Không gian nghệ thuật trong thơ Đường rất rộng lớn mà ta có thể bắt gặp với nhiều loại không gian nghệ thuậtkhác nhau, đó là không gian đời thường, không gian vũ trụ rộng lớn được thểhiệ
Trang 1Luận văn
Đề tài: Không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch
Trang 2Mục lục
Mục lục 1
A MỞ ĐẦU 4
I Lý do chọn đề tài: 4
II Lịch sử nghiên cứu vấn đề : 6
III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
1 Đối tượng của đề tài : 7
2 Phạm vi nghiên cứu : 8
IV Phương pháp nghiên cứu 8
V Đóng góp của đề tài 8
VI Cấu trúc đề tài: 9
Chương II: Không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch 22
1 Các yếu tố tác động đến không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch 35
a Yếu tố khách quan 35
b Yếu tố khách quan 35
2 Các kiểu không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch 36
2.2 Không gian sinh hoạt xã hội 45
Trang 3A MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài:
Trong lịch sử xã hội phong kiến Trung Quốc, đời Đường có vị trí kháđặc biệt Nếu đời Hán là một triều đại có chế độ phong kiến trung ương tậpquyền vững mạnh đầu tiên của Trung Quốc thì đời Đường là thời kỳ cực thịnhcủa xã hội phong kiến đó Ở đời Đường, Trung Quốc là một quốc gia pháttriển, phồn vinh trên tất cả các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội văn hoá Thời đó các nghành nghệ thuật đều phát triển (hội hoạ, âm nhạc, kiếntrúc, điêu khắc, văn học……) trong đó phát triển nhất là hội hoạ và văn học.Trong văn học thì thơ là bộ phận có thành tựu cao nhất
Trung Quốc là một nước có truyền thống về thơ, từ kinh thi đến thơ hiệnđại, thơ đều có những đặc sắc riêng Những người Trung Quốc cũng như thếgiới đều công nhận thơ Đường là đỉnh cao của thơ ca nhân loại
Thơ Đường phản ánh một cách toàn diện xã hội đời Đường, thể hiệnquan niệm, nhận thức, tâm tư của con người đời Đường một cách sâu sắc,nội dung phong phú được thể hiện bằng hình thức hoàn mỹ Thành tựu trêncác phương diện của thơ Đường đều đạt đến đỉnh cao
Thơ Đường là sự kế thừa và phát triển cao độ của thơ cổ điển Trung
Quốc Nó là Tập Đại Thành cho nên những phương diện của thi pháp thơ cổ
điển Trung Quốc đều tiêu biểu.
Thi pháp thơ Đường mà chúng ta đề cập đến ở đây thuộc về thi pháp
miêu tả nghiên cứu thi pháp thơ của một thời đại một giai đoạn trong tiến
trình lịch sử thơ Trung Quốc, thi pháp là hệ thống hình thức, hệ thống phươngtiện nghệ thuật của thơ hệ thống hình thức này bản thân nó là một mắt xíchtrên tiến trình thi pháp thơ Trung Quốc Nó chịu ảnh hưởng của thời đại, củaquan niệm triết học, của các loại hình nghệ thuật khác và của các giai đoạn
Trang 4nói : ….thơ Trung Quốc đến Đường có một sự biến đổi lớn chính là ở việc
hình thành một kiểu tư duy nghệ thuật, một hệ thống thi pháp mới
Trong hệ thống thi pháp này có một nhân tố rất quan trọng không thể
thiếu được đó là không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật trong thơ
Đường rất rộng lớn mà ta có thể bắt gặp với nhiều loại không gian nghệ thuậtkhác nhau, đó là không gian đời thường, không gian vũ trụ rộng lớn được thểhiện trong các tác phẩm của nhiều tác giả khác nhau Song ở đề tài nghiên cứu
khoa học này tôi chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu không gian nghệ thuật
trong thơ Lý Bạch.
Bởi rằng, Lý Bạch là một trong ba nhà thơ lớn nổi tiếng ở thời thịnh
Đường Ông đã đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển nền thơ ca Trung
Quốc bên cạnh đó tìm hiểu về không gian nghệ thuật trong thơ ông còn giúp
chúng ta tiếp cận và cảm nhận sâu sắc, thấu đáo hơn về nội dung và nghệthuật trong thơ Đường, để từ đó có cái nhìn sâu sắc thấu đáo, kỹ lưỡng, toàndiện cho việc giảng dạy các tác phẩm thơ đường trong chương trình ngữ vănTHCS Mặt khác thơ Lý Bạch đã ảnh hưởng sâu sắc tới các nhà thơ lớn của
Trung Hoa sau này như Tô Đông Pha, Lục Du đời Tống, Cao Khải Minh đời
Minh, Củng Tự Thân đời Thanh đều ảnh hưởng thơ ông với mức độ khácnhau Còn ở Việt Nam, người ảnh hưởng nhiều nhất và rõ nhất là thi sỹ Tản
Đà Tản Đà cũng thích múa kiếm, thơ cũng ngông, và cũng có nhiều bài thơ
về núi sông đất nước, trăng rượu khá hay……
Hy vọng rằng, với đề tài nghiên cứu khoa học này chúng ta sẽ biết rõ
hơn về cuộc đời sự nghệp của nhà thơ Lý Bạch đặc biệt là sẽ cảm nhận rõ hơn , đầy đủ hơn về không gian nghệ thuật trong thơ ông từ giúp chúng ta khai thác đầy đủ, toàn diện về vẻ đẹp nghệ thuật cũng như nội dung trong thơ Lý
Bạch nói riêng và trong thơ đường nói chung
Trang 5II Lịch sử nghiên cứu vấn đề :
Lý Bạch là một nhà thơ có ảnh hưởng lớn đối với thi đàn đời Đường và
thơ ca nhiều thế hệ sau đọc thơ Lý Bạch ai cũng thấy rõ nét ngang tàng khí
phách phóng khoáng, ý chí mạnh mẽ, lời hay…ông có một phong cách riêng
mà không có một nhà thơ nào có Lý Bạch được gọi là thi tiên bởi chất lãng
mạn trữ tình trong thơ ông phóng khoáng, hoành tráng đa dạng ở trong các đề
tài quen thuộc người khác đã viết Sau Khuất Nguyên thơ Lý Bạch đã khắc
hoạ thêm đươc những cảm hứng thi ca, những ngôn từ điêu luyện, tự nhiênvới sắc thái lãng mạn nên dễ chinh phục mọi người Đặc biệt tác phẩm củaông có đề tài và chủ đề phong phú và có giá trị Mọi tác phẩm của ông cũngnhư phong cách thơ đều được giới nghiên cứu phê bình chú ý Đặc biệt là vấn
đề không gian nghệ thuật.
