Trắc nghiệm, bài giảng pptx các môn chuyên ngành Y dược và các ngành khác hay nhất có tại “tài liệu ngành Y dược hay nhất”; https://123doc.net/users/home/user_home.php?use_id=7046916. Slide bài giảng dược xã hội học ppt dành cho sinh viên chuyên ngành Y dược và các ngành khác. Trong bộ sưu tập có trắc nghiệm kèm đáp án chi tiết các môn, giúp sinh viên tự ôn tập và học tập tốt môn dược xã hội học bậc cao đẳng đại học chuyên ngành Y dược và các ngành khác
Trang 1THUỐC TẠI SAO PHẢI BẬN TÂM VỀ THUỐC?
Trang 2MỤC TIÊU BÀI GIẢNG
Sau khi học xong bài, sinh viên phải:
1 Phân tích được 5 lý do làm cho XH phải quan tâm đến thuốc.
2 Liệt kê 8 lý do gây hoang phí trong quản lý thuốc
3 Nhấn mạnh ít nhất 5 đặc điểm liên quan đến thuốc
để cho thấy thuốc có sự khác biệt với các hàng hóa khác
Mục tiêu bài giảng
Trang 3Tại sao phải bận tâm về thuốc?
Thuốc có tầm quan trọng đặc biệt do ít nhật có 5 lý do sau:
1 Thuốc cứu mạng sống con người và cải thiện sức khỏe
2 Thuốc luôn tốn kém
3 Thuốc khác biệt với các sản phẩm tiêu dùng khác
4 Thuốc thúc đẩy sự tin cậy và thúc đẩy NB tham gia vào
các dịch vụ y tế
5 Đây là lĩnh vực có nhiều cơ hội phong phú và đa dạng
để cải thiện hiệu quả của hoạt động quản lý trong lĩnh vực cung ứng và sử dụng thuốc
Trang 4Thuốc cứu mạng sống con người
và cải thiện sức khỏe
Hầu như các nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh, tàn
tật, chết non đều có thể ngăn ngừa, điều trị , hay ít nhất là
làm nhẹ đi tình trạng bệnh với các thuốc thiết yếu
có hiệu quả/giá cả hợp lý (cost-effective).
Tỷ lệ tử vong ở các nước đang phát triển phản ánh một gánh nặng về bệnh tật mà tỷ lệ này có thể được giảm
thiểu một cách thực sự nếu như các thuốc được lựa chọn
cẩn thận, giá thấp, luôn có sẵn và được sử dụng hợp lý.
Trang 9Thuốc luôn tốn kém.
Mặc dù thuốc phải hợp lý về mặt hiệu nghiệm/giá cả, nhưng chúng vẫn có thể lại khá đắt đối với một cá nhân, một gia đình, một hệ thống y tế hay một quốc gia
Ở mức độ cá nhân và hộ gia đình, cho thấy tiền thuốc
chiếm chi tiêu lớn trong khoản chi cho sức khỏe; 60 - 90 %chi tiêu cho sức khỏe gia đình là chi cho thuốc (WHO 2000)
Ở vùng bắc Ấn Độ, ít nhất 57% tiền chi trung bình trong gia đình cho trị bệnh của trẻ sơ sinh là chi cho thuốc
Khuynh hướng chi tiêu cho thuốc của các hộ gia đình xét trên phạm vi toàn cầu đã gia tăng trong thập niên 90 (WHO 2004)
Trang 10Ngoài các khoản chi tiêu trực tiếp này, thu nhập lại giảm
đi khi có một thành viên trong gia đình bị bệnh, và thu nhập bị mất này lại càng thúc đẩy chu kỳ nghèo đói - bệnh tật Phụ nữ là đối tượng đặc biệt dễ bị tác động nhất
vì họ thường là người chăm sóc chính trong gia đình
Tại phần lớn các nước đang phát triển, chi tiêu cho thuốc đứng thứ hai chỉ sau chi tiêu cho lương nhân viên và phúc lợi, mà các khoản chi này có thể làm tăng giá thành đến
½ tổng chi tiêu công cho sức khỏe (WHO 2006)
Thuốc luôn tốn kém.
Trang 11Ở mức độ quốc tế, thuốc chiếm 10 – 20% trong chi tiêu cho y tế đối với các nước công nghiệp hóa hàng đầu Nhưng đối với hầu hết các nước đang phát triển, thuốc có thể chiếm tới 20-40% toàn bộ chi tiêu cho y tế công và tư nhân (WHO 2006).
