Trắc nghiệm, bài giảng pptx các môn chuyên ngành Y dược và các ngành khác hay nhất có tại “tài liệu ngành Y dược hay nhất”; https://123doc.net/users/home/user_home.php?use_id=7046916. Slide bài giảng dược xã hội học ppt dành cho sinh viên chuyên ngành Y dược và các ngành khác. Trong bộ sưu tập có trắc nghiệm kèm đáp án chi tiết các môn, giúp sinh viên tự ôn tập và học tập tốt môn dược xã hội học bậc cao đẳng đại học chuyên ngành Y dược và các ngành khác
Trang 1VAI TRÒ CỦA DƯỢC SĨ TRONG THÔNG TIN THUỐC CHO NGƯỜI BỆNH
FIP, Tuyên bố của FIP về chính sách thông tin thuốc
cho người bệnh, Phê duyệt tại Basel 9.2008
Trang 2MỤC TIÊU BÀI GIẢNG
Sau khi học xong bài, sinh viên phải:
1 Nêu được 2 mục đích chính của việc thông tin thuốc
2 Những yêu cầu khi của FIP đối với trong DS cung cấp
thông tin cho NB
3 Rút ra
- những yêu cầu của FIP về nội dung thông tin thuốc
- những nội dung của thông tin mà NB cần phải biết
Mục tiêu bài giảng
Trang 3MỞ ĐẦU
Có một loạt các nguồn thông tin khác nhau mà NB có thể tiếp cận được FIP nhấn mạnh thông tin khách quan mà
NB cần biết về thuốc của họ.
Hiệu quả của thông tin này quan trọng đối với NB cũng như
BS, DS, các cơ quan quản lý y tế và công ty sản xuất thuốc
DS chính là nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho NB
và cho các nhà chuyên môn y tế khác
Thách thức quan trọng đối với các DS là đưa thông tin
đó đến các NB như thế nào để đáp ứng nhu cầu của NB, cũng như đáp ứng nhu cầu và năng lực của các nhà chuyên môn y tế và của hệ thống y tế
Trang 4MỤC ĐÍCH CỦA THÔNG TIN THUỐC CHO NB
1 Là để hỗ trợ NB và nhà chuyên môn y tế
trong việc sử dụng thuốc được an toàn và hiệu quả
2 Giúp NB quyết định lựa chọn và sử dụng thuốc phù
hợp:
NB sẽ đánh giá thông tin về các liệu pháp sẵn có, hiệu quả và rủi ro nếu có, và ảnh hưởng của các liệu pháp đó
NB cũng cần phải có thông tin về các quyết định hiện tại
về sự quản lý thuốc đó
NB đánh giá cao khi thông tin thuốc được điều chỉnh phù hợp cho từng NB và có sự cân bằng giữa thông tin lợi ích và nguy cơ gặp phải Hầu hết các NB luôn muốn biết thêm về các phản ứng có hại tiềm ẩn
Trang 5NGUỒN THÔNG TIN CHO NB
NB có thể có rất nhiều nguồn thông tin thuốc từ:
• Qua giao tiếp với các nhà chuyên môn
• Tờ HDSD thuốc kèm với từng hộp thuốc riêng
• Tài liệu thông tin về thuốc cho NB, các tài liệu cho các nhà chuyên môn, các tổ chức y tế, để họ truyền thông với người sử dụng dịch vụ y tế
• Internet và các công cụ điện tử khác
Những nội dung thông tin thuốc phải được kiểm tra
để đảm bảo thông tin hữu ích cho NB.
Trang 6THIẾT KẾ THÔNG TIN THUỐC
Mức độ hiểu biết y tế qua thông tin về sức khỏe thay đổi theo quốc gia và thậm chí tùy theo vùng trong một quốc gia Sự thay đổi này cần được lưu ý tới trong các tài liệu thông tin về thuốc và cách trình bày các thông tin.
Cần có các ngôn ngữ thay thế và các định dạng đặc biệt
(như chữ lớn, chữ tượng hình, bản nghe, chử nổi),
các phương pháp truyền thông khác … để đáp ứng nhu cầu
của từng nhóm NB đặc biệt.
Điều quan trọng là thiết kế và trình bày thông tin thuốc càng tốt thì người đọc càng dễ dàng hiểu được nội dung.