Đã có rất nhiều tác giả say sưa nghiên cứu về vấn đề này nhưng mỗi
người lại tìm hiểu khai thác ở những cái nhìn, khía cạnh khác nhau về không
gian nghệ thuật trong thơ ông.
Ta đã từng biết đến cuốn Thi Pháp Thơ Đường của tác giả Nguyễn Thị
con người trong thơ đường, không gian, thời gian nghệ thuật, thể loại và kết
cấu, ngôn ngữ thơ Đường đã góp phần làm rõ không gian nghệ thuật đặc trưng trong thơ Lý Bạch đó là kiểu không gian thiên nhiên, có một sự thống
nhất cao độ, giữa cái cao cả và cái đẹp
Hồ Sỹ Hiệp với cuốn Lý Bạch được dùng trong tủ sách văn học nhà
trường ( NXB Bến Tre - 2002 ) giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về cuộc đời, thânthế, sự nghiệp, quá trình sáng tác thơ ca đồng thời giới thiệu một số tác phẩmtiêu biểu đưa ra ý kiến bình luận tuy ở mức độ khái quát nhưng vấn đề không
gian nghệ thuật cũng được thế giới nhắc đến, bút pháp khoa trương và nhân
cách hoá của Lý Bạch đã đem lại cho thơ ca của ông nhiều hình tượng sinh
Trang 6động có màu sắc tươi vui và tình cảm nồng nàn thấm thía Bất cứ là cảnh vật thiên nhiên hay tư thế con người đều được thể hiện bằng hình tượng đột xuất, qua những lời thơ bóng bẩy tạo nên một cảm giác lung linh đẹp đẽ vô cùng lắm khi thời gian và không gian mất cả sức hạn chế
Trong cuốn Để học tốt văn học nước ngoài trung học cơ sở do Đoàn
Thị Kim Nhung và Tạ Thị Thanh Hà viết (NXB Đại Học Quốc Gia TPHCM
-2006) cũng đã từng đề cập đến không gian nghệ thuật Hình tượng thơ Lý
Bạch bay bổng kỳ vĩ nhưng vẫn còn bó hẹp ở một số bài nhất định Ngoài ra,
còn có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị mỗi công trình đề cập đến
những khía cạnh nổi bật tiêu biểu trong thơ Lý Bạch với đề tài nghiên cứu
khoa học này chúng tôi sẽ đi sâu vào khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu về
không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch để có cái nhìn tổng thể khái quát
nhất về một trong những yếu tố thi pháp nghệ thuật trong thơ Lý Bạch đồng thời giúp bạn đọc hiểu hơn về các kiểu không gian nghệ thuật khác nhau
trong thơ ông Mong rằng, đề tài hoàn thành sẽ giúp các bạn học sinh, sinhviên dễ dàng tiếp cận được các tác phẩm của ông hơn đồng thời có cách nhìnđúng đắn hơn và toàn diện hơn về thi pháp thơ ca thời Đường nói chung và
Lý Bạch nói riêng.
III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
1 Đối tượng của đề tài :
Đối tượng của đề tài mà chúng tôi nghiên cứu ở đây là một vấn đề thuộc
thi pháp nghệ thuật đó chính là không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch
Không gian nghệ thuật trong tác phẩm của Lý Bạch xuất hiện với một
tần số lớn, đậm nét với các kiểu không gian khác nhau, có khi là không gianbình thường nhỏ hẹp làng quê, không gian triều đình… nhưng cũng có khi làkhông gian vũ trụ rộng lớn bao la những không gian ấy cứ lặp đi lặp lại như
một nét nghệ thuật, một mô típ nghệ thuật trong thơ Lý Bạch vì vậy mà
Trang 7nghiên cứu về không gian nghệ thuật chính là một cách giúp chúng ta cảm
nhận về thơ Lý Bạch
2 Phạm vi nghiên cứu :
Ở bài tập lớn này chúng tôi đã đi vào nghiên cứu các vấn đề sau : Trước
hết giúp người đọc hiểu biết về cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Lý Bạch.
Sau đó là giới thiệu chung về một số khái niệm về không gian và thời giannghệ thuật, các kiểu không gian trong thơ Đường Đặc biệt là sẽ đi sâu nghiên
cứu kỹ, cụ thể về không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch Để bài nghiên
cứu được sâu sắc thì ngoài ra chúng tôi còn điểm qua phần so sánh không
gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch và thơ Đỗ Phủ để thấy được sự giống nhau
và khác nhau về cách nhìn nhận của hai nhà thơ lớn cùng thời về một vấn đềkhông gian nghệ thuật
IV Phương pháp nghiên cứu.
