1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh​

136 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (11)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (12)
  • 3. Câu hỏi nghiên cứu (12)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
    • 4.1. Đối tượng nghiên cứu (12)
    • 4.2. Phạm vi nghiên cứu (13)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (13)
    • 5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu (13)
    • 5.2. Phương pháp xử lý số liệu (13)
  • 6. Đóng góp thực tiễn của đề tài (13)
  • 7. Kết cấu của đề tài (14)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.1. Giới thiệu (15)
    • 1.2. Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài (15)
      • 1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới (15)
      • 1.2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam (22)
    • 1.3. Xác định khe hổng nghiên cứu (25)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP (27)
    • 2.1. Khái quát về công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (27)
      • 2.1.1.2. Nhận thức về trách nhiệm xã hội ở Việt Nam (29)
      • 2.1.2. Công bố thông tin trách nhiệm xã hội (31)
        • 2.1.2.1. Khái niệm (31)
        • 2.1.2.2. Tầm quan trọng của công bố thông tin trách nhiệm xã hội (32)
      • 2.1.3. Các lý thuyết cơ bản về công bố thông tin trách nhiệm xã hội (32)
        • 2.1.3.1. Lý thuyết đại diện (Agency Theory) (33)
        • 2.1.3.2. Lý thuyết chi phí chính trị (Political Cost Theory) (34)
        • 2.1.3.3. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) (34)
        • 2.1.3.4. Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) (36)
      • 2.1.4. Quy định công bố thông tin về trách nhiệm xã hội ở Việt Nam (38)
    • 2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (41)
      • 2.2.1. Nhân tố về quản trị doanh nghiệp (41)
        • 2.2.1.1. Quy mô hội đồng quản trị (41)
        • 2.2.1.2. Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập (41)
        • 2.2.1.3. Tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị (42)
      • 2.2.2. Nhân tố về cấu trúc sở hữu doanh nghiệp (43)
        • 2.2.2.1. Sở hữu nhà nước (43)
        • 2.2.2.2. Sở hữu nước ngoài (43)
      • 2.2.3. Nhân tố về đặc điểm doanh nghiệp (44)
        • 2.2.3.1. Quy mô doanh nghiệp (44)
        • 2.2.3.2. Tuổi doanh nghiệp (45)
      • 2.2.4. Nhân tố về tài chính doanh nghiệp (46)
        • 2.2.4.1. Tỷ suất sinh lời (46)
        • 2.2.4.2. Đòn bẩy tài chính (46)
    • 3.1. Khung nghiên cứu (48)
    • 3.2. Quy trình nghiên cứu (48)
    • 3.3. Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu (49)
      • 3.3.1. Quy mô hội đồng quản trị (49)
      • 3.3.2. Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập (50)
      • 3.3.3. Tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị (50)
      • 3.3.4. Sở hữu nhà nước (51)
      • 3.3.5. Sở hữu nước ngoài (51)
      • 3.3.6. Quy mô doanh nghiệp (52)
      • 3.3.7. Tuổi doanh nghiệp (53)
      • 3.3.8. Tỷ suất sinh lời (53)
      • 3.3.9. Đòn bẩy tài chính (54)
    • 3.4. Đo lường các chỉ tiêu nghiên cứu (54)
      • 3.4.1. Biến phụ thuộc (54)
      • 3.4.2. Biến độc lập (56)
    • 3.5. Dữ liệu nghiên cứu (58)
    • 3.6. Mô hình nghiên cứu (59)
    • 3.7. Thực hiện nghiên cứu (60)
      • 3.7.1. Phân tích thống kê mô tả (60)
      • 3.7.2. Phân tích tương quan (60)
      • 3.7.3. Phân tích hồi quy (60)
      • 3.7.4. Kiểm định F về tính thích hợp của mô hình (61)
      • 3.7.5. Kiểm định vi phạm giả thuyết thống kê (62)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (64)
    • 4.1. Thực trạng mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK TPHCM (64)
      • 4.2.1. Thống kê mô tả các biến (68)
      • 4.2.2. Phân tích tương quan và đa cộng tuyến (71)
      • 4.2.3. Phân tích mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) (75)
      • 4.2.4. Kết quả hồi quy Robust mô hình nghiên cứu (78)
        • 4.2.4.1. Công bố thông tin trách nhiệm xã hội (80)
        • 4.2.4.2. Công bố thông tin các chỉ tiêu thành phần của trách nhiệm xã hội (81)
    • 4.3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (82)
      • 4.3.1. Quy mô hội đồng quản trị (82)
      • 4.3.2. Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập (82)
      • 4.3.3. Tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị (83)
      • 4.3.4. Sở hữu nhà nước (83)
      • 4.3.5. Sở hữu nước ngoài (83)
      • 4.3.6. Quy mô doanh nghiệp (84)
      • 4.3.7. Tuổi doanh nghiệp (84)
      • 4.3.8. Tỷ suất sinh lời (84)
      • 4.3.9. Đòn bẩy tài chính (85)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (87)
    • 5.1. Kết luận (87)
    • 5.2. Hàm ý chính sách (88)
      • 5.2.1. Đối với đối tượng công bố thông tin trên báo cáo thường niên (88)
      • 5.2.2. Đối với doanh nghiệp (89)
      • 5.2.3. Đối với nhà đầu tư (90)
      • 5.2.4. Đối với nhà nước (90)
    • 5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai (91)
      • 5.3.1. Hạn chế của luận văn (91)
      • 5.3.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai (92)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINHNGUYỄN NHẬT THIÊN THẢO NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC DOANH NGHI

Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam cần tìm động lực tăng trưởng khác thay thế cho những nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt Trong các nỗ lực nhằm cải thiện năng suất lao động, việc tăng cường sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính và phi tài chính đóng vai trò rất quan trọng để đạt sự tăng trưởng liên tục Do đó, cần hiểu rõ mức độ hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực này của doanh nghiệp và cách thức huy động các nguồn lực này một cách hiệu quả hơn Tuy nhiên, việc công khai thông tin của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hạn chế, các doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng đề cao và thực hành tính minh bạch thông tin đối với đối tác, nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước Sau khi Luật Chứng khoán được ban hành, hàng loạt nghị định, thông tư được ban hành hướng đến mức độ công bố thông tin minh bạch, mức độ công bố thông tin đối với thành viên thị trường, nhà đầu tư đã dần đi vào khuôn khổ

Có thể thấy công bố thông tin của doanh nghiệp nhằm mục đích phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và hỗ trợ các doanh nghiệp truyền đạt tốt hơn cam kết minh bạch tới các bên liên quan Trách nhiệm của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) là phải cam kết nghĩa vụ công bố thông tin nhằm thể hiện trách nhiệm xã hội (Corporate Social Responsibility - CSR) một cách minh bạch, chính xác kịp thời Việc thực hiện tốt công bố thông tin liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp giúp nhà đầu tư tiếp cận toàn diện và tốt nhất với doanh nghiệp và là phương tiện tốt nhất để thực hiện đầu tư hiệu quả Đối với doanh nghiệp, việc cung cấp thông tin định kỳ và đột xuất giúp họ nắm bắt được thời cơ kinh doanh và xây dựng một chiến lược đầu tư phù hợp Công bố thông tin của doanh nghiệp giúp các nhà quản lý thị trường có thể đánh giá được chất lượng và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, từ đó có thể điều chỉnh hoạt động của họ hoặc quyết định khen thưởng hay xử lý vi phạm một cách công bằng Công bố thông tin trách nhiệm xã hội (CBTTTNXH) là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững thông qua việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động, cho cộng đồng và toàn xã hội Tuy nhiên việc nhận thức về CSR của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa đầy đủ và toàn diện Có thể nói CSR là một trong những yêu cầu quan trọng trong việc phát triển, nâng tầm uy tín thương hiệu, vươn xa khỏi biên giới lãnh thổ trong bối cảnh hội nhập Tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa có nhiều các nghiên cứu riêng về công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Với mục đích nghiên cứu tìm hiểu thực tế ở Việt Nam các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ.

Mục tiêu nghiên cứu

 Đo lường mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) và từ đó đánh giá thực trạng CBTTTNXH của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK TPHCM

 Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.

Câu hỏi nghiên cứu

 Mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trong báo cáo thường niên cùa các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK TPHCM như thế nào?

 Các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh?

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu dữ liệu về công bố thông tin liên quan trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2011-2016

Tác giả lấy dữ liệu từ báo cáo thường niên mà không từ các nguồn khác là vì báo cáo này được xem là tài liệu chung và phổ biến nhất được phát hành bởi các doanh nghiệp Nó cũng là phương tiện chủ yếu mà các doanh nghiệp công bố thông tin ra bên ngoài.

Phương pháp xử lý số liệu

Thực hiện các kiểm định hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM Sau đó sử dụng hồi quy Robust để khắc phục các khuyết tật Tất cả dữ liệu nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm Excel và STATA 14.

Đóng góp thực tiễn của đề tài

 Đánh giá mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

 Xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

 Đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

 Nghiên cứu là tài liệu tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, nhà quản lý hoạch định chính sách, học viên cao học đang nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính, kế toán và quản lý.

Kết cấu của đề tài

Kết cấu của đề tài bao gồm năm chương cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu: trình bày tóm tắt nội dung chính các công trình nghiên cứu có liên quan, trong và ngoài nước Mối quan hệ giữa các công trình này và đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết: trình bày khái niệm, vai trò của thị trường chứng khoán và trách nhiệm xã hội Trình bày khái niệm, vai trò và cách phân loại công bố thông tin doanh nghiệp và các lý thyết cơ bản về công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu: xây dựng giả thuyết nghiên cứu, cách đo lường các biến nghiên cứu Trình bày cách thu thập dữ liệu nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu: trình bày thông tin mẫu nghiên cứu và cách xử lý mẫu Kết quả phân tích các nhân tố và thảo luận kết quả

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

 Hàm ý chính sách với doanh nghiệp và các bên liên quan

 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu trong tương lai.

