Tri thức tổ chức bao gồm các đặc tính: - Không thể sao chép: tri thức tổ chức là duy nhất; - Hiếm có: do phụ thuộc vào kinh nghiệm và kiến thức của nhân viên trong hiện tại và quá khứ; -
Trang 1TRẦN HỮU LỘC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TRI THỨC
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VNG ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2TRẦN HỮU LỘC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TRI THỨC
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VNG ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh (Hướng ứng dụng)
Mã số: 834101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VÕ TẤN PHONG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: TRẦN HỮU LỘC
Là học viên Cao học K24 Ngành Quản trị kinh doanh
Mã số học viên: 7701240366A
Cam đoan đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VNG ĐẾN NĂM 2020”
Người hướng dẫn khoa học: TS Võ Tấn Phong
Luận văn được thực hiện tại trường Đại học Kinh Tế TP.HCM
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép bất kỳ tài liệu nào
và chưa được công bố nội dung này bất kỳ ở đâu, các số liệu được chú thích có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi
TP Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 10 năm 2018
Tác giả
Trần Hữu Lộc
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Phương pháp nghiên cứu 3
5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 3
5.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 4
6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 4
6.1 Ý nghĩa khoa học 4
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
7 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC 6
1.1 Tri thức 6
1.1.1 Khái niệm về tri thức 6
1.1.2 Phân loại tri thức 8
1.1.2.1 Tri thức tổ chức 8
1.1.2.2 Tri thức cá nhân 8
1.1.3 Vai trò của tri thức 9
Trang 51.2 Quản trị tri thức 9
1.2.1 Khái niệm về quản trị tri thức 9
1.2.2 Đặc điểm của quản trị tri thức 10
1.2.3 Mục tiêu và vai trò của quản trị tri thức đối với doanh nghiệp 11
1.2.3.1 Mục tiêu của quản trị tri thức 11
1.2.3.2 Vai trò của quản trị tri thức 11
1.2.4 Những thách thức trong quản trị tri thức của doanh nghiệp 12
1.2.5 Các yếu tố cơ bản trong quản trị tri thức 13
1.2.5.1 Con người 13
1.2.5.2 Quy trình 14
1.2.5.3 Hệ thống công nghệ và thông tin 14
1.2.6 Các hoạt động quản trị tri thức trong doanh nghiệp 15
1.2.6.1 Xác định tri thức 15
1.2.6.2 Thu nhận tri thức 16
1.2.6.3 Ứng dụng tri thức 17
1.2.6.4 Chia sẻ tri thức 17
1.2.6.5 Phát triển tri thức 18
1.2.6.6 Sáng tạo tri thức 18
1.2.6.7 Duy trì tri thức 20
1.2.6.8 Đo lường tri thức 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VNG 22
2.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần VNG 22
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 22
2.1.2 Tầm nhìn và sứ mệnh của VNG 22
2.1.2.1 Sứ mệnh 22
2.1.2.2 Tầm nhìn 23
2.1.3 Các dịch vụ Công ty đang cung cấp 24
2.1.4 Các thành tựu của VNG 24
Trang 62.1.5 Hệ thống quản trị của Công ty CP VNG 25
2.1.6 Quản trị lao động tri thức tại VNG 26
2.1.7 Nguồn nhân lực của Công ty CP VNG 27
2.2 Thực trạng quản trị tri thức tại Công ty cổ phần VNG 28
2.2.1 Thực trạng về hoạt động xác định tri thức 28
2.2.2 Thực trạng về hoạt động thu nhận tri thức 30
2.2.3 Thực trạng về hoạt động ứng dụng tri thức 37
2.2.4 Thực trạng về hoạt động chia sẻ tri thức 40
2.2.5 Thực trạng về hoạt động phát triển tri thức 41
2.2.6 Thực trạng về hoạt động sáng tạo tri thức 43
2.2.7 Thực trạng về hoạt động duy trì tri thức 46
2.2.8 Thực trạng về hoạt động đo lường tri thức 49
2.3 Đánh giá chung về hoạt động quản trị tri thức tại Công ty CP VNG 51
2.3.1 Những mặt đạt được 51
2.3.2 Những mặt tồn tại, hạn chế 52
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 52
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TRI THỨC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VNG 54
3.1 Định hướng phát triển của Công ty CP VNG 54
3.1.1 Tiềm năng phát triển 54
3.1.1.1 Tiềm năng phát triển của lĩnh vực công nghiệp nội dung số tại Việt Nam 54
3.1.1.2 Tiềm năng phát triển của Công ty cổ phần VNG 54
3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản trị tri thức tại Công ty cổ phần VNG đến năm 2020 55
3.2.1 Hoàn thiện công tác xác định tri thức 55
3.2.1.1 Mục tiêu 55
3.2.1.2 Nội dung 55
3.2.1.3 Điều kiện thực hiện 56
Trang 73.2.1.4 Kết quả dự kiến 56
3.2.2 Hoàn thiện công tác thu nhận tri thức 56
3.2.2.1 Mục tiêu 56
3.2.2.2 Nội dung 56
3.2.2.3 Điều kiện thực hiện 57
3.2.2.4 Kết quả dự kiến 58
3.2.3 Hoàn thiện công tác ứng dụng tri thức 58
3.2.3.1 Mục tiêu 58
3.2.3.2 Nội dung 58
3.2.3.3 Điều kiện thực hiện 59
3.2.3.4 Kết quả dự kiến 59
3.2.4 Hoàn thiện công tác chia sẻ tri thức 59
3.2.4.1 Mục tiêu 59
3.2.4.2 Nội dung 59
3.2.4.3 Điều kiện thực hiện 60
3.2.4.4 Kết quả dự kiến 60
3.2.5 Hoàn thiện công tác phát triển tri thức 60
3.2.5.1 Mục tiêu 60
3.2.5.2 Nội dung 60
3.2.5.3 Điều kiện thực hiện 61
3.2.5.4 Kết quả dự kiến 62
3.2.6 Hoàn thiện công tác sáng tạo tri thức 62
3.2.6.1 Mục tiêu 62
3.2.6.2 Nội dung 62
3.2.6.3 Điều kiện thực hiện 63
3.2.6.4 Kết quả dự kiến 63
3.2.7 Hoàn thiện công tác đo lường tri thức 63
3.2.7.1 Mục tiêu 63
3.2.7.2 Nội dung 63
Trang 83.2.7.3 Điều kiện thực hiện 64
3.2.7.4 Kết quả dự kiến 64
3.3 Kiến nghị 64
3.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 65
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SI Chỉ số thông minh của tổ chức
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn nhân lực trong Công ty cổ phần VNG 28
Bảng 2.2: Đánh giá về công tác xác định tri thức của nhân viên tại VNG 29
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát về công tác tuyển dụng của Công ty cổ phần VNG 32
Bảng 2.4: Hoạt động đào tạo nhân sự tại VNG 33
Bảng 2.5: Đánh giá về công tác đào tạo tri thức 35
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát về công tác bố trí nhân sự tại Công ty cổ phần VNG 38
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát về công tác chia sẻ tri thức tại Công ty cổ phần VNG 40 Bảng 2.8: Kết quả khảo sát về công tác đãi ngộ tại Công ty cổ phần VNG 41
Bảng 2.9: Kết quả khảo sát về môi trường làm việc tại Công ty cổ phần VNG 42
Bảng 2.10: Đánh giá về công tác sáng tạo tri thức 44
Bảng 2.11: Hệ thống công nghệ được ứng dụng trong hoạt động quản lý, vận hành 46
Bảng 2.12: Kết quả khảo sát về công nghệ thông tin tại Công ty cổ phần VNG 48
Bảng 2.13: Kết quả khảo sát về công tác đo lường tri thức tại Công ty cổ phần VNG 49
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Yêu cầu tri thức cá nhân của nhân viên 16
Hình 1.2: Mô hình SECI về sáng tạo tri thức 18
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Công ty cổ phần VNG 25
Hình 2.2: Quy trình tuyển dụng được áp dụng tại VNG 31
Hình 2.3: Số lượt luân chuyển nhân viên 37
Hình 2.4: Số lượng các buổi chia sẻ tri thức được thực hiện tại VNG 44
Hình 2.5: Số lượng nhân viên nghỉ việc hàng năm của VNG 49
Trang 12
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trên thế giới vấn đề quản trị tri thức đã được nghiên cứu từ rất lâu (đầu những năm 80 của thế kỷ XX) và cũng được áp dụng rộng rãi Tuy nhiên, ở Việt Nam, quản trị tri thức chưa thật sự được đề cập một cách phổ biến, đặc biệt trong các tổ chức, doanh nghiệp dù biết rằng đây là một xu thế quản trị cần thiết hiện nay
Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển của nền kinh tế thì việc cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường càng trở nên gay gắt hơn Các tổ chức thường hoạt động kém hiệu quả khi mà các thành viên trong tổ chức đó không có sự chia sẻ tri thức một cách hợp lý và chất lượng Vì vậy, để duy trì lợi thế cạnh tranh
và thúc đẩy sự sáng tạo đổi mới trong mỗi doanh nghiệp thì vai trò của hoạt động quản trị tri thức ngày càng quan trọng
Công ty cổ phần VNG là một trong những công ty đầu ngành trong lĩnh vực Internet tại Việt Nam, với mục tiêu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, không ngừng cải tiến công nghệ, đồng thời duy trì hiệu quả hiệu động của tổ chức nhằm theo đuổi
sứ mệnh “Phát triển Internet để thay đổi cuộc sống người Việt Nam” Để thực hiên mục tiêu này thì hơn hết Công ty cần chú trọng đến việc hoàn thiện hoạt động quản trị tri thức nhằm phát huy sức mạnh của sự đoàn kết, niềm tin và sự tương đồng của mỗi thành viên trong tổ chức, giúp Công ty không ngừng đổi mới sáng tạo để duy trì
vị thế cạnh tranh Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động công tác quản trị tri thức còn khá mới và chưa được Ban lãnh đạo Công ty chú trọng, chính vì vậy việc đưa ra các chính sách để hoàn thiện công tác này trong nội bộ Công ty vẫn là một thách thức lớn
Công ty cổ phần VNG có quy mô lớn hoạt động trên lĩnh vực Internet với số lượng cán bộ, nhân viên đông đảo (khoảng 2.250 nhân viên) làm việc tại các phòng ban khác nhau, chia thành nhiều nhóm dự án khác nhau Mặc dù các nhóm dự án có nhiều điểm chung, nhưng hầu như các hoạt động trao đổi tri thức giữa các phòng ban khá hạn chế Đôi khi xảy ra một số lỗi mà phòng ban đã từng gặp và khắc phục được, tuy nhiên không được chia sẻ rộng rãi dẫn đến việc mất thời gian và công sức khi các
Trang 13bộ phận phòng ban khác gặp phải sự cố tương tự, hay việc một số kiến thức tạm thời
bị mất đi khi nhân viên quản lý của bộ phận nghỉ việc
Để giải quyết các khó khăn trên, đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty, cần có một nghiên cứu tìm hiểu và đánh giá, đưa ra các biện pháp hoàn thiện công tác quản trị tri thức tại Công ty CP VNG nhằm khuyến khích thúc đẩy việc trao đổi tri thức giữa đội ngũ cán bộ nhân viên Công ty Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu chính thức nào về công tác quản trị tri thức tại Công ty cổ phần VNG
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị tri thức tại Công ty cổ phần VNG đến năm 2020” làm đề tài luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh
2 Mục tiêu của đề tài
3 Câu hỏi nghiên cứu
Với những mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn sẽ trả lời những câu hỏi sau:
- Thực trạng quản trị tri thức tại Công ty cổ phần VNG hiện nay như thế nào?
- Giải pháp nào cần thực hiện nhằm hoàn thiện công tác quản trị tri thức của Công ty cổ phần VNG trong thời gian tới?
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: công tác quản trị tri thức tại doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Tại Công ty cổ phần VNG; Thời gian nghiên cứu
2015-2017, các giải pháp thực hiện từ nay đến 2020
- Đối tượng khảo sát: Nhân viên tại Công ty cổ phần VNG
- Thời gian khảo sát: Tháng 5 đến tháng 8 năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: tổng hợp số liệu của Công ty có liên quan đến công tác quản trị tri thức
- Phương pháp nghiên cứu định tính: phỏng vấn ý kiến chuyên gia
- Phương pháp phân tích: phân tích các báo cáo liên quan đến tình hình hoạt động của Công ty và công tác quản trị tri thức mà Công ty đang thực hiện
- Phương pháp so sánh: sử dụng so sánh để đối chiếu giữa các kỳ và năm hoạt động của Công ty
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phiếu khảo sát bằng bảng hỏi
5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
a Dữ liệu thứ cấp: Các tài liệu, báo cáo của phòng nhân sự, số liệu của Công ty
để phân tích thực trạng quản trị tri thức Thông tin thu được từ dữ liệu sơ cấp được tổng hợp dưới dạng bảng biểu, hình vẽ
b Dữ liệu sơ cấp: Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát
- Đối tượng khảo sát: Nhân viên Công ty cổ phần VNG
- Nội dung bảng hỏi: Các biện pháp mà Công ty đang thực hiện trong công tác quản trị tri thức bao gồm công tác tuyển dụng, công tác bố trí nhân sự, công tác đãi ngộ, môi trường làm việc, hệ thống công nghệ thông tin
- Địa điểm thực hiện khảo sát: Công ty cổ phần VNG
- Số lượng phiếu khảo sát: Để đánh giá hiệu quả công tác quản trị tri thức, tác giả tiến hành phát phiếu điều tra đến đội ngũ cán bộ, nhân viên đang làm việc tại Công ty cổ phần VNG trụ sở chính Do điều kiện nghiên cứu có hạn, tác giả chỉ tập
Trang 15trung khảo sát các cán bộ, nhân viên làm việc trực tiếp tại trụ sở chính của Công ty,
với tổng số cán bộ, nhân viên được khảo sát tại đây là 436 người ở hầu hết các phòng
ban Số lượng phiếu tác giả phát ra là 436 phiếu Số phiếu hợp lệ thu về là 413 phiếu
Nghiên cứu công tác quản trị tri thức tại doanh nghiệp là vấn đề cần thiết, góp
phần khẳng định vị trí của hoạt động quản trị tri thức trong thời đại kinh tế trí thức
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá thực trạng công tác quản trị tri thức tại Công
ty cổ phần VNG, làm cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tri thức
tại Công ty cổ phần VNG Nghiên cứu làm rõ thực trạng công tác quản trị tri thức tại
Công ty cổ phần VNG theo hướng phân tích các hoạt động cụ thể của công tác quản
trị tri thức, và có ý nghĩa cho các nghiên cứu về sau
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị tri thức
Tổng hợp những vấn đề lý thuyết về quản trị tri thức, tập trung làm nổi bật khái
niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tri thức tại doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị tri thức tại Công ty cổ phần VNG
Trên cơ sở lý thuyết chương 1, tác giả tiến hành phân tích đánh giá thực trạng
quản trị tri thức tại Công ty cổ phần VNG Dựa trên kết quả phân tích, tác giả tổng
hợp kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản trị tri
thức tại Công ty cổ phần VNG
Trang 16Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tri thức tại Công ty cổ phần VNG đến năm 2020
Dựa trên những hạn chế còn tồn tại tác giả đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị tri thức tại Công ty Cổ phần VNG đến năm 2020
Từ đó, tạo điều kiện nâng cao chất lượng cán bộ, nhân viên và nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trên thị trường
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
1.1 Tri thức
1.1.1 Khái niệm về tri thức
Nonaka và Takeuchi (1995) định nghĩa “Tri thức là tiến trình năng động của con người để chứng minh niềm tin cá nhân về cái mình cho là chân lý” Theo Davenport và Prusak (1998), tri thức là một tập hợp bao gồm kinh nghiệm, giá trị, thông tin và các kiến thức chuyên sâu có thể giúp đánh giá và kết hợp để tạo ra kinh nghiệm và thông tin mới Họ cho rằng tri thức bắt nguồn và được áp dụng ngay trong tâm trí của con người Trong các tổ chức, tri thức không chỉ xuất hiện trong các tài liệu mà còn trong thói quen, quá trình làm việc, thực tiễn và các chuẩn mực của tổ chức
Grey (2007) cho rằng “Tri thức thường bị nhầm lẫn với thông tin nhưng thực chất tri thức và thông tin là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau” Thông tin tập hợp các dữ liệu cho mục đích xác định rõ ràng được con người đúc kết, lưu trữ và dần hình thành nên tri thức Tri thức là tài sản bên trong của con người, được tạo ra và ứng dụng bởi mỗi người, phụ thuộc vào hoàn cảnh