1 Tìm đọc các tài liệu nói về tác giả Lý Bạch.
Từ xưa cho tới nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu
thơ Đường nói chung và nhà thơ Lý Bạch nói riêng Song mỗi người lại đi tìm
hiểu ở những vấn đề khác nhau với nhiều khía cạnh và góc độ nào đó Trong
đó không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch cũng được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và đã khám phá về nó Tuy vậy ở đề tài này chúng tôi cũng muốn
một lần nữa tìm hiểu về không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch để có thể
hiểu rõ cảm nhận thật sâu sắc và toàn diện về không gian nghệ thuật một vấn
Trang 8đề thuộc thi pháp nghệ thuật trong thơ Đường Để từ đó giúp bạn đọc có thể
dễ dàng tiếp nhận thơ Lý Bạch nói riêng cũng như thơ Đường nói chung
VI Cấu trúc đề tài:
A Mở đầu
B Nội dung
I. Giới thiệu một số khái niệm
chương trình Ngữ Văn THCS
Trang 9B NỘI DUNG
Chương I: Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Bạch
I Cuộc đời
Lý Bạch (701- 762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê quán
ở Thành Kỷ, Lũng Tây (nay thuộc tỉnh Nam Túc) Song sinh ra và lớn lên ởlàng Thanh Liên, huyện Chương Minh (còn gọi là Long Xương hoặc XưởngMinh) thuộc Miên Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên)
Tứ Xuyên là vùng đất địa linh nhân kiệt Tứ Xuyên là đất Thục xưa cónúi hiểm trở, là quê hương của nhiều nhân tài, nơi đây sông nước cheo leogập gềnh có eo Tam Hiệp nổi tiếng, có núi Nga Mi, không phải ai cũng dễ
qua… Núi sông hùng vĩ là một trong những nhân tố tạo ra thiên tài Lý Bạch
Thiếu thời Lý Bạch rất tài hoa Từ nhỏ ông đã giỏi thơ phú, trọng
nghĩa khinh tài, thích múa kiếm, thích làm hiệp sách Lúc nhỏ ông được học
nhiều, tư chất thông minh Chính Lý Bạch cho ta biết: Ngũ tuế tụng lục giáp,
Thập tuế quan bách gia (5 tuổi đã đọc sách dạy can chi, 10 tuổi đã xem sách
bách gia chi tử), Thập ngũ quan kỳ thư, Tác phú lăng Tương Như (15 tuổi đã
xem những sách lạ, làm phú lấn át cả Tư Mã Tương Như) Ngoài ra còn họcđấu kiếm Kiếm là người bạn thân suốt đời,cũng là vật ký thác lý tưởng củanhà thơ Năm 18 tuổi ông lên Đái Thiên Sơn đọc sách và giao du với một sốđạo sĩ Từ 20 tuổi, ông đi chơi nhiều nơi danh lam thắng cảnh ở đất Thục, 25
tuổi nhà thơ xuống núi Nga Mi, Từ giã cha mẹ, quê hương, chống kiếm viễn
Trang 10ông quen Mạnh Hạo Nhiên hai người gắn bó mãi sau này và đã có nhiều bàithơ viết về mạnh Hạo Nhiên.
Khát vọng tham gia chính trường của Lý Bạch lúc này thật mạnh Theo
ông đi thưởng ngoạn phong cảnh chủ yếu là để mở rộng giao du, tạo điều kiện
cho việc tham dự vào trường chính trị lập nên công danh sự nghiệp Lý Bạch cho rằng kẻ sĩ, kẻ đại trượng phu phải có chí tang bồng hồ thỉ, phải có chí
bốn phương (Thư gửi Bùi Trưởng Sử) Ông cho mình là kẻ hùng tài, với tài
năng kiệt xuất một ngày kia có thể từ địa vị khách áo vải nhảy lên hàng khanh
tướng, làm rõ lời bàn của Quản Trọng, Án Anh, tính mưu chước của đếvương, đem tài năng, trí tuệ nguyện giúp nhà vua để cho thiên hạ yên ổn, bốnbiển thanh bình (Thư để lại thay Thọ Sơn đáp Mạnh Thiếu Phủ)
Năm 742 Lý Bạch được một đạo sĩ cũng là một nhà thơ là Ngô Quân
tiến cử lên vua Đường, sau đó ông về Tràng An kinh đô nhà Đường Ở đây
ông được Hạ Tri Chương rất phục tài, khen ông là tiên trên trời xuống trần (trích tiên) Lý Bạch nổi tiếng ngay, giữa kinh thành, bởi tiếng tăm của Hạ Tri
Chương rất lớn hồi này
Lý Bạch được mời vào cung, Huyền Tông ban cho ông chức Hàn Lâm
cung phụng Thực chất chức này chỉ là người ở bên vua giúp vui trong cáccuộc yến tiệc,… Đường Huyền Tông lúc này đã say mê hưởng lạc, cầu tiên,
cầu thuốc trường sinh và bên mình lại có Dương Quý Phi Lý Bạch thường chỉ
được hầu hạ bên vua, mà thơ phú giữa bữa tiệc, tô thêm chất hào hoa cho vua,
mà mình chẳng qua cũng chẳng hơn đám cô nhi, vũ nữ,… Có thể nói phần
nào Lý Bạch đã vỡ mộng, tâm tình bi phẫn bao nhiêu khát vọng, hăm hở vụt tắt Ba năm ở kinh thành Lý Bạch rõ hở mặt xa hoa thối nát của đám quyền
quý và mộng trở thành người kinh bang tế thế của ông đã không còn như xưa,
…
Trang 11Ông chỉ còn thú vui, uống rượi, làm thơ vui chơi với bè bạn, sau đó
Đỗ Phủ, hai người kết bạn, rồi cùng nhau cao thích sang vùng Sơn Đông săn
bắn ngao du sơn thuỷ Chia tay nhau, Đỗ Phủ về Trường An, Lý Bạch lại tiếp
tục du lịch khắp lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang Tin ở tài sức mình vàphần nào thấy trách nhiệm của kẻ đại trượng phu trước tình hình xã hội đã bắt
đầu rối ren, thế nước suy yếu, Lý Bạch vẫn muốn gặp lại dịp lập nên sự
nghiệp, mặt khác ông bất đắc chí, mầm mống tư tưởng tiêu cực bắt đầu xuấthiện Rất nhiều lần ông muốn thổ lộ ý muốn ở ẩn Song ông phải là nhà thơxuất thế nên khi sự biến An Lộc Sơn xẩy ra ông hăm hở xông vào trườngchính trị
Khi An Lộc Sơn chiếm Tường An Huyền Tông chạy vào đất Thục ralệnh cho con là Vương Lĩnh, Lý Lân bảo vệ miền trung hạ du Trường Giang