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Giới thiệu

Sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn Việt Nam không chỉ tạo ra những thay đổi trong cấu trúc kinh doanh của nó, mà còn tạo ra những vấn đề quan trọng mới cho các hoạt động kế toán và báo cáo của Việt Nam Đặc biệt, nó giới thiệu những người sử dụng thông tin doanh nghiệp mới ngoài nhà nước, bao gồm các nhà đầu tư, chủ nợ, nhà phân tích tài chính, các nhà môi trường và các bên liên quan khác Theo nền kinh tế kế hoạch tập trung, người sử dụng duy nhất của thông tin doanh nghiệp là nhà nước, sử dụng các báo cáo kế toán hẹp hơn cho các mục đích lập kế hoạch và lập ngân sách của nhà nước Sự phân tán rộng rãi hơn của người sử dụng thông tin trong nền kinh tế định hướng thị trường với kỳ vọng của các bên liên quan gia tăng dẫn đến những động cơ mới cho các nhà quản lý doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam để cải thiện hoạt động và nâng cao danh tiếng của bản thân các doanh nghiệp Để đáp ứng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn, các nhà quản lý Nhà nước ở Việt Nam đã ban hành nhiều quy định với mục đích điều tiết và cải thiện các hoạt động báo cáo của các doanh nghiệp Quy chế báo cáo doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm Luật Chứng khoán 2006 và Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) Nhìn chung, đến nay, các quy định báo cáo hiện hành không yêu cầu bắt buộc các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam công bố thông tin về xã hội và môi trường Do đó, công bố thông tin trách nhiệm xã hội vẫn còn tự nguyện trong các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam.

Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Sự kỳ vọng về vai trò trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong xã hội đang ngày càng tăng và các nghiên cứu gần đây đối với trách nhiệm xã hội cho thấy rằng đã có sự phát triển của một loạt các công cụ nhằm mục đích nâng cao, đánh giá thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nghiên cứu xem xét các khái niệm về trách nhiệm xã hội đã tồn tại từ thập niên 1950, cho đến trong thập niên 1970 (Carroll, 1999) và ngày càng tăng trong những năm 1990 (De Bakker,

Groenewegen và Hond, 2005) Tương tự như vậy, các thực hành về công bố thông tin liên quan đến vấn đề môi trường và xã hội đã được phổ biến và cải tiến, phát triển mạnh mẽ trong nhiều thập kỷ qua (Deegan, 2002) Công bố thông tin về hoạt động trách nhiệm xã hội của một tổ chức tạo thành một phần không thể tách rời của công bố thông tin Công bố thông tin trách nhiệm xã hội là một công cụ quan trọng để trao đổi với các bên liên quan về các hoạt động trách nhiệm xã hội của tổ chức Như vậy, nó hình thành một điều lệ cho quan hệ công chúng và tạo sự hiểu biết lẫn nhau, quản lý xung đột tiềm năng (Grunig, 1989) và để đạt được tính hợp pháp (Aldrich và Fiol, 1994)

Bài nghiên cứu “The Influence of Governance Structure and Strategic Corporate Social Responsibility Toward Sustainability Reporting Quality” của tác giả Azlan Amran và cộng sự công bố trên tạp chí Business Strategy and the Environment, số 23, trang 217-235 năm 2013 Bài nghiên cứu cho rằng sự phức tạp ngày càng gia tăng trong hoạt động kinh doanh cùng với sự chuyển đổi mạnh mẽ mang tính toàn cầu đã thúc đẩy các doanh nghiệp hành xử có trách nhiệm với xã hội và phát triển bền vững Nhiều tập đoàn cam kết thực hành kinh doanh bền vững trong các báo cáo bền vững của họ Nghiên cứu này xem xét vai trò của hội đồng quản trị đến chất lượng báo cáo bền vững (SRQ) của 113 doanh nghiệp trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Trong đó SRQ được đo lường thông qua mô hình của Clarkson et al (2008) và Sutantoputra (2009) với 10 chỉ số đo lường các khía cạnh môi trường, xã hội và hiệu quả của doanh nghiệp Nghiên cứu sử dụng nhóm biến độc lập (thành phần hội đồng quản trị, quy mô ban giám đốc, sự độc lập của ban giám đốc, phân bổ giới tính, chiến lược trách nhiệm xã hội, tầm nhìn doanh nghiệp và cam kết CSR) và các biến kiểm soát (quy mô doanh nghiệp, quốc gia, ngành, cấu trúc hội đồng quản trị) Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm nhìn doanh nghiệp và cam kết CSR ảnh hưởng tích cực đến SRQ

Bài nghiên cứu “Corporate social responsibility reporting in financial institutions: Evidence from Euronext” của tác giả Andreas Andrikopoulos và cộng sự công bố trên tạp chí Research in International Business and Finance, số 32, trang 27-35 năm 2014 Tính hợp pháp, danh tiếng và sự ảnh hưởng lên xã hội của các tổ chức tài chính là lớn hơn nhiều so với cách hiểu thông thường là nhà cung cấp vốn hay trung gian tài chính Nghiên cứu này khám phá các nhân tố quyết định đến việc thực hiện công bố thông tin trách nhiệm xã hội trực tuyến trên trang thông tin điện tử của 93 tổ chức tài chính thuộc 4 lĩnh vực lớn (ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính và đầu tư) được niêm yết trong thị trường chứng khoán Euronext giai đoạn 2009-2013 Các biến nghiên cứu bao gồm các chỉ tiêu tài chính SIZE, LEVERAGE, MARKET-TO-BOOK, PROFITABILITY và chỉ tiêu đo lường công bố thông tin trách nhiệm xã hội gồm 22 chỉ tiêu đánh giá trên các phương diện môi trường, đạo đức và con người Nghiên cứu đánh giá mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội là cao hơn trong các doanh nghiệp lớn và trong các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao hơn Nhu cầu tăng vị thế của doanh nghiệp và rủi ro tài chính làm tăng nhu cầu của các bên liên quan về tính minh bạch trong các ảnh hưởng xã hội của các tổ chức tài chính và các thực hành trách nhiệm xã hội của họ Doanh nghiệp hiệu quả hơn có xu hướng làm tốt trách nhiệm xã hội hơn, công bố thông tin minh bạch hơn

Bài nghiên cứu “ Corporate Social Responsibility Reporting in China:

Symbol or Substance?” của hai tác giả Christopher Marquis và Cuili Qian công bố trên tạp chí Organization Science, số 25, trang 127-148 năm 2014 Nghiên cứu này tập trung vào cách thức phản ứng và lí do tại sao của các loại hình doanh nghiệpvới chính trị trong việc phát hành báo cáo trách nhiệm xã hội Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu bao gồm các báo cáo CSR phát hành công khai trong giai đoạn từ 2006 đến

2009 của khoảng 1.600 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải hoặc Thâm Quyến tại Trung Quốc Nghiên cứu xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát hành báo cáo CSR và mức độ thông tin trách nhiệm xã hội được công bố trong báo cáo CSR của doanh nghiệp thông qua áp dụng mô hình hồi quy logistic và mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) Mô hình bao gồm các biến kiểm soát môi trường doanh nghiệp (quy mô doanh nghiệp, yêu cầu báo cáo, truyền thông, kinh nghiệm báo cáo, sở hữu nước ngoài, loại thị trường chứng khoán), các biến độc lập (private control - sở hữu tư nhân, firm age - tuổi doanh nghiệp, ROA - tỷ suất sinh lời, slack resources - tài nguyên dự trữ, CEO as government official - giám đốc điều hành là thành viên tổ chức chính trị, regional institutional development - sự phát triển khu vực) Theo mô hình hồi quy logistic thì quy mô doanh nghiệp, yêu cầu báo cáo, truyền thông, kinh nghiệm báo cáo và loại thị trường chứng khoán thuộc nhóm biến kiểm soát môi trường tổ chức đều có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng phát hành báo cáo CSR Trong nhóm biến độc lập, giám đốc điều hành là thành viên tổ chức chính trị và hiệu quả doanh nghiệp (thông qua 2 biến ROA và slack resources) có tác động tích cực đến việc phát hành báo cáo CSR trong khi tuổi doanh nghiệp và sở hữu tư nhân có tác động tiêu cực Kết quả mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất cho thấy các doanh nghiệp có lãnh đạo nhiều kinh nghiệm chính trị và mức độ phát triển của khu vực mà doanh nghiệp có trụ sở chính có tác động tích cực đến mức độ thông tin trách nhiệm xã hội được công bố trong báo cáo CSR Đối với biến sở hữu tư nhân mặc dù theo mô hình không có ý nghĩa thống kê, nhưng theo kết quả kiểm định của các nhân tố thuộc chính trị đã có sự ảnh hưởng vừa phải của sở hữu tư nhân đối với việc báo cáo CSR, cho thấy rằng phản ứng của doanh nghiệp với chính trị không phải là một quá trình đơn giản Các doanh nghiệp đối mặt với các áp lực khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của chính doanh nghiệp Một đặc điểm đặc biệt của Trung Quốc là luôn có sức ép lớn từ chính trị với những doanh nghiệp có sở hữu nhà nước Như vậy, ảnh hưởng từ chính trị không thể được xác định chính xác nếu không am hiểu đầy đủ nền tảng, tình hình và vị trí của doanh nghiệp cũng như sự phụ thuộc chính trị của doanh nghiệp

Bài nghiên cứu “Corporate social responsibility reporting and firm performance: evidence from China” của nhóm tác giả Suwina Cheng, Kenny Z Lin và William Wong công bố trên tạp chí Journal of Management & Governance, số 20, trang 503-523 năm 2016 Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa việc phát hành báo cáo trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải tại Trung Quốc trong 2 năm 2008 và 2009 trên các khía cạnh thu nhập kế toán, lợi tức thị trường và sự tăng trưởng Phương pháp nghiên cứu sử dụng hồi quy dữ liệu bảng (Panels data) nhằm trích xuất kết quả nghiên cứu thực nghiệm Mô hình hồi quy bao gồm các biến đo lường hiệu quả của doanh nghiệp (ROA, Return, TobinQ) và các biến kiểm soát bao gồm quy mô doanh nghiệp (Size), tỷ lệ nợ trên tài sản (Debt), sở hữu nhà nước (SOE), sở hữu nước ngoài (FOR), năm khảo sát (Year09) và ảnh hưởng ngành (IND) Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động và quy mô doanh nghiệp tác động tích cực và quan trọng đến báo cáo độc lập CSR trong khi tỷ lệ nợ trên tài sản (Debt), tác động tiêu cực Kể từ giữa những năm 2000, trách nhiệm xã hội ở Trung Quốc đã được giám sát chặt chẽ từ công chúng và giới truyền thông Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng các quy tắc và hướng dẫn CSR khác nhau để nâng cao nhận thức và mối quan tâm của các doanh nghiệp đại chúng Nghiên cứu này thấy rằng số lượng các doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện các hoạt động CSR và phát hành độc lập báo cáo CSR tăng trong năm 2008 và 2009 Có khả năng là các doanh nghiệp tham gia các hoạt động CSR nhằm đáp ứng các yêu cầu nghiêm khắc của chính quyền và kỳ vọng cao hơn của các bên liên quan Tuy nhiên, kết quả thống kê 3,7% báo cáo CSR theo khuôn khổ quốc tế và chỉ 2,4% báo cáo là được đánh giá bởi các kiểm toán viên, cho thấy chất lượng báo cáo CSR ở Trung Quốc thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế, là một vấn đề cần sự quan tâm của chính quyền

