sung hiện vật Văn hoá Đông Sơn làm phong phú thêm cho kho cơ sở và hệ thống trưng bày về văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
2.1 Tập hợp những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về văn hoá Đông Sơn để giới thiệu tổng quan về lịch sử, nguồn gốc sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Trang 82.2 Làm rõ những giá trị lịch sử - văn hoá của sưu tập hiện vật dựa trên cơ sở thống kê, phân loại, hệ thống hoá và miêu tả sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
2.3 Đưa ra giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hoá của sưu
tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Sưu tập hiện vật văn hoá Đông
Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Nhưng trên thực tế, sưu tập hiện vật này
có chất liệu rất đa dạng, phong phú, nhiều loại như: đồng, đá, gốm, gỗ, sắt, thuỷ tinh…, cho nên tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu sưu tập hiện vật này có chất liệu bằng đồng là chính và một số loại hình có chất liệu bằng đá, thuỷ tinh, gỗ và sắt trên hệ thống nhà trưng bày Còn những hiện vật có chất liệu bằng gốm hiện nay được bảo quản trong kho cơ sở có số lượng quá lớn, cho nên, trong khuôn khổ của một luận văn Thạc sĩ, tác giả chỉ giới thiệu thêm một số hiện vật tiêu biểu bằng gốm trên hệ thống trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, nên chưa có điều kiện giới thiệu toàn bộ hiện vật gốm Đông Sơn trong kho cơ sở
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi vấn đề mà luận văn đề cập đến là giá trị lịch sử, văn hoá của sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng
Lịch sử Việt Nam
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trên cơ sở tiếp quản từ người Pháp để lại, được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam sưu
Trang 9tầm bổ sung và phát huy tác dụng Trong hơn tám thập kỷ qua, đã có nhiều những công trình và bài viết đã viết về văn hoá Đông Sơn
Sau khi công bố luận văn đầu tiên về trống đồng vào năm 1891 –
1892 F Heger, học giả người áo, đã công bố công trình nghiên cứu về trống
đồng mang tên “Trống đồng cổ ở Đông Nam á” Tác phẩm này, Heger đã khảo tả 165 chiếc trống đồng tàng trữ tại các bảo tàng lớn trên thế giới như Berlin, Hamboug, London, Paris, Rome, Batavia, Bankok và Hà Nội Công trình này đã đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu trống đồng Đông Sơn sau này
Năm 1918, H Parmentier – học giả người Pháp – công bố công trình
đầu tiên về nghiên cứu trống đồng ở Việt Nam, đó là tác phẩm: “Những chiếc trống đồng cổ” Trong tác phẩm này, ông đã khảo tả 23 chiếc trống,
trong đó có trống đồng Ngọc Lũ
Năm 1929 Victor Goloubew công bố tác phẩm "Thời đại đồng thau ở Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ" trong đó có nội dung đề cập đến là những chiếc
trống được lưu giữ tại bảo tàng Bác Cổ Sau đó là các công bố nghiên cứu về
văn hoá Đông Sơn: Nguồn gốc và sự phân bố của trống đồng kim loại (1932), Khai quật ở Đông Sơn (1932), Cư dân Đông Sơn (1936), Cư dân
Đông Sơn và người Mường (1937), Nhà Đông Sơn (1938), Trống đồng Hoàng Hạ (1940) Những tác phẩm này phần nào đã đề cập đến đời sống văn
hoá của cư dân Đông Sơn
Năm 1958, Olov Janse cho công bố công trình “Nguồn gốc văn minh Việt Nam”, “Việt Nam - ngã tư của dân tộc và văn hoá” (1961), những tác
phẩm này đều có sử dụng tư liệu tại bảo tàng Bác Cổ
Sau hoà bình lập lại năm 1954, một loạt những công trình và bài viết nghiên cứu về sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam như :
Trang 10Tác giả Trần Huy Bá có bài viết đề cập tới Hai trống đồng Ngọc Lũ
được tìm ra trong trường hợp nào? [4, tr 80]
Năm 1970, tác giả Bùi Huy Hồng đề cập tới vấn đề Thử tìm hiểu thời
Hùng Vương trên mặt trống đồng Hoàng Hạ, trong cuốn Hùng Vương dựng
nước, tập 2 Lịch thời Hùng Vương trên mặt trống đồng Hoàng Hạ trong tạp
chí khảo cổ học, số 14 năm 1974 ý nghĩa thiên văn học trên những vòng tròn có tiếp tuyến dùng trang trí trên trống đồng Ngọc Lũ trong cuốn NPHMVKCH 1976 Bàn thêm về ý nghĩa thiên văn học của các hoa văn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ [42, tr176]
Tác giả Đào Tử Khai có bài Vài ý kiến về chiếc thạp Đào Thịnh và văn hoá đồng thau [49,tr49] Trống đồng Ngọc Lũ là một bản nông lịch [50,
tr159]
Năm 1971, trong tạp chí NCLS, tác giả Nguyễn Ngọc Chương có bài
Tìm hiểu một số hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ Năm 1981, trong cuốn
NPHMVKCH do Viện Khảo cổ phát hành, tác giả Nguyễn Duy Hinh có bài
Để hiểu thạp đồng Đào Thịnh Để tìm hiểu về kỹ thuật đúc trống đồng, tác giả Hoàng Văn Khoán và Hà Văn Tấn có bài Tìm hiểu kỹ thuật đúc trống
tả về những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện trên đất nước Việt Nam, trên
cơ sở đó, phác hoạ lại những hình thái sinh hoạt của người Lạc Việt
Trang 11Năm 1977, Để giới thiệu về ngôi mộ cổ Châu Can, tác giả Lưu Trần
Tiêu và Trịnh Căn đã công bố tác phẩm Khu mộ cổ Châu Can (Hà Tây) Tác
giả đã giới thiệu về hình thế, vị trí các hiện vật trong từng ngôi mộ đã phát hiện ở Châu Can (Hà Tây), từ đó có thể hiểu về cách thức mai táng và đồ tuỳ táng trong quá trình nghiên cứu mộ táng của văn hoá Đông Sơn
Năm 1994, GS Hà Văn Tấn cùng tập thể các tác giả đã xuất bản tác
phẩm Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam Với 524 trang viết tác phẩm là một
bức hoạ sinh động về văn hoá Đông Sơn, bao gồm: lịch sử phát hiện và nghiên cứu, các loại hình di tích, bộ sưu tập di vật, phác hoạ môi trường sống của cư dân Đông Sơn…
Năm 1996, tác giả Phạm Minh Huyền với tác phẩm Văn hoá Đông Sơn tính thống nhất và đa dạng, trên cơ sở phân loại các di tích văn hoá Đông Sơn, đã giới thiệu khái quát về văn hoá Đông Sơn – một nền văn hoá khảo
cổ, sự nhận thức về bản sắc văn hoá dân tộc thời kỳ dựng nước của Vua Hùng
Gần đây, năm 2003, tác giả Chử Văn Tần công bố cuốn Văn hoá Đông Sơn văn minh Việt cổ, tác giả đề cập đến nhiều vấn đề để giúp các nhà
nghiên cứu và người đọc hiểu được về nền văn minh này
Như vậy, cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá Đông Sơn được lấy từ nguồn sử liệu này của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, sâu sắc
về giá trị lịch sử – văn hoá của sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụng phương pháp luận Mác - Lênin và đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng CSVN về
Trang 12xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
5.2 Sử dụng phương pháp nghiên cứu của những ngành khoa học như: Khảo cổ học, Sử học; Văn hoá học; Bảo tàng học; Mỹ thuật học; Dân tộc học; Văn học dân gian… và vận dụng một số một số phương pháp khoa học