Lý Lân mời Lý Bạch ra giúp ông nhận lời, nhưng khi Lý Lân bị giết Lý Bạch
bị kết tội mưu phản, phải đi đày Quý Châu, đi được nửa đường thì được ân
xá Năm 761, ông còn xin gia nhập ngũ để truy kích tàn quân Sử Triều Nghĩanhưng giữa đường thì bị bệnh phải trở về và năm sau đó thì mất, để lại chođời gần 1000 bài thơ và một số bài văn xuôi khác
II Sự nghiệp thi ca của Lý Bạch
Lý Bạch là một nhà thơ nổi danh thời thịnh Đường Cùng với Đỗ Phủ
và Bạch Cư Dị, ông là một trong 3 nhà thơ lớn của Đường thi Trung Quốc Sựnghiệp sáng tác thơ ca của ông được kéo dài mãi cho đến tận những năm cuốiđời Tuyệt đại bộ phận thơ Lý Bạch là trữ tình, trong đó có bộ phận khôngnhỏ mang đậm màu sắc lãng mạn Qua thơ văn ông, trước hết có thể dựng lạitâm tư, hình ảnh một kẻ sĩ hoài bão, có tài năng có tâm hồn lạc quan, hàophóng
1 Nội dung tư tưởng trong thơ Lý Bạch
Trang 12Lý Bạch vốn là người tự do, ông đọc sách nhiều Tuy tam giáo bao trùm
đời sống tư tưởng, nhưng thâm tâm Lý Bạch, đã hình thành một lối sống tự do
cho riêng mình, lấy tài mình để, ngang dọc với đời ,với ý nghĩ không chịu
khuất mình, không cầu cạnh ai, giao thiệp ngang hàng với các bậc vương hầu,… Ý chí lớn như thế nên Khổng Tử, người được thiên hạ coi là bậc thánh
ông cũng chẳng coi ra gì Đã có lần ông diễu Khổng Tử:
Sở Cuồng chính là ta Hát rong cười Khổng Tử…
Yêu thiên nhiên, thích bản chất trời cho của vũ trụ tư tưởng của LýBạch thiên về đạo Lão… Có lẽ ông đọc nhiều Lão -Trang nên trong sáng táccủa ông người ta còn thấy những dấu ấn của những tư tưởng của Trang Tử
Lý Bạch còn mang trong mình tư tưởng kiếm khách, hiệp khách Trong
thơ ông thường hay nhắc đến Kịch Mạnh, một nghĩa hiệp nổi tiếng thời ChiếnQuốc Ông có cả một bài thơ ca ngợi các bậc vung kiếm dẹp những chuyện
bất bằng, sẵn sàng làm những việc phi thường để trả nghĩa lớn đó là bài, Hiệp
khách hành:
Khách Triệu mũ giải thô Loáng sương tuyết gươm Ngô Yên bạc ngời ngựa trắng Như sao bay vù vù…
Một mạng người, mươi bước Ngàn dặm chẳng ai đâu…
Nghiêng về chí hướng này,cũng phù hợp với tính tình phóng khoáng
của Lý Bạch… Hiệp khách thường ở nơi núi non, như một loại bán tiên (một
nửa là tiên) Bởi cõi tiên toàn là người trong sạch:
Người trời hiền, chuộng yên Trăng vốn thường đa cảm
Trang 13( Cổ lãng nguyệt hành)
Ông từng tự hào Tài tôi có thể giúp nước, cứu đời, khí tiết tôi có thể
sánh với Sào Phủ, Hứa Do, văn tôi có thể biến đổi phong tục, trí tội có thể hiểu mọi lẽ của trời đất và con người Trong bài phú Đại bàng, ông đã đối lập
tư thế hùng dũng hiên ngang của đại bàng với vẻ dung tục tầm thường củachim hộc Hình ảnh chim đại bàng xuất hiện không ít lần trong thơ văn ông:
Đại bàng một lúc theo gió Chín vạn dặm cao vút tận trời Dẩu khi gió ngừng, sa xuống đất Chân còn lê tới tận biển khơi
(Tăng Lý Ung)
Hình ảnh chim đại bàng bay cao chín vạn dặm rõ ràng là thoát thai từ
Tiêu dao du của Trang Tử, song ở đây không hề mang ý vị tiêu cực, thoát tục.
Cho đến giờ phút cuối, con chim đại bàng ấy:
Giữa trời cánh gãy sức kiệt dần Hơi gió còn chuyển lay vạn thế.
(Lâm chung Ca)Cho đến năm cuối đời ông vẫn cất lên tiếng nói hào sảng
Ra cửa vợ con níu áo hỏi Chinh Tây bao độ trở về ông Trở về nếu đeo hoàng Kim ấn Chớ thấy Tô Tần chẳng xuống khung!
(Từ biệt vợ lên đường tòng quân)
Tư tưởng hăm hở tiến thủ giúp nước cứu đời nói trên có bắt nguồn từphần tích cực nhập thế của nho gia, song trong thơ ông lại thường xuất hiệnnhững vần thơ phê phán nho giáo khá sắc sảo:
Ông đồ nước lỗ học ngũ kinh
Trang 14Bạc đầu nhai hết từng chương cú Hỏi ông giúp đời thế nào đây
Lơ mơ như người mây khói phủ … Việc đời đã chẳng hiểu chi chi
(Giễu ông đồ nước Lỗ) Tinh thần lạc quan phong khoáng của ông in đậm nét trong hàng loạtbài thơ miêu tả cảnh non sông hùng vĩ của đất nước trung hoa, từ sông Hoàng
Hà, Trường Giang cho đến hồ Động Đình, từ núi Thái Sơn, núi Thái Hoàngcho đến con đường đi lên đất Thục khó, khó hơn đường đi lên trời xanh (Thụcđạo chi nan, nan cư thướng thanh thiên)
Tinh thần lạc quan, hào phóng, yêu đời của ông in đậm trong hình ảnhnhững người phụ nữ hái sen (Thái liên khúc) trong tiếng ca điệu múa củangười nông dân thuần hậu (Tặng Uông Lân), trong hình bóng lộng lẫy củangười thợ rèn giữa đêm khuya thanh vắng :
Cửa lò rực trời đất Khói tím nhảy tia hồng Chàng ca, trăng rực sáng Xao động cả dòng sông
( Thu Phố ca )
Song như ta biết, Lý Bạch cũng đã từng nếm mùi thất bại trên con
đường công danh, sự nghiệp, từng chứng kiến tận mắt cuộc sống xa hoa truỵlạc của cung đình, tiếp xúc ít nhiều với cuộc sống dân chúng
Mặt khác những học thyết, tư tưởng mà Lý Bạch tiếp thu lại rất đa dạng
và phức tạp Chẳng hạn, Lý Bạch không chỉ yêu thích tư tưởng đạo gia ( học
thuyết Lão Trang ) vốn đã phức tạp mà còn say mê cả đạo giáo ( cầu tiên,luyện đan….)