Bài nghiên cứu “Corporate social responsibility disclosure - choices of report and its determinants: Empirical evidence from firms listed on the Stock Exchange of Thailand” của tác giả Suneerat Wuttichindanon công bố trên tạp chí Kasetsart Journal of Social Sciences, số 38, trang 156-162 năm 2017 Nghiên cứu điều tra các lựa chọn sử dụng cho báo cáo trách nhiệm xã hội và các nhân tố quyết định đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thái Lan (SET) Kể từ năm 2014, các doanh nghiệp niêm yết trên SET đã được yêu cầu công bố thông tin trách nhiệm xã hội trong báo cáo thường niên hoặc trong báo cáo phát triển bền vững riêng Các biến độc lập của mô hình thuộc ba khía cạnh: sức mạnh cổ đông (sở hữu nhà nước), vị thế doanh nghiệp (quy mô và tuổi doanh nghiệp) và hiệu quả kinh doanh (lợi nhuận và đòn bẩy) Kết quả cho thấy rằng doanh nghiệp có sở hữu nhà nước hoặc quy mô lớn có nhiều khả năng chọn hình thức báo cáo phát triển bền vững Ngoài ra, nội dung thông tin trách nhiệm xã hội được công bố chủ yếu được thực hiện trong ba ngành: tài nguyên, công nghệ và sản phẩm công nghiệp thông qua chín yếu tố trách nhiệm xã hội với

43 chỉ số Ba yếu tố CSR được quan tâm cao nhất là con người và bình đẳng, chính sách phòng chống tham nhũng và lãng phí Nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ tích cực giữa mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội và sở hữu nhà nước trong khi tuổi cũng như hiệu quả kinh doanh theo kết quả hồi quy không có ảnh hưởng đáng kể đến CBTTTNXH của các doanh nghiệp Như vậy, nghiên cứu này ủng hộ lý thuyết các bên liên quan cho rằng các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động CSR là do ảnh hưởng của các bên liên quan chứ không phải do hiệu quả kinh doanh Ở Thái Lan, ảnh hưởng của các bên liên quan và vị thế doanh nghiệp là nhân tố quyết định của mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội

Bài nghiên cứu “Corporate social responsibility assurance and reporting quality: Evidence from restatements” của tác giả Brian Ballou và cộng sự công bố trên tạp chí Journal of Accounting and Public Policy năm 2018 Bài nghiên cứu tìm hiểu cách thức đảm bảo chất lượng báo cáo trách nhiệm xã hội của 2339 doanh nghiệp đến từ 17 ngành công nghiệp ở các quốc gia khác nhau thông qua sử dụng sự thiết lập việc sửa đổi báo cáo CSR Nghiên cứu sử dụng mô hình ước lượng hai giai đoạn Trong giai đoạn đầu, đảm bảo chất lượng báo cáo CSR là biến phụ thuộc trong hồi quy probit (hồi quy theo biến giả) và các nhân tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo chất lượng báo cáo CSR là biến độc lập Ở giai đoạn thứ hai, việc sửa đổi báo cáo CSR là biến phụ thuộc còn việc đảm bảo chất lượng báo cáo CSR, loại nhà cung cấp và một số biến kiểm soát các nhân tố liên quan đến việc sửa đổi báo cáo CSR là các biến độc lập Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng các tiêu chuẩn báo cáo GRI như là biến kiểm soát để kiểm tra xem liệu đảm bảo chất lượng báo cáo CSR có ảnh hưởng đến việc sử dụng khung báo cáo Các biến độc lập sử dụng trong mô hình bao gồm các yếu tố tài chính (SIZE - quy mô doanh nghiệp, ROA - tỷ suất sinh lời trên tài sản, LEVERAGE - đòn bẩy, MB - hệ số giá ghi sổ trên giá thị trường, FIN - mức độ tài chính), chỉ số đa dạng hóa (HHI), các yếu tố rủi ro môi trường - xã hội (UTILITY - ngành tiện ích, MINING - ngành khai khoáng, PRODUCTION - ngành sản xuất, FINANCE - ngành tài chính, STAKEHOLDER - định hướng các bên liên quan) để giải thích sự đảm bảo chất lượng báo cáo CSR của các doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp, tỷ suất sinh lời trên tài sản, chỉ số HHI tác động tích cực lên biến phụ thuộc sự đảm bảo chất lượng báo cáo CSR Trong khi đó có sự khác biệt trong chất lượng báo cáo CSR của các doanh nghiệp tiện ích, khai khoáng và sản xuất

1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Trách nhiệm xã hội hay công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam đã được đưa vào nghiên cứu trong thời gian qua nhưng đối với người sử dụng thông tin hay nhiều doanh nghiệp vẫn còn là một khái niệm khá mơ hồ Số lượng nghiên cứu vẫn còn ít và hạn chế, điển hình có một số nghiên cứu như sau:

Bài nghiên cứu “Corporate Social Disclosures in Southeast Asia: A Preliminary Study” của hai tác giả Juniati Gunawan và Riandy Hermawan, công bố trên tạp chí Social and Environmental Accounting, số 6, trang 198-220 năm 2012 Kết quả nghiên cứu báo cáo thường niên của 19 doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam trong hai năm 2017-2018 cho thấy quan hệ đối ngoại là thông tin được công bố nhiều nhất trong năm 2007 bởi 72,2% các doanh nghiệp Năm 2008 đánh dấu sự thay đổi trong xu hướng công bố, chuyển từ quan hệ đối ngoại sang bền vững Sự thay đổi này cho thấy xu hướng tích cực trong công bố thông tin trách nhiệm xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên, năng lượng vẫn là thông tin công bố ít nhất Theo tác giả, những khó khăn trong tính toán mức tiêu thụ năng lượng và ít nhận thức về hiệu quả năng lượng có thể là những lý do chính cho việc số lượng nhỏ thông tin năng lượng được công bố Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong hai năm 2007 và 2008 có sự gia tăng đáng kể tỷ lệ phần trăm các doanh nghiệp công bố thông tin trách nhiệm xã hội Phát hiện này có thể cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng nhận thức về các vấn đề xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh Qua đó cũng thể hiện sự tăng trưởng mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trong tương lai và báo cáo trách nhiệm xã hội có thể trở thành một chủ đề quan trọng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam

Bài nghiên cứu “Corporate social responsibility: A study on awareness of managers and consumers in Vietnam” của tác giả Phạm Đức Hiếu, sinh viên trường Đại học Thương mại, Hà Nội đăng trên tạp chí Journal of Accounting and Taxation, số 3, trang 162-170 năm 2011 Nghiên cứu điều tra nhận thức về trách nhiệm xã hội của các nhà quản lý doanh nghiệp Việt Nam cũng như thái độ của người tiêu dùng Việt Nam đối với CSR là tích cực hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trong khi các nhà quản lý thể hiện thái độ tích cực đối với CSR thì nhận thức của người tiêu dùng với CSR thấp Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra rằng dường như có sự khác biệt giữa những gì người quản lý công bố trong báo cáo của họ và những gì họ thực sự làm Đối với người tiêu dùng Việt Nam, mặc dù họ không có một thái độ rõ ràng nhưng nhận thức của người tiêu dùng và quyết định mua hàng của họ có sự ảnh hưởng đáng kể đến việc thực hiện CSR cũng như sự công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Bài luận văn “Corporate social responsibility disclosure practices in Vietnam: Differences between English and Vietnamese versions of large listed companies” của tác giả Trần Thảo Nhi, sinh viên trường Đại học Khoa học ứng dụng Lahti, Phần Lan năm 2014 Nghiên cứu đã so sánh sự khác biệt về mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội giữa báo cáo thường niên, báo cáo phát triển bền vững (nếu có) phiên bản tiếng Anh và tiếng Việt của 30 doanh nghiệp niêm yết có cổ phiếu vốn hóa và thanh khoản cao nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam Mô hình nghiên cứu thông qua phân tích thông tin trách nhiệm xã hội được công bố trong báo cáo thường niên để xác định mức độ thông tin trách nhiệm xã hội được công bố thực tế tại Việt Nam cũng như kiểm tra các thông tin được công bố trong phiên bản tiếng Việt nhưng không được công bố trong phiên bản tiếng Anh và ngược lại Kết quả thực nghiệm cho thấy các báo cáo phiên bản tiếng Việt có mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội cao hơn các báo cáo phiên bản tiếng Anh

Bài nghiên cứu “Association between corporate social responsibility disclosures and firm value - Empirical evidence from Vietnam” của tác giả Bich

Thi Ngoc Nguyen và các cộng sự đăng trên tạp chí International Journal of Accounting and Financial Reporting, số 5, trang 212-228 năm 2015 Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa công bố thông tin trách nhiệm xã hội và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam bằng cách lấy mẫu 50 doanh nghiệp niêm yết trên các Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm

Xác định khe hổng nghiên cứu

Trách nhiệm xã hội lần đầu tiên được giới thiệu tại Việt Nam bởi các tập đoàn quốc tế tìm nguồn cung ứng ở Việt Nam, dưới hình thức Bộ Quy tắc ứng xử (COC) hoặc các yêu cầu tiêu chuẩn xã hội Tương tự như các nước đang phát triển khác, Việt Nam thiếu kiến thức về CSR Sự hiểu biết về CSR như một khái niệm ở Việt Nam vẫn còn kém và không phù hợp CSR được coi là hoạt động từ thiện hoặc quan hệ công chúng Ngoài ra còn có một nhận thức sai lầm rằng CSR là tốn kém và lãng phí thời gian Điều này đã khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam không áp dụng CSR trong các chính sách của doanh nghiệp

Qua tổng hợp các bài nghiên cứu được lựa chọn trình bày tại mục 1.2, tác giả nhận thấy với sự khác biệt về đặc điểm quốc gia (chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa,…) cũng như thời điểm, phương pháp nghiên cứu, mà mỗi nghiên cứu đã lựa chọn và kiểm chứng sự ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Tuy nhiên, các nhân tố quy mô và tuổi doanh nghiệp, hiệu quả doanh nghiệp, quy mô và sự độc lập của hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu của doanh nghiệp đã được phần lớn các nhà nghiên cứu của các nước sử dụng

Tại Việt Nam hiện nay không có yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp niêm yết để công bố việc quản lý và thực hiện trách nhiệm môi trường của họ Do đó, việc thực thi pháp luật về môi trường và xã hội là không đáng kể Bên cạnh đó, các vấn đề xã hội và pháp lý ở Việt Nam, chẳng hạn như thực thi pháp luật kém, tham nhũng và chồng chéo quá mức giữa các luật khác nhau, đã trở thành vấn đề chung đối với tất cả các ngành - đặc biệt là kinh doanh Điều này dẫn đến những bất ổn về mặt pháp lý liên quan đến chất, chi phí hành chính bổ sung và quan liêu