tự nhiên trong nghiên cứu
5.3 Phương pháp khảo sát, miêu tả, thống kê, phân loại, chụp ảnh và
xử lý thông tin tư liệu
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Luận văn tập hợp, phân loại và miêu tả đặc điểm theo từng nhóm các loại hình hiện vật chủ yếu của sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, nhằm cung cấp tư liệu đầy đủ và cập nhật cho các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
6.2 Phân tích những giá trị lịch sử, văn hoá của sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, nhận diện đời sống văn hoá của chủ nhân văn hoá Đông Sơn, khẳng định vị trí của chúng trong kho tàng
di sản văn hoá dân tộc
6.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chương 1 Tổng quan chung về văn hoá Đông Sơn và quá trình sưu tầm, thu thập sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Trang 13Chương 2 Giá trị lịch sử, văn hoá của sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Chương 3 Bảo tồn và phát huy giá trị của sưu tập hiện vật văn hoá
Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Ngoài ra, luận văn còn có các tài liệu tham khảo và phụ lục minh hoạ gồm: bản đồ, bản vẽ, ảnh, các bảng thống kê hiện vật
Trang 14Chương 1 Tổng quan chung về văn hoá Đông Sơn
vμ quá trình thu thập sưu tập hiện vật
văn hoá Đông Sơn tại Bảo tμng Lịch sử Việt Nam
1.1 Khái quát về văn hoá Đông Sơn
Văn hoá Đông Sơn lấy tên của di tích Đông Sơn, tên một làng nằm bên
bờ sông Mã, thuộc xã Đông Sơn, huyện Đông Sơn (nay là phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hoá)
Về địa bàn phân bố, các di tích văn hoá Đông Sơn chủ yếu phân bố ở
các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam
Về vấn đề niên đại, thời đại khảo cổ của văn hoá Đông Sơn cho đến
nay còn có nhiều ý kiến khác nhau trong giới nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, theo đa số thì văn hoá Đông Sơn tồn tại trong khung niên đại từ nửa cuối thiên niên kỷ I (trước CN) đến thế kỷ I hoặc II (sau CN)
Văn hoá Đông Sơn là cơ tầng của văn minh Việt cổ, thời dựng nước
đầu tiên của dân tộc Việt Nam
Vào năm 1924, những di vật đầu tiên của văn hoá Đông Sơn được biết
đến, do một người câu cá nhặt được một số hiện vật bên bờ sông Mã, làng
Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá Sau sự kiện đó, L.Pajot đã tiến hành đào bới, sưu tầm đồ đồng ở Đông Sơn Những di vật này đã được Victor Gouloubew – một học giả người Pháp gốc Nga, công bố trên tạp chí của Trường Viễn
Đông Bác cổ (Pháp) vào năm 1929, 1932 Với những công bố này, lần đầu tiên người ta biết đến có một thời đại đồng thau ở Bắc Kỳ
Khái niệm “Văn hoá Đông Sơn ” lần đầu tiên do Hein – Geldern đề xuất vào năm 1934 với ý nghĩa để chỉ tất cả những văn hoá thuộc thời đại đồ
Trang 15đồng thau phân bố ở Vân Nam, Đông Dương và Indonesia Khái niệm này
đồng nghĩa với cùng truyền thống khu vực (area co-tradition), phức hợp kỹ thuật (techno complex), đôi khi mang hàm nghĩa chỉ Văn minh Đông Sơn (Dong Son civilization)
Cho đến nay, trên 200 di tích văn hoá Đông Sơn đã được tìm thấy trên
đất nước ta và được các nhà khảo cổ Việt Nam nhận thức dưới khái niệm một nền văn hoá khảo cổ
Văn hoá là một tổng thể có hệ thống hình thành nên một trong những thuộc tính của loài người Văn hoá khảo cổ chú trọng tới văn hoá vật chất,
được thể hiện qua các hiện vật khảo cổ có chung một tầng văn hoá, phản ánh nhận thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, phong tục tập quán, cùng những cung cách đảm bảo vật chất, hình thành nên cộng đồng xã hội Bên cạnh việc nắm
được các đặc trưng cơ bản của một nền văn hoá, còn phải thấy được những cái mà văn hoá đó kế thừa, tiếp thu và phát triển sáng tạo từ các nền văn hoá cùng thời với nó, cũng như những tàn dư của những nền văn hoá trước nó
Về tính chất văn hoá, văn hoá Đông Sơn thuộc phạm trù thời đại kim
khí Văn hoá Đông Sơn có nguồn gốc bản địa, được hình thành và phát triển trên các di tích Tiền Đông Sơn ở 3 lưu vực sông chính Sông Hồng, Sông Mã
và Sông Cả, với chủ nhân là người Việt cổ
Về loại hình địa phương trong văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam đã được
một số nhà nghiên cứu khảo cổ học nghiên cứu và đưa ra cách thức phân chia khác nhau Nhưng cách phân chia sau đây của GS Hà Văn Tấn, trong cuốn
Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam và TS Phạm Minh Huyền, trong tác phẩm Văn hoá Đông Sơn tính thống nhất và đa dạng được phổ biến và sử dụng
rộng rãi đó là:
- Loại hình Đường Cồ hay loại hình Sông Hồng
- Loại hình Đông Sơn hay loại hình Sông Mã
Trang 16- Loại hình Làng Vạc hay loại hình Sông Cả
Loại hình Đường Cồ (loại hình Sông Hồng): Về nguồn gốc, loại hình
Đường Cồ được phát triển trực tiếp lên từ giai đoạn văn hoá Gò Mun, địa bàn chủ yếu là vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đậm đặc nhất ở các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Phú Thọ Biên giới phía bắc của loại hình này trùng với biên giới phía bắc của văn hoá Đông Sơn, đó là các tỉnh miền núi Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Thái Nguyên, Bắc Cạn… Giới hạn phía Nam là các huyện phía nam Hà Tây, phía bắc Hà Nam Phía Đông giáp biển có các di tích thuộc Hải Phòng, Quảng Ninh
Loại hình Đông Sơn (loại hình Sông Mã): văn hoá Đông Sơn vùng này
được phát triển trực tiếp lên từ giai đoạn văn hoá Quỳ Chử Địa bàn chủ yếu của loại hình này thuộc vùng lưu vực sông Mã, sông Chu Ranh giới phía Bắc của loại hình này có địa bàn chung với ranh giới phía nam của loại hình
Đường Cồ, ranh giới phía Nam ở trong khoảng các huyện giáp với tỉnh Nghệ
1.2 Quá trình nghiên cứu và phát hiện văn hoá Đông Sơn
Quá trình nghiên cứu văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (1924 đến 1954), giai đoạn 2 (1954 đến nay)
Trang 171.2.1 Giai đoạn 1, từ năm 1924 – 1954
Năm 1924 là năm phát hiện ra di chỉ văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hoá
và đến năm 1954 là năm miền Bắc được hoàn toàn giải phóng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu Việt Nam nghiên cứu về văn hoá
Đông Sơn
Thế nhưng, trước thời điểm này, trong lịch sử, những hiện vật đồng
thau đã được sử sách ghi chép đến rất sớm Sách “Hậu Hán Thư” có ghi chép
về việc Mã Viện sưu tập trống đồng đúc ngựa đem về Trung Quốc Theo thần tích làng Thượng Lâm (Hà Tây), thì từ thế kỷ X, Đinh Tiên Hoàng, trong khi
đánh dẹp các sứ quân, đã chú ý thu thập các trống đồng cổ để phong tặng
cho nhân dân các làng xã giữ để thờ Những ghi chép trong : Việt điện u linh toàn biên; Lĩnh Nam chích quái; Đại Việt sử ký toàn thư đều ghi chép những
