1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Các Nhân Tố Có Tính Chất Rào Cản

125 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu chung: Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu về các nhân tố có tính chất rào cản đối với việc lựa chọn áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam và đo lường mức độ ảnh hưởng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

NGUYỄN THỊ THANH HIỀN

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN

TỐ CÓ TÍNH CHẤT RÀO CẢN ĐỐI VỚI VIỆC LỰA CHỌN ÁP DỤNG IFRS TẠI VIỆT

NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

NGUYỄN THỊ THANH HIỀN

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ CÓ TÍNH CHẤT RÀO CẢN ĐỐI VỚI VIỆC LỰA CHỌN ÁP DỤNG

IFRS TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VÕ VĂN NHỊ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luân văn thạc sĩ “Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố có tính chất rào cản đối với việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tài liệu tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ rõ ràng

TP Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 8 năm 2018

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Thanh Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC PHỤ LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung: 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Những đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn 4

7 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5

1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước 14

1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước, xác định khe hổng và vấn đề nghiên cứu 25

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 28

2.1 Tổng quan về IFRS 28

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển IFRS 28

2.1.2 Thực trạng áp dụng IFRS tại các quốc gia trên thế giới 31

Trang 5

2.1.3 Những khó khăn gặp phải khi áp dụng IFRS tại Việt Nam 34

2.2 Lý thuyết nền về các nhân tố mang tính chất rào cản ảnh hưởng đến áp dụng IFRS 36

2.2.1 Thuyết định chế cổ điển 36

2.2.2 Lý thuyết thể chế xã hội học hiện đại (New Instutional Sociology Theory) 39 2.2.3 Lý thuyết hành vi dự định 40

2.2.4 Lý thuyết thông tin hữu ích cho việc ra quyết định 41

2.3 Các nhân tố có tính chất rào cản ảnh hưởng đến áp dụng IFRS tại Việt Nam 41

2.3.1 Văn hóa: 42

2.3.2 Hệ thống pháp luật: 44

2.3.3 Chi phí và cơ sở hạ tầng kế toán 45

2.3.4 Nhân tố kinh tế 46

2.3.5 Trình độ học vấn 47

2.3.6 Hệ thống giáo dục đào tạo: 48

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 49

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50

3.1 Quy trình nghiên cứu 50

3.2 Phương pháp nghiên cứu 52

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính: 53

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng: 53

3.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 56

3.3.1 Mô hình nghiên cứu 56

3.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 57

3.3 Xây dựng thang đo 57

3.5 Phương pháp chọn mẫu 62

3.6 Phương pháp thu thập dữ liệu: 63

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 64

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 65

4.1 Kết quả nghiên cứu định tính

Trang 6

4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 65

4.2.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 65

4.2.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha 66

4.2.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 69

4.2.3.1 Phân tích khám phá EFA các nhân có tính chất rào cản đối với việc vận dụng IFRS ở Việt Nam 69

4.2.3.2 Phân tích khám phá EFA biến phụ thuộc: 75

4.2.4 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 75

4.2.5 Phân tích tương quan 76

4.2.6 Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy 78

4.2.6.1 Giả định liên hệ tuyến tính 78

4.2.6.2 Giả định về phân phối chuẩn của phần dư 79

4.2.6.3 Giả định không có hiện tượng đa cộng tuyến 80

4.2.7 Phân tích hồi quy 80

4.3 Bàn luận 82

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 86

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

5.1 Kết luận 87

5.2 Kiến nghị 88

5.2.1 Kiến nghị về Hệ thống pháp luật 88

5.2.2 Kiến nghị về Hệ thống giáo dục đào tạo: 89

5.2.3 Kiến nghị về văn hóa 89

5.2.4 Kiến nghị về chi phí và cơ sở hạ tầng kế toán 90

5.2.5 Kiến nghị về Trình độ học vấn 91

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai 91

5.3.1 Hạn chế của đề tài 91

5.3.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

1 BCTC Báo cáo tài chính

2 CMKT Chuẩn mực kế toán

4 DN Doanh nghiệp

5 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

6 VAS Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam

TIẾNG ANH

2 FASB Financial Accounting

Standards Board

Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ

3 IASB International Accounting

Standards Board

Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế

4 IASC International Accounting

Chuẩn mực kế toán quốc tế/Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Mã hóa thang đo và biến quan sát (Nguồn: Tác giả) 61

Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả mẫu theo Giới tính 65

Bảng 4.2: Kết quả thống kê mô tả mẫu theo Thâm niên 65

Bảng 4.3: Hệ số Cronbach’s Apha của các thang đo các nhân tố có tính chất rào cản đối với việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam (nguồn: SPSS) 66

Bảng 4.4: Hệ số Cronbach’s Apha của các thang đo nhân tố hệ thống pháp luật khi loại biến PL6 68

Bảng 4.5: Ma trận xoay nhân tố (nguồn SPSS) 71

Bảng 4.6: Phân tích Cronbach’s alpha của biến văn hóa khi loại biến VH3 72

Bảng 4.7: Các biến quan sát nhân tố Hệ thống pháp luật 72

Bảng 4.8: Các biến quan sát nhân tố Trình độ học vấn 73

Bảng 4.9: Các biến quan sát Nhân tố Hệ thống giáo dục – đào tạo 73

Bảng 4.10: Các biến quan sát nhân tố Chi phí và cơ sở hạ tầng kế toán 74

Bảng 4.11: Các biến quan sát Nhân tố văn hóa 74

Bảng 4.12: Bảng phân tích EFA biến phụ thuộc (nguồn SPSS) 75

Bảng 4.13: Bảng ma trận tương quan của các nhân tố (nguồn SPSS) 77

Bảng 4.14: Bảng tóm tắt mô hình (nguồn SPSS) 80

Bảng 4.15: Kết quả phân tích phương sai Anova (nguồn SPSS) 81

Bảng 4.16 Kết quả phân tích hồi quy (nguồn SPSS) 81

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu của luận văn 52

Hình 3.2: Mô hình các nhân tố có tính chất rào cản ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam 57

Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 76

Hình 4.2: Biểu đồ phân tán của phần dư (nguồn SPSS) 78

Hình 4.3: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa (nguồn SPSS) 79

Hình 4.4: Đồ thị so sánh với phân phối chuẩn (P-P) của phần dư chuẩn hóa (nguồn SPSS) 79

Trang 10

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Danh sách chuyên gia phỏng vấn

Phụ lục 2 Phiếu phỏng vấn chuyên gia

Phụ lục 3 Bảng câu hỏi khảo sát

Phụ lục 4 Kết quả phân tích nhân tố EFA lần thứ 1 Phụ lục 5 Kết quả phân tích nhân tố EFA lần thứ 2 Phụ lục 6 Danh sách đối tượng khảo sát

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện hội nhập phát triển của nền kinh tế toàn cầu, đặc biết là sự vươn lên ngày càng mạnh mẽ của thị trường tài chính trong giai đoạn hiện nay, nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng so sánh thông tin tài chính giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, việc áp dụng hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc

tế (IFRS) trở thành một xu thế tất yếu Điều này sẽ giúp các quốc gia thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, giảm chi phí vốn, giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện thuận lợi trong việc đưa ra các quyết định

Trong thời gian gần đây, việc tiến tới áp dụng IFRS có những tín hiệu hết sức tích cực Theo nghiên cứu của Deloitte, tính đến năm 2017, IFRS đang được áp dụng tại 171 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới Tại một số quốc gia phát triển tại Châu Á, tình hình áp dụng các chuẩn mực IFRS cũng đã có nhiều tiến bộ Tại Nhật Bản, các chuẩn mực IFRS đã được lựa chọn từ năm 2010 Hiện nay, hơn

100 công ty Nhật Bản (chiếm 25% tổng giá trị vốn hóa thị trường) đã áp dụng các chuẩn mực của IFRS hoặc đang có kế hoạch áp dụng và nhiều công ty khác đang xem xét một cách nghiêm túc việc áp dụng các chuẩn mực của IFRS Ấn Độ cũng

đã ban hành và áp dụng các chuẩn mực kế toán (CMKT) mới, các chuẩn mực này

cơ bản hội tụ với các chuẩn mực IFRS.Hầu hết, các Ind AS đều được xây dựng tương ứng từ các chuẩn mực của IFRS Tại Trung Quốc, hiện nay có nhiều công ty lớn đã áp dụng IFRS vào việc lập và trình bày các báo cáo tài chính (BCTC) nhằm mục đích niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Hồng Kông

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Trong những năm gần đây, kinh

tế Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực.Việc áp dụng IFRS giúp Việt Nam tiết kiệm chi phí soạn thảo, ban hành CMKT

và nhanh chóng hòa nhập với kế toán quốc tế, gia tăng mức độ minh bạch của thông tin trên BCTC, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực kế toán – tài chính, tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hútnguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam Tuy nhiên, việc áp dụng IFRS tại Việt Nam vẫn còn gặp