Nhìn chung, báo cáo trách nhiệm xã hội là lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm cũng như được tìm hiểu tại nhiều nước trên thế giới Việc vận dụng báo cáo CSR ngoài việc góp phần quan trọng cho mục tiêu phát triển bền vững còn là xu hướng phổ biến phục vụ cho quá trình ghi nhận và công bố thông tin trách nhiệm xã hội Tuy nhiên hiện nay, các bài viết, các bài nghiên cứu về lĩnh vực báo cáo CSR ở Việt Nam vẫn còn khá hạn chế

Trên cơ sở xác định khe hổng nghiên cứu nói trên, tác giả thực hiện luận văn này theo hướng kế thừa các bài nghiên cứu trình bày ở mục 1.2 với một số điều chỉnh trong việc lựa chọn các nhân tố nghiên cứu cho phù hợp với thực tế ở Việt Nam Luận văn được thực hiện với mong muốn nhận diện và xác định những nhân tố nào tác động đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam Từ đó, tiến hành đo lường mức độ tác động của từng nhân tố và xem xét mối tương quan giữa chúng với nhau như thế nào Cuối cùng, đưa ra những kiến nghị để việc thực hiện công bố thông tin trách nhiệm xã hội trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam được quan tâm nhiều hơn

Trong chương này, trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài công bố thông tin trách nhiệm xã hội, tác giả rút ra được một số vấn đề mà những nghiên cứu trước đây đã đạt được và những vấn đề cần tiếp tục giải quyết

Các nghiên cứu trên thế giới đã giới thiệu nhiều cách tiếp cận và thực hiện công bố thông tin trách nhiệm xã hội, đáng kể nhất là tác động của các đối tượng hữu quan, các hướng dẫn và quy định của pháp lý, mục đích công bố thông tin trách nhiệm xã hội… Tuy nhiên, lĩnh vực công bố thông tin trách nhiệm xã hội tại Việt Nam vẫn còn ít được nhắc tới và chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu, chưa phù hợp với mối quan tâm chung như hiện nay Do đó, tác giả mong muốn tiếp cận để tìm hiểu thêm về lĩnh vực này mà trước hết là tìm hiểu những nhân tố nào tác động đến việc thực hiện công bố thông tin trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam, hướng đến việc giới thiệu thêm một công cụ hữu hiệu giúp doanh nghiệp quản trị được trách nhiệm xã hội của mình cũng như phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

Khái quát về công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội - Corporate social responsibility là một khái niệm khá rộng và có nhiều định nghĩa khác nhau Nguồn gốc của khái niệm CSR xuất hiện vào đầu những năm 1970 trong các nghiên cứu về kế toán (Mathews, 1997) Trong thời gian này chủ đề CSR tương đối kém phát triển, ít nghiên cứu thực nghiệm có giá trị cao, chủ yếu là mô tả và phát triển của mô hình kế toán xã hội (Estes, 1976[TN1]; Ramanathan, 1976[TN2]), trong khi cuộc thảo luận học thuật là giới hạn về số lượng Prakash Sethi (1975) cho rằng CSR là hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên mức độ phù hợp với quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến Carroll (1979) định nghĩa CSR là sự mong đợi của xã hội về luật pháp, kinh tế, đạo đức và tấm lòng từ thiện đối với các tổ chức tại thời điểm nhất định Tuy nhiên vẫn còn tồn tại hai luồng ý kiến tranh luận: Bowen (1953)[TN3] đưa ra định nghĩa ban đầu CSR là nghĩa vụ của người kinh doanh trong việc theo đuổi, quyết định và thực thi các chính sách với mục tiêu mong muốn là các giá trị xã hội Votaw

(1972) nhấn mạnh thuật ngữ CSR có nghĩa là doanh nghiệp có trách nhiệm tại địa phương, nơi đang hoạt động, tuy nhiên thuật ngữ này không hoàn toàn giống nhau cho các tổ chức khác nhau Carroll (1991) định nghĩa “Trách nhiệm xã hội là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và lòng từ thiện của một tổ chức mà xã hội mong đợi trong mỗi thời điểm nhất định” Định nghĩa này được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội, tùy vào tổ chức mà người quản lý có thể chọn vấn đề nào trong bốn mức độ trên

Những cách thức mà các doanh nghiệp tương tác với xã hội đã có sự thay đổi và phát triển theo thời gian Theo khái niệm “tối đa hóa giá trị - enlightened value maximization”, lợi ích của cổ đông phải được ưu tiên bằng cách sử dụng nguồn lực doanh nghiệp để tăng lợi nhuận (Jensen, 2002) Theo lý thuyết của các bên liên quan, mục tiêu doanh nghiệp là để tạo ra giá trị cho xã hội (Donaldson & Preston,

1995), được phản ánh bởi sự hội nhập nhu cầu xã hội vào kế hoạch kinh doanh Hay mục tiêu doanh nghiệp là để phục vụ như một phương tiện điều phối lợi ích của các bên liên quan (Evan & Freeman, 1988).[TN4] Cụ thể, nó xác định các bên liên quan là các cá nhân và các nhóm có quan tâm hoặc mối quan tâm trong các doanh nghiệp (nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, chủ nợ, cộng đồng, nhà đầu tư, cơ quan quản lý, hoạch định chính sách,…) và coi họ có cả quyền và nghĩa vụ tham gia công tác quản lý doanh nghiệp.[TN5] Mục tiêu chính của doanh nghiệp nên có sự hưng thịnh của tất cả các bên liên quan (Werhane & Freeman, 1999) Hopkins (2007) [TN6]cho rằng mục tiêu rộng hơn của trách nhiệm xã hội là tạo ra các tiêu chuẩn sống ngày càng cao cho các bên liên quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp trong khi vẫn giữ được lợi nhuận của doanh nghiệp Theo Ủy ban Châu Âu (The European Commission - EC, 2002) thì “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm theo đó các doanh nghiệp tích hợp vấn đề xã hội và môi trường vào trong hoạt động kinh doanh của họ và trong sự tương tác của họ với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện” Một số tác giả, như Jensen (2002), không đồng ý với các doanh nghiệp có mục tiêu đa chiều này, vì nó có thể tạo ra sự nhầm lẫn, rối loạn và ngăn cản việc ra quyết định hiệu quả

Có thể thấy, dù cách thể hiện, hình thức diễn đạt ngôn từ có khác nhau, song về cơ bản trách nhiệm xã hội đều có điểm chung là bên cạnh lợi ích phát triển riêng phù hợp với pháp luật hiện hành thì doanh nghiệp đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội Doanh nghiệp để tồn tại và phát triển bền vững trong thị trường ngày càng khốc liệt, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao từ khách hàng mà vẫn đảm bảo trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội thì phải tích hợp các khía cạnh trách nhiệm xã hội vào chiến lược kinh doanh của mình một cách hợp lý

Trong luận văn này, tác giả chọn định nghĩa trách nhiệm xã hội theo quan điểm của Hội đồng kinh doanh thế giới về Phát triển bền vững (The World Business Council for Sustainable Development - WBCSD) vì đây là định nghĩa khá hoàn chỉnh, rõ ràng và dễ hiểu nhất và vì nó đã đề cập đến CSR phải gắn liền với vấn đề phát triển bền vững - một yêu cầu khách quan, cấp thiết, có tính toàn cầu với sự phát triển hiện nay

Như vậy, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết liên tục của doanh nghiệp thông qua hoạt động kinh doanh bằng cách cư xử có đạo đức và đóng góp vào sự phát triển kinh tế trong khi cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động, của gia đình họ cũng như cộng đồng địa phương và toàn xã hội nói chung” (WBCSD, 2002)

2.1.1.2 Nhận thức về trách nhiệm xã hội ở Việt Nam

Trách nhiệm xã hội ở các nền kinh tế thị trường phát triển là không còn mới lạ trong khi đó, khái niệm CSR mới được biết đến ở Việt Nam vài thập niên gần đây Để tiếp cận được với thị trường thế giới trong hội nhập kinh tế toàn cầu, CSR đã trở thành một trong những yêu cầu mà các doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thù

Vì vậy, doanh nghiệp phải có định hướng kinh doanh mang tính chiến lược và phát triển bền vững chứ không chỉ là mục tiêu lợi nhuận truyền thống trước đây

Những năm gần đây, đã có không ít doanh nghiệp Việt Nam ngoài việc tạo lập và phát triển vị thế kinh doanh còn nỗ lực đóng góp cho sự phát triển chung của cộng đồng, xã hội Nhờ đó mà góp phần tăng giá trị thương hiệu của doanh nghiệp cũng như tăng cơ hội tiếp cận các thị trường mới Doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội không những đạt được lợi ích kinh tế (giảm chi phí, tăng doanh thu) mà còn giúp nâng cao uy tín với khách hàng và đối tác, có ưu thế cạnh tranh và đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài Về dài hạn tạo được sự hài lòng của các bên liên quan, chính quyền và người lao động cùng những cam kết gắn bó lâu dài

Từ năm 2005, nước ta đã có giải thưởng "Trách nhiệm xã hội hướng tới sự phát triển bền vững" được tổ chức bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương cùng các hiệp hội Da giày, Dệt may nhằm tôn vinh các doanh nghiệp thực hiện tốt công tác CSR trong bối cảnh hội nhập Cho đến năm 2006, đã có 50 doanh nghiệp ngành dệt may và da giày tham dự hoạt động này vì đã nhận thấy tính thiết thực của nó Hay như Hội nghị Doanh nhân tiêu biểu toàn quốc năm 2008 diễn ra trong hai ngày 11 và 12/10/2008 đã có 100 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu được trao tặng Cúp Thánh

Gióng - biểu tượng cho tinh thần, sức mạnh của doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Đồng thời, tại Lễ kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2008) cũng đã có 100 doanh nhân được trao tặng danh hiệu “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2008” - đại diện cho thành tích xuất sắc trong sản xuất - kinh doanh đồng thời là các điển hình thực hiện CSR đối với cộng đồng xã hội Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp đa quốc gia có đưa ra các chương trình khuyến khích ứng xử về văn hoá kinh doanh đem áp dụng vào các địa bàn đầu tư Ví dụ như “Chương trình tôi yêu Việt Nam” của doanh nghiệp Honđa - Vietnam; “Chương trình giáo dục vệ sinh cá nhân” cho các trẻ em của doanh nghiệp Unilever; “Chương trình đào tạo tin học Topic 64” của Microsoft, Qualcomm và HP; “Chương trình hỗ trợ dị tật tim bẩm sinh” và “Chương trình ủng hộ nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ” của Vinacapitat, Samsung; “Chương trình khôi phục thị lực cho trẻ em nghèo” của Western Union;…

Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp Việt Nam đã coi thực hiện trách nhiệm xã hội là yêu cầu tất yếu, khách quan trong quá trình hội nhập và ngày càng nhận thức sâu sắc hơn qua các cam kết trách nhiệm với môi trường, cộng đồng địa phương và người lao động cũng như với Nhà nước qua nghĩa vụ đóng thuế

Tuy nhiên, vẫn có một số doanh nghiệp với hành vi kinh doanh thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm pháp luật cũng như sự phát triển bền vững của xã hội Có thể kể đến như sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng nhái kém chất lượng ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, không bảo đảm các quyền lợi của người lao động Bên cạnh đó, còn có sự ghi nhận hành vi gian lận trong lập và công bố báo cáo tài chính cũng như quy trình xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường

Qua đây, chúng ta thấy được việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam là một vấn đề không dễ dàng và còn nhiều hạn chế Đây là do sự nhận thức về CSR chưa đầy đủ, đúng đắn, thiếu nguồn lực cần thiết để thực hiện các chuẩn mực CSR và chưa có một hệ thống luật pháp rõ ràng Như vậy để các doanh nghiệp có thể thực hiện trách nhiệm xã hội một cách chủ động và đúng đắn thì việc tuyên truyền, giáo dục trách nhiệm xã hội và hoàn thiện luật pháp là cấp thiết

2.1.2 Công bố thông tin trách nhiệm xã hội

Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.2.1 Nhân tố về quản trị doanh nghiệp

2.2.1.1 Quy mô hội đồng quản trị

Các nghiên cứu trước cho rằng quy mô hội đồng quản trị là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thực hành báo cáo của doanh nghiệp Tuy nhiên, bằng chứng trong các nghiên cứu không đạt được sự đồng thuận về việc có hay không việc quy mô hội đồng quản trị tác động tích cực hoặc tiêu cực đến thực hành báo cáo của doanh nghiệp Quy mô hội đồng quản trị là một trong những đặc điểm quan trọng với hiệu quả của chức năng giám sát của hội đồng quản trị, vì một hội đồng quản trị lớn có nhiều chuyên môn, kinh nghiệm, kiến thức và ý kiến từ nhiều nguồn khác nhau hơn (Dalton và cộng sự, 1999[TN13]) nên doanh nghiệp sẽ tăng cường chính sách thực hiện và công bố thông tin trách nhiệm xã hội càng nhiều ra công chúng (Akhtaruddin, Hossain, Hossain và Yao, 2009) Cuadrado-Ballesteros và cộng sự

(2015) cho rằng quy mô hội đồng quản trị càng lớn, mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội càng cao và thông qua đó như một công cụ để chứng minh việc doanh nghiệp đang thực hiện các quy định và hành vi có trách nhiệm với xã hội

Mặt khác, cũng có nghiên cứu cho rằng hội đồng có nhiều thành viên hơn sẽ gia tăng vấn đề giao tiếp, hợp tác và ra quyết định kém hiệu quả (Yermack, 1996) Trong những trường hợp như vậy, doanh nghiệp có quy mô hội đồng quản trị lớn hơn cho ra thông tin chất lượng thấp hơn Một số khác thì không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô hội đồng quản trị và công bố thông tin trách nhiệm xã hội (Said và cộng sự, 2009; Wuttichindanon, 2017)

2.2.1.2 Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập

Thành viên hội đồng quản trị độc lập là giám đốc hoàn toàn độc lập với việc quản lý và không bị ảnh hưởng bởi lợi ích cá nhân trong doanh nghiệp Giám đốc độc lập nhờ tính chất độc lập của họ sẽ cung cấp giám sát tốt hơn về quản lý (Rosenstein và Wyatt, 1990), nâng cao hiệu quả của hội đồng quản trị (Michelon và Parbonetti, 2012) và cũng giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí đại diện (Patelli và Prencipe, 2007) Ibrahim, Howard và Angelidis (2003) cho rằng sự mong đợi của xã hội cho các giám đốc độc lập là có trách nhiệm xã hội hơn các giám đốc bên trong doanh nghiệp đã tạo áp lực làm các giám đốc độc lập phản ứng nhanh hơn với nhu cầu xã hội Barako và Brown (2008) cho thấy một tỷ lệ lớn hơn các giám đốc độc lập trong một doanh nghiệp làm tăng sự tập trung vào công bố thông tin trách nhiệm xã hội Cuadrado-Ballesteros và cộng sự (2015) cũng cung cấp bằng chứng cho rằng thành phần giám đốc độc lập trong hội đồng quản trị nhiều hơn có liên quan đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội cao hơn

Tuy nhiên, theo các nghiên cứu của Said và cộng sự (2009); Vu và Buranatrakul (2017) thì không tìm thấy mối quan hệ giữa các giám đốc độc lập và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Trong khi, Haniffa và Cooke (2005) trong nghiên cứu thực nghiệm của mình kết luận rằng tỷ lệ phần trăm các giám đốc độc lập trong hội đồng quản trị có mối quan hệ tiêu cực với khối lượng thông tin xã hội được công bố

2.2.1.3 Tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị

Sự hiện diện của thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị có thể ảnh hưởng (theo những cách khác nhau) đến hành vi kinh doanh và thực hành công bố thông tin của doanh nghiệp, tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa quốc gia của các thành viên hội đồng quản trị Ví dụ, nghiên cứu của Andrews và cộng sự (1989) kết luận rằng sự hiện diện của người nước ngoài trong nhóm cổ đông chính có ảnh hưởng đến khối lượng thông tin xã hội doanh nghiệp công bố Erhardt và cộng sự (2003) thì cho rằng giám đốc nước ngoài trong hội đồng quản trị không những tăng hiệu suất tài chính của doanh nghiệp mà còn đóng một vai trò quan trọng trong ủng hộ chiến lược báo cáo thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Ayuso và Argandona, 2007)

Mặt khác, Wallace và Naser (1995) không tìm thấy mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin và hội đồng quản trị bị chi phối bởi các thành viên không phải người Trung Quốc trong một nghiên cứu về các doanh nghiệp niêm yết ở Hồng Kông Tương tự, Sharif và Rashid (2013) cũng hỗ trợ với kết quả không có mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin và tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị

2.2.2 Nhân tố về cấu trúc sở hữu doanh nghiệp

Theo lý thuyết hợp pháp, chủ sở hữu nhà nước là nhân tố quan trọng tác động đến lựa chọn công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Các doanh nghiệp nhà nước phải đối mặt với áp lực công khai và kỳ vọng cao hơn nên các doanh nghiệp này sẽ cung cấp thông tin nhiều hơn để tăng tính hợp pháp Ví dụ, nghiên cứu của Ghazali (2007) và Wuttichindanon (2017) đã cho thấy mối liên hệ tích cực giữa sở hữu nhà nước và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết ở Malaysia và ở Thái Lan

Tuy nhiên, Jiang và Habib (2009) lưu ý rằng mức độ sở hữu của nhà nước không dẫn đến sự tách biệt thực sự quyền sở hữu và quyền kiểm soát nên không có động cơ giám sát hoạt động của người quản lý Hơn nữa, nhà nước thường có quyền truy cập thông tin nội bộ của doanh nghiệp tốt hơn (Naser, Al-Khatib và Karbhari,

2002) nên có thể ít có sự phụ thuộc của mức độ công bố thông tin với sở hữu nhà nước Luo và cộng sự (2006) đã cho thấy sự hiện diện của sở hữu nhà nước luôn làm suy yếu sự tự nguyện công bố thông tin của các doanh nghiệp Singapore Xiao và cộng sự (2004) giải thích rằng đặc quyền truy cập thông tin cũng đóng góp vào mức độ tự nguyện công bố thông tin xã hội thấp

Theo La Porta và cộng sự (2000), cổ đông nước ngoài thường chịu rủi ro cao hơn các cổ đông khác, điều này đã được minh chứng trong các nghiên cứu trước Các rủi ro tiềm ẩn mà các cổ đông nước ngoài phải đối mặt khi giao dịch chứng khoán bao gồm rủi ro chính trị, thông tin bất cân xứng, rủi ro công bằng pháp luật Đây là do sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu về mặt địa lý, các cổ đông nước ngoài phải đối mặt với sự bất đối xứng thông tin cao hơn so với các cổ đông địa phương Ở các doanh nghiệp nước ngoài, khó khăn hơn cho các cổ đông nước ngoài kiểm soát hành vi quản lý không chỉ vì sự khác biệt địa lý mà còn những rào cản về ngôn ngữ và văn hóa Xiao và Yuan (2007) nhấn mạnh trong thị trường vốn mới nổi như Trung Quốc, vấn đề bất đối xứng thông tin thậm chí còn lớn hơn vì khó khăn trong việc truy cập bản giấy các báo cáo hàng năm Barako (2007) cũng cho rằng sở hữu nước ngoài ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp trong việc báo cáo thêm thông tin xã hội và thông tin thành viên hội đồng quản trị Nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2005) cũng ghi nhận được mối quan hệ có ý nghĩa tích cực giữa tỷ lệ sở hữu nước ngoài và mức độ công bố thông tin xã hội các doanh nghiệp tại Malaysia Như vậy, có một nhu cầu lớn hơn cho công bố thông tin trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp có mức độ cổ đông nước ngoài cao

Mặt khác, các kết quả nghiên cứu của Said và cộng sự (2009); Vu và Buranatrakul (2017) lại không tìm thấy mối liên hệ nào giữa sở hữu của nước ngoài với mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội

2.2.3 Nhân tố về đặc điểm doanh nghiệp

Lý thuyết hợp pháp cho rằng các doanh nghiệp lớn hơn xem thực hành báo cáo trách nhiệm xã hội như một công cụ để đạt được tính hợp pháp và tồn tại trong xã hội (Ghazali, 2007) vì các doanh nghiệp càng lớn càng nhận được sự chú ý từ công chúng và sự liên quan đến pháp lý nên cần phải tham gia và truyền thông trách nhiệm xã hội nhiều hơn Các động lực để báo cáo được giải thích là để tránh chi phí chính trị và những quy định không cần thiết (Adams và cộng sự, 1998) Quy mô của một doanh nghiệp có liên quan đến thị phần và sức mạnh của doanh nghiệp cũng như làm tăng tính đáng tin cậy của doanh nghiệp Các doanh nghiệp lớn hơn chịu ảnh hưởng của các bên liên quan nhiều hơn và phải đáp ứng các nhóm lợi ích này để tránh sự tổn hại từ công chúng Branco and Rodrigues (2008) cho thấy mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp lớn cao hơn các doanh nghiệp nhỏ vì các bên liên quan mong đợi mức độ CBTTTNXH cao hơn từ các doanh nghiệp lớn hơn Các doanh nghiệp lớn cũng có khả năng hơn các doanh nghiệp nhỏ trong giao tiếp các hoạt động trách nhiệm xã hội cho các bên liên quan bên ngoài (Rettab và cộng sự, 2009) Cowen và cộng sự (1987) hỗ trợ thêm khi cho rằng quy mô doanh nghiệp có tác động đến công bố thông tin xã hội vì các doanh nghiệp lớn có nhiều bên liên quan hơn có mối quan tâm về các hoạt động xã hội do doanh nghiệp thực hiện nhiều hơn Hơn nữa, các doanh nghiệp lớn có sở hữu đa dạng hơn nên chi phí đại diện cao hơn Nhà quản lý sẽ cố gắng giảm chi phí này bằng cách tự nguyện công bố thêm thông tin (Meek, Roberts và Gray, 1995) Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm cung cấp bằng chứng cho thấy quy mô doanh nghiệp tác động đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội Các nhà nghiên cứu nhận thấy mối quan hệ tích cực giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội Các doanh nghiệp lớn có xu hướng công bố thông tin trách nhiệm xã hội nhiều hơn các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu thực nghiệm không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ công bố như nghiên cứu của Freedman & Jaggi (1988)

Có một số nghiên cứu thực nghiệm đã tiếp cận sự liên quan của CSR trong vòng đời của một doanh nghiệp Theo báo cáo quan sát về trách nhiệm xã hội và môi trường của các doanh nghiệp Châu Âu vừa và nhỏ năm 2002 thì có một mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa sự tham gia các hoạt động xã hội bên ngoài và tuổi của doanh nghiệp Hay theo nghiên cứu điều tra các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Bồ Đào Nha của Santos (2011) nói rằng sự tham gia các hoạt động cộng đồng có liên quan trực tiếp tuổi hoạt động của doanh nghiệp Các doanh nghiệp lớn, giàu kinh nghiệm, lâu đời thường công bố thông tin về các hoạt động trách nhiệm xã hội nhiều hơn Các nghiên cứu này cho thấy có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa mức độ hoạt động trách nhiệm xã hội và tuổi của doanh nghiệp

Khung nghiên cứu

Xác định nội dung nghiên cứu: xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đó

Lý thuyết nghiên cứu: Dựa trên các lý thuyết nền tảng có liên quan đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội là lý thuyết đại diện, lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết thể chế, tác giả đồng thời tham khảo thêm các nghiên cứu trước từ các tác giả trên thế giới có liên quan Đề xuất mô hình nghiên cứu: Từ việc xác định nội dung nghiên cứu và tổng hợp lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả tổng hợp và đề xuất mô hình nghiên cứu của luận văn Trong đó, kế thừa và hiệu chỉnh các nhân tố sao cho phù hợp với đặc điểm của môi trường kinh tế của các doanh nghiệp tại Việt Nam Ứng dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: Dựa trên mô hình nghiên cứu đề xuất và các thang đo đã mô tả, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu, từ đó tiến hành kỹ thuật phân tích hồi quy tuyến tính để đi đến kết quả nghiên cứu.

Quy trình nghiên cứu

Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng cho nghiên cứu này Quy trình nghiên cứu được tác giả tiến hành qua ba giai đoạn như sau: Giai đoạn một bao gồm xác định mục tiêu nghiên cứu, thu thập dữ liệu sơ cấp, cơ sở lý thuyết và lược khảo các công trình nghiên cứu Giai đoạn hai thực hiện xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu, thu thập dữ liệu thứ cấp, thực hiện các kỹ thuật xử lý số liệu bằng phần mềm STATA14, xây dựng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất

(OLS) với các kiểm định đa cộng tuyến, tương quan, phương sai sai số thay đổi Giai đoạn ba là trích xuất kết quả nghiên cứu, thảo luận kết quả nghiên cứu và đưa ra các hàm ý, kiến nghị

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp nghiên cứu

Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu

3.3.1 Quy mô hội đồng quản trị

Quy mô hội đồng quản trị là một lợi thế cạnh tranh bền vững (Carpenter và Westphal, 2001) và là một trong những yếu tố quyết định chính đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Một hội đồng quản trị có hiệu quả sẽ có hành vi quản lý chủ động, bảo vệ các nguồn lực của doanh nghiệp bằng cách giảm các vấn đề của chủ nghĩa cơ hội, do đó dẫn đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội cao hơn (Amran và cộng sự, 2013) Thực tế quy mô hội đồng quản trị càng tối ưu càng đảm

Xác định mục tiêu nghiên cứu

Thu thập tài liệu sơ cấp

Cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu

Xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

Xác định mẫu nghiên cứu ,thu thập và làm sạch dữ liệu

- Kiểm định đa cộng tuyến

- Kiển định phương sai sai số thay đổi

-Kiểm định tự tương quan -Kiểm định sự phù hợp của mô hình

Kết quả nghiên cứu, kiến nghị bảo về tính nhất quán, minh bạch, chất lượng thông tin công bố hơn doanh nghiệp có quy mô phức tạp Ở Việt Nam, hội đồng quản trị là cơ quan quản lý đại diện cho các chủ sở hữu điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh cũng như mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp Vì vậy, giả thuyết đầu tiên được đưa ra là:

Giả thuyết H1: Quy mô hội đồng quản trị tác động tiêu cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết

3.3.2 Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập

Trách nhiệm ngày càng lớn hơn đã được đặt lên vai của thành viên hội đồng quản trị độc lập hay giám đốc độc lập Giám đốc độc lập có sự ảnh hưởng đáng kể đến công bố thông tin thông tin trách nhiệm xã hội vì họ có mối quan tâm với việc duy trì danh tiếng và hiệu quả hoạt động như một cơ chế giám sát hành vi quản lý (Lorenzo và cộng sự, 2009) Giám đốc độc lập được xem như là một nguồn tài nguyên độc đáo kết nối doanh nghiệp với các đối tác bên ngoài Những thành viên này phải đứng trên lợi ích của cả doanh nghiệp và các bên liên quan (Amran và cộng sự, 2013) Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng các giám đốc độc lập này có xu hướng tạo điều kiện, hỗ trợ cho mức độ cao hơn về trách nhiệm và minh bạch của các doanh nghiệp Điều này bao gồm cả mức độ công bố thông tin chất lượng cao hơn cho các bên liên quan Do đó, giả thuyết thứ hai được đặt ra là:

Giả thuyết H2: Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập tác động tích cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết

3.3.3 Tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị

Theo Fields và Keys (2003) hiệu quả của một doanh nghiệp thực sự bị ảnh hưởng bởi sáng kiến, kinh nghiệm và ý tưởng khác nhau mà mọi người đóng góp cho doanh nghiệp do sự đa dạng thành viên trong hội đồng quản trị Theo Ayuso và Argandona (2007), thành viên hội đồng quản trị nước ngoài sẽ khuyến khích và hỗ trợ đắc lực cho công bố thông tin thông tin trách nhiệm xã hội Dựa theo các phát hiện trên, giả thuyết thứ 3 được đưa ra là:

Giả thuyết H3: Thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị tác động tích cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết

Sở hữu nhà nước là một đặc điểm riêng biệt của thị trường chứng khoán Việt Nam Theo Tổ chức tài chính quốc tế (IFC, 2010), tại Việt Nam, tỷ lệ cổ phần do Nhà nước nắm giữ dựa trên tiêu chí phân loại doanh nghiệp Nhà nước do Chủ tịch nước công bố cho từng thời kỳ Đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối, cơ quan quyết định cổ phần hóa sẽ quyết định một tỷ lệ cổ phần thích hợp do Nhà nước nắm giữ Do đó, Nhà nước có thể tham gia vào một doanh nghiệp với tư cách là một cổ đông thông thường hoặc với tư cách là một cổ đông có đặc quyền Các doanh nghiệp cổ phần nhà nước là những doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ hơn 51% tổng số vốn chủ sở hữu Mặc dù số lượng doanh nghiệp đại chúng ngày càng tăng nhưng chủ yếu thuộc sở hữu của các tổ chức phi chính phủ, phần lớn các doanh nghiệp niêm yết trên HSX và HNX vẫn thuộc sở hữu của chính quyền, và sở hữu nhà nước vẫn đóng một vai trò quan trọng Hiện nay, sở hữu nhà nước trong công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhận được nhiều sự chú ý từ công chúng và được kì vọng là minh bạch và có cam kết trách nhiệm với cộng đồng Ghazali (2007) tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa các doanh nghiệp sở hữu nhà nước và công bố thông tin thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Yuen và cộng sự (2009) cũng cho thấy mối quan hệ tích cực giữa mức độ sở hữu nhà nước và mức độ tự nguyện trong công bố thông tin trách nhiệm xã hội Vì thế giả thuyết thứ tư được đặt ra là:

Giả thuyết H4: Sở hữu nhà nước tác động tích cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết

Barako (2007) cung cấp bằng chứng cho thấy rằng sở hữu nước ngoài là một biến quan trọng giải thích sự công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết ở Kenya từ 1992 đến 2001 Nghiên cứu của Chapple và Moon (2005) trong báo cáo trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Châu Á thông qua phân tích trang web của

50 doanh nghiệp hàng đầu cho thấy trong 7 quốc gia châu Á được lựa chọn, có rất ít doanh nghiệp Châu Á công bố thông tin về trách nhiệm xã hội nhiều như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ở Việt Nam, phần lớn các chủ sở hữu nước ngoài đều có nguồn gốc từ các nước phát triển với các hệ thống quản lý tài chính mạnh hơn Các nhà đầu tư nước ngoài có thể nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của báo cáo tài chính và báo cáo xã hội so với các nhà đầu tư trong nước Do đó, mức độ sở hữu nước ngoài cao hơn có thể khiến các doanh nghiệp gia tăng mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Vì vậy, nhân tố sở hữu nước ngoài được kỳ vọng sẽ làm gia tăng mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Do đó, giả thuyết thứ năm được đưa ra là:

Giả thuyết H5: Sở hữu nước ngoài tác động tích cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết

Thực nghiệm cho thấy có mối quan hệ mạnh mẽ giữa quy mô doanh nghiệp và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Theo Trotman và Bradley (1981), quy mô doanh nghiệp lớn dẫn đến hiệu quả kinh doanh cao hơn, cùng với những ràng buộc, áp lực từ xã hội nên doanh nghiệp lớn hơn công bố thông tin trách nhiệm xã hội nhiều hơn Doanh nghiệp lớn sẽ có vị thế, doanh thu và lợi nhuận lớn hơn, nghĩa là số tiền đóng góp cho hoạt động trách nhiệm xã hội sẽ cao hơn cũng như sự tác động lên xã hội nhiều hơn sẽ làm gia tăng nhu cầu thông tin về các hoạt động trách nhiệm xã hội mà các doanh nghiệp thực hiện (Andrikopoulos, 2014), do đó sẽ công bố thông tin trách nhiệm xã hội nhiều hơn Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn có xu hướng công bố thêm thông tin trách nhiệm xã hội để giảm bớt sự can thiệp của chính phủ trong hoạt động kinh doanh (Cowen và cộng sự, 1987) Dựa trên các nghiên cứu này, có thể kỳ vọng về mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội

Do đó, giả thuyết thứ sáu được đặt ra là:

Giả thuyết H6: Quy mô doanh nghiệp tác động tích cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết

Cowen và cộng sự (1987) đề xuất rằng các doanh nghiệp lớn hơn, hoạt động lâu đời hơn có xu hướng nhận được nhiều sự chú ý từ công chúng, do đó chịu áp lực cộng đồng lớn hơn để thực hiện trách nhiệm xã hội Roberts (1992) cho rằng khi một doanh nghiệp có độ tuổi cao, lâu đời thì truyền thống lịch sử và danh tiếng của nó trong các hoạt động trách nhiệm xã hội cũng sẽ trở nên được củng cố và mức độ công bố thông tin về trách nhiệm xã hội là tất yếu và thường xuyên hơn Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu cũng cho thấy tuổi doanh nghiệp tác động tích cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội Do đó, giả thuyết thứ bảy được đặt ra là:

Giả thuyết H7: Tuổi doanh nghiệp tác động tích cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết

Các nghiên cứu trước đưa ra bằng chứng cho thấy mối quan hệ mạnh mẽ và tích cực giữa lợi nhuận và công bố thông tin trách nhiệm xã hội (Roberts, 1992) Thực tế là mức lợi nhuận của doanh nghiệp càng lớn thì số tiền cho hoạt động xã hội và từ thiện càng cao, do đó dẫn đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội đạt kết quả tốt hơn Theo Haniffa và Cooke (2005) doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận có xu hướng công bố thêm các thông tin về môi trường và xã hội, để làm nổi bật hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong con mắt của xã hội cũng như cho thấy sự đóng góp cho xã hội Singhvi và Desai (1971) lợi nhuận cao hơn khiến nhà quản lý cung cấp thêm thông tin để chứng minh khả năng của mình trong tối đa hóa giá trị của các cổ đông và tăng cường quản lý Tương tự như vậy, nhà quản lý của một doanh nghiệp có lợi nhuận cảm thấy tự hào về thành tựu của mình và công bố thêm thông tin cho công chúng để thúc đẩy các ấn tượng tích cực của nhà đầu tư về hiệu suất của doanh nghiệp Dựa trên kết quả thực nghiệm kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất sinh lời và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội và đưa ra giả thuyết thứ tám là:

Giả thuyết H8: Tỷ suất sinh lời tác động tích cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết

3.3.9 Đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính cao có nghĩa là rủi ro (phá sản) tăng lên cho các nhà đầu tư và chủ nợ và cũng làm tăng rủi ro hệ thống cho ngành tài chính Điều này dẫn đến nhu cầu thông tin gia tăng từ các bên liên quan khác nhau, trong đó bao gồm tính minh bạch thông tin và sự tác động xã hội của doanh nghiệp (Andrikopoulos, 2014) Để làm hài lòng nhu cầu thông tin của các chủ nợ và các bên liên quan thì các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao sẽ công bố thông tin nhiều hơn những doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính thấp Thông tin càng được công bố nhiều sẽ giúp các chủ nợ sẽ nắm bắt được tình hình doanh nghiệp để đưa ra quyết định của mình Điều này sẽ tăng cường các cam kết báo cáo thông tin (Yang và cộng sự, 2008), nhưng nó cũng sẽ giới hạn các nguồn lực có sẵn cho quyết định của nhà quản lý đối với các mục tiêu như đóng góp cho phát triển bền vững và thực hành công bố trách nhiệm xã hội (Belkaoui & Karpik, 1989) Do đó, giả thuyết cuối cùng được đặt ra là:

Giả thuyết H9: Đòn bẩy tài chính tác động tích cực đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết.

Đo lường các chỉ tiêu nghiên cứu

Branco và Rodrigues (2008) đưa ra những chỉ tiêu công bố trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua 30 chỉ tiêu liên quan đến môi trường, nguồn nhân lực, sản phẩm - khách hàng và vấn đề liên quan đến cộng đồng

Chỉ số công bố thông tin trách nhiệm xã hội (CSR) đại diện cho biến phụ thuộc trong nghiên cứu này được đo lường dựa trên nền tảng nghiên cứu của Branco và Rodrigues (2008) và những quy định trong thông tư 155/2015/TT-BTC hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán của Bộ tài chính ban hành ngày 06 tháng 10 năm 2015 Từ việc phân tích đánh giá tầm quan trọng và sự phù hợp với thực tế ở Việt Nam, tác giả lựa chọn 15 chỉ tiêu công bố thông tin trách nhiệm xã hội được chia thành 4 nhóm chính Tác giả sử dụng phương pháp phân tích nội dung để đánh giá khoa học và logic đối với thông tin trách nhiệm xã hội được công bố trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM Mỗi chỉ tiêu được doanh nghiệp công bố trong báo cáo thường niên thì được đánh giá “1 điểm”, ngược lại nếu chỉ tiêu đó không được công bố trong báo cáo thường niên thì nhận “0 điểm” Điểm của tất cả các chỉ tiêu này sau đó được cộng lại để có được số điểm tổng của từng doanh nghiệp Sẽ không chấm điểm chỉ tiêu cho doanh nghiệp nếu chỉ tiêu đó không liên quan đến doanh nghiệp (phụ lục 1)

Mô hình đo tổng số điểm về mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp như sau:

Với d i là 1, nếu chỉ tiêu d i được công bố và 0 nếu chỉ tiêu d i không được công bố, n j là số tối đa các chỉ tiêu cho doanh nghiệp thứ j và n j ≤ 15

Với 15 chỉ tiêu được đánh giá thì số điểm tối đa mỗi doanh nghiệp đạt được là 15 điểm Điểm số của từng doanh nghiệp được quy đổi sang phần trăm (%) bằng cách lấy tổng điểm của mỗi doanh nghiệp đạt được chia cho tổng chỉ tiêu có liên quan đến doanh nghiệp (được chấm điểm) và nhân với 100 Ví dụ, nếu một doanh nghiệp không công bố bất cứ chỉ tiêu nào trong 15 chỉ tiêu, điểm cho biến phụ thuộc sẽ là 0% Tương tự như vậy, nếu một nửa trong số 15 chỉ tiêu được công bố, điểm của biến phụ thuộc sẽ là 50%

Bảng 3.1 Đo lường mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết STT Thang đo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Trách nhiệm đối với môi trường

2 Chứng nhận, giải thưởng môi trường

3 Theo đuổi mục tiêu môi trường

5 Sức khỏe và an toàn

6 Thu nhập và phúc lợi của lao động

8 Đào tạo và thăng tiến

9 Sự hài lòng của người lao động

Sản phẩm và khách hàng

11 Sự hài lòng của khách hàng

Vấn đề liên quan đến cộng đồng

13 Hỗ trợ văn hóa nghệ thuật

14 Hỗ trợ sức khỏe cộng đồng

15 Tài trợ sự kiện văn hóa giải trí

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp đề xuất

3.4.2 Biến độc lập a) Quy mô hội đồng quản trị (BSIZE):

Biến quy mô hội đồng quản trị được đo lường bằng số lượng thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp được nghiên cứu b) Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập (DBOARD)

Biến tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập được đo lường bằng cách tính tỷ lệ của tổng số thành viên hội đồng quản trị độc lập trên tổng số thành viên hội đồng quản trị của từng doanh nghiệp được nghiên cứu c) Tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị (FOROWN)

Biến tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị được đo lường bằng cách tính tỷ lệ của tổng số thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị trên tổng số thành viên hội đồng quản trị của từng doanh nghiệp được nghiên cứu d) Sở hữu nhà nước (SEO)

Biến sở hữu nhà nước được đo lường bằng cách sử dụng biến Dummy, biến này sẽ nhận giá trị “1” nếu có sự hiện diện của sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp, nếu không có thì nhận giá trị “0” e) Sở hữu nước ngoài (FOR)

Biến sở hữu nước ngoài được đo lường bằng cách sử dụng biến Dummy, biến này sẽ nhận giá trị “1” nếu có sự hiện diện của sở hữu nước ngoài trong doanh nghiệp, nếu không có thì nhận giá trị “0” f) Quy mô doanh nghiệp (SIZE)

Biến quy mô doanh nghiệp được đo lường bằng cách tính logarit tự nhiên của chỉ tiêu tổng tài sản của doanh nghiệp g) Tuổi doanh nghiệp (AGE)

Biến tuổi doanh nghiệp được đo lường bằng cách tính số năm hoạt động kể từ khi thành lập đến thời điểm nghiên cứu h) Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)

Biến tỷ suất sinh lời trên tài sản được đo lường bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế trong năm chia cho chỉ tiêu tài sản của từng doanh nghiệp i) Đòn bẩy tài chính (LEV)

Biến đòn bẩy tài chính được đo lường bằng cách lấy chỉ tiêu tổng nợ trong năm chia cho chỉ tiêu vốn chủ sở hữu của từng doanh nghiệp

Việc đo lường các biến độc lập được tổng hợp như trong Bảng 3.2

Bảng 3.2 Phương pháp đo lường các biến độc lập

Ký hiệu Phương pháp đo lường Kỳ vọng

BSIZE Số lượng thành viên trong hội đồng quản trị -

DBOARD Tỷ lệ % thành viên hội đồng quản trị độc lập trên tổng số thành viên hội đồng quản trị +

FOROWN Tỷ lệ % thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị trên tổng số thành viên hội đồng quản trị +

SEO Sử dụng biến Dummy, nếu có sự hiện diện của sở hữu nhà nước nhận giá trị 1, ngược lại nhận giá trị 0 + FOR Sử dụng biến Dummy, nếu có sự hiện diện của sở hữu tổ + chức nước ngoài nhận giá trị 1, ngược lại nhận giá trị 0