Trong thực tế, con người có thể dễ dàng chia sẻ thông tin nhưng rất khó để chia sẻ tri thức đến người khác Như vậy, tri thức là việc sử dụng đầy đủ các thông tin và
dữ liệu kết hợp cùng với những kỹ năng, ý tưởng, kinh nghiệm, trực giác và động lực của con người Theo Martensson (2000) thì tri thức là nhân tố cơ bản, có thể ứng dụng thành công giúp tổ chức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ sáng tạo khác nhau Không giống như những nguồn tài nguyên khác, tri thức là nguồn tài nguyên vô tận, không bị cạn kiệt trong quá trình sử dụng, rất khó sao chép, đánh giá và lựa chọn nhưng lại mang đến cho người sở hữu chúng loại hàng hóa độc đáo và duy nhất Giá trị của tri thức có xu hướng phát triển, phổ biến và được rất nhiều tổ chức sử dụng Drucker (1994) kết luận tri thức là nguồn lực chính cho mỗi cá nhân nói riêng và cho
tổ chức nói chung Các nhân tố của quá trình sản xuất như đất đai, lao động, vốn không biến mất nhưng trong quá trình phát triển thì không còn quan trọng nữa Tri
Trang 18thức được xem là nguồn tài nguyên khó sao chép, đánh giá và lựa chọn nhưng mang đến cho người sở hữu nó loại “hàng hóa” độc đáo và duy nhất
Jain và các cộng sự (2007) cho rằng tri thức là nguồn lực đầu vào quan trọng trong hầu hết các tổ chức vì nó cho phép các tổ chức phát triển và tạo ra các lợi thế cạnh tranh của mình, trong khi Hsu (2006) nhấn mạnh tri thức giúp tổ chức đánh giá nhân viên, giúp nhân viên thực hiện công việc và tạo ra lợi thế cạnh tranh cuối cùng của tổ chức Do đó, việc quản lý, khai thác sử dụng tri thức có hiệu quả giúp tổ chức
có thể duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh và là yếu tố quan trọng đối với sự thành công của một tổ chức
Kothuri (2002) nhấn mạnh tri thức trong tổ chức được xem là vốn trí tuệ và tồn tại theo hai dạng chính là hiện hữu và ẩn đi Tri thức hiện hữu ít phụ thuộc vào con người, có thể hệ thống, đo lường, phổ biến và lưu trữ, bao gồm thông tin và kỹ năng giao tiếp và truyền tải dữ liệu đến người khác Tri thức ẩn đi phụ thuộc rất nhiều vào
cá nhân và có thể tạo ra bằng cách xử lý thông tin kết hợp cùng tri thức và kinh nghiệm Theo Zack (1999), phần lớn tri thức trong các tổ chức là ẩn đi nên rất khó kết nối với nhau Do tri thức luôn nằm trong bộ não của cá nhân, bao gồm rất nhiều
kỹ năng nhận thức như niềm tin, hình ảnh, trực giác và kỹ năng, không phải tài liệu, chứng từ nên rất khó để diễn giải hoặc mô tả một cách rõ ràng
Như vậy, dù ở dạng nào thì tri thức cũng được tích lũy qua kinh nghiệm hàng ngày nên có thể được chia sẻ trong quá trình tương tác giữa các cá nhân trong tổ chức Một điểm lưu ý rằng, tri thức có thể bị mất đi hoặc rời khỏi tổ chức khi nhân viên sở hữu đó không còn làm việc cho tổ chức, hay khi tổ chức quyết định thay đổi cơ cấu của các nhóm làm việc hoặc khi các tổ chức áp đặt tri thức khác vào quy trình làm việc Chính vì vậy, tri thức ẩn đi có giá trị chiến lược hơn đối với tổ chức vì nó được sinh ra từ các tình huống và sự kiện cụ thể trong quá trình làm việc nên rất khó để sao chép
Trang 191.1.2 Phân loại tri thức
1.1.2.1 Tri thức tổ chức
Theo Cabrera (2002), tri thức tổ chức ảnh hưởng bởi văn hóa tổ chức và được định nghĩa bởi tổ chức, bao gồm tri thức bên ngoài và tri thức ẩn đi của tất cả nhân viên từ quá khứ đến hiện tại, được xem là chiến lược và tài sản không nhìn thấy được của tổ chức Xem tri thức là nguồn lực, tài nguyên vô giá, các tổ chức đầu tư thời gian
và tiền bạc để không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, đạt được năng lực cạnh tranh cốt lõi Năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào mức độ chuyên nghiệp và kỹ năng của tất cả nhân viên trong tổ chức Để có thể duy trì và xây dựng năng lực cạnh tranh cốt lõi, tổ chức phải xây dựng một chiến lược và hệ thống để phát triển tri thức Smith và Bollinger (2001) cho rằng tri thức chỉ có thể tích lũy khi nó được chính các nhân viên trong tổ chức chia sẻ cùng nhau và cần xác định rõ cần xây dựng hệ thống giao tiếp hiệu quả để đạt được mục tiêu chia sẻ tri thức, nâng cao tri thức của
tổ chức Tri thức tổ chức bao gồm các đặc tính:
- Không thể sao chép: tri thức tổ chức là duy nhất;
- Hiếm có: do phụ thuộc vào kinh nghiệm và kiến thức của nhân viên trong hiện tại và quá khứ;
- Có giá trị: dựa vào khả năng gia tăng giá trị và đạt được năng lực cạnh tranh chiến lược;
- Không thể thay thế: do sức mạnh tổng hợp của nhân viên nhưng không thể nhân rộng
1.1.2.2 Tri thức cá nhân
Tri thức cá nhân là một trong những nguồn tài nguyên của tổ chức và được xây dựng từ chính cá nhân, dù là bên ngoài hay ẩn đi, cũng có thể tăng giá trị vào các sản phẩm, khách hàng và cho chính tổ chức Quá trình chia sẻ tri thức giữa các cá nhân không chỉ gia tăng tri thức cho tổ chức mà còn cho chính cá nhân đó Một cá nhân không có khả năng tương tác với các nhóm làm việc trong tổ chức thì không thể chia sẻ tri thức (Ipe, 2003) Đối với tổ chức, để có thể tối đa hóa lợi ích từ tài sản tri thức, điều quan trọng cần phải thúc đẩy sự chia sẻ giữa từng nhân viên Nếu không có sự
Trang 20tham gia của chính nhân viên, khả năng tối đa hóa tài sản tri thức của tổ chức sẽ bị ảnh hưởng đáng kể (Cabrera, 2002)
“Biết ai đó”, “Biết cái gì” và tri thức sắp đặt là ba loại của tri thức cá nhân để
có thể gia tăng giá trị cho tổ chức Tri thức sắp đặt được định nghĩa là những khả năng, tài năng và năng khiếu của từng cá nhân (Ipe, 2003) Chia sẻ tri thức cá nhân
có thể xảy ra trong nhiều hình thức như đào tạo bên ngoài, giáo dục, các tạp chí, nghiên cứu hay trong các hình thức nhỏ hơn như các cuộc họp trao đổi về công việc trực tiếp Cá nhân là một phần của tổ chức và tri thức của cá nhân là nguồn lực tri thức quan trọng của tri thức tổ chức
1.1.3 Vai trò của tri thức
Trong vài thập niên gần đây, với sự tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học mà đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông, thế giới đang ngày càng biến chuyển, dần dần hướng tới một nền kinh tế và xã hội mới nơi mà thông tin
và tri thức được xem là nguồn lực chủ yếu Trong bối cảnh đó, tri thức đang ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình, là tiền đề quan trọng để hình thành nên xã hội tri thức, nền kinh tế tri thức và đây chính là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay
Trong mọi lĩnh vực hoạt động khoa học, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tri thức vẫn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng, tri thức vẫn luôn được tìm kiếm, phát triển và có tác động to lớn đến sự phát triển của xã hội loài người Tri thức là động lực để nâng cao sức sản xuất và tăng trưởng kinh tế, triển vọng ra đời một xã hội giàu có – công bằng – văn minh – dân chủ, ứng dụng các phát minh sáng chế trong các lĩnh vực Tri thức góp phần tạo nên mọi thành tựu tiến bộ trong lịch sử phát triển của văn mình nhân loại
1.2 Quản trị tri thức
1.2.1 Khái niệm về quản trị tri thức
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị tri thức, sau đây là một vài định nghĩa được nhiều người quan tâm
Trang 21Armstrong (2009) định nghĩa quản trị tri thức (QTTT) là “bất kỳ quá trình của việc tạo ra, tiếp thu, nắm bắt, chia sẻ, và sử dụng tri thức ở bất kỳ nơi nào, để nâng cao sự học hỏi và hiệu quả làm việc trong các tổ chức, là quá trình quản trị và thúc đẩy các kiến thức của tổ chức một cách tự động và tích cực.”