Trang 15Thơ ông hướng về cái đẹp, ca ngợi cái đẹp và phản ứng với cái xấu Là
hai mặt nhiều khi khó tách rời trong tư tưởng, tình cảm và thơ ca Lý Bạch dường như ở đây ta bắt gặp cái mà các nhà lý luận hay gọi là tích phân cực
trong tình cảm của tác giả lãng mạn
Thơ Lý Bạch coi khinh bọn quyền quý, phê phán bọn mũ cao áo dài xa hoa thối nát Bài cổ phong thứ 15 Lý Bạch viết:
Cớ sao bậc cao sỹ Vứt như rác bên đường Châu ngọc mua cười hát Tấm cám nuôi hiền lương
Ông nói đến những thời đen tối do sự xa hoa của vua quan nhà Đường
gây ra ngay khi làm quan ở Tràng An trong bài hành lộ nan (đường đi khó)
bài thứ 2 ông viết
Đường lớn như trời xanh
Ta còn chưa đến được Thẹn không bằng lũ nhóc Trường An
Đá gà, đấu chó chơi thoả thích…
Dẫu đả kích quyết liệt đến đâu rốt cuộc nhà thơ cũng chỉ là một kẻbướng bỉnh cô độc, nên từ đó đôi khi không khỏi cảm thấy bế tắc rồi đi tìm
những lối thoát tiêu cực, coi đời như một giấc mộng lớn (ngày xuân say rượu
tỉnh dậy nói chí mình) hoặc dùng rượu để giải sầu
Sầu lai, ẩm tử nhị thiên thạch
( Sầu đến, nốc hai nghìn thạch rượu )Song, rượu không chỉ làm cho nhà thơ say tuý luý mà quên hết sự đời
Cất chén tiêu sầu, sầu cứ sầu Rút dao chặt nước, nước cứ chảy
(Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu
Trang 16Trừu đao đoạn thuỷ, thuỷ cánh lưu)
(Trên lầu Tạ Diễu….)
Bình vàng, rượu trong, cốc đáng vạn Mâm ngọc, nhắm quý, giá mười ngàn Dằn chén, ném đũa, nuốt không được Vung gươm bốn mặt lòng mênh mang
Lý Bạch muốn điều hoà những mâu thuẫn trong tư tưởng tình cảm bằng
một lối sống độc đáo theo tinh thần của lão tử công thành, thân thoái:
Việc xong phủi áo cút Chẳng cho đời biết ai
Lý Bạch Một bên là tinh thần hăm hở, lập công, khát vọng công danh, một
bên là tinh thần bảo mạng, ý muốn ẩn dật Tuy nhiên đây không phải là câu
chuyện cá nhân Thỏ khôn chết, chó săn bị phanh thây; chim cao hết, cung tốt
ném vào kho; nước địch bị phá, mưu thần đi đời, (lời Hàn Tín nói về cách đối
xử của Lưu Bang đối với các cận thần) là hiện tượng xảy ra thường xuyêntrong xã hội phong kiến Trung Quốc Đằng sau những suy nghĩ tâm tư đó của
Lý Bạch, chúng ta thấy bóng dáng của xã hội đương thời, một xã hội xuất hiện
ngày càng rõ những dấu hiệu suy thoái
Thơ Lý Bạch có một phong cách phóng khoáng, hào hùng, rất đặc biệt phong cách gắn liền với nội dung và tư tưởng các bài thơ và cũng gắn liền với nhân cách của nhà thơ, lời thơ không sắp đặt, không trau chuốt, đẹp một cách tự nhiên ( Trường Chính – thơ Đường tập 2 ) Nhìn chung thơ Lý Bạch
Trang 17rất đa dạng, phong phú, hùng tráng và khí thế ngang tàng, nói được cái tưtưởng của con người trước cuộc đời, vũ trụ, thiên nhiên,…đó là vẻ đẹp đểngười đời mãi mãi yêu mến cảm phục và cảm thông với ông!
Hình tượng trong thơ Lý Bạch thường mang kích cỡ khác thường, phá
khổ Những hình tượng gợi cái ao lớn, kỳ vĩ mạnh mẽ như dòng sông Hoàng
Hà từ vạn dặm chảy vào giữa cõi lòng Hình ảnh cùng con người dạo chơitrên núi Thiên Mụ, đứng trên đỉnh núi với tay đến tậ trời, hình ảnh dải ngân
hà tột khỏi mây…là những hình tượng bắt nguồn từ trí tưởng tượng phongphú và bút pháp khoa trương phóng đại vốn là đặc trưng trong thơ lãng mạn
Tiếp xúc với thơ Lý Bạch chúng ta luôn bắt gặp một tâm hồn phóng túng bay bổng Vì thích phóng túng nên Lý Bạch không chịu theo con đường
thi cử, không chịu bạc đầu nhai hết từng chương cú, thích đấu kiếm thích LãoTrang Vì thích phóng túng nên dù có vào triều cũng không chịu uốn gối làmmột kẻ nịnh thần, nên trong số gần 1000 bài thơ, ông chỉ viết có 70 bài ngũluật và 12 bài thất luật Thật là một nhân cách nhất quán Trong điều kiện lịch
sử đương thời, đó là một nhân cách đáng quý, tiến bộ
Về phương diện sáng tạo hình tượng, tính cách nói trên đã đem lại chonhà thơ một năng lực hư cấu mạnh mẽ Trí tưởng tượng của ông bay vút tậncác vì sao vượt qua biển cả, ngược dòng quá khứ lịch sử xa xăm, thâm nhậpvào thế giới thần thoại, truyền thuyết lung linh huyền ảo, cũng như lách vàomỗi sự vật nhỏ nhoi, bình thường để rồi dựng nên hình ảnh chân thực mà sinhđộng, gần gũi mà mới mẻ, bình thường mà kỳ lạ Khoa trương nhân cách hoá,những thủ pháp phổ biến để xây dựng hình tượng của nhà thơ, đã được vậndụng một cách sáng tạo và bạo dạn Bạo dạn tới mức phi lý nhưng ngẫm nghĩ
kỹ, ta lại thấy thật hợp lý Khi phân tích câu Hoa tuyết Yên Sơn lớn như chiếu (Bắc phong hành) Lỗ Tấn viết: Hoa tuyết Yên Sơn lớn như chiếu, là khoa
Trang 18trương, song Yên Sơn rốt cuộc quả là có hoa tuyết, vì vậy nó vẫn bao hàm cáithực ở trong đó, khiến chúng ta lập tức biết được ở, Yên Sơn vốn có cái lạnhđến dường ấy Nếu nói Hoa tuyết Quảng Châu lớn như chiếu thì chỉ biênthành một câu nói đùa.
Thiên nhiên trong thơ Lý Bạch không chỉ được khắc hoạ thông qua sự
lãnh hội thẩm mỹ của nhà thơ mà có khi còn là hoá thân của nhà thơ, là ngườibạn thân tình của nhà thơ nữa Bởi vậy thủ pháp nhân cách hoá được tác giả
sử dụng một cách phổ biến trong những bài thơ viết về thiên nhiên Trong thơ
Lý Bạch hầu như mọi sự vật trong thiên nhiên đều có thể hiểu tâm sự của nhà
thơ, của con người
Gió xuân xót ly biệt Chẳng khiến Liễu xanh cành
(Đinh Lao Lao)
Nhìn nhau mãi không chán
Ta với núi Kinh Đình
(Ngồi một mình trước Kinh Đình)Thủ pháp nhân cách hoá làm cho sự vật dù yên tĩnh, vô tư cũng trở nênđầy sức sống Tuy vậy tác giả không tuỳ tiện gán ghép ý muốn chủ quan củamình vào sự vật Qua các ví dụ trên, ta thấy nhà thơ rất tôn trọng đặc điểmvốn có của sự vật được nhân hoá
Trong thơ ca của mình, Lý Bạch từng ca ngợi hoặc dẫn dựng những câu thơ nổi tiếng mới mẻ, tự nhiên và giàu tính sáng tạo như: Bờ ao cỏ xuân
mượt, Non nước ngời trong sáng của Tạ Linh Vân Và Sông lẳng phẳng như lụa, gió bấc thổi mưa bay của Tạ Diễu,…Chính vì lẽ đó mà ngôn ngữ của ông
đã sinh động, tự nhiên, lại còn trong sáng hoa mỹ Thêm vào đó là sức tưởngtượng lãng mạn và nổi nhiệt tình dạt dào của ông cùng khiến cho ngôn ngữcủa ông trở thành cao hoa, hào phóng như người xưa thường nói
Trang 19Người ta gọi Lý Bạch là thi tiên bởi thơ thiên nhiên của ông rất hay Sông núi, nước khe, hang trời, biển động…đều rất hùng tráng trong thơ Lý
Bạch Những bài nổi tiếng này là Thục đạo nan, hành lộ nan, Nga Mi sơn nguyệt ca…
Thơ trăng Lý Bạch huyền ảo vô cùng…trăng trên núi, trăng trên sông,
trăng với sử sách, trăng ở quán trọ, và trăng trong cả lúc cô đơn nhất Với bài
Tĩnh dạ tứ ta cũng đủ xao lòng cùng Lý Bạch trước trăng:
Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương.
Nhưng rượi trong thơ Lý Bạch mới thật vô địch Khó ai có thể làm thơ
về rượu hay hơn ông Thơ nói đến rượu được viết khá nhiều…có những bài ở
đề tài khác nhau, Lý Bạch vẫn thường hay nhắc đến rượu ở bài nào cũng
mang một tâm trạng, một hoàn cảnh rất khác nhau Nổi tiếng nhất là bài
Tương tiến tửu…một bài thơ viết đã hơn nghìn năm mà người Á Đông từ thế
kỷ XX trở về trước, ngồi vào tiệc không ai không nhắc đến những câu thơ:
Biết chăng ai, Sông Hoàng Hà ngọn nước tại lưng trời Tuôn xuống bể vời lại được
Biết chăng nữa, Đài gương mái tóc bạc Sớm như tơ mà tối đã như sương…
Và cũng chỉ Lý Bạch mới viết nổi bài thơ Nguyệt hạ độc chước (uống
rượu dưới trăng) này:
Trong hoa rượu đã sẵn bình, Người thân cũngchẳng có, một mình uống thôi
Trang 20Gọi trăng nâng chén ta mời Một trăng, một bóng với người là ba Trăng kia uống được đâu mà
Bóng kia lẵng nhẵng theo ta chẳng rời bạn cùng nhé! Bóng, trăng ơi
Chơi xuân cho kịp kẻo hoài mất xuân…
Một điểm nửa trong thơ Lý Bạch là tính chất bình dị, tự nhiên, đây cũng
là sản phẩm tát yếu của tính cách không trói buộc Bản thân Lý Bạch đã từng
Để chàng thôi xông pha
Thơ Lý Bạch không bị gò bó theo khuôn khổ, luật lệ và không bị hạn
chế về câu chữ, cách gieo vần, có khả năng diễn đạt được nhiều sắc thái, tìnhcảm cũngnhư phản ánh được nhiều vấn đề xã hội rộng lớn Hình thức này phù
hợp với tư tưởng bay bổng phóng khoáng của thi tiên Lý Bạch, vì thế đọc thơ
ông người ta cảm nhận được vể dịu dàng tươi mát, có lúc khẳng khái tươi vui:
Lý Bạch là một nhà thơ lãng mạn tích cực vĩ đại, trong lịch sử phát triển
thơ ca cổ điển Trung Quốc, thành tựu của ông đã đạt đến đỉnh cao của nghệthuật lãng mạn Dù đứng về mặt tinh thần hay mặt bút pháp đều có những ảnh
Trang 21hưởng to lớn đối với thi ca đời Đường và các thế hệ sau này Hán Dũ đờiĐường đánh giá ông rất cao
Văn chương Lý Đỗ còn Ánh sáng chiếu muôn trượng
(Điệu Trương Tích)
Chương II: Không gian nghệ thuật trong thơ Lý Bạch
I Giới thuyết một số khái niệm
1 Khái niệm không gian
Không gian là khoảng mênh mông, vô hạn bao trùm vạn vật (Ngôn ngữhọc Việt Nam) Nó là một trong những nhân tố bảo đảm sự tồn tại của conngười và vật chất Nó quen thuộc đến nỗi nhiều khi chúng ta không cảm thấyđược, nhưng thực sự nó luôn tồn tại xung quanh chúng ta Như không giantrường lớp, không gian làng quê, không gian đô thị…
Không gian cũng như thời gian, là hình thức tồn tại của con người khó
mà hiểu được con người nếu không hiểu được không gian tồn tại của nó
Người ta cũng thường dùng những từ như vũ trụ, thế giới nhằm để chỉkhông gian
2 Khái niệm không gian nghệ thuật
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán Trần Đình Sử Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên) viết: Hình thức bên trong của hình tượngnghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệthuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong tường nhìn nhấtđịnh, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tínhcủa nó: cái này bên kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối cao thấp, xa, gần, rộngdài tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ vềkhông gian, nên mang tính chủ quan Ngoài không gian vật thể, có không giantâm tưởng (gần nhau đây mà xa biết bao nhiêu Giữa hai đứa mênh mông là
Trang 22-biển rộng - Tố Hữu) Do vậy không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối,không gian quy được vào không gian địa lý Không gian, nghệ thuật trong tácphẩm văn học có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của bức tranh thế giớinhư thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự Không gian nghệ thuật có thểmang tính địa điểm, tính phân giới, dùng để mô hình hoá các phạm trù thờigian như bước đường đời, con đường cách mạng Không gian nghệ thuật cóthể mang tính cản trở, để mô hình hoá các kiểu tính cách con người.