SIZE Logarit tự nhiên của tài sản +

AGE Số năm hoạt động kể từ khi thành lập đến thời điểm nghiên cứu +

ROA Lợi nhuận sau thuế/tài sản +

LEV Tổng nợ/vốn chủ sở hữu +

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp đề xuất

Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dựa trên nền tảng lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết hợp pháp, lý thuyết thể chế và chi phí chính trị Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập các tài liệu tham khảo chuyên ngành, sách báo tạp chí có liên quan đến lĩnh vực quan tâm, lược khảo các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến công bố thông tin, báo cáo tài chính, lý thuyết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm đề xuất các nhân tố và Giả thuyết của mô hình nghiên cứu

Theo các nhà nghiên cứu Tabachnick và Fidell (1996), để tiến hành hồi quy cho kết quả tốt nhất, cỡ mẫu cần thiết được tính theo công thức sau:

- M là số biến độc lập

Tính đến cuối năm 2016, tổng số lượng doanh nghiệp niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam là 1172 doanh nghiệp Trong đó, số lượng doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) là 381 doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố

Hồ Chí Minh (HOSE) là 325 doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp niêm yết trên Upcom là 466 doanh nghiệp Đối với dữ liệu nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu tài chính, quản trị, báo cáo thường niên, báo cáo phát triển bền vững (nếu có) của 200 doanh nghiệp được chọn ngẫu nhiên niêm yết trên HOSE hoạt động trong 16 ngành (bao gồm: khoáng sản, thép, cao su, công nghệ - giáo dục, bất động sản, xây dựng, dược - vật tư y tế, dầu khí, thực phẩm, sản xuất, thương mại, vận tải - kho bãi, năng lượng, nhựa - bao bì, thủy sản, tài chính bảo hiểm) trong giai đoạn 2011-2016

Về việc đo lường các biến liên quan đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội, do Việt Nam không có sẵn dữ liệu hay chỉ số điều tra, thống kê về tình hình hoạt động liên quan đến công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp nên tác giả thu thập dữ liệu dựa trên thông tin cung cấp rộng rãi cho công chúng là báo cáo thường niên Báo cáo thường niên là các tài liệu quan trọng đại diện cho các doanh nghiệp thuộc phạm vi công cộng Hughes, Anderson và Golden (2001) ủng hộ việc sử dụng các báo cáo thường niên về việc trích xuất dữ liệu trách nhiệm xã hội vì sự thuận tiện của chúng Bên cạnh đó, rất nhiều các nghiên cứu đã sử dụng các báo cáo thường niên để đo lường trách nhiệm xã hội (Abbott và Monsen, 1979) Các dữ liệu được trích xuất từ các nguồn như mối quan hệ cá nhân, cổng thông tin điện tử của các doanh nghiệp, trang điện tử dữ liệu thông tin tài chính Vietstock.vn Dựa trên danh sách các doanh nghiệp được lựa chọn, tiến hành thu thập dữ liệu, thực hiện các kỹ thuật xử lý số liệu bằng phần mềm STATA 14 để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội.

Mô hình nghiên cứu

Từ các giả thuyết nêu trên, tác giả đề xuất mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) để kiểm định giả thuyết về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội (CSR) như sau:

CSR = α+ β 1 BSIZE+β 2 SIZE+ β 3 LEV+ β 4 ROA+ β 5 FOROWN + β 6 SEO+ β 7 FOR+ β 8 AGE +β 9 DBOARD +ε i

- BSIZE: Quy mô hội đồng quản trị;

- SIZE: Quy mô doanh nghiệp;

- LEV: Đòn bẩy tài chính;

- ROA: Tỷ suất sinh lời trên tài sản;

- FOROWN: Tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị;

- SEO: Sở hữu nhà nước;

- FOR: Sở hữu nước ngoài;

- DBOARD: Tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập;

- α: Hệ số chặn (tung độ gốc);

- β 1 , β 2 , β 3 , β 4 , β 5 , β 6 , β 7 , β 8 , β 9 : Các hệ số góc, thể hiện mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình;

- ε i : Sai số ngẫu nhiên, đại diện cho các nhân tố khác ảnh hưởng đến biến phụ thuộc nhưng không đưa vào mô hình

Tác giả sử dụng mô hình trên để kiểm tra xem liệu rằng các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM hay không.

Thực hiện nghiên cứu

Tác giả sử dụng phần mềm STATA 14 để phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích hồi quy, đánh giá mức độ phù hợp của mô hình, kiểm định các giả thuyết…

3.7.1 Phân tích thống kê mô tả

Phương pháp này được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập nhằm có cái nhìn tổng quát về mẫu nghiên cứu Thông qua mô tả, tóm tắt thống kê các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu cho thấy được giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và bé nhất của từng biến nghiên cứu

Phân tích tương quan được sử dụng để xem xét mối quan hệ giữa các biến độc lập trong mô hình Kết quả phân tích tương quan có thể bước đầu đánh giá được các dự báo mô hình Ngoài ra, trong trường hợp các biến độc lập có mối tương quan cao thì đây là dấu hiệu của đa cộng tuyến, do đó đây là một cơ sở để tác giả thực hiện kiểm định đa cộng tuyến và điều chỉnh mô hình

Trong khi phân tích tương quan kiểm tra có tồn tại mối tương quan giữa các biến hay không thì phân tích hồi quy được dùng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập với các biến phụ thuộc, qua đó cho biết chiều tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc Phương pháp này sẽ cho phép tác giả đưa ra những bằng chứng xác thực để trả lời các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Thông qua phương pháp tổng bình phương bé nhất (OLS), hằng số và các tham số của mô hình sẽ được ước lượng Hệ số Prob (P- value) của kết quả phân tích hồi quy cho biết mức độ tác động của các biến độc lập lên từng biến phụ thuộc Các mức thống kê có ý nghĩa thường được sử dụng là 1%, 5%, 10% (hay nói cách khác là độ tin cậy 99%, 95% hoặc 90%) Hệ số R 2 (R – squared) hoặc R 2 điều chỉnh (adjusted R – squared) từ kết quả phân tích sẽ cho biết khả năng tất cả các biến độc lập giải thích được sự biến động biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy (Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Minh, 2012) Sau khi phân tích hồi quy cần kiểm định

F về tính thích hợp của mô hình, kiểm định phương sai sai số thay đổi, tự tương quan

Mô hình sai số chuẩn mạnh (Robust Standard errors), hay còn gọi là Ước lượng sai số chuẩn vững Khi mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi, các ước lượng OLS cho các hệ số vẫn là ước lượng không chệch, chỉ có phương sai của các hệ số ước lượng và hiệp phương sai giữa các hệ số ước lượng thu được bằng phương pháp OLS là chệch Từ đó White (1980) đề xuất phương pháp sai số chuẩn vững (robust standard error) với tư tưởng như sau: vẫn sử dụng các hệ số ước lượng từ phương pháp OLS, tuy nhiên phương sai các hệ số ước lượng thì được tính toán lại mà không sử dụng đến giả thiết phương sai sai số không đổi Ước lượng mô hình sai số chuẩn mạnh sẽ cho một kết quả ước lượng đúng của sai số chuẩn trong đó chấp nhận sự hiện diện của hiện tượng phương sai thay đổi (heteroskedasticity)

3.7.4 Kiểm định F về tính thích hợp của mô hình

Vấn đề tiếp theo sau khi phân tích hồi quy là kiểm tra sự phù hợp của mô hình đối với tập dữ liệu qua giá trị R 2 Để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy tổng thể, ta cần kiểm định giả thiết H 0 : R 2 = 0 Tương tự như phân tích hồi quy, giá trị Prob cũng được sử dụng trong kiểm định này Nếu giá trị Prob nhỏ hơn 5% thì bác bỏ giả thiết H 0

3.7.5 Kiểm định vi phạm giả thuyết thống kê

Thực hiện hồi quy mô hình phụ dưới dạng sau:

Tính giá trị thống kê kiểm định nR 2 , với n là số quan sát của mẫu, R 2 là hệ số xác định bội của mô hình phụ Từ giả thiết H0: 𝛼 2 = 𝛼 3 = 𝛼 4 = 𝛼 5 = 𝛼 6 = 0 (không có hiện tượng phương sai thay đổi); xem xét nếu nR 2 > x α 2 (df ) ta bác bỏ giả thiết H 0 , nghĩa là có hiện tượng phương sai thay đổi

Giả sử trong mô hình xảy ra hiện tượng tự tương quan bậc p, ký hiệu AR(p), tức là các phần dư được biểu diễn dưới dạng sau:

𝑈 𝑖 = 𝜌 1 + 𝜌 1 𝑈 𝑖−1 + 𝜌 2 𝑈 𝑖−2 + 𝜌 3 𝑈 𝑖−3 + ⋯ + 𝜌 𝑝 𝑈 𝑖−𝑝 + 𝜀 𝑖 Với εi thỏa các giả thiết OLS Ta có giả thiết kiểm định như sau: 𝐻 0 : 𝜌 1 𝜌 2 = 𝜌 3 = ⋯ = 𝜌 𝑃 = 0 (mô hình Ui là không tồn tại và mô hình hồi quy gốc không xảy ra hiện tượng tự tương quan) So sánh nếu (n-p)R2(1c)>x α 2 (p) thì bác bỏ giả thiết H 0 , có nghĩa là mô hình gốc có hiện tượng tự tương quan bậc p

Trong mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển chúng ta giả định không có tương quan giữa các phần dư hay Cov(uiuj) = 0 với mọi i, j Còn nếu tồn tại i và j mà Cov(ui,uj) ≠ 0: thì kết luận có tự tương quan Nếu sai số Ut chỉ tương quan với Ut-1 (sai số một kỳ trước đó) thì ta có hiện tượng tự tương quan bậc nhất Điều kiện để mô hình mắc khuyết tật là giá trị Sig của Chi 2 >0.05

Chương 3 này dựa theo sự tổng hợp các lý thuyết về công bố thông tin trách nhiệm xã hội và kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước đây ở nước ngoài, kết hợp đối chiếu và hiệu chỉnh sao cho phù hợp với đặc điểm môi trường kinh tế của các doanh nghiệp tại Việt Nam, tác giả xây dựng chín giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu gồm một biến phụ thuộc và chín biến độc lập: quy mô hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập, tỷ lệ thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, quy mô doanh nghiệp, độ tuổi doanh nghiệp, tỷ suất sinh lời và đòn bẩy tài chính Giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất trong chương này sẽ là cơ sở để kiểm định và bàn luận kết quả nghiên cứu trong chương sau

Tác giả cũng tiến hành xây dựng thang đo cho các biến nghiên cứu, xác định cỡ mẫu và sử dụng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất để tiến hành phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu về thực trạng sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở chương tiếp theo.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 05/06/2021, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm