1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng

118 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 4,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số Xuất phát từ vị trí địa lý chiến lược của miền núi, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo xây dựng, v[r]

Trang 1

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

BÙI QUANG NGỌC

CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN LẠC DƯƠNG,

TỈNH LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG

Mã số: 83.40.403

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THỊ HẠNH

TP Hồ Chí Minh, tháng 9/2020

Trang 2

i

LỜI CẢM ƠN

Được học tập và rèn luyện tại môi trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã cho tác giả những kiến thức bổ ích về chuyên ngành mà tác giả theo học Hai năm tại trường là một hành trang kiến thức cho tương lai sau này để trưởng thành hơn trong cuộc sống, làm việc trong hoạt động quản lý Nhà nước Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Quý Thầy Cô của Nhà trường, trong hai năm qua đã quan tâm dạy dỗ và truyền đạt cho tác giả những kiến thức quý báu

Trong thời gian tác giả thực hiện luận văn để hoàn thành hai năm học Cao học tại nhà trường và sự nghiên cứu nghiêm túc về đề tài thực hiện Tác giả đã được sự quan tâm giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của Tiến sĩ Trần Thị Hạnh cùng tập thể UBND huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Vì vậy, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Trần Thị Hạnh; tập thể cán bộ, công chức huyện Lạc Dương đã dành những tình cảm ấm áp, kinh nghiệm làm việc và hướng dẫn tận tình tác giả thực hiện luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn những Thầy, Cô, gia đình, bạn bè lớp Thạc sỹ Quản lý công khóa I đã ủng hộ và có nhiều góp ý chỉnh sửa cho luận văn của tác giả trong quá trình hoàn thiện luận văn

Trân trọng cảm ơn./

Lâm Đồng, tháng 08 năm 2020

Học viên thực hiện

Bùi Quang Ngọc

Trang 3

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan Luận văn “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng” là công

trình nghiên cứu khoa học của riêng tác giả, chưa từng được công bố, các số liệu trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính tin cậy, chính xác và trung thực, xuất phát từ thực tế điều tra kỹ năng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình./

Tác giả luận văn

Bùi Quang Ngọc

Trang 5

Bảng 2.6 Việc thực hiện công tác đánh giá, phân loại

Bảng 2.7 Đánh giá về việc thực hiện tổ chức đào tạo, bồi đưỡng

Bảng 2.8 Giao cho chính quyền cấp nào thẩm quyền quản lý

Bảng 3.1 Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn

Bảng 3.2 Hoàn thiện qui định về bầu cử, tuyển dụng

Bảng 3.3 Hoàn thiện quy định về đánh giá, phân loại

Bảng 3.4 Hoàn thiện quy định về đào tạo, bồi dưỡng

Bảng 3.5 Hoàn thiện quy định về chế độ tiền lương, đãi ngộ

Biểu đồ 2.6 Việc thực hiện công tác đánh giá, phân loại

Biểu đồ 2.7 Đánh giá về việc thực hiện tổ chức đào tạo, bồi đưỡng

Biểu đồ 2.8 Giao cho chính quyền cấp nào thẩm quyền quản lý

Biểu đồ 3.1 Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn

Biểu đồ 3.2 Hoàn thiện qui định về bầu cử, tuyển dụng

Biểu đồ 3.3 Hoàn thiện quy định về đánh giá, phân loại

Biểu đồ 3.4 Hoàn thiện quy định về đào tạo, bồi dưỡng

Biểu đồ 3.5 Hoàn thiện quy định về chế độ tiền lương, đãi ngộ

Trang 6

v

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

người dân tộc thiểu số

20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

23

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Lạc Dương 23 2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số huyện Lạc Dương

Trang 7

vi

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

Trang 8

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Chất lượng đội ngũ CBCCCX có vai trò quan trọng trọng việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa ở địa phương nói riêng và đối với đất nước nói chung Nhận thức được điều này, trong thời gian qua, Đảng và nhà nước luôn quan tâm đến công tác xây dựng đội ngũ CBCCCX và lấy đây là yếu tố cơ bản nhằm xây dựng phát triển đội ngũ CBCCX trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa IX) là dấu mốc quan trọng đối với CBCCCX khi đặt ra vấn đề: xây dựng đội ngũ CBCC ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác ĐTBD, giải quyết hợp

lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở Đây là những quan điểm đặt

cơ sở cho việc xác định các chức danh CBCCCX và chuẩn hóa đội ngũ

CBCCCX Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu: “Chất lượng đội ngũ cán bộ,

công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số tại địa bàn huyện Lạc Dương, tỉnh

Lâm Đồng” được thực hiện xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Đội ngũ CBCCCX có vị trí quan trọng quan trọng trong hệ thống chính trị hành chính 4 cấp Hoạt động của chính quyền cấp xã do CBCCCX thực hiện Họ là những người trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước; phổ biến, tuyên truyền, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi nhu cầu của người dân, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phương; duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã Do tính chất công việc của cấp xã, CBCCCX vừa giải quyết những công việc hàng ngày, vừa phải quán triệt các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, lại vừa phải nắm tình hình thực tiễn

Trang 9

2

ở địa phương để từ đó đề xuất kế hoạch, chủ trương, biện pháp phù hợp, đúng đắn Thực tế cho thấy, CBCCCX có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, đề xuất và thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước ở cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Quản lý nhà nước ở địa phương có được thực thi tốt hay không, có hiệu quả hay không hiệu quả một phần quyết định

là đội ngũ CBCCCX Vì vậy việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng

Thứ hai, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số

Xuất phát từ vị trí địa lý chiến lược của miền núi, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo xây dựng, và phát triển đội ngũ CBCCCX người DTTS cả về số lượng và chất lượng bởi đội ngũ này có vai trò quan trọng sau:

Một là, CBCCCX người DTTS là những người trực tiếp gắn bó với đồng bào DTTS, có nhiệm vụ truyền tải và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở vùng DTTS

Hai là, CCCX có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của đồng bào DTTS; tạo điều kiện đề đồng bào DTTS tham gia tích cực vào hoạt động quản lý của nhà nước ở địa phương, từ

đó góp phần hạn chế sự nhũng nhiễu, phiền hà, tham nhũng trong bộ máy hành chính nhà nước;

Ba là, CBCCCX là người DTTS góp phần phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa tại vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hẻo lánh

Thứ ba, thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng còn có những hạn chế nhất định

Huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng là nơi có hơn 70% người đồng bào DTTS sinh sống Nhìn chung, đội ngũ CBCCCX người DTTS ngày một tăng

Trang 10

3

về số lượng và được nâng cao về chất lượng Năng lực quản lý của đội ngũ CBCCCX người DTTS được cải thiện đáng kể, nhiều người đã được bố trí vào các vị trí lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở

Bên cạnh những chuyển biến tích cực nói trên, đội ngũ CBCCCX người DTTS ở huyện Lạc Dương vẫn còn bộc lộ một số hạn chế yếu kém nhất định Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị của đội ngũ này vẫn còn thấp và không đồng đều Do trình độ kiến thức các mặt còn hạn chế, nên sức thuyết phục của đội ngũ CBCCCX người DTTS trong lãnh đạo, quản

lý đối với quần chúng còn yếu Chính quyền cơ sở chưa làm tốt chức năng quản lý Nhà nước, nhất là trên lĩnh vực: đất đai, hộ tịch, hộ khẩu; các tổ chức đoàn thể hoạt động hiệu quả chưa cao, còn nặng về hình thức và mang tính hành chính Vì vậy, trong quá trình quản lý khi gặp những tình huống, những

vụ việc rắc rối đã không đề ra được phương án giải quyết tối ưu thì những lúng túng, va vấp trong công việc là điều khó tránh khỏi

Xuất phát từ những lý do trên và trước yêu cầu cấp thiết của thực tế địa

phương, em lựa chọn đề tài “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

là người dân tộc thiểu số tại địa bàn huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng”

làm đề tài cho luận văn thạc sỹ này

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chất lượng CBCCCX người DTTS không còn là một vấn đề mới, nhưng luôn là đề tài có tính thời sự và cũng không kém phần phức tạp Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát Đến nay đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức độ, khía cạnh, hình thức thể hiện khác nhau đã được đăng tải và công bố trên một số sách, báo, tạp chí ở trung ương và địa phương, như:

- Sách “Tổ chức bộ máy chính quyền và chế độ chính sách đối với cán

bộ cơ sở” (2005) của tác giả Phạm Kim Dung [18] Cuốn sách giới thiệu khái

Trang 11

4

quát về tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã và CBCCxã, phường, thị trấn; phân tích các quy định về bầu cử cán bộ chuyên trách cấp xã, tuyển dụng CCCX và đào tạo, bồi dưỡng CBCCcấp xã Đồng thời hệ thống hóa các quy định về chế độ làm việc của CBCCCX và các chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, khen thưởng và xử lý vi phạm; quản lý CBCCCX

- Sách “Tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách đối với CBCC cơ sở”

(2009) do Nguyễn Thế Vịnh và Đinh Ngọc Giang (đồng chủ biên) [45] đã phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống các chính sách đối với CBCC cơ sở (xã, phường, thị trấn) giai đoạn từ 1954 đến 2008; các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách đối với CBCC cơ sở…; từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách tiền lương, phụ cấp đối với CBCC cơ sở

- Luận văn “Mấy vấn đề chủ yếu của chính sách giáo dục và đào tạo

đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị

Tứ [33], đã tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu như: một số khái niệm; đặc điểm, vai trò của trí thức người dân tộc thiểu số; thực trạng phát triển của đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số ở nước ta; xác định phương hướng cơ bản và kiến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên; đưa ra quan niệm về phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên, những yếu tố tác động đến sự phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên Trên cơ sở

đó, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ này ở Tây Nguyên và đề xuất các quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ này trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Nguyên

- Luận văn “Phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Kon Tum” của Trịnh Ngọc

Dương [20] đã làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những nhân

tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực này Chỉ rõ thực trạng của vấn

Trang 12

5

đề nghiên cứu và nêu lên hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số

- Đề tài cấp nhà nước “Hệ thống chính trị ở cơ sở phục vụ phát triển

bền vững Tây Nguyên”, mã số TN3/X03 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ

nhiệm [44] làm rõ các khía cạnh lý luận cơ bản liên quan đến xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên; Phân tích, đánh giá tiến trình phát triển và thực trạng tổ chức, hoạt động hệ thống chính trị ở cơ sở tại Tây Nguyên từ năm 1986 đến nay; Xác định những yêu cầu tiếp tục phát triển hệ thống chính trị ở cơ sở và đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục kiện toàn tổ chức và đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, phục vụ phát triển bền vững Tây Nguyên giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn

2030 Trong đó, có đề cập đến giải pháp về đào tạo, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị cơ sở vùng Tây Nguyên và sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về chế độ, chính sách đối với CBCC cơ sở

- Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng đội ngũ CBCC cơ sở Tây

Nguyên” do TS Hồ Công Dũng chủ nhiệm[19] Đề tài tập trung phân tích

những đặc điểm của đội ngũ CBCC cơ sở và đánh giá thực trạng, dự báo nhu cầu phát triển nguồn CBCC cơ sở tại các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2006-

2010, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở Tây Nguyên đến năm 2010, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và giải quyết chế độ, chính sách hợp lý cho CBCCCX

- Đề tài cấp quốc gia“Nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực cán

bộ vùng DTTS đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” do TS Đào Thị Ái Thi làm chủ nhiệm Thuộc chương trình KH&CN

cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Những vấn đề cơ bản và cấp bách về dân

tộc thiểu số và chính sách dân tộc ở Việt Nam đến năm 2030” [32] Làm rõ cơ

sở lý luận, khung lý thuyết của việc đánh giá năng lực cán bộ vùng dân tộc thiểu số Đề tài đánh giá thực trạng, nhận diện vấn đề năng lực đội ngũ cán bộ

Trang 13

6

vùng dân tộc thiểu số trong bối cảnh hội nhập quốc tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Bài học kinh nghiệm của nước ngoài cho Việt Nam; Yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đối với việc nâng cao năng lực cán bộ vùng dân tộc; Kiến nghị hệ thống giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ vùng dân tộc thiểu số

Bên cạnh đó, có nhiều bài viết về xây dựng đội ngũ CBCCCX người DTTS đăng trên các tạp chí Tổ chức Nhà nước, Quản lý Nhà nước

như:“Nâng cao năng lực đội ngũ CBCC xã góp phần phát triển nông nghiệp

bền vững”[25]; “Xây dựng đội ngũ CBCC xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu của Luật CBCC”[21]; Bài viết“Thực trạng và giải pháp xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên”[27].v.v

Nhận xét chung: Các công trình nghiên cứu trên tuy đã đề cập và làm rõ nội dung và vị trí, vai trò của đội ngũ CBCCCX và đưa ra hệ thống các giải pháp khá toàn diện đối với việc nâng cao chất lượng đối với đội ngũ này Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới của sự nghiệp CNH -HĐH đất nước thì vấn đề chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS ở từng địa phương, từng vùng miền với những đặc trưng, đặc thù khác nhau, vẫn còn là vấn đề mang tính thời sự và cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên biệt và có hệ

thống về “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người DTTS trên địa

bàn huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng” Tuy nhiên, các công trình trên là

những tài liệu thao khảo giá trị để tác giả kế thừa và hoàn thiện đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Luận văn phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS tại huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng,

Trang 14

7

từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCCX người

DTTS trên địa bàn Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS

- Phân tích và đánh giá thực trạng về đội ngũ và công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS trên địa bàn Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế đó

- Xác định mục tiêu, yêu cầu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS trên địa bàn Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu đội ngũ CB cấp xã và 7 chức danh CCCX theo quy định tại khoản 2 và khoản 3, Điều 62 - Luật Cán bộ, công chức năm 2008

và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ “Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CCC cấp xã, phường, thị trấn”

và là người DTTS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu về chất lượng đội ngũ

CBCCCX người DTTS tại huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng

- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu về chất lượng đội ngũ

CBCCCX người DTTS tại huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng từ năm 2014 đến năm 2019

- Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu về chất lượng đội ngũ và

công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS trên địa bàn Lạc

Dương, tỉnh Lâm Đồng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Trang 15

8

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cán bộ nói chung và chất lượng CBCCCX là người DTTS nói riêng; đồng thời luận văn có kế thừa và vận dụng có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một

số tác giả về vấn đề này

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Đề tài vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và

chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng về CBCC người DTTS nói chung và CBCCCX người DTTS nói riêng và kế thừa những kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử và lô-gic, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh…để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung,

những kiến thức lý luận về CBCCCX và chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS; cung cấp cơ sở khoa học cho việc phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ

quan, tổ chức có thẩm quyền về quản lý CBCCCX người DTTS trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các chính sách, pháp luật về CBCCCX; xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch xây dựng đội ngũ

CBCCCX ở Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về công vụ, CC nói chung, về CBCCCX nói riêng và cho các nhà quản lý của địa phương trong xây dựng, hoạch định chính sách đối với CBCCCX người DTTS ở huyện Lạc Dương

Trang 16

9

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã người dân tộc thiểu số

Chương 2 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

người dân tộc thiểu số huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng

Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,

công chức cấp xã người dân tộc thiểu số huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng

Trang 17

10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,

CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã

a) Cán bộ cấp xã

Luật cán bộ, công chức năm 2008 (tại khoản 1, điều 4) quy định “Cán

bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)

là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở

xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã,

có quy định cán bộ chuyên trách xã (gồm 11 chức danh) gồm những người do dân bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ, cụ thể: Bí thư, phó bí thư đảng ủy (hoặc thường trực đảng ủy xã); bí thư, phó bí thư chi bộ xã (nơi chưa thành lập đảng ủy xã); Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh;Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ;Chủ tịch Hội nông dân;Chủ tịch Hội Cựu chiến binh

Trang 18

11

Từ phân tích trên, CBCX được hiểu là: Cán bộ giữ chức vụ qua bầu

cử:Gồm cán bộ chủ chốt của cấp ủy Đảng, HĐND, UBND, những người đứng đầu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

b) Công chức cấp xã

Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, CCCX là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp

xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Theo quy định, CCCX đảm nhận các chức danh chuyên môn sau: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội Việc quy định như vậy hướng đến việc hoàn thiện các chức danh CC theo vị trí việc làm

Như vậy, có thể hiểu, “ CCCX là công dân Việt Nam đáp ứng các yêu

cầu về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực công tác được phân công, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”

c) Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Khái niệm "đội ngũ" được sử dụng một cách phổ biến trong lĩnh vực tổ chức thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau như: đội ngũ tri thức; đội ngũ văn, nghệ sĩ; đội ngũ CBCCVC; đội ngũ y, bác sĩ Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định”[29] Như vậy, có thể hiểu "đội ngũ" là tập hợp một số đông người, một lực lượng cùng thực hiện một hay nhiều chức năng và có thể cùng nghề hoặc khác nghề nhưng có chung mục đích làm việc,

Trang 19

12

gắn bó với nhau vì lợi ích vật chất và tinh thần Theo đó, đội ngũ CBCCCX

được hiểu là tập thể gồm những CBCCCX của cả nước hoặc một địa phương cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh cụ thể nào đó của nước ta; có tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức theo quy định của nhà nước

1.1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số và cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Ở Việt Nam, thuật ngữ "dân tộc thiểu số" được sử dụng chính thức tại Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/11/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, tại Khoản 2 Điều 4 Theo Nghị định này, "Dân tộc thiểu số” được

định nghĩa là "những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm

vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Vậy, "dân tộc đa số”

là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia, đó là dân tộc Kinh với 85,7% dân số cả nước Các dân tộc khác đều là DTTS Trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc, cụm từ "dân tộc thiểu số” được thống nhất sử dụng trong hệ thống các văn bản pháp qui, các văn bản hành chính Nước ta có 54 dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó, dân tộc Kinh là dân tộc chiếm số đông, còn lại 53 dân tộc anh em khác có số dân ít hơn gọi là “dân tộc thiểu số" Theo đó, trong lãnh thổ Việt Nam ngoài dân tộc Kinh, các dân tộc còn lại là DTTS

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Đội ngũ CBCCCX người DTTS

là tập hợp của 3 khái niệm “ đội ngũ”, “CBCCCX” và “dân tộc thiểu số” dùng

để chỉ “Tập hợp các cá nhân người dân tộc ít người được bầu cử, hoặc tuyển

dụng để giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong tổ chức Đảng, HĐND, UBND, các

tổ chức chính trị - xã hội hoặc giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

1.1.3 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số

Trang 20

13

Một là, do đặc điểm của vùng DTTS mà đa phần đội ngũ CBCCCX là

người thuộc một DTTS nào đó.Theo Báo cáo Tổng kết 07 năm thực hiện

Quyết định số 253/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Một

số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên” giai đoạn 2002-2010, số lượng CBCCCX người DTTS chiếm đa số Trong tổng số CBCCCX của 5 tỉnh Tây Nguyên, CBCC người DTTS chiếm 26,8% Ở các

xã, nhất là vùng có đông đồng bào DTTS, tỷ lệ CBCCCX người DTTS cao hơn rất nhiều, có nơi chiếm trên 90% Có nơi chỉ chủ tịch UBND hoặc bí thư đảng ủy xã là người Kinh được huyện bố trí tăng cường, luân chuyển về, số CBCCCX còn lại đều là người DTTS.Vì vậy so với đội ngũ CBCCCX thì đội ngũ CBCCCX người DTTS chiếm đại đa số, họ là những người biết và sử dụng thành thạo tiếng dân tộc

Hai là, địa bàn hoạt động của đội ngũ CBCC người DTTS nói chung và

trên địa bàn Tây Nguyên nói riêng rất khó khăn và phức tạp Nước ta có 53 DTTS, với 13,4 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước; sinh sống thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5.266 đơn vị hành chính cấp xã Đồng bào DTTS cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ

và Tây Duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích của cả nước Các vùng DTTS là những vùng núi cao, biên giới, có địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, đây chính là nơi địa bàn khó khăn nhất của nước ta Đồng thời cũng là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và môi

trường sinh thái

Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng thiết yếu chưa được bảo đảm; đa số các thôn, bản đều xa thị trấn và các trung tâm phát triển nên trong quá trình triển khai thực hiện chính sách vẫn còn bộc lộ những vướng mắc nhất định, ảnh hưởng đến hiệu quả của các chính sách dành cho vùng đồng bào DTTS; khó khăn trong quản lý khi cần phải tiếp cận với người dân để triển khai và giải quyết các công việc thường ngày của đội ngũ CBCCCX người DTTS

Trang 21

14

Ba là,đội ngũ CBCCCX người DTTS nói chung và trên địa bàn Tây

Nguyên nói riêng mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống và tâm lý của cộng

đồng DTTS Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ

trương nhằm phát triển toàn diện vùng đồng bào DTTS bên cạnh đó có xây dựng đội ngũ CBCCCX người DTTS Đội ngũ CBCCCX người DTTS trên địa bàn Tây Nguyên được tạo điều kiện trong ĐTBD nhằm nâng cao trình độ,

kỹ năng giải quyết công việc, nhận thức về đời sống xã hội Vì vậy đội ngũ này đã có sự chuyển biến tích cực về chất lượng trên các phương diện: trình

độ, kỹ năng, thái độ, phẩm chất chính trị từ đó góp phần không nhỏ trong việc quản lý và phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội ở địa phương Ngoài ra, đội ngũ CBCCCX người DTTS trên địa bàn Tây Nguyên có vai trò không nhỏ trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của vùng DTTS Vì đội ngũ này là người con sinh ra và lớn lên thuộc vùng DTTS và lại tiếp tục công tác, gắn bó trên địa bàn này nên họ rất am hiểu các tập tục, nét văn hóa, tín ngưỡng, tâm lý của các đồng bào vùng DTTS Nét văn hóa truyền thống, tín ngưỡng, và tâm lý của cộng đồng người DTTS đã thấm đẫm trong con người

họ - đội ngũ CBCCCX người DTTS

Bốn là, CBCCCX người DTTS nói chung và địa bàn Tây Nguyên nói

riêng thường thiếu tính ổn định So với đội ngũ CBCCCX nói chung, CBCCCX người DTTS trên địa bàn Tây Nguyên có nhiều thay đổi hơn do vừa chịu sự quản lý về ngành dọc của các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chuyên môn vừa chịu sự quản lý trực tiếp của Chủ tịch UBND cấp xã CBCCCX người DTTS thuộc quyền quản lý của UBND cấp huyện, nhưng do Chủ tịch UBND cấp xã trực tiếp bố trí, phân công nhiệm vụ nên có thể bị điều chuyển công tác, thay đổi nhiệm vụ theo nhiệm kỳ của Chủ tịch UBND cấp

xã sau mỗi kỳ bầu cử Trên thực tế, đội ngũ CBCCCX là nguồn cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở nên sau các kỳ bầu cử thường có sự biến động, thay đổi Điều này xuất phát từ đặc thù của

Trang 22

15

thể chế chính trị và bộ máy nhà nước ta là có sự liên thông, bổ sung giữa CB và

CC, nhất là ở cấp xã Sự thay đổi về đơn vị hành chính cấp huyện, xã và điều chỉnh loại hình đơn vị hành chính từ xã thành phường, thị trấn cũng là một trong những lý do khiến các chức danh CBCCCX có sự thay đổi nhất định về địa bàn công tác và nhiệm vụ chuyên môn Đặc điểm thiếu ổn định này của CBCCCX ảnh hưởng ít nhiều đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của đội ngũ CBCCCX người DTTS Bên cạnh đó, đội ngũ CBCCCX người DTTS địa bàn Tây Nguyên chịu ảnh hưởng nhiều của những tập tục, văn hóa truyền thống đó là tục bắt chồng hoặc do gia đình ép gả mà họ bỏ công việc đang làm

chỉ để lấy vợ hoặc lấy chồng

1.1.4 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Vai trò của CBCCCX người DTTS được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, CBCCCX người DTTS là người am hiểu địa bàn, lại được

đào tạo cơ bản về các mặt công tác nên góp phần quan trọng trong xây dựng

và trực tiếp tổ chức cho nhân dân, nhất là đồng bào DTTS thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở vùng DTTS Đội ngũ CBCCCX người DTTS giúp chính quyền cấp trên thực hiện

nhiệm vụ QLNN trên địa bàn CBCCCX người DTTS đã cùng với các ngành

chức năng phát huy vai trò QLNN các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội trên địa bàn, đồng thời trực tiếp tổ chức thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở đúng mục tiêu, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phù hợp với điều kiện cụ thể của cấp xã

Thứ hai, CBCCCX người DTTS có ảnh hưởng tích cực đối với đồng

bào DTTS CBCCCX người DTTS là người lãnh đạo, quản lý, ý kiến của họ

có sức thuyết phục, hành động của họ có thể lôi cuốn, lan tỏa rộng Đào tạo,

Trang 23

16

bồi dưỡng, sử dụng CBCCCX có uy tín là người DTTS là khai thác lợi thế vô cùng lớn từ khía cạnh văn hóa, tập quán của vùng DTTS

Thứ ba,CBCCCX người DTTS tạo nên sự cân bằng, hài hòa về chất

lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, tăng cường mối quan hệ, tạo dựng niềm tin của nhân dân vùng DTTS đối với Đảng và Nhà nước

Thứ tư , CBCCCX người DTTS có vai trò kiểm tra, giám sát, kịp thời

xử lý những hiện tượng lệch lạc; bổ sung, điều chỉnh những chủ trương, giải pháp nếu thấy cần thiết ở địa phương Hiện nay, vùng đồng bào DTTS do trình độ dân và phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng mà mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tế ở địa phương cũng có những khó khăn nhất định Đội ngũ CBCCCX người DTTS người đứng đầu mỗi địa phương, đơn vị luôn là người đi sâu sát thực tế, nắm bắt tâm tư quần chúng, tìm hướng giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc Việc lắng nghe người dân và hiểu rõ địa bàn sẽ không ai làm tốt hơn đội ngũ CBCCCX người DTTS Đội ngũ này luôn gần gũi, tương tác với dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng người dân để làm tốt vai trò cầu nối giữa cơ sở và các cấp, góp phần đưa các chủ trương, chính sách vào cuộc sống một cách hiệu quả

Thứ năm, CBCCCX người DTTS tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của người dân ở cơ sở.Do địa bàn vùng DTTS là nơi làm việc và sinh hoạt hàng ngày của đồng bào, là nơi đồng bào thường xuyên tiếp xúc, đề đạt nguyện vọng, yêu cầu của mình với những người đại diện cho mình nên mỗi CBCCCX người DTTS phải luôn tiếp xúc gần gũi người dân ở địa bàn đề đạt

ý kiến, đổi mới phương thức hoạt động của chính quyền cấp xã, quản lý nhà nước các dịch vụ công phục vụ đồng bào Do vậy, chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS là một trong những nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khó khăn

Trang 24

17

Thứ sáu CBCCCX người DTTS có vai trò gương mẫu trong thực thi

công vụ và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở địa phương Vai trò gương mẫu của CBCCCX người DTTS còn thể hiện ở việc thực hiện nghiêm túc nội quy, quy chế hoạt động của cơ quan, đơn vị; thực hiện có chất lượng và hiệu quả các nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ; tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống nhằm đảm bảo các hoạt động quản lý được giao được thi hành và triển khai theo đúng quy định CBCCCX người DTTS, làm việc và sống gần gũi với đồng bào DTTS, vì vậy, CBCCCX người DTTS vừa là người thực thi công vụ nhưng đồng thời phải là người công dân gương mẫu trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, một phần không nhỏ phụ thuộc vào cách ứng xử, giải quyết công việc và phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ CBCCCX người DTTS

1.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

1.2.1 Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Khi nói về “chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS”, trước hết, cần xem xét khái niệm “chất lượng” được quan niệm như thế nào Có rất nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau, có ý kiến cho rằng chất lượng

là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi về chất và là sự phù hợp với mục tiêu Các quan niệm về chất lượng chúng ta có thể thấy qua nhiều định nghĩa sau:

+ Chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng

tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” [31]

+ Chất lượng là sự thực hiện được mục tiêu và thỏa mãn nhu cầu của

khách hàng [24]

Trang 25

18

Như vậy, chất lượng là tập hợp các thuộc tính bản chất hàm chứa trong sản phẩm ấy không những đáp ứng những yêu cầu, những mục tiêu và chuẩn mực chất lượng đã được xác định, được "công bố" rộng rãi mà còn là sự đáp ứng các nhu cầu sử dụng "tiềm ẩn" của khách hàng (người sử dụng sản phẩm) trong những điều kiện cụ thể (và được đo đếm bằng mức độ thỏa mãn khách hàng) Quan niệm như vậy về chất lượng là cơ sở để hiểu về khái niệm chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS

Chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS là mức độ đạt được trên cơ

sở xem xét dựa vào các yếu tố sau: 1) Chất lượng bên trong: năng lực, trình

độ, kỹ năng và thái độ, sức khỏe của từng CBCCCX; 2) Chất lượng của tập

hợp (cơ cấu về giới, tuổi, dân tộc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận

chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc, kinh nghiệm

công tác, sức khỏe ) của CBCCCX; 3) Chất lượng bên ngoài: sự thoả mãn

nhu cầu của khách hàng bên ngoài (người sử dụng lao động là các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp xã và đối tượng phục vụ là người dân, tổ chức, cộng đồng, xã hội) Nói đến chất lượng CBCCCX người DTTS là nói tới hai vấn đề cơ bản:

Thứ nhất, là tổng hợp những phẩm chất, giá trị, trình độ, năng lực của

từng và đội ngũ CBCCCX người DTTS

Thứ hai, những phẩm chất, đặc tính, giá trị của cả đội ngũ CBCCCX

người DTTS trên các mặt: phẩm chất chính trị, chuyên môn tốt; xây dựng tập thể vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức đoàn kết; hoạt động của tổ chức hiệu quả Chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS còn được thể hiện ở cơ cấu, trình độ và sức khỏe

Như vậy, chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS được hiểu là tổng

hợp thống nhất biện chứng hệ giá trị, những thuộc tính đặc trưng riêng có, những bản chất của đội ngũ CBCCCX người DTTS về mặt con người và các

Trang 26

ra, mà còn được pháp luật quy định cụ thể và bản thân đội ngũ này bắt buộc phải thực hiện Những phẩm chất đó là một trong những tiêu chí quan trọng không thể thiếu khi đánh giá những người trong bộ máy quản lý, điều hành xã hội trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào

1.2.2.2 Tiêu chí về phẩm chất đạo đức

Trang 27

20

Tiêu chí về phẩm chất đạo đức phản ánh các mối quan hệ giữa CBCCCX nói chúng và CBCCCX người DTTS nói riêng đối với Nhà nước và xã hội, giữa người với người trong hoạt động công vụ, trước hết là quan hệ giữa CBCCCX người DTTS với nhau, quan hệ giữa họ với cá nhân, tổ chức, cơ quan có công việc cần được giải quyết Do đó, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm đánh giá một cách chính thống về đạo đức công vụ trong thực thi công vụ của người CBCCCX người DTTS; đồng thời xã hội cũng có sự đánh giá qua hành vi, thái độ của CBCCCX người DTTS trong việc phục vụ nhân dân

Đạo đức của CBCCCX người DTTS còn thể hiện thông qua đạo đức cá nhân, đạo đức với cơ quan, tổ chức, đạo đức trong mối quan hệ với đồng nghiệp, với cấp trên, cấp dưới; đạo đức trong mối quan hệ với nhân dân và xã hội; đạo đức trong thực hiện mục tiêu, lý tưởng của bản thân

Cần, kiệm, liêm, chính là những phẩm chất đạo đức cần có của người CBCCCX người DTTS trong thực thi công vụ, những phẩm chất ấy được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể trong hoạt động thực thi công vụ Hành vi đạo đức của họ chỉ có thể được hình thành và phát triển trong thực tiễn phục vụ nhân dân, phụng sự sự nghiệp cách mạng của dân tộc

1.2.2.3 Tiêu chí về năng lực, kỹ năng

Theo Từ điển Bách khoaViệt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân

thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó”1

Với cách hiểu này, năng lực của đội ngũ CBCCCX người DTTS là những kiến thức‚ kỹ năng, khả năng và hành vi của đội ngũ này để đáp ứng‚ thực thi công vụ và phải bảo đảm cho công vụ được hoàn thành với hiệu quả

ở mức độ cao nhất‚ trong thời gian ngắn nhất

Đội ngũ CBCCCX người DTTS có năng lực‚ có kiến thức‚ có kỹ năng cũng như trình độ chuyên môn trong thực thi công vụ và trong một lĩnh vực nào đó thì sẽ giải quyết được những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện một cách nhanh chóng‚ dễ dàng và đạt hiệu quả cao

1

Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003), Từ điển Bách khoa

Việt Nam, tập 3, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội

Trang 28

nghề cho đến các bậc giáo dục chuyên nghiệp

Trình độ học vấn của CBCCCX người DTTS không chỉ được đánh giá thông qua bằng cấp của hệ thống giáo dục phổ thông mà đội ngũ này đạt được mà còn được đánh giá bởi lượng công việc do CBCCCX người DTTS lĩnh hội và vận dụng hiệu quả vào thực thi công vụ

Hai là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của CBCCCX người DTTS được đánh giá thông qua kiến thức chuyên môn mà đội ngũ này được trang bị, đó là kết quả của quá trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nâng cao kiến thức, cụ thể: bằng cấp chuyên môn mà CBCCCX người DTTS đạt được như chứng chỉ nghề, chứng chỉ sơ cấp về chuyên môn trở lên; khả năng vận dụng hiệu quả kiến thức chuyên môn vào trong quá trình thực thi công vụ Ngoài

ra với trình độ chuyên môn cộng với am hiểu nghiệp vụ, kỹ năng xử lý công việc và kinh nghiệm thực tiễn trong công tác, đội ngũ CBCCCX người DTTS

sẽ có những sáng kiến trong việc tham mưu, đề xuất và quản lý mọi lĩnh vực tại địa phương một cách hiệu quả

Ba là trình độ lý luận chính trị Trình độ lý luận chính trị của CBCCCX người DTTS được hiểu là: chương trình lý luận mà đội ngũ này được đào tạo; khả năng tư duy lý luận chính trị của đội ngũ này Khả năng tư duy lý luận chính trị chính là khả năng của CBCCCX người DTTS trong việc vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào những nhiệm vụ mà đội ngũ này được giao phó và giải quyết trên cơ sở khoa học, chính xác, mang lại hiệu quả cao nhất

Bốn là trình độ quản lý nhà nước Trình độ quản lý nhà nước của CBCCCX người DTTS là bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn về quản lý hành chính nhà nước mà đội ngũ này được trang bị; khả năng vận dụng kiên sthuwcs quản lý nhà nước vào trong việc thực thi công vụ Với dội ngũ

Trang 29

22

CBCCCX người DTTS, kiến thức quản lý nhà nước hiện nay chủ yếu được bồi dưỡng ở ngạch cán sự và chuyên viên và các lớp bồi dưỡng ngắn hạn theo

vị trí chức danh mà đội ngũ này đảm nhiệm

Năm là trình độ tin học, ngoại ngữ Theo quy định hiện hành thì CBCCCX phải có trình độ tin học và ngoại ngữ từ A trở lên Với thời đại công nghệ phát triển tiên tiến như hiện nay thì việc sử dụng thành thạo tin học nhắm áp dụng trong thực thi công vụ sẽ tạo hiệu quả cao khi thực thi và quản lý công vụ mà CBCCCX người DTTS được giao CBCCCX người DTTS có trình độ tin học và ngoại ngữ

sẽ giải quyết công việc hiệu quả nhất là một tỉnh có tiềm năng về du lịch như huyện Lạc Dương hiện nay

1.2.2.5 Tiêu chí về sức khỏe

Đội ngũ CBCC nói chung và đội ngũ CBCCCX người DTTS nói riêng đều phải bảo đảm có sức khỏe để làm việc Với địa bàn hiểm trở, khắc nghiệt của vùng DTTS cộng với sự khó khăn của đường sá đi lại đội ngũ CBCCCX người DTTS cần phải có một sức khỏe tốt để đi đến từng làng, từng bản, từng nhà dân nhằm trực tiếp truyền đạt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với bà con dân bản; động viên đồng bào phấn đấu vươn lên phát triển kinh tế xóa đói, giảm nghèo xây dựng quê hương làng, bản Có một sức khỏe tốt, đội ngũ CBCCCX người DTTS sẽ luôn yêu công việc, tinh thần cũng cảm giác luôn thoải mái, tự tin, đầy phấn khích, không ngại việc có thể làm bất cứ việc gì, dù là việc lao động chân tay, hay việc lao động trí óc Yêu cầu về sức khỏe đối với CBCCCX người DTTS không phải chỉ là điều kiện bắt buộc khi tuyển dụng mà đây là yêu cầu bắt buộc trong suốt quá trình thực thi công vụ của đội ngũ này

1.2.2.6 Tiêu chí về tập thể đoàn kết, thực hiện đúng chức năng và đạt mục

tiêu nhiệm vụ đề ra

Chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS được thể hiện qua tiêu chí

đó là một tập thể thực hiện đúng và có kết quả theo chức năng, nhiệm vụ quản lý của chính quyền địa phương để đạt mục tiêu, nhiệm vụ đề ra Chất

Trang 30

23

lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS phụ thuộc vào các yếu tố: Năng lực, trình độ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức của cả đội ngũ; sự ủng hộ của người dân địa phương; sự ủng hộ của cấp trên và sự đoàn kết, hợp tác trong công việc trong nội bộ cơ quan, đơn vị

Việc đánh giá chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS còn dựa trên tiêu chí: Người đứng đầu cơ quan, đơn vị tại địa phương thực hiện việc QLNN trong phạm vi thẩm quyền của mình phải đạt mục tiêu đề ra; phải phù hợp với nguyện vọng, đáp ứng yêu cầu của CBCC và nhân dân; phải tuân thủ các quy định của pháp luật… Mặt khác còn được thể hiện ở thời gian, cách thức, thái độ giải quyết công việc của người đứng đầu (nhanh, chậm; nhiều, ít; phục vụ, ban phát)

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

1.3.1 Công tác bầu cử, tuyển dụng

Bầu cử CBCX và tuyển dụng CCCX người DTTS là vấn đề rất quan trọng, bởi thực hiện tốt công tác này, chính quyền cấp xã sẽ chọn được những người có phẩm chất đạo đức và năng lực, góp phần xây dựng đội ngũ CBCCCX người DTTS trong sạch, vững mạnh và chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và xây đựng NTM ở địa phương Trong thực tế, những hạn chế, yếu kém của đội ngũ CBCCCX người DTTS trong thời gian qua một trong những nguyên nhân là từ chính khâu tuyển chọn đội ngũ này

1.3.2 Công tác bố trí, sử dụng

Trong công tác cán bộ, khâu bố trí, sử dụng CBCCCX người DTTS giữ

vị trí rất quan trọng Nếu công tác bố trí, sử dụng CBCCCX người DTTS

đúng người, đúng việc sẽ tạo điều kiện cho đội ngũ này phát huy tốt năng

lực; động viên CBCCCX người DTTS cống hiến sức lực, trí tuệ, tâm huyết để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Ngược lại, nếu công tác bố trí, sử dụng đội ngũ CBCCCX người DTTS thực hiện không đúng, không phù hợp hoặc

Trang 31

24

không chính xác có thể làm mất đi động lực phấn đấu của từng cá nhân, thậm chí gây nên sự chán nản, trì trệ trong công việc hoặc làm xáo trộn tâm lý của

cả một tập thể cơ quan, đơn vị

1.3.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng

Đào tạo, bồi dưỡng có vai trò quan trọng sau: a) nâng cao chất đội ngũ CBCCCX người DTTS; b) nâng cao hiệu quả thực thi công vụ; c) giúp cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; d) nâng cao năng lực đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu xây dựng NTM hiện nay Đội ngũ CBCCCX người DTTS sau khi được ĐTBD sẽ có những đóng góp đáng kể đối với cơ quan, đơn vị trong việc hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao từ đó tạo sự phát triển về kinh tế - xã hội đối với địa phương nói riêng và xã hội nói chung

Đội ngũ CBCCCX người DTTS nói riêng và đội ngũ CBCCCX nói chung được trang bị và cập nhật các kiến thức về lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, chuyên đề về an ninh, quốc phòng, tôn giáo, tiếng dân tộc, công tác vận động quần chúng, kỹ năng quản lý hành chính nhà nước, tin học văn phòng đây là giải pháp quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở và góp phần giữ vững an ninh - chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

1.3.4 Tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ

Tiền lương và các chế độ chính sách đối với CBCCCX người DTTS có vai trò quan trọng trong việc động viên, khuyến khích đội ngũ này yên tâm công tác Tiền lương và các chế độ chính sách đối với CBCC nói chung và đặc biệt là đội ngũ CBCCCX người DTTS có tác dụng bù đắp lại sức lao động cho họ đồng thời đây cũng là đòn bẩy kích thích CBCCCX người DTTS nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nhiệt tình công tác, tâm huyết, gắn

bó với công việc Để đội ngũ CBCCCX người DTTS bảo đảm cuộc sống, yên tâm công tác, vì sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương thì cần phải có một chế độ chính sách tiền lương đúng đắn, hợp

Trang 32

25

lý Tiền lương là động lực chủ yếu để CBCCCX người DTTS gắn bó với cơ quan, đơn vị, gắn bó với công việc, tận tụy với công việc, có điều kiện thăng tiến dựa vào tài năng, trí tuệ của chính mình, không cần tham nhũng và cũng không thể tham nhũng Tiền lương của CBCCCX người DTTS được trả đúng, trả đủ giá trị sức lao động mà họ đã bỏ ra sẽ giúp đội ngũ này yên tâm công tác, gắn bó với công việc được giao

1.3.5 Công tác kiểm tra, đánh giá

Công tác kiểm tra và đánh giá CBCC nói chung và CBCCCX người DTTS nói riêng là một nội dung cần thiết trong quản lý đội ngũ CBCC Công tác kiểm tra và đánh giá CBCC là cơ sở để sắp xếp, bố trí, luân chuyển, ĐTBD, quy hoạch, bổ nhiệm nhân sự hợp lý; xác định đúng người không có khả năng thực thi, động cơ xấu để loại bỏ khỏi nền công vụ Đánh giá đúng thì bố trí, đề bạt đúng; đánh giá sai sẽ dẫn đến nhiều tác động tiêu cực đến đội ngũ CBCCCX, khiến họ sinh ra chủ quan, tự cao, tự đại

Công tác kiểm tra và đánh giá CBCCCX người DTTS cần được thực hiện thường xuyên, khách quan và đúng quy định sẽ góp phần tăng cường chức năng pháp chế, răn đe CBCCCX người DTTS, hướng đội ngũ CBCCCX người DTTS thực sự trở thành người công bộc của nhân dân, trung thành với Đảng, tận tụy với nhân dân Không có kiểm tra, giám sát đối với hoạt động này, khó có thể bảo đảm việc đánh giá đúng đắn đối với từng CBCCCX là người DTTS

Tiểu kết chương 1

Cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong chỉ đạo, quản lý hành chính nhà nước của chính quyền cấp xã là "cầu nối" giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Chính vì vậy việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCCX người DTTS rất cần sự quan

Trang 33

26

tâm của cả hệ thống chính trị Trong chương 1, luận văn đã hệ thống hóa cơ

sở lý luận về chất lượng CBCCCX người DTTS thông qua việc làm rõ khái niệm CBCCCX, vai trò, đặc điểm của CBCCCX người DTTS; Các tiêu chí đánh giá chất lượng và những yếu tố ảnh hưởng đến việc chất lượng của đội CBCCCX người DTTD, từ đó nêu lên sự cần thiết phải phát huy nâng cao vị thế, vai của CBCCCX người DTTS trong tình hình mới Trên cơ sở những lý luận đó là tiền đề để huyện Lạc Dương phân tích đánh giá đúng tình hình thực

tế, thực trạng chất lượng đội ngũ CBCCX người DTTS, từ đó đề ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội ở địa phương

Trang 34

27

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN LẠC DƯƠNG,

TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Huyện Lạc Dương được thành lập vào ngày 14/03/1979, nằm ở phía bắc của tỉnh Lâm Đồng, l địa bàn có vị trí quan trọng ở Nam Tây Nguyên Phía Đông giáp huyện Khánh Sơn (tỉnh Khánh Hòa), huyện Ninh Sơn (tỉnh Ninh Thuận ); phía Bắc giáp huyện Krông Bông và huyện Lắc (tỉnh Đắc Lắk); phía nam giáp thành phố Đà Lạt và huyện Đơn Dương; phía tây giáp huyện Đam Rông và huyện Lâm Hà Trải qua nhiều lần chia tách, hiện nay huyện Lạc Dương có 06 đơn vị hành chính đó là : Thị trấn Lạc Dương, xã Lát, xã Đạ Sar, xã Đạ Nhim, xã Đạ Chais và xã Đinh K’ Nơh

Huyện Lạc Dương có tổng diện tích tự nhiên 131.136 ha, trong đó đất lâm nghiệp 116.292 ha, đất ngoài lâm nghiệp là 14.844 ha Tổng dân số toàn huyện đến thời điểm năm 2019 là 28.667 nhân khẩu với 6.800 hộ, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 19.992 nhân khẩu với 4.636 hộ chiếm 69,74% dân

số Người theo các tôn giáo chiếm 71,3% dân số, chủ yếu là đạo công giáo, tin lãnh và phật giáo Lạc Dương là huyện miền núi với hơn 70% đồng bào các dân tộc sinh sống, chiếm phần lớn trong số này là người K’Ho, Chu Ru.Toàn huyện có 21 dân tộc anh em cùng sinh sống (Kinh, K’Ho, Châu Mạ, Mơ Nông, Chu Ru, Chăm, Hoa,Tày, Thái, Nùng, Mường )

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Với lợi thế nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đỏ bazan nên Lạc Dương thuận lợi trong việc sản xuất rau hoa công nghệ cao, nuôi cá nước lạnh và trồng cây công nghiệp Trên địa bàn huyện có làng nghề như dệt thổ cẩm, văn hóa cồng chiêng- di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công

Trang 35

28

nhận Có nhiều điểm du lịch như khu du lịch Lang Biang, khu du lịch Thung Lũng Vàng và Vườn Quốc gia Bi đúp Núi bà Huyện có 1 xã (Đạ Chais) được Đảng, Nhà nước tặng thưởng danh hiệu: "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” Huyện được vinh dự tặng Huân chương lao động hạng nhì

Các lĩnh vực kinh tế- xã hội của huyện có nhiều chuyển biến tích cực Công tác giảm nghèo giai đoạn 2014 - 2019 đã đạt được một số chỉ tiêu quan trọng,s ố hộ nghèo chung toàn huyện năm 2014 là 513 hộ, chiếm tỷ lệ 10,58%, trong đó hộ nghèo DTTS là 490 hộ, chiếm tỷ lệ là 13,89% (theo chuẩn nghèo cũ), năm 2019 hộ nghèo 336 hộ chiếm tỷ lệ 5,2%; trong đó hộ nghèo đồng bào DTTS là 724 hộ chiếm tỷ lệ 11,3% (theo chuẩn nghèo mới) Bình quân mỗi năm giảm 2 - 3%; dân tộc thiểu số giảm 3 - 4%

Đời sống xã hội trong các dân tộc phân thành nhiều đơn vị cơ sở là buôn, làng Hợp thành buôn, làng là những đại gia đình theo chế độ mẫu hệ Những đại gia đình thường chung sống trong một ngôi nhà dài, người phụ nữ

có vai trò chính yếu trong gia đình Các gia đình trong buôn làng đều có quan

hệ với nhau về thân tộc, hoặc về thích tộc ở mức độ khác nhau, làm cho quan

hệ cộng đồng buôn làng được duy trì khá bền vững Tuy người phụ nữ có vị thế quan trọng trong gia đình nhưng trong quan hệ xã hội thì người đàn ông vẫn giữ vị trí quan trọng Vì thế, nam giới dễ thoát ly, nữ giới dễ bị cột chặt vào công việc gia đình, dòng họ Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ CBCCCX người DTTS là nữ gặp những khó khăn nhất định

Các buôn, làng vùng đồng bào DTTS ở huyện Lạc Dương, tuy không phải là đơn vị hành chính, nhưng lại có các thiết chế văn hóa chặt chẽ Trong các buôn, làng mỗi cá nhân như chìm trong cộng đồng; lợi ích cá nhân, đặc biệt là lợi ích kinh tế không được đề cao mà hòa vào lợi ích cộng đồng, ẩn sâu vào lợi ích cộng đồng Đặc tính tâm lý này đã làm hạn chế tính quyết đoán của cán bộ lãnh đạo chính quyền, trách nhiệm của mỗi cá nhân cũng bị hạn chế Đặc điểm này còn làm cho tính cục bộ được đề cao Mỗi buôn, làng sống theo quy

Trang 36

29

ước riêng, tôn trọng quy ước, nếp sống của buôn làng Vì vậy, việc điều hành của chính quyền cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạc Dương cũng gặp rất nhiều khó khăn

2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số huyện Lạc Dương

2.2.1 Khái quát đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số huyện Lạc Dương

2.2.1.1 Đặc thù đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số huyện Lạc Dương

CBCCCX người DTTS huyện Lạc Dương vừa là CBCCCX nhưng vừa

là người trực tiếp sản xuất, họ là trụ cột, là lao động chính trong gia đình, do

đó cũng hạn chế về thời gian nghiên cứu các các chủ trương, chính sách để cụ thể hóa vào thực tế địa phương Đặc biệt, trong thời gian lễ hội trong văn hóa của các dân tộc (lễ hội cồng, chiêng) hoặc vào mùa vụ (đâm trâu, tế lễ) thì thường họ bị chi phối nhiều vào các hoạt động của lễ hội, việc gia đình mà ít quan tâm đến công việc của xã

Do đặc thù thành phần dân cư trong một xã gồm nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống Nhiều xã có đến 7, 8 dân tộc vì vậy trong cơ cấu CBCC thành phần dân tộc cũng rất đa dạng Trái lại có những xã chỉ có hai đến ba dân tộc cùng sinh sống Chính vì vậy, có nhiều địa phương đang ở trong tình trạng nhiều người trong một dòng họ nắm những vị trí quan trọng ở xã

2.2.1.2 Về số lượng

Đội ngũ CBCCCX người DTTS huyện Lạc Dương hiện nay được bố trí theo Quyết định phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, cụ thể như sau: 1) Loại 1: tối đa 23 người; 2) Loại 2: tối đa 21 người; 3) Loại 3: tối

đa 19 người [7] Số lượng CBCCCX theo quy định bao gồm cả CBCC được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định bố trí số lượng CBCCCX bằng hoặc thấp

Trang 37

Về đội ngũ công chức cấp xã người DTTS bao gồm: Trưởng Công an xã,

2 người; Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã, 2 người; Văn phòng- Thông

kê ,4 người; Địa chính- Xây dựng, 3 người; Tài chính- Kế toán 2 người; Tư pháp- Hộ tịch, 5 người; Văn hóa- Xã hội 9 người Như vậy, số lượng CBCCCX người DTTS bảo đảm theo đúng quy định và đa phần đều giữ các chức danh theo quy định

2.2.1.3 Về cơ cấu giới tính, độ tuổi

a) Về giới tính

Qua [Phụ lục 4, Bảng 2.5] có thể thấy, giai đoạn 2014-2019 số lượng

nữ cán bộ, công chức cấp xã người DTTSD là 11/ 67 (chiếm 16,4% ) Mặc dù

có tăng hơn so với trước đây, nhưng nhìn chung, tỷ lệ nữ giới là CBCC người DTTS làm việc ở cấp xã còn thấp Các vị ví trí như: Bí thư Đoàn thanh niên, Chủ tịch Hội Nông dân, Địa chính- Xây dựng, Tài chính- Kế toán, Tư pháp-

Hộ tịch không có CBCC nữ giới là người DTTS

b) Về độ tuổi

Giai đoạn 2014 -2019 cho thấy, trong tổng số 67 CBCCCX người DTTS, trong đó dưới 30 tuổi: 17 người (25,4%); 30-45 tuổi: 26 người

Trang 38

31

(38,8%); trên 45 tuổi: 24 người (35,8%)

Nhìn chung độ tuổi trung bình của CBCCCX người DTTS của huyện Lạc Dương giai đoạn 2014 – 2019 khá cân đối, bảo đảm phát huy được tính năng động, sáng tạo, nhạy bén của đội ngũ CBCC trẻ, đồng thời kế thừa kinh nghiệm công tác của đội ngũ lớn tuổi Tuy nhiên, về lâu dài cần phải được trẻ hóa hơn nữa đội ngũ CBCCCX người DTTS nhằm tạo sự năng động, sáng tạo, vững vàng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ

2.2.2 Về chất lượng

2.2.2.1 Về phẩm chất đạo đức, chính trị

Nhìn chung, đội ngũ CBCCX người DTTS của huyện Lạc Dương về phẩm chất đạo đức, chính trị đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ dặt ra Đội ngũ này của huyện đều có tinh thần trách nhiệm trong công việc, giữ vững đạo đức, phẩm chất cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và chấp hành sự phân công của tổ chức, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với đồng bào

và đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương Bên cạnh

đó, đội ngũ CBCCCX người DTTS của huyện có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc; có ý thức trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác; trung thực, ít chịu tác động từ những mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường; từng bước cải tiến lề lối làm việc, đưa hoạt động quản lý điều hành ở cơ sở đi vào nề nếp, có kết quả tốt Đa số CBCCCX là người đồng bào sống gần dân, sát dân nên thông thuộc địa bàn, hiểu rõ phong tục tập quán của nhân dân địa phương, được nhân dân tín nhiệm

Trong tổng số 67 người không có ai tham gia đào tạo, bồi dưỡng cao cấp lý luận chính trị; Về trung cấp lý luận chính trị có 8/67 (chiếm 11,9%); Sơ cấp có 4/67 (chiếm 4 %) Trong khi đó có tới 37/67 (chiếm 55,2%) chưa qua đào tạo trình độ lý luận chính trị chính trị

Tuy nhiên do hạn chế về mặt trình độ nên có những CBCCCX người

Trang 39

32

DTTS chưa thực sự nắm vững đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Kết quả thực hiện các Nghị quyết, văn bản pháp luật ở địa phương kém hiệu quả, thiếu sự vận dụng sáng tạo Tính gương mẫu và uy tín ở một bộ phận CBCCCX người DTTS còn thấp, ý thức tổ chức, tính kỷ luật của một số CBCCCX người DTTS chưa cao Tác phong làm việc chậm chạp, trì trệ, luộm thuộm, không đúng giờ, ngại giao tiếp gây lãng phí thời gian, dẫn đến

sự tuỳ tiện trong giải quyết công việc và chấp hành nội quy, quy chế làm việc

2.2.2.2 Về kiến thức

a) Về trình độ học vấn

Trong những năm qua, huyện Lạc Dương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tạo mọi điều kiện đưa đi đào tạo ngắn hạn, dài hạn, tập trung, tại chức, bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao trình độ về mọi mặt, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác được giao Từ đó đã giải quyết việc làm, tạo nguồn cán bộ tại chỗ và thúc đẩy phong trào, động lực học tập trong con em vùng đồng bào DTTS Số CBCCCX người DDTS hầu hết tốt nghiệp THPT 63/67 người (chiếm 95,6%) [Phụ lục 4, Bảng 2.1] Như vậy tiêu chuẩn học vấn nhìn chung là đạt, tạo được tiền đề cho việc nhận thức và tiếp thu các tri thức khác b) Về trình độ chuyên môn

Hiện nay tổng số đội ngũ CBCCCX người DTTS ở 6 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Lạc Dương là 67/128 người Mặc dù số lượng CBCCCX người DTTS chiếm tỷ lệ khá lớn (52,3%) nhưng trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước còn chưa cao Trong tổng số 67 CBCCX người DTTS không ai có trình độ đào tạo sau đại học Trong khi đó, số CBCCCX trình độ trung cấp và chưa đạt 14/67 (chiếm gần 21%) [bảng 2.1] rất cần được chuẩn hóa Tuy nhiên, trong giai đoạn 2014-2019 chỉ có 3 trường hợp (chiếm 4,4%) được cử đi đào tạo trình độ cao đẳng; Về đại học, có 10/67 (chiếm 14,9%) được cử đi đào tạo trình độ đại học và không có ai được tham gia đào tạo sau đại học

Trang 40

33

Qua [Phụ lục 4, Bảng 2.1], thực trạng trình độ chuyên môn của đội ngũ CBCCCX người DTTS huyện Lạc Dương (giai đoạn 2014- 2019) qua phân tích, cụ thể từng vị trí chức danh cho thấy: Trình độ chuyên môn CBCCCX người DTTS chưa đồng đều So với với trước đây, mặc dù trình chuyên môn

đã từng bước được nâng lên và có nhiều chuyển biến nhưng trong xu thế hội nhập toàn cầu, dân trí ngày càng cao thì tỷ lệ CBCCCX người DTTS có trình

độ đại học 37/67 (chiếm 55,2%); cao đẳng 16/67 (chiếm 23,9 % ); trung cấp 11/67 (chiếm 16,4%); chưa đạt 3/67 (chiếm 4,4%) Với trình độ như vậy, việc đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra đối với đội ngũ CBCCCX người DTTS chưa thực sự đáp ứng Với mục tiêu đẩy mạnh nâng cao cải cách nền hành chính và xây dựng NTM như hiện nay thì rất cần phải quan tâm, chuẩn hóa đội ngũ CBCCCX ở trình độ đại học và trên đại học

c) Về trình độ lý luận chính trị

Trong tổng số 67 người không có ai tham gia đào tạo, bồi dưỡng cao cấp lý luận chính trị; Về trung cấp lý luận chính trị có 8/67 (chiếm 11,9%); Sơ cấp có 4/67 (chiếm 4 %) Trong khi đó có tới 37/67 (chiếm 55,2%) chưa qua đào tạo trình độ lý luận chính trị chính trị

Qua [Phụ lục 4, Bảng 2.2] về thực trạng trình độ lý luận chính trị đội ngũ CBCCCX người DTTS huyện Lạc Dương giai đoạn 2014- 2019 qua phân tích cụ thể cho thấy, tỷ lệ CBCCCX người DTTS được bồi dưỡng về chính trị

ở trình độ trung cấp 16/67 ( 23,9 % ); trình độ sơ cấp ( 20,8 % ), số còn lại chiếm tỷ lệ lớn (55,2 %) chưa được bồi dưỡng về lý luận chính trị

Như vậy, mặt bằng trình độ lý luận chính trị CBCCCX người DTTS trên địa bàn còn thấp, trên 55% CBCCCX người DDTS chưa được bồi dưỡng về

lý luận chính trị Chính vì vậy, trong thời gian tới đây huyện Lạc Dương cần đẩy mạnh hơn nữa công tác ĐTBD và nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ CBCCCX xã người DTTS

d) Về trình độ quản lý nhà nước

Ngày đăng: 05/06/2021, 13:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w