Trang 7THIẾT KẾ THÔNG TIN THUỐC
Nếu cung cấp thông tin thích đáng và hướng đến khách hàng (customized) thì khi đó có thể cải thiện sự tuân thủ của NB
Tờ HDSDT phải bao gồm cả về lợi ích và cả về nguy
cơ của thuốc
Trực tiếp quảng cáo các thuốc bán theo toa với người
sử dụng là một chủ đề gây tranh cãi và chỉ được phép ở một vài quốc gia FIP phản đối việc quảng cáo đối với các thuốc bán theo toa cho người sử dụng
Trang 8KHUYẾN CÁO CỦA FIP VỀ VAI TRÒ CỦA DƯỢC
SĨ
DS luôn đóng m ột vai trò quan t rọng trong việ c cung cấp thông
tin thuốc cho NB
1 Thông tin qua trao đổi trực tiếp vẫn được ưu tiên cho
NB nhưng cần được gắn kết chặt chẽ với thông tin từ các tài liệu thông tin về thuốc Cả hai hình thức này cần được linh hoạt tùy theo sự hiểu biết về sức khỏe của NB và / hoặc của người nhà NB Cần đảm bảo là thông tin từ các tài liệu
không được
sử dụng để thay t hế hoàn toàn cho việc trao đổi t rực t iếp.
2 Khuyến khích NB tìm kiếm những thông tin về thuốc, về CSSK dựa trên web chính thống và hết sức khuyến khích họ trao đổi với DS về thông tin mà họ tìm thấy trên mạng.
3 Thông tin đến cho cả NB mà họ không có đến nhà thuốc để nhận thuốc
Trang 94 Cung cấp các thông tin đáng tin cậy, có giá trị, khách quan, dễ hiểu, không nhằm quảng cáo, và phù hợp Thông tin cả về lợi ích
và nguy cơ.
5 Cung cấp cho NB hoặc người nhà NB những đánh giá chủ yếu
về các nguồn thông tin thuốc.
6 Nguồn tất cả các thông tin phải luôn sẵn có.
7 Cung cấp thông tin dưới hình thức dễ tiếp thu cho các nhóm NB đặc biệt.
8 Sắp xếp khu vực riêng tư để tư vấn NB tại nhà thuốc.
9 Quyền quyết định và trách nhiệm là của NB đối với sức khỏe của bản thân họ.
10 Cần giúp các nhà chuyên môn y tế có được và biết phân tích được thông tin để đáp ứng nhu cầu của họ
11 Cần luôn hợp tác với các đồng nghiệp y tế để biết chắn rằng NB nhận được thông tin phù hợp, nhất quán và chuẩn xác
KHUYẾN CÁO CỦA FIP VỀ VAI TRÒ CỦA DƯỢC SĨ
Trang 10KHUYẾN CÁO CỦA FIP
Về phía hội nghề nghiệp cần :
• Xây dựng chiến lược để khuyến khích các DS và các nhà chuyên môn y tế khác cung cấp thông tin về thuốc có chất lượng cao cũng như luôn giữ vai trò tích cực để hỗ trợ NB trong việc quản lý việc sử dụng thuốc
• Khuyến khích sản xuất phần mềm vi tính cung cấp các hệ
thống cho phép truy cập các thông tin thuốc dễ đọc
và chính xác, hướng tới khách hàng chẵng hạn như thông tin phù hợp theo NB và theo từng liệu pháp đặc thù
• Tổ chức và phát động các chiến dịch về thông tin thuốc
• Làm việc với các hiệp hội y tế để triển khai các hướng dẫn
về soạn thảo và sử dụng các nguồn tài liệu thông tin thuốc
Trang 11KHUYẾN CÁO CỦA FIP
Về phía chính phủ cần:
• Triển khai chính sách, trong đó nhấn mạnh vai trò của DS
là khâu theo chốt trong thông tin thuốc cho NB và luôn khuyến khích người dân tìm lời khuyên từ các DS của họ về thuốc và cách sử dụng thuốc
• Thúc đẩy triển khai các hướng dẫn về thông tin thuốc nhằm đảm bảo thông tin có chất lượng, nhất quán cho tất
cả các nhà cung cấp dịch vụ y tế
• Cấm quảng cáo trực tiếp tới người tiêu dùng đối với các thuốc bán theo toa
Trang 12FIP, Tuyên bố của FIP về chính sách thông tin thuốc
cho người bệnh, Phê duyệt tại Basel 9.2008