Trang 12

không ít khó khăn và trở ngại Nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong quá trình phát triển và chuyển đổi mạnh mẽ sang nền kinh thị trường tự do, tuy nhiên mức độ phát triển kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng so với nhiều quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới vẫn còn thấp Bên cạnh đó, việc áp dụng IFRS đòi hỏi các nhà quản lý, nhân viên kế toán và cả người sử dụng cần có trình độ thích hợp để

có thể hiểu và vận dụng được IFRS Đối với hầu hết những người sử dụng BCTC, không đơn giản và dễ dàng để hiểu được thấu đáo các thông tin kế toán và chính

sách kế toán trên BCTC được trình bày và áp dụng Thêm vào đó,việc áp dụng và

thực hiện IFRS đòi hỏi phải bỏ ra các khoản chi phí đầu tư và duy trì khá lớn

Như vậy, những lợi ích đạt được từ việc áp dụng IFRS tại Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho thấy sự cần thiết phải đẩy nhanh tiến trình hội tụ kế toán quốc tế Tuy vậy, để có thể áp dụng được IFRS thì Việt Nam vẫn còn nhiều trở ngại phải vượt qua Nhận thấy tầm quan trọng của việc xác định những yếu tố có thể gây cản trở tới việc áp dụng IFRS tại Việt Nam cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân

tố đó, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “ Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố có

tính chất rào cản đối với việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam” để thực

hiện luận văn của mình với mong muốn góp phần hỗ trợ cho các cơ quan chức năng

và các doanh nghiệp rút ngắn thời gian của quá trình chuyển đổi, lựa chọn áp dụng IFRS ở nước ta

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung:

Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu về các nhân tố có tính chất rào cản đối với việc lựa chọn áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam và đo lường mức độ ảnh hưởng của chúng, từ đó đề xuất các kiến nghị giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi, lựa chọn áp dụng IFRS vào thực tiễn công tác kế toán

Trang 13

việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam

- Đưa ra được kiến nghị đối với các đối tượng có liên quan nhằm hỗ trợ cho việc chuyển đổi, lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Câu hỏi nghiên cứu 1: Các nhân tố nào có tính chất rào cản ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam hiện nay?

- Câu hỏi nghiên cứu 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố có tính chất rào cản đến việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam như thế nào?

- Câu hỏi nghiên cứu 3: Cần đề xuất các kiến nghị nào đối với từng nhân tố nhằm thúc đẩy quá trình lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam hiện nay?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các nhân tố có tính chất rào cản ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam

- Thời gian: Quý 1 năm 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng, xây dựng mô hình và kiểm định giả thuyết thông qua bảng câu hỏi khảo sát Các ý kiến khảo sát được thu thập từ các nhân viên kế toán và kiểm toán viên

Trang 14

6 Những đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn

- Đóng góp về mặt khoa học: Đề tài đã tóm tắt kết quả của một số nghiên cứu

trước và bổ sung thêm các bằng chứng thực nghiệm thu được từ các nhân viên kế toán

và kiểm toán viên

- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu hy vọng sẽ góp phần đưa ra

những gợi ý cho các cơ quan có thẩm quyền, các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp trong việc đưa ra các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động của các nhân

tố rào cản, từ đó tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi và lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, đề tài bao gồm 05 chương:

- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

- Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) được công nhận là bộ chuẩn mực

có tính chặt chẽ cao đối với việc ghi nhận và trình bày thông tin kế toán để phục vụ cho các đối tượng sử dụng Mặc dù đã nhận thức được rõ ràng những lợi ích đạt được khi áp dụng IFRS nhưng hiện nay trên thế giới, nhiều quốc gia vẫn còn áp dụng CMKT riêng của quốc gia mình, chỉ có một số nước lựa chọn áp dụng IFRS toàn bộ hoặc một phần Việc lựa chọn có áp dụng IFRS hay không, ở mức độ nào thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, và những yếu tố đó xét trong bối cảnh môi trường kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội ở từng quốc gia lại có mức độ ảnh hưởng khác nhau

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về vấn đề áp dụng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) hay IFRS ở các quốc gia, ở cả các nước phát triển và đang phát triển Đối với các quốc gia đang phát triển, với mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài, tăng cường hội nhập và giao lưu kinh tế, các nghiên cứu càng thể hiện tầm quan trọng lớn hơn IFRS giúp cải thiện tính hiệu quả của thị trường vốn và thúc đẩy đầu tư thoát khỏi ranh giới quốc gia Lợi ích của IFRS càng được khẳng định trong điều kiện IFRS được giám sát thực thi đầy đủ, có sự hỗ trợ của một khuôn khổ pháp lý phù hợp và các chuyên gia có trình độ cao (Tarca, 2012) Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, đứng trước xu thế toàn cầu hóa trên mọi lĩnh vực, quá trình hội tụ kế toán quốc tế là tất yếu nhưng vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc trong quá trình chuyển đổi và áp dụng Nhằm mục đích phục vụ cho việc xác định các nhân tố có tác động cản trở đến việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam cũng như đo lường ảnh hưởng của chúng, tác giả đã tiến hành thu thập

và tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan ở trong và ngoài nước nhằm định hình các nhân tố và xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu

Trang 16

1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Có nhiều nghiên cứu liên quan đến việc vận dụng IFRS ở cả các nước phát triển và đang phát triển mà khởi đầu là ở nhóm các quốc gia phát triển Chẳng hạn, Barbue (2004) đã tiến hành một nghiên cứu theo chiều dọc trong giai đoạn từ 1985 đến 1999 để đo lường xu hướng thực hiện CMKT quốc tế của các công ty ở Pháp; Affes và Callimaci (2007) đã nghiên cứu động lực dẫn đến sự chấp nhận sớm IAS/IFRS ở Đức và Áo thông qua khảo sát một mẫu của 106 công ty Đức và Áo và Dumontier, Raffournier (1998) tiến hành nghiên cứu sự vận dụng CMKT quốc tế trong một mẫu bao gồm 28 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thụy Sĩ Tuy nhiên, giai đoạn gần đây, vấn đề nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự thông qua IAS / IFRS đã được khảo sát trong bối cảnh của các nước đang phát triển Một

số công trình nghiên cứu đã cố gắng để xác định xem có những đặc thù nào liên quan đến các nước này về quyết định áp dụng các CMKT quốc tế Omneya et al (2003) đã kiểm tra phản ứng của ngôn ngữ khi giới thiệu IFRS lần đầu tiên ở Ai Cập Qua tiến hành nghiên cứu trên một mẫu gồm 72 công ty niêm yết trong nước, các tác giả đã chỉ ra rằng các công ty gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện theo IFRS bởi sự khác biệt giữa tinh thần IFRS với triết lý tôn trọng kế toán truyền thống

và văn hoá kế toán địa phương Chamisa (2000) đã kiểm tra vai trò của CMKT quốc

tế trong việc nâng cao chất lượng thông tin tài chính cung cấp cho thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển Việt Nam là một quốc gia thuộc nhóm các quốc gia đang phát triển, do đó, tác giả lựa chọn làm rõ các nghiên cứu nước ngoài có liên quan tới nhóm nước đang phát triển là các nướccó nhiều nét tương đồng với Việt Nam hơn so với các nước phát triển để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu Dưới đây, tác giả đi vào tóm tắt năm nghiên cứu điển hình liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng tới việc vận dụng IFRS ở các quốc gia đang phát triển

[1] Daniel Zeghal, Karim Mhedhbi (2006), An analysis of the factors affecting the adoption of international accounting standards by developing countries

Trang 17

Nghiên cứu Alhashim và Arpan (1992) đã chỉ ra rằng các áp lực môi trường quan trọng nhất ảnh hưởng đến kế toán là áp lực về kinh tế, áp lực xã hội, hệ thống pháp luật, văn hoá và hệ thống chính trị Lựa chọn của một quốc gia trong việc áp dụng các chuẩn mực kế toán, chính sách và thông lệ kế toán là kết quả của quá trình tương tác với một số yếu tố trong môi trường TheoCooke và Wallace (1990), các yếu tố ảnh hưởng tới kế toán bao gồm cả các yếu tố bên trong nội bộ và

cả các yếu tố bên ngoài như tăng trưởng kinh tế, mức độ giàu có, mức độ lạm phát, trình độ học vấn, hệ thống pháp luật, lịch sử và địa lý của đất nước, hệ thống tài chính, quy mô và sự phức tạp của hoạt động kinh doanh, sự phát triển của thị trường tài chính, văn hoá, ngôn ngữ chủ đạo, Ngoài ra còn có thể có một số các yếu tố khác như sự tồn tại của một liên kết thuộc địa, sự hiện diện của các doanh nghiệp đa quốc gia, mức độ đáng kể của đầu tư nước ngoài, mức độ mở cửa của nền kinh tế, vấn đề ký kết các hiệp định quốc tế và sự tồn tại của các công ty kế toán quốc tế Bất kỳ thay đổi đáng kể nào trong các yếu tố này ở một quốc gia cụ thể có thể ảnh hưởng đến các quy định và chính sách kế toán của quốc gia đó