Xét về mặt con số tuyệt đối, số tiền mà các quốc gia chi cho thuốc thay đổi rất lớn Năm 2000, dân số thế giới ở các nước có thu nhập thấp chi trung bình là
4.4 USD/đầu người/năm, trong khi dân số ở các nước có thu nhập cao chi trung bình đến 396 USD/đầu người (WHO 2004)
Thuốc luôn tốn kém.
Trang 12• Thống kê vừa được Bộ Y tế công bố cho biết trong năm 2014 bình quân mỗi người VN sử dụng 31 USD tiền thuốc phòng và chữa bệnh, tăng gấp rưỡi so với năm 2009 với 20 USD chi tiêu tiền thuốc/người/năm.
• Doanh thu toàn ngành dược đã đạt 4 tỉ USD, tăng mạnh so với năm 2009 mới đạt 1,7 tỉ USD VN hiện đứng thứ 13/175 quốc gia
có thống kê về tăng trưởng ngành dược và tiêu dùng thuốc phòng và chữa bệnh.
• Tuy nhiên cũng theo thống kê này, người Việt còn đang chi rất hạn chế cho thuốc, khi bình quân tiền thuốc/người ở VN
chỉ bằng 1/2 so với Thái Lan (60 USD/người/năm), chưa bằng 1/3 so với Trung Quốc (100 USD/người/năm) và bằng 1/10
so với Hàn Quốc (300 USD/người/năm).
• Còn so với các nước phát triển chi tiêu tiền thuốc lên tới hàng ngàn USD/người/năm, VN còn kém xa.
Thuốc luôn tốn kém.
Trang 13Thuốc luôn tốn kém.
Chẵng hạn, Afghanistan chi 9 USD cho thuốc, Campuchia
là 11 USD, và Haiti 3 USD; còn đối với các nước công nghiệp hóa trong cùng năm đó, từ 272 USD cho
Na Uy, 253 USD cho Anh quốc, 382 USD cho Thụy sĩ và
528 USD cho Nhật bản (WHO 2004)
Slide tiếp theo nêu một cách tổng quát, chi tiêu cho thuốc gia tăng theo tổng sản phẩm quốc gia GNP (gross national product)
Trang 15Chi tiêu về thuốc cho thấy là chi tiêu lớn nhất đến mức màcác nước phải luôn xem xét hàng năm khoản chi tiêu này.Đặc điểm này làm cho việc chi tiêu về thuốc vừa cực
kỳ quan trọng lại vừa cực kỳ nhạy cảm - đặc biệt mỗi khi có sự thay đổi thất thường trong việc tài trợ vốn cũng như khi có những áp lực về kinh tế và chính trị khác nhau như là lạm phát hoành hành, hay khi có các thay đổi bất thường về tiền tệ
Thuốc luôn tốn kém.
Trang 16Thuốc khác biệt với những sản phẩm tiêu dùng khác
Do thuốc được sản xuất trong nền công nghiệp cạnh tranh nhằm đáp ứng trước tiên đòi hỏi về kinh tế Do đó việc sản xuất và bán thuốc không thoát khỏi sự vận hành theo quy luật của thị trường Khi đó các nhà chính trị, các nhà làm chính sách cũng chỉ áp dụng như các hình thức thương mại khác - đó là ngăn ngừa thuốc giả, bảo vệ thương hiệu,
• Nhưng thuốc thì khác hẵn và yêu cầu phải có
sự quan tâm đặc biệt vì – người sử dụng (NB hoặc thân nhân) thường không đ ượ c ch ọ n lựa th u ố c -
mà lại do bác sĩ kê đơn hay do DS tư vấn
Trang 17• Ngay cả khi người sử dụng được chọn lựa thuốc thì
họ cũng không được đào tạo để phán xét tính hợp lý, an toàn, chất lượng, hoặc giá trị tương xứng của thuốc.
