1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Di tim dau tich thoi nien thieu cua Bac Ho o Hue cua Nguyen Dac Xuan

138 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 532,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi đã gặp được nhiều nhân chứng quan trọng như bác Lê Xuyến cháu đích tôn của cụ Lê Trinh- người hàng xóm của gia đình cụ Phó bảng Sắc ở 114 Mai Thúc Loan, ông Lê Viết Triết con trai ôn[r]

Trang 1

ĐI TÌM DẤU TÍCH THỜI NIÊN THIẾU CỦA BÁC HỒ Ở HUẾ

Nguyễn Đắc Xuân

( Nguồn www.gactholoc.net ) LỜI GIỚI THIỆU

Tập bút ký có 13 chương chính mà nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân phải thực hiện trong mộtquãng thời gian trải dài đến 20 năm Đây là một công trình làm rõ thời niên thiếu của Chủtịch Hồ Chí Minh từ thuở mới theo gia đình đặt chân lên đất Huế năm 1895 cho đến lúc Người

tử giả Huế để vào các tỉnh phía Nam bắt đầu hành trình đi tìm đường cứu nước vào năm 1909.Những sự kiện được làm rõ là ngôi nhà đầu tiên của bác và gia đình thuê tại đường Đông Ba(nay nhằm vào số 112 Mai Thúc Loan), những tháng năm Bác theo cụ thân sinh về làngDương Nổ (1898-1900), sự kiện thân mẫu của Bác qua đời (1901) tại Huế, những năm thángbác học trường Pháp Việt Đông Ba và trường Quốc Học Huế (1905-1909) và đặc biệt soạn giảlàm rõ được sự kiện Bác đã tham gia cuộc đấu tranh chống thuế tháng 4-1908 tại Huế như thếnào Thời gian sinh sống và học hành tại Huế Bác đã chứng kiến được sự bất lực của các vuacuối triều Nguyễn, thấy được tội ác của thực dân Pháp, học được văn minh văn hoá phươngTây và tiếp xúc được với đồng bào yêu nước (trong đó có các thầy giáo của bác như thầyHoàng Thông, thầy Lê Văn Miến v.v…) Tất cả những gì Bác tiếp nhận được ở Huế cộng vớitruyền thống yêu nước của quê hương xứ Nghệ, Bác đã hình thành được tư tưởng yêu nước từlúc mới bước vào ngưỡng cửa trường Trung học

Thực hiện công trình này, soạn giả đã gặp và hỏi chuyện những người bạn học của Bác như cụ

Lê Thiện, Nguyễn Viết Nhuận, những người học cùng trường và quen biết Bác như cụNguyễn Đạm, những người thân quen của bà Nguyễn Thị Thanh và của ông Cả Nguyễn SinhKhiêm như ông Nguyễn Phú Phu, ông Lê Xuyến, bà Nguyễn Thị Khôi v.v… Về tài liệu thamkhảo, ngoài tài liệu của triều Nguyễn, soạn giả còn tiếp xúc được với toàn bộ Bộ hồ sơ mậtcủa Mật thám Pháp, tìm hiểu Bác từ tuổi ấu thơ cho đến năm 1920 Đây là một công trìnhkhoa học được thể hiện bằng ngoài bút của một nhà văn có con tim tràn đầy niềm tự hào Huếcủa anh là quê hương thứ hai của Chủ tịch Hồ Chí Minh nên đọc rất hấp dẫn và cảm động Kếtquả nghiên cứu của công trình đã được soạn giả giới thiệu một phần trên báo chí trong haimươi lăm năm qua, phổ biến trong hàng trăm cuộc thuyết trình ở Huế và nhiều cơ quannghiên cứu trên ba miền đất nước, đưa vào trưng bày tại Bảo tàng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại

Huế Đặc biệt , khi thực hiện công trình Ho Chí Minh, A Life (698 trang New York 2000),

nhà sử học Mỹ William J Duiker đã trích dẫn tài liệu của Nguyễn Đắc Xuân đến 12 lần

Về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoàinước Các nguồn tài liệu thành văn mà soạn giả Nguyễn Đắc Xuân sử dụng của các nhànghiên cứu rồi ra có thể tìm được nhiều hơn thế nữa Nhưng có thể nói Nguyễn Đắc Xuânđược tiếp xúc với những người bạn học của Bác mà nay hầu như đã qua đời hết thì tài liệu cóthể nói là vô giá Cuốn sách là một đóng góp mới vào việc nghiên cứu cuộc đời - sự nghiệp -

tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (“Hồ Chí Minh học”) - Người mà thế kỷ XXI đầy biếnđộng, thách thức vận hội vẫn thấy ở đấy một ngọn cờ tư tưởng lớn, không chỉ cho Việt Nam,

mà cho toàn nhân loại Vì khi nào mà hoà bình, độc lập, tự do, dân chủ, “cơm ăn, áo mặc”,

“học hành”, vẫn còn là ước nguyện của nhân loại thì tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc

soi đường

GS-TS Mai Quốc Liên

Trang 2

Cuốn bút ký lịch sử Đi tìm dấu tích thời niín thiếu của Bâc Hồ ở Huế của nhă văn vă nhă

nghiín cứu Nguyễn Đắc Xuđn gồm 13 chương chính, nhưng tâc giả đê phải thực hiện trongkhoảng 20 năm Nguyễn Đắc Xuđn lă người Huế, ông đê sưu tập, biín chĩp câc sự kiện vềBâc ngay từ hồi còn trẻ, trong khâng chiến chống Phâp

Bằng nhiều câch tiếp cận: 70 cuốn sâch, băi bâo, thư từ tăi liệu, đặc biệt lă hơn 20 tư liệu gốccủa mật thâm Phâp về Bâc vă gia đình Bâc; 26 băi viết về Bâc của câc tâc giả trong vă ngoăinước; 18 tăi liệu lịch sử về thời niín thiếu của Bâc; phỏng vấn 50 người cùng thời hoặc quenbiết gia đình Bâc Hồ thời niín thiếu, những người quen biết hoặc cùng thời với bă Thanh vẵng Cả Khiím - anh, chị ruột của Bâc; của câc nhđn sĩ, trí thức được nghe Bâc kể chuyện;những cân bộ, trí thức, nhă nghiín cứu đê quan tđm đề tăi về thời niín thiếu của Bâc Hồ quahăng trăm tư liệu lời kể (đều có địa chỉ, tín tuổi cụ thể) vă hăng trăm cuộc nói chuyện vềBâc Nguyễn Đắc Xuđn đê góp phần lăm sâng rõ, cụ thể vă sinh động khoảng thời gian Bâc

ở Huế từ năm 1895 cùng gia đình cho đến năm 1910, Người rời Huế văo Săi Gòn đi tìmđường cứu nước

Những sự kiện đê được lăm rõ lă ngôi nhă đầu tiín Bâc vă gia đình thuí tại đường Đông Ba(nay lă số 112 Mai Trúc Loan) Những thâng năm Bâc theo cụ thđn sinh về lăng Dương Nổ(1898-1900) sự kiện thđn mẫu Bâc qua đời (1901) tại Huế; Những thâng năm Bâc học trườngPhâp Việt Đông Ba vă trường Quốc học Huế (1905-1908) vă đặc biệt soạn giả lăm rõ được sựkiện Bâc đê tham gia cuộc đấu tranh chống thuế thâng 4-1908 tại Huế

Cuốn sâch dăy đặc tư liệu viết với một tình cảm xúc động, chđn thực của Nguyễn Đắc Xuđn lămột đóng góp mới vă lớn văo việc nghiín cứu cuộc đời sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch HồChí Minh - một con người, một lênh tụ Câch mạng vĩ đại, một nhđn câch lớn, một nhă văn hoâlớn, một ngọn cờ tư tưởng lớn không chỉ cho Việt Nam Nhă sử học Mỹ William J Duiker khithực hiện công trình nghiín cứu Hồ Chí Minh, A Life (698 trang) đê trích dẫn tăi liệu củaNguyễn Đắc Xuđn tới 12 lần

Về cuộc đời của Bâc, câc nhă nghiín cứu có thể tìm được nhiều nguồn tăi liệu nhiều hơn nữa

Những cuốn Đi tìm dấu tích thời niín thiếu của Bâc Hồ ở Huế của Nguyễn Đắc Xuđn chắc

chắn lă một cuốn sâch hấp dẫn, bổ ích, nó lă một công trình nghiín cứu công phu, tận tình,khoa học

Viễn Triều (Một bút danh khâc của nhă thơ Triều Dương)

Bâo Văn Nghệ số 35+36 /9-2003

Tôi đọc một mạch cuốn Đi tìm dấu tích thời niín thiếu của Bâc Hồ ở Huế suốt cả buổi chiều,

may mă mùa hạ rất dăi Tập bút ký lịch sử của nhă văn Nguyễn Đắc Xuđn gồm có 13 chương,ghi lại một cuộc tìm kiếm trải dăi đến 25 năm Khĩp 225 trang sâch lại, người đọc cảm nhậntrước hết lă mỗi trang văn đều thấm đẫm một mạch nguồn cảm xúc hết sức chđn thănh nhưngvẫn giữ được sự minh triết của một công trình khoa học Tâc phẩm hội đủ câc tính chất tưởngchừng như đối nghịch - ký sự lịch sử rõ răng minh bạch đang xen xencâ tính nghệ thuật củamột nhă văn

Tâc giả, ngăy ấy - lúc “cầm bút ngi hăng giờ trước trang giấy mă vẫn chưa biết viết câch năo

để có thể thông tin được những tư liệu mới tìm được…” Hẳn ông đê dự cảm, đê sẵn săng đốidiện trước những khó khăn, sẽ đến với câch lăm, câch nghĩ độc lập của mình Có thể nói,chính sự hăm hở của tuổi trẻ, con tim trăn đầy nhiệt huyết vă niềm tự hăo về quí hương đêgiúp ông khởi đầu vă kết thúc cuốn sâch tđm huyết bằng một phần đời cầm bút hăo sảng, đôi

Trang 3

khi là dữ dội Ngay từ chương đầu “Ngôi nhà cũ đường Đông Ba”, tôi tìm thấy nơi ông mộtcon người yêu quê nhớ quê chân chất, không màu mè tình cảm Từ ấy, hình thành mạnh mẽước mong thầm kín mà cháy bỏng là viết về Huế - quê hương thứ hai của Bác Hồ Sống vàviết trong hoàn cảnh cực kỳ thiếu thốn, tác giả đã làm một cuộc tìm kiếm đơn độc, hành trang

là tâm tình hiến dâng và cá tính nghệ thuật rất riêng Trong quá trình lục lọi lớp bụi thời gian,may mắn đến với ông là được nhiều người thông cảm, sẻ chia, may mắn đó không đến hai lần

do đó tài liệu thành văn này trở nên vô cùng giá trị

Cái vẻ hăm hở đi tìm bừng bừng khí thế của tác giả thật ra ẩn giấu bên trong tác phẩm nhữngkhoảng lặng phản phất một chút ngậm ngùi và trong công việc, thảng thốt ông thú nhận “bêncạnh những kỷ niệm ngọt ngào, tôi không thể xoá mờ trong ký ức nhiều nỗi xót xa” Nhữngcảm xúc riêng tư ấy là nguồn cảm hứng tiếp thêm sức mạnh cho ông âm thầm hoàn thành mộtcông việc lặng lẽ đến một phần tư thế kỷ Tôi nghĩ ông có thế mạnh mà các nhà văn hay cácnhà khoa học khác phải vất vả, nếu như họ đi cùng một đường, cùng làm một việc như ông -đấy là con tim thổn thức tự hào về Huế Giá như ông hoàn toàn tin tưởng vào bản lĩnh nghệthuật của mình, tin lời bác Vũ Kỳ: “Anh được quần chúng tin cậy ủng hộ” thì tác phẩm này sẽcòn gây nhiều bất ngờ thú vị, nếu nó ra đời sớm hơn Tuy nhiên đòi hỏi như thế là quá nhiều

Những gì tác giả Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế đã làm được, là một đóng

góp không nhỏ Dù mai kia, có thể còn tìm được các nguồn tài liệu mới hơn, nhiều hơn Song những gì mà ông đã làm giữa một thời “rau dưa, củi lửa” cũng đủ cho ông có một chỗđứng đáng trân trọng, trong việc nghiên cứu cuộc đời - sự nghiệp - tư tưởng của Chủ tịch HồChí Minh

Phú Xuân

Báo Văn & Hoá Đời Sống TTH, số 39/ từ 30-6 đến 7.7.2003

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Cuốn sách Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế này tôi đã viết xong từ năm

1983, nhưng phải chờ tư liệu để kiểm tra cho nên mãi đến năm nay sách mới có điều kiện ramắt độc giả

Hồi kháng chiến tôi làm báo ở chiến khu Thừa Thiên Huế Hằng năm cứ vào cuối tháng tư tôilại phải tham gia viết một vài tài liệu hoặc viết một bài báo về Bác Hồ để phục vụ tuyêntruyền Những lần ấy, chúng tôi lại có dịp đề cập đến Huế-thành phố Bác Hồ đã sống thời niênthiếu Nhưng những năm tháng Bác đã sống ở Huế như thế nào? Thời gian nào? Những nơinào Bác đã sống qua? Huế còn đọng lại những gì trong ký ức Bác? Những câu hỏi ấy núi rừngTrường Sơn không thể trả lời cho tôi Trong cuốn sách chính thức viết tiểu sử của Chủ tịch Hồ

Chí Minh do nhà Sự Thật xuất bản cũng chỉ ghi được vỏn vẹn nửa câu “… nhất là trong thời gian người học ở trường Quốc Học Huế (1905-1910)” (1) Nếu đúng như thế thì Bác đã sống

và học hành ở Huế từ năm 15 tuổi đến năm Bác lên hai mươi tuổi (1905 đến 1910) Tuổi 15đến 20 là tuổi hình thành nhân cách của một người bình thường Đối với các người xuất chúngthì tuổi đó là tuổi định hướng của cả một cuộc đời Sự kiện quan trọng ấy chỉ được ghi có nửacâu văn trong một tác phẩm chính thức như thế thì quả thật không thể chấp nhận được Là mộtngười cầm bút xứ Huế, tôi đã “hạ quyết tâm”: “Ngày hoà bình lập lại thế nào tôi cũng phảitìm cho được các câu trả lời cho tôi.”

Năm 1974 được đi dự Đại hội Sinh viên Quôc tế (IUS) lần thứ 11 ở Budapest, tôi có dịp ghéngang qua Moscou, được xem một số sách hướng dẫn du lịch nước Nga viết bằng tiếng Pháp.Khi xem ảnh tượng Lê-nin lúc lên 17 tuổi đứng trong sân trường Đại học Kazan, tôi nghĩ đếncái tượng của Bác đứng trong sân trường Quốc Học trong tương lai; nhìn cái bến nước Lê-ninkhi rời Simbirsk tôi nghĩ đến cái bến đò Thừa Phủ - nơi Bác Hồ đã từ biệt Huế ra đi! Rồi từ

đó, đi đến bất cứ nơi đâu tôi cũng cố tìm tài liệu, suy nghĩ để viết về thời niên thiếu của Bác

Hồ ở Huế Nhiều người biết tôi có ý định đó khuyên tôi không nên làm cái phần việc của BanNghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương Tôi vốn thích suy nghĩ độc lập cho nên tôi có cách nghĩ

và cách làm của tôi Tôi không nãn lòng Tôi biết kiến thức của tôi có nhiều hạn chế, ngônngữ nghèo nàn, nhưng khi đứng trước người ngoại quốc biết nói và viết tiếng Việt, tôi khôngbao giờ có mặc cảm mình thua kém họ về Việt Nam Vậy tại sao có biết bao người ngoại quốcviết sách về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tôi lẽ nào lại không dámviết về cái thời niên thiếu Bác đã sống qua ngay trên đất Huế của tôi? Người ta có thể hơn tôi

vì tiếp cận dược những tài liệu sách vỡ lưu trữ ở nước ngoài về cuộc đời chính trị của Bác Hồ,nhưng chuyện Bác Hồ lúc còn để chỏm thì làm gì đã có tài liệu? Chuyện ấy chắc chắn chỉ cóngười Huế mới biết thôi Mà người Huế biết thì tôi có thể biết được Đúng như thế, sau này đivào thực tế, tôi thấy không những người Huế mà ngay cả người làng tôi (Dã Lê Chánh xãThủy Vân, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên), bà con họ hàng của tôi cũng biết về gia đình

và thời niên thiếu của Bác Làng tôi có ông Nguyễn Viết Song (Thông) đỗ Tấn sĩ khoa Tânsửu (1901) cùng khoa với ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy - thân sinh Bác Hồ (2) Ông Song

có một người cháu là Nguyễn Viết Nhuận học cùng lớp với Bác tại trường Pháp Việt Đông Ba

và trường Quốc Học Huế Một người em cô cậu với ông Nguyễn Viết Nhuận là Nguyễn ĐắcVọng từng tháp tùng vua Khải Định Tây du năm 1922 Ông Vọng đã chứng kiến việc PhanChu Trinh và Nguyễn Ái Quốc làm nhục vua Khải Định ngay trên đất Pháp Đặc biệt làng Dã

Lê Chánh là quê hương của ông Lê Đình Mộng người lãnh đạo cuộc đấu tranh kháng thuếnăm 1908 tại Thừa Thiên-Huế - cuộc đấu tranh mở đầu cuộc đời tranh đấu cách mạng củaChủ tịch Hồ Chí Minh sau này Tôi nghĩ là các nhà nghiên cứu về Bác Hồ chưa bao giờ gặpnhững người Huế quen thân với Bác ngày xưa trước tôi Do đó mỗi lần cầm trên tay tập sách

Trang 5

dày do Jean Lacouture viết về Bác (3) tôi lại vững tin mình hơn Tôi có thể bổ sung cái phầnThời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Jean Lacouture muốn viết mà chưa viết được.

*

* *

Ông Nguyễn Đình Hoan - công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, có lần được gần Bác, khẩn thiếtyêu cầu Bác kể chuyện Thời niên thiếu của Bác để đồng chí viết, Bác bảo:

- “Chú không còn việc gì làm nữa phải không?”

Ông Hoan không nản chí, đã tìm mọi lời lẽ khẩn thiết muốn được nghe Bác kể Cuối cùng Bácbảo:

- “Thời thơ ấu của Bác cũng giống như các cháu nhỏ bây giờ thôi Bác cũng nghịch ngợm,cũng vọc đất, cũng nhác học và cũng bị mẹ đánh

đòn Các chú thấy các cháu bây giờ như thế nào thì thời thơ ấu ngày xưa của Bác cũng như thếấy!”

Chuyện riêng của Bác mà Bác không chịu kể thì ta biết làm sao!