Tiếp nối các nghiên cứu trên, nghiên cứu của Zeghal & Mhedhbi hướng tới mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng IAS ở các nước đang phát triển Để xây dựng mô hình và phát triển giả thuyết, các tác giả tập trung vào phân tích mối quan hệ và sự cộng sinh có thể được thiết lập giữa kế hoạch và sự tiến triển của hệ thống kế toán của một quốc gia với đặc điểm của môi trường dựa trên giả định rằng việc thông qua IAS của một nước đang phát triển được thúc đẩy bởi một nhóm các yếu tố môi trường cụ thể trong nước đó Do số lượng biến là lớn, việc xác định được các biến và định nghĩa chúng cũng như đo lường các biến là không

hề dễ dàng Trong một số trường hợp, việc tìm kiếm thông tin cũng khá khó khăn

Vì vậy, nghiên cứu đã lựa chọn các nhân tố để giải thích cho việc đưa ra quyết định

có hay không thông qua IAS của một nước đang phát triển, bao gồm: Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, trình độ học vấn, mức độ mở cửa của nền kinh tế quốc gia với bên ngoài, thành viên văn hoá trong nhóm các quốc gia và sự tồn tại của thị trường tài chính Nghiên cứu xây dựng mô hình nghiên cứu gồm các biến độc lập là các nhân

Trang 18

tố trên, biến phụ thuộc là áp dụng IAS ở các nước đang phát triển Các tác giả đi vào phân tích từng nhân tố và xây dựng các giả thuyết:

H1 Xác suất mà một nước đang phát triển sẽ thông qua IAS sẽ tăng khi tỷ

lệ tăng trưởng kinh tế tăng

H2 Xác suất mà một nước đang phát triển sẽ thông qua IAS sẽ tăng tỷ lệ thuận với trình độ học vấn

H3 Các nước chủ động và tích cực mở cửa với nền kinh tế bên ngoài sẽ có

xu hướng dễ áp dụng IAS hơn

H4 Các quốc gia đang phát triển thuộc nền văn hoá Anglo – American có nhiều khả năng thông qua IAS hơn các quốc gia thuộc nền văn hóa khác

H5 Các quốc gia có thị trường vốn tương đối phát triển sẽ có nhiều khả năng thông qua IAS

Nghiên cứu áp dụng phương pháp hồi quy logistic cho một mẫu gồm 64 nước đang phát triển được chọn từ năm 2003 và khi xem xét các dữ liệu sẵn có, các tác giả kết hợp thông tin của một nhóm gồm 32 quốc gia đã thông qua IAS (có hoặc không điều chỉnh) và một nhóm thứ hai gồm 32 quốc gia mà trong năm 2003 đã không thông qua IAS Danh sách các quốc gia trong mỗi nhóm được phân chia theo các châu lục

Nghiên cứu đã đi tới kết luận rằng trình độ học vấn, sự tồn tại của một thị trường tài chính và thuộc nền văn hóa Anglo-American là những yếu tố tích cực và gắn kết đáng kể với việc thông qua IAS Tuy nhiên, các nhân tố tăng trưởng kinh tế, kinh tế đối ngoại và sự mở cửa với nền kinh tế bên ngoài hầu như ít ảnh hưởng đến quyết định áp dụng IAS ở các nước này Nghiên cứu đi đến kết luận rằng các nước đang phát triển có trình độ học vấn cao, có thị trường vốn, và thuộc về một nền văn hoá Anglo – American có xu hướng nhanh chóng áp dụng IAS Các quốc gia không thuộc nền văn hóa này có nhiều khó khăn trong việc áp dụng IAS Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp những hiểu biết quan trọng về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS và tạo thuận lợi cho việc áp dụng IAS ở các quốc gia đang phát triển Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu cũng góp phần hữu ích trong việc giúp

Trang 19

Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đưa ra chiến lược để hòa hợp tiêu chuẩn quốc tế của các quốc gia khác nhau

[2] Mohamed Chakib KOLSI Koilsi (2008), The determinants of IAS/IFRS adoption by emergent countries

Nghiên cứu xác định cả các biến số kinh tế vĩ mô và vi mô ảnh hưởng đến quyết định áp dụng IFRS của các nước đang phát triển được tiến hành trên mẫu gồm

74 quốc gia mới nổi (37 áp dụng IFRS và 37 không áp dụng) tính đến năm 2008 Trong đó, các nhân tố kinh tế vĩ mô bao gồm nhân tố văn hóa, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, sự tồn tại của thị trường vốn, hệ thống giáo dục, hoạt động ngoại giao, hệ thống pháp luật, hệ thống chính trị và các nhân tố kinh tế vi mô có ảnh hưởng gồm:

quy mô công ty, mức độ nợ, đòn bẩy, chất lượng kiểm toán,…

Nghiên cứu đã đưa ra các giả thuyết sau:

H1 Các nước đang phát triển có nền văn hoá Anglo-Saxon có khuynh hướng dễ áp dụng IFRS hơn các nước khác

H2 Một quốc gia có mức độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì càng có xu hướng áp dụng IFRS

H3 Khả năng các nước đang phát triển áp dụng IFRS tăng lên cùng với sự tồn tại của một thị trường tài chính

H4 Mức độ phát triển của hệ thống giáo dục của một quốc gia đang phát triển càng cao thì quốc gia đó càng dễ dàng áp dụng IFRS

H5 Những quốc gia tích cực mở cửa nền kinh tế với các nền kinh tế bên ngoài thì càng có xu hướng áp dụng IFRS

H6 Các nước đang phát triển có hệ thống pháp luật theo luật chung có nhiều khả năng áp dụng IFRS hơn các nước không áp dụng luật chung

H7 Các quốc gia có một hệ thống chính trị với mức độ dân chủ càng cao thì càng có xu hướng áp dụng IFRS

H8 Các công ty được niêm yết trên thị trường nước ngoài nhiều hơn thì càng có nhiều điều kiện thuận lợi để áp dụng IFRS

Trang 20

H9 Các công ty có vốn đầu tư lớn hơn có nhiều khả năng áp dụng IFRS hơn

Nghiên cứu hướng tới mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh tế vĩ mô và các yếu tố ở tầm vi mô công ty đối với quyết định áp dụng IFRS của các nước đang phát triển Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hai loại phân tích gồm một tập hợp các phép thử đơn biến và phân tích đa biến và đi đến kết luận các quốc gia lựa chọn áp dụng IFRS phần lớn có nền văn hoá Anglo-Saxon, tỷ

lệ tăng trưởng kinh tế cao, hệ thống giáo dục tiên tiến, hệ thống luật pháp mang tính phổ biến cao và thường được kiểm toán bởi Big Four Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhân tố tỷ lệ đòn bẩy, hệ thống chính trị, thị trường tài chính, hoạt động ngoại giao và tình trạng niêm yết quốc tế dường như không ảnh hưởng đến quyết định áp dụng IFRS của các nước đang phát triển

Kết quả của nghiên cứu góp phần hỗ trợ cho các cơ quan, tổ chức xây dựng chuẩn mực kế toán ở các nước đang phát triển trong quá trình chuyển đổi để hòa hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế khi xác định được các yếu tố trong môi trường tạo thuận lợi cho việc áp dụng IAS/IFRS ở các nước này và giúp các nhà nghiên cứu nắm bắt được đầy đủ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng IFRS

Tuy nhiên nghiên cứu còn một số hạn chế: Thứ nhất, mô hình ước tính bị thiếu dữ liệu và một số biến môi trường Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc áp dụng IFRS và các yếu tố môi trường đòi hỏi nhiều dữ liệu phức tạp trong khi việc thu thập các dữ liệu thường gặp khó khăn do sự thiếu minh bạch về thông tin trong các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển Thứ hai, nghiên cứu có sử dụng tới thông tin trên báo cáo tài chính nhưng do sự khác nhau về chuẩn mực kế toán giữa các quốc gia nên dẫn tới trở ngại trong việc xác định thông tin trong báo cáo tài chính

thường niên của công ty ở các quốc gia khác nhau

[3] Fatma Zehri, Jamel Chouaibi (2013), Adoption determinants of the International Accounting Standards IAS/IFRS by the developing countries

Trang 21

Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến sự lựa chọn áp dụng IAS/IFRS ở các nước đang phát triển bao gồm: văn hóa, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, sự phát triển của thị trường vốn, trình độ học vấn, sự cởi mở với thế giới bên ngoài, hệ thống pháp luật, nhân tố chính trị Các giả thuyết được đặt ra là:

H1 Một quốc gia có nền văn hoá Anglo-Saxon có nhiều khả năng hơn trong việc áp dụng IFRS

H2 Một quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế cao có nhiều khả năng áp dụng IFRS hơn

H3 Một quốc gia có thị trường vốn phát triển có nhiều khả năng áp dụng IFRS

H4: Một quốc gia có trình độ học vấn tiên tiến có nhiều khả năng áp dụng IFRS

H5 Một quốc gia tích cực mở cửa cho nền kinh tế bên ngoài có nhiều khả năng áp dụng IFRS

H6 Một quốc gia có hệ thống pháp luật theo thông luật có khả năng áp dụng IFRS cao hơn

H7 Một quốc gia có môi trường chính trị thuận lợi có nhiều khả năng áp dụng IFRS

Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu dựa vào một mẫu bao gồm 74 quốc gia đang phát triển thuộc cả 4 lục địa Âu, Á, Phi, Mỹ được lựa chọn từ trang web của IAS (www.iasplus.com/country/country.htm) để đánh giá về tình hình áp dụng IFRS 74 quốc gia này được chia thành 2 nhóm: nhóm đầu tiên gồm 37 nước đang phát triển đã thông qua IFRS (có hoặc không có sửa đổi) và nhóm thứ hai bao gồm