Mục tiêu của quản trị tri thức là nắm bắt và truyền tải tri thức trong tổ chức trước khi nó bị quên lãng hay bị mất đi do nhân viên nghỉ việc Tri thức được cất giữ trong
bộ não của nhân viên nên là tài sản vô cùng quan trọng, do đó, quản trị tri thức cũng như chia sẻ tri thức cũng quan trọng không kém Trong các thuật ngữ kinh tế, quản trị tri thức là sự phản ứng cần thiết của tổ chức để nâng cao sự sáng tạo và khai thác hiệu quả tri thức (Scarborough và Carter, 2000)
Quản trị tri thức giúp tổ chức nâng cao lợi thế cạnh tranh Bất kỳ sáng kiến, kế hoạch, chương trình, hệ thống hay sự thay đổi nhu cầu đều đặn cần có chiến lược rõ ràng Theo Conley và Zheng (2009), chiến lược quản trị tri thức được lựa chọn bởi tổ chức, cần phải phù hợp và tích hợp tốt với chiến lược tổng thể của tổ chức
Quản trị tri thức thường được xảy ra theo hai hướng là cá nhân hóa và hệ thống hóa Trong chiến lược cá nhân hóa, chia sẻ tri thức phụ thuộc vào sự phát triển và chia sẻ của chính cá nhân thông qua hoạt động tương tác với các nhân viên khác Với hình thức hệ thống hóa, tri thức được hệ thống và cất giữ trong dữ liệu của tổ chức
và được cung cấp cho cá nhân trong tổ chức sử dụng Tùy vào đặc tính, tổ chức có thể sử dụng chiến lược có hiệu quả nhất, nếu nhân viên dựa vào tri thức bên ngoài, tài liệu hoặc các dữ liệu hệ thống, tổ chức có thể sử dụng chiến lược hệ thống hóa tri thức Bên cạnh đó, nếu tổ chức chuyên sản xuất ra các sản phẩm đặc thù và đòi hỏi tính sáng tạo thì cần quan tâm đên cá nhân hóa (Hansen và các cộng sự, 1999)
1.2.2 Đặc điểm của quản trị tri thức
Quản trị tri thức phải gắn liền với quản trị chiến lược: quản trị tri thức cần tiếp cận một cách có hệ thống và mang tính chiến lược, gắn kết chặt chẽ với mục tiêu kinh doanh và lý luận với thực tiễn
Quản trị tri thức là quản trị nguồn nhân lực: Những vấn đề về con người và học tập vẫn là tâm điểm của quản trị tri thức
Trang 22Quản trị tri thức và công nghệ thông tin: quản trị tri thức không phải là công nghệ thông tin, những tiến bộ của công nghệ thông tin chỉ hỗ trợ cho quản trị tri thức tốt hơn Quản trị tri thức là công cụ lưu giữ, chuyên chở và chia sẻ tri thức
Quản trị tri thức và văn hoá sáng tạo: Con người là chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức Cần phải tạo ra môi trường có ý tưởng sáng tạo được cổ vũ và ứng dụng, văn hoá sáng tạo được chia sẻ
1.2.3 Mục tiêu và vai trò của quản trị tri thức đối với doanh nghiệp
1.2.3.1 Mục tiêu của quản trị tri thức
Biến tri thức tiềm ẩn của mỗi cá nhân thành tri thức hiện của toàn tổ chức Những tri thức tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, chúng chưa được khai thác có thể bởi những lí do khác nhau như do mỗi cá nhân không muốn chia sẻ nó nếu chúng không được đánh giá đúng và có một sự công nhận bằng các đãi ngộ với họ về tri thức đó hoặc doanh nghiệp chưa biết cách khơi gợi nó Nếu được chia sẻ, những tri thức này
sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu của mình một cách tốt nhất Đưa tiềm năng, trí tuệ của tổ chức đến với mỗi cá nhân, vì cá nhân là những người phải đưa ra quyết định công việc, thực hiện các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và biến các mục tiêu của chiến lược đó trở thành hiện thực góp phần làm nên thành công của tổ chức Để làm được điều này thì trước hết doanh nghiệp phải giúp cho nhân viên của mình hiểu được các mục tiêu, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Sau đó là giúp nhân viên tiếp cận với nguồn tri thức của doanh nghiệp
để có thể áp dụng nguồn tri thức đó trong công việc
Mục tiêu cuối cùng của quá trình quản trị tri thức nhắm đến là: sáng tạo, chia sẻ, lưu giữ, phát triển và sử dụng tối ưu nguồn tri thức trong doanh nghiệp
1.2.3.2 Vai trò của quản trị tri thức
Trong doanh nghiệp, quản trị tri thức có những vai trò sau:
- Đổi mới và tạo ra các ý tưởng mới, giúp khai thác tiềm năng tư duy của doanh nghiệp;
- Thu nhận các kinh nghiệm và biến chúng thành những tri thức có sẵn cho người khác sử dụng khi cần thiết;
Trang 23- Tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm và sử dụng lại những bí quyết, chuyên môn sâu khi được lưu giữ trong những mẫu hiện hữu hoặc trong tâm trí mọi người;
- Thúc đẩy việc hợp tác, chia sẻ tri thức với nhau, thúc đẩy việc học tập và tiến
bộ liên tục;
- Nâng cao chất lượng các hoạt động trí tuệ và chất lượng ra quyết định;
- Thấu hiểu giá trị và sự đóng góp của tài sản trí tuệ vào sự tăng trưởng, hiệu quả tổ chức và phát huy sức mạnh của tổ chức
Kết quả cuối cùng mà quản trị tri thức tạo ra là hình thành nên một tổ chức mà trong đó những cá nhân hợp tác chặt chẽ với nhau, không ngừng học hỏi và chia sẻ tri thức, sáng tạo ra tri thức để tạo ra một tổ chức mạnh mẽ, phát triển và có khả năng cạnh tranh hay nói cách khác là nâng cao chỉ số thông minh của tổ chức (SI) trong điều kiện môi trường kinh doanh biến động liên tục như ngày nay
1.2.4 Những thách thức trong quản trị tri thức của doanh nghiệp
Quản trị tri thức còn mới mẻ và chưa được nhìn nhận đầy đủ trong cách doanh nghiệp ở nước ta Chỉ khi lãnh đạo tổ chức nhìn nhận được tri thức là tài sản vô cùng quan trọng và công tác quản trị tri thức có ý nghĩa to lớn trong sự thành công của doanh nghiệp thì mới có ý thức bảo vệ giữ gìn và phát triển chúng
Thách thức trong vấn đề quản lý lao động tri thức khi các cá nhân có quan điểm mất đi lợi thế khi chia sẻ tri thức và họ chỉ chia sẻ tri thức khi họ có được lợi ích đem lại từ việc chia sẻ tri thức
Thách thức trong việc giữ chân những người có tài năng, có kinh nghiệm cho doanh nghiệp bởi những lợi ích và sức ép của đối thủ đưa ra để lôi kéo nhân viên của mình
Quản trị tri thức trong doanh nghiệp đòi hỏi phải có được các nhà quản lý có năng lực và phẩm chất Điều này cũng không hề đơn giản, lúc này doanh nghiệp sẽ mất nhiều chi phí, thời gian và công sức để tìm được đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, nhiều kinh nghiệm và có phẩm chất phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp
Trang 241.2.5 Các yếu tố cơ bản trong quản trị tri thức
1.2.5.1 Con người
Yếu tố quan trọng trong quản trị tri thức là con người Con người tạo ra tri thức
và chỉ có con người mới có khả năng vận dụng tri thức đó để tiếp tục tạo ra những tri thức mới, việc vận dụng phù hợp với yêu cầu của tổ chức và sáng tạo ra tri thức mới mẻ có ích mới giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển Chính vì lý do đó mà doanh nghiệp cần có các chính sách tuyển dụng, đào tạo, bố trí sắp xếp và chế độ đãi ngộ phù hợp để quản trị hiệu quả tri thức trong doanh nghiệp