Lục lọi trong lớp bụi thời gian hơn ba phần tư thế kỷ để tìm những “thông tin” về Thời niênthiếu của Bác là một chuyện mò kim đáy biển Những ai ở Huế còn nhớ được một lớp họcngày xưa ra sao? Một cậu bé tóc trái đào như thế nào? Những sinh hoạt, những ý nghĩ củangười Huế đầu thế kỷ XX đã bị lãng quên qua bao thế hệ Một viên gạch ở cửa Đông Ba mangbiết bao tâm sự Ngày nay còn mấy ai nghe được tiếng lòng của nó? Muốn bắt được đầu ócmình suy nghĩ, nhìn ngắm như một người trẻ đồng thời với Bác những năm ở Huế, tôi phảiđọc nhiều sách báo, tài liệu cũ, đã phải hàng tháng, hàng năm nghe các cụ già “cổ lai hy” nóichuyện Mỗi lần tôi được xem một cuốn An-bom cũ hoặc một cuốn hồi ký của những “giađình lớn” ở Huế tôi cố tìm trong ấy những nắng, mưa, cái ăn, cái mặc, nói năng, tiếng đàn,giọng hát, niềm vui, nỗi buồn, và cái nhìn về những sự kiện chính trị lúc bấy giờ Vì thế,nghiên cứu Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế tôi bổng trở thành người nghiên cứu Huế đầuthế kỷ XX

*

* *Trước khi đặt bút viết dòng mở đầu cho tập sách này, tôi đã viết gần năm mươi bài báo, vàthực hiện hàng trăm buổi báo cáo, thuyết trình cho nhiều cơ quan, đoàn thể ở Huế và ngoàiHuế về Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế Qua đó tôi phổ biến dần những tài liệu tôi vừa tìmđược để quần chúng ủng hộ tinh thần cho tôi Tôi muốn bạn đọc của tôi không những đượcnghe tôi “thông báo” một cách đơn thuần mà còn muốn họ cùng tôi tham dự vào “cuộc tìmhiểu khoa học này” Qua cách làm ấy quần chúng trí thức đã góp cho tôi nhiều ý kiến, nhiều

tư liệu hay để tôi hoàn chỉnh những tư liệu khoa học của tôi

Đáng lẽ tôi mở đầu cuốn sách này ở Trại viết Hội Nhà Văn Việt Nam tổ chức giữa mùa hènăm Bác Hồ 90 tuổi (1980) có cả nhà văn Nguyễn Tuân tham dự Nhưng rất tiếc gặp phải

Trang 6

nhiều chuyện bất tiện nên cuốn sách được viết vào những giờ tối thiểu mà người khác dùng đểnghỉ ngơi Sách viết trong vòng ba năm Trang cuối cùng được viết vào chiều ngày 29.9.1983trong lúc tôi đang nằm Bệnh viện Huế để chữa bệnh gan.

Hăm hở cho hoàn thành cuốn sách tâm huyết của mình Khi viết xong đọc lại nhiều lần tôi hếtsức náo nức nhưng chưa dám nghĩ đến việc gởi bản thảo đến một nhà xuất bản nào Có nhiều

lý do, nhưng lý do quan trọng nhất là nguồn tư liệu lịch sử Tư liệu của tôi phần lớn là tư liệusống, tư liệu viết trước 1975 ở miền Nam Khi những tư liệu ấy chưa được xác minh (vérifier)bởi một nguồn tư liệu thành văn đầu tay thì tôi chưa yên tâm Vì thế mà tập bản thảo dày cộm

cứ nằm chờ tôi trên bàn viết Nhưng rồi những gì tôi chờ đợi cũng đã đến Tôi may mắn saochụp được bộ Hồ sơ của Mât thám Pháp theo dõi Bác và gia đình Bác thực hiện vào năm 1920(4) Bóc hết cái ý tưởng phản động, những nhận xét sai lạc của Mật thám Pháp về Bác và giađình Bác, tôi tìm được trong ấy những con người, những sự kiện và đặc biệt là thời gian các

sự kiện xảy ra để so sánh với những gì tôi đã ghi chép được qua các hồi ức của những ngườithân quen, những người biết Bác thời niên thiếu ở Huế Cho đến nay tôi tin là công việc sưutầm nghiên cứu của tôi có thể tin được Cuốn sách đã đến lúc phải ra mắt bạn đọc Gởi bảnthảo đến nhà xuất bản tôi mang trong đầu những ý tưởng sau đây:

1 Những nhân vật tôi hân hạnh được gặp để hỏi chuyện Thời niên thiếu của Bác Hồ đến nayhầu như đã qui tiên Những điều các vị đã kể với tôi hết sức tâm huyết, nếu tôi để thất lạcnhững điều tâm huyết ấy là tôi có tội Tôi thật sự không muốn mang cái tội ấy khi gặp lại các

3 Với tuổi tác của tôi hiện nay không cho phép tôi chờ đợi thêm nữa Cuốn sách tôi viết vớitâm huyết của một phần đời tôi Để cho tập bản thảo này mai một là tôi tự hủy cái phần đờiquý báu ấy của tôi;

4 Tôi cũng muốn để lại cho các con tôi và bạn bè thế hệ của chúng biết lý tưởng của tôi trongnhững năm tháng ấy Tôi làm việc trong điều kiện hết sức khó khăn mà vẫn làm đến cùng.Làm vì lý tưởng, vì khoa học chứ không vì bất cứ một điều gì khác

Đọc lại bản thảo tôi không ngờ trong những năm tháng mà bây giờ nhiều người không muốnnhắc lại tôi lại có thể nhiệt tình làm khoa học một cách năng nổ đến thế Sự nhiệt tình đó có lẽkhông bao giờ còn trở lại với tôi hôm nay Bởi thế, cuốn sách này là một công trình nghiêncứu đồng thời cũng là một kỷ niệm lớn Tôi giữ nguyên bản thảo cũ hoàn tất năm 1983 vànhững gì mới viết tôi ghi rõ là phần viết bổ sung của năm 2003 Nếu độc giả phê phán cái vănphong bất nhất ấy, tôi xin nhận hết khuyết điểm Tôi hết sức cố gắng trong gần hai mươi năm

để trả lời những câu hỏi đặt ra cho tôi giữa rừng núi Trường Sơn năm xưa Nhưng với tư cách

là một nhà văn đi nghiên cứu lịch sử chắc chắn tôi không thể tránh được những chỗ bất cập.Kính mong các bậc thức giả cao minh chỉ giáo để qua việc góp ý với tôi giúp cho các thế hệtương lai tiếp cận được với chân lý

Nguyễn Đắc Xuân Gác Thọ Lộc, Đầu năm 2003

Trang 7

(1) Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và Sự nghiệp (in lần thứ ba), Nxb Sự Thật, Hà Nội 1975,

tr.13 vẫn còn giữ nửa câu văn trên

(2) Cao Xuân Dục, Quốc Triều Đăng Khoa Lục, quyển 4, Lê Mạnh Liêu dịch, Bộ QGGD Sài

gòn, 1962, tr.234

(3) Jean Lacouture, Hồ Chí Minh, Édition du Seuil, Paris 1967, 262 trang.

(4) Xem phần sách và tài liệu tham khảo

Trang 8

Chương 1: Ngôi nhà cũ đường Đông Ba

Sau chín năm xa cách, một buổi trưa mùa hè năm 1975, tôi trở về nhờ một chuyến chuyên cơ

từ Hà Nội vào Huế Trong những năm kháng chiến nhiều lần tôi đã ngồi ở nguồn Tả nguồnHữu Trạch mà gửi nỗi nhớ của mình về sông Hương Vì thế lúc về đến Huế, tôi ra sông tắmngay Dòng nước đã trải qua nhiều bờ bãi Thach xương bồ thơm thơm, mát dịu thấm vào dathịt tôi Nước sông Hương giúp tôi giũ được đất bụi đường dài kháng chiến và thức dậy trongtôi những mơ ước hòa bình Tôi vội vàng đi thăm một vài người bạn thân rồi mượn một chiếc

xe đạp, đạp vào Thành nội cũng có nghĩa là đạp vào dĩ vãng bí mật đang muốn vỡ tung ratrong tim tôi

Trong thời gian ngắn ngủi ở Hà Nội - cuối năm 1974, tôi đã đọc được tác phẩm văn vần viết

về thời niên thiếu của Bác - cuốn Đi Từ Giữa Một Mùa Sen (1) của Thanh Tịnh Những câu

văn vần giàu hình tượng, ngọt lịm đính ngay vào ký ức tôi Suốt một thời gian trí tưởng tượngcủa tôi bị căng ra để hình dung mấy câu văn vần Thanh Tịnh viết về Ngôi nhà đầu tiên của giađình Bác Hồ ở trong Thành nội Huế:

“Ăn nhờ ở đậu lân la Mới thuê được một gian nhà hướng Nam

Xế hiên một gốc mai vàng Trước sân bông bụt một hàng dậu thưa

Bên này nhà chú thợ cưa Bên kia nhà một viên Thừa bộ Binh Dãy nhà gian ngói, bếp tranh Chênh chênh nhìn phía cổng thành Đông Ba” (2)

Những câu văn đó cứ lấp lánh trong tâm trí tôi Tôi đến xóm nhà trườc Viện Đô Sát (đã sửachữa lại thành trường Đoàn Thị Điểm) - nơi, theo Thanh Tịnh, gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc

đã ở nhờ trước khi mướn được nhà riêng (khi cụ mới đưa gia đình vào Huế) Khởi đi từ đó tôidắt xe đi ngược đường Đoàn Thị Điểm về phía Nam Đi một đoạn tôi rẽ vào đầu đường MaiThúc Loan (trước kia là đường Đông Ba) cho đúng với cái hướng “Chênh chênh nhìn phíacổng thành Đông ba” Con đường ấy đối với tôi có biết bao kỷ niệm Để có đủ cơm ăn học thi

Tú tài hai tôi đã đến làm gia sư trong một gia đình công chức trên đường phố này! Con đườngquen thuộc trải dưới chân tôi tắm trong ánh nắng đỏ rực Cờ cách mạng cắm hai bên đưòngphố như những cành phượng vĩ nghiêng xuống trang điểm cho con phố cũ Tôi đến từng sốnhà, dùng ký ức để tìm ra những người chủ xem thử còn ai biết được chuyện cũ năm xưakhông? Tôi dán mắt vào những tường gạch, mái ngói trát vôi ghi dấu ấn của cái thời xi-măngchưa xuất hiện với một nỗi hy vọng náo nức tìm ra ngôi nhà thời thơ ấu của Bác

Tôi vào thăm hỏi một vài cụ già râu tóc bạc phơ, các cụ bảo khó quá, đường Đông Ba đã đổithành đường Mai Thúc Loan từ lâu và các dãy nhà đã đổi chủ đến ba bốn lần

Trang 9

Không có một tia hy vọng nào để tìm ngôi nhà Thời niên thiếu của Bác Hồ hé ra trong cáibuổi chiều đầu tiên sau khi tôi trở về Huế ấy! Nhưng tôi không hề khó chịu, vì lồng ngực tôihôm ấy đang căng đầy nỗi mừng vui thống nhất quê hương.

Thời gian sau đó tôi lại tiếp tục dắt xe đi trong cái hướng “chênh chênh nhìn phía cổng thành Đông ba” ấy và tìm mọi cách vô hỏi chuyện từng gia đình Sổ tay tôi ghi chép được biết bao

điều mới lạ, nhưng vẫn chưa tìm được ngôi nhà Thanh Tịnh mô tả nêu trên

Tôi miệt mài làm việc như thế trong nhiều năm

Một hôm nghe tin nhà văn Thanh Tịnh về thăm quê và ở lại trong nhà một bà chị gần chợ Vỹ

Dạ tôi tìm đến thăm và hỏi chuyện anh:

- “Trong tác phẩm Đi Từ Giữa Một Mùa Sen anh có mô tả ngôi nhà gia đình Bác Hồ thuê ở hướng “Chênh chênh nhìn phía cổng thành Đông Ba”, vậy ngôi nhà đó ở đâu xin anh chỉ

hộ?”

Nhà văn Thanh Tịnh nhìn tôi xuýt xoa:

- “Hồi kháng chiến chống Pháp tôi và anh Hoài Thanh về thăm quê Bác nghe cô Thanh - chịBác và ông cả Khiêm - anh Bác, kể chuyện rồi tôi viết như thế chứ tôi chưa biết đích xác làngôi nhà nào Đúng là ngôi nhà đó ở trên đường Đông Ba, lần này về tôi cũng có ý định đi tìmđây!”

Niềm hy vọng bỏng cháy trong tôi bắt đầu hạ nhiệt độ Phải chăng Thanh Tịnh đã “hư cấu”nên ngôi nhà ấy? Không thể như thế được Thanh Tịnh là một nhà văn rất có trách nhiệm vớingòi bút của mình Hơn nữa viết về Bác lẽ nào Thanh Tịnh lại nói mà không có cơ sở!

Sau một thời gian “đi lại” với con đường Đông Ba cũ, tôi phát hiện thấy mình đã “phải lòng”con đường này Những lúc bận quá không “gần gũi” nó được tôi cảm thấy buồn Cuối cùng đểtiện việc, tôi đã dọn nhà sang ở tại 108 Mai Thúc Loan để hằng ngày tôi có thể lắng nghe cái

âm thanh rộn rã của nó hay lúc nó lặng lẽ trầm ngâm, để tôi được hít thở cái không khí ngàyxưa Bác đã thở, để tôi ngắm mảnh trăng trên khoảng trời trong năm xưa Bác đã ngắm và tôi

có thể dành hoàn toàn thời giờ rảnh rổi - dù chỉ một tiếng đồng hồ - để “la cà” bắt mối hỏichuyện cũ

Thấy tôi say sưa tìm tòi trong sự thiếu thốn mà chưa tìm được một manh mối nào, có ngườikhuyên tôi nên chọn viết một đề tài khác để có thể kiếm sống được Tôi tìm mọi cách để tựđộng viên mình đừng buông xuôi theo lời khuyên chân tình ấy Để cho những người thật tìnhvới mình khỏi ái ngại, tôi thường đáp:

- “Không sao, nếu chưa tìm được tài liệu về thời thơ ấu của Bác để viết thì tôi sẽ viết về tìnhcảm của tôi trong những ngày “phiêu lưu” này!”

Một hôm ra Hà Nội công tác tôi gặp anh Đào Thế Hùng ở nhà xuất bản Ngoại Văn, nghe tôi

muốn tìm hiểu về Bác, anh Hùng cho tôi mượn tờ báo Le Courrier du Việt Nam (số 46 năm 1976) có đăng bài Les Années de l’Enfance de l’Oncle Ho à Hué của Sơn Tùng Đọc cái “tít”

bài báo tôi mừng rơn Bài báo ghi lại hồi ức của bà Công Tôn nữ Huệ Minh (?) về người bạnthông minh, hóm hỉnh của bà tại đường Đông Ba Huế Tôi đọc kỹ bài báo thì thất vọng, những

“thông tin” trong ấy chung chung quá không thể kiểm chứng được Các anh trong Ban nghiên

Trang 10

cứu Lịch sử Đảng ở Bình Trị Thiên cũng đồng ý với tôi như thế Cuối cùng bài báo chỉ cònđọng lại trong tôi cái tên “Công Tôn nữ Huệ Minh” - theo Sơn Tùng là tên người bạn thân tìnhbuổi thiếu thời của Bác.

Công Tôn nữ Huệ Minh là người Hoàng phái Theo cách đặt chữ lót của Nhà Nguyễn thì: congái vua (hoàng nữ) lúc hạ giá (tức lấy chồng) được một ông quan tước Công làm chủ hôn nêngọi là công chủ, đọc trại ra là công chúa; con gái một ông hoàng (tức cháu nội gái của một ôngvua) là Công nữ; cháu nội gái một ông hoàng (tức chắt nội một ông vua) là Công tôn nữ, tiếptheo là Công tằng tôn nữ, Công huyền tôn nữ (3) Như thế bà Công Tôn nữ Huệ Minh mà SơnTùng đã gặp (?) phải là cháu nội một ông hoàng nào đó Theo tác giả đầu thế kỷ XX bà HuệMinh đã trên 10 tuổi Tôi làm một bảng thống kê và loại dần những ông hoàng con các ôngvua sau Tự Đức, tôi thấy nếu có bà Huệ Minh thì bà phải là chắt nội vua Minh Mạng hoặc vuaThiệu Trị (vua Tự Đức không có con nên không tính) Có được cái kết luận thứ nhất này tôitìm đến gặp các cụ Hoàng phái con cháu thuộc các hệ nhì chánh (Minh Mạng) và hệ tamchánh (Thiệu Trị) nhờ họ dò trong gia phả các hệ ấy có ai tên là Công tôn nữ Huệ Minh lưulạc vào đồng bằng Nam bộ không? Thấy tôi tha thiết muốn biết, các vị ấy đã tích cực tìm giúptôi Sau một thời gian tra cứu các vị ấy trả lời là “không có một người nào mang tên ấy và lưulạc vào Nam bộ như thế cả” (4) Mãi đến mùa hè năm 1979 tôi cùng nghệ sĩ Nguyễn Hữu Balên thăm một gia đình chắt nội Tương An quận vương (5) để tìm tư liệu về ông Hầu Biều -một nghệ sĩ đàn Huế xuất sắc hồi đầu thế kỷ XX Nhân thể tôi hỏi người chắt nội Tương An:

- “Trong gia đình bác có người nào mang tên Huệ Minh là bạn thuở thiếu thời với Bác Hồ ởHuế không?”

Người chắt nội Tương An đáp một cách bất ngờ rằng:

- “Các bà, các cô của tôi không ai có tên là Huệ Minh cả Nhưng tôi có một bà cô tên là Ưng

Lệ là bạn hàng xóm của Bác Hồ thuở xưa!”

Tôi thích thú quá nhưng cứ nghĩ là tai mình nghe nhầm, tôi phải hỏi đi hỏi lại nhiều lần và tôiđược nghe người chắt nội của Tương An kể thêm gốc ngọn như sau:

- “Lúc sinh thời cô tôi lấy chồng xa, nhưng không có con, nên khi lớn tuổi bà về Huế sống vớiông anh là nhạc sĩ Hầu Biều Tôi chỉ thấy cô vui mỗi lần ngồi nghe anh đàn Đầu năm 1926,

cụ Phan Bội Châu vừa bị Pháp bắt về an trí ở Huế cho biết nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốcđang hoạt động yêu nước ở bên ngoài là con trai thứ của cụ Phó bảng Sắc - người đã sinh sốngnhiều năm trong Thành nội Huế Bà Đạm Phương nữ sử đưa cái tin ấy đến tai cô tôi Lần đầutiên tôi được nghe cô tôi nói với cái giọng vui vui rằng: “Lúc nhỏ ông Quốc ấy là bạn của cô

đó Ông ta nghịch ngợm và hóm hỉnh lắm!”

Không để cho người cháu bà Ưng Lệ kể hết, tôi hỏi tắt ngang:

- “Xin lỗi, thế thì ngày xưa nhà của bà Ưng Lệ ở đâu trong Thành nội ấy?”

- “Ở đường Đông Ba, bây giờ là số nhà 106 Mai Thúc Loan đó!”

Thật là một sự trùng hợp hết sức kỳ lạ Cái nhà của ông Hầu Biều (anh ruột bà Ưng Lệ) ngàyxưa chính là cái nhà ở sát cạnh nhà tôi ngày nay (1978) Tôi tự thầm khen mình là người rất códuyên trong sự lựa chọn nhà ở này (108 Mai Thúc Loan) Tôi hỏi tiếp:

Trang 11

- “Thế chú có nghe bà kể ngày xưa nhà của Bác Hồ ở đâu không?”