37 nước đang phát triển nhưng đến năm 2008 vẫn chưa thông qua IFRS

Các kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy các quốc gia có nhiều thuận lợi nhất để thông qua IFRS là những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, mức học vấn cao và áp dụng một hệ thống pháp luật theo thông luật Các nhân tố khác gồm văn hoá, sự tồn tại của một thị trường vốn, hệ thống chính trị và sự mở cửa với nền kinh tế bên ngoài có ảnh hưởng không đáng kể đến quyết định áp dụng IFRS

Trang 22

Như vậy, nghiên cứu khẳng định việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế ở các nước đang phát triển có liên quan chặt chẽ với hệ thống pháp luật, mức tăng trưởng kinh tế và sự tiến bộ của hệ thống giáo dục ở các nước này Từ đó, nghiên cứu cho rằng có sự tồn tại của một đẳng cấu cưỡng chế trong khả năng áp dụng chuẩn mực

kế toán quốc tế ở các nước đang phát triển Kết quả đạt được của nghiên cứu đã cho thấy sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trong tiến trình hội nhập chuẩn mực kế toán quốc tế ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Nghiên cứu dự đoán rằng phương thức chuyển đổi IFRS ở các nước đang phát triển

có thể sẽ khác với các nước phát triển Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thêm nhiều hiểu biết cho các quốc gia đang phát triển đang mong muốn áp dụng các chuẩn mực

kế toán quốc tế

[4] Chokri Zehri & Asma Abdelbakid (2013), “Does adoption of international accounting standards promote economic growth in developing countries?”, International Open Journal of Economics, Vol 1, No 1, July 2013, PP: 01- 13

Các nghiên cứu trước đây (Larson, 1993, Zeghal và Mhedhbi, 2006, Akra và các cộng sự, 2009) đã phát hiện ra rằng mức tăng trưởng kinh tế là yếu tố quyết định chính cho việc áp dụng các CMKT quốc tế và các yếu tố khác như văn hoá, hệ thống chính trị và sự tồn tại của một thị trường vốn không có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định áp dụng IFRS ở các quốc gia Nghiên cứu này là một phần

Al-mở rộng của nghiên cứu do Zeghal và Mhedhbi (2006) về ảnh hưởng của các nhân

tố đến sự chấp nhận của IAS ở các nước đang phát triển Nghiên cứu nhằm xem xét các kết quả đạt được của Zeghal và Mhedhbi (2006) sau 5 năm nghiên cứu và nắm bắt các nguyên tắc cơ bản đằng sau sự chấp nhận IFRS của các nước đang phát triển cũng như các biến số khác liên quan đến hệ thống pháp lý và môi trường chính trị Các tài liệu kế toán, cả lý thuyết và thực nghiệm, đã liên tục cho thấy tác động của các yếu tố môi trường vào sự phát triển của kế toán CMKT và chính sách kế toán là những sản phẩm xã hội không thể thoát khỏi ảnh hưởng của môi trường thể chế (Belkaoui, 1983) Tiếp nối dòng nghiên cứu về IAS/IFRS (Hove, 1986, Chamisa,

Trang 23

2000, Streets, 2002, Standish, 2003, Zeghalvà Mhedhbi, 2006; Al-Akra và cộng sự, 2009), nghiên cứu đề xuất một mẫu khảo sát gồm 74 quốc gia đang phát triển để xác định các yếu tố quyết định áp dụng IAS/IFRS bao gồm tăng trưởng kinh tế, thị trường chứng khoán, sự cởi mở đối với thế giới bên ngoài, hệ thống giáo dục, văn hoá, hệ thống pháp luật và yếu tố chính trị

Các tác giả xây dựng giả thuyết liên quan đến việc nghiên cứu tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định áp dụng IAS/IFRS ở các nước đang phát triển, bao gồm:

H1: Một nước có nền văn hoá Anh-Saxon có nhiều khả năng áp dụng IFRS H2: Một nước có tăng trưởng kinh tế cao có nhiều khả năng áp dụng IFRS H3: Một nước có thị trường vốn phát triển có nhiều khả năng áp dụng IFRS H4: Một quốc gia có trình độ học vấn tiên tiến có nhiều khả năng áp dụng IFRS

H5: Một quốc gia mở cửa với nền kinh tế bên ngoài có nhiều khả năng áp dụng IFRS

H6: Một nước có hệ thống pháp luật theo luật chung có nhiều khả năng áp dụng IFRS

H7: Một nước có môi trường chính trị thuận lợi có nhiều khả năng áp dụng IFRS

Kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy các nước đang phát triển có nhiều thuận lợi nhất để áp dụng IFRS là những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trình độ học vấn cao và có hệ thống pháp luật theo thông luật Các biến số khác ở trong mô hình như văn hoá, sự tồn tại của một thị trường vốn, hệ thống chính trị và hoạt động quốc tế hầu như không ảnh hưởng đến quyết định áp dụng IFRS Các kết quả này cho thấy quyết định áp dụng CMKT quốc tế có liên quan chặt chẽ đến môi trường thể chế của các nước đang phát triển (Nhất là hệ thống pháp luật) cũng như các dữ liệu kinh tế vĩ mô (Mức tăng trưởng kinh tế, trình độ giáo dục)

[5] LJ Stainbank (2014), Factors Influencing the Adoption of International Financial Reporting Standards by African Countries

Trang 24

Ngân hàng Thế giới (năm 2013) phân loại các nước theo chỉ số tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trên đầu người, về cơ bản các quốc gia có tổng sản phẩm quốc dân thấp hoặc trung bình được phân loại là đang phát triển Theo cách phân loại này, tất cả các quốc gia ở châu Phi có thể được phân loại là các nước đang phát triển (World Bank, 2011)

Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc thông qua IFRS ở các nước châu Phi Kế thừa các nghiên cứu trước, tác giả đã xác định các yếu tố tăng trưởng kinh tế, trình độ học vấn, mức độ mở cửa với thị trường bên ngoài, văn hoá và quy mô phát triển của thị trường vốn Nghiên cứu được tiến hành dựa trên mẫu gồm 32 quốc gia đang phát triển ở châu Phi Nền tảng của mô hình nghiên cứu chủ yếu dựa vào nghiên cứu của Zeghal và Mhedhbi (2006) và dựa vào

mô hình này, các tác giả đi xây dựng các giả thuyết:

H1: Xác suất mà một quốc gia Châu Phi sẽ áp dụng IFRS tăng lên với sự tăng trưởng kinh tế của nước đó

H2: Xác suất mà một nước châu Phi áp dụng IFRS có liên quan tích cực đến trình độ học vấn

H3: Khả năng một quốc gia châu Phi sẽ áp dụng IFRS tăng nếu mức độ mở cửa kinh tế bên ngoài ở nước đó là cao

H4: Khả năng một quốc gia châu Phi sẽ áp dụng IFRS tăng nếu quốc gia đó

có nền tảng tiếng Anh (Anh)

H5: Các nước châu Phi có thị trường với mức độ vốn hóa cao sẽ dễ chấp nhận IFRS hơn

Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi các nước Châu Phi có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn sẽ có nhiều khả năng sẽ áp dụng IFRS Các nướcvới mức vốn hóa thị trường tương đối cao cũng có nhiều khả năng áp dụng IFRS Biến văn hoá là biến số quan trọng nhất, cho thấy các nước châu Phi có quan hệ văn hoá với Anh Quốc có nhiều khả năng chấp nhận IFRS hơn những nước không có quan

hệ văn hoá như vậy

1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

Trang 25

Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia đang phát triển và đang từng bước chuyển mình để hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới Các doanh nghiệp luôn mong muốn cung cấp thông tin BCTC có chất lượng cho các đối tượng

sử dụng nhằm thu hút các nguồn vốn lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài để đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh Nhận thức được tầm quan trọng của việc hài hòa kế toán quốc tế với kế toán quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển, các nhà nghiên cứu trong nước cũng tích cực tham gia vào quá trình nghiên cứu về mảng kế toán quốc tế Ở nước ta, từ năm 1999 đã bắt đầu có những nghiên cứu về các chuẩn mực kế toán quốc tế, các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam cũng như các thách thức, khó khăn của quá trình hội tụ kế toán quốc tế

Để phù hợp với đề tài nghiên cứu về các nhân tố rào cản ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam, tác giả lựa chọn tóm tắt một số nghiên cứu liên quan đến những thách thức, khó khăn mà các các DN gặp phải trong quá trình tiếp cận với IFRS và một số nghiên cứu liên quan trực tiếp đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng IFRS Kết quả đạt được từ các nghiên cứu này giúp tác giả xác định khe hổng nghiên cứu, nhận định các nhân tố có thể kế thừa để phục vụ cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu về các nhân tố rào cản ảnh hưởng đến việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam

[1] Trần Quốc Thịnh (2012), Thách thức của quá trình hội tụ kế toán quốc tế và những kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí kiểm toán số 3/2012