Những nhu cầu về việc trao đổi, chia sẻ, sáng tạo và lưu giữ tri thức trong quá trình làm việc giữa các cá nhân, giữa các đội nhóm hoạt động khác nhau là một trong những lý do chính dẫn đến việc quản trị tri thức trong doanh nghiệp, đặc biệt trong trường hợp các nhóm tan rã hay tái lập hay trường hợp các cá nhân nghỉ việc thì công tác quản trị tri thức cần phát huy vai trò của mình
Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt hiện nay càng đòi hỏi kĩ năng phán đoán và khả năng ra quyết định của nhân viên Thời gian chính là yếu tố cạnh tranh
và có thể quyết định thành công giữa các công ty Trước những thay đổi không ngừng, sáng tạo từ phía đối thủ hay sự chuyển dịch mạnh mẽ của thị trường, việc phản ứng
và ra quyết định của nhân viên trước một tình huống đòi hỏi sự chính xác và nhanh chóng Do đó, yêu cầu trình độ tri thức của nhân viên phải cao hơn và thông tin phải được cung cấp nhanh chóng, chính xác hơn Nếu công tác quản trị tri thức tốt, nhân viên hoàn toàn có thể giải quyết được những vấn đề này
Như vậy, con người là yếu tố quyết định cơ bản trong quản trị tri thức của doanh nghiệp Để sử dụng hiệu quả yếu tố này, doanh nghiệp cần:
- Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và chia sẻ kinh nghiệm cho người lao động trong doanh nghiệp, thông qua hoạt động đào tạo nội bộ
- Tạo môi trường làm việc thoải mái và tôn trọng nhân viên
- Doanh nghiệp cần tôn trọng nhân viên, có các chế độ lương thưởng và đãi ngộ tốt cho nhân viên
Trang 251.2.5.2 Quy trình
Tri thức thường tồn tại riêng rẽ trong mỗi cá nhân thông qua quá trình tiếp cận
và vận dụng thông tin của riêng họ và chỉ có bản thân người đó mới sử dụng được
Để tri thức của mỗi cá nhân biến thành tài sản tri thức của tổ chức, để mọi người có thể khai thác và sử dụng đòi hỏi phải có một cơ chế cụ thể trong đó bao gồm hoạt động kiến tạo, chia sẻ, phát triển và lưu giữ tri thức trong tổ chức Để thực hiện điều này, vai trò của người lãnh đạo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng quy trình quản trị tri thức, quy trình thực hiện các nghiệp vụ trong doanh nghiệp
Quy trình nghiệp vụ trong doanh nghiệp là một trong những yếu tố trong quản trị tri thức của doanh nghiệp Để tận dụng tốt yếu tố này trong quản trị tri thức, doanh nghiệp phải đảm bảo:
- Các chính sách và quy trình nghiệp vụ của doanh nghiệp cần được thể hiện cụ thể trong các văn bản để thực hiện, tránh những hiểu lầm không đáng có và cũng sẽ
dễ dàng cho việc phát hiện sai lầm xảy ra ở giai đoạn nào
- Xây dựng quy trình, chính sách thống nhất để nắm bắt tri thức Bằng cách chia sẻ tri thức thông qua các quy trình làm việc, tổ chức sẽ hoàn thiện được công tác quản trị tri thức và kho cơ sở dữ liệu tri thức chung
- Cập nhật thường xuyên các quy trình mới và học hỏi kinh nghiệm từ những quy trình làm việc từ các doanh nghiệp cùng ngành
1.2.5.3 Hệ thống công nghệ và thông tin
Để hoạt động quản trị tri thức diễn ra một cách hiệu quả thì không thể thiếu vai trò của hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) Công nghệ thông tin đóng vai trò hỗ trợ, giúp cho việc lưu giữ, chia sẻ, cập nhật và sử dụng tri thức được dễ dàng và nhanh chóng hơn Bên cạnh đó, tri thức được kiến tạo liên tục làm cho lượng tri thức của các doanh nghiệp ngày càng nhiều, lúc này chỉ có hệ thống công nghệ thông tin mới cho phép lưu giữ, phân loại, chia sẻ, cập nhật, sử dụng một cách kịp thời và ổn định CNTT là công cụ cực kỳ hiệu quả trong việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và tri thức của một doanh nghệp, phục vụ việc ra quyết định kịp thời cũng như xây dựng mạng lưới khách hàng theo chiều sâu và chiều rộng Theo Mansor và Kenny (2013),
Trang 26công nghệ thông tin được xem là công cụ cho phép nhân viên tìm kiếm, truy cập và thu hồi một cách nhanh chóng, có thể hỗ trợ thông tin liên lạc và hợp tác giữa các nhân viên trong tổ chức
CNTT có hai lợi ích chính là lưu trữ và truyền tải tri thức giúp cho doanh nghiệp xây dựng được một hệ thống lưu trữ và phân phối thông tin hiệu quả Bằng cách kết hợp hiệu quả giữa CNTT và quản trị tri thức, doanh nghiệp có thể tạo ra các yếu tố cạnh tranh mới, nâng cao khả năng cạnh tranh lâu dài và khẳng định vị thế của mình Quản trị tri thức, với sự hỗ trợ của CNTT, có thể giúp cho nhân viên của công
ty làm việc nhanh chóng và hiệu quả hơn, tự mình có thể đưa ra quyết định sáng suốt, giảm bớt sai lầm, đáp ứng yêu cầu của khách hàng đúng lúc nhất
1.2.6 Các hoạt động quản trị tri thức trong doanh nghiệp
1.2.6.1 Xác định tri thức
Khi một doanh nghiệp hoạt động cần phải xác định rõ chiến lược và mục tiêu kinh doanh của mình Doanh nghiệp phải xác định được tri thức cần có để đạt được những mục tiêu này, việc xác định tri thức giúp doanh nghiệp xác định được những nguồn lực mà mình hiện có với những gì mà mình mong muốn đạt được trong mục tiêu để từ đó có các chiến lược quan trọng
Sự khác biệt nằm giữa những gì nền kinh tế tri thức yêu cầu doanh nghiệp cần
có và những gì doanh nghiệp hiện có được gọi là “khoảng cách tri thức”, “khoảng cách tri thức” không những dùng để nhận biết những gì doanh nghiệp có và những gì doanh nghiệp được yêu cầu bởi nên kinh tế mà còn dùng để nhận biết “khoảng cách tri thức” cá nhân của từng nhân viên Sau đây là một sơ đồ cấu trúc về “khoảng cách tri thức” của các nhân viên trong doanh nghiệp
Trang 27Hình 1.1: Yêu cầu tri thức cá nhân của nhân viên
Nguồn: Knowledge Management Activities (2012) của Alex Hou Hong Ng Dựa theo sơ đồ này, từ A đến C là tri thức hiện tại và tri thức chuyên môn của nhân viên được yêu cầu bởi một doanh nghiệp Từ A1 đến B1 là tri thức mà người nhân viên hiện có, và từ B1 đến C1 chính là “khoảng cách tri thức” đối với cá nhân người nhân viên Từ đó, ta có thể thấy được rằng với góc nhìn của một nhà tuyển dụng, việc nhận dạng được tri thức vô cùng quan trọng, nó giúp cho họ xác định được những cá nhân nào nên nhận vào làm việc trong doanh nghiệp, đồng thời lý thuyết này cũng quan trọng đối với các người nhân viên, giúp họ xác định được tri thức mà
họ đang có được với những gì mà doanh nghiệp yêu cầu từ đó đề ra cho mình các hoạt động để cải thiện Mở rộng hơn, lý thuyết này áp dụng cho góc độ các nhà quản trị với góc nhìn doanh nghiệp của họ với những gì mà nền kinh tế tri thức ngày nay yêu cầu, từ đó giúp các nhà quản trị xác định được các mục tiêu và tạo lập các chiến lược để rút ngắn “khoảng cách tri thức” và từ đó đánh bại các đối thủ khác trong nền kinh tế tri thức ngày nay
1.2.6.2 Thu nhận tri thức