Không gian nghệ thuật có thể là không có tính cản trở, trong cổ tích,làm cho ước mơ công lý được thực hiện dễ dàng Ngôn ngữ của không giannghệ thuật rất đa dạng và phong phú
Các cặp phạm trù cao - thấp, xa - gần, rộng - hẹp, cong - thẳng,bên này- bên kia, vững chắc - bập bênh, ngay - lệch… đều được dùng để biểuhiện các phạm vị giá trị phẩm chất của đời sống xã hội
Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tácphẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thếgiới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học Nó cungcấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loạihình của các hình tượng nghệ thuật
Trong thi pháp thơ Đường của Nguyễn Thị Bích Hải cho rằng: Trongtác phẩm nghệ thuật con người xuất hiện với tư cách là hình tượng con người
và không gian tượng trưng cũng chỉ là hình tượng không gian Không gian
nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng Vậy không gian nghệ thuật là
hình tượng không gian trong tác phẩm (Trần Đình Sử - giáo trình thi pháp
học)
Góc mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
(Bà Huyện Thanh Quan - Chiều hôm nhớ nhà)
Trang 23Cái viễn phố cô thôn ở đây chính là không gian được chuyển hoá vàotrong trí tưởng tâm hồn của nhà thơ, được thể hiện bằng ngôn ngữ thơ và đếnngười đọc, gợi dậy những viễn phố cô thôn hiu hắt người đọc.
Trong ca dao Việt Nam, chẳng hạn con người tồn tại nơi làng quê vớigốc đa, bến nước, sân đình…với đồng sâu, đồng cạn…Đó là không gian quenthuộc và mang tính quan niệm Người dân quê Việt Nam chỉ quen thuộc vớiloại không gian đó nên họ chỉ có thể miêu tả loại không gian đó mà thôi
Trong văn học dân gian, đó là không gian làng quê Nhưng trong vănchương bác học thì khác
Thế sự du du nai lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
(Đăng Dung - Cảm Hoài)
Nhất lung thiên địa tàng thân tiểu Vạn lý thanh vân cử mục tần
(Nguyễn Hữu Cầu – chim trong lồng)
Đó là không gian vũ trụ bao la cho khí phách của người tráng sĩ trungthành Ngay cả khi miêu tả không gian làng quê thì các làng quê trong conmắt của Tam Nguyên Yên Đỗ xũng khác xa trong con mắt anh nông dân tátnước đầu đình
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao Cần trúc lơ phơ gió hiu hắt
(Nguyễn Khuyến – Thu Vịnh)Chỉ cần thấy không gian trong tác phẩm, ta có thể xác định được nóthuộc loại văn chương nào Mỗi bộ phận văn học có thế giới riêng, có cái mãriêng của nó Ngay ở mỗi tác giả nhưng khi sử dụng ở nhiều thể loại khácnhau, không gian nghệ thuật cũng khác nhau, chẳng hạn như Nguyễn Du
Trang 24trong truyện Kiều thường xuất hiện không gian vũ trụ nhưng trong hátphường vải lại là không gian của đời thường
Khi phân tích không gian nghệ thuật trong thơ, chúng ta có thể phântích theo ba chiều của không gian vật lý mà trung tâm của nó chính là conngười Phải biết phát hiện không gian tầm thường, không gian vũ trụ, pháthiện được tính chất động, tĩnh, thực, hư của nó Từ đó tìm hiểu mối quan hệkhăng khít giữa nó với thế giới nghệ thuật Nhưng quan trọng nhất là xem xétkhông gian nghệ thuật như một quan niệm về thế giới và con người; như mộtphương thức chiếm lĩnh thực tại, một hình thức thể hiện cảm xúc và khái quát
tư tưởng thẩm mĩ, để từ đó lý giải khả năng phản ánh hiện thực của một hệthống thơ nhất định
II Những kiểu không gian nghệ thuật trong thơ Đường
Trong thơ Đường có 2 kiểu con người chủ yếu: Con người vũ trụ
và con người xã hội, tương ứng với hai kiểu con người đó cũng có hai kiểukhông gian vũ trụ và không gian đời thường
1 Không gian vũ trụ
Trong thơ Đường tuy có hai kiểu không gian nghệ thuật, nhưng khônggian vũ trụ vẫn chiếm ưu thế
Trong bài Thử tìm hiểu tứ thơ của thơ Đường, sau khi thực hiện một
phép thống kê, Nhữ Thành Lý giải rằng: Bầu trời và thiên nhiên là cái nền củathơ Đường Vì thơ Đường cốt nêu lên tình huống thống nhất chủ yếu là tínhthống nhất của con người với thiên nhiên cho nên tất yếu nó hướng về thiênnhiên
Sở dĩ thơ Đường thể hiện tính thống nhất giữa con người với thiênnhiên vì quan niệm nghệ thuật về con người của nó (của thơ Đường) là conngười vũ trụ Là con người vũ trụ nó phải đứng giữa đất trời, ở vị trí trungtâm của vũ trụ, và từ một điểm (điểm trung tâm), con người nhìn ra mọi phía
Trang 25Trong thơ Đường, vị trí trung tâm ấy được xác định như một lẽ tự nhiên
và bao giờ cũng đẹp
Nhân phan minh, nguyệt bất khả đắc Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ
(Lý Bạch – Bã tửu vẩn nguyệt)(Người với lên trăng vịn chẳng đượcKhi đi trăng lại mãi theo nhau)Con người ở đâu thiên nhiên cũng bao quanh, và khi con người dichuyển thì cả vũ trụ cũng di chuyển dời theo để con người vẫn ở vị trí trungtâm
Mộ tòng lịch sơn hà Sơn nguyệt tuỳ nhân quy
(Lý Bạch – Há Chung nam sơn…)(Chiều hôm bước xuống chân đèo