- “Rất tiếc lúc đó tôi còn nhỏ nên không dám hỏi?”

*

* *

Những điều người cháu bà Ưng Lệ kể qua kiểm chứng tôi thấy đều đúng cả Đó là những hạt

“bụi vàng” quí giá, nhưng chúng chưa thỏa mãn được điều tôi đang tìm

Trở lại đường Mai Thúc Loan, tôi đứng tần ngần trước dãy cửa bàn khoa căn nhà cũ củangười bạn gái buổi thiếu thời của Bác Nhà bạn của Bác ở đây còn nhà Bác ở đâu? Câu hỏi ámảnh tôi mãi Tôi nhớ lại cái tuổi lên chín lên mười cực nhọc của mình ở Đà Lạt, tôi quan sátmấy đứa con người bạn tôi đang ở trong nhà, tôi thấy rằng cái tuổi ấy - bọn trẻ chỉ làm bạn -nhất là bạn gái, với những người ở gần nhà mà thôi Mà nhà cửa trong Thành Nội hồi xưathưa thớt không ở sát cạnh nhau như bây giờ nên không thể tính theo số nhà hiện có, mà phảitính bằng tiếng gọi Khi cần mời bạn qua ăn cơm nguội có thể đứng ở nhà mình ơi một tiếngbạn có thể nghe và sang được Tôi cho rằng nhà của Bác năm xưa ở loanh quanh đâu chỗ nhà

bà Ưng Lệ đây thôi Tôi giở sổ tay xem lại, để nghiên cứu sâu thêm về những ngôi nhà lân cậnnhà bà Ưng Lệ Những người chủ cũ phần nhiều là quan lại triều Nguyễn Nhà nào cũng ghidấu trong lòng dân chúng những chuyện không thể nào quên Chuyện vui nhất là chuyện củaông Tiền quân Đô thống Phủ Đô thống Lê Bá - nhà ông ở ngay ngã tư Anh Danh, cách nhà bàƯng Lệ chừng 50 mét Ông này dù làm quan võ to nhất nhì trong Triều nhưng ông nổi tiếng làngười sợ vợ Người Huế nghe đến tên ông Lê Bá râu quặp không ai là không bật cười

Nhờ những chuyện vặt vảnh ấy mà tôi bớt nãn chí Đồng thời, nếu sa vào những chuyện vặt

ấy tôi có thể lạc hướng nghiên cứu Chút ánh sáng loé lên từ người chắt nội Tương An bỗng

mờ đi trong tôi

Một buổi sáng Chủ nhật nằm trên căn gác gian nhà 108 đường Mai Thúc Loan nhìn cái lầunhà bà Ưng Lệ - nơi ông Hầu Biều hay ngồi đánh đàn năm xưa, tôi sực nhớ đến một chi tiếttrong bài báo “Một Gia Đình Đẹp” (6) “Cụ Nguyễn Sinh Huy (tức Sắc) đã từng làm Thừabiện bộ Lễ” Tôi nẫy ra ý nghĩ: “Ông Huy làm Thừa biện bộ Lễ dưới triều Thành Thái.Thượng thư bộ Lễ lúc ấy là ông Lê Trinh.Ông Huy là người có tài, có khí tiết, đỗ đại khoa vàkhông thích cuộc đời làm quan nộ lệ, lẽ nào ông Lê Trinh không chú ý đến ông? Mà khi ông

Lê Trinh đã chú ý đến thì chắc chắn ông sẽ kể chuyện cụ Phó bảng với con cháu trong giađình Thế thì nên tìm đến nhà họ Lê

Sáng hôm đó tôi nhờ ông Nguyễn Phú Phu (trên 90 tuổi) - bạn vong niên của ông nội tôi, nhà

ở đường Ngô Sĩ Liên (bên cạnh Hộ Thành cũ) hướng dẫn, tôi tìm được nhà họ Lê núp sau mộtdãy phố hẹp cũ kỹ ở ngay trước đồn Hộ Thành (nay là trường Phổ thông Trung học NguyễnHuệ) Ngôi nhà rường ba gian hai chái lợp ngói âm dương lặng lẽ đứng ngắm cái sân rộng có

bể cá, hòn non bộ và nhiều loại cây ăn trái nổi tiếng Ngôi nhà xây lưng lại với dãy phố nên nócòn giữ được hầu như nguyên vẹn cái dáng dấp cuối thế kỷ trước Trong ngôi nhà bày biệntràng kỹ, liễng, trướng óng ánh xa cừ và vàng thếp Tôi chú ý nhất là chiếc ảnh lớn để trên bànthờ chụp sáu ông đại thần đội mũ cánh chuồng, mặc đại bào (7).Tôi gặp ông Lê Du (trên 90tuổi) - con trai thứ ông Lê Trinh Ông Du lãng tai, tôi lấy giấy bút viết mấy dòng đưa yêu cầucho ông, ông đáp:

Trang 12

- “Ngày xưa ông tôi hay nhắc đến ông Phó bảng luôn Chúng tôi cũng có gặp Bác Hồ lúc nhỏ.Khi cô Thanh bị mật thám Pháp đưa về an trí ở gần Hộ Thành, cô cũng hay vô ra đây chơi.Anh muốn biết cụ thể anh sang gặp Lê Xuyến (đã trên 75 tuổi) cháu đích tôn của ông tôi ở nhàthờ bên cạnh”.

Tôi sang gặp ông Lê Xuyến Ông Xuyến bị huyết áp cao phải ăn nằm một chỗ Ông quen biếttôi trong những năm tranh đấu ở đô thị miền Nam, nên bây giờ gặp lại, ông rất mừng Nằmtrong phòng tối gặp lại người quen, ông thú vị lắm và ông kể chuyện xưa với tôi bằng cáigiọng rất nóng sốt:

- “Tôi thuộc lứa tuổi hậu sinh Sở dĩ tôi biết được chuyện gia đình cụ Phó bảng là nhờ tôi maymắn được gần gũi ông nội tôi là cụ Lê Trinh và gần gũi với bà ngoại tôi là người chị em côcậu với bà cụ Ba - người đã từng mời gia đình cụ Huy lúc cụ còn hàn vi về ở trong nhà mình”.Tôi mừng quá - như vậy là “trúng số độc đắc” rồi! Không giấu được niềm vui tôi hỏi:

- “Thưa bác, vậy nhà bà cụ Ba ở đâu?”

Ông Lê Xuyến muốn nói cho có đầu có đuôi, bị tôi hỏi đâm ngang làm cho ông có vẻ mấthứng, tuy vậy ông vẫn chìu tôi Tay ông chỉ về phía hàng rào chè tàu ở phía Nam ngôi nhà,miệng bảo tôi:

- “Ở ngay ngoài phía hàng rào đó Hồi trước chưa có dãy nhà phố đường Đông Ba, vườn nhàtôi thông với đường Đông Ba bằng một con đường đi ngang qua nhà bà cụ Ba!”

Ông Lê Xuyến trông tôi có vẻ ngơ ngác chưa tưởng tượng được ngôi nhà nào, ông nghiênngười rướn tới kéo cuốn sổ ghi chép trên tay tôi đặt xuống chiếu rồi giành lấy bút tôi vẻ mộtcái sơ đồ đường Đông Ba cũ Ông đánh dấu vào gian sau ngôi nhà 112 Mai Thúc Loan rồi bảotôi:

- “Ngôi nhà này đây Sau khi bà cụ Ba bán lại cho ông Hường Nghĩa (thầy thuốc Tây y củavua Khải Định), ông Hường Nghĩa làm thêm một cái nhà lớn trước sân, nên ngày nay nó trởthành nhà sau Vì thế mà người lạ không ai ngờ phía sau cái nhà tân thời như thế lại có mộtcái nhà cũ kỹ đến như thế! Khoản sau năm 1920, cô Thanh mới mãn hạn tù ghé về, chính tôi

đã đưa cô ra thăm!”

Tôi ngạc nhiên:

- “Cô Thanh không biết ngôi nhà đó sao?”

- “Không biết - Ông Xuyến đáp - Khoản năm 1896 hay 1897 gì đó cụ Bảng còn hàn vi, côThanh chưa được theo cha mẹ vào Huế Bà ngoại tôi kể ở trong gian nhà đó chỉ có ông bà Cử

và hai người con trai thôi!”

Người nghiên cứu Huế có cái thú là con người và sự việc rất gần nhau Muốn “kiểm chứng”trên thực địa có thể thực hiện được ngay Trưa hôm đó tôi đã có mặt trong ngôi nhà ôngXuyến chỉ (nó chỉ cách nhà tôi đang ở trọ chỉ hai gian phố) Chủ nhà là đồng chí lái xe Công

ty chế biến lâm sản Bình Trị Thiên Đúng như lời ông Xuyến kể, phía trước ngôi nhà là một

Trang 13

cái biệt thự nhỏ có giàn hoa giấy màu tím rất thơ mộng (năm 1980 còn thuộc Công ty chế biếnlâm sản BTT) Kiến trúc của ngôi nhà cũ rất đơn sơ Cột, kèo, rui, mèn đều bằng gỗ quí đenbóng, nhưng không thấy một nét chạm trổ nào Ngôi nhà mang tính đơn giản rất khác với cáckiến trúc nhà quan quyền ta thường thấy trong Thành Nội Ngay buổi chiều hôm đó, tôi nhờông Ưng Tuệ (trên 90 tuổi mà còn mạnh) đến xem xét và phát biểu về ngôi nhà trên Ông ƯngTuệ cho biết ngôi nhà trên đã có từ cuối thế kỷ trước Cũng buổi chiều hôm đó tôi trở lại gặpông Xuyến và được biết thêm: Bà Ba làm nhà này từ trước ngày Kinh đô thất thủ (1885) Bà

có họ hàng với Đoàn Trưng - Đoàn Trực (những người cầm đầu cuộc biến động lật đổ vua TựĐức năm 1866) Vì thế bà rất lưu tâm giúp đỡ những người có khí tiết trong buổi cơ hàn.Gian nhà sau 112 Mai Thúc Loan hiện nay (1980) có bốn yếu tố có liên quan trực tiếp và giántiếp đến gia đình Bác Hồ thuở trước như sau:

- Ngôi nhà được người cùng thời - như gia đình ông Lê Du chỉ dẫn;

- Nó nằm đúng vào cái hướng “chênh chênh nhìn hướng cổng thành Đông Ba” như ThanhTịnh đã viết theo lời kể của bà Thanh và ông cả Khiêm;

- Nó lại nằm gần nhà một người bạn buổi thiếu thời của Bác (nhà 106 Mai Thúc Loan);

- Nhà được một người đồng thời am hiểu xác nhận là nhà làm từ cuối thế kỷ trước

Với bốn yếu tố đó cho phép tôi có thể tin gian sau ngôi nhà 112 Mai Thúc Loan là nơi buổithiếu thời Bác đã sống qua một thời gian Nhưng vì đây là lần đầu tiên nói về một di tích cụthể ở Huế có liên quan đến Bác, nó quan trọng quá nên không thể dễ dãi được Ý nghĩ đó làmcho tôi phải dè dặt chờ cơ hội kiểm chứng thêm Tôi đọc lại từng trang ghi chép, đánh dấunhững chỗ thiếu cần bổ sung cũng như khai thác thêm những điều mình chưa khai thác hết.Thời gian trôi qua, sổ tay tôi ghi thêm nhiều thông tin về thời niên thiếu của Bác ở Huế

May mắn một cơ hội nữa đến, ngày 18.5.1979, tôi được nghe ông Vũ Kỳ - người thư ký riêngrất gần gũi với Bác Hồ lúc sinh thời, nói chuyện với cán bộ lãnh đạo tại hội trường UBNDtỉnh Bình Trị Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên Huế) Trong bài nói chuyện tôi lưu ý nhất đoạnvăn ghi lại trong băng ghi âm như sau:

- “Thành phố Huế đối với thời niên thiếu của Bác rất quan trọng Huế còn để lại trong ký ứccủa Bác nhiều kỷ niệm sâu sắc Có lần Bác kể với chúng tôi: Lúc bé Bác ở Thành nội, bêncạnh nhà Bác có ông tướng mặt đỏ râu ba chòm, oai phong lẫm liệt Dân chúng nhìn thấy ông

sợ lắm Lúc ấy các quan văn võ, ai cũng có một cái tráp đen đựng tài liệu Đi đâu các Ngàithường đeo tráp bên hông hoặc giao cho lính hầu mang theo Nhưng ông tướng này không làmthế, đi đâu ông cứ khệ nệ bưng cái tráp trước ngực Không ai biết vì sao! Ít lâu sau, vì ở gầnnhà, Bác biết ông này có hai người vợ, bà vợ thứ trẻ đẹp, hay ghen và rất có uy quyền với ông.Mỗi lần bà phải đi vắng bà hay lấy râu ông tướng quấn vào tráp rồi khóa lại, làm như thế đểcho ông tướng râu ba chòm khỏi đến nhà bà vợ cả Những lúc ấy có việc công cần phải đi nênông phải bưng cái tráp trước ngực đi luôn Bác kể chuyện đó với các bạn cùng lứa tuổi, cácbạn của Bác rất thích thú Từ đó, mỗi lần thấy ông tướng râu ba chòm bưng tráp đi, đám trẻcon không những không sợ mà còn chạy theo gọi “ê ê” rất vui nữa!”

Tôi ghi chép mẩu chuyện trên qua băng từ máy ghi âm và đem mở cho các cụ Phan Văn Dật,

cụ Ưng Tương nghe, các cụ cười bảo tôi:

Trang 14

- “Ông tướng râu ba chòm Bác kể với ông Vũ Kỳ là ông Tiền quân Đô thống Phủ Đô thốngPhủ sự Lê Bá (8) thường gọi là ông Tiền Bá Ông có bà vợ hai người Hà Tĩnh rất đẹp nhưngphải cái tội hay ghen Nhà ông ở Ngã tư Anh Danh (năm 1979 dùng làm cơ quan của Công tychế biến lâm sản BTT) Vì chuyện ông Tiền Bá bị vợ khóa râu nên ở Huế có danh từ râu quặp(sợ vợ) anh biết không?”

Câu chuyện của ông Vũ Kỳ kể lại một cách vô tình lại khớp với việc nghiên cứu của tôi trướcđây Bước đầu tôi có thể tin gian nhà sau 112 Mai Thúc Loan là nơi gia đình của Bác đã ở thờiniên thiếu Tôi vội vàng tóm tắt những công việc tìm tòi của mình viết một bài báo ngắn trêntạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật (9)

(1) Thanh Tịnh, Đi Từ Giữa Một Mùa Sen, Kim Đồng, HN.1973, tr.22.

(5) Con thư 12 của vua Minh Mạng

(6) Tôn Quang Duyệt, Một Gia Đình Đẹp, báo Nhân Dân, số ngày 19.6.1977.

(7) Ảnh này cũng được đăng trong bài Images du Passé do M.Mahé cung cấp cho L Sogny(BAVH số 1 Janvier-Mars 1942) Planche XVIII, gồm các ông Tôn Thất Hân, Nguyễn HữuBài, Huỳnh Côn, An Thành Vương Miên Lịch, Lê Trinh và Cao Xuân Dục

(8) Ông Lê Bá nguyên họ Đoàn Nhưng sau khi có cuộc biến động ở Kinh thành do ĐoànTrưng-Đoàn Trực lãnh đạo họ Đoàn bị tru di tam tộc Ông Bá trốn được ra Hương Cần và từ

đó lấy họ mẹ là họ Lê Ông Lê Bá và bà cụ Ba chủ căn nhà gia đình Bác thuê là chị em chúbác

(9) Đi Tìm Mái Nhà Thời Thơ Ấu Của Bác Hồ Ở Huế, bđd, số 2/1980

Trang 15

Chương 2: Đường vô xứ Huế

Đôi dép cao-su là một đặc sản của Bình Trị Thiên, nó ra đời từ trong kháng chiến chống Pháp,được phát huy tác dụng mãi cho tới thời kỳ chống Mỹ, và nó vẫn tồn tại một cách “hài hoà”giữa cái thời đại dày da và sa-bô bóng láng sau năm 1975 Dép cao-su đi vào đời sống khángchiến quen thuộc quá nên không có ai để ý đến nguồn gốc của nó nữa Người ta nói chính Bác

Hồ là người đã mang dép cao-su đầu tiên Điều đó còn phải kiểm chứng, song có thể nói chắcchắn rằng chính Bác là người đã làm cho thế giới biết đến nó và trân trọng nó Bởi thế đôi dépcao-su của Bác Hồ đã được giữ gìn trong Bảo tàng cách mạng Việt Nam

Hồi theo học Đại học Văn khoa Huế tôi được nghe cụ Tiến sĩ Hán học Nguyễn Huy Nhu (1)(người Nghệ An) - thầy dạy Hán văn, kể chuyện rằng:

- “Ngày xưa các sĩ tử trẩy Kinh thi Hội, thi Đình bằng đường Thiên lý Con đường này vốnnhỏ hẹp, khập khễnh, khi thì trèo dốc qua đèo, khi thì bị ngắt quãng vì sông sâu, và có khi thìnhễ nhại mồ hôi vượt qua những truông cát Đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn cho sửa sang conđường ấy làm đường liên lạc thống nhất giữa ba kỳ Cứ cách 15 cây số thì đặt một nhà Trạm,

và có phu trạm mang công văn đồ đạc và khiêng cáng kiệu cho các quan Núi cao thì trèocũng qua, sông sâu thì có đò ngang Điều mà ai cũng sợ chính là các truông cát Quảng Bình

và Quảng Trị Nhiều truông cát đi hàng mươi cây số, đi tối ngày mới qua khỏi Có lẽ Nguyễn

Du khi đi qua đây, cái kinh khủng của các truông cát đã để lại trong tâm hồn ông một ấntượng sâu sắc, nên khi ngồi trên đất Huế tả nỗi bơ vơ của nàng Kiều ông đã hạ bút viết:

“Bốn bề bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”

Và không riêng gì Nguyễn Du, Cao Bá Quát cũng từng than trong “Bài đi trên cát”:

“Bãi cát dài, bãi cát dài biết tính sao đây?”

Không để cho cát khuất phục, hai đầu truông cát đều có hai cái quán nhỏ bán dép mo neo giúpcho bộ hành vượt qua truông Đôi dép thật giản dị gồm hai miếng mo cau hay da trâu, da bòcắt theo hình bàn chân Mỗi chiếc có một cái quai hậu và hai quai từ lưng mép bàn chân quànglên rồi chụm lại ở kẻ phía trong ngón chân cái Buổi sáng dép còn mới nguyên, buổi chiềuvượt qua đại tràng sa rồi dép tơi tả như nỗi mệt mỏi của lòng người trẩy Kinh, bị vứt thànhđống bên vệ đường.”

đó Bác đã sáng tạo ra đôi dep cao-su giúp cho người chiến sĩ vượt qua các cuộc trường kỳkháng chiến!