Sau khi xác định được khoảng cách tri thức, để rút ngắn khoảng cách này, bước tiếp theo là thu nhận tri thức Các doanh nghiệp sẽ thu nhận một phần lớn các tri thức của họ chủ yếu từ bên ngoài doanh nghiệp Các mối quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và đối tác trong các hợp tác liên doanh, các mối quan hệ này có tiềm năng đáng kể để thu nhận tri thức cho doanh nghiệp Bên cạnh việc thu nhận tri thức từ các mối quan hệ này, các nhà quản trị tri thức còn có thể thuê các
Trang 28chuyên gia về làm việc hoặc thu nhận tri thức từ các chuyên gia của những công ty sáng tạo khác
Việc thu nhận tri thức được hiểu đơn giản là quá trình thu thập tri thức có sẵn ở bất kì đâu Đối với các doanh nghiệp, thu nhận tri thức có thể dẫn đến việc thu nhận tri thức từ các nguồn sẵn có trong ngay chính doanh nghiệp của mình, có thể là việc vận dụng tri thức ngầm của các nhân viên trong doanh nghiệp hoặc việc “mua” các tri thức từ bên ngoài từ các nhà chuyên gia
1.2.6.3 Ứng dụng tri thức
Sau khi thu nhận tri thức, thì tri thức cần phải được ứng dụng trong các doanh nghiệp, để làm cho tri thức mang tính chủ động và có liên quan đối với việc tạo ra các giá trị trong tổ chức Việc ứng dụng tri thức giúp cho các nhà quản trị đưa ra được các quyết định, từ đó đưa ra được các giải pháp, phương thức mới, chiến lược mới cho doanh nghiệp Việc ứng dụng tri thức trong thực tế là việc mà các nhân viên sử dụng tri thức của họ vào các tình huống làm việc của họ Đối với các doanh nghiệp, tri thức cần được áp dụng trong sản phẩm, trong quy trình và dịch vụ của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không thể xác định đúng loại tri thức theo hình thức đúng của nó, thì doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn rất lớn trong việc duy trì lợi thế cạnh
tranh của chính mình do không thể ứng dụng đúng tri thức
1.2.6.4 Chia sẻ tri thức
Sau khi tri thức được ứng dụng, bước tiếp theo là chia sẻ tri thức Chia sẻ hay còn được hiểu là phân phối tri thức trong một doanh nghiệp là một điều kiện vô cùng quan trọng để biến các tri thức ẩn hoặc kinh nghiệm thành tri thức mà cả doanh nghiệp
có thể sử dụng được Biến tri thức từ cá nhân sang nhóm và của toàn doanh nghiệp Trao đổi và chia sẻ các tri thức ẩn và tri thức hiện giữa các cá nhân trong tổ chức, để
từ đó doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất, hoàn thiện quy trình làm việc một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao tri thức chuyên sâu của các nhân viên trong doanh nghiệp Từ đó, có thể giúp doanh nghiệp tạo nên lợi thế kinh doanh lớn hơn Trong nền kinh tế tri thức, bản thân tri thức không phải là sức mạnh nhưng
khi tri thức được chia sẻ, nó trở nên sức mạnh
Trang 291.2.6.5 Phát triển tri thức
Phát triển tri thức bổ sung cho sự tiếp nhận tri thức Trọng tâm của nó là tạo ra những kỹ năng mới, những sản phẩm mới, những ý tưởng tốt hơn, và những quy trình hiệu quả hơn
Phát triển tri thức bao gồm tất cả các nổ lực quản lý có ý thức nhằm tạo ra những khả năng mà hiện tại chưa có trong tổ chức hoặc không tồn tại bên trong hay bên ngoài
Theo truyền thống, phát triển tri thức được thực hiện trong việc nghiên cứu thị trường của công ty và trong phòng nghiên cứu và phát triển Tuy nhiên, tri thức quan trọng cũng có thể nảy ra từ bất kì đâu của tổ chức Điều này có thể cung cấp cho công
ty cách chung để thông qua những ý tưởng mới và sử dụng sự sáng tạo của nhân viên
Trang 30a Giao tiếp xã hội: quá trình này đề cập đến việc chia sẻ tri thức ẩn giữa các cá nhân với nhau Nonaka và Konno (1998), đã nhấn mạnh rằng các tri thức ẩn được trao đổi nhiều hơn thông qua những hoạt động giao tiếp xã hội thay vì những chỉ dẫn bằng lời nói hoặc yêu cầu Trong thực tế thì quá trình tiếp nhận tri thức ẩn được hỗ trợ chủ yếu thông qua các tương tác trực tiếp
b Ngoại hóa: quá trình này đề cập đến việc chuyển đổi tri thức ẩn thành tri thức
dễ nhận biết hơn (explicit knowledge) Quá trình chuyển đổi này đòi hỏi tri thức ẩn cần phải được diễn đạt và chuyển đổi sang những dạng tri thức mà người khác có thể
tiếp cận và hiểu được
c Kết hợp: quá trình này đề cập đến việc tích hợp các tri thức hiện Quá trình
này liên quan đến việc chuyển đổi những tri thức dễ nhận biết thành tập hợp những tri thức dễ nhận biết phức tạp hơn Việc chuyển đổi này dựa vào ba quá trình: i) nắm bắt các tri thức dễ nhận biết mới, tích hợp với những tri thức hiện có Quá trình này
có thể được thực hiện bằng cách thu thập thêm số liệu và kết hợp với các số liệu tổ chức đã có trước đó; ii) sau đó, phổ biến các tri thức mới này thông qua các buổi họp hoặc thuyết trình; iii) Hiệu chỉnh lại các tri thức dễ nhận biết nhằm giúp tăng tính khả
dụng và dễ hiểu hơn
d Tiếp thu: quá trình này đề cập đến việc chuyển đổi những tri thức hiện mới
thành tri thức ẩn của một ai đó Quá trình này có liên quan nhiều đến việc tìm kiếm những tri thức có liên quan trong tập hợp tri thức của tổ chức và có thể được thực hiện thông qua các hình thức học thực tế, đào tạo và rèn luyện
Mô hình SECI đã mô tả quá trình chuyển đổi liên tục giữa tri thức ẩn và tri thức hiện Tri thức được tạo ra trong vòng quay liên tục thông qua đối thoại và thực hành Đối thoại cho phép con người hiểu rằng có những quan điểm khác với quan điểm của mình, giúp họ chấp nhận và tổng hợp lại các quan điểm đó, còn thực hành sẽ cho phép chia sẻ các tri thức thông qua chia sẻ kinh nghiệm hay diễn tả tri thức bằng một hành động cụ thể
Trang 311.2.6.7 Duy trì tri thức
Bảo quản tri thức là một quá trình lưu giữ tri thức hay thông tin theo thời gian
và cung cấp khả năng truy xuất lại tri thức đó trong tương lai Các doanh nghiệp, tổ chức thường phàn nàn rằng công việc này đã khiến họ mất đi một phần bộ nhớ Việc lựa chọn, lưu trữ và thường xuyên cập nhật tri thức về giá trị tiềm năng trong tương lai phải được cấu tạo cẩn thận Tri thức đã có được cần phải được bảo tồn Lưu trữ hoặc bảo tồn chắc chắn không phải là đặt nó ở đâu đó và quên tất cả về
nó Mà phải được cập nhật liên tục và giữ liên quan, nếu không nó không còn là tri thức nữa Tri thức quá cũ có thể là điều nguy hiểm nhất
1.2.6.8 Đo lường tri thức
Theo Peter Drucker, một chuyên gia tư vấn quản trị và là “nhà sinh thái học xã hội” đã nhận định: “You can’t manage what you don’t measure” (Tạm dịch: Nếu bạn không đo lường được thì bạn không quản trị được) đã cho thấy tầm quan trọng của việc đo lường trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp mà cụ thể ở đây là quản trị tri thức