hiện vật bằng đồng liên quan đến lịch sử Trên thực tế hiện nay vẫn còn những nơi thờ phụng trống đồng cổ như đền Đồng Cổ thời Lý ở Thăng Long
và đền Đồng Cổ ở Đan Nê, Thanh Hoá Đáng chú ý là ở đền Đồng Cổ (Thanh Hoá) có tấm bảng gỗ khắc năm Bảo Hưng thứ 2 triều Tây Sơn (1802) của Tuyên công Nguyễn Quang Bàn, con trai Quang Trung Nguyễn Huệ, ghi chép khá tỉ mỉ về trường hợp phát hiện, đo đạc, khảo tả chiếc trống đồng cổ
đặt trong đền Trong sử thi của người Mường ở Thanh Hoá cũng có nhắc đến
Mo trống đồng và cách sử dụng trống đồng của người Mường trong các tang
lễ
Sự xâm lược của thực dân Pháp cũng đi liền với những công cuộc sưu tầm những hiện vật khảo cổ, trong đó có những hiện vật bằng đồng thau Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số người Pháp như D”Argence và Demange đã thu lượm và mua bán một số đồ đồng Đông Sơn ở các tỉnh miền Bắc Những đồ đồng này được bán lại cho Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội và một số bảo tàng ở Pháp vào năm 1913
Trang 18Đến năm 1924, công tác nghiên cứu về văn hoá Đông Sơn mới được quan tâm thực sự và có những bước phát triển Đó là việc phát hiện và khai quật khu di tích văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hoá của các học giả nước ngoài
Từ năm 1924 - 1932, L.Pajot với tư cách là cộng tác viên của Trường Viễn Đông Bác cổ tiến hành nhiều cuộc khai quật tại Đông Sơn, Thanh Hóa, thu được nhiều đồ đồng, đá, gốm, sắt… trong đó phát hiện được một số mộ táng và một số cột gỗ có dấu vết đục đẽo mà ông cho là vết tích nhà sàn Ngoài hiện vật đào được, Pajot còn mua lại của dân, hoặc chiếm đoạt từ tay các quan lang Mường một số đồ đồng, kể cả trống đồng Riêng trống đồng, Pajot đã đào được ở Đông Sơn khoảng 20 chiếc, nhưng hầu hết là trống nhỏ, chỉ có một số trống lớn như: Đông Sơn 1 và Đông Sơn 2 được V.Goloubew công bố vào năm 1932
Năm 1929 Victor Goloubew công bố kết quả khai quật của Pajot trong
tác phẩm "Thời đại đồng thau ở Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ", sau đó là các công
bố nghiên cứu về văn hoá Đông Sơn: Nguồn gốc và sự phân bố của trống
đồng kim loại (1932), Khai quật ở Đông Sơn (1932), Cư dân Đông Sơn (1936), Cư dân Đông Sơn và người Mường (1937), Nhà Đông Sơn (1938), Trống đồng Hoàng Hạ (1940) Những tác phẩm này phần nào đã đề cập đến
đời sống văn hoá của cư dân Đông Sơn
Năm 1934, khi nghiên cứu về đồ đồng ở Đông Nam á, nhà khảo cổ học người áo Heine Geldern đề nghị gọi nền văn hoá đồ đồng này là văn hoá
Trang 191.2.2 Giai đoạn 2: từ 1954 đến nay
Từ những năm 50 – 60 của thế kỷ XX, các nhà học giả Việt Nam ta bắt đầu nghiên cứu về văn hoá Đông Sơn Với kết quả nghiên cứu của mình cùng với nghiên cứu của các học giả nước ngoài về văn hoá Đông Sơn, các học giả Việt Nam đã khẳng định được được tầm quan trọng của văn hoá
Đông Sơn trong tiến trình lịch sử dân tộc và đặt văn hoá Đông Sơn vào một
vị trí xứng đáng Thông qua công trình nghiên cứu của: Đào Duy Anh
(1954, 1957) "Văn hoá Đông Sơn hay văn hoá Lạc Việt", "Văn hoá đồ đồng
và trống đồng Lạc Việt" Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn (1960), Lịch sử chế độ Cộng sản nguyên thủy ở Việt Nam Văn Tân (1960), Xã hội Văn Lang
và Âu Lạc… đã khẳng định điều đó
Ngay từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, Đội khảo cổ thuộc Vụ Bảo tồn Bảo tàng và bộ môn Khảo cổ học thuộc khoa Lịch sử , Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, đã cùng tiến hành các công cuộc tìm kiếm, nghiên cứu văn hoá Đông Sơn trên qui mô rộng, từ đó, công tác nghiên cứu
về văn hoá Đông Sơn đã có điều kiện phát triển mạnh mẽ
Bắt đầu từ năm 1960 – 1967, công tác thăm dò khai quật các di tích văn hoá Đông Sơn được triển khai trên lưu vực các con sông lớn, đó là: trên lưu vực sông Hồng, phát hiện các di tích Đào Thịnh, Yên Hưng, Yên Hợp (Yên Bái); Vạn Thắng, Chính Nghĩa, Thanh Đình, Phú Hậu (Phú Thọ);
Trang 20Phượng Cách, Nam Chính, Châu Can (Hà Tây); Việt Khê (Hải Phòng); trên lưu vực sông Mã, phát hiện các di tích Phà Công, Núi Nấp, Núi Sỏi, Hoàng
Lý, Quỳ Chử (Thanh Hoá); trên lưu vực sông Cả, phát hiện di tích Xuân An (Hà Tĩnh)
Đặc biệt, trong thời kỳ này các nhà khảo cổ đã phát hiện được các di tích tiền Đông Sơn: Di tích Phùng Nguyên, Gò Mun (Phú Thọ), Đồng Đậu, Nghĩa Lập, Gò Tre Trên, Gò Tre Dưới (Vĩnh Phúc); Văn Điển, Đồng Vông (Hà Nội); Tây Đằng, Cam Phượng, Hoàng Ngô, Đồng Dền (Hà Tây), Từ Sơn,
Đông Lâm (Bắc Ninh); Đông Khối (Thanh Hoá)
Trên cơ sở phát hiện nhiều di tích cư trú và mộ táng quan trọng và thu
thập nhiều di vật quí hiếm như: Thạp đồng Đào Thịnh, thạp đồng và lưỡi cày đồng Vạn Thắng, mũi tên đồng Cổ Loa, mộ quan tài hình thuyền Việt Khê…, các nhà khảo cổ học tiếp tục tiến hành khai quật trên một diện
rộng, kết quả được viết thành những báo cáo khai quật khảo cổ học như: Báo cáo cụ thể về những mũi tên đồng Cổ Loa (Vụ Bảo tồn Bảo tàng 1959), Những ngôi mộ cổ tìm thấy ở Việt Khê - Hải Phòng (Diệp Đình Hoa, Phạm Văn Kỉnh 1963), Báo cáo sơ bộ cuộc khai quật di tích đồng thau Thiệu Dương (Đội khảo cổ 1961), Một số báo cáo về khảo cổ học Việt Nam (Đội Khảo cổ 1966), Khu mộ cổ Châu Can (Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 1967), Những vết tích đầu tiên của thời đại đồng thau ở Việt Nam (Lê Văn Lan,
Phạm Văn Kỉnh, Nguyễn Linh 1963)…
Như vậy, chỉ trong khoảng một thập kỷ, ngành khảo cổ nước ta đã tìm
được khối lượng tư liệu đồ sộ thuộc văn hoá Đông Sơn, trong đó, việc phát
hiện các di tích tiền Đồng Sơn đã khẳng định tính bản địa của văn hoá
Đông Sơn Với những nguồn tư liệu này, giúp các nhà nghiên cứu đi sâu vào
tìm hiểu thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc, thời kỳ Hùng Vương
Trang 21Vào những năm 1968 – 1970, với những cuộc khai quật, nghiên cứu
trên diện rộng, kết quả ba năm nghiên cứu đã cho ra đời 4 tập kỷ yếu Hùng Vương dựng nước (1970,1972,1973,1974) do Viện Khảo cổ chủ trì và công trình Thời đại Hùng Vương của Viện Sử học Các công trình này đã khẳng
định nguồn gốc bản địa của văn hoá Đông Sơn “Trên cơ sở phát triển văn hoá Đông Sơn, các công trình khẳng định sự ra đời của các nhà nước sơ khai mà truyền thuyết gọi là nước Văn Lang của các vua Hùng” Tiếp
theo việc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương, việc tìm hiểu văn hoá Đông Sơn vẫn được đẩy mạnh nhằm đi sâu tìm hiểu các mặt của văn minh Đông Sơn
Có thể nói, chỉ trong vài chục năm, từ một di tích Đông Sơn, chúng ta
đã biết đến hàng trăm di tích của văn hoá Đông Sơn với nhiều chất liệu và các loại hình khác nhau Tư liệu về văn hoá Đông Sơn ngày càng phong phú