Trong nghiên cứu này, tác giả nhận định rằng quá trình hội tụ kế toán quốc tế

từ chuẩn mực đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách khá xa xuất phát từ sự khác nhau về môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý và yếu tố văn hóa của từng quốc gia Tác giả chỉ ra một số khó khăn trong quá trình hội tụ kế toán ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ như Liên minh châu Âu, Mỹ, Úc, Trung Quốc,

Ở các quốc gia EU, những quan điểm riêng trong hệ thống kế toán khu vực vẫn còn được duy trì mặc dù EU rất tích cực tham gia quá trình xây dựng IAS/IFRS Trên nguyên tắc chung, EU áp dụng nguyên bản IAS/IFRS nhưng thực

tế EU không chấp nhận toàn bộ IAS/IFRS mà phê duyệt từng chuẩn mực để áp

Trang 26

dụng Và sự áp dụng trong thực tiễn ở từng doanh nghiệp trong các quốc gia EU vẫn còn nhiều khác biệt đáng kể

Ở Mỹ, tiến trình hội tụ cũng gặp phải những khó khăn nhất định Thỏa hiệp Norwalk giữa IASB và FASB từ năm 2002 – 2004 đã nhất trí thực hiện nhiều nội dung cơ bản nhằm giảm thiểu những khác biệt giữa US GAAP và IAS/IFRS, tuy nhiên quá trình hội tụ vẫn còn nhiều trở ngại bởi tính pháp lý, sự can thiệp của các

tổ chức thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa…Trong đó, một vấn đề gây trở ngại lớn

đó là hệ thống kế toán của Mỹ trên cơ sở các quy định (rules-based) trong khi IAS/IFRS lại theo cơ sở các nguyên tắc (priciples-based) Bên cạnh đó, hệ thống kế toán của Mỹ áp dụng theo các quy định được hướng dẫn một cách chi tiết trong khi IAS/IFRS hạn chế những hướng dẫn, điều này cũng gây cản trở cho quá trình hội

tụ

Úc là một trong những quốc gia đầu tiên áp dụng IAS/IFRS Quốc gia này đã

có những bước chuẩn bị nhất định cho việc chuyển đổi từ CMKT Úc sang IAS/IFRS từ năm 2002 và đã chính thức chuyển sang áp dụng IAS/IFRS từ ngày 01.01.2005 Trong quá trình áp dụng, CMKT Úc đã được chỉnh sửa sao cho phù hợp với môi trường pháp lý và những đặc điểm riêng biệt của quốc gia

Tại Trung Quốc, Bộ Tài chính bắt đầu thiết lập CMKT từ năm 1988 Trước sức ép của hội nhập kinh tế thế giới, Trung Quốc đã chấp nhận xây dựng hệ thống CMKT mới theo hướng hội tụ kế toán quốc tế trên cơ sở IAS/IFRS gồm 38 CMKT

có hiệu lực từ ngày 1.1.2007 Tuy nhiên, giữa CMKT Trung Quốc và IAS/IFRS có những điểm khác biệt rõ rệt Bộ Tài chính Trung Quốc tuyên bố quốc gia này áp dụng đầy đủ theo IFRS nhưng có một số loại trừ và yêu cầu tất cả các công ty có quy mô lớn và vừa phải áp dụng từ năm 2012

Nghiên cứu khẳng định quá trình hội tụ kế toán quốc tế là một xu thế tích cực tuy nhiên khoảng cách từ lý luận tới thực tiễn vẫn còn khá xa vì phương pháp tiếp cận chuẩn mực kế toán quốc tế cũng như môi trường áp dụng ở từng quốc gia là hoàn toàn khác nhau

Trang 27

Liên hệ tới Việt Nam, hệ thống kế toán Việt Nam chịu tác động bởi môi trường kinh doanh, môi trường pháp lý và môi trường văn hóa Về môi trường kinh doanh, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhìn chung, thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây có những biến chuyển tích cực, đặc biệt là sự tiến triển của thị trường chứng khoán Đối với môi trường pháp lý, Nhà nước giữ vai trò quyết định trong hệ thống kế toán quốc gia Thêm nữa, hệ thống kế toán còn bị chi phối bởi các qui định của thuế Bên cạnh đó, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) đã hình thành

và hoạt động từ những năm 1994, nhưng không có vai trò lập quy, mức độ ảnh hưởng đến hệ thống kế toán quốc gia còn hạn chế Về môi trường văn hóa, sự tác động của văn hóa đến hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu chính thống Tuy nhiên về cơ bản, Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của nền văn hóa Á Đông, bản chất thận trọng được đề cao, nhấn mạnh đến sự tuân thủ các quy định, hạn chế những vấn đề mang tính xét đoán

Như vậy có thể thấy hệ thống kế toán Việt Nam mang những đặc điểm cơ bản: có quy định thống nhất về chứng từ, sổ kế toán, tài khoản và các BCTC; chịu ảnh hưởng của các quy định về thuế; ghi nhận tài sản theo giá gốc, thiếu các xét đoán theo giá hợp lý; mức độ trình bày và công bố thông tin trên BCTC còn hạn chế

và mang tính bảo thủ; hệ thống kế toán Việt Nam do Nhà nước giữ vai trò quyết định, chi phối và còn chịu ảnh hưởng bởi các qui định của thuế Do đó, việc áp dụng IAS/IFRS đối với hệ thống kế toán Việt Nam cần có lộ trình từng bước cụ thể

[2] Nguyễn Thị Thu Phương (2014), Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Trong nghiên cứu này, tác giả đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS ở Việt Nam bao gồm: nhân tố văn hóa, nhân tố kinh tế, nhân tố thị trường vốn, trình độ học vấn, hội nhập kinh tế thế giới, hệ thống pháp luật, nhân tố chính trị và xây dựng mô hình nghiên cứu với biến phụ thuộc là “Áp dụng IFRS” và

Trang 28

các biến độc lập chính là các nhân tố đã xác định Tác giả đã tiến hành khảo sát với

cỡ mẫu là 150, các đối tượng khảo sát là các giảng viên, chuyên gia kế toán – tài chính, nhân viên kế toán, kiểm toán Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp các phương pháp định lượng là thống kê mô tả, phân tích tương quan

và hồi quy đa biến

Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố trình độ học vấn, tăng trưởng kinh

tế, thị trường vốn, hệ thống pháp luật đều có tác động đối với việc áp dụng IFRS tại Việt Nam Các nhân tố còn lại là văn hóa, hội nhập kinh tế thế giới và hệ thống chính trị hầu như không tác động đến quyết định áp dụng IFRS tại Việt Nam

[3] Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán (2016), Phát triển và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về chuẩn mực BCTC tại Việt Nam

Trong giai đoạn hiện nay, do sức ép từ cải cách thể chế cũng như sức ép từ nền kinh tế, việc áp dụng VAS cho các DN bộc lộ nhiều hạn chế, cần nhanh chóng

có sự đổi mới để hòa nhập với hệ thống Chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS Áp dụng IFRS mang lại nhiều lợi ích, giúp cải thiện chất lượng BCTC, tăng cường tính minh bạch, khả năng so sánh và cung cấp thông tin cho người sử dụng trong quá trình ra quyết định, thu hút vốn đầu tư,

Tuy nhiên, việc áp dụng IFRS còn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Thách thức lớn nhất chính là về nguồn nhân lực, hầu như các trường đại học chưa trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản về IFRS, đội ngũ kế toán viên ở các

DN cũng chưa được đào tạo về IFRS nên thiếu sự sẵn sàng tiếp nhận IFRS, nhiều

DN có tâm lý ngại thay đổi Bên cạnh đó, vì IFRS yêu cầu một số kỹ thuật phức tạp,

về cơ bản chỉ phù hợp với các DN có quy mô lớn còn các DN khác có thể không đủ nguồn lực cần thiết và thiếu thời gian chuẩn bị Thị trường tài chính ở nước ta còn non trẻ chưa đủ tiềm lực để cung cấp thông tin về giá trị hợp lý một cách đáng tin cậy Bên cạnh đó, nền kinh tế còn chịu ảnh hưởng lớn từ các DN nhà nước mà các

DN này lại khó đáp ứng được yêu cầu của IFRS vì tâm lý lo ngại về sự minh bạch

về sức khỏe tài chính Ngoài ra, sự khác biệt về ngôn ngữ cũng là một vấn đề gây trở ngại cho việc áp dụng IFRS tại Việt Nam vì IFRS sử dụng ngôn ngữ là tiếng

Trang 29

Anh, việc chuyển tải nội dung của IFRS sang tiếng Việt là không dễ dàng vì có nhiều thuật ngữ chuyên ngành chưa có từ tiếng Việt tương đương và trình độ ngoại ngữ của đội ngũ các nhà soạn thảo CMKT vẫn còn hạn chế

Sau khi tóm tắt những lợi ích cũng như khó khăn và thách thức khi áp dụng IFRS, Bộ Tài chính đã vạch ra định hướng sơ lược về lộ trình sửa đổi, bổ sung, cập nhật VAS theo IFRS và lộ trình áp dụng IFRS, các biện pháp thực hiện, trước mắt trong giai đoạn 2017 – 2018 sẽ lựa chọn một số DN áp dụng thí điểm IFRS

[4] Th.S Dương Hoàng Ngọc Khuê – Nguyễn Thị Ngọc Oanh (2016): Nghiên cứu nhân tố tác động đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS)