• Người sử dụng thuốc thường không thể phán xét các hậu quả có thể có khi không kiếm được đúng thuốc cần tìm Vấn
đề này thường trở nên rắc rối khi người ra quyết định là cha
Trang 18• Người hành nghề Y, DS bình thường cũng không được trang bị để đánh giá một cách độc lập về chất lượng,
an toàn, hoặc hiệu quả của một thuốc mới
Thuốc khác biệt với những sản phẩm tiêu dùng khác
Trang 19Các lỗ hỏng kiến thức này, sự lo âu, … tạo ra một quan niệm đặc biệt về cung cấp và sử dụng thuốc
Các vấn đề nêu trên - vốn đã làm cho thuốc khác biệt so với các sản phẩm tiêu dùng khác - cũng làm cho lĩnh vực dược phẩm như là một đích ngắm cho việc quản lý kém, hối
lộ, và làm giả
Các yếu tố góp phần vào nguy cơ tham nhũng bao gồm
lỗ hỏng kiến thức và thông tin không đồng bộ giữa nhà SX, nhà quản lý quy chế, nhà cung cấp dịch vụ y tế và người sử dụng thuốc; sự thiếu luật hay quy định hay cơ chế thi hành; giá trị và số lượng lớn của thuốc trên thị trường.
Thuốc khác biệt với những sản phẩm tiêu dùng khác
Trang 20Đội ngũ y tế có thực sự tin cậy vào thuốc hay không khi
họ có khả năng cứu sống được một cụ già làng đang hấp hối với một liệu trình Penicillin, phục hồi mạng sống của một cậu bé bị suy kiệt với thuốc uống bù nước, hay làm dịu kích ứng do một nhiễm trùng da gây ra chỉ với một
lọ thuốc mỡ đơn giản
Ngoài hiệu quả trực tiếp trên sức khỏe, việc dễ tiếp cận các thuốc thiết yếu cũng sẽ lôi cuốn NB đến các dịch vụ y
tế Việc cung ứng thuốc thiết yếu là một yếu tố trong CSSK ban đầu để mọi gia đình ở khắp mọi nơi đều hưởng được lợi ích từ đó và yếu tố này đưa họ đến các cơ sở y tế.
Thuốc đem lại sự tin cậy và thúc đẩy NB
tiếp cận các dịch vụ y tế.
Trang 21Thuốc đem lại sự tin cậy và thúc đẩy NB
tiếp cận các dịch vụ y tế.
Qua nhiều năm, các nghiên cứu trên NB và hộ gia đình ở các
nơi trên thế giới đều cho thấy việc dễ dàng tiếp cận thuốc là
một yếu tố quan trọng quyêt định việc NB sẽ chọn nơi nào đến để CSSK và đến sự hài lòng của họ về dịch vụ ở đó.Việc dễ dàng tiếp cận thuốc và việc cung cấp thuốc còn ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả của CSSK
Việc cung cấp thuốc gián đoạn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của một chương trình y tế hơn là chú tâm lo những yếu tố khác như số liệu không phù hợp hoặc do đào tạo nhân viên không thích hợp
Trang 22Trong hầu hết hệ thống y tế, tiềm năng để cải thiện quy trình cung ứng rất là bao la, phản ánh mức độ của tình hình thiếu thuốc và hoang phí thuốc hiện nay.
Slide tiếp theo cho thấy một chương trình giả định
trong đó chi tiêu hàng năm là 1 triệu USD cho cung cấp thuốc nhưng chỉ có 300 000 USD là chi đúng cho lợi ích trị liệu của NB
Thiếu chọn lọc cẩn thận, dự trù không đúng, giá cao, chất lượng kém, bị mất cắp, tồn trử không phù hợp, thuốc quá hạn, kê đơn không hợp lý, tham nhũng, và
NB sử dụng thuốc không đúng đã gây ra mất mác tổng cộng đến 70 % trên mức chi tiêu gốc
Lĩnh vực cho những sáng kiến cải tiến
Trang 24Chỉ cần cải thiện về mặt quản lý, và một số vốn bổ sungtương đối, là có thể đạt được những lợi ích thực sự.
Một số cải tiến trong quản lý thuốc đòi hỏi một đầu tư ban đầu trong phát triển hệ thống, đào tạo, cơ sở hạ tầng, và các sáng kiến, nhưng tiềm năng giảm giá và cải thiện trị liệu thì thật ấn tượng
Ngay cả chỉ là những cải tiến nhỏ khi thực hiện tại một số khu vực liên quan đến quản lý thuốc, cũng đã mang đến
nhiều khoản tiết kiệm thực sự
Lĩnh vực cho những sáng kiến cải tiến
Trang 25TÀI LIỆU THAM KHẢO
MDS-3 (2012), Why worry about medicines? Chapter 1: Toward sustainable access to medicines, Part I: Policy and economic, Managing Access to Medicines and Health Technologies, Management Sciences for Health Inc , USA