Trang 16

* *Hồi ấy trẩy Kinh khó khăn như một cuộc trường chinh Thảo nào mà người xưa đã đặt tên chocon đường nối liền ba kỳ là con đường vạn dặm (thiên lý) Lòng người dám vượt qua conđường vạn dặm ấy là vì sự hấp dẫn của đất “Nhất Kinh kỳ, nhì phố Hiến”

Kinh thành Huế là một tiêu bản của những thành thị ngày xưa, nó được thiết lập vì mục đíchchính trị chứ không phải yêu cầu Kinh tế Tuy vậy, vì nhu cầu tiêu dùng của giai cấp thống trị

ở Kinh đô, một thành phố đã mọc lên bên ngoài Hoàng thành Huế

Theo Đào Duy Anh (3) và những người đã sống ở Huế từ cuối thế kỷ trước cho biết:

“Lúc chưa bắc cầu Trường Tiền, phố xá buôn bán chỉ có hai khu Đông Ba và Gia Hội, gồmnhững dãy nhà tranh lụp xụp, rải rác chen vào đôi mái ngói cao ráo của Hoa kiều Ngoài cửaChính Đông là chợ Đông Ba Dọc sông Hương, từ cầu Gia Hội lên đến Phu Văn Lâu là nhàvườn của các Hoàng gia và các quan Trên bờ sông-ngay truớc cửa Thượng tứ là bến ThươngBạc - bến thuyền dành cho các quan Tây ở bờ nam sông Hương qua nhà Thương Bạc bàn việc

“bảo hộ” với triều đình Huế Đối diện qua bên kia sông Hương - về phía hạ lưu là Toà Khâm

và doanh trại lợp ngói của 15 đội thủy binh Cuối thế kỷ trước khu vực hữu ngạn thuộc Phápvới nhà cửa, dinh thự, đường sá đều làm theo kiểu Tây Từ ngày bắc cầu Trường Tiền (1897)(4) và “chợ Đông Ba đem ra ngoài Giại” (1899) (5) sự buôn bán phồn thịnh của hai khu Đông

Ba - Gia Hội chuyển lên đường Paul Bert (Trần Hưng Đạo ngày nay), các nhà vườn của họhàng nhà vua, của các quan theo lệnh vua Thành Thái phải di chuyển hết ra vùng ngoại ô”

Sự thay đổi của Huế trước mắt cậu bé Nguyễn Sinh Cung trong những năm cuối cùng của thế

kỷ XIX như thế!

So với quê hương Nghệ An, Huế thật là một nơi hoa lệ chói ngời Cung điện, thành quách,phố xá rất hấp dẫn đối với tâm hồn một cậu bé rất ham hiểu biết Nhưng chắc chắn nó khônglàm cho cậu sớm bắt cái đầu óc non nớt của mình phải nghĩ ngợi về những sự kiện có thậttrong chiều sâu của xứ Huế lúc ấy Việc thất thủ Kinh đô (1885) đã lùi vào dĩ vãng mười năm,

để trấn an dân, giặc Pháp đã đưa vào Đại Nội hai ông vua Một ông cúc cung tận tụy làm taysai cho Pháp (Đồng Khánh, 1885-1888), một ông “cứng đầu” với Pháp liền bị dán cho cái

“nhãn” điên (Thành Thái, 1888-1907) Vì thế lòng người trên mảnh đất đã nhóm lên ngọn lửaCần Vương vẫn hướng về Hàm Nghi - vị vua trẻ đã sớm có tinh thần chống giặc Pháp Tụcngữ có câu “Đá thử vàng, gian nan thử sức”, sau khi giặc Pháp chiếm Kinh thành Huế, bọnvua quan khiếp nhược, bọn quan lại cơ hội xu thời theo Pháp bị lộ mặt, đồng thời nhữngngười yêu nước thương nòi cũng ngời tỏ tấm lòng trung của mình Đến Huế vào những năm

ấy, làm sao bên tai cậu bé Nguyễn Sinh Cung không từng nghe những lời than:

“Từ ngày Tây lại, sứ sang

Vì đồng xu giác bạc thiếp với chàng xa nhau”

Hoặc lời phê phán sự bất lực của triều đình:

“Lập trường ra văn võ thi tài

Trang 17

Cớ làm răng cửa Thuận An Tây lấy, Trấn Bình đài cờ Tây treo?”

*

* *

Gần đây ở quê Bác các nhà nghiên cứu đã viết nhiều về sự kiện gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc

“trẩy Kinh” (6) Nhờ sự giúp đỡ của gia đình bên vợ và bàn tay làm ruộng, dệt lụa của bàHoàng Thị Loan mà ông Nguyễn Sinh Sắc đã có dịp ăn học để năm Giáp Ngọ (1894) ông thi

đỗ Cử nhân tại trường Vinh

Theo lệ xưa, cứ năm trước (7) các tỉnh (8) tổ chức thi Hương (9) thì năm sau tại Kinh đô,Triều đình tổ chức thi Hội, thi Đình (10) Cũng như sĩ tử trong khắp cả nước, mùa xuân năm

Ất mùi (1895) ông Sắc mang yên trại vào đến trường thi phường Tây nghị trong Kinh thànhHuế (11) Nhưng khoa ấy, bảng vàng treo ở lầu Phu Văn Lâu chưa đề tên ông Ông Cao XuânTiếu - người bạn đồng hương đã từng giúp ông chút ít chi phí trên đường trẩy Kinh (12), đỗPhó bảng (13) Ông Tiếu cảm thông sự khó khăn của bạn đã nhờ thân sinh là ông Cao XuânDục - Toản tu Quốc sử quán, can thiệp với ông Tề tửu Quốc tử giám Khiếu Năng Tĩnh thâunhận Nguyễn Sinh Sắc vào học Quốc Tử Giám - trường Đại học độc nhất ở Việt Nam Nhiềutài liệu cho biết thêm rằng ông Cao Xuân Dục là bạn thân với ông Hoàng Đường - người thầy

- người cha vợ của Nguyễn Sinh Sắc Cụ Cao biết Sắc từ buổi thiếu thời, rất mến tài năng và ýchí của Sắc Khi hay tin Sắc thi hỏng khoa Ất mùi (1895) cụ Cao rất tiếc

Quốc tử giám xây dựng từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) cho mãi đến năm 1895 trường vẫnđặt tại làng An-Ninh-phía Tây Kinh thành Huế Trường gồm có một Di luân đường đứng giữa,phía sau là giảng đường Hai bên trái phải có hai dãy nhà ngang chia làm nhiều phòng, ốcdành cho giám sinh ăn, ở, học hành (14) Số phòng ốc ít ỏi chỉ đủ sức thu nhận những tônsinh, ấm sinh con cái các hoàng thân, các quan trong Triều Số giám sinh con bình dân báchtính từ các nơi về dù học giỏi đến mấy cũng phải ở nhà trọ bên ngoài Hằng tháng các giámsinh được nhà trường phụ cấp cho một ít gạo, tiền (ligature) và dầu (để thắp đèn học ban đêm)(15) Với số học bổng ít ỏi đó, Nguyễn Sinh Sắc không thể sống ở Huế được Muốn vượt quakhó khăn này không còn cách nào tốt hơn là việc ông trở lại quê nhà Nghệ An đưa vợ và cáccon vào Huế kiếm sống và giúp đỡ cho cụ ăn học

Vào một ngày cuối năm 1895, ông Sắc đưa gia đình vợ con vào Huế, trong đó có cậu béNguyễn Sinh Cung Nhờ Huế là trung tâm chính trị, trung tâm văn hóa và nhờ hoàn cảnh khókhăn của ông Sắc lúc ấy mà thành phố sông Hương mãi mãi lấp lánh niềm tự hào-thành phốthời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này

Đến Kinh đô gia đình ông Sắc trú chân trong một ngôi nhà trước Viện Đô sát (16) Sau lưngViện là Quốc Sử Quán - nơi làm việc của ông Cao Xuân Dục (người đã xin cho cụ Sắc vàohọc Giám) Các quan Ngự sử Viện Đô Sát, các quan Toản tu Quốc sử quán phần lớn là ngườiNghệ Tĩnh Có lẽ gia đình ông Sắc đã trú chân trong nhà của một người cùng quê làm việc ởhai cơ quan này Nhưng lớp bụi thời gian gần một thế kỷ nay khá dày, đến nay chưa ai biếtđích xác ngôi nhà ấy là ngôi nhà nào và chủ nhà có mối liên hệ với ông Sắc ra sao? Gia đìnhông Sắc ở lại đó trong bao nhiêu ngày(?) Điều chúng ta có thể nghĩ đến: một gia đình bốnngười ở trọ trong nhà một người quen chắc chắn không thể ở lâu được Nhà cửa lúc ấy chậthẹp, cho dù tấm lòng của người chủ có rộng đến mấy cũng không dung nỗi một đám khách

Trang 18

đông đến thế! Hơn nữa, theo lời người xưa kể lại, lúc ông Sắc đến thuê gian nhà ở đườngĐông Ba (đã trình bày ở chương trước) hai anh em Khiêm, Cung còn rất bỡ ngỡ với cảnhquan trong Thành Nội Điều đó chứng tỏ thời gian ông Sắc ở trọ trong nhà người bạn đồnghương không lâu Những kỷ niệm sâu sắc của Huế còn lưu lại trong tâm hồn cậu bé NguyễnSinh Cung có lẽ đã gắn liền với đường Đông Ba.

Ổn định nơi ăn chốn ở xong, hằng tháng vào những ngày quy định ông Sắc lên làng An Ninh

dự các buổi bình văn hay nghe các ông đại thần giảng sách Thượng thơ hay Trung dung tạitrường Giám

Phần lớn các sĩ tử Nghệ An vào Kinh học Giám ai cũng có làm thêm nghề phụ như nghề Y(thầy thuốc), Nho (dạy học), Lý (thầy địa), Bốc (thầy bói) Ông Sắc cũng thế Ngoài thời gian

ôn tập, ông cũng nhận dạy dăm cậu học trò Những người có tiền thuê ông Sắc dạy xuất thântrong các nhà quan hoặc Hoàng phái Bà Mai thị Vàng - Đức phi của vua Duy Tân (dâu vuaThành Thái) (17) nhiều lần cho tôi biết:

- “Mẹ chồng tôi là bà Nguyễn Thị Định thường kể rằng: Thuở hàn vi vào Huế học để thi Hội,ông Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của ông Nguyễn Ái Quốc hay đến nhà ông Kiêm (18) để dạyhọc Ông Sắc là người tốt bụng, rất cương nghị Thấy ông Sắc sống quá đạm bạc, nhiều lần côtôi muốn giúp đỡ, nhưng đều bị ông từ chối Gia đình tôi rất mến đức độ của ông nên xem ôngnhư một người thân Khi ông đã vào Nam kỳ, con trai của ông sang Pháp, người con gái là bàNguyễn Thị Thanh nhớ mối tình cảm của cha xưa nên bà hay ghé lại thăm ngôi nhà cũ củacô!”

Qua lời thuật của bà vợ vua Duy Tân khiến tôi nhớ đến một đoạn hồi ký của Đại tướng VõNguyên Giáp:

“Huế là nơi Bác đã ở trong những ngày thơ ấu và buổi thiếu thời.

Vào những năm thế kỷ trước, khi còn là một cậu bé đầu để trái đào, Bác đã tới Huế với gia đình Cụ Phó bảng ngày đó mới thi đỗ Cũng tại đây, năm 1900 cậu Cung đã chứng kiến những phút cuối cùng của bà mẹ Sau khi mẹ mất, cậu Cung trở về Nam Liên.

Năm năm sau, trở lại Huế, cậu Cung đã trở nên anh thanh niên Nguyễn Tất Thành.

( )

Ở đây, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành bắt đầu ra đi chặng “đường muôn dặm”.

Trước ngày tôi tới Huế một tháng, anh Lê Văn Hiến cũng được Chính phủ phái vào Nam công tác, đã qua Huế Theo lời căn dặn của Bác, anh Hiến đã tới thăm bà Thành Thái và bà Duy Tân.

Hai bà vợ của những ông vua nhà Nguyễn bị thực dân Pháp truất phế, rất bất ngờ và cảm kích trước sự quan tâm của Hồ Chủ tịch Bà Thành Thái nói từ khi Chính phủ ta lên, hằng ngày tụng kinh, bà đã thay những lời cầu chúc cho Hoàng tộc bằng lời cầu chúc cho Chính phủ cụ Hồ Người con dâu của bà, vợ vua Duy Tân, nói là từ ngày chồng bị Pháp đưa đi đày đến giờ, bà không được Hoàng tộc nhòm ngó tới” (19).

Trang 19

Phải chăng trong những ngày đến nhà ông Kiêm dạy học, tiếp xúc với người cô ruột vuaThành Thái, ông Sắc đã bắt được những tín hiệu chống Pháp của vua Thành Thái? Và phảichăng, từ buổi thiếu thời cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã được cha kể cho nghe một hành vi, một

cử chỉ chống Pháp nào đó của vua Thành Thái? Và chính hành vi ấy đã lưu lại trong tâmkhảm cậu bé xuất chúng mang tên Cung một chút cảm tình dành cho vua Thành Thái chăng!

*

* *Ông Sắc có hoa tay, viết nhanh và viết đẹp Cho nên ngoài việc dạy học, ông Sắc còn nhậnchép bài thuê Lúc ấy việc in ấn còn khó khăn, phần lớn bài học, học sinh phải chép tay.Nhiều cậu tôn, cậu ấm vì bị cha mẹ ép, phải học, nhưng lại nhác chép bài Các cậu thườngthuê các ông đồ Nghệ chép bài vừa rẻ lại vừa đẹp Tài viết chữ đẹp của ông Sắc có một lai lịchrất cảm động

Nguyễn Sinh Sắc là con ông Nguyễn Sinh Nhậm và bà Hà Thị Hy (vợ thứ) Năm lên bốn tuổiSắc mồ côi cả cha lẫn mẹ, cậu phải sống nhờ gia đình ông Nguyễn Sinh Thuyết - người anhcùng cha khác mẹ với Sắc Vì gia đình anh nghèo, Sắc phải lao động rất sớm để kiếm miếng

ăn Hết việc cấy hái thì chăn trâu chăn bò, hết việc đồng án đến việc vườn tược, việc nhà Bốnmùa tám tiết ít khi đôi tay Sắc được nghỉ ngơi Một chữ nhất không biết thật khổ thân Lúcnhỏ ở làng Hoàng Trù bên cạnh có ông Tú Hoàng Đường không những nổi tiếng là một thầy

đồ dạy học giỏi mà ai cũng biết tiếng ông là một người có đức độ cao Những khi thả trâu qua

ăn cỏ làng Hoàng Trù, Sắc thường ngấp nghé ngoài cửa nhà học lắng tai nghe cụ Tú giảng bàibên trong “Thông minh vốn sẵn tính trời”, những gì ông Tú dạy Sắc nghe lóm được và thuộc

cả Học trò biết được đều lấy làm lạ bèn đem kể với thầy Ông Tú cũng ngạc nhiên Một hômông Tú thấy Sắc ngấp nghé ngoài cửa, ông gọi vào hỏi chuyện Ông hỏi gì Sắc cũng đáp lạimột cách lễ độ, rành rẽ Điều đó làm cho ông đồ không có con trai này xúc động Sau đó ôngsang làng Sen-gặp ông Nguyễn Sinh Thuyết, nói:

- “Sắc là người thông minh rất ham học Nếu được dạy dỗ cậu ấy cũng Hương, Hội với người

ta chứ không phải thua ai đâu! Sắc không được đi học tiếc quá! Vậy chú có muốn tôi nuôi dạycho Sắc học không?”

Ông Thuyết vốn rất thương em, muốn em biết được năm ba chữ Thánh hiền để biện bát vớingười ta, nhưng khổ một nỗi là nhà nghèo, chị dâu không muốn cho em chồng đi học Nayđược nghe ông Tú nói thiệt hơn như thế, ông Thuyết rất mừng

- “Nhưng ông cũng nghèo quá lấy gì nuôi cháu được?”

- “Không sao - ông Tú giải thích - Sắc ở nhà giữ trâu bò, cày bừa vườn tược cho anh, về nhàtôi cậu ấy cũng phải làm việc để kiếm ăn Chỉ khác một điều là khuya sớm nghỉ việc tôi dạycho Sắc học Với trí thông minh sẵn có, cậu ấy chỉ học như thế cũng hơn người ta rồi!”

Ông Thuyết đồng ý Thế là Sắc rời làng Sen ôm áo quần sang làng Hoàng Trù Cuộc đời Sắccũng thay đổi từ ấy

Ở Hoàng Trù, trước khi Sắc đi lao động, anh thường được ông Tú gọi lại bảo xăng tay áo bênphải lên ông viết cho một đoạn Tam Tự Kinh chừng bốn năm hàng dọc cánh tay Cánh tayphải trở thành trang giấy học trò, mọi việc Sắc phải làm bằng tay trái Cậu tập viết trên mặt

Trang 20

đất phẳng cũng bằng tay trâi Lúc cậu bắt đầu học sang sâch Tứ Thư, cậu được học băi trongsâch, cânh tay phải được “giải phóng’ khỏi chức năng trang giấy học trò Lúc ấy Sắc bắt đầutập viết bằng tay phải thì tay trâi của cậu đê viết được khâ đẹp rồi Lúc trưởng thănh Sắc cóthể viết được cả hai tay (20).

Cô châu dđu của ông Cao Xuđn Dục - bă Hồ Thị Hạnh (tức Sư bă Diệu Không sau năy) đêtừng thấy vết tích chữ viết “rồng bay phượng múa” của Nguyễn Sinh Sắc còn để lại trín vâchtường bộ Học trong những năm 20 của thế kỷ năy

Khổ công luyện tập, khi viết được giỏi thì mừng chứ có lẽ ông Sắc không bao giờ nghĩ rằng

có một ngăy năo đó ông lại dùng câi “tăi hoa” ấy để đi viết thuí kiếm ăn! Ông Sắc đem giađình văo Kinh được hơn một năm, đầu năm 1897, người bạn đồng song, đồng học của ông lăPhan Văn San bị can ân “hoăi điệp văn tự nhập trường” (21) cũng văo Huế dạy học trong nhẵng Võ tại lăng An Hòa Phan Văn San được trí thức Huế rất kính nể, nhất lă khi họ hay tin

ông lă tâc giả băi phú nổi tiếng Bâi thạch vi huynh (22)

Gặp được bạn thđn như thế giữa chốn Kinh thănh xa lạ cảm động biết chừng năo! Mai Sơn

Nguyễn Thượng Hiền rất tân thưởng cđu văn của ông Phan Văn San: “Bất như ý thường bất cửu sự, sầu sinh liím ngoại Tđy phong; Hỗn thiết xuy ư tam bâch nhđn, quý tử môn tiền Nam Quâch” (23) Lă bạn thđn của Phan lăm sao Nguyễn Sinh Sắc không thổ lộ lòng ngưỡng mộ

của mình với ông Phan mỗi khi ông Phan đến thăm tại ngôi nhă thuí ở đường Đông Ba? Vă

có lẽ không ai hiểu một câch sđu sắc tđm trạng của ông Phan qua băi thơ năy bằng ôngNguyễn Sinh Sắc:

“Văo Thănh ra cửa Đông:

Xe ngựa chạy tứ tung Văo Thănh ra cửa Tđy:

Hỏi ai? Ai biết ai?” (24)

Đối với ông Sắc, ông Phan lă bạn đồng hương, đồng học vă đồng song; đối với bă Loan thìông Phan lă một tăi tử đê quen nhau trong bao lần đi Hât Dặm ở quí nhă Nếu bạn đọc đê có

Trang 21

một lần đọc tài liệu hoặc về thăm làng Sen, chắc các bạn đã từng nghe nói tới hai cô gái cụHoàng Đường là bà Loan và bà An Hai cô đếu hát hay, có tài “bẻ chữ” làm cho nhiều bậcmày râu phải sững sờ Đến nay người ta vẫn còn truyền miệng câu chuyện này:

Hôm ấy hai ông Tú San (tức Phan Bội Châu) và ông Hoe Ba làng Bố An vế tham dự Hát Dặm

ở làng Hoàng Trù, nhưng hai ông cố giấu tên để cho buổi hát được tự nhiên Nhưng khôngngờ đến lúc hát người ta nghe bà An cất giọng:

“Đàng xa em đã ngóng chừng Nhìn trăng nhớ tán, trông rừng nhớ hoa”

Hai ông hiểu ngay “Tán là tán su nói lái lại là Tú San Hoa là hoa be nói lái lại là Hoe Ba”, haiông giật mình:

- “Ấy chết, cô ấy đã xướng danh mình rồi.”

Câu hát ý nhị mà bà An vừa sáng tác có sự đóng góp của bà Loan Hai ông không giấu nổi sự

ý nhị của hai người con gái ông Hoàng Đường

Câu chuyện ấy nếu không được nhắc lại thì nó cũng trổi dậy trong lòng ông Phan khi cụ gặplại bà Loan giữa chốn Kinh kỳ này Đối với bà Loan chắc cũng thế Giữa lúc bà Loan đangnhớ mẹ, nhớ con gái còn ở quê nhà, gặp được người cùng quê thân thương, khả kính bà mừng

rỡ vô cùng Tuy vậy bà cũng không vồ vập một cách nồng nhiệt Xưa nay bà nổi tiếng là mộtngười đàn bà điềm đạm hay làm chứ không hay nói Ông Phan đến nhà chơi, bà bảo con đimua một cốc rượu để chồng mời bạn, còn bà sau mấy câu chào hỏi khách lại lui về với khungcửi dệt vải Tiếng thì thầm nóng bỏng của hai ông Phan Nguyễn nói về quê hương đất nướcvẳng đến tai bà, bà đều hiểu hết Nhưng đó là việc của đàn ông Có lẽ lúc ấy bà chưa thoátđược quan niệm thường tình của đa số phụ nữ Việt Nam - việc nước là việc của đàn ông, đàn

bà chỉ có canh cửi, làm sao cho chồng con có đủ điều kiện ăn học là bà đã mãn nguyện rồi.Cái hơi ấm thân mật của tình bạn, tình đồng hương, đồng song giữa gia đình ông Sắc và ôngPhan đã lan tỏa đến hai người con trai ông Sắc Phải chăng sự mến phục lòng yêu nước củaông Phan trong lòng Nguyễn Ái Quốc sau này đã bắt nguồn từ đó?

(1) Thân sinh của nhà văn Huy Phương ngày nay

(2) Hồ Chí Minh Toàn Tập, Tập I, Sự Thật Hà Nội, 1980, tr.543.

(3) Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hoá Sử cương, Bốn Phương tái bản, Sài Gòn, 1951, tr.76 (4) Quốc Sử Quán, Đại Nam nhất Thống chí tập Thừa Thiên (thượng) Nha văn hóa Bộ QGGD

Sài Gòn 1961, tr.107

(5) Quốc Sử Quán, Sđd, tr.135-136

(6) Những mẫu chuyện về Thời niên thiếu của Bác Hồ, Ban NCLS Đảng tỉnh ủy Nghệ An, Sự Thật Hà Nội, 1980, tr.16 trở đi

Trang 22

(7) Các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu.

(8) Các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu

(9) Ai đỗ cao là Cử nhân, ai đỗ thấp làTú tài

(10) Ai đỗ cao là Tiến sĩ (người đỗ đầu là Hoàng giáp), ai đỗ thấp ghi tên vào bảng phụ bêncạnh gọi là Phó bảng

(11) Theo Đại Nam Nhất Thống chí; Thừa Thiên phủ, tập thượng, tr.37.

(12) Võ Quang Sự, Tuổi thơ của Bác Hồ ở làng Dương Nổ, tập san Văn Hóa BTT, số Xuân

năm 1979, tr.16

(13) Xem Quốc Triều Đăng Khoa Lục.

(14) Đại Nam Nhất Thống Chí, tập Kinh sư, tr.80.

(15) Vĩnh Nhân, Trường Quốc tử giám Kinh đô Huế, Văn Hóa Nguyệt san, Sg, số Xuân Nhâm

dần.1967, tr.1650/14

(16) Hiện nay là khuôn viên trường PTCS Thuận Thành

(17) Bà được vua Duy Tân cho về sống với cha mẹ tại Hậu thôn làng Kim Longû và bà quađời vào năm 1979

(18) Tức ông Diệp Văn Cương chồng bà Thiện Niệm - cô của vua Thành Thái Ông Cươnglàm việc cho Nam triều, kiêm luôn việc Bảo hộ nên thường gọi là ông Kiêm

(19) Võ Nguyên Giáp, Những Chặng Đường Lịch Sử, Văn Học, Hà Nội, 1977, tr.325-326.

(20) Thuật theo Thanh Tịnh

(*) Trong việc kiếm sống, ông Nguyễn Sinh Sắc đã đi làm thục sư cho nhiều gia đình quí tộc

ở Huế Bà Lương Linh - Công chúa con vua Thành Thái (thường gọi Mệ Sen) nhiều lần kể vớitôi “ Ông Nguyễn Sinh Sắc từng làm thục sư trong các gia đình bà con của vua Thành Thái.Nhưng rất tiếc những người đã học với ông Nguyễn Sinh Sắc nay (1980) không còn ai Năm

1920, khi lập bộ Hồ sơ chính trị của Nguyễn Ái Quốc, một mật văn của Thanh tra Mật thámTrung Kỳ, đề ngày 23-1-1920 (Tài liệu số 11) gởi cho Ngài Công sứ ở Vinh, thanh tra S.C.R

và S.G Hà Nội, thanh tra S.C.R và S.G Nam Kỳ Sài Gòn và Công Sứ Quảng Ngãi cho biết:

“Nguyễn Sanh Huy đã từng là thầy dạy Hán tự ở nhà Bà Kí (chị cả của Dục Đức, cô ruột của

vua Thành Thái NĐX), phụ nữ ly hôn của Diệp Văn Cương ở Sài Gòn Nguyễn Sanh Huy đã dạy học cho con trai ông này tên là Diệp Văn Kỳ, hiện (1920) là nhà báo ở Sài Gòn Nguyễn Sanh Huy chỉ được nuôi ăn ở nhà bà Kiêm nhưng không lãnh 1 đồng lương nào”

Vậy ông Diệp Văn Cương là ai? Nơi ông Sắc (tức Huy) đến ngồi dạy con ông Diệp Văn Kỳ ởđâu? Năm 1965, tôi được theo thầy Vương Hồng Sển đi thăm các nơi lưu niệm ở Huế và đượcthầy cho biết: Sau ngày Thất thủ Kinh đô, vua Hàm Nghi xuất bôn, vua Đồng Khánh đượcngười Pháp đưa lên ngôi và đưa một tri thức Công giáo là Trương Vĩnh Ký từ Nam Bộ ra Huếlàm tham biện và làm thầy dạy vua Sau mấy năm, Trương Vĩnh Ký đã giúp cho vua Đồng

Trang 23

Khánh làm được nhiều việc tiếp tay cho Pháp bình định nước Nam nhưng không may sau đó

“người tri ngộ của Trương Vĩnh Ký là Toàn quyền Paul Bert từ trần“, họ Trương biết mìnhkhông làm được gì nữa đành xin rút lui, nhường vai tuồng sư phó cho một người cũng gốctrong Nam, là ông Yên Sa Diệp Văn Cương Ông này sanh hạ tại An Nhơn (Gia Định) nên lấybiệt hiệu là Yên Sa Ông vốn hàn vi xuất thân, nhờ học giỏi xuất chúng nên Tây gởi qua họcbên Alger, vì cho rằng người Nam, sanh nơi xứ nóng, học bên Pháp sẽ bất phục thuỷ thổ Họcthành tài, ông đỗ bằng Tu tài đôi, gọi theo Pháp thời đó là double bachelier Ông đã có sẵnmột học lực vữîng chắc về Hán học, nên được bổ nhiệm thay ông Trương Vĩnh Ký làm thầydạy vua Đồng Khánh và làm rể Thoại Thái Vương Nhà ông Diệp hồi ấy, nay còn lại bức bìnhphong trước Phủ Nghi quốc công - nhạc trượng của vua Khải Định, nơi góc đường Nguyễn

Du và đường Võ Tánh Huế (nay là đường Nguyễn Chí Thanh nối đầu phía bắc của cầu Đông

Ba NĐX) Nhắc lại sự kiện này để thêm một dữ kiện về mối quan hệ giữa gia đình Chủ tịch

Hồ Chí Minh và gia đình vua Thành Thái, gia đình họ Diệp hồi đầu thế kỷ XX

(21) Mang tài liệu vào trường thi

(22) Lạy đá làm anh Bài phú đưa đến mối tình đồng chí giữa ông Hoàng giáp Nguyễn

Thượng Hiền và nhà yêu nước Phan Bội Châu

(23) Dịch nghĩa: Bất như ý việc đời mười đến chín, buồn đưa bởi gió phương Tây Chen tiếng

địch với ba trăm người hổ thẹn, kém gì Nam Quách Tự Phán, tr.24.

(24) Trích lại của Thái Văn Kiểm, Cố Đô Huế, Nha VH, Bộ QGGD xb, Sài Gòn 1960, tr.223

Trang 24

Chương 3: Sống trong Kinh Thành

Anh em Nguyễn Sinh Khiêm-Nguyễn Sinh Cung sống với gia đình trong ngôi nhà nhỏ trênđường Đông Ba Ngôi nhà giản dị khiêm tốn nằm lui sau cái ngỏ thông với vườn nhà Thượngthư bộ Lễ Lê Trinh Nhưng chỉ cần đi một đoạn ngang qua nhà ông Tiền Bá là đến ngã tư AnhDanh, người ta có thể gặp được các vị quan to của Triều đình Đứng tại ngã tư Anh Danh gọi

to tiếng một chút, lính Hộ Thành phía sau có thể nghe và chạy đến bắt ngay Và cũng đứngtrên cái ngã tư ấy, hằng ngày người ta gặp biết bao người khăn áo chĩnh tề đi “hầu” các cơquan Lục bộ nằm kề nhau thành một dãy Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công Có lẽ hai anh Khiêm,Cung đã loạn tai vì những chức tước lúc ấy: Tham tri Thị lang, Lang trung, Viên ngoại Vàchắc chắn phải mất nhiều ngày thắc mắc hỏi han nữa hai anh em mới hiểu được vì sao concháu nhà vua dù trai, dù gái, người mới hú răng sữa cho đến người tóc bạc răng long, ai cũngđược gọi bằng “mệ”!

Bạn bè của các cậu Khiêm, Cung có nhiều Song đến nay chưa ai biết hết được Tôi biết đượcmột người tên là Ưng Lệ nhưng không rõ được “tình bạn của cô với hai cậu Khiêm, Cung” rasao? Cụ Tôn Quang Duyệt, một người có nhiều liên hệ với gia đình với Bác, đã nhiều nămnghiên cứu về Thời niên thiếu của Bác, cho biết lúc ấy Nguyễn Sinh Cung có một người bạncùng quê là Chu Văn Phí - thường gọi là cậu Cu Nậy (1)

Anh em Khiêm, Cung và các bạn hay bắt dế, đuổi bướm, hái hoa cỏ dại chung quanh HoàngThành Việc gì cậu Cung cũng muốn biết, nơi nào cậu cũng muốn đến xem tận chỗ Chuyện

đó đã làm cho bà Loan lo ngại Sống trong Kinh thành nhưng đâu phải nơi nào người dânbách tính cũng có thể đến được!

Nhớ chuyện cũ, ông Chu Văn Phí đã kể với Tôn Quang Duyệt:

- “Anh Côông nhỏ hơn tôi mấy tuổi, nhưng anh khôn ngoan hơn tôi Anh sớm phân biệt đượcphải trái, thiện ác Một hôm anh thấy tôi chơi với một tốp bướm đủ màu sắc, anh bảo tôi:

“Này, anh không thả cho chúng bay đi mà lại chơi với chúng?” Vừa lúc đó tôi nổi cơn ho vìphấn của bướm Tôi nghiệm thấy lời anh Côông nói đúng, tôi ném hộp bướm đi ngay”

Cậu Cung có óc quan sát rất sớm Cậu không nhìn lẻ loi một việc gì mà thường đặt sự việc ấytrong hoàn cảnh của nó Sống trên “đất dưới xe vua”, nhiều lần cậu Cung cũng được cha kểchuyện vua tôi, quân thần Trên đường Đông Ba hằng ngày nhan nhãn các loại xe thùng củacác quan đi qua Xe đen thùng vuông quan nhỏ, xe đen thùng tròn quan to, xe cọng đồngthùng vàng quan đại thần Xe bánh gỗ niềng sắt người hèn, xe bánh cao-su người sang Chỉsống trong Kinh thành mấy năm anh em Khiêm, Cung đã có thể hiểu được các bậc quan, duychỉ có vua hai cậu náo nức muốn nhìn mà chưa gặp Thỉnh thoảng Cung theo mẹ ra bếnTượng dưới cầu Đông Ba giặt giũ, thấy ai cũng cúi đấu trước cái tượng đất đặt trên bến, Cungtưởng tượng đến vua, Cung hỏi bạn:

- “Vua có giống như tượng Phật đó không?”

Thời quân chủ còn thịnh, khi vua đi ra ngoài, nhân dân đều phải trốn, nhà ở dọc hai bên đườngphải đóng cửa, ai nhỡ gặp vua giữa đường thì phải lập tức phủ phục xuống hai bên đường.Dân không được nhìn “long nhan”của vua Ai phạm thượng đều phải tội Sau năm người Phápchiếm Kinh đô (1885) các ông vua bù nhìn do Pháp đặt lên không đủ quyền hành thực hiệnđiều cấm đó Tuy vậy dân bách tính vẫn kiêng Câu hỏi của cậu Cung vẫn làm cho bạn bè sợhãi

Trang 25

Mãi đến một hôm, mặt trời vừa chiếu xuyên qua cửa thành Đông Ba, trống trên Ngọ Mônđánh liên hồi, súng trên cột cờ ùng oàng nổ, đầu đường cuối xóm vang vọng lời rao:

- “Ngài ngự du xuân, Ngài ngự du xuân.”

Anh em Khiêm, Cung không kịp gài cúc áo tất tả chạy ra phía cửa Thể Nhân (cửa Ngăn) xem

Đám rước “Ngài ngự du xuân” là một đoàn voi thắng bành gấm nhúc nhắc đi giữa hai hànglính đội nón dấu, chân quấn xà-cạp vàng Nổi bật trên đám rước là một cái kiệu khảm ngà bêntrên có lọng ngũ sắc che Chiếc kiệu di chuyển trên mấy chục đôi vai lực lưỡng Hai anh emKhiêm, Cung núp dưới một gốc nhãn liếc mắt nhìn Vua Thành Thái đầu chít khăn vàng ngồichễm chệ trong kiệu, nghiêm trang như một pho tượng Dân chúng đi qua đường, người giàthì phải phủ phục lạy, người trẻ quay mặt đi hoặc lấm lét nhìn trộm vua

Tối hôm đó, đứng bên khung cửi, Cung thỏ thẻ hỏi mẹ:

- “Vua đau chân sao phải khiêng, mẹ?”

Sống trong vòng cương tỏa của giáo lý đạo Khổng, phàm cái gì động đến vua là “phạmthượng”, nghe con hỏi vậy bà Loan rất ngại:

- “Chớ, chớ! Làm vua thì được ngồi kiệu, đừng hỏi rứa con!”

Cung gật đầu cám ơn mẹ Cậu chau mày một chút rồi lại hỏi:

- “Sao thầy không chít khăn vàng như vua cho đẹp, mẹ?”

- “Chỉ có Hoàng thượng mới được chít khăn vàng, con nhớ nghe!”

Cung có vẻ chưa tin, hỏi tiếp:

- “Rứa tại sao con thấy lính chít khăn vàng dưới chân không sợ vua sao, mẹ?”

Bà Loan sửng sốt, định bỏ khung cửi chạy ra bịt miệng con Bà nói như trách móc con dại:

- “Sao con lại ví như thế? Mẹ van con đừng hỏi như thế nữa!”

Bà Loan cho rằng, sở dĩ các con trai bà ăn nói, hỏi han có thể phạm vào điều cấm, vì các cậuchưa được học hành, suốt ngày chỉ chơi long nhong trong Kinh thành Ông Sắc bận dạy học,bận ôn tập để dự thi khoa tới, bà thay chồng dạy các con, tập cho các con rửa chén, quét nhà

đi chợ mua các thứ lặt vặt Bà dạy cho hai cậu lễ nghĩa, dạy ca dao tục ngữ, dạy các câu hát,câu ví

Trước khi học chữ với cha, hai cậu Khiêm, Cung đã được học văn học dân gian với mẹ CậuCung tỏ ra rất thích văn học dân gian Đi chơi nghe được câu ca, câu hát, câu hò nào hay vềnhà cậu đọc cho mẹ nghe và nhờ mẹ giải nghĩa (2)

*

* *

Trang 26

Giữa năm ấy, toàn quyền Paul Doumer (1897-1902) bãi bỏ chế độ bảo hộ và thay bằng chế độtrực trị Vua Thành Thái mới hơn hai mươi tuổi chưa thấy được hành động thực dân ấy Bọnthực dân tổ chức lại bộ máy Nhà nước để phục vụ cho chúng Chúng đo đạc lại đất đai Đó

chính là thời kỳ mà dân ta nói Tây sang “giăng dây thép họa địa đồ nước Nam” để bắt đầu

khai thác sức người, sức của của xứ An-Nam Những nấm mồ tập thể của những người Huế bịPháp giết trong biến cố 23.5 Ất dậu (1885) bị chúng cho quật lên, lấy đất sửa sang hoặc làmmới lại đường sá Xương trắng, sọ dừa của những người vô tội chất cao thành đống Đốngxương cao nhất cách nhà cậu Cung không xa Đồng bào Huế nhìn cảnh ấy vô cùng đau đớn

Họ tự góp tiền dựng một cái miếu thờ phụng những âm hồn không nơi nương tựa Từ đó, cáingã tư có cái miếu thờ âm hồn gọi là Ngã tư Âm hồn Đây là một nơi nhỏ hẹp, không có gìđẹp đẽ so với Kinh thành rộng lớn, tráng lệ Song ở Thừa Thiên-Huế không mấy ai không biếtđến nó Đó là một vết thương không cầm máu trên thân thể một cô gái yêu kiều Hằng năm,

cứ đến ngày 23 thánh 5, nhân dân phường Phú Nhơn (Huế) góp tiền, góp bánh trái, xôi oản,mời thầy đến tế Âm hồn, tưởng niệm những người đã bị Pháp giết Trong những ngày đó đồngbào yêu nước, những nhà yêu nước mượn lời văn tế Âm hồn để lên án Pháp, kêu gọi đồng bàođoàn kết chống Pháp (3) Trong những ngày lễ tế đó, dưới gốc đa, bên hè chợ đâu đâu cũngnghe dân nghèo vừa lóc cóc gõ sanh vừa hô vè Thất thủ Kinh đô Đồng bào nghe vè thươngxót cho những người đã chết, trách móc các bậc vua quan hèn nhác đầu hàng giặc và căm giậnbọn Pháp cướp nước đến trào nước mắt

Quan niệm ngày xưa trẻ con là “âm hồn sống”, nên cúng xong ông chủ lễ thường phân phátxôi oản, quà bánh cho các cháu Anh em Khiêm, Cung nhà ở gần nên có mặt ở am Âm hồnsớm Lúc đầu hai cậu bị xôi oản bánh trái nhiều màu đẹp mắt hấp dẫn Sau đó hai cậu lại thíchnghe hô vè Thất thủ Kinh đô

Sau này, nhân một hôm ông cả Khiêm lên thăm ông Phan Bội Châu đang bị giam lỏng ở đỉnhdốc Bến Ngự, nhân ngày tế 23 tháng 5, ông Cả nhớ lại một kỷ niệm thời thơ ấu của hai anh

em Khiêm, Cung sống trong Thành Nội, ông kể lại bằng cái giọng oang oang trong ngôi nhàtranh chữ nhất của ông Phan Bà Bùi Thị Nữ - người đàn bà trung thành được ông HuỳnhThúc Kháng chọn làm người phục vụ nấu nướng và chèo đò cho ông Phan từ khi ông Phanmới về Huế cho đến lúc ông qua đời (1925-1940), chứng kiến chuyện ấy và thuật lại lời ông

Cả rằng:

“Không phải đến tuổi trưởng thành ra ngoại quốc em tôi mới ái quốc lời ông cả Khiêm

-Mà từ khi đầu còn để trái đào đi chơi nghe người ta hô câu vè: “Nay mà mắc phải lâm nguy,

Sự tình nông nỗi cũng vì giặc Tây!” (4), về nhà nó thương nước, trằn trọc không ngủ được.

Sáng dậy em bắt mẹ tôi kể chuyện giặc Tây dương và ngày Kinh thành thất thủ” Mẹ tôi kểtiếng được tiếng mất, em ngồi lắng tai nghe, chau mày nghĩ ngợi”

Trang 27

rắn” quá nghiên theo phe tả” (6) Lời bóng gió đó đã đến tai ông cả Khiêm - anh ruột Nguyễn

Ái Quốc - đang bị an trí ở làng Phù Lễ (huyện Quảng Điền) Ông Cả rất kính trọng hai ôngPhan là những người yêu nước đứng vào hàng chú bác của mình, song ông cho nhận xét đócủa hai ông là chưa hiểu hết Nguyễn Ái Quốc Ông cả Khiêm tâm sự với những người gần gũivới mình ở Phù Lễ - như ông bà Nguyễn Hiệp (7), ông Ấm Hoàng (8), ông Nguyễn NgọcBang (9) rằng:

- “Nói như thế là chưa hiểu con người Nguyễn Ái Quốc Đất Nghệ An đã sản sinh ra cái tínhcứng rắn, cái cương quyết có lúc đến quyết liệt của Nguyễn Ái Quốc chứ không phải Nguyễn

Ái Quốc qua Pháp theo những người trong phe tả rồi mới như thế đâu!”

Để chứng minh cho điều ông vừa nói, ông Cả kể lại mẫu chuyện nhỏ này:

- “Sau khoa thi Hội năm Mậu tuất (1898) anh em tôi theo thầy tôi về làng Dương Nổ làm thục

sư Tính thấy tôi rất nghiêm, con cái đi chơi về tối thế nào ông cũng gọi lại quở rầy, có lần ôngđánh đòn đến phỏng da Một hôm hai anh em lên thăm mẹ đúng vào mùa nhãn chín Thế làthăm mẹ xong, hai anh em lén ra đường Hộ Thành (10) hái trộm nhãn của nhà vua Mãi vuicho đến lúc trống trên lầu Ngọ Môn điểm, súng Thần công trên Kỳ đài nổ báo hiệu giờ đóngcửa thành hai anh em mới vội vã trụt xuống chạy về Khi hai anh em ra đến cửa Thượng Tứ,thì hỡi ôi, đôi cánh cửa gỗ lim chắc chắn như một bức thành đã khép chặt Bốn người línhTuần sát mặc áo xanh quấn xà-cạp đỏ giương khẩu súng dài đứng gác nghiêm trang như thửnhà vua hay Công sứ sắp đi qua đây Không về Dương Nổ kịp tối hôm ấy sẽ bị cha tìm đánhđòn, hai anh em đến van nài xin ông cai tuần sát mở cửa cho về Nhưng ông cai đáp với giọngdọa dẫm:

- “Không được, chìa khoá đã nạp cho Đề đốc Hộ thành giữ rồi Sáng mai trống đánh, súng nổmới vào lấy ra mở cửa được Bây giờ mà còn mở cửa Thành là trái lệnh vua ban!”

Biết xin không được, Cung bèn nắm tay tôi - Cả Khiêm - kéo vào cái chòi gác bên cạnh nằmkhoanh tay làm gối giả đò ngủ Miệng Cung bảo với lính Tuần sát:

- “Không cho anh em tôi về, mấy chú gác cho anh em tôi ngủ vậy!”

Bọn lính tuần sát nghe rất ngang tai, nhưng họ không có lý gì để bắt bẻ hoặc đuổi anh em tôi

ra khỏi chòi gác Một lúc, họ cắt một người gác và mấy người kia vào chòi nằm bên cạnh anh

em tôi ngủ Tôi không ngủ được nhưng sợ vẫn nằm im Cung giả đò ngủ say, mớ, duỗi chân,sãi tay đụng vào mấy người lính Mấy người lính ngọ ngoẹ mãi không chớp mắt được Cuốicùng họ sợ mất ngủ phải lén hé cửa cho hai anh em tôi ra về

Chạy qua khỏi cầu Thành Thái (tức cầu Trường Tiền) tôi hỏi Cung:

- “Lúc đầu sao em không xin để họ hé cửa cho về mà phải đợi đến lúc ngủ làm cái trò mớ đókia?”

Cung vừa nhanh chân bước vừa giải thích:

- “Họ đã nói mở cửa là trái lệnh vua ban rồi, mình có lạy họ cũng vô ích Phải làm cho họkhông mở cửa không xong, họ mới chịu mở thôi!” (11)

Trang 28

Tôi (NĐX) rất thích mẩu chuyện trên Mỗi lần đi nói chuyện về thời niên thiếu của Bác, dùthời gian ngắn bao nhiêu tôi cũng cố kể cho được Nhiều nhà nghiên cứu góp cho tôi thêmnhững nhận định rằng: Tính tình con người cũng đóng một vai trò quan trọng trong bướcđường tìm nhân sinh quan Cái tính quyết liệt, cứng rắn, triệt để của Bác là một trong nhữngyếu tố đã giúp Bác đón bắt được con đường cứu nước của chủ nghĩa Mác-Lênin Lúc Bác đọcđược những tài liệu đầu tiên về chủ nghĩa khoa học này trên sách báo tiếng Pháp, không phảiPhan Châu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường chưa đọc được những thứ ấy! Sở dĩnhững người trong “Nhóm Ngũ hổ” ở Pháp không bắt gặp được chủ nghĩa Mác-Lênin phảichăng một phần vì tính khí của các cụ?

(1) Sau lớn lên đổ đạt, có làm Kinh lịch tại Huế Mất năm 1957 tại quê nhà Nghệ An Chúthích của TQD

(2) Thuật theo Thanh Tịnh và Nguyễn Tài Tư (tức Thiếu Lăng Quân)

(3) Cụ Phan Bội Châu cũng có làm một bài văn tế Âm hồn nhân ngày 35.5, qua bài văn tế cụ

nung nấu tình cảm yêu nước cho đồng bào Xem Tập san Văn Sử (ronéo), 7.1974, tr.78.

(4) Trích trong bài vè Thất thủ Kinh đô.

(5) Theo Lê Thanh Cảnh và bà Bùi Thị Nữ

(6) Theo Lê Thanh Cảnh và bà Bùi Thị Nữ

(7) Anh bà Nguyễn Thị Giáng (vợ ông cả Khiêm)

(8) Bà con với vợ ông Cả, người đã được cụ Phan nhờ tìm vợ cho ông Cả Ông Ấm là ôngnhạc của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh

(9) Con ông Nguyễn Hiệp, bạn nhỏ của ông Cả

(10) Đường Đinh Tiên Hoàng bên trong cửa Thượng Tứ ngày nay

(11) Ghi theo lời ông Nguyễn Ngọc Bang, làng Phù Lễ (xóm sau)

Trang 29

Chương 4: Bên dòng Phổ Lợi trong xanh

Thời niên thiếu tôi sống ở Đà Lạt Vì hoàn cảnh gia đình, mãi đến năm 15 tuổi tôi mới cắpsách đi học Vì thế tôi chỉ được học tư trong các lớp hè Một trong những vị thục sư tôi nhớnhất là ông Nguyễn Sĩ Duyến Lúc ấy cha mẹ tôi không hy vọng gì ở tương lai học vấn củatôi Ông Duyến bảo:

- “Chưa được học nên nó dốt Chớ thằng này là dân Huế hiếu học, cho nó đi học nó sẽ nênngười cho mà xem!”

Bây giờ mỗi lần nhắc đến ông Duyến mẹ tôi cứ nói ông ấy nói tướng số giỏi

Phần tôi, tôi không nhớ chuyện ấy Nhờ mấy lần học hè với ông mà tôi quen thân với haingười con ông: cô Nhàn và cậu Phồn Một người lao động thất học mà được quen thân vớicon cái một ông giáo không phải là một chuyện thường Cô Nhàn và cậu Phồn chơi với tôi vìthấy ông Duyến thương tôi và vì tôi là người đồng hương Huế

Năm 1956, tôi về Huế xin vào học trường Quốc Học Không hiểu sao, hai bạn tôi cũng về quêhương Nhàn và Phồn sống với ông nội là một cụ Nghè Khuyến ở làng Dương Nỗ Chúng tôitìm gặp nhau ở quê hương càng quý nhau hơn

Muốn về nhà bạn, tôi đi xe chợ Nọ Xe về đậu trước một ngôi đình có những chiếc cột to.Thảo nào mà người ta nói: “Thình thình như cột đình Dương Nỗ”! Con đường đất đỏ trướcmặt đình chạy xuôi chiều với dòng Phổ Lợi trong xanh, đưa tôi về nhà bạn Theo lời bạn dặn:đến một cái ngỏ xóm yên ả tôi hỏi các em đang đánh bi phía trên cái bến nước gập ghềnh kêbằng mấy hòn đá màu đồng đen:

- “Nhà ông Nghè đâu, các em? ”

- “Eng vô ngỏ mươi bước, nhà ôông Nghè bên phải!” - Miệng bảo tôi, nhưng đôi mắt em thìkhông rời con đường hòn bi lăn

Qua giọng nói của em bé tôi đoán chừng em bé rất quen thân với nhà ông Nghè

Tôi đi vào ngõ một đoạn, nhìn theo hướng các em chỉ, bên trong cái hàng rào hóp mọc lẫn vớichè Tàu hiện ra một ngôi nhà tranh một gian hai chái, tường phên tre trát đất Ngay ở phía cửahông kê một chiếc phản gỗ với nhiều lỗ hổng xơ xác vì mối ăn Một ông già tóc bối trắng nhưmiếng tàu, lưng còng ngồi trên phản tước lá thuốc xanh Khuôn mặt ông nghiêm nghị sốngmũi cao giống như ông Duyến, tôi đoán nhà bạn đây rồi!

Vừa lúc ấy hai bạn Nhàn và Phồn vội vã chạy ra đón tôi rồi cầm tay tôi dắt vào đứng trướcmặt ông già:

- “Đây là anh Xuân học trò của ba và cũng là bạn của các cháu ở Đà Lạt đó ông!”

Ông Nghè ngước mắt nhìn tôi:

- “Ờ, cháu về thăm chơi đó hả? Nhà ông nghèo, cháu ngồi tạm đây!” - Ông Nghè vừa nói vừagiơ tay phủi bụi sàng sạt trên tấm phản gỗ

Trang 30

Đó là lần đầu tiên tôi về Dương Nỗ Sau đó cứ vài tuần tôi lại về thăm bạn một lần Nhiềuhôm ở lại, buổi tối cùng bạn ra ngồi chơi trên bến nước trước sân đình Nhìn trăng nhả nhữngánh tơ vàng xuống mặt nước xanh trong, tôi đã ước mơ “Nếu trời cho tôi biết viết văn, tôi sẽviết một cuốn truyện nói lên nét đẹp của ngôi làng thân thương này”.

Một hôm tôi lại về vào buổi xế trưa, đúng vào ngày làng tế Đi qua đình, mùi nếp thơm và mùithịt heo béo sực nức xông vào mũi tôi Làng vừa tế và ăn uống xong, trong đình còn xủngxoảng tiếng chén dĩa chạm nhau

Tôi vào nhà thấy ông Nghè đang còn mặc áo dài đen ngồi trên bộ phản mối ăn, nét mặt buồndười dượi Nhàn và Phồn ngồi hai bên ông như đang an ủi ông một điều gì Thấy tôi về chơi,hai bạn ngoái lại chào rồi lại tiếp tục câu chuyện với ông:

- “Dù sao cái làng này cũng đã có một thời đem võng lọng đi đón ông kia mà! Bây giờ họ đểông ngồi với bọn lính tráng tệ thật! Thôi, ông đừng chấp trách chi cái bọn xu thời ấy!”

Ông Nghè ngoái cánh tay xương xẩu ra sau đấm cái lưng còng thùi thụi:

- “Mô, ông có chấp trách họ chi mô! Ông chỉ tiếc tại cái lưng còng này Nếu cái lưng ôngkhông còng thì ông đã theo chú Hai làm cách mạng rồi, và bây giờ làm gì còn cái cảnh xôi thịt

ni nữa!”

- “Nhưng bây giờ thì lưng ông đã còng rồi!”

- “Nên ông thủ phận chớ có dám chi mô! Đêm đêm thức giấc ông chỉ mong sống đến cái ngàyđược gặp lại chú Hai một chút!”

- “Thôi ông, lỡ người ta nghe được rầy rà lắm!”

Nghe lóm câu chuyện tôi đoán mò “Chú Hai” nào đó là một người thân của ông Nghè đã đilàm Cách mạng Điều đó nói trong cái thời “tận diệt Việt cộng nằm vùng này” quả là dễ sợthật, nên tôi giả vờ không nghe và không hỏi lại bạn

Nhưng vì nó khó hiểu, bí mật nên nó có một sức hấp dẫn đọng mãi

trong ký ức tôi

*

* *Hơn hai mươi năm sau

Năm 1976, có một buổi họp của cán bộ kỷ niệm lần thứ 86 ngày sinh của Bác có ông Võ N

kể mẩu chuyện sau đây:

- “Vào khoảng năm 1964, 1965, đoàn cán bộ miền Nam chúng tôi được hân hạnh đến thămBác Bác hỏi: - “Thế có chú nào quê ở Thừa Thiên-Huế không? “Trong đoàn chỉ có một mìnhtôi (tức Võ N.) là người Thừa Thiên-Huế nên tôi đáp: “Dạ thưa Bác, cháu là người ThừaThiên, ạ!” Bác ôn tồn hỏi: “Thế chú ở huyện nào?” Tôi thưa: “Thưa Bác, cháu ở huyện Phú

Trang 31

Vang ạ” Bác cười, rồi đưa hai cánh tay làm thành một cái vòng cung trước mặt, nói giọng vuihẳn lên:

- “Ở quê chú có cái đình Dương Nỗ cột to một người ôm không xuể vậy này!”

Được Bác nhắc đến quê tôi (Võ N.) một cách cụ thể như thế làm cho tôi sung sướng đếnnghẹn ngào Tôi không thể ngờ được quê tôi có một thời Bác đã sống qua và còn ghi dấutrong tâm trí Bác sâu sắc đến thế Cố gắng lắm tôi mới nói được:

- “Dạ thưa Bác, quê cháu có cái đình ấy đấy!”

Vầng trán của Bác bỗng dưng nhíu lại, Bác đưa tay vuốt mấy sợi râu phơ phất trước cằm, Bácnói tiếp với giọng bùi ngùi xúc động:

- “Ngày xưa ông cụ tôi có dạy học ở làng đó!”

Thuật lại mẩu chuyện trên xong, đồng chí Võ N nói thêm với chúng tôi:

- “Sau đó vào Nam, công tác tại Phú Vang tôi để ý tìm cơ sở ở Dương Nỗ nhờ nghiên cứu đầy

đủ hơn, nhưng chiến tranh ác liệt quá tôi không tìm được ai Thời thơ ấu, Bác đã sống ở Tỉnh

ta Đây là một niềm tự hào của nhân dân ta Bây giờ hoà bình rồi nhờ các đồng chí - nhất làcác nhà nghiên cứu, các nhà văn phải xác minh một cách cụ thể di tích ở Dương Nỗ để viết, đểtôn tạo phục vụ nhân dân và khách du lịch đến tham quan Tỉnh ta!”

Nghe kể lại mẩu chuyện trên, những kỷ niệm về làng Dương Nỗ xa xôi trong tôi bỗng sốngdậy Tôi dự đoán, một người như ông Nghè-ông nội của hai bạn Nhàn và Phồn thời thơ ấu củatôi, có lẽ biết được thời cụ Sắc đến Dương Nỗ dạy học Tôi đạp xe trở về làng Dương Nỗ vớimột sự náo nức trong lòng Tôi lại đi trên con đường ven sông đến cái ngõ xóm năm xưa Mộtcảm giác buồn buồn vương vấn tâm hồn tôi Ngôi nhà cũ vẫn còn nguyên vẹn, bốn bề cửađóng im ắng như một ngôi chùa hoang Phía tay mặt xây thêm một cái nhà bếp, vách bằng bờ-

lô Tôi bước dẫm lên cái sân phủ đầy rêu xanh với một nỗi bâng khuâng khó tả Tôi gõ cửamãi mới thấy một người phụ nữ cao dong dõng, vẻ mặt khinh khỉnh, ngoe nguẩy như mộtngười mắc bệnh thần kinh Nỗi buồn đọng lại nặng trĩu trong tôi Người phụ nữ ấy là côNguyễn Thị Khôi, lưng còng, con gái út của ông Nghè Để tự giới thiệu mình: tôi trình bày lailịch quen thân với gia đình cô Rất may, nghe tôi kể xong cô đổi thái độ và xem tôi như concháu đi xa mới về Cô mời tôi lên nhà, mở các cửa, một mùi ẩm mốc xông lên, gây cho tôimột nỗi nhớ nhung da diết Ngồi trên bộ phản gỗ mối mọt ăn thủng nhiều chỗ, tôi hỏi chuyệngia đình bạn tôi Cô Khôi đáp với nỗi xót xa:

- “Ba tôi mất năm 1965, chị em thằng Phồn dắt nhau lên Đà Lạt sống với anh Duyến, giao cáinhà thờ ni lại cho tui!”

- “Thầy Duyến độ này làm ăn ra sao, cô?”

- “Anh nớ khi mô cũng rứa - Cô Khôi đáp - Hết đi phát cái rẫy ni đến đi phở (vỡ) cái vườn tê,trồng tỉa vắt đất mà sống Nghe nói sau ngày Giải phóng anh về Di Linh làm rẫy Anh biểu tuinhờ làng giữ giùm cái nhà ni mà lên làm ăn với ảnh Nhưng khổ một nỗi xa cái nhà thờ ni đi

mô tui cũng không yên!”

- “Còn chị em Nhàn ra sao, cô?”

Trang 32

- “Nhàn lấy chồng làm vườn Còn Phồn thì bị Thiệu bắt đi lính, hắn phải tự bắn gảy đi một cáichân mới được ở nhà Chừ hắn làm thợ sơn ở Đà Lạt”.

Đáng lý tôi còn hỏi nhiều chuyện có liên quan đến gia đình của bạn tôi nữa, nhưng cái mụcđích tôi về làng Dương Nỗ lần này cứ hiện ra trong tâm trí tôi, tôi không thể nén nó lại được.Tôi hỏi cô Khôi:

- “Ngày xưa Bác Hồ ở làng Dương Nỗ ta đây, không rõ lúc sinh thời có lần nào ông nóichuyện đó với cô không?”

Cô Khôi nhìn tôi với cặp mắt long lanh Khuôn mặt cô tươi hẳn lên Tay cô chỉ cái bát hươngthứ hai đặt trên bàn thờ giữa nhà, bảo tôi:

- “Có chớ Lúc nhỏ ba tôi kèm cho Bác Hồ học Cả ông cả Khơm cũng ở đây Lúc hay tin ông

Cả mất, ba tôi thiết bát nhang thờ ông Cả đó!”

Lời cô Khôi nói như những hạt vàng rơi trước mắt tôi Tôi mừng quá Tôi cố nén niềm vuinhưng nó cứ muốn bừng ra trong lòng

Tôi hỏi tiếp:

- “Ông có nói chuyện Bác Hồ ở đây không, cô?”

- “Ba tui nói nhiều lắm, nhưng anh Duyến với thằng Phồn nhớ, chừ tui hay quên lắm!”

Tôi cố nài nỉ hỏi:

- “Cô không còn nhớ chi nữa hết à?”

- “Tui chỉ nhớ ba tui dặn, nếu không làm chi tốt để vừa lòng chú Hai thì cũng cố tay làm hàmnhai chớ đừng tham gia làm tay sai cho giặc Anh em con cháu bầy tui thực hiện cho được lờidặn ấy đã khó quá chừng!”

Tôi náo nức muốn gặp thầy Duyến Ước chi có cánh, tôi sẽ bay lên gặp thầy Duyến ngay Vìkhông có cánh nên tôi cố “đào” thêm trong trí nhớ của cô Khôi

- “Cô cố gắng còn nhớ thêm được gì nữa không?”

- “Vì tui nhỏ không được gặp chú Hai nên rất khó nhớ Tui chỉ nhớ nhiều về cô Thanh và ông

cả Khơm thôi!”

- “Nhớ sao, cô?”

- “Cô Thanh xem gia đình tôi như gia đình cô Ông Cả cũng rứa Họ xem ba tui như anh emruột Vì rứa đi mô xa Huế khi về họ cũng đều ghé về thăm ba tui Cô Thanh con gái mà giỏichữ Nho lắm Ông Cả thích uống rượu, nhắm với một trái ớt hoặc một miếng khế thôi Ôngcũng rất thích ăn thịt chó!”

- “Cô Thanh, ông Cả và ông ở nhà gặp nhau nói chuyện có nhắc đến Bác Hồ không?”

Trang 33

- “Có chớ! Ba tui hay nói với Cô và ông Cả, ba tôi ao ước sống cho đến ngày được gặp lại chúHai-nhưng không ngờ ba tui lại mất sớm”.

Cô Khôi nói và rưng rưng nước mắt

“Chú Hai” - cái tên giản dị và thân tình làm sao! Phải mất hai mươi mấy năm sau tôi mới hiểuđược “Chú Hai” trong gia đình của thầy Duyến tôi là ai!

*

* *Năm đó tôi xin nghỉ phép lên Đà Lạt thăm mẹ tôi để tôi có thể gặp lại người thầy học cũ! Maymắn làm sao! Ngay hôm tôi đến thăm, vợ chồng thầy Duyến cũng vừa ở Di Linh (thôn LệNinh, xã Ninh Giang) mới lên Đà Lạt Ngôi nhà gác của Phồn nham nhở sơn dầu đứng chênhvênh bên đường Nguyễn Văn Trỗi Hơn hai mươi năm mới có dịp gặp lại tôi, thấy thầy Duyếngià đi nhiều, đầu tóc bạc trắng, gương mặt khô gầy vì sương nắng làm rẫy Chỉ còn đôi mắt và

nụ cười đôn hậu vẫn tươi vui như xưa

Sau khi thăm hỏi, tôi bắt đầu câu chuyện:

- “Thưa thầy, hôm nay đất nước hoà bình, thống nhất rồi con mới có dịp xin hỏi thầy và bạnPhồn về câu chuyện “Ông Hai”

- “Ông Hai nào?” - Thầy Duyến vừa rót nước mời tôi vừa hỏi tôi với giọng rất thờ ơ

- “Ông Hai mà lúc sinh thời ông ngoài nhà hay nhắc đến một cách trìu mến ấy!”-Tôi nói thêm.Thấy Duyến trở nên nghiêm nghị, nói tiếp với giọng miễn cưỡng:

- “Thôi chuyện cũ rồi, bây giờ lo làm ăn xây dựng đất nước, hỏi chuyện đó làm chi nữa, anh!”

- “Viết chuyện ông Hai là một trong những việc góp phần xây dựng đất nước trong khả năngcủa con, thưa thầy!”

Tôi nói với giọng van lơn mong được thông cảm

Thầy Duyến nhìn thẳng vào mắt tôi:

- “Sao anh không viết Bác Hồ thời Người đã trưởng thành làm lãnh tụ Cách mạng mà lại viếtcái thời Nguời còn thơ ấu ấy cho khó!”

- “Vì khó nên con mới lao vào viết!”

- “Nhưng mà anh bắt tôi kể lại chuyện cũ làm gì? Không khéo người ta lại bảo: “Thấy sangbắt quàng làm họ” cũng nên?”

- “Thầy đâu có “bắt quàng” Con từ Huế băng đồng chỉ sá lên đây yêu cầu thầy cho biết một

sự thật lịch sử kia mà!”

Thầy Duyến ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo tôi:

Trang 34

- “Anh đã tha thiết muốn biết như vậy, tôi cũng không từ chối được Anh còn ở đây thăm bà

mẹ đã chớ?”

- “Bao giờ con chưa được nghe thầy kể chuyện ấy thì con chưa rời Đà Lạt được!”

- “Vậy anh hãy thong thả mấy hôm nữa để cho cha con tôi bàn lại với nhau một chút Chuyện

cũ thầy tôi kể nhiều nhưng rải rác từng mảnh một, thầy tôi lại mất lâu rồi! Tôi sợ kể có điều gìbất đáng chúng tôi có tội với người đã mất!”

Thầy Duyến dè dặt, thận trọng làm cho niềm hy vọng của tôi tăng lên Tư cách của anh emthầy Duyến nếu chưa giống được với những người thân trong gia đình Bác thì nó cũng có mộtcái gì đó bắt người ta phải nghĩ đến ảnh hưởng của cụ Sắc và hai người con cụ đã để lại tronggia đình họ Nguyễn Sĩ ở Dương Nỗ hơn ba phần tư thế kỷ nay

*

* *Lời thầy Duyến (trích trong sổ tay)

“Ba tôi không bao giờ có ý định kể chuyện Chú Hai với chúng tôi Ông chỉ nhắc đến Chú Haimỗi lần ông muốn nhắc nhở hoặc dạy dỗ cho con cháu một điều gì Tôi cố gắng xếp lại để kểvới anh cho có thứ lớp dễ nhớ, có điều chi chưa ổn, chưa chính xác lắm anh về Dương Nỗ hỏithêm anh Xước và anh Tích - hai người anh con ông bác của tôi

Như anh biết, tôi lên Đà Lạt làm ăn từ những năm trước Cách mệnh tháng Tám 1945 Bảy támnăm sau tôi mới cò dịp về thăm quê, thấy trên bàn thờ có sự thay đổi tôi hỏi ba tôi:

- “Ai mới mất mà thiết thêm bát nhang rứa, thầy?”

Ba tôi đáp giọng ngậm ngùi:

- “Nghe nói chú cả Khơm mất ngoài quê rồi Chú chẳng còn con cháu để lo hương khói, giữlòng thủy chung với chú, thầy rước hương hồn chú về sống với ông bà mình đó!”

Tôi (Nguyễn Sĩ Duyến) rất xúc động ngối xuống bên cạnh ba tôi; nghe ba tôi kể về mối liên

hệ giữa chú Cả và gia đình tôi

- “Chú Cả và chú Hai quê ờ Nam Đàn-Nghệ An Ông thân sinh học rất giỏi, người khảng khái,nhưng trải qua hai khoa Ất mùi (1895) và Mậu tuất (1898) trời chưa cho đỗ Làng mình cóông Nguyễn Viết Chuyên làm việc tại bộ Hình biết tiếng cụ mới về cậy làng lên Kinh vời ông

về dạy cho con em trong làng Lúc mới về, ông Khoá Kiện mời thầy ở lại trong nhà để dạycho con trai ông (là bộ Hường sau này) Ông mình gửi bác Mại, bác Kính và thầy sang học.Hai chú cả Khơm và chú Hai theo cha về làng mình, đầu còn để tóc trái đào, bốn mùa phongphanh một cặp áo quạ màu nâu Ở trong nhà, Khóa Kiện ỷ thế mình có của mướn thầy về dạynên đôi lúc vô lễ với thầy Thầy rất giận và thường phê phán thái độ của Khoá Kiện rấtnghiêm Thấy thế hai bác và thầy về kể chuyện lại với ông Ông trách Khoá Kiện có ăn học

mà thiếu lễ nghĩa Để có thể giữ được chân thầy, ông mời thầy và hai chú về nhà mình ở Ông

Trang 35

dănh ngôi nhă năy cho thầy vă hai chú Nhă năy nguyín của bă Diíu vợ cố Nguyễn PhướcĐạo lăm thị lang bộ Công Bă cố lă vợ thứ mă lại không có con trai nín cố giao cho con rể lẵng Độ ở để sau năy ông mình phụng thờ bă cố Lúc thầy Sắc vă hai chú về ở, nhă có ba gianhai châi Mêi đến năm Thìn (1904) bêo thổi sập nhă, thầy dựng lại chỉ còn một gian hai châi.Khi câc con ra đời nhă đê được sửa lại hăng mươi năm rồi Ông rất trọng thầy, không nhữngông giao nhă cho thầy ở, lo cho thầy vă hai chú ăn uống đầy đủ mă ông còn cử một bă o logiặt giũ săn sóc cho gia đình thầy nữa.

Từ ngăy về nhă mình, thầy vă hai chú rất thoải mâi Học trò trong lăng mình vă câc lăngchung quanh cơm đùm gạo bới đến xin thầy học rất đông Học trò của thầy lúc đó có hai loại:Loại chuẩn bị đi thi Hương như câc bâc Lệ, bâc Kính, bâc Mại, bâc Kiến (con ông NguyễnViết Chuyín), Phong, Đoăn, Đại, Xứng, Nguyễn Thế Toản Loại thứ hai đê giỏi chữ nhưngchưa thi cử gì hoặc mới học vỡ lòng như thầy, Đoăn Văn Huyến, Nguyễn Hoăn vă hai chú Cả,chú Hai Tình cảm họ hăng nhă mình với thầy vă hai chú khởi thuỷ từ đó.”

Một lần khâc, nhđn lúc anh em tôi (Nguyễn Sĩ Duyến) cải nhau vì cđu chữ: “Phú quý sinh lễnghĩa” thầy tôi gọi lại bảo rằng:

- “Phú quý mới có lễ nghĩa, thì câi lễ nghĩa ấy tầm thường lắm Dđn ta nói: “Miếng khi đóibằng đọi khi no” Ngăy xưa thầy của thầy vă hai chú rất nghỉo nhưng không thiếu lễ nghĩa,không thiếu tình thương đối với người nghỉo Bđy giờ mình nghỉo nhưng còn tìm được miếng

ăn, ngăy xưa thầy vă chú Cả, chú Hai, nghỉo như thế năo câc con có biết không?

Lúc thầy đem hai chú về Dương Nỗ lăm thục sư, hiền thí của thầy vẫn sống trong Thănh nộibằng nghề dệt vải Có người đem con tới học thấy hai chú Cả, chú Hai bín cạnh thầy họ mớihỏi:

- “Bẩm thầy, vì sao hai cậu không ở với mẹ tại Thănh Nội mă lại theo thầy về đđy?”

Thầy cười Băn tay xương xẩu của thầy vỗ vỗ hai câi đầu để tóc trâi đăo của hai chú:

- “Thằng năy lă Khơm, thằng năy lă Côông Khơm Côông lă Khôông cơm Vì thế tôi phải dắthai châu về đđy để nhờ thiín hạ nuôi!”

Đó lă một sự thật vừa chđm biếm, khôi hăi mă cũng vừa xót xa chua chât Thế mă thầy vă haichú lúc năo cũng vui, cũng sống lễ nghĩa, trọn đạo lăm người.”

Năm ấy Nhăn vă Phồn học thi Tú tăi, trong lúc vui Phồn hỏi thầy tôi:

- “Lênh đạo Câch mạng, ông Phan Bội Chđu đê từng đỗ đầu Cử nhđn ở Nghệ, ông Phan ChđuTrinh đỗ Phó bảng, ông Huỳnh Thúc Khâng đỗ Tiến sĩ, chỉ có ông Hai lă không có bằng chi

cả Tại sao rứa, ông?”

- “Ông Hai rất thông minh Nếu ông chịu gò mình ngồi ở nhă ôm cột nhă tụng thuộc lòng câc

bộ Kinh, Truyện, sử ta, sử Tău thì ông Hai có thể đỗ Hoăng giâp Vă nếu ông Hai đỗ Hoănggiâp thì chưa chắc ông đê có thể trở thănh Hồ Chí Minh Thiín cổ nhứt nhơn, nhứt nhơn thiín

cổ đó châu nợ! Xưa nay Việt Nam có biết bao Tiến sĩ, Hoăng giâp mă trước sau chỉ có một

Hồ Chí Minh mă thôi!”

Để cho Phồn tin lời ông nói đúng, thầy tôi-Lời thầy Duyến-kể thím văi kỷ niệm xưa:

Trang 36

- “Ông Hai thông minh một cách kỳ lạ Lúc đó thầy lo dạy cho lớp học trò sắp đi thi Hươngkhoa Canh tý (1900), đối với lớp mới học thì thầy chỉ bài trong sách rồi những người đã giỏichữ phải kèm cho những người mới học Thầy giao cho thầy kèm chú Hai.Thầy bảo: “Hắnkhông thuộc bài thì trò phải ăn đòn thay.” Vì thế thầy sợ lắm Chú Hai hiếu động, thích đichơi đây đó chớ ít khi chịu ngồi yên mà học (1) Mỗi lần chú bỏ lớp thì quả nhiên thầy bị thầyhọc quở trách nặng lắm Một hôm thầy chỉ cho chú một bài trong Luận Ngữ, chú lẩm nhẩmqua một chút rồi xếp sách rục rịch bỏ đi Thấy thế thầy nắm áo kéo lại:

- “Chú Hai, chú định đi mô đó?’

- “Thưa, đi chơi!”

- “Bài thầy ra chú thục chưa mà đi chơi?”

- “Thục hét rồi!”

Tuổi nhỏ nhưng chú Hai rất tự trọng, nói điều chi thì đứng đắn như đinh đóng cột điều đó Dođấy mà khi nghe chú nói thục bài rồi thầy rầt ngạc nhiên Thầy tự hỏi: “Rứa thì chú học khimô?” Có lẽ chú đoán được sự ngạc nhiên của thầy, chú đưa sách cho thầy dò Chú đọc chậmrãi từ đầu đến cuối bài Sách Luận Ngữ một tập tám tờ, một tờ mười sáu hàng đọc qua nămbảy dạo chú thục hết Thầy còn nghe chú Cả nói, lúc chưa thuộc hết mặt chữ mà khi nghe thầyngâm Đường thi chú Hai đọc theo và thục rất nhiều Một người sáng dạ như vậy học chi màkhông thục, bằng chi mà không đậu được Chú Hai học để làm người chứ không phải học đểlấy cho được mảnh bằng này nọ để làm quan cháu ạ!” - Thầy Duyến kể tiếp - “Quan niệm học

để làm người chớ không phải học để làm quan của chú Hai đã có một ảnh hưởng lớn đối vớigia đình tôi Mỗi lần muốn nhắc con cháu phải nhớ thực hiện quan niệm ấy thầy tôi lại kểchuyện chú Hai - “Thiên tư của chú Hai phát triển rất sớm-Lời ông Nghè Khuyến do ôngDuyến kể lại - Điều chú muốn biết rất xa lạ đối với sách vở của Thánh hiền Từ ngày mới vềDương Nỗ đến lúc chú từ giả ra đi (gần hai năm trời), không ngày nào chú không học cuộcsống ở đây Đi chơi chú hay hỏi: “Sông Phổ Lợi từ đâu chảy đến và sông chảy về đâu nữa?”,

“Đình làng Dương làm từ năm nào?”, “Bà là ai? Bà có công gì mà mình lập bàn thờ Bà?”

-”Dân Dương Nỗ xưa kia từ đâu đến?” Những gì chú hỏi, có điều dân làng trả lời được, nhưngcũng có nhiều điều ông thủ chỉ trong làng cũng chịu Lúc đó thầy chưa hiểu được và cũngchưa thấy được ích lợi của việc học cuộc sống của chú Hai Nên mỗi khi thấy chú Hai đi chơi

là thầy chạy theo năn nỉ chú về học Mỗi lần thầy gọi về thì chú đáp:

- “Mấy anh về lo học để sau này thi đỗ ra làm quan Còn tôi về học để rồi làm ông Khổng tửtôi cũng không học Cái gì thích thì tôi tìm học thôi!” May mà chú Hai học mà không chịutheo Thánh hiền, không chịu ghép mình vào cái học từ chương hủ lậu để đất nước có một vịcứu tinh dân tộc là cụ Hồ Chí Minh!”

“Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời ra đời Người đứng đầuNhà nước là Chủ tịch Hồ Chí Minh Người mình lúc ấy vẫn còn mang nặng cái quan niệm chorằng người đứng đầu Nhà nước là Thiên tử, tức là vua Vì thế khi biết ông Hồ Chí Minh chính

là người học trò làng Dương với cái tên là Cung con ông Phó bảng Sắc, họ bèn kêu lên rằng:

-“Dân Dương Nỗ giỏi quá Bà con nói cậu bé Nguyễn Sinh Cung ở nhà ông Nghè năm xưa cócái mạng to hơn cả Thánh thần thế nào cũng làm vua Nay chuyện ấy đã trở thành sự thực.Bây giờ ông Hồ làm Chủ tịch Nước từ Nam chí Bắc còn có quyền hành to hơn vua nữa!” OChân em gái tôi (Nguyễn Sĩ Duyến) vào đoàn thể Phụ nữ Cứu quốc nghe vậy bèn về nhà hỏithầy tôi:

Trang 37

- “Bác Hồ mạng to lắm phải không thầy?”

Thầy tôi cười, người vui vẻ nói với em gái tôi:

- “Dân mình còn nặng đầu óc mê tín họ bày vẽ ra nói rứa thôi Nguyên do là như ri: “Lúc đóngười ta tin buổi trưa đứng bóng là lúc ma quỷ thánh thần đi tắm rửa, người mà đi tắm lúc đó

là xuông phải ma đau chết thôi! Thế mà trưa nào chú Hai cũng nhảy ùm xuống sông Phổ Lợitắm cả Tắm xong chú còn vô đình nằm hoặc xuống cái Am Bà làng Phò Nam ngủ trưa chomát Am Bà là nơi linh thiêng hạng nhất, ban ngày mỗi lần đi qua người ta còn phải cúi đầu đithật nhanh huống chi vào trong nớ ngủ Vì rứa dân làng lo sợ: “Cậu bé Cung nếu không bị Hà

bá nhận nước thì cũng bị Bà vật chết” Nhưng lạ thay, chú Hai không những không bị Hà bánhận nước, không bị Bà vật mà cứ vẫn lớn cao khoẻ mạnh như thường Điều đó làm cho bàcon ngạc nhiên Rồi cũng chính những người hay lo sợ mới loan truyền với nhau rằng: “Cậu

bé Cung mạng to hơn cả Thánh thần Sau này thế nào cậu cũng làm vua!” Bây giờ Chú Hailàm chủ tịch nước, đồng bào mình vui, những người thích nói tướng “Chú Hai làm vua”.Người ta không hiểu thời đại bây giờ chuyện vua quan đã mãn rồi! Nhưng cũng có thể nói cụ

Hồ mạng rất to Nếu không to làm sao cậu bé Cung có thể vượt qua được bao nhiêu đạidương, bao nhiêu nhà tù, bao nhiêu cạm bẫy của cuộc sống để trở thành Chủ tịch Hồ ChíMinh linh hồn của chế độ Dân chủ Cộng hoà được!”

(1) Điều này phù hợp với lời Bác kể với một nhà báo năm 1946: “Hồi tám tuổi đi học tôi cũng

không chăm lắm, thỉnh thoảng bỏ học đi bắt tổ chim, đôi khi còn đánh nhau nữa” Báo Nhân Dân, số ngày 25.6.1983, tr.3.

Trang 38

Chương 5: Tiếng khóc giữa Kinh thành

Những năm tháng Nguyễn Sinh Cung sống và học chữ Hán với ông thân sinh tại làng Dương

Nỗ đã được Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Bình Trị Thiên (cũ) và Khoa sử trường Đại họcTổng Hợp Huế phối hợp nghiên cứu và trình bày trong một Hội thảo Khoa học tổ chức tại trụ

sở xã Phú Dương ngày 16.5.1978 Ngành bảo tồn bảo tàng BTT dưới sự chỉ đạo trực tiếp củaTỉnh ủy đã căn cứ trên kết quả của Hội nghị Khoa học nêu trên phục chế lại ngôi nhà tranh bagian hai chái nơi ông Nguyễn Sinh Sắc cùng hai người con trai nương náu trong thời gian hainăm (1898-1900) Ngôi nhà này cùng với những nơi có liên quan đến cậu bé Cung được tổchức thành Khu di tích Dương Nỗ và nhân dân đã được đến tham quan từ ngày 2.9.1978.Hội thảo Khoa học về Dương Nỗ ngày 16.5.1978 đã xử dụng tái liệu của hai ông Hoài Thanh

và Thanh Tịnh trước đây cho rằng (1): Năm 1900, triều đình Huế điều ông Nguyễn Sinh Sắc

đi Thanh Hóa chấm thi Hương, ông Sắc và hai người con trai phải rời làng Dương từ đó ĐiThanh Hóa, ông đem theo người con trai lớn để giúp cụ dọc đường, còn người con thứ trở lạiThành Nội sống với mẹ cùng người em út mới sinh tên là Nguyễn Sinh Xin Sự kiện này cũngđược bác Tôn Quang Duyệt (2) và ông Chu Trọng Huyến khẳng định một lần nữa (3) Bởi vìthế: “Ông Sắc phải ở lại ngoài Thanh Hóa lâu vì công việc của kỳ thi cứ kéo dài” (4) Nên chikhi bà Loan mất ở nhà chỉ có một mình cậu Cung và người em nhỏ mới sinh Bà con dân phốthương tình lo liệu mọi việc để chôn cất bà Loan

Nhưng gần đây, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh cho biết ông Sắc và hai người contrai rời làng Dương Nỗ vì một lý do khác:

“Theo học với cha ở làng Dương Nỗ chưa đầy hai năm thì mẹ lâm bệnh, cậu Thành tức cậuCung phải nghỉ học cùng cha trở về Huế chăm sóc mẹ” (5) “Đến khi bà Loan mất anh em cậuThành (tức Cung) cùng cha và bà con dân phố đưa mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng” (6)

Hai sự kiện trên trái ngược nhau Các tác giả (cá nhân và tập thể) không trưng dẫn xuất xứ tàiliệu nên người đọc khó lòng kiểm chứng, sự tin cậy bị hạn chế rất nhiều Ở đây tôi không có ýtranh luận việc năm 1900 ông Sắc có đi Thanh Hóa không (?) vì nếu có thì ông đi chấm thihay làm việc gì khác trong kỳ thi ấy (7) Thi Hương thường được tổ chức vào mùa Xuân, trễlắm là đầu thu (thu vi), tôi không rõ vì sao khoa thi Hương năm 1900 lại tổ chức vào cuối năm(cuối năm ở nước ta thường mưa lụt, lạnh lẽo sĩ tử khó đi lại) và lại “cứ kéo dài” vì lý do gì?Tôi cũng không rõ Ban Sử Đảng Nghệ Tĩnh đã căn cứ vào tài liệu nào mà khẳng định việcông Sắc rời làng Dương vì lý do vợ ốm và lúc bà Loan lâm chung ông Sắc đã tiễn vợ đến nơi

an nghỉ cuối cùng hay không (?)

Ngoài Ban Nghiên cứu Lịch Sử Đảng Nghệ Tĩnh, còn tất cả các tác giả (8) khác viết về thờigian bà Loan mất tại Huế đều vắng bóng ông Sắc Ông Sắc đi Thanh Hóa hay đi đâu?

Tôi trở lại Thành Nội hỏi ông Lê Xuyến (cháu đích tôn của thượng thư bộ Lễ Lê Trinh)

- “ Có lần nào bác nghe người xưa kể lại tâm trạng của ông Sắc lúc bà Loan mất không?”Ông Xuyến nhìn tôi ngờ vực như thử tôi đã hỏi nhầm:

- “Của ông Sắc hay của cậu bé Cung?”

- “Của ông Sắc!” - Tôi khẳng định

Trang 39

- “Rứa thì không Qua bao lần kể chuyện, ông nội tôi cũng như bà ngoại tôi không hề nhắcđến sự có mặt của ông Sắc trong đám tang bà Loan Hình như lúc ấy ông đi vắng nên người tamới cảm kích trước hoàn cảnh cậu bé Cung chưa đầy mười tuổi đầu mà phải đứng ra nhờ xómgiềng chôn cất mẹ!”

- “Thưa bác có sự kiện gì để có thể chứng minh được điều đó?”

- “Có chứ! Sau khi mẹ mất gia đình không còn ai, cậu Cung phải bồng em sang nhà Viên Diểulàm thợ thêu Anh giở lại cái sơ đồ tôi vẽ trong sổ tay của anh, anh sẽ nhớ ra ngay Nếu có ôngthân sinh ở nhà thì anh em cậu Cung không phải đi ở nhờ như thế?”

Tôi giở sổ tay tìm xem lại cái sơ đồ ông Xuyến vẽ lần trước và đúng như lời ông nói Căn phố

cũ đã sửa chữa lại nhiều lần và trao tay qua ba bốn chủ Vị trí nhà ông thợ thêu đáng nhớ ấynằm vào vị trí nhà 104 Mai Thúc Loan ngày nay Ông Viên Diểu còn để lại một người congái, tuổi ngoài tám mươi Bà con gái ông Viên Diểu không biết chuyện ngày xưa Bác Hồ đãtừng ở đậu trong nhà cha mẹ bà

Sau khi gặp ông Xuyến tôi tìm gặp bà con gái của cụ Viên Diểu đang bán giải khát trong cáiquán dựng tạm trước trường cấp 3 Nguyễn Huệ (vị trí đồn Hộ Thành cũ) và tôi được nghe bàkể:

- “Mấy lúc bác Cả ở Phù Lễ lên Huế chơi, khi mô đi ngang qua nhà mẹ tôi bác cũng ghé vàouống vài cốc rượu rồi hỏi: “Rứa chớ người con gái đẻ một lần với em tôi bây giờ lớn chừng

mô rồi?” - Mẹ tôi chỉ tôi và nói: “Hắn đó Có chồng có con rồi đó?” Lúc bác Cả đi rồi tôi hỏi

mẹ tôi: “Ông Cả quen với nhà mình khi mô, mẹ?” Mẹ tôi nói khẽ: “Lúc mẹ mới sinh con, bà

Cử mẹ ông Cả sinh thêm một ngưòi con trai rất xinh Chẳng may sau đó bà mất, cậu bé cứsang nhà mình bú nhờ Chỉ có rứa thôi mà ông Cả cứ nhớ mãi.”

(Theo dõi đến đây, có lẽ có bạn đọc trách thầm tôi đang nói chuyện người nọ lại xọ qua hỏichuyện người kia Đó là cái bịnh tản mạn của tôi Tôi xin trở lại buổi hầu chuyện với ôngXuyến vừa bị bỏ dở)

Tôi hỏi:

- “Xin bác kể lại cho lớp hậu sinh chúng tôi về lời người xưa đã kể về tâm trạng của cậu béCung lúc mẹ mất như thế nào?”

Ông Xuyến gật đầu, uống một ngụm nước trà đậm cho thấm giọng rồi nói:

- “Lúc cô Thanh bị Chánh mật thám Sogny đưa về giam lỏng tại số nhà 16B đường Hộ Thành(bây giờ là số 37 Đinh Tiên Hoàng) ở ngay phía sau nhà tôi, cô hay vào đây chơi nói chuyệnvới bà ngoại tôi Bà ngoại tôi không những có họ hàng với bà Ba (người đã cho ông Sắc thuênhà) mà bà còn là chị em chú bác với ông Hồ Đắc Quỳnh - người đã dạy cho Nguyễn Ái Quốchồi niên thiếu tại trường Pháp Việt Đông Ba, vì thế mà bà ngoại tôi biết nhiều chuyện có liênquan đến gia đình ông Sắc ở Huế Tôi là cháu đích tôn, ba tôi là ông cử Cảnh mất sớm nên khinào người lớn tiếp khách tôi cũng được ở bên cạnh Lúc mẹ mất cô Thanh ở ngoài quê, nênchi sau đó cô hay măn mo hỏi chuyện ấy Bà ngoại tôi kể rằng: “Ông Sắc không mấy khi ởnhà Bà Loan một mình tảo tần nuôi con dại Người ta kể bà mất vì đau mấy cái nhọt ở cổ.Người khác lại bảo bà sinh trong lúc khó khăn nên bị sản hậu, cũng có người cho rằng bàLoan mất vì thiếu thốn quá Theo bà ngoại tôi kể thì bà Loan mất vì cả ba nguyên nhân ấy Bà

Trang 40

Loan từ trần không để lại cho con một bát gạo, một đồng tiền nào! Xóm giềng đang chuẩn bịcúng đưa ông Táo (9), gặp vận bỉ của gia đình cậu Cung, họ cúng ít lại, để dành một phần quàbánh, thức ăn chuyển qua giúp cậu Cung cúng lễ mẹ Lúc ấy luật lệ của triều đình còn nghiêmlắm Đất trong Thành cấm người Minh Hương ở, cấm làm nhà có lầu gác cao hơn các cungđiện lầu các của vua, cấm khóc than khi gặp chuyện buồn, cấm đưa người chết ra các cửathành (mà phải đưa thi hài người chết xuống thuyền chuyển ra ngoài bằng cống Thanh Long).Những ai làm sai sẽ bị tội đồ (tù), nếu cố tình làm sai sẽ bị tội trảm (tử hình) Cậu bé Cung dùchưa đến tuổi lên mười - cái tuổi ăn chơi và học hành, cậu chưa thể hiểu được các luật lệ khắckhe đó, nhưng cậu cũng phải ráng hiểu và chấp hành cho đúng Bị bó chặt trong một sự đauđớn như thế, tâm trạng ai không thống thiết.”

Tôi (NĐX) sực nhớ trong cặp da có cuốn Nhớ Nguồn của Sơn Tùng, tôi giở sách đọc truyện

ký Dưới Bóng Hoa Bằng Lăng (10) đoạn nói về tình cảm của cậu bé Cung khi mẹ chết cho

ông Xuyến nghe Nghe xong, ông nói:

- “Ông Sơn Tùng là một nhà văn của Cách mạng tôi không dám có ý kiến Vì anh yêu cầu nêntôi xin nói một ý riêng: Nghe đoạn văn này tôi rất cảm động, nhưng cảm động vì câu chuyệnchứ không thể tin là hoàn cảnh thật của Bác Hồ thời niên thiếu Anh là người Huế, nếu đã cótấm lòng với cụ Hồ thì anh không nên thêm thắt làm gì, không nên viết cái gì mà thiếu căn cứ.Làm như thế sẽ phụ lòng tin của người đọc”

- “Tôi xin cám ơn bác!”

*

* *

Sự kiện bà Loan mất ở Huế là một biến cố lớn đã diễn ra trong đời Bác Vì sự nghiệp Cáchmạng, chắc Bác đã cố giấu tận dưới đáy trái tim, Bác ít khi kể lại chuyện đó với ai Song vì nólớn quá, nó đã để lại trong lòng Bác một ấn tượng sâu quá nên dù Người có cố tình giấu kínđến như thế nào rồi có lúc chúng ta cũng thoáng nghe được

Trong những năm nghiên cứu và viết về Thời niên thiếu của Bác Hồ, tôi đã tìm đọc nhiều tácphẩm viết về Thời thơ ấu của các danh nhân thế giới Có lẽ nhiều bạn đọc đã biết, lúc nhỏVictor Hugo sống với mẹ, bà mẹ đã ảnh hưởng rất lớn trong việc Hugo chọn con đường vănhọc Trong tác phẩm của nhà văn vĩ đại này luôn luôn nhắc đến tấm lòng yêu thương và biết

ơn vô hạn đối với mẹ Lúc Hugo đã bốn mươi mốt tuổi (1843), con gái đầu lòng 18 tuổi củaông là Léopoldin chết đuối, ông đau đớn vô cùng Sự kiện đó ảnh hưởng rất lớn trong sựnghiệp sáng tác của ông

Bác Hồ cũng mang trong lòng một nỗi đau mất mẹ vô bờ, một nỗi ngậm ngùi thương emkhông tả xiết Điều đó cũng đã ảnh hưởng rất lớn đối với văn thơ của Bác

Bạn đọc nhất là các thầy giáo dạy văn học đã nhiều lần đọc bài thơ Tân Dương ngục trung hài trong tập Nhật ký Trong Tù của Bác song ít bạn chú ý câu đầu của bài thơ chữ Hán này

nguyên văn viết bằng chữ quốc ngữ:

“Oa ! Oa.! Ooa !” (11)

Ngày đăng: 05/06/2021, 03:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
* Nguyễn Văn Mại, Lô Giang tiểu sử, Nguyễn Hy Xước dịch, Bản in Ronéo (1960) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lô Giang tiểu sử
Năm: 1960
3. Bút phê của Sở Mật Thám Trung Kỳ- 8-3-1911 Khác
4. Công điện của Tòa Khâm sứ Trung Kỳ gởi công Sứ Nha Trang và Phan Thiết, 14-3-1911 Khác
5. Thư của Khâm sứ Trung Kỳ gởi quan Khâm sai Nam Kỳ, 3-5-1911 Khác
6. Đơn xin nhập học trường thuộc địa, Marseille, 15-9-1911 Khác
7. Thư của Nguyễn Tất Thành gởi tòa Khâm sứ Trung Kỳ, Colombo - Sài Gòn 31-10-1911 Khác
8. Thư của Khâm Sứ Trung Kỳ gởi tòan quyền Đông Dương, 25-5-1912 Khác
9. Thư của Nguyễn Tất Thành gởi Khâm sứ Trung Kỳ, Nữu - Ước, 18-12-1912 Khác
10. Thư của Khâm Sứ Trung Kỳ gởi Thống sứ Nam Kỳ, 12-3-1913 Khác
11. Mật văn của Thanh tra Mật thám Trung Kỳ, 23-1-1920 Khác
12. Công điện của Tòan quyền Đông Dương, 23-2-1920 Khác
13. Lời khai báo của Lý trưởng làng Kim Liên, 13-2-1920 Khác
14. Mật văn của Sở Mật Thám Trung Kỳ về con người Nguyễn Tất Đạt, 22-3-1920 Khác
15. Lời khai của Nguyễn Tất Đạt, 19-3-1920 Khác
16. Văn thư của Sở Mật Thám Trung Kỳ về lời khai của Nguyễn Tất Đạt, 28-4-1920 Khác
17. Lời khai báo của thân hào làng Kim Liên, 5-1920 Khác
18. Khẩu cung của Nguyễn Thị Thanh, chị của Nguyễn Tất Đạt, tháng 5-1920 Khác
19. Lời khai của Bùi Quang Chiêu trước Sở Mật Thám Sài Gòn Khác
20. Văn thư của Sở Mật Thám Sài Gòn về Nguyễn Sinh Huy, 5-12-1923 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w