Nghiên cứu xác định có năm nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng IFRS bao gồm: nhân tố văn hóa, nhân tố pháp lý, nhân tố tăng trưởng kinh tế, nhân tố trình độ giáo dục và nhân tố thị trường vốn

Nghiên cứu đã tổng kết lại một số nghiên cứu trước về ảnh hưởng của các nhân tố và nhận định rẳng văn hóa là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự lựa chọn hệ thống kế toán của mỗi quốc gia (Hofsted (1980), Zeff (1998), Nobes (1998), Zeghal và Mhedhbi (2006), )

Nghiên cứu chỉ ra các quốc gia căn cứ vào hệ thống pháp lý dựa trên thông luật có sự khác biệt đáng kể trong việc hình thành các văn bản quy định pháp lý về

kế toán so với các quốc gia theo hệ thống pháp lý dựa trên điển luật Do đó mà dẫn tới sự khác nhau về chuẩn mực kế toán giữa các quốc gia Nổi bật là hệ thống pháp

lý của các nước Anglo-Saxon với đại diện là Hoa Kỳ đã có sự phát triển mạnh mẽ

về kế toán và góp phần đáng kể vào quá trình hài hòa kế toán quốc tế

Nhân tố tăng trưởng kinh tế tạo ra động lực cho các quốc gia để áp dụng IFRS Nghiên cứu cũng cho biết để có thể áp dụng được IFRS thì đòi hỏi các cá nhân phải có kiến thức sâu rộng về kế toán và hiểu biết đa dạng ở nhiều lĩnh vực khác có liên quan và các nước có thị trường tài chính mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài thì có nhiều khả năng áp dụng IFRS

Trang 30

Nghiên cứu đã đi tới kết luận việc áp dụng IFRS tại Việt Nam là một xu thế tất yếu nhưng cần có sự đánh giá đúng đắn tình hình thực tế và đưa ra lộ trình thích hợp Quá trình áp dụng IAS/IFRS tại Việt Nam và các quốc gia đang phát triển sẽ còn gặp nhiều khó khăn bởi vấn đề kinh tế, trình độ giáo dục, sự thiếu phù hợp về văn hóa và thị trường chưa đủ phát triển để có thể áp dụng một số yêu cầu của IFRS như giá trị hợp lý, cơ sở dồn tích,

[5] TS Trần Quốc Thịnh (2016), Những nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán của các quốc gia

Bài viết đã tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan và nhận định có bốn nhân tố cơ bản tác động đến việc áp dụng IFRS ở các quốc gia bao gồm: Nhân tố kinh tế, nhân tố pháp lý, nhân tố chính trị và nhân tố văn hóa

Nghiên cứu cho rằng sự phát triển của nền kinh tế có quan hệ tới kế toán Một nền kinh tế phát triển đòi hỏi công cụ kế toán hữu hiệu để đáp ứng với nhu cầu của người sử dụng thông tin và sử dụng vốn hiệu quả (Enthoven, 1965) Hệ thống

kế toán phát triển theo định hướng phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế quốc gia Yếu tố kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển đồng bộ của nền kinh tế và từ

đó ảnh hưởng đến chiến lược áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế Một nền kinh tế

có thị trường vốn phát triển, cấu trúc doanh nghiệp đa dạng sẽ thuận lợi cho việc áp dụng các CMKT quốc tế

Hệ thống pháp luật là một yếu tố tác động lớn đến hệ thống kế toán Các quốc gia thuộc nhóm thông luật thường chú trọng tới tính linh hoạt và ít ban hành các quy định chi tiết, ngược với các quốc gia điển luật thường ban hành các quy định chi tiết và có tính bắt buộc cao Việc áp dụng các CMKT quốc tế thường thiên

về tính xét đoán, được xem xét dựa trên cơ sở các nguyên tắc (Principles – Based) hơn là cơ sở các quy định (Rules – Based) Do đó các quốc gia thông luật như Anh,

Mỹ, Úc có xu hướng áp dụng dễ dàng hơn so với các quốc gia điển luật như Pháp, Đức

Yếu tố chính trị được xem là có tác động mạnh trong việc áp dụng CMKT quốc tế vì nó ảnh hưởng đến định hướng và chiến lược phát triển của mỗi quốc gia

Trang 31

trong quá trình hội nhập quốc tế Những quốc gia chủ động, tích cực hội nhập có xu hướng áp dụng nhanh hơn so với các quốc gia thận trọng trong quá trình xác định đường lối Bài viết cũng xác định rằng các quốc gia có tiềm lực vốn lớn sẽ có sức ảnh hưởng và chi phối nhiều hơn trong việc áp dụng

Nghiên cứu cho rằng các quốc gia có khuynh hướng thận trọng, né tránh những điều chưa chắc chắn, kiểm soát theo luật định sẽ do dự trong việc áp dụng ngay các CMKT quốc tế mà thường sẽ thực hiện theo lộ trình Ngược lại các quốc gia có tính linh hoạt, yêu cầu cao về tính minh bạch của thông tin, có sự phát triển mạnh về nghề nghiệp kế toán, thì sẽ có xu hướng thích nghi nhanh và dễ dàng áp dụng hơn

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhân tố nêu trên có ảnh hưởng tới việc ban hành các chuẩn mực kế toán Việt Nam và quá trình hội tụ với kế toán quốc tế

[6] TS Phan Thị Hồng Đức, ThS Nguyễn Thanh Hà, ThS Nguyễn Thị Phước (2016), Thay chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) bằng chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS): Liệu Việt Nam có sẵn sàng?

Trong nghiên cứu này, tác giả đi sâu vào làm rõ những lợi ích và bất lợi cũng như các thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi tiếp nhận IFRS, sự sẵn sàng tiếp nhận IFRS của giới hành nghề kế toán tại Việt Nam và sự nhận định của giới học thuật cũng như những người hành nghề kế toán về việc Việt Nam tiếp nhận IFRS Đây là một trong số ít các nghiên cứu thực hiện khảo sát toàn diện nhận thức của các kế toán viên Việt Nam về lợi ích, rủi ro, chi phí và thách thức khi áp dụng IFRS tại Việt Nam Số lượng đối tượng được khảo sát là 3000, bao gồm các kiểm toán viên, kế toán viên và các chuyên gia trong giới học thuật

Kết quả khảo sát cho thấy 80% người trả lời cho rằng BCTC lập theo IFRS thì đáng tin cậy hơn, cung cấp được các thông tin liên quan mà các thông tin này có thể so sánh được và nhìn chung kế toán viên Việt Nam có xu hướng ủng hộ việc tiếp nhận IFRS Bên cạnh đó, có nhiều đối tượng được khảo sát cho rằng khi áp dụng IFRS thì sẽ gặp phải một số bất lợi như IFRS quá phức tạp, khó hiểu vì khác ngôn ngữ, chi phí cao hơn lợi ích mang lại,….trong đó có tới 78% người trả lời thừa

Trang 32

nhận bất lợi lớn nhất chính là sự phức tạp của IFRS, để nắm vững được nội dung của IFRS là không hề đơn giản Có nhiều người tin rằng IFRS hướng tới đối tượng chủ yếu là các nhà đầu tư, trong khi hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành lại tập trung vào thuế nhiều hơn, điều này ảnh hưởng đến việc ghi nhận cũng như yêu cầu công bố thông tin của IFRS và VAS IFRS chỉ đưa ra các xét đoán nghề nghiệp và các khái niệm dựa trên nguyên tắc chung, điều này gây khó khăn cho các kế toán viên Việt Nam vì CMKT Việt Nam xây dựng dựa trên các quy định cụ thể Điều này đòi hỏi các kế toán viên phải nâng cao kỹ năng xét đoán và giải quyết công việc linh hoạt mới có thể sử dụng được IFRS

Phần lớn người được hỏi đều đồng ý rằng Việt Nam khi tiếp nhận IFRS phải đối mặt với nhiều thách thức như: Thiếu thời gian để chuyển đổi IFRS từ tiếng Anh sang tiếng Việt, cần đào tạo thêm cho nhân viên, thiếu hướng dẫn đầy đủ về IFRS, chương trình giáo dục đại học ở Việt Nam chưa tập trung nhiều vào IFRS, cần cập nhật các quy trình kế toán, kiểm toán, phần mềm,…Và kết quả khảo sát cũng cho thấy những công ty tự nguyện làm theo IFRS chủ yếu là các công ty niêm yết hoặc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, chỉ một số ít các công ty là doanh nghiệp nhỏ

và vừa Các nguyên nhân chủ yếu là do áp dụng IFRS tốn thời gian, chi phí lớn hơn lợi ích, IFRS phức tạp và Việt Nam không có yêu cầu áp dụng, DN chưa sẵn sàng

áp dụng,…

Theo kết quả khảo sát, mặc dù phần lớn các đối tượng khảo sát trong nhóm các kế toán viên đều ủng hộ việc tiếp nhận IFRS nhưng vẫn còn khá dè dặt do đã quen với tư duy thực hiện công việc theo các hướng dẫn bắt buộc, cụ thể, chi tiết trong khi IFRS chỉ đề cập tới các nguyên tắc chung và đòi hỏi tính xét đoán cao