Hoạt động đo lường tri thức là để đo lường các tác động, hiệu quả sau quá trình thực hiện quản trị thi thức như là sự hài lòng của khách hàng, hiệu quả, năng suất và chất lượng của tổ chức Qua đó, doanh nghiệp sẽ đánh giá lại và có những giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Từ các ý trên đây, ta có thể thấy được rằng các hoạt động tri thức trong doanh nghiệp gồm 8 hoạt động và chúng gắn liền với nhau thành một hệ thống trong tổ chức,
từ xác định đến thu nhận, ứng dụng, chia sẻ, phát triển, tạo lập, duy trì và cuối cùng
là đo lường tri thức, hệ thống này giúp cho các nhà quản trị tri thức xác định được các mục tiêu và tạo các chiến lược tốt nhất cho doanh nghiệp để tạo ra các lợi thế cạnh tranh lớn trọng nền kinh tế tri thức hiện nay
Trang 32TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày hệ thống lý luận về tri thức và quản trị tri thức trong doanh nghiệp Theo đó những nội dung trọng tâm của chương 1 bao gồm: Khái niệm quản trị tri thức; Nội dung quản trị tri thức và các hoạt động quản trị tri thức trong doanh nghiệp Những nội dung trọng tâm này là cơ sở để tác giả triển khai nghiên cứu đánh giá thực trạng trong chương 2
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TRI THỨC
Tên giao dịch: VNG CORP
Trụ sở chính: 52 Nguyễn Ngọc Lộc, Phường 14, Quận 10, TP Hồ Chí Minh Văn phòng: 182 Lê Đại Hành, Phường 15, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
và 165 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội
VNG là một trong những doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam đi tiên phong trong ngành công nghiệp Internet Trẻ trung, năng động, nhiệt huyết, không ngừng phát triển và học tập những công nghệ mới; VNG đã đạt nhiều thành tựu ở cả 3 loại hình: Liên kết cộng đồng; Thương mại điện tử; Nội dung số & giải trí trực tuyến với các sản phẩm nổi bật: Kiếm Thế, Võ Lâm Truyền Kỳ, Zing mp3, Zing me, Zalo, 123mua.vn, 123.vn…
Trong quá trình hình thành và phát triển, Công ty cổ phần VNG đã đạt nhiều thành tích đánh kể với nhiều giải thưởng lớn Đặc biệt năm 2014, VNG được vinh danh “Doanh nghiệp phát triển nhanh toàn cầu tại khu vực Đông Á” tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tổ chức ở Manila, thủ đô Philippines Năm 2015, VNG đón nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho những đóng góp vào Quỹ học bổng Vừ A Dính Năm 2016, VNG được lọt vào Top 100 nơi làm việc tốt nhất Việt Nam do Anphabe và công ty nghiên cứu thị trường Nielsen thực hiện
2.1.2 Tầm nhìn và sứ mệnh của VNG
2.1.2.1 Sứ mệnh
“Phát triển internet để thay đổi cuộc sống người Việt Nam”
Trang 34“Chúng tôi tin vào sức mạnh của Internet, và đặt cho mình sứ mệnh mang lại cho người sử dụng Internet những trải nghiệm ý nghĩa Có thể chỉ đơn giản là giải trí bằng chơi trò chơi trực tuyến hay chia sẻ một bài hát trên mạng với bạn bè Cũng có thể vĩ mô hơn như kết nối hàng triệu người trẻ thông qua mạng xã hội lớn nhất Việt Nam Đó là cách VNG đã và đang tạo ra giá trị cho cộng đồng thông qua các sản phẩm của mình
Chúng tôi cũng hiểu rằng tiềm năng của Internet còn rất lớn, và không ngừng tìm kiếm những cách thức mới để Internet trở nên gần gũi hơn, mang lại nhiều thay đổi có giá trị hơn cho người Việt Nam Để khám phá những cơ hội này, chúng tôi chú trọng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, không ngừng cải tiến công nghệ, đồng thời duy trì hoạt động hiệu quả của tổ chức.” (Công ty CP VNG, 2017)
2.1.2.2 Tầm nhìn
“Trở thành công ty tốt nhất Việt Nam trong việc phát triển nguồn nhân lực”
“Phát triển nguồn vốn con người là thách thức lớn nhất đối với mỗi doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Làm sao để có đủ nhân tài nghiên cứu công nghệ, vận hành sản phẩm, quản lý nhân sự và dự án, và bồi dưỡng năng lực cho những người xung quanh? Làm thế nào để đánh thức tiềm năng của 85 triệu người Việt Nam?
Ở VNG, chúng tôi thấu hiểu giá trị của nguồn nhân lực, và coi việc phát triển con người là nền tảng cho mọi hoạt động của tổ chức Trong tương lai, VNG có thể điều chỉnh chiến lược kinh doanh, vận hành các sản phẩm mới, khám phá những lĩnh vực mới, chiếm lĩnh thị trường mới… Con người VNG sẽ chính là tác nhân tạo ra những thay đổi này
Bởi vậy, VNG luôn chú trọng bồi dưỡng con người Chúng tôi cố gắng tạo dựng
cơ hội, hoàn thiện môi trường làm việc để người VNG phát triển tốt nhất, từ việc trao quyền mua cổ phiếu, trả lương xứng đáng, định hướng sự nghiệp cho đến việc tổ chức các chương trình đào tạo, chăm sóc bữa ăn cho các thành viên Đây là cách VNG phát triển tổ chức và thực hiện sứ mệnh của mình.” (Công ty CP VNG, 2017)
Trang 35Trên cơ sở nhận thức được tiềm năng của thị trường và năng lực của Công ty, nắm bắt những định hướng phát triển cơ bản của thị trường trò chơi trực tuyến Việt Nam cũng như tầm nhìn của VNG
2.1.3 Các dịch vụ Công ty đang cung cấp
VNG hoạt động trong lĩnh vực phát hành trò chơi trực tuyến và kinh doanh thương mại điện tử Những dịch vụ chính của Công ty là:
a Nội dung số / Giải trí trực tuyến
- Giải trí trực tuyến: Võ Lâm Truyền Kỳ Mobile, Zing Play …
- Ứng dụng OTT: Zalo, Zing Mp3, Zing TV …
- Cổng thông tin giải trí: Zing
b Thanh toán điện tử: ZaloPay, 123Pay…
c Dịch vụ đám mây: Dịch vụ hạ tầng đám mây (Vinadata), Phần mềm quản lý phòng máy (CSM) …
2.1.4 Các thành tựu của VNG
- Giải thưởng hạng mục People Choices’ Award (Game được cộng đồng yêu thích nhất) trong khuôn khổ IMGA SEA 2016 (International Mobile Gaming Awards Southeast Asia);
- Giải thưởng 10 doanh nghiệp ứng dụng và nội dung số có ảnh hưởng lớn nhất đến internet Việt Nam từ năm 2007-1017;
- Dịch vụ phần mềm mới tiêu biểu (Giải Sao Khuê do VINASA và Bộ Thương mại trao tặng);
- Doanh nghiệp triển khai phần mềm, giải pháp, dịch vụ, nội dung số tiêu biểu năm 2007 (Bộ Thông Tin và Truyền Thông);
- Giải thưởng “Doanh nghiệp kinh doanh nội dung số tiêu biểu” (Giải Sao Khuê
2007 do Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam và Bộ Thương Mại trao tặng);
- Giải thưởng “Một trong 50 nhà tuyển dụng tốt nhất Việt Nam” (Tập đoàn Navigos và AC Nielsen phối hợp cùng báo Thanh Niên trao tặng)
Trang 362.1.5 Hệ thống quản trị của Công ty CP VNG
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Công ty cổ phần VNG
Nguồn: Phòng nhân sự của VNG
Công ty cổ phần VNG được quản lý theo mô hình tập đoàn, gồm nhiều chi nhánh và cơ sở kinh doanh thẻ game phân bổ khắp cả nước, để hoạt động hiệu quả thì công tác quản trị doanh nghiệp, quản trị tri thức là một trong những yêu cầu hàng đầu đặt ra tại VNG trong quá trình vận hành và phát triển nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Năm 2014, sau khi ký kết hợp đồng hợp tác với Microsoft, VNG trở thành khách hàng của Microsoft tại Việt Nam ứng dụng hệ thống System Center 2012 vào xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp Hệ thống System Center 2012 được VNG lựa chọn là một nền tảng mở, có thể giám sát sâu các nền tảng lập trình khác nhau như: Net, Java, PHP…
Trang 37System Center 2012 được VNG triển khai đầu tiên tại bộ phận kinh doanh, bộ phận kỹ thuật Sau đó được áp dụng cho toàn bộ VNG bao gồm các bộ phận quản lý như: quản trị nhân sự và tiền lương, quản lý cổ đông, quản lý hệ thống kinh doanh, quản lý dịch vụ khách hàng, quản lý công tác nghiên cứu phát triển trò chơi trực tuyến, quản lý đơn đặt hàng Cuối cùng, VNG tự xây dựng một hệ thống báo cáo với hơn 400 báo cáo mẫu phục vụ công tác quản lý và hỗ trợ ra quyết định, triển khai cho
cả hệ thống gồm tổng công ty và các chi nhánh
Triển khai System Center 2012 của Microsoft, VNG đã nâng cao hiệu suất vận hành trong nội bộ Công ty từ cả phòng CNTT lẫn nhân viên Nhờ đó hiệu suất hoạt động và độ an toàn hệ thống được nâng cao giúp gia tăng khả năng cung cấp dịch vụ cho hàng triệu khách hàng Đồng thời, việc ứng dụng này còn giúp VNG giám sát được hệ thống một cách toàn diện, vận hành công việc nhịp nhàng với hiệu suất cao hơn, đảm bảo quản lý chặt chẽ các thiết bị cuối của toàn bộ hệ thống
System Center 2012 cung cấp khả năng tự động hóa và tích hợp hoạt động quản
lý dịch vụ, giúp nhân viên VNG tự chủ động xử lý mong muốn dịch vụ một cách linh hoạt nhất trong quỹ thời gian cho phép, cụ thể là việc cập nhật và triển khai các gói ứng dụng được làm một cách đồng bộ, tập trung và từ xa, chứ không đòi hỏi nhân lực triển khai tại thiết bị cuối như trước đây
Quan trọng nhất là System Center 2012 hỗ trợ rất nhiều cho việc lập kế hoạch kinh doanh và ra quyết định Lãnh đạo VNG có thể theo dõi, kiểm soát doanh thu, chi phí… theo ngày, tuần, tháng ở bất kỳ thời điểm nào Chỉ trong ba ngày hệ thống
có thể tạo lập một bộ sổ kế toán cho một phòng ban, tám ngày có thể có được báo cáo tháng, quý toàn Công ty, hàng nghìn nhân viên toàn Công ty có thể truy cập vào hệ thống cùng lúc… Đó là những giá trị rất lớn mà hệ thống System Center 2012 đã mang lại
2.1.6 Quản trị lao động tri thức tại VNG
Triết lý quản trị nguồn nhân lực của Công ty VNG là:
- Tôn trọng nhân bản và những giá trị vĩnh cửu: Niềm tin vào những giá trị đó xác định phương thức hành động của nhân viên VNG trong mọi hoàn cảnh khác nhau
Trang 38VNG tin tưởng sắt đá vào sự nghiệp chính nghĩa: nỗ lực lao động, sáng tạo trong Khoa học kỹ thuật và Công nghệ để góp phần phát triển cá nhân, tập thể, và giúp công
ty tồn tại, phát triển
- Tôn trọng con người và tài năng cá nhân: nhằm “đem lại cho mỗi thành viên của mình điều kiện phát triển đầy đủ nhất về tài năng, một cuộc sống đầy đủ về vật chất, phong phú về tinh thần” Truyền thống này đã tạo nên môi trường làm việc dân chủ và sáng tạo, cùng chung một mục đích, lý tưởng
- Phát huy trí tuệ tập thể: Ở VNG không có chỗ cho những nhà độc tài Nhân viên cần phải ra quyết định một cách nhanh chóng theo yêu cầu, nhưng không phải
ra quyết định một mình mà phải là người sáng suốt tham khảo ý kiến của những đồng
2.1.7 Nguồn nhân lực của Công ty CP VNG
Hiện nay, công ty CP VNG có 2.250 nhân viên, với độ tuổi trung bình là 27 tuổi Công ty VNG sở hữu nguồn lao động khá trẻ, trong đó số nhân viên từ 19 -30 tuổi chiếm 71% (1.607 nhân viên), từ 31 – 40 tuổi chiếm 22% (497 nhân viên) và trên 40 tuổi chiếm 6% (146 nhân viên) Ngay cả những lãnh đạo cấp cao của VNG, so với nhiều doanh nghiệp nổi tiếng khác của Việt Nam, cũng còn rất trẻ Do đặc thù ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghệ kỹ thuật nên có sự chênh lệch về giới tính, tỷ lệ nhân viên nam là 66%, tỷ lệ nhân viên nữ là 34% Về trình độ, đại đa số nhân viên trong công ty có trình độ đại học chiếm 79% và tập trung ở hầu hết các bộ phận
Trang 39Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn nhân lực trong Công ty cổ phần VNG
Đơn vị tính: nhân viên, %
Số lượng Bộ phận kỹ thuật Bộ phận kinh
doanh
Bộ phận vận hành, hỗ trợ Theo giới tính Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
Nguồn: tổng hợp của tác giả qua thu thập số liệu từ Phòng Nhân sự của VNG
2.2 Thực trạng quản trị tri thức tại Công ty cổ phần VNG
2.2.1 Thực trạng về hoạt động xác định tri thức
Một trong những hoạt động đầu tiên trong quá trình quản trị tri thức là xác định tri thức, việc xác định tri thức ở đây trước hết là việc xác định được khoảng cách tri thức giữa những tri thức hiện tại được yêu cầu bởi doanh nghiệp và tri thức hiện có của nhân viên
Hoạt động xác định tri thức được thực hiện thông qua việc cập nhật những thông tin về sự thay đổi của thị trường, sự phát triển công nghệ mới từ hiệp hội, đối tác Công ty xác định xu hướng và thị hiếu của người chơi thay đổi như thế nào, như hiện nay xu hướng người chơi đang chuyển mạnh từ chơi trên máy tính, trên web sang chơi trên di động Trong tương lai, mảng trò chơi trực tuyến và nội dung số vẫn còn phát triển, trong thời gian qua bên cạnh hoạt động chính của mình là mảng trò chơi trực tuyến, công ty cũng đã phát triển thêm mảng nội dung số như thanh toán trực
Trang 40tuyến, trang nghe nhạc, trang tin tức luôn được công ty cập nhật phù hợp với xu thế
và thị trường Bên cạnh đó, Công ty VNG tiếp tục mở rộng thị trường nước ngoài như Thái Lan, Myanmar, Singapore, Indonesia, Nhật Bản… Hiện VNG chiếm hơn 35% thị phần mảng game trên máy tính (PC) và 50% thị phần game trên di động trong nước
Hoạt động xác định tri thức trong nội bộ công ty cơ bản được thể hiện trong bản
mô tả những yêu cầu vị trí công việc Tùy theo đặc tính và sự thay đổi của môi trường
và công việc, bản mô tả sẽ được cập nhật và thay đổi cho phù hợp với thực tế Khảo sát cho thấy, mức độ hài lòng của nhân viên trong việc đáp ứng được các yêu cầu đặt
ra trong bản khảo sát
Bảng 2.2: Đánh giá về công tác xác định tri thức của nhân viên tại VNG
Xác định
tri thức
Bản mô tả nội dung công việc phù hợp với thực tế vị trí công việc hiện tại của Anh/Chị
mô tả công việc này Theo khảo sát, bản mô tả công việc chưa thực sự sát với thực
tế, nội dung còn chung chung, chưa cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của vị trí công việc mà các cá nhân đảm nhiệm, như vậy dễ dẫn đến tình trạng làm việc chồng chéo, tâm lý ỷ lại, gây khó khăn trong việc thực hiện và đánh giá Trách nhiệm không được phân định rõ ràng nên tinh thần trách nhiệm trong công việc chưa cao, điều này làm ảnh hưởng đến kết quả chất lượng công việc