Ánh trăng trên núi cũng theo người về)Không gian vũ trụ bao bọc con người, trong vòng trời che đất chỉ conngười luôn luôn có sự hô ứng, tương thông tương cảm với đất trời, với thiênnhiên, vạn vật
Thanh sơn hoành Bắc quách Bạch thuỷ nhiễu Đông hành Thử địa nhất vi biệt
Cô bồng vạn lý chinh
Con người đựoc bao bọc giữa sơn với thuỷ, hữu tình như vậy mà lạiphải chia tay để dấn thân vào nơi vô định, phiêu bạt như một ngọn cỏ bồng bénhỏ trên vạn dặm xa xôi
Vì con người ở vị trí trung tâm nên không gian quanh nó mang tínhchất đối xứng và con người chính là trung tâm của không gian ấy
Trang 26Bạch nhật y sơn tận Hoàng Hà nhập hải lưu Dục cùng thiên lý mục Cánh thướng nhất tầng lâu
(Vương Chi Hoán – Đăng Quán tước lâu)Đây là một bài thơ đặc biệt Đường thi Tác giả đã trải ra chiều rộngmênh mông để dựng chiều cao chót vót Ở trên lầu Quán Tước có thể nhìnthấy cả miền núi non trùng điệp phía Tây, nơi mặt trời dần khuất bóng; nhìn
về phía Đông có thẻ thấy dòng sông Hoàng Hà đang mải miết chảy vào biển.Tầm nhìn chiếm lĩnh được cả một vùng trời nước bao la như vậy, vị trí củacon người đã là cao thượng nhưng nó còn muốn vươn cao hơn nữa Động từhướng thể hiện cái tư thế hăm hở của con người đời Đường - bước lên đỉnhcao để mở rộng tầm mắt, tầm tư tưởng
Lên cao, đó là một động tác mang tính quan niệm, một sự vận động đểbước vào vị trí trung tâm của vũ trụ
Nói về sự thể hiện không gian vũ trụ thì Đăng U Châu đài ca vẫn là tác phẩm tiêu biểu nhất Ở vị trí trung tâm ấy, con người trong tư thế cầm chịch
cho cân bằng của không gian vũ trụ đối xứng Không gian được tạo dựngthường được hô ứng, song phương tương đối
Thanh thiên nhất nhạn viễn Hải khoát cô phàm trì
(Lý Bạch)(Vút thẳng trời cao con nhạn lượnThênh thanh biển rộng cánh buồn dong)Không gian vũ trụ trong thơ được xây dựng trên quy luật liên tưởng củatâm lý hay, theo hệ thống đang diễn đạt được thể hiện bằng quan hệ
Trang 27Khi con người ở vị trí trung tâm khiến cho con người cảm thấy bé nhỏ
cô đơn giữa vụ trụ vô hạn vô cùng Vì cảm giác ấy mà ở nơi đó dấy lên khátvọng chiếm lĩnh không gian, và đó là không gian luôn mang tính chất mở, có
xu hướng giãn nở để đưa tâm hồn con người lan toả vào không gian, vượt quakhông gian
Vân khai vấn thuỷ cô phàm viễn
Lộ nhiễu Luơng sơn nhất mã trì
(Cao Thích - Tống tiền vệ huyện Lý Thẩm thiếu)(Rẽ mây, trên dòng sông Vấn lá buồm coi quanh xa xaVen nẻo Lương sơn vó ngựa một mình chầm chậm)
Để chiếm lĩnh không gian, nó thường phóng tầm mắt về mọi phía Nóngẩng trông rồi cúi nhìn, nó đã nhìn song tả tốt phải quay về hữu, đã phóngtầm mắt hướng ngoại tất phải trở về hướng nội Nó nói đến một chiều không
gian là để bày tỏ khát vọng chiếm lĩnh, đồng thời cũng để nói với Thiên hạ
rằng – ta đã chiếm lĩnh vũ trụ trong cái nhìn tương thông, giao hoà của ta;
cái tiểu ngã bé nhỏ này có mặt khắp nơi trong cái vô cùng kia.
Không gian lữ thứ cũng xuất hiện nhiều, với tư cách là một bộ phận củakhông gian vũ trụ trong thơ Là hình ảnh con đường thường trải ra mời gọi,bàn chân vó ngựa, lòng sông mở ra cho những cánh buồm Trong thơ Đường
ta bắt gặp rất nhiều thơ tống biệt Đó là bạn bè đưa tiễn nhau trên những conđường, bên những dòng sông, nơi miền quan ải…con đường, quán trọ… làmnên không gian lữ thứ trong thơ
Vọng quân yên thuỷ khoát Huy thủ lệ triêm côn Phi điểu một hà xứ Thanh Sơn không hướng nhân
(Lựu Trường Khanh - Tiễn biệt Vương Thập Nhất nam du)
Trang 28(Trông theo bác trong khoảng khói nước mênh mangVẫy tay, lệ tràn thấm khăn
Chim bay mất hút vào đâuChỉ còn núi xanh hướng về người)…
Trong thơ Đường ta thường gặp nhiều cảnh tống biệt mà thường là tiễnbạn Không gian và thời gian tống biệt rất đặc biệt vì nó là điểm nút của tâmtrạng, từ sum vầy sang xa cách, từ bầu bạn sang cô đơn Không gian tống biệt
là một thứ bản lề khép mở hai vùng trời của người đi, kẻ ở Không gian tốngbiệt thường được dựng lên trong tâm trạng của người ở lại vì trong quan niệmcủa người xưa, người ra đi đáng được quan tâm hơn Họ sắp dấn thân vào mộtkhông gian mà lời thơ tống biệt thường là lời của người đưa tiễn tỏ bày, an ủi,khuyến lệ người đi
Còn đây là cuộc chia tay để rồi hai người đi về hai ngã:
Dương tử giang đầu, dương liễu tôn Dương hoa sầu sát đọ giang nhân
Sổ thanh phong địch ly đinh vẫn Quân hướng tiên tương ngã hướng Tần.
(Trịnh Cốc – Hoài thượng biệt hữu nhân)(Bên sông Dương Tử, dương liễu đượm màu xuânHoa Dương liễu làm cho người qua sông buồn đến chếtVài tiếng sáo vi vút ở đình ly biệt buổi chiều hômAnh đi tới vùng sông Tiêu sông Tương, Tôi đi tới đất Tần)Bến sông này mọi vật đều gợi tình ly biệt, vì bên sông như một ranhgiới vô hình để từ đây con người chia tay Dương liễu xanh da diết, đầu sônggợi nỗi buồn đứt ruột trong thơ Đường cành liễu là hình ảnh ước lệ, biểutượng của chia ly; lại thêm âm thanh vi vút của ngọn gió chiều hôm trên đỉnh
ly biệt làm nền cho nỗi buồn Thi nhân rất tinh tế tiễn bạn đi rồi, nhìn theo