Như vậy, kết quả nghiên cứu đã đưa ra định hướng về xây dựng chương trình đào tạo IFRS, cung cấp thêm nhân sự am hiểu IFRS cho các DN trên toàn quốc và cần có sự hỗ trợ của các tổ chức kế toán quốc tế nhằm giải quyết các thách thức đặt

ra trong quá trình các DN Việt Nam tiếp nhận IFRS

[7] Lê Vũ Trường, Đinh Minh Tuấn (2016), Áp dụng IFRS ở Việt Nam,

cơ hội và thách thức

Trang 33

Bài viết đề cập đến các cơ hội và thách thức đồng thời đưa ra một số kiến nghị về việc áp dung IFRS tại Việt Nam Tác giả cho rằng đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi lựa chọn áp dụng IFRS sẽ thúc đẩy việc thu hút vốn đầu tư , mở rộng các cơ hội hợp tác kinh doanh, hội nhập quốc tế Bên cạnh đó, áp dụng IFRS tạo cơ hội nâng cao chất lượng quản trị và thông tin, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và phản ánh hợp lý hơn giá trị doanh nghiệp Tuy vậy, việc áp dụng IFRS cho các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với không ít thách thức Thứ nhất là khó khăn trong sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán, vì IFRS đề cập rất nhiều tới giá trị hợp lý trong khi kế toán Việt Nam chủ yếu chỉ sử dụng giá trị hợp lý trong việc ghi nhận ban đầu như xác định giá phí hợp nhất kinh doanh, doanh thu, trao đổi TSCĐ, Việc áp dụng giá trị hợp lý ở nước ta chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất về phương pháp xác định, cách thức trình bày và hạch toán giá trị hợp lý trong kế toán Chi phí và chất lượng thẩm định giá cũng là vấn đề đáng quan tâm trong quá trình triển khai IFRS tại các doanh nghiệp

Thách thức thứ hai đối với quá trình áp dụng IFRS tại Việt Nam là năng lực của đội ngũ kế toán, người sử dụng báo cáo tài chính và các cơ quan quản lý IFRS tương đối phức tạp và khó hiểu đối với người sử dụng trong khi đội ngũ kế toán tại các DN hầu như chưa được đào tạo và tiếp cận chính quy với IFRS Việc lập BCTC theo IFRS đòi hỏi phải áp dụng đúng các phương pháp, các nguyên tắc, yêu cầu và theo dõi, ghi chép thông tin một cách chi tiết hơn, đòi hỏi người làm kế toán cũng cần phải có hiểu biết sâu sắc về doanh nghiệp

Bên cạnh đó, việc áp dụng IFRS yêu cầu các DN phải có một hệ thống công nghệ thông tin đủ mạnh để hỗ trợ việc thu thập, xử lý và trình bày thông tin tài chính cả bên trong và bên ngoài DN Ngoài ra, rào cản về ngôn ngữ cũng là một thách thức đối với Việt Nam vì IFRS được soạn thảo bằng tiếng Anh, do đó việc đọc hiểu IFRS đối với nhiều cán bộ kế toán là không dễ dàng, đặc biệt là IFRS có nhiều thuật ngữ phức tạp, mang tính chất chuyên ngành và chưa có từ tiếng Việt tương đương trong lĩnh vực kế toán

Trang 34

Ngoài ra, việc lập BCTC ở các DN Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ các quy định về thuế Thậm chí có nhiều DN vẫn còn quan niệm rằng việc lập BCTC là để phục vụ cho cơ quan thuế

Những thách thức trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình áp dụng IFRS, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị liên quan đến việc ban hành khung pháp lý về giá trị hợp lý, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có trình độ về IFRS, bổ sung thêm các CMKT về công cụ tài chính nhằm tạo thuận lợi cho việc áp dụng IFRS tại Việt Nam

[8] Th.S Trần Thị Hồng Vân, Th.S Phùng Thị Hiền (2016), Áp dụng IFRS tại Việt Nam – Những thách thức

Bài viết đề cập tới những thách thức đối với Việt Nam khi triển khai áp dụng IFRS bao gồm: Năng lực nguồn nhân sự, hạ tầng cơ sở thông tin, cơ chế chính sách chưa hoàn thiện, vấn đề nội tại của IFRS, chương trình đào tạo, thị trường hoạt động, rào cản ngôn ngữ, chi phí cho việc áp dụng IFRS, Nội dung của IFRS là rất phức tạp và đòi hỏi đội ngũ kế toán viên cần phải có trình độ cao mới có thể đọc hiểu và áp dụng được Đại đa số các DN Việt Nam là các DN nhỏ và vừa, công việc

kế toán còn mang tính thủ công nhiều, hệ thống kết nối thông tin còn chưa mạnh để phục vụ cho việc cập nhật thông tin kịp thời và đầy đủ Cơ chế chính sách và hành lang pháp lý của nước ta còn chưa thông thoáng, chưa khuyến khích được các DN

áp dụng IFRS Nhiều chuẩn mực trong IFRS hướng tới việc ghi nhận giá trị hợp lý trong khi kế toán Việt Nam đang ghi nhận theo giá gốc Các cơ sở đào tạo ở Việt Nam hiện chưa có chương trình đào tạo về IFRS một cách hệ thống Bên cạnh đó,

sự khác biệt về văn hóa – rào cản ngôn ngữ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá trình áp dụng IFRS Thêm vào đó, đối với nhiều DN, việc đầu tư vào hệ thống kế toán IFRS khá tốn kém, bao gồm chi phí đào tạo nhân viên, chi phí nâng cấp công nghệ,

Từ các thách thức trên, tác giả bài viết đã đề xuất một số kiến nghị như DN cần xây dựng đội ngũ kế toán có năng lực và trình độ, chuẩn bị hạ tầng cơ sở thông

Trang 35

tin có chất lượng cao hơn, hoàn thiện các cơ chế chính sách và mở rộng chương trình đào tạo về IFRS, nhằm góp phần đẩy nhanh lộ trình áp dụng IFRS

1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước, xác định khe hổng và vấn đề nghiên cứu

Nhìn chung nội dung các công trình nghiên cứu mà tác giả tìm được chủ yếu liên quan đến vấn đề áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/ IFRS ở các quốc gia đang phát triển vì các quốc gia này có sự gần gũi với Việt Nam cũng là một nền kinh tế đang phát triển Những nghiên cứu này đi vào phân tích một số nhân tố tác động đến quá trình áp dụng IAS/IFRS ở một nhóm các quốc gia đang phát triển, đã

áp dụng hoặc chưa áp dụng CMKT quốc tế để xác định các nhân tố và đo lường mức độ ảnh hưởng của chúng

Các tác giả Daniel Zeghal và Karim Mhedhbi (2006) khi nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc vận dụng chuẩn mực quốc tế ở các nước đang phát triển

đã khảo sát trên một phạm vi rất rộng gồm 64 quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển Tác giả Mohamed Chakib Koilsi (2008) xây dựng mẫu nghiên cứu bao gồm 74 quốc gia là 74 nền kinh tế mới nổi, bao gồm 37 quốc gia đã áp dụng IFRS

và 37 quốc gia chưa áp dụng IFRS tính đến năm 2008 Các tác giả Fatma Zehri và Jamel Chouaibi (2013) cũng đã tiến hành nghiên cứu của mình dựa trên một mẫu bao gồm 74 quốc gia đang phát triển ở cả 4 châu lục Á, Âu, Mỹ, Phi Kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy có những nhân tố ảnh hưởng đáng

kể và có những nhân tố hầu như không ảnh hưởng tới việc vận dụng IAS/IFRS ở các quốc gia đang phát triển Các công trình nghiên cứu này thực sự công phu, là các công trình nghiên cứu điển hình và có giá trị tham khảo cho nhiều nghiên cứu sau này vì độ tin cậy rất cao của kết quả nghiên cứu đạt được

Mặc dù các nghiên cứu này có những điểm không phù hợp với đặc thù kinh

tế - chính trị - văn hóa - xã hội ở Việt Nam nhưng kết quả của những nghiên cứu này có đóng góp hết sức quan trọng đối với đề tài của tác giả Các nhân tố, đặc điểm của các nhân tố cũng như chiều hướng ảnh hưởng, mô hình và giả thuyết nghiên cứu mà các tác giả nước ngoài đã xây dựng được tác giả kế thừa, làm nền tảng để

Trang 36

tác giả xác định các nhân tố rào cản cũng như xây dựng mô hình và giả thuyết cho nghiên cứu của mình

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển thuộc châu Á, đứng trước xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, với mong muốn mang lại lợi ích cho các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính và nâng cao tính minh bạch của thông tin, trong điều kiện nền kinh tế đang tăng cường mở cửa, giao lưu hợp tác và mong muốn thu hút đầu tư nước ngoài, việc áp dụng IFRS là một tất yếu không thế

né tránh Các nhà nghiên cứu ở nước ta cũng đã đi vào lĩnh vực tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng tới áp dụng IFRS cũng như những khó khăn và thách thức của