và đảm bảo tính khoa học Trên cơ sở những tư liệu mới ngày càng phong phú, giới khảo cổ học nước ta đã tiến hành nhiều cuộc hội thảo về văn hoá
Đông Sơn như: Hội thảo về mộ quan tài hình thuyền do Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tổ chức, Nông nghiệp thời kỳ Hùng Vương và phân loại trống đồng
do Viện Khảo cổ học chủ trì, Hội thảo về trống đồng Cổ Loa do Sở Văn hoá
Thông tin Hà Nội tiến hành, ngoài ra còn có những cuộc thảo luận sôi nổi về
nhân chủng học người Việt cổ văn hoá Đông Sơn giữa các nhà nghiên cứu
nhân học và khảo cổ học
Để tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cho công bố tư liệu phát hiện trong mộ cổ Việt Khê (1967), Châu Can (1974) Trống Đồng, di vật điển hình của văn hoá Đông Sơn được tập trung trình bày trong 3 công trình nghiên cứu và phân loại trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam của Hoàng Vinh, Nguyễn Văn Huyên (1975); Phạm Minh Huyền, Trịnh Sinh, Nguyễn Văn Huyên (1987); Viện Khảo cổ học (1990) Đồng thời với việc công bố tư liệu nêu trên là những công trình đi sâu nghiên cứu, phân tích từng nhóm hiện vật của nhiều nhà khoa học bàn về mối quan hệ giữa văn
Trang 22hoá Đông Sơn với văn hoá thời đại kim khí vùng Tây Nam và Đông Nam Trung Quốc
Trong những năm gần đây, việc phát hiện, nghiên cứu văn hoá Đông Sơn vẫn được các nhà nghiên cứu quan tâm Viện khảo cổ học hàng năm đều cho công bố những phát hiện mới về khảo cổ học, trong đó có việc phát hiện
và nghiên cứu văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về văn hoá Đông Sơn đã khẳng định vị trí, nguồn gốc và giá trị của văn hoá Đông Sơn ngày càng sâu sắc và toàn diện hơn
1.3 Quá trình sưu tầm thu thập sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trên cơ sở tiếp quản của Bảo tàng Louis Finot (Pháp), đến nay đã có một sưu tập hiện vật Văn hoá Đông Sơn vô cùng phong phú, đa dạng với nhiều chất liệu và loại hình Sưu tập này mang đặc trưng của các vùng thuộc Văn hoá Đông Sơn trên đất nước ta Sưu tập đó
được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau
1.3.1 Sự đóng góp của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho Bảo
tàng Louis Finot
Năm 1910, phòng trưng bày bảo tàng đầu tiên ở Hà Nội đã ra đời trực thuộc Pháp quốc Viễn Đông Bác cổ học viện, đặt tại một ngôi nhà kiến trúc kiểu Pháp xây dựng năm 1874 Ngôi nhà này vốn là tư dinh, năm 1884 là trụ
sở của toàn quyền Đông Dương, sau đó là trụ sở của Hội đồng tư vấn người bản xứ Từ năm 1908 được chuyển thành trường Đại học Đông Dương Sau khi Đại học Đông Dương chuyển đến trụ sở mới, ngôi nhà này dành cho Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện làm trụ sở bảo tàng Lúc đầu nơi đây chỉ là nơi trưng bày những hiện vật của trường Viễn Đông Bác Cổ đã thu
Trang 23thập được, nhưng số lượng hiện vật được thu thập đưa về đây ngày càng nhiều, đòi hỏi phải có sự mở rộng khu trưng bày Khi đó, Louis Finot là một nhà nghiên cứu sâu về văn hoá Đông Dương đã cho rằng: văn hoá Đông Dương có ảnh hưởng rất lớn của văn hoá Trung Hoa và văn hoá ấn Độ, nên
ông đã đề xuất với chính phủ Pháp cho xây dựng một bảo tàng mới để trưng bày những hiện vật thu giữ được ở Đông Dương
Trụ sở mới của bảo tàng, nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, được Toàn quyền Đông Dương Merlin duyệt từ tháng 2/ 1925 Tháng 11/1925, thiết kế của tào nhà được Toàn quyền Đông Dương Monguillot thông qua Tháng 1/1926, toà nhà được khởi công xây dựng do Ernest Hébrand và Charles Batteur chủ trì thiết kế với sự cộng tác của kỹ sư Max Bepi và đến ngày 17/3/1932 thì hoàn thành mang tên bảo tàng Luois Finot (Musée Louis Finot) trực thuộc Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ học viện (EFEO) Đây là một tác phẩm kiến trúc đặc sắc và độc đáo ở Đông Dương, nó được kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến trúc gỗ cổ truyền của Việt Nam và kiến trúc cổ điển Pháp Bảo tàng này được coi là bảo tàng đầu tiên của Việt Nam
Từ năm 1924 - 1932, trường Viễn Đông Bác cổ Pháp đã uỷ quyền cho Pajot, một viên chức thuế quan người Pháp khai quật di chỉ Đông Sơn Kết quả cuộc khai quật từ năm 1924 - 1927 đã được V.Goloubew công bố trong
cuốn “Thời đại đồng thau ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ” (BEFEO, 1929 XXIX,
1-16) Theo tài liệu này, L.Pajot đã tìm được 489 hiện vật đồng thau, bao gồm:
vũ khí, công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức, nhạc khí và các hiện vật bằng chất liệu khác như: sắt, đá, gốm… các ngôi mộ táng và vết tích nhà sàn Những hiện vật này được lưu giữ một phần tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, còn lại hiện đang được lưu giữ ở nhiều nơi trên thế giới như: Pháp, Bỉ…
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, D”Argence là một người Pháp buôn
đồ cổ đã đi khắp các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và Trung bộ để thu mua các cổ
Trang 24vật bằng đồng thau Trong đó ông chủ yếu tìm mua và sưu tầm những hiện vật đồng thau thuộc giai đoạn văn hoá Đông Sơn, sau đó, ông đã bán lại cho Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội Một số hiện vật được ông đưa về Pháp bán lại cho các bảo tàng, một số được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Louis Finot, nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Ngoài ra, còn có sưu tập của Pouyan mua ở núi Voi (Kiến An, Hải Phòng), ở Thanh Hoá và sưu tập hiện vật tại Hải Phòng do Proque sưu tầm thu thập được đưa về lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Louis Finot, nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Với kết quả nghiên cứu sưu tầm và khai quật di chỉ Đông Sơn, các
học giả nước ngoài đã đóng góp cho bảo tàng Louis Finot khoảng 880 hiện vật, trong đó có những hiện vật rất độc đáo và tiêu biểu đó là trống đồng Ngọc Lũ Ông Trần Huy Bá cho biết: theo lời cụ Nguyễn Đăng Lập, 85 tuổi, người xã Ngọc Lũ, vào khoảng những năm 1893- 1894, một số người dân xã Ngọc Lũ làm thợ đấu chuyên tu sửa và hợp long những quãng đê bị vỡ Khi
đang đào đất ở bãi cát bồi đắp đê Trần thuỷ ở xã Như Trác, huyện Nam Sang (Lý Nhân, Hà Nam), thuộc hữu ngạn sông Hồng, cách xã Ngọc Lũ về Đông Bắc 30km, phát hiện ở độ sâu 2 mét một trống đồng Họ lấp lại không cho chủ thầu biết, đến đêm mới ra đào thì được một trống và một nắp thạp Họ
đem về cúng vào đình làng Ngọc Lũ, để khi có đình đám cúng tế thì đem ra
đánh, ngày thường lại cất vào hậu cung Bảy, tám năm sau, một hoạ sĩ người Pháp đến vẽ đình Ngọc Lũ, thấy trống liền báo cho công sứ Hà Nam biết
Nhân có cuộc đấu xảo ngày 15/11/1902 ở Hà Nội, công sứ Hà Nam đ∙ sức
cho dịch lý làng Ngọc Lũ, mang trống và nắp thạp lên góp vào đấu xảo Sau
đó, nhà Bác cổ Viến đông đã mua lại trống với giá 550đồng [4]
1.3.2 Sự đóng góp của các nhà nghiên cứu trong nước.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954), cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải
Trang 25phóng, nhưng phải đến ngày 22/4/1958, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mới tiếp nhận cơ sở bảo tàng từ chính phủ Pháp và đặt tên là “Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam” trực thộc Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch)
Ngay sau khi tiếp nhận cơ sở bảo tàng từ chính phủ Pháp, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã nhanh chóng kiện toàn bộ máy tổ chức và hệ thống trưng bày, đến ngày 3/9/1058, bảo tàng đã chính thức mở cửa với hệ thống trưng bày hoàn toàn mới, giới thiệu cho khách tham quan về lịch sử – văn hoá Việt Nam từ thời nguyên thuỷ đến năm 1958 và chuyên đề cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, trong đó có trưng bày về sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn
Quá trình sưu tầm thu thập sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn được các nhà khảo cổ học Việt Nam quan tâm tiến hành nghiên cứu, sưu tầm, khai quật khảo cổ học và đã thu thập được một lượng hiện vật tương đối đồ sộ của văn hoá Đông Sơn
Cuối năm 1961 - đầu năm 1962, Đội khảo cổ học, nay là Viện Khảo
cổ học Việt Nam đã tiến hành khai quật ở Đông Sơn với diện tích 1082m2 Cuộc khai quật này đã làm rõ được một tầng văn hoá khá dày, bị xáo trộn, khẳng định những điều thu nhận được từ các cuộc khai quật của L.Pajot và O.Jansé Về những di tích tập trung ở ven sông, cuộc khai quật đã phát hiện
được 35 mộ Đông Sơn, trong đó có 21 mộ có dấu vết của sự tiếp xúc Việt – Hán, 14 mộ thuần bản địa, ngoài ra còn có các mộ thời Lục triều và Lý Trần Kết quả đã sưu tầm và thu thập được 112 hiện vật bằng đồng thau, 34 vòng
đá, 54 hạt chuỗi thuỷ tinh, 143 đồ gốm, 19 đồ sắt Số hiện vật này đã đưa về bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Năm 1959, di tích Thiệu Dương, xã Thiệu Dương, Thanh Hoá được phát hiện và được khai quật ba lần sau đó vào các năm: Cuối 1960 đầu 1961, cuối 1961 đầu 1962 và năm 1965 Đây là di tích vừa là di chỉ cư trú, vừa là
Trang 26khu mộ táng của nhiều thời đại Di tích này có tầng văn hoá dày từ 1,6m –
2,4 m, phát triển liên tục, chia thành 4 lớp: Lớp thứ nhất và thứ 2 thuộc văn
hoá Đông Sơn, lớp thứ 3 và thứ 4 thuộc giai đoạn văn hoá Quỳ chử và có thể
còn sớm hơn nữa Phát hiện được 123 ngôi mộ thuần bản địa, 25 mộ có tiếp
xúc với Hán Hiện vật thu được gồm nhiều chất liệu như: đồng, đá, xương,
gỗ, đất nung… Hiện vật được lưu tại kho của Viện Khảo cổ học, năm 1970
bàn giao cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam còn
phong phú bởi các sưu tập hiện vật được sưu tầm ở các địa phương, trong đó
có những sưu tập hiện vật quí hiếm như: thạp đồng Đào Thịnh, được sưu tầm
năm 1960 tại Thôn Đào Thịnh, Trấn Yên, Yên Bái; mộ cổ Việt Khê bên
trong chứa hơn 100 hiện vật… phát hiện và sưu tầm năm 1961…ngoài ra còn
có sự đóng góp của những người yêu thích cổ vật, các bảo tàng khác hiến
tặng và của các cơ quan Công an, Hải quan bảo vệ văn hoá thu giữ được đã
bàn giao cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Những sưu tập hiện vật trên đây là cơ sở quan trọng để Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam xây dựng nội dung trưng bày về văn hoá Đông Sơn trong hệ
thống trưng bày lịch sử dân tộc Việt Nam
1.4 Vai trò của sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn trong hệ thống
trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam:
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, trên cơ sở tiếp quản của bảo tàng Louis
Finot (1958), đến nay đã trở thành một cơ quan văn hoá - khoa học – giáo
dục có nhiệm vụ sưu tầm, lưu giữ, trưng bày và giáo dục lịch sử dân tộc từ
khi bắt đầu có sự hình thành con người trên đất nước Việt Nam đến hết triều
Nguyễn và chuyên đề Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 Trong
quá trình sưu tầm để kiện toàn sưu tập hiện vật phục vụ cho hệ thống trưng
bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn đóng
vai trò quan trọng trong bảo tàng và chiếm diện tích trưng bày khá lớn hiện
Trang 27nay (khoảng 1/7 diện tích nhà trưng bày) Sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn
được trưng bày là những bằng chứng vật chất có thật chứng minh cho giai
đoạn dựng nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam, đồng thời còn là nguồn cứ liệu lịch sử quan trọng để nghiên cứu tìm hiểu quá trình phát triển liên tục của lịch sử từ thời cách mạng đá mới cho đến khi hình thành nhà nước đầu tiên ở nước ta
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã tiến hành nhiều lần chỉnh lý, bổ sung, nâng cấp hệ thống trưng bày, trong đó có lần chỉnh lý lớn nhất là vào năm
1998 – 2000, rất nhiều hiện vật gốc được bổ sung đã làm sáng tỏ các giai
đoạn lịch sử của đất nước, trong đó có phần trưng bày văn hoá Đông Sơn Trưng bày về văn hoá Đông Sơn chiếm diện tích khoảng 300m2 trên tổng số 2.200 m2 diện tích trưng bày chính của bảo tàng Trên hệ thống trưng bày hiện nay của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đang trưng bày khoảng 6.071 hiện vật và sưu tập, trong đó có sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn với số lượng là
550 hiện vật, chiếm tỷ lệ 9,1% tổng số hiện vật trưng bày
Trong sưu tập hiện vật Đông Sơn, hiện vật có chất liệu đồng chiếm số lượng nhiều hơn cả là 393 hiện vật, chiếm tỷ lệ 71,45 % Ngoài ra còn có những hiện vật có chất liệu là gốm, thuỷ tinh, đồ sắt, gỗ, đồ da… Trong sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đặc biệt có những hiện vật cực kỳ quí hiếm được xếp trong danh sách “Bảo vật quốc gia”
như trống đồng Ngọc Lũ, Thạp đồng Đào Thịnh…
Phần trưng bày này được trưng bày theo các giải pháp như: trưng bày theo chủ đề, trưng bày theo sưu tập, trưng bày theo phương pháp liên tưởng
và trưng bày theo đời sống thực
Ví dụ: Phần trưng bày về chủ đề nông nghiệp, được bảo tàng thể hiện
trưng bày gồm các hiện vật có chất liệu khác nhau và loại hình khác nhau,
đều có nội dung phục vụ cho một chủ đề nông nghiệp như: cày đồng, nhíp hái đồng, hạt gạo cháy, nồi gốm, bát gốm, ông đầu rau gốm…giúp cho
Trang 28khách tham quan và các nhà nghiên cứu hiểu được được quá trình từ khi sản xuất đến khi thu hoạch của cư dân Đông Sơn
Trưng bày theo sưu tập gồm có sưu tập đồ dùng sinh hoạt, với những
đồ đồng có loại hình khá phong phú như thạp, thố, bát, khay, muôi…, bên cạnh đó là các đồ gốm như: nồi, bình, bát, chạc gốm… giúp khách tham quan, nghiên cứu hiểu về đời sống sinh hoạt thường ngày của cư dân Đông Sơn
Trưng bày sưu tập công cụ sản xuất chủ yếu bằng đồng có số lượng và
loại hình khá phong phú, trong đó rìu chiếm một số lượng lớn và tiêu biểu như rìu lưỡi xéo, lưỡi xoè cân, lưỡi cày đồng hình tim, cuốc chữ U, lưỡi dao
gặt, nhíp, rìu, đục, giũa…ngoài ra còn có khuôn đúc rìu bằng đá và quả cân đá; chì lưới và dọi xe sợi gốm Thông qua sưu tập này, cho chúng ta thấy
được sự phong phú về công năng và mục đích sử dụng của các công cụ sản xuất trong đời sống lao động, sản xuất của cư dân Đông Sơn
Trưng bày sưu tập vũ khí chiếm một phần diện tích trưng bày rất quan
trọng trong bảo tàng với số lượng hiện vật phong phú về loại hình, nhiều về
số lượng, bao gồm vũ khí đánh xa như mũi tên, lao vũ khí đánh gần như rìu, giáo, dao găm, mũi tên, hộ tâm phiến…giúp khách tham quan thấy được trình độ và bản lĩnh quân sự trong việc đấu tranh chống ngoại xâm giữ làng, giữ nước của cư dân Đông Sơn
Trưng bày sưu tập đồ trang sức bằng đồng, đá và thuỷ tinh cũng rất
phong phú về loại hình, đa dạng về kiểu dáng, mang tính nghệ thuật cao như: các loại vòng tay, khuyên tai, hạt chuỗi… cho thấy cư dân Việt cổ Đông Sơn
đã đạt đến trình độ cao của kỹ nghệ chế tác đồ trang sức như đúc, cưa, khoan, mài, tiện, đánh bóng…với nhiều kích cỡ, màu sắc khác nhau, chứng
tỏ thời Đông Sơn đã có những công xưởng chuyên sản xuất và chế tác đồ trang sức
Trang 29Trưng bày sưu tập nhạc khí, hầu hết các hiện vật đồ đồng văn hoá
Đông Sơn đều mang tính nghệ thuật cao Nhạc khí trong văn hoá Đông Sơn chủ yếu là đồ đồng, tuy hiện vật là nhạc cụ trong sưu tập không nhiều, nhưng cũng thể hiện vai trò quan trọng và phong phú của các loại nhạc khí trong sưu tập Trống đồng là loại di vật điển hình nhất của văn hoá Đông Sơn, nhóm trống minh khí thường được chôn theo người chết là hình ảnh thu nhỏ của cuộc sống thực tại đối với người chết mang về thế giới bên kia, điều này giúp chúng ta hiểu được phần nào về đời sống vật chất và tinh thần của người
Đông Sơn
Cùng với các phương pháp trưng bày nêu trên, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam còn dùng thủ pháp trưng bày hiện vật đơn lẻ, độc đáo cũng thể hiện nội dung của phần trưng bày, giúp người xem nhận biết giá trị nghệ thuật của
hiện vật Tiêu biểu như chiếc thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) đã cho chúng
ta thấy phần nào trình độ đúc đồng cũng như nghệ thuật trang trí của người
Đông Sơn Đây là chiếc thạp lớn nhất và đẹp nhất trong số thạp có nắp được phát hiện cho đến nay Trên nắp thạp trang trí hoa văn giống như trên mặt trống đồng và đặc biệt là có những khối tượng nam nữ trong tư thế giao phối phản ánh lối tư duy phồn thực của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, ước mong mùa màng tươi tốt, cây trái sinh sôi
Phương pháp trưng bày liên tưởng được thể hiện bằng cách kết hợp giữa hiện vật và các tài liệu khoa học bổ trợ như phần trưng bày trống đồng
có kết hợp với cột hoa văn chắt lọc tổng hợp các hoạ tiết tuyệt mỹ của văn hoá Đông Sơn như hoa văn hình người, động vật, vật…giúp khách tham quan
dễ cảm thụ những nét tinh tế trong kỹ thuật chế tác, tái tạo những hình ảnh thể hiện ý niệm phồn thực của người Việt cổ
Phương pháp trưng bày theo đời sống thực, đó là trưng bày ngôi mộ cổ Việt Khê Phần này trưng bày những di vật tìm được trong mộ từ lúc phát
Trang 30hiện ban đầu, giúp người xem dễ hình dung về phong tục, tập quán, ma chay
và cuộc sống sinh hoạt của người xưa
Ngoài ra còn có đồ tre gỗ, đồ da được sơn… hẳn cũng được người
Đông Sơn sử dụng rộng rãi, chỉ tiếc rằng chúng dễ bị huỷ hoại nên ngày nay chúng ta thấy còn lại không nhiều Trong sưu tập văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chỉ có những cán giáo bằng song, mái chèo gỗ, mảnh
da dính sơn ta tìm thấy trong ngôi mộ cổ Việt Khê Tuy vậy, với những bằng chứng vật chất trên, chúng đã phản ánh một cuộc sống cực kỳ phong phú đa dạng của cư dân Đông Sơn
Tuy chưa có nhiều chứng cứ về nhà ở của người Đông Sơn, song qua
phần trưng bày cột gỗ có vết đẽo được cho là cột nhà sàn và những hình nhà
khắc hoạ trên trống đồng đã giúp cho khách tham quan cũng như các nhà nghiên cứu thấy được cư dân Đông Sơn đã có nhiều kiểu nhà khác nhau
Như vậy, thông qua sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn nêu trên, bản sắc văn hoá dân tộc đã được hiện lên ngày càng rõ nét Văn hoá Đông Sơn ra
đời và phát triển rực rỡ dựa trên nền tảng của cả một quá trình hội tụ lâu dài
từ những nền văn hoá trước đó (văn hoá Tiền Đông Sơn) Đỉnh cao của văn hoá Đông Sơn là kỹ thuật luyện kim và đúc đồng đã đạt tới độ hoàn mỹ Với những đặc tính riêng, đồ đồng của văn hoá Đông Sơn không thể lẫn với bất
cứ một nền văn hoá khảo cổ nào khác trên thế giới Tuy nhiên, trong mối giao lưu trao đổi với các nền văn hoá đương thời, hiện vật và phong cách của
đồ đồng Đông Sơn cũng có sự di chuyển ảnh hưởng tới các khu vực khác,
đặc biệt là khu vực Đông Nam á lục địa và hải đảo
Sưu tập hiện vật về mộ táng và hiện vật minh khí của văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là nguồn tư liệu vô cùng quan trọng để tìm hiểu quan hệ xã hội đương thời Các nhà khảo cổ học dựa vào số lượng,
Trang 31chất lượng và loại hình đồ tuỳ táng để nhận định về sự phân hoá tài sản và thân phận của các tàng lớp xã hội cư dân Đông Sơn
Qua sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
đã góp phần làm rõ mối giao lưu văn hoá giữa văn hoá Đông Sơn với các nền văn hoá của thời đại kim khí ở miền Trung và miền Nam như văn hoá Sa Huỳnh ở ven biển miền Trung, văn hoá lưu vực sông Đồng Nai Mở rộng ra
là sự giao lưu văn hoá giữa Đông Sơn các nền văn hoá trong khu vực
Với các tư liệu ngày càng phong phú, việc tìm hiểu văn hoá Đông Sơn nói chung và công tác trưng bày về hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam nói riêng cũng ngày càng đầy đủ, phong phú, toàn diện hơn, giúp cho công tác giáo dục truyền thống dân tộc cho khách tham quan ngày càng đạt hiệu quả cao
Tiểu kết
- Năm 1924 di tích Đông Sơn được phát hiện Từ đây, văn hoá Đông Sơn được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Hiên nay, văn hoá Đông Sơn được các nhà khảo cổ học Việt Nam nhận thức nền văn hoá này dưới khái niệm một nền văn hoá khảo cổ, coi văn hoá Đông Sơn thuộc thời đại kim khí, có nguồn gốc bản địa, hình thành trên ba lưu vực sông chính là sông Hồng, sông Mã và sông Cả Chủ nhân là người Việt cổ
- Quá trình phát hiện và nghiên cứu văn hoá Đông Sơn được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn 1, từ năm 1924 – 1954 Đây là giai đoạn văn hoá
Đông Sơn được phát hiện và các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu Giai đoạn 2 từ 1954 đến nay Trên cơ sở nghiên cứu của các học giả nước ngoài, các nhà nghiên cứu trong nước đã tiếp tục đi sâu tìm hiểu và thấy rõ tầm quan trọng cũng như vị trí của nền văn hoá này trong tiến trình lịch sử dân tộc
Trang 32- Sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam có
sự đóng góp rất lớn của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho bảo tàng Louis Finot trước đây và các nhà nghiên cứu trong nước cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam hiện nay, là cơ sở quan trọng để xây dựng nội dung trưng bày về văn hoá Đông Sơn trong hệ thống trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
- Phần trưng bày sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam qua các đợt chỉnh lý, thay đổi, bổ sung hiện vật luôn đóng vai trong cực kỳ quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống trưng bày Với số lượng hiện vật không những phong phú về chất liệu, mà còn đa dạng về loại hình, trong đó cả những hiện vật được xếp vào loại “Bảo vật quốc gia”, kết hợp với các tài liệu khoa học phụ, được thể hiện bằng nhiều giải pháp trưng bày, kết hợp với các thiết bị trưng bày như tủ, bục, kỹ thuật âm thanh, ánh sáng Khẳng định tính bản địa của văn hoá Đông Sơn Trên cơ sở phát triển cực thịnh về mọi mặt của văn hoá Đông Sơn đã xuất hiện những nhà nước
đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Trang 33Chương 2 giá trị lịch sử , văn hoá của sưu tập hiện vật văn hoá Đông sơn tại Bảo tμng Lịch sử Việt Nam
2.1 Thống kê và phân loại hiện vật trong sưu tập hiện vật văn hoá
Đông Sơn hiện đang lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
2.1.1 Thống kê sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn đang lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Nghiên cứu sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một sưu tập hiện vật tổng hợp rất đa dạng, phong phú về loại hình và chất liệu, do đó, chúng ta phải tiến hành thống kê và phân loại chúng
Hiện nay, Sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam gồm có 2162 hiện vật hiện đang lưu giữ trong kho và trưng bày tại bảo tàng, được phân loại theo chất liệu khác nhau như đồng gồm 1812 hiện vật chiếm 83,80%; thuỷ tinh có 199 hiện vật chiếm tỷ lệ 9,20%; đá có 91 hiện vật chiếm tỷ lệ 4,20%; gốm có 43 hiện vật chiếm tỷ lệ 1,99%; gỗ có 11 hiện vật chiếm tỷ lệ 1,59%; da có 3 hiện vật chiếm tỷ lệ 0,51%; sắt có 3 hiện vật chiếm tỷ lệ 0,51%
Trang 34Bảng thống kê sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn đang lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
2.1.2 Phân loại sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn đang lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
2.1.2.1 Hiện vật đồng
Trong sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, chủ yếu là hiện vật bằng đồng Với tổng cộng 1812 hiện vật gốc và rất nhiều các mảnh vỡ không xác định, chúng có hình dáng, kích thước, loại hình, công năng sử dụng khác nhau, được sản sinh trong lịch sử xã hội của thời kỳ kim khí ở Việt Nam Chúng tôi phân thành các 6 hiện vật cơ bản sau:
Trang 35* Lưỡi rìu: Rìu là loại công cụ sản xuất và vũ khí rất phổ biến, có mặt ở
mọi nền văn hoá cổ xưa Trong Văn hoá Đông Sơn, rìu đồng được tìm thấy trong nhiều địa điểm với số lượng lớn, đa dạng về hình dáng và tính năng sử dụng Căn cứ vào hình dáng có thể chia làm 2 loại chính: rìu lưỡi xéo và rìu lưỡi cân
- Rìu lưỡi xéo: là loại dụng cụ tiêu biểu của nền văn hoá Đông Sơn, có
361 chiếc Tuỳ kiểu dáng, rìu được chia thành rìu xéo gót vuông và rìu xéo gót tròn Đây là những công cụ rất phổ biến, đồng thời cũng được sử dụng làm vũ khí sở trường của cư dân Đông Sơn Trong sưu tập rìu lưỡi xéo, có 5 chiếc tìm được ở Đông Sơn, Thanh Hoá có hình dáng khác lạ so với phần lớn những chiếc rìu xéo khác Xét về mặt công dụng trong sản xuất, nó có vẻ như không phù hợp bởi hình dáng và hoa văn trang trí khá đẹp Những chiếc rìu mang hình dáng gần giống dao xén thợ giày được trang trí hoa văn khá giống nhau: ở phần họng có trang trí hoa văn hình 2 con cá sấu, phần lưỡi có hoa văn hình người hoá trang lông chim đang nhảy múa và những con hươu Ngoài ra, những chiếc rìu gót vuông trong đó có chiếc rìu sưu tầm ở Hà
Đông cũng được trang trí khá đẹp với cảnh người chèo thuyền cùng chó săn hươu (Bản ảnh số 19)
- Rìu lưỡi cân: có 195 chiếc Rìu xoè cân có đặc tính khoẻ, lưỡi xoè
cân ra hai bên, có tác dụng tốt khi chặt đẽo tre gỗ, một công cụ chặt mà người Đông Sơn dùng hàng ngày, vì thế, chúng phổ biến ở khắp nơi và tồn tại với số lượng lớn
Trang 36* Lưỡi cày: Cày là một loại nông cụ làm đất dùng trong sản xuất nông
nghiệp, đánh dấu bước tiến quan trọng của con người trong kỹ thuật canh tác
đất nông nghiệp từ dùng cuốc sang dùng cày Cho đến nay, trong các địa
điểm văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam đã phát hiện khoảng trên 200 lưỡi cày
đồng Các nhà khảo cổ học đã chia chúng làm 4 loại hình di tích tiêu biểu là: Vạn Thắng, Cổ Loa, Đồng Mỏm và Đông Sơn
Trong sưu tập văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chỉ có
41 lưỡi cày đồng Sưu tập lưỡi cày này có đặc điểm chung là hình cánh bướm, thân hình gần hình thoi, mũi nhọn, hai cánh xoè rộng ra hai bên, mặt bụng phẳng, mặt lưng có gờ nổi hình thân con bướm, đầu gờ nổi rỗng làm họng tra cán, miệng họng tra cán thường là hình bán nguyệt, vát chéo từ dưới lên trên, gần họng là lỗ chốt hãm có một số chiếc, gờ nổi chạy từ họng đến rìa lưỡi Đây là loại cày đặc trưng cho loại hình Đông Sơn vùng sông Mã.(Bản ảnh số 24)
* Đục: Đục là loại công cụ lao động quan trọng trong nghề mộc
Trong sưu tập có 40 chiếc (Bản ảnh số 30)
* Đinh: sưu tập có 1 đinh chữ U, loại công cụ này được sử dụng trong
việc đóng thuyền
* Dùi: có 19 chiếc Đây là loại công cụ thân tròn hoặc chữ nhật, mũi
nhọn, có chiếc có họng vuông, mũi nhọn, thân tròn rỗng Ngoài ra còn có 2 chiếc kim khâu Đây là những loại công cụ được dùng trong việc đan lát,
may mặc của cư dân Đông Sơn
* Lưỡi câu: có 11 chiếc, là dụng cụ câu cá của cư dân Đông Sơn vùng
sông nước
* Cuốc, thuổng: có 9 chiếc, đây là những loại hình khá phổ biến trong
nhóm nông cụ bằng đồng thau Nó có tác dụng rất quan trọng trong nông nghiệp vườn
Trang 37* Búa, dũa: cả thảy có 6 búa và 3 rũa, đây là loại công cụ không thể
thiếu trong việc chế tác đồ đồng
* Dao gọt đồng: Có 4 chiếc, chúng có hình dáng và kích thước gần
giống nhau Hai chiếc bị gãy mũi và 2 chiếc còn nguyên vẹn, lưỡi dao mỏng
và sắc, sống dao dày, chuôi dao dẹt hình chữ nhật đúc liền với lưỡi, phía cuối chuôi có một vòng hình bầu dục, gần như hình khuyên (Bản ảnh só 28)
Nghiên cứu về kỹ thuật chế tác và chất liệu của những chiếc dao này
và so sánh với những vật khí bằng đồng thau đã biết ở Việt Nam, thì thấy rằng, đây không phải là hiện vật bản địa, có lẽ được du nhập từ bên ngoài vào [88]
* Nhíp, hái: có 3 chiếc đây là loại nông cụ dùng cho việc thu hoạch
mùa màng Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, có thể những chiếc nhíp này là tiền thân của những chiếc liềm gặt sau này (Bản ảnh số 26 - 27)
* Quả cân: có 2 chiếc Đây là loại hình hiện vật vừa được dùng trong
sản xuất vừa được dùng trong sinh hoạt Điều này minh chứng thời kỳ văn hoá Đông Sơn con người đã biết đến cân, đong, đo đếm
2.1.2.1.2 Nhóm vũ khí
Những công trình nghiên cứu về văn hoá Đông Sơn đã cho thấy, trong kho tàng đồ sộ cổ vật văn hoá Đông Sơn, vũ khí chiếm tới 50% số lượng, đa dạng về loại hình, trong đó có nhiều dạng hiện vật thật độc đáo, chúng được xem như những “tiêu chí” để nhận biết cái riêng của nền văn hoá này Trong nhóm vũ khí này, căn cứ vào tính năng, tác dụng, có thể phân ra hai loại: vũ khí đánh gần và vũ khí đánh xa
Vũ khí đánh gần của văn hoá Đông Sơn gồm có: giáo, mác, đoản kiếm, dao găm, rìu chiến, lưỡi qua
Vũ khí đánh xa của văn hoá Đông Sơn gồm có: cung, nỏ, tên, lao…
Trang 38Nhóm vũ khí trong sưu tập hiện vật văn hoá Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tổng số có 815 hiện vật, trong đó, giáo và lao chiếm số lượng tương đối lớn (575 chiếc), ngoài ra còn có dao găm, giáo minh khí, rìu chiến, tên, qua đồng, tấm che ngực, lao minh khí, rìu chiến minh khí, kiếm ngắn, kiếm dài…
* Giáo: Giáo là loại vũ khí đánh gần của cư dân Đông Sơn, nó được sử
dụng rộng rãi trong quá trình đấu tranh để sinh tồn Trong sưu tập văn hoá
Đông Sơn, giáo có số lượng 472 chiếc, được chia thành 2 loại chính: giáo có họng tra cán và giáo có chuôi tra cán
- Giáo có họng tra cán có 448 chiếc, hầu hết là giáo có mặt cắt họng hình tròn, một số ít có hình bầu dục, mặt căt ngang lưỡi hình thoi, một số chiếc có mặt cắt ngang hình bình hành biến dạng, do sống lưỡi nổi cao, hai bên cánh lưỡi dẹt Phần họng dài bằng 1/2 hoặc 1/3 chiều dài cả lưỡi Cánh giáo có chiếc có lỗ thủng hình chữ nhật, lưỡi giáo phình đều, một số ít có lưỡi phình đột ngột tạo thành hai mấu nhọn ở nơi rộng nhất, đặc biệt có chiếc phần lưỡi giống như hình tam giác cân và cũng có một sống nổi từ mũi giáo tới họng, mặt cắt họng hình vuông; có chiếc cánh giáo phình sang hai bên giống tay chắn dao găm thuôn dần đến 1/4 lưỡi, thu hẹp đột ngột tạo thành mũi, hai bên cánh giáo có hai lỗ thủng
Ngoài ra còn có một chiếc giáo đồng tiếp hợp sắt, phần họng và 1/3 lưỡi được làm bằng đồng thau, phần lưỡi còn lại bằng sắt
Hầu hết giáo có họng tra cán đều không trang trí hoa văn
- Giáo có chuôi tra cán, có 24 chiếc, giáo có hình lá mía nên còn gọi là giáo hình lá mía Lưỡi giáo dẹt, phình rộng ở gần chuôi tạo thành hai ngạnh,
có đường sống to kéo dài tới chuôi, sống giáo nổi cao Phần nhiều giáo có chuôi ngắn và đặc, mặt cắt ngang chuôi hình vuông hoặc hình bầu dục Lưỡi
Trang 39có lỗ thủng thường ở hai ngạnh Cá biệt cũng có chiếc có lỗ thủng ở giữa hoặc không có lỗ thủng Loại giáo này là đặc trưng của vùng sông Mã
* ống bịt đầu cán giáo: Có 6 chiếc (2 chiếc vỡ họng), có hình ống, hơi
thắt lại một ít ở giữa, đầu bịt kín
* Giáo minh khí: có 66 chiếc, trong đó, loại có họng 53 chiếc, loại có
chuôi 13 chiếc Là loại giáo được làm mô phỏng theo loại giáo bình thường nhưng thu nhỏ lại, dùng để chôn theo người chết hoặc trong các nghi lễ thờ cúng
* Lao: Lao cũng là loại vũ khí đánh xa thường gặp trong các di tích
văn hoá Đông Sơn Phần lớn là Lao có hình dáng giống giáo và là những chiếc Lao minh khí Lao cũng được chia làm hai loại:
- Lao có họng tra cán có 97 chiếc, hình dáng hoàn toàn giống giáo có họng tra cán nhưng thu nhỏ Tuy nhiên cũng có chiếc hơi khác biệt, phần lưỡi hình búp đa, lưỡi bầu, mặt căt ngang hình bầu dục dẹt, có chiếc phần lưỡi rộng giống hình tam giác…
- Lao có chuôi tra cán có 6 chiếc, lưỡi hình lá tre, ở giữa có sống nổi kéo dài tới chuôi, chuôi ngắn, mặt cắt hình chữ nhật Có chiếc lưỡi hình lá lúa, đầu nhọn, phình dần xuống dưới, ở giữa có sống mờ từ mũi tới chuôi, chuôi thu nhỏ đầu thành mũi nhọn
* Lao minh khí: có 7 chiếc, trong đó loại có họng 5 chiếc và loại có
chuôi 2 chiếc
* Dao găm: (Bản ảnh số 26) có 69 chiếc, là nhóm di vật độc đáo trong
bộ sưu tập vũ khí Đông Sơn Đây là loại vũ khí đánh gần và là vật tuỳ thân lợi hại, đồng thời cũng là loại vũ khí sở trường được người Đông Sơn ưa dùng, khá phổ biến Căn cứ vào hình dáng có thể chia dao găm ra thành các loại:
Trang 40- Dao găm tay chắn thẳng: có 23 chiếc, chúng đều có lưỡi hình tam giác cân và thuôn dài, mặt cắt ngang hình bầu dục, tay chắn thẳng, cán hình trụ đặc hay rỗng, có đầu đốc hoặc không
- Dao găm có tay chắn vểnh: có 01 chiếc Dao cán dẹt, chắn tay cong vểnh, giữa cán và lưỡi lõm, sống lưỡi như một đường chỉ nổi, lưỡi gãy
- Dao găm cán hình chữ T: có 33 chiếc, đây là loại dao găm phổ biến
và điển hình có lưỡi giống hình lá tre, thường không có hoa văn trang trí, tay chắn cong hình sống trâu, cán hình chữ T
- Dao găm đốc củ hành: có 03 chiếc Loại dao găm này có lưỡi hình lá tre, cán tròn, phần gần đốc rỗng phình lên hình củ hành, có hình lỗ hình chữ nhật trổ dọc đứng, đốc là một chóp hình nón cụt
- Dao găm cán tượng người: có 01 chiếc sưu tập ở Hà Đông
- Dao găm cán hình voi: có 01 chiếc Dao đốc hình bầu dục, trên đốc
có hình một con voi đứng, cán có hoa văn các vòng xương cá
Ngoài ra còn có 7 chiếc dao găm gãy cán, được sắp xếp thành loại riêng
* Mũi tên: Tên là loại vũ khí đánh xa rất phổ biến trong nhóm vũ khí
văn hoá Đông Sơn, chúng thường được phát hiện nhiều trong những kho cất giấu, như địa điểm Cầu Vực, Cổ Loa, số lượng lên tới hàng vạn chiếc, ngoài
ra, còn thu thập được từ các khu mộ táng lớn hoặc trong các khu cư trú lớn
Mũi tên được chia làm hai loại: loại có họng tra cán và loại có chuôi tra cán
Mũi tên có họng tra cán có 18 chiếc, trong đó, có chiếc có mũi ngắn hình tam giác, một chiếc hình búp đa
Mũi tên có chuôi tra cán có 11 chiếc, chúng đa dạng về hình dáng, 3 chiếc kiểu mũi tên 3 cạnh, 3 chiếc thuộc kiểu mũi tên hình tam giác, 5 chiếc thuộc kiểu mũi tên hình cánh én