DN Việt Nam khi tiếp nhận IFRS Phần lớn nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu định tính, chỉ có nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Phương (2014) đã đi vào xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam, phân tích thống kê mô tả, kiểm định EFA và phân tích hồi quy, tuy nhiên kết quả nghiên cứu mới chỉ đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố nói chung Như vậy, về cơ bản kết quả của các nghiên cứu trong nước mới chỉ xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố, bao gồm cả những nhân tố ảnh hưởng và những nhân tố hầu như ảnh hưởng không đáng kể tới việc vận dụng IFRS ở Việt Nam, các nghiên cứu về khó khăn và thách thức thì mới chỉ dừng lại ở phán đoán mang tính định tính, chủ quan, chưa khái quát được thành các nhân tố cụ thể mang tính chất rào cản đối với việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam

Tóm lại, các nghiên cứu trước trong nước chưa có nghiên cứu nào tập trung

đi sâu vào phân tích các nhân tố mang tính cản trở đối với việc áp dụng IFRS tại Việt Nam, do đó, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu về các nhân tố có tính chất rào cản để đánh giá rõ nét hơn về ảnh hưởng của chúng đối với việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam với hy vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp để nhanh chóng đưa kế toán nước ta hội tụ với IFRS

Trang 37

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Luận văn hướng tới việc xác định được các nhân tố có tính chất rào cản và

đo lường ảnh hưởng của chúng tới việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong chương này, tác giả đã tóm tắt kết quả đạt được của một

số công trình nghiên cứu có liên quan ở trong và ngoài nước, xác định khe hổng nghiên cứu từ đó kế thừa các nhân tố mang tính chất rào cản để làm cơ sở cho quá trình thiết kế nghiên cứu sẽ được đề cập ở chương 3 của luận văn

Trang 38

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về IFRS

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển IFRS

Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm các IAS và IFRS được Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) ban hành và nhiều lần điều chỉnh, cập nhật

và thay thế Để giúp cho các doanh nghiệp, các tổ chức ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới có thể cùng thống nhất áp dụng các nguyên tắc kế toán trong việc lập

và trình bày BCTC thì việc áp dụng IFRS là vô cùng quan trọng và cần thiết Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đang tiến dần đến xu hướng hội tụ IFRS

Bộ chuẩn mực kế toán quốc tế được Uỷ ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) xây dựng và phát triển từ những năm đầu của thập kỷ 70 cho đến năm 2000

Sự hình thành IASC xuất phát từ đề nghị của ba nước Anh và xứ Wales, Hoa Kỳ và Canada về việc thành lập một nhóm nghiên cứu quốc tế về kế toán bao gồm các thành viên là Viện kế toán viên công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW – Institute

of Chartered Accountants of England and Wales), Viện kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA – American Institute of Certified Public Accountants), Viện kế toán viên công chứng Canada (CICA – Canadian Institute of Chartered Accountants) Tháng 6 năm 1973, sau nhiều nỗ lực của các tổ chức nghề nghiệp kế toán trên thế giới, IASC thành lập với mục đích xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới và mong muốn mang tới nhiều lợi ích cho các đối tượng sử dụng Các quốc gia sáng lập IASC gồm: Australia, Canada, Đức, Nhật bản, Hoa Kỳ, Anh, Ireland, Pháp, Mexico và Hà Lan Vào thời điểm thành lập, các tổ chức nghề nghiệp kế toán của các nước này cũng đồng thời tham gia trong Ban điều hành IASC Từ năm 1973 đến năm 2000, IASC

đã cho ra đời nhiều chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới Năm 2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) được thành lập, dựa trên nền tảng của IASC, nhưng với một cơ cấu tổ chức chặt chẽ

và độc lập hơn IASB ra đời với mục tiêu hình thành nên một hệ thống chuẩn mực

Trang 39

kế toán có chất lượng cao, yêu cầu thông tin trên BCTC phải rõ ràng, dễ hiểu và có thể so sánh được nhằm phục vụ lợi ích cho các đối tượng tham gia vào các thị trường vốn khác nhau trên thế giới và các đối tượng khác sử dụng thông tin trên BCTC để ra các quyết định kinh tế Từ năm 2001 đến nay, cơ quan này đã sửa đổi,

bổ sung một số chuẩn mực kế toán quốc tế và đưa ra kiến nghị thay thế một số IAS bằng các IFRS, đồng thời ban hành một số IFRS cho một số vấn đề chưa được đề cập đến trong IAS cho phù hợp với tình hình mới trong điều kiện những biến động của môi trường kinh tế, tài chính trên toàn cầu ảnh hưởng ngày càng sâu rộng tới hoạt động của các doanh nghiệp Bộ chuẩn mực mới được hoàn thiện dần dần cho đến năm 2005, khi Nghị viện khối Liên minh Châu Âu chỉ định IFRS là CMKT cho các công ty cổ phần trong các nước khối Liên minh Châu Âu và đã được chấp nhận trên toàn thế giới Tính đến thời điểm hiện nay, ISAB đã xây dựng 44 IAS/IFRS (bao gồm cả IFRS cho các DN vừa và nhỏ) trong đó có 27 IAS và 17 IFRS

 Giai đoạn chuẩn bị hội tụ kế toán quốc tế (1973-2000)

Trong 15 năm đầu tiên (1973-1987), IASC ban hành 26 chuẩn mực kế toán

và không có ảnh hưởng đáng kể đến các CMKT quốc gia (Zeff, 2012) Năm 1987,

Tổ chức quốc tế của các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán (IOSCO) đề xuất đổi mới các chuẩn mực của IASC để IASC có được sự hỗ trợ của tổ chức này trong việc hoàn chỉnh nội dung của các chuẩn mực trên một số khía cạnh

Từ năm 1988 đến 1997, theo yêu cầu của IOSCO và nhu cầu phát triển của thị trường vốn quốc tế đòi hỏi chất lượng của các chuẩn mực kế toán quốc tế cũng phải được nâng cao hơn Năm 1995, Liên minh châu Âu (EU) đã xem xét sử dụng CMKT quốc tế làm định hướng chiến lược cho sự phát triển của quá trình hội nhập

kế toán quốc tế (Ủy ban châu Âu, 1995) IASC tiếp tục phát huy vai trò trong ban hành các CMKT quốc tế tiếp theo Năm 1997, IASC thành lập nhóm công tác chiến lược để soạn thảo các chuẩn mực kế toán mới Năm 1999, nhóm công tác chiến lược đã công bố một báo cáo trong đó đề xuất cải cách cơ cấu tổ chức và các hoạt động, nhằm mục đích phát triển hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế có chất lượng,

Trang 40

phục vụ cho thị trường trường và đẩy nhanh quá trình hội tụ kế toán toàn cầu giữa các CMKT quốc gia và CMKT quốc tế (IASC, 1999)

Đến cuối năm 2000, IASC có 156 thành viên là các tổ chức chuyên nghiệp đến từ 114 quốc gia Trong thời gian trên, IASC ban hành các khuôn mẫu lý thuyết

kế toán và 41 chuẩn mực kế toán quốc tế, bao gồm 31 tiêu chuẩn có hiệu lực cho đến cuối năm 2000 IASC cũng hoàn tất một thỏa thuận với IOSCO cho kết quả như năm 2000, Ủy ban kỹ thuật của IOSCO khuyến cáo rằng chính quyền của thị trường vốn trong nước cho phép các công ty nước ngoài được lựa chọn chuẩn mực kế toán quốc tế thay vì chuẩn mực kế toán quốc gia (Doupnik & Perera, 2007) Như vậy trong giai đoạn từ 1973 – 2000, IASC đã đạt được những thành công nhất định để tạo tiền đề cho quá trình hội tụ kế toán tiếp theo

 Giai đoạn hội tụ kế toán quốc tế (từ năm 2001 đến nay)

Năm 2001, IASB mới được thành lập thay thế IASC đảm nhận chức năng ban hành các chuẩn mực kế toán quốc tế Mục tiêu hoạt động của IASB là hình thành một tập hợp các chuẩn mực báo cáo tài chính trên toàn thế giới, cung cấp thông tin tài chính có chất lượng cao cho các nhà đầu tư trên thị trường vốn cũng như các bên liên quan đến việc ra quyết định kinh tế, đồng thời thúc đẩy quá trình hội tụ kế toán quốc gia và kế toán quốc tế (IASC Foundation, 2010)

IASB một mặt tiếp tục duy trì các tiêu chuẩn kế toán quốc tế có hiệu lực, một mặt tích cực ban hành các chuẩn mực mới về BCTC quốc tế Trong hơn mười năm,

có 14 IFRS đã được ban hành và một số IAS được sửa đổi, bổ sung Từ năm 2005, tất cả các thị trường vốn EU phải áp dụng IFRS để lập BCTC, tiếp đến là thị trường Canada (2011), Hàn Quốc (2011), Nga (2012) và Mexico (2012) Hoa Kỳ đã cho phép các công ty nước ngoài niêm yết tại nước này sử dụng các IFRS mà không điều chỉnh từ 1/1/2008

Như vậy, quá trình hội tụ của kế toán quốc tế phải trải qua nhiều bước thăng trầm, từ giai đoạn định hình đến sửa đổi, bổ sung để hướng tới xây dựng một hệ thống kế toán toàn cầu có chất lượng cao, phục vụ cho thị trường vốn quốc tế và thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn thế giới

Ngày đăng: 05/06/2021, 17:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w